Kinh Tương Ưng Bộ · Saṃyutta Nikāya

[22] Chương I — Tương Ưng Uẩn (f)

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Tương Ưng Bộ

Kinh Trung Bộ · Bài 3

[22] Chương I — Tương Ưng Uẩn (f)#

Tập III - Thiên Uẩn

Tương Ưng Bộ -

Samyutta Nikaya

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Tập III - Thiên Uẩn

[22] Chương I

Tương Ưng Uẩn (f)

-ooOoo-

V. Phẩm Hoa

I. Dòng Sông (Tạp 10, Ðại

2,70a) (S.iii,137)

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...

3) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, một con

sông từ núi cao chảy xuống, từ xa chảy đến, dòng nước chảy xiết.

Trên hai bờ con sông ấy, nếu cỏ lau kàsà mọc lên, chúng từ bờ rũ

xuống; nếu các loại cỏ kàsà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu

các loại lau babbakjà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cỏ

bìranà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cây mọc lên,

chúng từ bờ rũ xuống.

4) Và một người bị dòng nước của con sông ấy cuốn

trôi, nếu người ấy nắm lấy cỏ lau kàsà, cỏ này có thể bựt đứt. Do

nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm

lấy loại cỏ kàsà, cỏ này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy

bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm lấy loại lau babbakjà, cỏ

này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ

nạn. Nếu người ấy nắm lấy các loại cây, loại cây này có thể bựt

đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn.

5) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu

không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu

tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục

pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như

là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở

trong sắc. Khi sắc ấy của người ấy bị bựt đứt, do nhân duyên ấy, người ấy

bị rơi vào tai ách khổ nạn.

6-8) ... quán thọ... quán tưởng... quán các hành...

9) ...quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có

thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Thức ấy của người

ấy bị bựt đứt, do nhân duyên ấy, người ấy rơi vào tai ách khổ nạn.

10) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc

là thường hay vô thường?

-- Vô thường, bạch Thế Tôn.

11-14) -- Thọ... Tưởng... Các hành... Thức là

thường hay vô thường?

-- Vô thường, bạch Thế Tôn.

15-16) Do vậy... Thấy vậy... "... không còn trở lui

trạng thái này nữa". Vị ấy biết rõ như vậy.

II. Bông Hoa (hay Tăng trưởng) (Tạp 2,

Ðại 2,8b) (Siii,113)

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...

3) -- Này các Tỷ-kheo, Ta không tranh luận với đời,

chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỷ-kheo, người nói Pháp không

tranh luận bất cứ với một ai ở đời.

4) Này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời

chấp nhận là "không", Ta cũng nói là "không". Này các

Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là "có", Ta cũng

nói là "có".

5) Và này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở

đời chấp nhận là "không", Ta cũng nói là "không"?

6) Này các Tỷ-kheo, người có trí ở đời không

chấp nhận sắc là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự

biến hoại, thời Ta cũng nói là "không".

7-9) Thọ... tưởng... các hành...

10) Người có trí ở đời không chấp nhận thức là

thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, thời Ta

cũng nói là "không".

11) Này các Tỷ-kheo, đây là cái gì ở đời người

có trí chấp nhận là "không", Ta cũng nói là "không".

12) Và này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở

đời chấp nhận là "có", Ta cũng nói là "có"?

13) Này các Tỷ-kheo, người có trí ở đời chấp

nhận sắc là vô thường, không thường hằng, không thường trú, chịu sự

biến hoại, thời Ta cũng nói là "có" (vậy).

14-16) ... thọ... tưởng... các hành...

17) Này các Tỷ-kheo, người có trí ở đời chấp

nhận thức là vô thường, không thường hằng, không thường trú, chịu sự

biến hoại, thời Ta cũng nói là "có" (vậy).

18) Này các Tỷ-kheo, đây là cái gì người có trí

ở đời chấp nhận là vô thường, không thường hằng, không thường trú, chịu

sự biến hoại, thời Ta cũng nói là "có" (vậy).

19) Ở trong đời, này các Tỷ-kheo, có thế

pháp. Thế pháp ấy Như Lai hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng tri. Sau

khi hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng tri, Như Lai tuyên bố, thuyết

giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ.

20) Này các Tỷ-kheo, thế pháp ở trong đời là

gì, thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri; sau khi chứng ngộ,

chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị,

phân tích, hiển lộ?

