Kinh Tương Ưng Bộ · Saṃyutta Nikāya

[22] Chương I — Tương Ưng Uẩn (e)

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Tương Ưng Bộ

Kinh Trung Bộ · Bài 3

[22] Chương I — Tương Ưng Uẩn (e)#

Tập III - Thiên Uẩn

Tương Ưng Bộ -

Samyutta Nikaya

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Tập III - Thiên Uẩn

[22] Chương I

Tương Ưng Uẩn (e)

-ooOoo-

IV. Phẩm Trưởng Lão

I. Ananda (Tạp 10, Ðại 2,66a) (S.iii,105)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Tôn giả Ananda ở Sàvatthi, tại Jetavana, vườn

ông Anàthapindika.

2) Ở đây, Tôn giả Ananda gọi các Tỷ-kheo:

-- Này các Tỷ-kheo.

-- Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda. Tôn giả

Ananda nói như sau:

3) -- Chư Hiền giả, Tôn giả Punna Mantaniputta, lúc

chúng ta mới tu học, đã giúp đỡ chúng ta nhiều. Vị ấy giáo giới

chúng ta với lời giáo giới này: Này Hiền giả Ananda, do chấp thủ, khởi

lên (tư tưởng) "Tôi là", không phải không chấp thủ.

4) Do chấp thủ gì, khởi lên (tư tưởng) "Tôi

là", không phải không chấp thủ. Do chấp thủ sắc, khởi lên (tư tưởng)

"Tôi là", không phải không chấp thủ. Do chấp thủ thọ... tưởng...

các hành... Do chấp thủ thức, khởi lên (tư tưởng) "Tôi là", không

phải không chấp thủ.

5) Này Hiền giả Ananda, ví như một người đàn bà

hay người đàn ông, hay người trẻ tuổi, ưa thích trang điểm, ngắm bóng

mặt của mình trong một tấm gương sạch sẽ, trong sáng, hay trong một bát nước

trong, thấy được do duyên chấp thủ, không phải không chấp thủ. Cũng vậy,

này Hiền giả Ananda, do chấp thủ sắc, nên có (tư tưởng) "Tôi

là", không phải không chấp thủ. Do chấp thủ thọ... tưởng... các

hành... do chấp thủ thức, nên có (tư tưởng) "Tôi là", không phải

không chấp thủ.

6) Hiền giả Ananda, Hiền giả nghĩ thế nào,

sắc là thường hay vô thường?

-- Là vô thường, Hiền giả.

7-10) -- Thọ... tưởng... các hành... thức là thường

hay vô thường?

-- Là vô thường, Hiền giả.

11-12) -- Do thấy vậy... vị ấy biết "...không

còn trở lui trạng thái này nữa".

13) Chư Hiền giả, Tôn giả Punna Mantàniputta, khi

chúng tôi mới tu học, đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều. Tôn giả ấy

giảng cho chúng tôi lời giáo giới này. Sau khi nghe Tôn giả Punna Mantàniputta

thuyết pháp, chúng tôi hoàn toàn chứng tri (Chánh) pháp.

II. Tissa (Tạp 10, Ðại 2,71a) (S.iii,106)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

2) Lúc bấy giờ, Tôn giả Tissa, cháu trai Thế Tôn,

nói với một số đông Tỷ-kheo:

-- Này chư Hiền, thân ta như bị say vì vị ngọt

(nặng nề và bại hoại). Ta không thấy rõ các phương hướng. Ta không phân

biệt được các pháp. Thụy miên, hôn trầm xâm chiếm tâm ta và tồn

tại. Ta sống Phạm hạnh không còn thoải mái, và ta nghi ngờ đối với các

pháp.

3) Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau

khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

4) Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế

Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Tissa, cháu trai Thế

Tôn, có nói với một số đông Tỷ-kheo: "Này chư Hiền, thân ta như

bị say vì vị ngọt (nặng nề và bại hoại). Ta không thấy rõ các

phương hướng. Ta không phân biệt được các pháp. Thụy miên, hôn trầm

xâm chiếm tâm ta và tồn tại. Ta sống Phạm hạnh không còn thoải mái, và

ta nghi ngờ đối với các pháp".

5) Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo:

-- Ðến đây, này Tỷ-kheo! Hãy nhân danh Ta,

gọi Tỷ-kheo Tissa: "Hiền giả Tissa, bậc Ðạo Sư gọi Hiền

giả!"

6) -- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn

giả Tissa; sau khi đến, nói với Tôn giả Tissa:

-- Hiền giả Tissa! Bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả.

7) -- Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Tissa vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến

Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

8) Thế Tôn nói với Tôn giả Tissa đang ngồi một

bên:

-- Có thật chăng, này Tissa, Ông đã nói như sau cho

một số đông Tỷ-kheo: "Này chư Hiền, thân ta như bị say vì vị

ngọt... và ta nghi ngờ đối với các pháp"?

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

9) -- Ông nghĩ thế nào, này Tissa? Ðối với người

chưa ly tham, chưa ly dục, chưa ly ái, chưa ly khát, chưa ly nhiệt tình,

chưa ly khát ái đối với sắc, thời khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, có

khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

10-13) -- Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là

phải, này Tissa! Như người chưa ly tham đối với sắc... đối với thọ...

đối với tưởng... Như người chưa ly tham đối với các hành, thời khi các

hành ấy biến hoại, đổi khác, có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

14) -- Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải,

này Tissa! Như người chưa ly tham đối với thức, người chưa ly tham, chưa ly

dục, chưa ly ái, chưa ly khát, chưa ly nhiệt tình, chưa ly khát ái đối

với thức, thời khi thức ấy biến hoại, đổi khác, có khởi lên sầu, bi,

khổ, ưu, não không?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

15) -- Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải,

này Tissa, đối với người chưa ly tham đối với thức.

16) Này Tissa, Ông nghĩ thế nào, đối với người

đã ly tham, đã ly dục, đã ly ái, đã ly khát, đã ly khát ái, đã ly

nhiệt tình, đã ly khát ái đối với sắc, thời khi sắc ấy biến hoại,

đổi khác, sầu, bi, khổ, ưu, não có khởi lên không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

17)-- Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải,

này Tissa, đối với người đã ly tham đối với sắc. Ðối với người đã ly

tham, đã ly dục, đã ly ái, đã ly khát, đã ly khát ái, đã ly nhiệt

tình, đã ly khát ái đối với thọ... đối với tưởng... đối với các

hành... Như người đã ly tham đối với các hành, người đã ly tham, đã ly

dục, đã ly ái, đã ly khát, đã ly khát ái đối với thức, thời khi thức ấy

biến hoại, đổi khác, sầu, bi, khổ, ưu, não có khởi lên không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

18) -- Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải,

này Tissa, đối với người đã ly tham đối với thức.

19) Này Tissa, Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay

vô thường?

-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.

20-23) -- Thọ... tưởng... các hành... thức là

thường hay vô thường?

-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.

24-25) -- Do vậy... thấy vậy... "... không còn trở

lui trạng thái này nữa". Vị ấy biết rõ như vậy.

26) Ví như, này Tissa, có hai người. Một người không

giỏi về đường sá, một người giỏi về đường sá. Trong hai người

ấy, người không giỏi về đường sá này hỏi người giỏi về đường

sá kia về con đường. Người ấy trả lời: "Hãy đi, này Bạn, đây là

con đường. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con

đường ấy một thời gian, Bạn sẽ thấy con đường ấy chia làm hai. Ở đây,

hãy bỏ con đường phía trái, và lấy con đường phía mặt. Rồi đi theo con

đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời

gian, Bạn sẽ thấy một khu rừng rậm. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời

gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một đầm

nước lớn. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một

vực nước sâu. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo

con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một khoảnh đất bằng khả

ái!"

27) Ðây là ví dụ của Ta dùng, này Tissa, để nêu

rõ ý nghĩa. Và ý nghĩa như sau:

28) Người không giỏi về đường sá, này Tissa, là

ví cho kẻ phàm phu. Người giỏi về đường sá, này Tissa, là ví cho Như

Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

29) Con đường chia làm hai, này Tissa, là ví cho trạng

thái nghi hoặc. Con đường tay trái, này Tissa, là ví cho con đường tà đạo

tám ngành, tức là tà tri kiến... tà định. Con đường tay mặt, này Tissa,

là ví cho con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến... chánh

định.

