[22] Chương I — Tương Ưng Uẩn (d)#
Tương Ưng Bộ -
Samyutta Nikaya
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Tập III - Thiên Uẩn
[22] Chương I
Tương Ưng Uẩn (d)
-ooOoo-
III. Phẩm Những Gì
Ðược Ăn
I. Vị Ngọt (S.iii,81)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không như
thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.
4-6) ... của thọ... của tưởng... của các hành.
7) Không như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy
hiểm và sự xuất ly của thức.
8-12) Và này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ
tử như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của
sắc... của thọ... của tưởng... của các hành... của thức.
II. Tập Khởi (S.iii,82)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không như
thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy
hiểm và sự xuất ly của sắc.
4-6) ... của thọ... của tưởng... của các hành...
7) Không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn
diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.
8) Này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử
như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy
hiểm và sự xuất ly của sắc.
9-11) ... của thọ... của tưởng... của các hành...
12) ... như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn
diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.
III. Tập Khởi (S.iii,82)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử
như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy
hiểm và sự xuất ly của sắc.
4-6) ... của thọ... của tưởng... của các hành...
7) ... như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn
diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.
IV. Các Vị A-La-Hán (S.iii,83)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường. Cái gì
vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật
thấy với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này
không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
4-6) ... thọ... tưởng... các hành là vô thường...
7) Này các Tỷ-kheo, thức là vô thường. Cái gì vô
thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật
thấy với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này
không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
8) Này các Tỷ-kheo, do thấy vậy, bậc Ða văn Thánh
đệ tử nhàm chán đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng...
đối với các hành. .. đối với thức.
9) Do nhàm chán nên ly tham. Do ly tham, nên được giải
thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã được giải thoát".
Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc gì
nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
10) Này các Tỷ-kheo, cho đến hữu tình cư
(Sattavasa), cho đến tột đảnh của hữu (Bhavaggam), những bậc ấy là tối
thượng, những bậc ấy là tối thắng ở trong đời, tức là các bậc A-la-hán.
11) Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện
Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
1) An lạc, bậc La-hán,
Họ không có khát ái,
Ngã mạn khéo chặt đứt;
Lưới si bị phá rách.
2) Họ đạt được bất động,
Tâm viễn ly ô trược,
Không nhiễm trước thế gian,
Bậc Phạm thiên vô lậu.
3) Họ biến tri năm uẩn.
Do hành bảy Chánh pháp.
Bậc Chân nhân tán thán,
Con đích tôn chư Phật.
4) Ðầy đủ bảy món báu,
Ba học đều thành tựu,
Bậc đại hùng du hành,
Ðoạn tận mọi sợ hãi.
5) Ðầy đủ mười uy lực,
Bậc Long tượng Thiền định.
Họ tối thắng ở đời,
Khát ái được đoạn tận.
6) Thành tựu vô học trí,
Thân này thân tối hậu,
Cứu cánh của Phạm hạnh,
Ðạt được không nhờ ai.
7) Ðối các tưởng, không động,
Giải thoát khỏi tái sanh,
Ðạt được điều phục địa,
Họ chiến thắng ở đời.
8) Thượng, hạ cùng tả, hữu.
Họ không có hỷ lạc,
Họ rống sư tử rống,
Phật vô thượng ở đời!
V. Các Vị A-La-Hán (S.iii,84)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì
vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật
thấy với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này
không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
4-7) Thọ... Tưởng... Các hành... Thức là vô
thường...
8) Này các Tỷ-kheo, do thấy vậy, bậc Ða văn Thánh
đệ tử nhàm chán đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng...
đối với các hành... đối với thức.
9) Do nhàm chán nên ly tham. Do ly tham nên được giải
thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã được giải thoát".
Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc
nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
10) Này các Tỷ-kheo, cho đến hữu tình cư, cho
đến tột đảnh của hữu, những bậc ấy là tối thượng, những bậc ấy là
tối thắng ở trong đời, tức là các bậc A-la-hán.
VI. Sư Tử (S.iii,85)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, con sư tử, vua các loài thú,
vào buổi chiều, đi ra khỏi hang. Sau khi ra khỏi hang, nó duỗi thân mình
và chân. Sau khi duỗi thân mình và chân, nó nhìn xung quanh bốn phương.
Sau khi nhìn xung quanh bốn phương, nó rống lên tiếng rống sư tử ba lần.