21) Sắc, này các Tỷ-kheo, là thế pháp ở trong

đời. Thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri, sau khi chứng ngộ,

chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị,

phân tích, hiển lộ.

Và ai, khi Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình

bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ như vậy, (vẫn) không

biết, không thấy, thì đối với người ấy, Ta xem là vô tích sự, là kẻ

ngu si, phàm phu, mù lòa, không có mắt, không có biết, không có thấy.

22-24) Thọ... Tưởng... Các hành...

25) Thức, này các Tỷ-kheo, là thế pháp ở trong

đời. Thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri. Sau khi chứng ngộ,

chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị,

phân tích, hiển lộ. Và ai, khi Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình

bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ như vậy, (vẫn) không

biết, không thấy, thì đối với người ấy, Ta xem là vô tích sự, là kẻ

ngu si, phàm phu, mù lòa, không có mắt, không có biết, không có thấy.

26) Ví như, này các Tỷ-kheo, bông sen xanh, hay bông

sen hồng, hay bông sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên

khỏi nước, và đứng thẳng không bị nước nhiễm ướt.

27) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai sanh ra ở

trong đời, lớn lên trong đời, vươn lên khỏi đời, và sống không bị đời ô

nhiễm.

III. Bọt Nước (Tạp 10, Ðại 2,86b)

(S.iii,114)#

1) Một thời Thế Tôn ở Ayujjàya, trên bờ sông Hằng.

2) Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo...

3) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng này chảy

mang theo đống bọt nước lớn. Có người có mắt nhìn đống bọt nước

ấy, chuyên chú, như lý quán sát. Do nhìn chuyên chú, như lý quán sát

nó, đống bọt nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là

rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các

Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong đống bọt nước được?

4) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì thuộc

quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc

liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị Tỷ-kheo thấy sắc, chuyên chú, như

lý quán sát sắc. Do vị Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát

sắc, sắc ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không,

hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có

lõi cứng trong sắc được?

5) Ví như, này các Tỷ-kheo, trong mùa thu, khi trời

mưa những giọt mưa lớn, trên mặt nước, các bong bóng nước hiện ra

rồi tan biến. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó,

bong bóng nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng

không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại

có lõi cứng trong bong bóng nước được?

6) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có thọ gì

thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế,

hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như

lý quán sát thọ ấy. Do Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán

sát nó, thọ ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng

không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại

có lõi cứng trong thọ được?

7) Ví như, này các Tỷ-kheo, trong tháng cuối mùa

hạ, vào đúng giữa trưa đứng bóng, một ráng mặt trời rung động hiện

lên. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó. Do người

ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, nên ráng mặt trời ấy hiện rõ

ra là trống không, rỗng không, không có lõi cứng... Làm sao, này các

Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ráng mặt trời được?

8) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có tưởng gì...

9) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người cần có lõi

cây, tìm cầu lõi cây, đi tìm lõi cây, cầm cái búa sắc bén đi vào ngôi

rừng. Ở đây, người ấy thấy một cụm cây chuối lớn, mọc thẳng, mới

lớn, cao vút. Người ấy chặt rễ cây ấy. Sau khi chặt rễ, người ấy chặt

ngọn. Sau khi chặt ngọn, người ấy lột vỏ chuối ngoài. Khi lột vỏ

chuối ngoài, giác cây còn tìm không được, tìm đâu cho có được lõi cây?

10) Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán

sát cụm chuối ấy. Khi người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát cụm

chuối ấy, cụm chuối ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là

trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các

Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong cụm chuối được?

11) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm các hành gì

thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế,

hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như

lý quán sát hành ấy. Khi người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát,

hành ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng,

hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi

cây trong các hành được?

12) Ví như, này các Tỷ-kheo, một ảo thuật sư hay

đệ tử một ảo thuật sư, tại ngã tư đường bày trò ảo thuật. Một

người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát trò ảo thuật ấy. Do

người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, ảo thuật ấy hiện rõ ra

là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có

lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ảo thuật

được?

13) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm thức gì thuộc

quá khứ, vị lai, hiện tại... hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú,

như lý quán sát, thức ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra

là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các

Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong thức được?

14) Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh

đệ tử nhàm chán đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng...

đối với các hành... nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do

ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã

giải thoát... không còn trở lui trạng thái này nữa". Vị ấy biết rõ

như vậy.

15) Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện

Thệ sau khi nói như vậy, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

1) Sắc ví với đống bọt,

Thọ ví bong bóng nước,

Tưởng ví ráng mặt trời,

Hành ví với cây chuối,

Thức ví với ảo thuật,

Ðấng bà con mặt trời,

Ðã thuyết giảng như vậy.

2) Nếu như vậy chuyên chú,

Như lý chơn quán sát,

Như lý nhìn các pháp,

Hiện rõ tánh trống không.

3) Bắt đầu với thân này,

Bậc Ðại Tuệ thuyết giảng,

Ðoạn tận cả ba pháp,

Thấy sắc bị quăng bỏ.

4) Thân bị quăng, vô tri,

Không thọ, sức nóng, thức,

Bị quăng đi, nó nằm,

Làm đồ ăn kẻ khác.

5) Cái thân liên tục này,

Ảo sư, kẻ ngu nói,

Ðược gọi kẻ sát nhân,

Không tìm thấy lõi cây.

6) Hãy quán uẩn như vậy,

Vị Tỷ-kheo tinh cần,

Suốt cả đêm lẫn ngày,

Tỉnh giác, chánh tư niệm.

7) Hãy bỏ mọi kiết sử,

Làm chỗ mình nương tựa,

Sống như lửa cháy đầu,

Cầu chứng cảnh bất động.

IV. Phân Bò (Tạp 10, Ðại 2,67c) (Trang 11,

Ðại 1,496a) (Trang 34, Ðại 1,645a) (S.iii,143)

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...

3-4) Sau khi ngồi, vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, có thể có sắc nào, sắc ấy là

thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh

viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?

5-8) Bạch Thế Tôn, có thể có thọ nào... có

thể có tưởng nào... có thể có các hành nào... có thể có thức

nào, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự

biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?

9) -- Này Tỷ-kheo, không có sắc nào, sắc ấy là

thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh

viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.

10-13) Này Tỷ-kheo, không có thọ nào... không có

tưởng nào... không có các hành nào... không có thức nào, thức ấy là

thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh

viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.

14) Rồi Thế Tôn lấy tay cầm lên một miếng phân

bò và nói với Tỷ-kheo ấy:

15) -- Này Tỷ-kheo, cho đến được một ngã

thể nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường

trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú.

16) Nếu được một ngã thể nhỏ như thế này,

này Tỷ-kheo, là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự

biến hoại, vĩnh viễn thưòng hằng, vĩnh trú, thời đời sống Phạm hạnh

để chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể trình bày. Vì này

Tỷ-kheo, cho đến được một ngã thể nhỏ bé như thế này cũng

không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không

vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú; do vậy đời sống Phạm hạnh để chơn chánh

đoạn tận khổ đau có thể trình bày.

17) Thuở xưa, này Tỷ-kheo, Ta là vị vua

Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh. Khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã

làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 đô thị, và đô thị Kusàvatì là bậc nhất.

18) Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã

làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 cung điện, và cung điện Dhamma là bậc

nhất.

19) Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã

làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 trùng các, và trùng các Mahàvyuuha là bậc

nhất.

20) Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã

làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 sàng tọa làm bằng ngà, làm bằng lõi cây,

làm bằng vàng, làm bằng bạc, trải bằng nệm len có lông dài, trải bằng

chăn len trắng, trải bằng chăn len thêu bông, trải nệm bằng da con sơn

dương gọi là kadali, có lầu che phía trên và có gối chân màu đỏ cả hai

đầu.

21) Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã

làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 con voi với những trang sức bằng vàng, với

những cờ xí bằng vàng, bao bọc với những lưới bằng vàng, và voi chúa

Uposatha là bậc nhất.

22) Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã

làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 con ngựa với những trang sức bằng vàng, với

những cờ xí bằng vàng, bao bọc với những lưới bằng vàng, và ngựa chúa

Valàhaka là bậc nhất.

23) Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã

làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 cỗ xe, với những trang sức bằng vàng, với

những cờ xí bằng vàng, bao bọc với những lưới bằng vàng, và cỗ xe

Vejayanta là bậc nhất.

24) Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã

làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 châu báu, và Ma-ni châu là bậc nhất.

25) Này Tỷ-kheo, khi Ta là... Ta có 84.000 phụ nữ, và

hoàng hậu Subhaddà là bậc nhất.