30) Khu rừng rậm, này Tissa, là ví cho vô minh. Các đầm

nước thấp, này Tissa, là ví cho các dục. Vực nước sâu, này Tissa, là ví cho

phẫn nộ, ưu não. Khoảnh đất bằng phẳng khả ái, này Tissa, là ví cho

Niết-bàn.

31) Hãy hoan hỷ, này Tissa! Hãy hoan hỷ, này

Tissa! Ta giáo giới (cho Ông), Ta giúp đỡ (cho Ông), Ta giảng dạy (cho Ông).

32) Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Tôn giả Tissa

hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

III. Yamaka (Tạp 5, Ðại 2,30c) (S.iii,109)

1) Một thời Tôn giả Sàriputta trú tại Sàvatthi,

Jetavena, tại vườn ông Anàthapindika.

2) Lúc bấy giờ, Tỷ kheo Yamaka khởi lên ác tà

kiến sau đây: "Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp,

Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn

tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết".

3) Nhiều Tỷ-kheo nghe Tỷ-kheo Yamaka khởi lên

ác tà kiến sau đây: "Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp,

Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn

tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết".

4) Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Tôn giả Yamaka;

sau khi đến, nói lên với Tôn giả Yamaka những lời chào đón hỏi thăm; sau

khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một

bên.

5) Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy nói với Tôn

giả Yamaka:

-- Có thật chăng, này Hiền giả Yamaka, Hiền giả

khởi lên ác tà kiến như sau: "Như ta hiểu lời Thế Tôn

thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại

mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi

chết".

6) -- Này chư Hiền, tôi đã hiểu lời Thế

Tôn thuyết pháp như vầy: "Như ta hiểu lời Thế Tôn... sau khi

chết".

7) -- Chớ có nói vậy, Hiền giả Yamaka! Chớ có xuyên

tạc Thế Tôn! Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt lành. Thế Tôn không

có nói như sau: "Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân

hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi

chết".

8) Dầu được các Tỷ-kheo ấy nói như vậy, Tôn giả

Yamaka vẫn kiên trì, kiên cố chấp nhận ác tà kiến ấy, nói rằng:

"Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn

tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt

tận, không còn gì nữa sau khi chết".

9) Vì rằng các Tỷ-kheo không thể làm cho Tôn

giả Yamaka rời bỏ ác tà kiến ấy, các Tỷ-kheo ấy từ chỗ ngồi

đứng dậy, đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, thưa với Tôn giả

Sàriputta:

-- Tỷ-kheo Yamaka, thưa Hiền giả Sàriputta, có

khởi lên ác tà kiến như sau: "Như ta hiểu lời Thế Tôn

thuyết pháp, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng

chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết".

Lành thay, nếu Tôn giả Sàriputta vì lòng lân mẫn đi đến Tỷ-kheo

Yamaka.

10) Tôn giả Sàriputta im lặng nhận lời.

11) Rồi Tôn giả Sàsriputta, vào buổi chiều, từ

chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Yamaka; sau khi đến, nói

lên với Tôn giả Yamaka những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những

lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

12) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn

giả Yamaka:

-- Có thật chăng, Hiền giả Yamaka, Hiền giả có

khởi lên ác tà kiến như sau: "Như ta đã hiểu lời Thế Tôn

thuyết pháp... không còn gì nữa sau khi chết".

13) -- Thưa Hiền giả, tôi hiểu như vậy lời

Thế Tôn thuyết pháp: "Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau

khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau

khi chết".

14) -- Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả

Yamaka, sắc là thường hay vô thường?

-- Là vô thường, này Hiền giả.

15-18) -- Thọ... tưởng... các hành... thức là

thường hay vô thường?

-- Là vô thường, này Hiền giả.

19-20) -- Do vậy... thấy vậy... "... không còn trở

lui trạng thái này nữa". Vị ấy biết rõ như vậy.

21) Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả Yamaka?

Hiền giả có quán Như Lai là sắc không?

-- Thưa không, này Hiền giả.

22-26) -- Hiền giả có quán Như Lai là thọ...

tưởng... hành... thức không?

-- Thưa không, này Hiền giả.

27) -- Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả

Yamaka? Hiền giả có quán Như Lai ở trong sắc không?

-- Thưa không, này Hiền giả.

-- Hiền giả có quán Như Lai ở ngoài sắc không?

-- Thưa không, này Hiền giả.

28) -- Hiền giả, có quán Như Lai ở trong thọ

không?...

20) Hiền giả có quán Như Lai ở trong tưởng

không?...

30) Hiền giả có quán Như Lai ở trong các hành

không?...

31) Hiền giả có quán Như Lai ở trong thức không?

-- Thưa không, này Hiền giả.

-- Hiền giả có quán Như Lai là ngoài thức không?

-- Thưa không, này Hiền giả.

32) -- Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả

Yamaka? Hiền giả có quán Như Lai là sắc, thọ, tưởng, hành, thức

không?

-- Thưa không, này Hiền giả.

33) -- Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả

Yamaka? Hiền giả có quán cái không sắc, không thọ, không tưởng, không

hành, không thức là Như Lai không?

-- Thưa không, này Hiền giả.

34) -- Và ở đây, Hiền giả Yamaka, ngay trong đời

sống hiện tại, cũng không thể tìm được một Như Lai thường chơn,

thường trú, thời hợp lý chăng khi Hiền giả trả lời: "Như ta đã

hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu

hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ tận diệt, không còn

gì nữa sau khi chết".

35) -- Trước đây tôi vô trí nên có ác tà kiến

ấy. Nay sau khi nghe Tôn giả Sàriputta thuyết pháp, ác tà kiến ấy

được đoạn trừ, và pháp được tôi hoàn toàn chứng tri.

36) -- Hiền giả Yamaka, nếu có người hỏi

Hiền giả: "Hiền giả Yamaka, vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các

lậu hoặc đã đoạn tận, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sẽ trở thành

gì?"; được hỏi như vậy, Hiền giả Yamaka, Hiền giả trả lời như

thế nào?

37) -- Thưa Hiền giả, nếu có người hỏi tôi:

"Này Hiền giả Yamaka, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã

đoạn tận, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sẽ trở thành gì?"; được

hỏi như vậy, này Hiền giả, tôi sẽ trả lời: "Sắc là vô thường, này

Hiền giả, cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là đoạn diệt, là

tiêu diệt. Thọ... Tưởng... Các hành... Thức là vô thường, này

Hiền giả, cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là đoạn diệt, là

tiêu diệt". Ðược hỏi vậy, này Hiền giả, tôi sẽ trả lời như

vậy.

38-39) Lành thay, lành thay, Hiền giả Yamaka! Hiền

giả Yamaka, ta sẽ cho Hiền giả một ví dụ để ý nghĩa này được

hiểu rõ thêm nữa. Ví như, này Hiền giả Yamaka, một người gia chủ hay

con của người gia chủ, là nhà hào phú, tiền nhiều, của nhiều, lại

được bảo vệ. Rồi có người đến, muốn điều bất lợi, muốn

điều bất hạnh, muốn điều bất an, muốn đoạt mạng sống người kia.

Người ấy suy nghĩ: "Người gia chủ hay con của người gia chủ này là nhà

hào phú, tiền nhiều, của nhiều, lại được bảo vệ. Thật không

dễ gì đoạt mạng sống nó bằng sức mạnh. Vậy ta hãy tìm cách xâm nhập rồi

sẽ đoạt mạng sống". Người ấy đi đến người gia chủ hay con của

người gia chủ kia, và nói như sau: "Thưa Tôn giả, tôi xin được hầu hạ

Tôn giả". Người gia chủ hay con của người gia chủ kia chấp nhận cho

người ấy hầu hạ. Người ấy hầu hạ, dậy trước ngủ sau, sự việc nhanh

nhẹn, cử chỉ đẹp lòng, lời nói khả ái. Người gia chủ hay con của người gia

chủ kia tin tưởng người ấy, xem người ấy như thân hữu, tin tưởng người

ấy, xem như tâm hữu, và đặt lòng tín cẩn vào người ấy. Này Hiền giả,

khi người ấy đã tin tưởng rằng: "Người gia chủ hay con của người gia

chủ này đã tín cẩn ta", khi bắt gặp người con của gia chủ ở một

chỗ thanh vắng, liền lấy con dao sắc bén, đoạt mạng sống người con

của gia chủ.