Sau khi rống tiếng rống sư tử ba lần, nó đi tìm mồi. Này các Tỷ-kheo,
các loài thú thuộc loại bàng sanh, nghe tiếng rống của con sư tử, vua các
loài thú, phần lớn chúng trở thành sợ hãi, run sợ, khiếp đảm. Các loài
ở hang tìm vào hang. Các loài ở nước tìm xuống nước. Các loài ở rừng tìm
vào rừng. Các loài chim bay lên hư không.
5) Này các Tỷ-kheo, các loài voi chúa ở tại làng,
thị trấn hay thành phố, bị trói bởi các cây đa cứng chắc, bứt đứt, giật
đứt những sợi dây ấy, khiếp đảm cuồng chạy, tung cả phân và nước
tiểu.
6) Như vậy, này các Tỷ-kheo, là đại thần thông
lực của con sư tử, vua các loài thú; đối với loài bàng sanh, như vậy là
đại thế lực, như vậy là đại uy lực.
7) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi Như Lai xuất
hiện ở đời, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện
Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên
Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy thuyết pháp: Ðây là sắc. Ðây là sắc
tập khởi. Ðây là sắc đoạn diệt. Ðây là con đường đưa đến sắc
đoạn diệt. Ðây là thọ... Ðây là tưởng... Ðây là các hành... Ðây
là thức. Ðây là thức tập khởi. Ðây là thức đoạn diệt. Ðây là con
đường đưa đến thức đoạn diệt.
8) Này các Tỷ-kheo, có những chư Thiên nào, tuổi
thọ dài, có mỹ sắc, hưởng lạc nhiều, đã sống lâu trong các lâu
đài to lớn. Các chư Thiên này, sau khi nghe Như Lai thuyết pháp, phần lớn
họ trở thành sợ hãi, run sợ, khiếp đảm. Họ nghĩ: "Chúng ta
là vô thường, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường còn.
Chúng ta là không thường hằng, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là
chúng ta thường hằng. Chúng ta không thường trú, này chư Tôn giả, nhưng
chúng ta nghĩ là chúng ta thường trú. Này chư Tôn giả, chúng ta là vô
thường, không thường hằng, không thường trú, bị thâu nhiếp trong một
thân này".
9) Như vậy, này các Tỷ-kheo, là đại thần thông
lực của Như Lai đối với chư Thiên và thế giới chư Thiên, như vậy là
đại thế lực, như vậy là đại uy lực.
10) Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Thuyết
giảng như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
1) Khi Phật với thượng trí,
Chuyển bánh xe Chánh pháp,
Cho Thiên giới, Nhân giới,
Bậc Ðạo Sư vô tỷ.
2) Sự đoạn diệt tự thân,
Sự hiện hữu tự thân,
Và đường Thánh Tám ngành
Ðưa đến khổ diệt tận,
3) Chư Thiên được trường thọ,
Có mỹ sắc danh xưng,
Sanh khiếp đảm, sợ hãi,
Như thú thấy sư tử.
4) Vì chưa thoát tự thân,
"Chúng ta là vô thường",
Nghe lời bậc Ứng Cúng,
Ðã giải thoát như vậy.
VII. Ðáng Ðược Ăn (Tạp 2, Ðại
2,11) (S.iii,86)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn
nào có nhớ đến các đời sống ở các kiếp trước, tất cả họ
đều nhớ đến năm thủ uẩn hay nhớ đến một trong những uẩn này.
4) Thế nào là năm? Này các Tỷ-kheo, có người
nhớ rằng: "Trong quá khứ, thân ta như thế này". Nhớ như vậy, vị
ấy nhớ đến sắc. Hay có người nhớ rằng: "Trong quá khứ, ta có cảm
thọ như thế này". Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến thọ. Hay
có người nhớ rằng: "Trong quá khứ ta có tưởng... có các hành... có
thức như thế này". Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến thức.
5) Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là sắc? Bị
thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì?
Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói, bị thay
đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức
nóng và rắn. Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc.
6) Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thọ?
Ðược cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ. Cảm thọ
gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. Ðược cảm
thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ.
7) Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là tưởng?
Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng. Nhận rõ gì? Nhận rõ
màu xanh, nhận rõ màu vàng, nhận rõ màu đỏ, nhận rõ màu trắng. Nhận rõ,
này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng.
8) Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là hành?
Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành
(pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện
hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh,
làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với
thức tánh. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, này các Tỷ-kheo, nên
gọi là các hành.
9) Và này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thức?
Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức. Rõ biết gì? Rõ
biết chua, rõ biết đắng, rõ biết cay, rõ biết ngọt, rõ
biết chất kiềm... rõ biết không phải chất kiềm, rõ biết
mặn, rõ biết không mặn. Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là
thức.
10) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh
đệ tử suy nghĩ như sau: "Nay ta bị sắc chinh phục. Trong thời quá khứ,
ta cũng bị sắc chinh phục, như ta bị sắc hiện tại chinh phục. Nếu ta
hoan hỷ đối với sắc vị lai, thời trong vị lai, ta sẽ bị sắc chinh phục,
như nay ta bị sắc hiện tại chinh phục". Do suy nghĩ như vậy, vị ấy
không có luyến tiếc đối với sắc quá khứ, không có hoan hỷ đối
với sắc vị lai, và thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với
sắc hiện tại.
12) "Ta nay bị thọ chinh phục. Trong thời quá
khứ, ta cũng bị thọ chinh phục như vậy, như nay ta bị thọ hiện tại
chinh phục. Nếu ta hoan hỷ đối với thọ vị lai, thời trong thời vị
lai, ta sẽ bị thọ chinh phục, như nay ta bị thọ hiện tại chinh
phục". Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không luyến tiếc đối với
thọ quá khứ, không có hoan hỷ đối với thọ vị lai, và thực hành
sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với thọ hiện tại.
13) "Ta nay bị tưởng chinh phục...".
14) "Ta nay bị các hành chinh phục...".
15) "Ta nay bị thức chinh phục. Trong thời quá khứ,
ta cũng bị thức chinh phục như vậy, như nay ta bị thức hiện tại chinh
phục. Nếu ta hoan hỷ đối với thức vị lai, thời trong thời vị lai, ta
sẽ bị thức chinh phục, như nay ta bị thức hiện tại chinh phục". Do suy
nghĩ như vậy, vị ấy không có luyến tiếc đối với thức quá khứ,
không có hoan hỷ đối với thức tương lai, và thực hành sự yếm ly, ly
tham, đoạn diệt đối với thức hiện tại.
16) Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc
là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có
hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là
tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
17-19) -- Thọ... Tưởng... Các hành...
20) Thức là thường hay vô thường?
-- Vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có
hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là
tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
21) -- Do vậy, này các Tỷ-kheo, đối với sắc quá
khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay
thắng... xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ
là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này
không phải tự ngã của tôi".
22) Ðối với thọ...
23) Ðối với tưởng...
24) Ðối với các hành..
25) Ðối với thức quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc
nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức
đều phải như thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không
phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của
tôi".
26) Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Thánh
đệ tử giảm thiểu, không tăng trưởng, từ bỏ, không chấp thủ, xa
lánh, không thân cận, phân tán, không huân tập.
27) Giảm thiểu, không tăng trưởng cái gì? Giảm
thiểu, không tăng trưởng sắc..., giảm thiểu, không tăng trưởng
thọ...tưởng...các hành...giảm thiểu, không tăng trưởng thức.
28) Từ bỏ, không chấp thủ cái gì? Từ bỏ, không chấp
thủ sắc...thọ... tưởng... các hành... từ bỏ, không chấp thủ thức.
29) Xa lánh, không thân cận cái gì? Xa lánh, không thân
cận sắc... thọ... tưởng... các hành... xa lánh, không thân cận thức.
30) Phân tán, không huân tập cái g? Phân tán, không
huân tập sắc... thọ... tưởng... các hành... phân tán, không huân tập
thức.
31) Thấy vậy, bậc Thánh đệ tử nhàm chán đối với
sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... nhàm chán
đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong
sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã được giải thoát". Vị ấy
biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm
đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
32) Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Tỷ-kheo
không tăng trưởng, không giảm thiểu. Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú,
không từ bỏ, không chấp thủ; sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không xa lánh, không
thân cận; sau khi xa lánh, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập.
33) Sau khi phân tán, vị ấy trú, không tăng trưởng,
không giảm thiểu cái gì? Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không tăng
trưởng, không giảm thiểu sắc. Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không
tăng trưởng, không giảm thiểu thọ... tưởng... các hành... không tăng
trưởng, không giảm thiểu thức.
34) Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không từ bỏ,
không chấp thủ cái gì? Sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp
thủ sắc; sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ thọ...
tưởng... các hành... không từ bỏ, không chấp thủ thức.
35) Sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không xa lánh, không thân
cận cái gì? Sau khi xa lánh, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận sắc;
sau khi xa lánh, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận thọ... tưởng...
các hành... không phân tán, không huân tập thức.
36) Sau khi xa lánh, vị ấy trú, không phân tán, không
huân tập cái gì? Sau khi phân tán, vị ấy trú, không phân tán, không huân
tập sắc; sau khi phân tán, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập
thọ...tưởng...các hành...không phân tán, không huân tập thức.