26) Này Tỷ-kheo, khi Ta là... Ta có 84.000 chư hầu

Sát-đế-lị, và Binh chủ báu là bậc nhất.

27) Này Tỷ-kheo, khi Ta là... Ta có 84.000 con bò cái,

với những dây thừng bằng vải đay mịn màng, và chậu sữa bằng bạc.

28) Này Tỷ-kheo, khi Ta là... Ta có 84.000 áo bằng

vải gai tinh tế, bằng vải lụa tinh tế, bằng vải len tinh tế, bằng

vải bông tinh tế.

29) Này các Tỷ-kheo, khi Ta là... Ta có 84.000 dĩa

bàn, và trên ấy các cơm sáng và cơm chiều được dọn lên.

30) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 đô thị

ấy, đô thị Ta trú thời ấy là kinh đô Kusàvatì.

31) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 cung

điện ấy, cung điện Ta trú thời ấy là cung điện Dhamma.

32) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 trùng các

ấy, trùng các Ta trú là trùng các Mahàvyuuha.

33) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 sàng

tọa ấy, sàng tọa Ta thọ dùng thời ấy là sàng tọa bằng ngà,

hay bằng lõi cây, hay bằng vàng, hay bằng bạc.

34) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 con voi ấy,

con voi Ta cưỡi thời ấy là voi chúa Uposatha.

35) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 con ngựa

ấy, con ngựa Ta cưỡi thời ấy là ngựa chúa Valàhaka.

36) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 cỗ xe

ấy, cỗ xe Ta cưỡi thời ấy là cỗ xe Vejayanta.

37) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 phụ nữ

ấy, phụ nữ hầu hạ Ta thời ấy là Khattiyàni hay Velàmikà.

38) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 áo mặc

ấy, đôi áo Ta mặc thời ấy, hoặc bằng vải gai tinh tế, hay bằng lụa tinh

tế, hay bằng len tinh tế, hay bằng vải bông tinh tế.

39) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 dĩa bàn

ấy, một dĩa bàn Ta dùng để ăn một phần (nàlika) cơm, còn dĩa bàn thứ

hai, Ta dùng để ăn đồ ăn tương đương.

40) Như vậy, này các Tỷ-kheo, tất cả các hành ấy

là thuộc quá khứ, đoạn diệt, biến hoại.

41) Như vậy vô thường, này các Tỷ-kheo, là các

hành. Như vậy không thường hằng, này các Tỷ-kheo, là các hành. Như vậy

không thường trú, này các Tỷ-kheo, là các hành.

42) Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa

đủ để nhàm chán đối với tất cả hành, là vừa đủ để ly tham, là

vừa đủ để giải thoát.

V. Ðầu Ngón Tay (Tăng 14, Ðại 2,617b)

(S.iii,147)#

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...

3) Sau khi ngồi, vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

4) -- Bạch Thế Tôn, có thể có sắc nào là

thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh

viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?

5) Bạch Thế Tôn, có thể có thọ nào...

6) Bạch Thế Tôn, có thể có tưởng nào...

7) Bạch Thế Tôn, có thể có các hành nào...

8) Bạch Thế Tôn, có thể có thức nào, thức ấy

là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh

viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?

9) -- Này Tỷ-kheo, không có sắc nào, sắc ấy là

thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh

viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.

10-13) Này Tỷ-kheo, không có thọ nào... không có

tưởng nào... không có các hành nào... không có thức nào, thức ấy lại

thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh

viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.

14) Rồi Thế Tôn lấy lên một ít đất trong đầu

ngón tay và nói với Tỷ-kheo ấy:

15) -- Này Tỷ-kheo, cho đến một sắc nhỏ như

thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại,

không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú.

Nếu một sắc nhỏ như thế này, này Tỷ-kheo,

là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh

viễn thường hằng, vĩnh trú, thời đời sống Phạm hạnh để chơn chánh

đoạn tận khổ đau không thể trình bày. Nhưng vì rằng, này Tỷ-kheo,

cho đến một sắc nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường

hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú,

do vậy, đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể trình bày.

16) Cho đến một thọ nhỏ như thế này, này

các Tỷ-kheo, cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến

hoại, không vĩnh viễn, thường hằng, vĩnh trú. Nếu thọ nhỏ như thế này, này

Tỷ-kheo, là thường còn, thường hằng, thường trú... có thể trình bày.