40) Hiền giả Yamaka, Hiền giả nghĩ thế nào?

Khi người ấy đến với người gia chủ hay con của người gia chủ kia và

nói: "Thưa Tôn giả, tôi muốn hầu hạ Tôn giả"; khi ấy người ấy có

phải là kẻ giết người không? Và dầu cho người ấy là kẻ giết

người, người gia chủ hay con của người gia chủ cũng không nghĩ rằng: "Ta

có một kẻ giết người".

41) Khi người ấy hầu hạ, dậy trước ngủ sau, sự

việc nhanh nhẹn, cử chỉ đẹp lòng, lời nói khả ái, khi ấy dầu cho người

ấy là kẻ giết người, người gia chủ hay con của người gia chủ cũng không

nghĩ rằng: "Ta có một kẻ giết người".

-- Thưa vâng, này Hiền giả.

42-43)-- Cũng vậy, này Hiền giả, kẻ vô văn phàm

phu, không được thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc

Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân,

không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân

nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự

ngã, hay tự ngã ở trong sắc; quán thọ... quán tưởng... quán các hành...

quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự

ngã, hay tự ngã ở trong thức.

44) "Sắc là vô thường", người ấy không như

thật biết rõ: "Sắc là vô thường"; "Thọ là vô

thường", người ấy không như thật biết rõ: "Thọ là vô

thường"; tưởng là vô thường, người ấy không như thật biết rõ:

"Tưởng là vô thường"; "Các hành là vô thường", người ấy

không như thật biết rõ: "Các hành là vô thường"; "Thức là

vô thường", người ấy không như thật biết rõ: "Thức là vô

thường".

45) "Sắc là khổ", người ấy không như thật

biết rõ: "Sắc là khổ"; "Thọ là khổ"... "Tưởng

là khổ"... "Các hành là khổ"... "Thức là khổ", người

ấy không như thật biết rõ: "Thức là khổ".

46) "Sắc là vô ngã", người ấy không như thật

biết rõ: "Sắc là vô ngã"; "Thọ là vô ngã"...

"Tưởng là vô ngã"... "Các hành là vô ngã"... "Thức là

vô ngã", người ấy không như thật biết rõ: "Thức là vô

ngã".

47) "Sắc là hữu vi", người ấy không như thật

biết rõ: "Sắc là hữu vi"; "Thọ là hữu vi"...

"Tưởng là hữu vi"... "Các hành là hữu vi"; "Thức là

hữu vi", người ấy không như thật biết rõ: "Thức là hữu vi".

48) "Sắc là kẻ giết người", người ấy

không như thật biết rõ: "Sắc là kẻ giết người";

"Thọ là kẻ giết người"... "Tưởng là kẻ giết

người"... "Các hành là kẻ giết người"... "Thức là kẻ

giết người", người ấy không như thật biết rõ: "Thức là kẻ

giết người".

49) Người ấy đến với sắc, chấp thủ, nhiếp

trì: "Sắc là tự ngã của ta". Người ấy đến với thọ... với

tưởng... với các hành... người ấy đến với thức, chấp thủ và nhiếp

trì: "Thức là tự ngã của ta". Năm thủ uẩn này được người ấy đi

đến chấp thủ, sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu dài cho người ấy.

50) Này Hiền giả, bậc Ða văn Thánh đệ tử thấy

rõ các bậc Thánh... tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là

tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở

trong sắc; không quán thọ... không quán tưởng... không quán các hành...

không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong

tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.

51) "Sắc là vô thường", vị ấy như thật

biết rõ: "Sắc là vô thường"; "Thọ là vô thường"...

"Tưởng là vô thường"... "Các hành là vô thường"...

"Thức là vô thường", vị ấy như thật biết rõ: "Thức là vô

thường".

52) "Sắc là khổ", vị ấy như thật biết rõ:

"Sắc là khổ"... "Thọ là khổ"... "Tưởng là

khổ"... "Các hành là khổ"... "Thức là khổ", vị ấy như

thật biết rõ: "Thức là khổ".

53) "Sắc là vô ngã", vị ấy như thật biết

rõ: "Sắc là vô ngã"... "Thọ là vô ngã"... "Tưởng

là vô ngã"... "Các hành là vô ngã"... "Thức là vô

ngã", vị ấy như thật biết rõ: "Thức là vô ngã".

54) "Sắc là hữu vi", vị ấy như thật biết

rõ: "Sắc là hữu vi"... "Thọ là hữu vi"... "Tưởng là

hữu vi"... "Các hành là hữu vi"... "Thức là hữu vi", vị

ấy như thật biết rõ: "Thức là hữu vi".

55) "Sắc là kẻ giết người", vị ấy như

thật biết rõ: "Sắc là kẻ giết người"... "Thọ là kẻ

giết người"... "Tưởng là kẻ giết người"... "Các

hành là kẻ giết người"... "Thức là kẻ giết người", vị

ấy như thật biết rõ: "Thức là kẻ giết người".

56) Vị ấy không đến với sắc, không chấp thủ,

không nhiếp trì: "Sắc là tự ngã của ta". Không đến với

thọ... với tưởng... với các hành... Không đến với thức, không chấp

thủ, không nhiếp trì : "Thức là tự ngã của ta". Ðối với năm

thủ uẩn này, vị ấy không đi đến, không chấp thủ, sẽ đưa đến hạnh

phúc, an lạc cho vị ấy trong một thời gian dài.

57) -- Như vậy, này Hiền giả Sàriputta, các Tôn giả

ấy có được người như Hiền giả làm đồng Phạm hạnh, có lòng lân mẫn

như vậy, muốn họ được hạnh phúc như vậy, bậc giáo giới như vậy, bậc

giảng dạy như vậy.

58) Và nay, sau khi được nghe Tôn giả Sàriputta

thuyết pháp, tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp

thủ.

IV. Anuràdha (Tạp 5, Ðại 2,32c) (S.iii,116)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Vesàli, Ðại Lâm, tại Trùng

Các giảng đường.

2) Lúc bấy giờ Tôn giả Anuràdha ở một cái chòi trong

rừng, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

3) Rồi nhiều ngoại đạo du sĩ đi đến Tôn giả

Anuràdha; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Anuràdha những lời chào đón

hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi

xuống một bên.

4) Ngồi xuống một bên, các ngoại đạo du sĩ ấy nói

với Tôn giả Anuràdha:

-- Này Hiền giả Anuràdha, bậc Như Lai ấy là Tối

thượng nhân, Tối thắng nhân, đã đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy,

được xem là đã tuyên bố theo bốn trường hợp: "Như Lai tồn tại sau khi

chết; Như lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn

tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi

chết".

5) Ðược nói vậy, Tôn giả Anuràdha nói với các ngoại

đạo du sĩ ấy:

-- Này Chư Hiền, bậc Như Lai, Tối thượng nhân, Tối

thắng nhân, bậc đã đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy được xem là

đã tuyên bố ra ngoài bốn trường hợp như sau: "Như Lai tồn tại sau khi

chết; Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn

tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi

chết".

6) Ðược nghe nói vậy, các ngoại đạo du sĩ nói với

Tôn giả Anuràdha như sau:

-- Hoặc là vị Tỷ-kheo này mới tu học, xuất gia

không bao lâu. Hay vị này là vị Trưởng lão, nhưng ngu dốt không có học

tập.

7) Rồi các ngoại đạo du sĩ ấy sau khi chỉ trích Tôn

giả Anuràdha là mới tu học, là ngu si, liền từ chỗ ngồi đứng dậy

và ra đi.

8) Rồi Tôn giả Anuràdha, sau khi các ngoại đạo du sĩ

ấy ra đi không bao lâu, liền suy nghĩ như sau: "Nếu ngoại đạo du

sĩ ấy hỏi ta thêm câu hỏi nữa, ta phải trả lời như thế nào để khi

ta nói với các ngoại đạo du sĩ ấy, ta nói lên quan điểm của Thế

Tôn, ta không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, ta có thể

trả lời tùy pháp, thuận với Chánh pháp; và ai là người đồng pháp, nói lên

lời thuận với quan điểm của Ngài, sẽ không tìm được lý do để

quở trách".