37) Sau khi phân tán, vị ấy trú, với tâm giải thoát
như vậy. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy được chư Thiên với Thiên
chủ, Phạm thiên chúng với Phạm thiên đảnh lễ, dầu cho ở xa:
38)
Ôi, ta đảnh lễ Ông,
Bậc người như lương mã!
Ôi, ta đảnh lễ Ông,
Là bậc tối thắng nhân!
Ta không có chấp trước,
Ðối tượng Ông Thiền tư!
VIII. Người Khất Thực (Tạp 10, Ðại
2,71c) (Trung 34, Ðại 1,647a) (S.iii,91)
1) Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka,
tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở vườn Cây Bàng (Nigrodhàràma)
2) Rồi Thế Tôn nhân một lỗi lầm, sau khi quở
trách chúng Tỷ-kheo Tăng, đắp y vào buổi sáng, cầm y bát, đi vào thành
Kapilavatthu để khất thực.
3) Ði khất thực ở Kapilavatthu xong, sau buổi ăn, trên
con đường đi khất thực trở về, Thế Tôn đi đến Mahàvana (Ðại
Lâm) để nghỉ buổi trưa. Sau khi đi sâu vào rừng Mahàvana, Ngài ngồi nghỉ
trưa dưới một gốc cây veluvalatthikà.
4) Trong khi Thế Tôn độc cư Thiền tịnh, tư
tưởng như sau được khởi lên:
5) "Chúng Tỷ-kheo đã được Ta làm cho vững
mạnh. Nhưng ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới
đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có
thể đổi khác, biến đổi. Như con bê, nếu không thấy bò mẹ, có
thể thay đổi, đổi khác.
6) Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất
gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không
thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Ví như những hột giống
non, nếu không có nước, có thể đổi khác, biến đổi.
7) Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất
gia không được bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ
không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như trước đây
chúng Tỷ-kheo đã được Ta giúp đỡ, cũng vậy, nay Ta hãy giúp đỡ cho
chúng Tỷ-kheo!"
8) Rồi Phạm thiên Sahampati, với tâm của mình biết
được tư niệm của Thế Tôn, như một người lực sĩ duỗi cánh tay
đang co lại hay co lại cánh tay duỗi ra, cũng vậy, biến mất từ Phạm
thiên giới, hiện ra trước mặt Thế Tôn.
9) Rồi Phạm thiên Sahampati, đắp thượng y vào một bên
vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:
-- Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là
phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, chúng Tỷ-kheo đã được
Thế Tôn làm cho vững mạnh.
10) Nhưng ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia
không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy
Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như con bê, nếu
không thấy bò mẹ, có thể đổi khác, biến đổi.
11) Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất
gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không
thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi. Ví như những
hạt giống non, nếu không có nước, có thể đổi khác, biến đổi.
12) Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất
gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không
thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi.
13) Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy làm cho chúng
Tỷ-kheo hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết giảng cho
chúng Tỷ-kheo như trước đây chúng Tỷ-kheo đã được Thế Tôn
giúp đỡ, cũng vậy, nay Thế Tôn hãy giúp đỡ cho chúng Tỷ-kheo!
14) Thế Tôn im lặng nhận lời.
15) Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi biết Thế Tôn
đã nhận lời, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi
biến mất tại chỗ.
16) Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều từ chỗ tịnh
cư đứng dậy, đi đến vườn Cây Bàng, sau khi đến, ngồi xuống trên
chỗ ngồi đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nghĩ rằng: "Ta hãy
thị hiện thần thông một cách khiến cho các vị Tỷ-kheo ấy đến
Ta từng nhóm một hay hai người, với tâm có tội lỗi".
17) Và các Tỷ-kheo ấy đến Thế Tôn, từng
nhóm một hay hai người, với tâm có tội lỗi; sau khi đến, đảnh lễ
Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
18) Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo đang ngồi một
bên:
-- Này các Tỷ-kheo, đây là nghề sinh sống hèn
hạ nhất, tức là nghề khất thực. Ðây là một lời nguyền rủa trong
đời, này các Tỷ-kheo, khi nói: "Ông, kẻ khất thực với bát trên bàn
tay, Ông đi chỗ này, chỗ kia và đấy là nghề sinh sống". Này
các Tỷ-kheo, điều mà các thiện gia nam tử chấp nhận là những vị
sống vì lý tưởng mục đích, duyên với lý tưởng mục đích; không
phải vì ma cưỡng ép, không phải vì trộm cướp cưỡng ép, không phải vì
thiếu nợ, không phải vì sợ hãi, không phải vì không có nguồn sinh sống,
mà với ý nghĩ: "Ta bị chìm đắm trong sanh, già chết, sầu, bi,
khổ, ưu, não; bị chìm đắm trong đau khổ, bị đoanh vây bởi đau khổ. Rất có
thể, sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này được tìm ra".
19) Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là thiện gia
nam tử xuất gia. Vị ấy có tham dục đối với các dục vọng, tham ái cuồng
nhiệt, tâm tư sân hận, tư niệm ô nhiễm, thất niệm, không tỉnh
giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn không chế ngự. Ví như,
này các Tỷ-kheo, một que củi từ chỗ hỏa táng, cả hai đầu đều
cháy, ở giữa lại dính phân, không được dùng làm củi trong làng, không
được dùng làm củi trong rừng. Dùng ví dụ ấy, Ta tả cho các Ông con người
ấy, đã mất cả nhà và tài sản, lại không làm viên mãn mục đích của
Sa-môn hạnh.
20) Này các Tỷ-kheo, có ba bất thiện tầm này:
dục tầm, sân tầm, hại tầm. Và này các Tỷ-kheo, ba bất thiện tầm này
được đoạn diệt không có dư tàn, đối với vị nào tâm đã khéo an trú
vào bốn Niệm xứ hay tu tập vô tướng Thiền định.
21) Này các Tỷ-kheo, hãy khéo tu tập vô tướng
Thiền định. Này các Tỷ-kheo, vô tướng Thiền định được tu tập,
làm cho tăng thịnh, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn.
22) Này các Tỷ-kheo, có hai kiến này: hữu
kiến, phi hữu kiến. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh
đệ tử suy nghĩ như sau: "Có cái gì ở trong đời, ta chấp trước mà
không có phạm tội?"
23) Và vị ấy biết: "Không có cái gì ở trong
đời ta chấp trước mà không có phạm tội". Nếu ta chấp thủ sự chấp
thủ sắc... thọ... tưởng... các hành... Nếu ta chấp thủ sự chấp thủ
thức, do duyên chấp thủ, hữu trở thành của ta. Do duyên hữu, có sanh. Do sanh,
có già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ
khổ uẩn này.
24) Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc
là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có
hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này
là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
25-28) -- Thọ... Tưởng... Hành... Thức.... Do vậy,
này các Tỷ-kheo, thấy vậy... Vị ấy biết: "... không còn trở lui
trạng thái này nữa".
IX. Pàrileyya (Tạp 2, Ðại 2,13c) (S.iii,94)
1) Một thời Thế Tôn ở Kosambi, tại vườn Ghosita.
2) Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát,
đi vào Kosambi để khất thực. Khất thực xong, sau buổi ăn, trên con đường
khất thực trở về, Ngài dọn dẹp chỗ nằm của mình, cầm y bát,
không gọi thị giả, không tin cho chúng Tăng biết, một mình, không có
người đi theo, ra đi du hành.
3) Rồi một Tỷ-kheo, khi Thế Tôn đi chưa bao lâu,
liền đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, nói với Tôn giả Ananda:
-- Này Hiền giả Ananda, Thế Tôn tự sắp xếp
sàng tọa của mình, cầm y bát, không gọi thị giả, không tin cho chúng
Tăng biết, một mình, không có người đi theo, ra đi du hành.
4) -- Này Hiền giả, trong khi Thế Tôn tự sắp
xếp sàng tọa của mình, cầm y bát, không gọi thị giả, không tin cho
chúng Tăng biết, một mình, không có người đi theo, ra đi du hành; trong
khi ấy, Thế Tôn ưa sống một mình; trong khi ấy, Thế Tôn không muốn ai
đi theo Ngài.
5) Rồi Thế Tôn tuần tự du hành, đi đến
Pàlileyyaka. Tại đây, Thế Tôn trú ở Pàlileyyaka, dưới gốc cây
bhaddasàla.
6) Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Tôn giả Ananda;
sau khi đến, nói lên với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm; sau
khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một
bên.
7) Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy nói với Tôn
giả Ananda:
-- Ðã lâu lắm, này Hiền giả Ananda, chúng tôi chưa
được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp. Chúng tôi muốn, này Hiền
giả Ananda, được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp.
8) Rồi Tôn giả Ananda cùng với các Tỷ-kheo ấy đi
đến Pàlileyyaka, gốc cây bhaddasàla, chỗ Thế Tôn ở; sau khi
đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
9) Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho các Tỷ-kheo
ấy, giảng giải, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ.
10) Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo sanh khởi suy nghĩ như
sau: "Biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được
đoạn tận lập tức?"