17) Cho đến một tưởng...

18) Cho đến một hành...

19) Cho đến một thức nhỏ như thế này, này

Tỷ-kheo, cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại,

không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú. Nếu một thức nhỏ như thế này, này

Tỷ-kheo, là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại,

vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú, thời đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn

tận khổ đau không thể trình bày. Nhưng vì rằng, này Tỷ-kheo, cho đến một

thức nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự

biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú, do vậy đời sống Phạm hạnh

để chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể trình bày.

20) Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo, sắc là

thường hay vô thường?

-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.

-- Thọ... tưởng... các hành... thức là thường hay

vô thường?

-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.

21-22) Do vậy, thấy vậy... "... không có trở lui

trạng thái này nữa". Vị ấy biết rõ như vậy.

VI. Thanh Tịnh (hay Biển) (Tạp 18, Ðại

2,69c) (S.iii,149)

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...

3) Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

4) -- Có một sắc nào, bạch Thế Tôn, sắc ấy là

thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh

viễn thường hằng, vĩnh trú không?

5-8) Có một thọ... tưởng... hành... thức nào, bạch

Thế Tôn, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu

sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú không?

9) -- Không có một sắc nào, này Tỷ-kheo, sắc ấy là

thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh

viễn thường hằng, vĩnh trú.

10-13) Không có một thọ... một tưởng... các hành...

một thức nào, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu

sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú.

VII. Dây Thằng (Hay Dây Buộc) (Tạp 10,

Ðại 2,69b) (S.iii,149)

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...

3) -- Vô thỉ, này các Tỷ-kheo, là sự luân hồi này.

Ðiểm bắt đầu không thể nêu rõ đối với chúng sanh bị vô minh che

đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển, luân hồi.

4) Có thể có một thời, này các Tỷ kheo,

biển lớn đi đến khô cạn, hoàn toàn đi đến khô kiệt, không

có hiện hữu. Nhưng này các Tỷ kheo, Ta không có tuyên bố rằng, có sự

chấm dứt khổ đau đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói

buộc, phải lưu chuyển, luân hồi.

5) Có thể có một thời, này các Tỷ-kheo,

Sineru(Tu-di), Vua các núi, đi đến băng hoại, hoại diệt, không có

hiện hữu. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta không có tuyên bố rằng, có sự

chấm dứt khổ đau đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói

buộc, phải lưu chuyển, luân hồi!

6) Có thể có một thời, này các Tỷ-kheo, đại

địa đi đến băng hoại, hoại diệt, không có hiện hữu. Nhưng này

các Tỷ-kheo, Ta không có tuyên bố rằng, có sự chấm dứt khổ đau đối với

chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển

luân hồi!

7) Ví như, này các Tỷ-kheo, có con chó bị dây

thằng trói chặt vào một cây cột hay cột trụ vững trắc, chạy vòng theo, chạy

tròn xung quanh cây cột ấy hay cột trụ ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ

vô văn phàm phu... không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự

ngã... quán thọ như là tự ngã... quán tưởng như là tự ngã... quán các

hành như là tự ngã... quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức,

hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Người ấy chạy vòng theo,

chạy tròn xung quanh sắc... thọ... tưởng... các hành... Người ấy chạy

vòng theo, chạy tròn xung quanh thức. Vì rằng người ấy chạy vòng theo, chạy

tròn xung quanh sắc... thọ... tưởng... các hành... người ấy chạy theo vòng

theo, chạy tròn xung quanh thức; người ấy không giải thoát khỏi sắc, không

giải thoát khỏi thọ, không giải thoát khỏi tưởng, không giải thoát khỏi

các hành, không giải thoát khỏi thức, không giải thoát khỏi sanh, già

chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta tuyên bố rằng: "Vị ấy không giải

thoát khỏi khổ đau".

8) Nhưng bậc Ða văn Thánh đệ tử, này các

Tỷ-kheo, được thấy các bậc Thánh... khéo tu tập pháp các bậc Chân nhân,

không quán sắc như là tự ngã... không quán thọ... không quán tưởng...

không quán các hành... không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có

thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy không chạy

vòng theo, chạy tròn xung quanh thức. Vị ấy không chạy vòng theo, chạy tròn

xung quanh sắc... thọ... tưởng... các hành... không chạy vòng theo, chạy

tròn xung quanh thức. Vị ấy không chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc...

thọ... tưởng... các hành... thức; do không chạy vòng theo, chạy vòng tròn

xung quanh thức, vị ấy được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi

thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành,

được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu,

bi, khổ, ưu, não. Ta nói: "Vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ".