9) Rồi Tôn giả Anuràdha đi đến Thế Tôn, sau khi

đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

10) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Anuràdha bạch Thế

Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, con ở trong một cái

chòi trong rừng không xa Thế Tôn bao nhiêu. Rồi bạch Thế Tôn, nhiều

ngoại đạo du sĩ đi đến con; sau khi đến... nói với con như sau:

"Này Hiền giả Anuràdha, bậc Như Lai ấy là Tối thượng nhân, Tối

thắng nhân, đã đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy được xem là đã

tuyên bố theo bốn trường hợp: 'Như Lai tồn tại sau khi chết... Như Lai

không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết’".

11) Ðược nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với các

ngoại đạo du sĩ ấy như sau: "Này chư Hiền. .. không tồn tại sau khi

chết".

12) Ðược nghe nói vậy, các ngoại đạo du sĩ nói với

con: "Hoặc là Tỷ-kheo này mới học... nhưng ngu dốt, không có

học tập".

13) Rồi các ngoại đạo du sĩ ấy sau khi chỉ trích con

là mới tu học... liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

14) Rồi bạch Thế Tôn, sau khi các ngoại đạo du sĩ

ấy ra đi không bao lâu, con liền suy nghĩ như sau: "Nếu các ngoại

đạo du sĩ ấy hỏi ta thêm câu hỏi nữa, ta phải trả lời như thế nào

để khi ta nói với các ngoại đạo du sĩ ấy, ta nói lên quan điểm của

Thế Tôn. Ta không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, ta có

thể trả lời với tùy pháp, thuận với Chánh pháp; và ai là người đồng

pháp, nói lên lời thuận với quan điểm của Ngài, sẽ không tìm được

lý do để quở trách".

15) Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, sắc là thường

hay vô thường?

-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.

-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

-- Là khổ, bạch Thế Tôn.

-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có

hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi. Cái này là

tôi. Cái này là tự ngã của tôi"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Thọ... tưởng... các hành... thức là thường hay

vô thường?

-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.

-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

-- Là khổ, bạch Thế Tôn.

-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có

hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi. Cái này là

tôi. Cái này là tự ngã của tôi"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

16-17) -- Do vậy... thấy vậy... "... không còn trở

lui trạng thái này nữa". Vị ấy biết rõ như vậy.

18) Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán:

"Sắc là Như Lai không?"

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

"-- Thọ... tưởng... các hành... thức là Như Lai

không?"

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

19) Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán:

"Như Lai ở trong sắc không?"

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Ông có quán: "Như Lai ở ngoài sắc không"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Ông có quán: "Như lai ở trong thọ... ở ngoài

thọ... ở trong tưởng... ở ngoài tưởng... ở trong các hành... ở ngoài các

hành... ở trong thức không"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Ông có quán: "Như Lai ở ngoài thức không"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán:

"Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là Như Lai không"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

20) -- Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán:

"Cái phi sắc, phi thọ, phi tưởng, phi hành, phi thức là Như Lai

không"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

21) -- Và ở đây, này Anuràdha, ngay trong hiện tại

không tìm được một Như Lai thường còn, thường trú, thời có hợp lý

chăng khi Ông trả lời: "Này chư Hiền, vị Như Lai nào là bậc Tối

thượng nhân, Tối thắng nhân, đã đạt được quả Tối thắng, bậc Như Lai ấy

được xem là đã tuyên bố ra ngoài bốn trường hợp như sau: 'Như Lai tồn tại

sau khi chết; Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và

không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại

sau khi chết’ "?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

22) -- Lành thay, lành thay, này Anuràdha! Trước kia và

nay, này Anuràdha, Ta chỉ tuyên bố khổ và đoạn diệt khổ.

V. Vakkàli (Tạp 47, Ðại 2,346b) (Tăng 19,

Ðại 2,642b) (S.iii,119)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá),

Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2) Lúc bấy giờ, Tôn giả Vakkali trú tại nhà một thợ

gốm, đang bị bệnh, đau đớn, trầm trọng.

3) Rồi Tôn giả Vakkali gọi những người thị giả:

-- Ðến đây, các Hiền giả! Hãy đi đến

Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn

và thưa: "Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Vakkali bị bệnh, đau đớn,

trầm trọng; (Vakkali) cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: 'Lành

thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến

Tỷ-kheo Vakkali.’"

4) -- Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali, đi

đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một

bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, bị bệnh,

đau đớn trầm trọng. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và có

thưa như sau: "Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn vì lòng từ mẫn

hãy đi đến Tỷ-kheo Vakkali".

5) Thế Tôn im lặng nhận lời.

6) Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát, đi đến

Tỷ-kheo Vakkali.

7) Tôn giả Vakkali thấy Thế Tôn từ xa đi đến,

thấy vậy liền cố gắng từ giường ngồi dậy.

8) Thế Tôn nói với Tôn giả Vakkali:

-- Thôi Vakkali, Ông chớ có cố gắng từ giường ngồi

dậy. Có chỗ ngồi đã soạn sẵn, Ta sẽ ngồi trên chỗ ngồi ấy.

Rồi Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn

sẵn.

9) Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Vakkali:

-- Ông có kham nhẫn được không? Ông có chịu đựng

được không? Có phải khổ thọ tổn giảm, không tăng trưởng? Có phải có

những dấu hiệu tổn giảm, không phải tăng trưởng?

-- Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn! Con

không có thể chịu đựng! Khổ thọ kịch liệt tăng trưởng nơi con,

không có tổn giảm. Có những dấu hiệu tăng trưởng, không có tổn giảm.

10) -- Này Vakkali, Ông có gì phân vân, hối hận không?

-- Bạch Thế Tôn, thật sự con có nhiều phân vân,

có nhiều hối hận!

11) -- Này Vakkali, Ông có gì tự trách mình về giới

luật không?

-- Bạch Thế Tôn, con không có gì tự trách mình

về giới luật.

12) -- Này Vakkali, nếu Ông không có gì tự trách

mình về giới luật, vậy Ông có gì phân vân, có gì hối hận?

-- Ðã từ lâu, bạch Thế Tôn, con muốn đến

để được thấy Thế Tôn. Nhưng thân con không đủ sức mạnh để

được đến thấy Thế Tôn.

13) -- Thôi vừa rồi, này Vakkali, có gì đáng thấy đối

với cái thân hôi hám này. Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai

thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Ðang

thấy Ta, là thấy Pháp.

14) -- Này Vakkali, Ông nghĩ thế nào, sắc là thường

hay vô thường?

-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.

-- Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?

-- Là khổ, bạch Thế Tôn.

-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có

hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi. Cái này là

tôi. Cái này là tự ngã của tôi"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Thọ... Tưởng... Các hành... Thức là thường hay

vô thường?

-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.

-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

-- Là khổ, bạch Thế Tôn.

-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có

hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi. Cái này là

tôi. Cái này là tự ngã của tôi"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

15-16) -- Do vậy, ở đây... thấy vậy... "... không

còn trở lui trạng thái này nữa". Vị ấy biết rõ như vậy.

17) Rồi Thế Tôn, sau khi giáo giới cho Tôn giả

Vakkali với bài giáo giới này, từ chỗ ngồi đứng dậy và đi đến núi

Gijjhakuuta (Linh Thứu).

18) Rồi Tôn giả Vakkali, sau khi Thế Tôn đi không bao

lâu, liền gọi các thị giả:

-- Hãy đến ta, này chư Hiền, hãy nhắc cái

giường ta và đi đến tảng đá đen (kàlasilà), tại sườn núi Isigili (hang

của Tiên nhân). Làm sao người như ta, lại nghĩ đến mệnh chung trong

một căn nhà?

19) -- Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali, nhắc

chiếc giường với Tôn giả Vakkali đi đến tảng đá đen, tại sườn núi

Isigili.

20) Thế Tôn, đêm ấy và ngày còn lại, trú tại núi

Gijjhakuuta.

21) Rồi hai vị Thiên, trong khi đêm đã gần tàn, với

nhan sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng núi Gijjakuuta, đi đến Thế

Tôn... liền đứng một bên.

22) Ðứng một bên, một vị Thiên bạch Thế Tôn:

-- Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, đang có ý

nghĩ muốn giải thoát.