11) Thế Tôn với tâm của mình biết được suy
nghĩ của Tỷ-kheo ấy, liền nói với các Tỷ-kheo:
-- Này các Tỷ-kheo, pháp đã được giải thích,
thuyết giảng. Bốn niệm xứ đã được giải thích, thuyết giảng. Bốn
chánh cần đã được giải thích, thuyết giảng. Bốn như ý túc đã
được giải thích, thuyết giảng. Năm căn đã được giải thích, thuyết
giảng. Năm lực đã được giải thích, thuyết giảng. Bảy bồ-đề phần
đã được giải thích, thuyết giảng. Thánh đạo Tám ngành đã được giải
thích, thuyết giảng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, pháp được Ta giải
thích, thuyết giảng.
12) Dầu cho, này các Tỷ-kheo, các pháp được Ta
giải thích, thuyết giảng như vậy, nhưng ở đây có Tỷ-kheo khởi lên
suy nghĩ sau đây: "Biết như thế nào, thấy như thế nào, các
lậu hoặc được đoạn tận lập tức?"
13-16) Này các Tỷ-kheo, biết như thế nào,
thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức? Ở đây,
này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không
thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy
rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập
pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, sự quán như vầy là hành.
Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm
hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, cảm xúc bởi
thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Từ khát ái ấy, hành ấy
sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên
sanh. Khát ái ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Thọ ấy... xúc ấy
là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do
duyên sanh. Do biết vậy, do thấy vậy, các lậu hoặc được đoạn tận lập
tức.
17) Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã,
nhưng có thể quán tự ngã như là có sắc. Sự quán ấy, này các
Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì
sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các
Tỷ-kheo, cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh.
Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô
thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy... thọ ấy... xúc ấy... vô minh
ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các
Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
18) Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã,
không quán tự ngã như là có sắc, nhưng có thể quán sắc ở trong tự ngã.
Quán ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm
tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm
phu, này các Tỷ-kheo, cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh,
khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành
ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy... thọ ấy... xúc
ấy... vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy
vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
19) Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã,
có thể không quán tự ngã như là có sắc, có thể không quán sắc ở
trong tự ngã, nhưng có thể quán tự ngã ở trong sắc. Sự quán ấy, này các
Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì
sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, do cảm xúc bởi
thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy
sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên
sanh. Khát ái ấy... thọ ấy... xúc ấy... vô minh ấy là vô thường, hữu vi,
do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc
được đoạn tận lập tức.
20-21) Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã,
có thể không quán tự ngã như là có sắc, có thể không quán sắc ở
trong tự ngã, có thể không quán tự ngã ở trong sắc. Nhưng có thể
quán thọ như là tự ngã, và có thể quán tự ngã như là có thọ,
có thể quán thọ ở trong tự ngã, và có thể quán tự ngã ở trong
thọ.
22-23). .. có thể quán tưởng... có thể quán các
hành...
24). .. có thể quán thức như là tự ngã, có thể
quán tự ngã như là có thức; có thể quán thức ở trong tự ngã; và có
thể quán tự ngã ở trong thức. Sự quán ấy, này các Tỷ-kheo, là hành.
Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm
hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, do cảm xúc bởi thọ sanh ra do
xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái
ấy... thọ ấy... xúc ấy... vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh.
Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận
lập tức.
25) Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã;
có thể không quán thọ như là tự ngã; có thể không quán tưởng...
không quán các hành... không quán thức như là tự ngã. Nhưng có thể có
(tà) kiến như sau: "Ðây là tự ngã, đây là thế giới; sau khi
chết, tôi sẽ trở thành thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu
sự biến hoại". Nhưng thường kiến ấy, này các Tỷ-kheo, là
hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi... Do biết như vậy,
thấy như vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
26) Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã;
không quán thọ... không quán tưởng... không quán các hành... không quán
thức là tự ngã; có thể không có (tà) kiến như sau: "Ðây là tự
ngã, đây là thế giới; sau khi chết, tôi sẽ trở thành thường còn,
thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại". Nhưng vị ấy có
thể có (tà) kiến như sau: "Nếu trước ta không có, thời nay
không có của ta. Nếu ta sẽ không có, thời sẽ không có của ta".
27) Ðoạn kiến ấy, này các Tỷ-kheo, là hành.
Nhưng hành ấy, lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh khởi, lấy
gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, do
cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái
ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu
vi, do duyên sanh. Khát ái ấy... thọ ấy... vô minh ấy là vô thường, hữu
vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc
được đoạn tận lập tức.
28) Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã...
không quán thọ... không quán tưởng... không quán các hành... không quán
thức như là tự ngã... không quán tự ngã ở trong thức; không có (tà)
kiến như sau: "Ðây là tự ngã, đây là thế giới; sau khi chết
tôi sẽ thường còn, thườg hằng, thường trú, không chịu sự biến
hoại" ; có thể không có (tà) kiến như sau: "Nếu trước ta
không có, thời nay không có của ta. Nếu ta sẽ không có, thời sẽ không có
của ta". Nhưng vị ấy có thể nghi hoặc, do dự, không đạt được cứu
cánh trong Chánh pháp này.
29) Nhưng này các Tỷ-kheo, sự nghi hoặc, do dự,
không đạt được cứu cánh trong Chánh pháp này là hành. Hành ấy lấy gì làm
nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với
kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, do cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc
chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này
các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy là
vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Thọ ấy là vô thường, hữu vi, do duyên
sanh. Xúc ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Vô minh ấy là vô thường,
hữu vi, do duyên sanh.
30) Này các Tỷ-kheo, do biết như vậy, thấy như
vậy, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
X. Trăng Rằm (Tạp 2, Ðại 2,14b)
(S.iii,100) (Trung Bộ Kinh, trang 109, 110 Tham chiếu)
1) Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Ðông
Viên, Lộc Mẫu giảng đường, cùng với đại chúng Tỷ-kheo.
2) Lúc bấy giờ, Thế Tôn nhân ngày lễ Bố-tát, ngày
rằm, đêm trăng tròn, giữa trời, có chúng Tỷ-kheo đoanh vây.
3) Rồi có Tỷ-kheo, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp
thượng y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch
Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, con muốn hỏi Thế Tôn một vấn
đề, nếu Thế Tôn cho phép, và trả lời câu hỏi của con.
-- Này Tỷ-kheo, hãy ngồi tại chỗ và hỏi theo
ý Ông muốn.
4) -- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, ngồi tại chỗ
ngồi của mình và bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, có phải có năm thủ uẩn này: tức
là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ
uẩn?
-- Này Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn, tức là sắc thủ
uẩn... thức thủ uẩn.
5) -- Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn
dạy, rồi hỏi thêm Thế Tôn một câu khác:
-- Bạch Thế Tôn, năm thủ uẩn này lấy gì làm căn
bản?
-- Này Tỷ-kheo, năm thủ uẩn này lấy dục làm căn
bản.
6) -- Lành thay, bạch Thế Tôn...
-- Bạch Thế Tôn, chấp thủ ấy là năm thủ uẩn ấy
hay chấp thủ ngoài năm thủ uẩn?
-- Này Tỷ-kheo, chấp thủ ấy không tức là năm thủ
uẩn ấy và chấp thủ cũng không phải ngoài năm thủ uẩn. Nhưng chỗ nào có
tham và dục, chỗ ấy có chấp thủ.
7) -- Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy... hỏi Thế Tôn một câu hỏi khác:
-- Có thể chăng, bạch Thế Tôn, trong năm thủ
uẩn, có sự sai khác về dục và tham?
Thế Tôn đáp :
-- Có thể có, này Tỷ-kheo.
Ở đây, này Tỷ-kheo, có người nghĩ như sau:
"Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có sắc như vậy! Mong rằng trong tương
lai ta sẽ có thọ như vậy! Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có tưởng như
vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có các hành như vậy! Mong rằng trong
tương lai ta sẽ có thức như vậy!" Như vậy, này Tỷ-kheo, có thể
có sự sai khác về dục và tham trong năm thủ uẩn.
8) -- Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy... hỏi thêm câu hỏi nữa:
-- Dưới hình thức nào, bạch Thế Tôn, có định
nghĩa về uẩn của các uẩn?
-- Phàm sắc gì, này Tỷ-kheo, thuộc quá khứ, vị lai,
hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng,
hoặc xa hay gần; đây gọi là sắc uẩn. Phàm thọ gì... Phàm tưởng
gì... Phàm các hành gì... Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại,
hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay
gần; đây gọi là thức uẩn. Dưới hình thức như vậy, này Tỷ-kheo, có
định nghĩa về uẩn của các uẩn.
9) -- Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy... hỏi thêm câu hỏi nữa:
-- Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, được
gọi là sắc uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là thọ uẩn?
Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là tưởng uẩn? Do nhân gì, do duyên
gì, được gọi là hành uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là
thức uẩn?
-- Do nhân bốn đại, này Tỷ-kheo, do duyên bốn đại,
được gọi là sắc uẩn. Do nhân xúc, do duyên xúc, được gọi là
thọ uẩn. Do nhân xúc, do duyên xúc, được gọi là tưởng uẩn. Do nhân
xúc, do duyên xúc, được gọi là hành uẩn. Do nhân danh sắc, do duyên danh
sắc, được gọi là thức uẩn.