VIII. Dây Thằng (Hay Dây Buộc) (Tạp 10,

Ðại 2,69c) (S.iii,151)

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...

3) -- Vô thỉ, này các Tỷ-kheo, là sự luân hồi này.

Ðiểm bắt đầu không thể nêu rõ đối với chúng sanh bị vô minh che

đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển, luân hồi.

4) Ví như, này các Tỷ-kheo, có con chó bị dây

thằng trói chặt vào một cây cột trụ vững chắc. Nếu nó có đi, nó chỉ

đi tới cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó đứng, nó chỉ đứng gần cây cột

hay cột trụ ấy. Nếu nó ngồi, nó chỉ ngồi gần cây cột hay cột trụ ấy.

Nếu nó nằm, nó chỉ nằm gần cây cột hay cột trụ ấy.

5) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu

quán sắc: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của

tôi", quán thọ... quán tưởng... quán các hành... quán thức: "Cái

này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi". Nếu

người ấy có đi, người ấy chỉ đi tới năm thủ uẩn này. Nếu người ấy

đứng, người ấy chỉ đứng gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy ngồi,

người ấy chỉ ngồi gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy nằm, người ấy

chỉ nằm gần năm thủ uẩn này.

6) Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải luôn luôn quán

sát tâm của mình như sau: "Trong một thời gian dài, tâm này bị tham, sân,

si nhiễm ô. Do tâm nhiễm ô, này các Tỷ-kheo, chúng sanh bị nhiễm ô. Do

tâm thanh tịnh, chúng sanh được thanh tịnh".

7) Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy một bức

họa gọi là danh họa không?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

-- Này các Tỷ-kheo, bức danh họa ấy do tâm tư

họa mà thành. Do vậy, này các Tỷ-kheo, tâm còn đa dạng hơn cả danh

họa ấy.

8) Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải luôn luôn quán

sát tâm của mình như sau: "Trong một thời gian dài, tâm này bị tham, sân,

si làm nhiễm ô. Do tâm nhiễm ô, này các Tỷ-kheo, chúng sanh bị nhiễm ô.

Do tâm thanh tịnh, chúng sanh được thanh tịnh".

9) Này các Tỷ-kheo, Ta không quán thấy một bộ loại

nào khác lại đa dạng như tâm. Như các hữu tình thuộc loại bàng sanh; các

hữu tình thuộc loại bàng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, do tâm tư duy (mà

thành). Do vậy, này các Tỷ-kheo, tâm ấy lại đa dạng hơn các hữu tình

thuộc loại bàng sanh ấy.

10) Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải luôn luôn

quán sát tâm của mình như sau: "Trong một thời gian dài, tâm này bị tham,

sân, si làm nhiễm ô. Do tâm nhiễm ô, này các Tỷ-kheo, chúng sanh bị nhiễm

ô. Do tâm thanh tịnh, chúng sanh được thanh tịnh".

11) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thợ nhuộm

hay một họa sĩ, nếu người ấy có thuốc nhuộm, hay lạc, hay nghệ,

hay màu xanh, hay màu đỏ tía, hay một tấm gỗ khéo bào, hay một bức

tường, hay một tấm vải. Người ấy có thể vẽ hình người đàn bà hay

hình người đàn ông với đầy đủ tất cả chi tiết. Cũng vậy, này các

Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, liên tục làm cho hiện hữu sắc...

thọ... tưởng... các hành... liên tục làm cho hiện hữu thức.

12) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc

là thường hay vô thường?

-- Vô thường, bạch Thế Tôn.

-- Thọ... tưởng... các hành... thức là thường hay

vô thường?

-- Vô thường, bạch Thế Tôn.

13-14) -- Do vậy, này các Tỷ-kheo... Thấy vậy...

"... không còn trở lui trạng thái này nữa". Vị ấy biết rõ như

vậy.

IX. Cán Búa (Hay Chiếc Thuyền)

(Tạp 10, Ðại 2,67a) (S.iii,152)

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...