23) Vị Thiên khác bạch Thế Tôn:

-- Vị ấy muốn giải thoát, chắc chắn được khéo giải

thoát.

24) Chư Thiên ấy nói như vậy xong; sau khi nói vậy,

liền đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi biến

mất tại chỗ.

25) Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã qua, liền

gọi các Tỷ-kheo:

-- Hãy đến, này các Tỷ-kheo. Hãy đi đến

Tỷ-kheo Vakkali; sau khi đến, nói với Tỷ-kheo Vakkali như sau:

"Này Hiền giả Vakkali, hãy nghe lời nói của hai vị Thiên nói với

Thế Tôn. Này Hiền giả, đêm nay, hai vị Thiên, sau khi đêm đã gần

tàn, với nhan sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Gijjhakuuta, đi đến

Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng

một bên, này Hiền giả, một vị Thiên bạch Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn,

Tỷ-kheo Vakkali đang có ý nghĩ muốn giải thoát’. Vị Thiên khác

bạch Thế Tôn: 'Vị ấy muốn giải thoát, chắc chắn được khéo giải

thoát’. Và Hiền giả Vakkali, Thế Tôn nói với Hiền giả như sau:

"Này Vakkali, chớ có sợ! Này Vakkali, chớ có sợ! Cái chết của Ông sẽ

không phải là ác hạnh, sự mệnh chung không phải ác hạnh!’"

26) -- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến

Tôn giả Vakkali; sau khi đến, thưa với Tôn giả Vakkali:

-- Này Hiền giả Vakkali, hãy nghe lời nói của

Thế Tôn và hai vị Thiên.

27) Rồi Tôn giả Vakkali gọi các vị thị giả:

-- Hãy đến, này chư Hiền! Hãy nhắc tôi ra khỏi

giường. Làm sao một người như tôi, có thể nghĩ ngồi trên chỗ ngồi

cao để nghe Thế Tôn giảng dạy.

28) -- Thưa vâng, này Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali, nhắc Tôn

giả Vakkali ra khỏi giường.

29) -- Này Hiền giả, đêm nay, hai vị Thiên, sau khi

đêm đã gần tàn... đứng một bên. Ðứng một bên, này Hiền giả, một vị

Thiên bạch Thế Tôn: "Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, đang nghĩ

đến tự giải thoát". Vị Thiên kia bạch Thế Tôn: "Vị ấy, bạch

Thế Tôn, muốn giải thoát sẽ được khéo giải thoát". Và Thế Tôn,

này Hiền giả Vakkali, nói với Hiền giả như sau: "Chớ có sợ, này

Vakkali! Chớ có sợ, này Vakkali! Cái chết của Ông không phải là ác hạnh,

sự mệnh chung không phải là ác hạnh!"

30) -- Vậy này chư Hiền, hãy nhân danh ta cúi đầu

đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: "Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn,

bị bệnh, đau đớn, bệnh trầm trọng! Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân

Thế Tôn, và nói như sau: 'Sắc là vô thường, bạch Thế Tôn. Con không

có ngờ gì vấn đề này, bạch Thế Tôn! Cái gì vô thường là khổ, con

không có nghi ngờ gì vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự

biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có

nghi ngờ gì vấn đề này. Thọ là vô thường, bạch Thế Tôn, con

không có nghi ngờ gì vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự

biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có

nghi ngờ gì vấn đề này. Tưởng là vô thường... Các hành là vô

thường... Thức là vô thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ gì

về vấn đề này. Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi ngờ gì

vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con

không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì về vấn

đề này.’"

31) -- Thưa vâng, này Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali rồi ra đi.

32) Tôn giả Vakkali, khi các Tỷ-kheo ấy đi không bao

lâu liền đem lại con dao.

33) Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Thế Tôn; sau

khi đến, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo

ấy bạch Thế Tôn:

-- Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, bị bệnh,

đau đớn, bị trọng bệnh. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn,

và nói như sau: "Sắc là vô thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi

ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi

ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến

hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ

gì về vấn đề này. Thọ... Tưởng... Các hành... Thức là vô

thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này.

Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này.

Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng

dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì về vấn đề

này".

34) Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

-- Này các Tỷ-kheo, chúng ta hãy đi đến Isigili,

chỗ tảng đá đen. Ở đấy, Thiện gia nam tử đem lại con dao.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

35) Thế Tôn cùng với số đông Tỷ-kheo đi

đến Isigili, chỗ tảng đá đen.

36) Và ở đàng xa, Thế Tôn thấy Tôn giả Vakkali nằm

trên giường, với vai co quắp lại.

37) Lúc bấy giờ, một đám khói đen, một luồng ám khí

đi về phía Ðông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về

phía Nam, đi về phía trên, đi về phía dưới, đi về phía bốn góc.

38) Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

-- Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy đám khói đen

ấy, luồng ám khí ấy đi về phía Ðông... đi về phía bốn góc không?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

39) -- Ðó là Ác ma, này các Tỷ-kheo, đang đi tìm

thức của Thiện nam tử Vakkali và nói: "thức của Thiện nam tử

Vakkali an trú tại chỗ nào?"

40) Nhưng này các Tỷ-kheo, với thức không an trú

tại một chỗ nào, Thiện nam tử Vakkali đã nhập Niết-bàn một cách

hoàn toàn!

VI. Assaji (Tạp 27, Ðại 2,267b) (S.iii,124)

1) Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana

(Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2) Lúc bấy giờ Tôn giả Assaji trú ở vườn Kassapa, bị

bệnh, đau đớn, trầm trọng.

3) Rồi Tôn giả Assaji gọi các người thị giả:

-- Hãy đến, này chư Hiền! Hãy đi đến

Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn:

"Tỷ-kheo Assaji, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn, trầm

trọng, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và thưa như sau : 'Lành thay,

bạch Thế Tôn! Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỷ-kheo

Assaji!’"

4) -- Thưa vâng, Hiền giả!

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Assaji, đi

đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống

một bên.

5) Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế

Tôn:

-- Tỷ-kheo Assaji, bạch Thế Tôn, bị bệnh đau

đớn, trầm trọng... Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn vì lòng từ

mẫn hãy đi đến Tỷ-kheo Assaji! Thế Tôn im lặng nhận lời.

6) Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh

cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Assaji.

7) Tôn giả Assaji thấy Thế Tôn từ xa đi đến,

thấy vậy liền cố gắng từ nơi giường ngồi dậy. Thế Tôn nói với Tôn

giả Assaji:

-- Thôi Assaji! Ông chớ có cố gắng từ giường ngồi

dậy! Có chỗ ngồi đã soạn sẵn. Tại chỗ ấy, Ta sẽ ngồi.

9) Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn

sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Assaji:

10) -- Ông có kham nhẫn được không, này Assaji? Ông có

chịu đựng được không?... Có phải có những dấu hiệu thuyên giảm, không

có tăng trưởng?

-- Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn!...

Có những dấu hiệu tăng trưởng, không có thuyên giảm!

11) -- Này Assaji, Ông có phân vân gì, có hối hận gì

không?

-- Chắc chắn, bạch Thế Tôn, con có nhiều phân

vân, có nhiều hối hận!

12) -- Này Assaji, Ông có điều gì tự trách mình

về giới luật hay không?

-- Bạch Thế Tôn, con không có điều gì tự trách

mình về giới luật.

13) -- Này Assaji, nếu Ông không có điều gì tự

trách mình về giới luật, Ông có phân vân gì, có hối hận gì không?

-- Trước đây, bạch Thế Tôn, sau khi cố gắng làm

cho lắng xuống cơn bịnh, con sống với thân hành, do vậy con không chứng được

Thiền định. Dầu cho không chứng được Thiền định, con tự nghĩ:

"Ta sẽ không thối thất".

14) Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào kiên trì trong

Thiền định, tập trung trong Thiền định, nếu họ không chứng

đắc Thiền định, họ sẽ nghĩ rằng: "Chúng ta sẽ không thối

thất!"

15-21) -- Này Assaji, Ông nghĩ thế nào, sắc là

thường hay vô thường?

-- Vô thường, bạch Thế Tôn!... Thức là thường hay

vô thường?... do vậy... thấy vậy... "... không còn trở lui trạng thái này

nữa". Vị ấy biết rõ như vậy.