10) -- Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy... hỏi thêm câu khác:
-- Như thế nào, bạch Thế Tôn, là có thân
kiến?
-- Ở đây, này Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu
không thấy rõ bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập
pháp các bậc Thánh; không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp
các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự
ngã, hay quán tự ngã như là có sắc, hay quán sắc ở trong tự ngã, hay quán
tự ngã ở trong sắc... thọ... tưởng.. hành... quán thức như là tự ngã,
hay quán tự ngã như là có thức,hay quán thức ở trong tự ngã, hay quán tự
ngã ở trong thức. Như vậy, này Tỷ-kheo, là có thân kiến.
11) -- Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy... hỏi thêm câu nữa:
-- Như thế nào, bạch Thế Tôn, là không có thân
kiến?
-- Ở đây, này Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ
tử thấy rõ các bậc Thánh, khéo thuần thục pháp các bậc Thánh, khéo tu tập
pháp các bậc Thánh; thấy rõ các bậc Chân nhân, khéo thuần thục pháp các
bậc Chân nhân, khéo tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là
tự ngã, hay không quán tự ngã như là có sắc, hay không quán sắc ở trong tự
ngã, hay không quán tự ngã ở trong sắc, không quán thọ... không quán
tưởng... không quán các hành... không quán thức như là tự ngã, hay không
quán tự ngã như là có thức, hay không quán thức ở trong tự ngã, hay không
quán tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Tỷ-kheo, là không có thân
kiến.
12) -- Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy... hỏi thêm một câu nữa:
-- Bạch Thế Tôn, cái gì là vị ngọt, là sự nguy
hiểm, là sự xuất ly của sắc?... của thọ... của tưởng... của các
hành? Cái gì là vị ngọt, là sự nguy hiểm, là sự xuất ly của thức?
-- Này Tỷ-kheo, do duyên sắc, khởi lên lạc hỷ
gì, đó là vị ngọt của sắc. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại
của sắc, đó là sự nguy hiểm của sắc. Sự nhiếp phục dục và tham, sự
đoạn tận dục và tham đối với sắc, đó là sự xuất ly của sắc. Do duyên
thọ... Do duyên tưởng... Do duyên các hành... Do duyên thức khởi lên lạc
hỷ gì, đó là vị ngọt của thức. Sự vô thường, khổ, chịu sự
biến hoại của thức, đó là sự nguy hiểm của thức. Sự nhiếp phục
dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với thức, đó là sự xuất ly của
thức.
13) -- Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn
dạy, lại hỏi Thế Tôn thêm câu nữa:
-- Bạch Thế Tôn, do biết như thế nào, do
thấy như thế nào, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng
ở ngoài, không có (quan điểm): ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy
miên?
-- Này Tỷ-kheo, phàm sắc gì thuộc quá khứ, vị lai,
hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng,
hoặc xa hay gần; tất cả sắc, Tỷ-kheo như thật quán với chánh trí tuệ
như sau: "Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không
phải tự ngã của tôi". Phàm thọ gì... Phàm tưởng gì... Phàm các
hành gì... Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay
ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả
thức, Tỷ-kheo như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Ðây
không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của
tôi!" Này Tỷ-kheo, do biết như vậy, thấy như vậy, đối với thân
có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có (quan điểm):
ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên.
14) Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo khác khởi lên suy nghĩ
sau đây: "Nếu Ngài nói sắc là vô ngã, thọ... tưởng... các
hành... thức là vô ngã, thời các nghiệp do vô ngã tạo ra, thời ngã nào
lãnh thọ?"
15) Rồi Thế Tôn với tâm tư của mình biết rõ
suy nghĩ của Tỷ-kheo ấy, liền nói với các Tỷ-kheo:
-- Sự kiện này xảy ra, này các Tỷ-kheo, là có
kẻ ngu si, vô trí, chìm đắm trong vô minh, tâm bị khát ái chi phối, nghĩ
rằng có thể vượt qua lời dạy bậc Ðạo Sư, nghĩ rằng: "Nếu Ngài
dạy rằng sắc là vô ngã, thọ... tưởng... các hành... thức là vô ngã,
thời các nghiệp do vô ngã làm, các nghiệp ấy do ngã nào lãnh
thọ?" Này các Tỷ-kheo, các câu vấn nạn đã được Ta khéo dạy cho
các Ông, chỗ này, chỗ kia trong các pháp ấy.
16) Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc
là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
17-19) -- Thọ... tưởng... các hành...
20) Thức là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có
hợp lý chăng, nếu quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này
là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Do vậy... thấy vậy... vị ấy biết: "Sanh đã
tận... không còn trở lui trạng thái này nữa".