3) -- Do biết, do thấy, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên

bố sự đoạn tận các lậu hoặc, không phải do không biết, do không thấy.

4) Do biết cái gì, thấy cái gì, này các

Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận? Ðây là sắc, đây là sắc tập

khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ... Ðây là tưởng... Ðây

là các hành... Ðây là thức. Ðây là thức tập khởi. Ðây là thức đoạn

diệt. Do biết như vậy, do thấy như vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu

hoặc được đoạn tận.

5) Này các Tỷ-kheo, như có Tỷ-kheo sống không

chí tâm trong sự tu tập, khởi lên ước muốn như sau: "Mong rằng tâm của

ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ!" Tuy vậy, tâm

của vị ấy cũng không giải thoát khỏi các lậu hoặc, có chấp thủ.

6) Vì sao? Phải nói rằng vì vị ấy không có

tu tập. Không có tu tập cái gì? Không có tu tập Bốn niệm xứ. Không có tu tập

Bốn chánh cần. Không có tu tập Bốn như ý túc. Không có tu tập Năm căn. Không

có tu tập Năm lực. Không có tu tập Bảy giác chi. Không có tu

tập Thánh đạo Tám ngành.

7) Ví như, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay mười

hai trứng gà, không được con gà mái ấp nằm đúng cách, không được ấp

nóng đúng cách, không được ấp dưỡng đúng cách.

8) Dầu cho con gà mái ấy khởi lên ý muốn: "Mong

rằng những con gà con của ta, với chân, móng và đỉnh đầu, hay với miệng

và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn";

tuy vậy các con gà con ấy không có thể, với chân, móng, đỉnh đầu hay

với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an

toàn.

9) Vì sao? Này các Tỷ-kheo, tám, mười hay mười hai

trứng gà ấy không được con gà mái ấp nằm một cách đúng đắn, ấp nóng

một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn.

10) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không chí

tâm trong sự tu tập. Dầu cho vị ấy có khởi lên ý muốn: "Mong rằng

tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ"; tuy vậy,

tâm vị ấy cũng không giải thoát khỏi các lậu hoặc, có chấp thủ.

11) Vì sao? Phải nói rằng, vì vị ấy không có tu tập.

Không có tu tập cái gì? Không có tu tập Bốn niệm xứ... Không có tu tập

con đường Thánh đạo Tám ngành.

12) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chí tâm trong

sự tu tập. Dầu cho vị ấy không khởi lên ước muốn: "Mong rằng tâm của ta

được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ"; tuy vậy, tâm

vị ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

13) Vì sao? Phải nói rằng, vì vị ấy có tu tập. Có tu

tập cái gì? Có tu tập Bốn niệm xứ, có tu tập Bốn chánh cần. Có tu tập

Bốn như ý túc. Có tu tập Năm căn. Có tu tập Năm lực. Có tu tập Bảy

giác chi. Có tu tập con đường Thánh đạo Tám ngành.

14) Ví như, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay

mười hai trứng gà. Các trứng ấy được con gà mái ấp nằm một cách đúng

đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn. Dầu cho

con gà mái ấy không khởi lên ước muốn: "Mong rằng các con gà con của ta,

với chân, móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ

trứng, được xuất sanh một cách an toàn"; tuy vậy, các con gà con ấy có

thể với chân, móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm

bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn.

15) Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có tám, mười

hay mười hai trứng gà được con gà mái ấy ấp nằm một cách đúng đắn, ấp

nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn.

16) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy sống

chí tâm tu tập. Dầu cho vị ấy không khởi lên ước muốn: "Mong rằng tâm

của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ"; tuy vậy,

tâm của vị ấy vẫn được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

17) Vì sao? Phải nói rằng, vì vị ấy có tu tập. Tu tập

cái gì? Có tu tập Bốn niệm xứ... có tu tập con đường Thánh đạo Tám

ngành.

18) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thợ đá hay

đệ tử người thợ đá, khi nhìn vào cán búa thấy dấu các ngón tay và

dấu các ngón tay cái. Vị ấy không có thể biết được như sau:

"Hôm nay, từng ấy cán búa của ta bị hao mòn; hôm nay từng ấy, các ngày

khác từng ấy". Nhưng vị ấy biết được cán búa bị hao mòn trên sự

hao mòn của cán búa.

19) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo chí

tâm trong sự tu tập không có biết như sau: "Hôm nay, từng ấy lậu hoặc

của ta được hao mòn, hôm qua từng ấy, các ngày khác từng ấy". Nhưng vị

ấy biết được các lậu hoặc được hao mòn trên sự hao mòn các lậu

hoặc.

20) Ví như, này các Tỷ-kheo, một chiếc

thuyền đi biển có đầy đủ cột buồm và dây buồm, bị mắc cạn sáu tháng do thiếu

nước trong mùa khô; các cột buồm và dây buồm bị gió và mặt trời làm hư hỏng,

rồi bị nước mưa đổ xuống trong mùa mưa, chúng trở thành yếu và hư nát.

21) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chí

tâm trong sự tu tập, các kiết sử rất dễ bị yếu dần và hư nát.

X. Vô Thường Tánh (Hay Tưởng) (Tạp 10,

Ðại 2,70c) (S.iii,155)

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...

3) -- Do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất

cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, tất cả hữu

tham được đoạn tận, tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn

được tận trừ.

4) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người làm ruộng,

vào mùa thu, dùng một cái cày lớn cắt đứt tất cả rễ mọc trong khi cày.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng,

tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, tất cả

hữu tham được đoạn tận, tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn

được tận trừ.

5) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người cắt cỏ cắt

đứt cây cỏ, nắm lấy đầu ngọn đập lên, đập xuống, đập tả, đập hữu,

rồi quăng một bên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn

vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận... tất cả ngã mạn được

tận trừ.

6) Ví như, này các Tỷ-kheo, khi một chùm xoài bị

cắt đứt từ cành, thời các trái xoài cùng dính vào cành đều bị đứt

theo. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn vô thường

tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận... tất cả ngã mạn được tận trừ.

7) Ví như, này các Tỷ-kheo, một ngôi nhà có nóc

nhọn, phàm có rui kèo nào, tất cả đều đi đến nóc nhọn,

hướng đến nóc nhọn, quy tụ về nóc nhọn, và nóc nhọn là

tối thượng hơn chúng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, làm cho sung

mãn vô thường tưởng... tất cả ngã mạn được tận trừ.

8) Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những rễ

hương gì, hương anusàri đen là tối thượng. Cũng vậy, này các

Tỷ-kheo... tất cả ngã mạn được tận trừ.

9) Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những lõi

hương gì, hương chiên-đàn đỏ là tối thượng. Cũng vậy, này các

Tỷ-kheo... tất cả ngã mạn được tận trừ.

10) Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những hoa

hương gì, hương vassika là tối thượng hơn những hương ấy. Cũng vậy, này

các Tỷ-kheo. .. tất cả ngã mạn được tận trừ.

11) Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những tiểu

vương nào, tất cả những vua ấy đều tùy thuộc vua Chuyển luân vương.

Vua Chuyển luân vương được gọi là vua tối thượng đối với họ.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo... tất cả ngã mạn được tận trừ.

12) Ví như, này các Tỷ-kheo, ánh sáng các loại sao

gì, tất cả ánh sáng ấy không bằng một phần mười sáu ánh sáng của mặt

trăng. Ánh sáng mặt trăng được xem là tối thượng trong các ánh sáng ấy.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo... tất cả ngã mạn được tận trừ.

13) Ví như, này các Tỷ-kheo, trong mùa thu, khi trời

mở rộng và gột sạch mây, mặt trời mọc lên trên bầu trời, đuổi sạch

tất cả u ám khỏi hư không, bừng sáng, chói sáng và rực sáng. Cũng vậy, này

các Tỷ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham

được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, tất cả hữu tham được

đoạn tận, tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ.

14) Tu tập vô thường tưởng như thế nào, này các

Tỷ-kheo, làm cho sung mãn như thế nào mà tất cả dục tham được đoạn

tận... tất cả ngã mạn được tận trừ?

15) Ðây là sắc; đây là sắc tập khởi; đây là sắc

đoạn diệt; đây là thọ... đây là tưởng... đây là các hành... đây

là thức; đây là thức tập khởi; đây là thức đoạn diệt.

16) Vô thường tưởng được tu tập như vậy, này các

Tỷ-kheo, được làm cho sung mãn như vậy, tất cả dục tham được đoạn

tận, tất cả sắc tham được đoạn tận; tất cả hữu tham được đoạn tận; tất

cả vô minh được đoạn tận; tất cả ngã mạn được tận trừ.