22) Khi cảm giác lạc thọ, vị ấy biết rõ:

"Là vô thường"; vị ấy biết rõ: "Là không nên đắm

trước"; vị ấy biết rõ: "Là không nên hoan hỷ". Khi cảm

giác khổ thọ, vị ấy biết rõ: "Là vô thường"; vị ấy

biết rõ: "Là không nên đắm trước"; vị ấy biết rõ: "Là

không nên hoan hỷ". Khi cảm giác bất khổ bất lạc khổ, vị ấy biết

rõ: "Là vô thường"; vị ấy biết rõ: "Là không nên đắm

trước"; vị ấy biết rõ: "Là không nên hoan hỷ".

23) Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, vị ấy cảm

thọ không có hệ lụy. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm

thọ không có hệ lụy. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc

thọ, vị ấy cảm thọ không có hệ lụy.

24) Nếu vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận

về thân, vị ấy biết rõ: "Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng

tận về thân". Nếu vị ấy cảm giác một cảm thọ cùng tận

về sinh mạng, vị ấy biết rõ: "Ta đang cảm giác một cảm thọ

cùng tận về sinh mạng". Vị ấy biết rõ rằng: "Khi thân hoại

mạng chung trên cho đến khi sinh mạng đi đến chỗ cùng tận, ở đây

tất cả những gì vị ấy cảm thọ, tất cả những gì vị ấy hoan hỷ, sẽ

trở thành thanh lương!"

25) Ví như, này Assaji, do duyên dầu, do duyên tim bấc,

một cây đèn dầu được cháy đỏ. Khi dầu và tim bấc của ngọn đèn ấy

đoạn tận, không có mang lại nhiên liệu, ngọn đèn ấy sẽ tắt. Cũng

vậy, này Assaji, Tỷ-kheo, khi cảm giác một cảm thọ cùng tận về

thân, vị ấy biết rõ: "Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận

về thân". Khi cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng, vị

ấy biết rõ: "Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh

mạng". Sau khi thân hoại mạng chung trên cho đến khi sinh mạng đi

đến chỗ cùng tận, ở đây tất cả những gì vị ấy cảm thọ, tất

cả những gì vị ấy hoan hỷ, sẽ trở thành thanh lương!

VII. Khemaka (Tạp 5, Ðại 2,29c) (S.iii,126)

1) Một thời, nhiều Tỷ-kheo Trưởng lão sống ở

Kosambi, tại vườn Ghosita.

2) Lúc bấy giờ, Tôn giả Khemaka trú tại vườn Badarica,

bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.

3) Rồi các Tỷ-kheo Trưởng lão, vào buổi chiều,

từ chỗ tịnh cư đứng dậy và gọi Tôn giả Dàsaka:

-- Hãy đến đây, này Hiền giả Dàsaka! Hãy đi

đến Tỷ-kheo Khemaka; sau khi đến, hãy nói với Tỷ-kheo Khemaka:

"Này Hiền giả Khemaka, các Trưởng lão nói với Hiền giả như sau:

'Này Hiền giả, Hiền giả có kham nhẫn được không? Hiền giả có

chịu đựng được không? Có phải khổ thọ tổn giảm không tăng trưởng? Có

phải có những dấu hiệu tổn giảm, không phải tăng trưởng?’"

4) -- Thưa vâng, chư Hiền.

Tôn giả Dàsaka vâng đáp các Tỷ-kheo ấy, đi

đến Tôn giả Khemaka, sau khi đến, nói với Tôn giả Khemaka:

-- Các Trưởng lão, này Hiền giả Khemaka, nói với

Hiền giả như sau: "Hiền giả có kham nhẫn được không? Này

Hiền giả Khemaka... không phải tăng trưởng?"

5) -- Tôi không có thể kham nhẫn, thưa Hiền

giả... tôi không có thể chịu đựng... có những dấu hiệu tăng trưởng,

không phải thuyên giảm!

6) Rồi Tôn giả Dàsaka đi đến các Tỷ-kheo

Trưởng lão; sau khi đến, thưa với các Tỷ-kheo Trưởng lão:

-- Thưa chư Hiền, Tỷ-kheo Khemaka nói như sau:

"Tôi không có thể kham nhẫn, này Hiền giả... có những dấu

hiệu tăng trưởng, không phải thuyên giảm!"

7) -- Hãy đến đây, Hiền giả Dàsaka! Hãy đi

đến Tỷ-kheo Khemaka; sau khi đến, nói với Tỷ-kheo Khemaka như

sau: "Này Hiền giả Khemaka, các bậc Trưởng lão nói với Hiền giả

như sau: 'Này Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn, tức là

sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.

Trong năm thủ uẩn này, Tôn giả Khemaka quán có cái gì là tự ngã hay ngã sở

không?’"

8) -- Thưa vâng, chư Hiền.

Tôn giả Dàsaka vâng đáp các Tỷ-kheo Trưởng lão,

đi đến Tôn giả Khemaka, sau khi đến...

-- Các bậc Trưởng lão, này Hiền giả, nói với

Hiền giả như sau: "Này Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm

thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này,

Tôn giả Khemaka quán có cái gì là tự ngã hay ngã sở không?"

9) -- Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến

năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn

này, này Hiền giả, tôi không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả.

10) Rồi Tôn giả Dàsaka đi đến các Tỷ-kheo

Trưởng lão; sau khi đến, nói với các Tỷ-kheo Trưởng lão:

-- Tỷ-kheo Khemaka, thưa chư Hiền, đã nói như

sau: "Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này,

tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, này Hiền

giả, tôi không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả!"

11) -- Hãy đến đây, Hiền giả Dàsaka! Hãy đi

đến Tỷ-kheo Khemaka; sau khi đến, nói với Tỷ-kheo Khemaka như

sau: "Các vị Trưởng lão, này Hiền giả Khemaka, nói với Hiền giả

như sau: 'Hiền giả Khemaka, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này,

tức là sắc thủ uẩn...thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, nếu Tôn giả

Khemaka không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả, thời Tôn giả Khemaka là

vị A-la-hán, các lậu hoặc đã được đoạn tận"."

12) -- Thưa vâng, chư Hiền giả.

Tôn giả Dàsaka vâng đáp các Tỷ-kheo Trưởng lão,

đi đến Tôn giả Khemaka...

-- Này Hiền giả Khemaka, các bậc Tỷ-kheo Trưởng

lão nói với Hiền giả như sau: "Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói

đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Nếu Tôn

giả Khemaka, trong năm thủ uẩn này, không quán cái nào là tự ngã hay ngã sở,

thời Tôn giả Khemaka là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc".

13). .. -- Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói

đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Trong năm thủ

uẩn này, này Hiền giả, tôi không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả.

Nhưng tôi không phải là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc. Và thưa

Hiền giả, trong năm thủ uẩn này, dầu cho tôi có chứng được: "Tôi

là", tuy vậy tôi cũng không quán: "Cái này là tôi".

14) Rồi Tôn giả Dàsaka đi đến Tỷ-kheo Trưởng

lão... nói với các Tỷ-kheo Trưởng lão:

-- Tỷ-kheo Khemaka, thưa chư Hiền, đã nói như

sau: "Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này,

tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, thưa Hiền

giả, tôi không quán cái gì là ngã hay là ngã sở. Tuy vậy, tôi không phải

là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc. Và thưa Hiền giả, trong năm

thủ uẩn, dầu cho tôi chứng được: "Tôi là", tuy vậy tôi cũng không

quán: "Cái này là tôi".

15) -- Hãy đến đây, Hiền giả Dàsaka! Hãy đi

đến Tỷ-kheo Khemaka; sau khi đến, hãy nói với Tỷ-kheo Khemaka:

Thưa Hiền giả Khemaka, các Tỷ-kheo Trưởng lão nói với Hiền giả

như sau: "Này Hiền giả Khemaka, cái mà Hiền giả nói: "Tôi

là", các Hiền giả nói "Tôi là, là cái gì?" Hiền giả

nói: "Tôi là sắc?" Hiền giả nói: "Tôi là khác sắc"?.

..; Hiền giả nói: "Tôi là thức?"; Hiền giả nói: "Tôi là

khác thức?". Này Hiền giả Khemaka, cái mà Hiền giả nói: "Tôi

là", các Hiền giả nói: "Tôi là, là cái gì?""

16) -- Thưa vâng.

Tôn giả Dàsaka vâng đáp các Tỷ-kheo Trưởng lão,

đi đến Tôn giả Khemaka...

17) -- Thôi vừa rồi, Hiền giả Dàsaka chạy qua, chạy

lại như thế này để làm gì? Hãy đem gậy lại đây! Ta sẽ đi đến

các Tỷ-kheo Trưởng lão!

18) Rồi Tôn giả Khemaka chống gậy đi đến các

Tỷ-kheo Trưởng lão; sau khi đến, nói lên với các Tỷ-kheo Trưởng

lão những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi

thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

19) Các Tỷ-kheo Trưởng lão nói với Tôn giả Khemaka

đang ngồi một bên:

-- Này Hiền giả Khemaka, cái mà Hiền giả nói:

"Tôi là", cái mà Hiền giả nói: "Tôi là", là cái gì?

Hiền giả nói: "Tôi là sắc?"; Hiền giả nói: "Tôi là khác

sắc"... "là thọ... là tưởng... là các hành"...; Hiền giả

nói: "Tôi là thức?"; Hiền giả nói: "Tôi là khác thức?";

Này Hiền giả Khemaka, cái mà Hiền giả nói: "Tôi là", cái mà

Hiền giả nói "Tôi là", là cái gì?

20) -- Thưa chư Hiền, tôi không nói: "Tôi là

sắc". Tôi không nói: "Tôi là khác sắc"... "là thọ... là

tưởng... là các hành"... Tôi không nói: "Tôi là thức". Tôi

cũng không nói: "Tôi là khác thức". Dầu rằng, này các Hiền giả,

Tôi có chứng được (tư tưởng): "Tôi là", nhưng tôi không có quán

: "Cái này là tôi".

21) Ví như, này chư Hiền, hương thơm của hoa sen

xanh, hay hoa sen hồng, hay hoa trắng, nếu có người nói: "Hương thuộc

về lá hay thuộc về sắc, hay thuộc về nhụy hoa", nói như vậy

có nói đúng không?

-- Thưa không, này Hiền giả.

-- Vậy chư Hiền, trả lời như thế nào là trả

lời một cách đúng đắn?

Chư Hiền, hương là của hoa. Trả lời như vậy là

trả lời một cách đúng đắn.

22) Cũng vậy, này chư Hiền, tôi không nói:

"Tôi là sắc"; tôi không nói: "Tôi là khác sắc"... "Tôi

là thọ"... "Tôi là tưởng"... "Tôi là các hành"...

Tôi không nói: "Tôi là thức". Tôi không nói : "Tôi là khác

thức". Nhưng này chư Hiền, dầu rằng đối với năm thủ uẩn của tôi

được có này, tôi không có quán: "Cái này là tôi".

23) Dầu cho đối với vị Thánh đệ tử, này chư

Hiền, năm hạ phần kiết sử đã được đoạn tận, nhưng vị ấy còn

nghĩ: "Ðối với năm thủ uẩn, vẫn còn dư tàn tế nhị". Dư tàn

kiêu mạn 'Tôi là", dư tàn dục 'Tôi là’, dư tàn tùy miên 'Tôi

là’ chưa được vị ấy đoạn trừ. Vị ấy sau một thời gian, sống quán sự

sanh diệt trong năm thủ uẩn: "Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi,

đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ... Ðây là tưởng... Ðây là các

hành... Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn

diệt".

24) Vì rằng vị ấy sống, quán sự sanh diệt trong năm

thủ uẩn này, các dư tàn ngã mạn "Tôi là", các dư tàn ngã dục

"Tôi là", các dư tàn ngã tùy miên "Tôi là", mà vị ấy

chưa được đoạn trừ, nay đi đến đoạn tận.

25) Này chư Hiền, ví như một tấm vải nhớp nhúa

dính bụi, những người chủ giao nó cho một người thợ giặt. Người thợ giặt

sau khi nhồi nó, đập nó trong nước muối, hay trong nước tô đã, trong nước

phân bò rồi giặt sạch nó trong nước trong. Dầu cho tấm vải ấy nay được

sạch sẽ, trong trắng, nhưng nó vẫn còn dư tàn mùi muối hay mùi tô đã, hay

mùi phân bò. Người thợ giặt giao lại tấm vải cho những người chủ. Những

người chủ đem bỏ nó vào trong một cái hòm có ướp hương thơm. Như vậy,

cái dư tàn mùi muối hay mùi tô đã hay mùi phân bò chưa được đoạn tận,

nay được đoạn trừ.

26-27) Cũng vậy, này chư Hiền, dầu cho vị Thánh

đệ tử đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử, nhưng với vị ấy, cái dư

tàn trong năm thủ uẩn, dư tàn ngã mạn "Tôi là", dư tàn ngã dục

"Tôi là", dư tàn ngã tùy miên: "Tôi là" chưa được đoạn

trừ. Vị ấy sau một thời gian, sống tùy quán sự sanh diệt trong năm thủ

uẩn: "Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt.

Ðây là thọ... đây là tưởng... đây là các hành... đây là thức, đây

là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt". Vì rằng vị ấy sống tùy

quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn này nên các dư tàn trong năm thủ uẩn

này, ngã mạn "Tôi là", ngã dục "tôi là", ngã tùy miên

"Tôi là" chưa được đoạn tận nay đi đến đoạn trừ.

28) Khi được nói vậy, các Tỷ-kheo Trưởng lão nói

với Tôn giả Khemaka:

-- Không phải chúng tôi vì muốn phiền nhiễu Tôn

giả Khemaka mà chúng tôi hỏi. Nhưng vì chúng tôi nghĩ rằng: " Tôn giả

Khemaka có thể giải đáp, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai

triển, phân tích, hiển lộ một cách rộng rãi giáo lý của Thế

Tôn".

29) Và rồi Tôn giả Khemaka đã giải đáp, thuyết

giảng, trình bày, xác chứng, khai triển, phân tích, hiển lộ một cách

rộng rãi giáo lý của Thế Tôn.

30) Tôn giả Khemaka thuyết giảng như vậy. Các

Tỷ-kheo Trưởng lão hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Khemaka giảng.

31) Trong khi lời dạy này được nói lên, khoảng sáu

mươi Tỷ-kheo được tâm giải thoát khỏi các lậu hoặc, kể cả Tôn giả

Khemaka.

VIII. Channa (Tạp 10, Ðại 2,66b) (S.iii,132)

1) Một thời, nhiều Tỷ-kheo Trưởng lão trú ở

Bàrànasi, Isipatana, vườn Lộc Uyển.

2) Rồi Tôn giả Channa, vào buổi chiều, từ chỗ

tịnh cư đứng dậy, cầm chìa khóa, đi từ tịnh xá này đến tịnh xá khác

và nói với các Tỷ-kheo Trưởng lão:

-- Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy giáo giới cho tôi! Chư

Tôn giả Trưởng lão, hãy giảng dạy cho tôi! Chư Tôn giả, hãy thuyết pháp

cho tôi để tôi có thể thấy được pháp.

3) Ðược nói vậy, các vị Tỷ-kheo Trưởng lão nói

với Tôn giả Channa:

-- Sắc, này Hiền giả Channa, là vô thường; thọ

là vô thường ; tưởng là vô thường; các hành là vô thường; thức là vô

thường. Sắc là vô ngã; thọ... tưởng... các hành... thức là vô ngã. Tất

cả các hành là vô thường; tất cả các pháp là vô ngã.

4) Rồi Tôn giả Channa suy nghĩ như sau: "Ta cũng suy

nghĩ như vầy: 'Sắc là vô thường; thọ... tưởng... các hành... thức là

vô thường. Sắc là vô ngã; thọ... tưởng... các hành... thức là vô ngã.

Tất cả các hành là vô thường; tất cả pháp là vô ngã.’

5) Nhưng tâm của ta không hướng tiến đến sự

chỉ tịnh tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát

ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn, không có thoải mái, không có an

trú, không có hướng về. Do sự tham luyến (paritassanà), chấp thủ khởi

lên. Tâm ý trở lui lại tư tưởng: 'Có phải tự ngã của ta sinh hoạt?’

Như vậy thời ta không thể thấy pháp. Ai có thể thuyết pháp cho ta

để ta có thể thấy pháp?"

6) Rồi Tôn giả Channa suy nghĩ: "Ðây là Tôn giả

Ananda, hiện trú ở Kosambi, tại vườn Ghosita, được bậc Ðạo Sư tán thán

và các bậc đồng Phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Ananda có thể

thuyết pháp cho ta để ta có thể thấy pháp. Và cho đến như

vậy, ta có lòng tin tưởng đối với Tôn giả Ananda. Vậy ta hãy đi đến

Tôn giả Ananda!"

7) Rồi Tôn giả Channa, sau khi dọn dẹp chỗ nằm

của mình, cầm y bát đi đến Kosambi, vườn Ghosita, chỗ Tôn giả Ananda

ở, sau khi đến, nói với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm, sau

khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một

bên.

8) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Channa nói với Tôn giả

Ananda:

-- Một thời, này Hiền giả Ananda, tôi ở Bàrànasi,

Isipatana, vườn Lộc Uyển. Rồi vào buổi chiều, này Hiền giả, tôi

từ chỗ tịnh cư đứng dậy, cầm chiếc chìa khóa, đi từ tịnh xá này

đến tịnh xá khác, sau khi đến nói với các Tỷ-kheo Trưởng lão:

"Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy giáo giới cho tôi! Chư Tôn giả Trưởng

lão, hãy giảng dạy cho tôi! Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy thuyết pháp cho

tôi để tôi có thể thấy pháp".

9) Ðược nghe nói vậy, này Hiền giả, các

Tỷ-kheo Trưởng lão nói với tôi: "Sắc, này Hiền giả Channa, là vô

thường; thọ... tưởng... các hành... thức là vô thường. Sắc là vô ngã;

thọ... tưởng... các hành... thức là vô ngã. Tất cả các hành là vô

thường; tất cả các pháp là vô ngã".

10) Về vấn đề ấy, này Hiền giả, tôi suy

nghĩ như sau: "Ta cũng suy nghĩ như vầy: 'Sắc là vô thường... thức là

vô thường. Sắc là vô ngã, thọ... tưởng... các hành... thức là vô ngã.

Tất cả các hành là vô thường; tất cả các pháp là vô ngã’.

11) Nhưng tâm của ta không hướng tiến đến sự

chỉ tịnh tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly

tham, đoạn diệt, Niết-bàn, không có thoải mái, không có an trú, không

có hướng về. Do sự tham luyến, chấp thủ khởi lên. Tâm ý trở lui

lại tư tưởng: 'Có phải tự ngã của ta sinh hoạt?’ Như vậy thời ta không

thể thấy pháp. Ai có thể thuyết pháp cho ta để ta có thể

thấy pháp?"

12) Rồi về vấn đề này, này Hiền giả, tôi

suy nghĩ như sau: "Ðây là Tôn giả Ananda, hiện trú ở Kosambi, tại

vườn Ghosita, được bậc Ðạo Sư tán thán và các bậc đồng Phạm hạnh có

trí kính trọng. Tôn giả Ananda có thể thuyết pháp cho ta để ta

có thể thấy pháp! Và cho đến như vậy, ta có lòng tin tưởng đối với

Tôn giả Ananda! Vậy ta hãy đi đến Tôn giả Ananda".

13) Tôn giả Ananda hãy giáo giới cho tôi! Tôn giả Ananda

hãy giảng dạy cho tôi! Tôn giả Ananda hãy thuyết pháp cho tôi để tôi

có thể thấy pháp.

14) -- Cho đến như vậy, thật sự tôi rất hoan hỷ

đối với Tôn giả Channa. Tôn giả Channa đã làm cho sự việc rõ ràng. Tôn

giả Channa đã phá vỡ chướng ngại. Hãy lóng tai, này Hiền giả Channa!

Hiền giả có thể hiểu được Chánh pháp.

15) Ngay lúc ấy, Tôn giả Channa khởi lên hoan hỷ,

hân hoan thù thắng khi nghe đến: "Ta có thể hiểu được

pháp".

16) -- Này Hiền giả Channa, tôi tận mặt nghe Thế

Tôn, tận mặt nhận lãnh từ Thế Tôn lời giáo giới này cho Kaccànaghotta:

"Thế giới này dựa trên hai (quan điểm), này Kaccàna, hiện hữu

và không hiện hữu. Ai thấy như thật với chánh trí tuệ sự tập khởi

của thế giới, thì không chấp nhận là thế giới không hiện hữu!

Nhưng này Kaccàna, ai thấy như thật với chánh trí tuệ sự đoạn diệt

của thế giới, thì cũng không chấp nhận là thế giới có hiện hữu.

Thế giới này phần lớn, này Kaccàna, là chấp thủ các phương tiện và

bị trói buộc bởi thành kiến. Với ai không đi đến, không chấp thủ,

không an trú vào chấp thủ các phương tiện, tâm không an trú vào thiên

kiến tùy miên, vị ấy không nói: 'Ðây là tự ngã của tôi". Với ai

nghĩ rằng: 'Cái gì khởi lên là đau khổ, cái gì diệt là đau khổ’,

vị ấy không có phân vân, nghi hoặc. Trí ở đây không mượn nhờ người khác.

Cho đến như vậy, này Kaccàna, là chánh trí".

17) "'Tất cả đều có’, này Kaccàna, là một

cực đoan. 'Tất cả đều không có’ là một cực đoan. Không chấp nhận

hai cực đoan ấy, này Kaccàna, Như Lai thuyết pháp một cách trung đạo. Do

duyên vô minh, nên hành khởi. Do duyên hành, nên thức khởi... Như vậy là sự

tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh không

có dư tàn nên các hành diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn

bộ khổ uẩn này".

18) -- Như vậy, này Hiền giả Ananda, là điều sẽ

đến với các bậc Tôn giả nào có được những đồng Phạm hạnh như vậy,

những vị có lòng từ mẫn, những vị muốn sự lợi ích, những vị giáo giới,

những vị giảng dạy, nghe được lời thuyết pháp này từ Tôn giả Ananda,

tôi được an trú vững chắc trong Chánh pháp.

IX. Ràhula (Tạp 1, Ðại 2,5a) (S.iii, 136)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

2) Rồi Tôn giả Ràhula đi đến Thế Tôn...

3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràhula bạch Thế

Tôn:

-- Biết như thế nào, bạch Thế Tôn, thấy như

thế nào đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài,

không có (tư tưởng) ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên?

4) -- Phàm sắc gì, này Ràhula, thuộc quá khứ, vị lai,

hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng,

hoặc xa hay gần; tất cả pháp cần phải như thật thấy với chánh trí tuệ

rằng: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này

không phải tự ngã của tôi".

5-8) Phàm thọ gì... tưởng gì... các hành gì...

Phàm thức gì, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc

thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả pháp cần phải

như thật thấy với chánh trí tuệ rằng: "Cái này không phải của tôi,

cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".

9) Biết như vậy, này Ràhula, thấy như vậy đối với

thân có thức này và đối với tất cả các tướng ở ngoài, không có (tư

tưởng) ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên.

X. Ràhula

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...

3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràhula bạch Thế

Tôn:

-- Biết như thế nào, bạch Thế Tôn, thấy như

thế nào đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài,

không có những ý niệm về ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn

tùy miên, vượt ngoài kiêu mạn, tịch tịnh, khéo giải thoát?

4) -- Phàm sắc gì, này Ràhula, thuộc quá khứ, vị lai,

hiện tại, hoặc nội hay ngoại... hoặc xa hay gần; tất cả pháp, sau khi thấy

với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không

phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", thì sẽ được giải

thoát, không có chấp thủ.

5-7) Phàm thọ gì... phàm tưởng gì... phàm các hành

gì...

8) Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại,

hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay

gần; tất cả pháp, sau khi thấy với chánh trí tuệ là: "Cái này không

phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của

tôi", thì sẽ được giải thoát, không có chấp thủ.

9) Do biết như vậy, này Ràhula, do thấy như vậy,

đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có

những ý niệm về ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên,

vượt ngoài kiêu mạn, được giải thoát, không có chấp thủ.

10) Do biết như vậy, này Ràhula, do thấy như vậy

đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có

những ý niệm về ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên,

vượt ngoài kiêu mạn, tịch tịnh, khéo giải thoát.