Kinh Tương Ưng Bộ · Saṃyutta Nikāya

[47] Chương III — Tương Ưng Niệm Xứ (a)

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Tương Ưng Bộ

Kinh Trung Bộ · Bài 5

[47] Chương III — Tương Ưng Niệm Xứ (a)#

Tập V - Thiên Ðại Phẩm

Tương Ưng Bộ -

Samyutta Nikaya

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Tập V - Thiên Ðại Phẩm

[47] Chương III

Tương Ưng Niệm Xứ (a)

-ooOoo-

I. Phẩm Ambapàli

1. I. Ambapàli (Tạp 24,20, Ðại 2,174a)

(S.v,141)#

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli, tại rừng Ambapàli.

2) Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

"Này các Tỷ-kheo". "Bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy

vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

3) -- Có con đường độc nhất này, này các Tỷ-kheo,

khiến cho các loài hữu tình được thanh tịnh, vượt qua được sầu bi,

chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn. Tức là

bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?

4) -- Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú,

quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục

tham ưu ở đời... trú, quán thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh

giác, niệm... trú, quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác...

trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm,

nhiếp phục tham ưu ở đời.

5) Có con đường độc nhất này, này các Tỷ-kheo,

khiến cho các loài hữu tình được thanh tịnh, vượt qua được sầu bi,

chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn. Con đường

ấy tức là bốn niệm xứ.

6) Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy

hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn nói.

2. II. Niệm (Tạp 24,6-7, Ðại 2,171b)

(S.v,142)#

1) Một thời Thế Tôn ở Vesàli, tại rừng Ambapàli.

2) Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo...

3) -- Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải an trú niệm, tỉnh giác. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.

4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo an

trú niệm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân

trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở

đời... quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên

các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở

đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo an trú niệm.

5) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo

tỉnh giác? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui,

đều tỉnh giác; khi nhìn tới, khi nhìn lui, đều tỉnh giác; khi co cánh

tay, duỗi cánh tay, đều tỉnh giác; khi đắp y Tăng-già-lê, khi mang y

bát, đều tỉnh giác; khi ăn uống, nhai nếm, đều tỉnh giác; khi đi

tiểu tiện, đại tiện, đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, ngủ,

thức, nói, im lặng, đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là

Tỷ-kheo tỉnh giác.

6) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hãy an trú niệm,

tỉnh giác. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.

3. III. Tỷ Kheo (Tạp 24,37, Ðại 2,176A) (S.v,142)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana,

khu vườn ông Anàthapindika.

2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi

đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên,

Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

3) -- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn

thuyết pháp vắn tắt cho con. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ

sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Và như vậy

có thể có những người nghi ngờ pháp ấy và họ thẩm tra con; sau khi con

nói pháp cho họ, họ nghĩ rằng đi theo con sẽ có lợi ích cho họ.

Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con. Thiện

Thệ hãy thuyết pháp vắn tắt cho con. Chắc chắn con có thể hiểu

lời Thế Tôn thuyết. Chắc chắn con có thể trở thành người thừa tự

lời Thế Tôn dạy.

4) -- Vậy này Tỷ-kheo, Ông phải gột sạch hai pháp

cơ bản về các thiện pháp. Và thế nào là hai pháp cơ bản về

các thiện pháp? Chính là giới khéo thanh tịnh, và tri kiến chánh trực.

Này Tỷ-kheo, khi nào Ông được giới khéo thanh tịnh và tri kiến chánh

trực, này Tỷ-kheo, Ông hãy y cứ trên giới, an trú trên giới, tu tập bốn

niệm xứ theo ba cách. Thế nào là bốn?

5) Ở đây, này Tỷ-kheo, Ông hãy trú, quán thân

trên nội thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham

ưu ở đời. Hay Ông hãy trú, quán thân trên ngoại thân, nhiệt tâm, tỉnh

giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Hay Ông hãy trú, quán

thân trên nội ngoại thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp

phục tham ưu ở đời. Hay Ông hãy trú, quán thọ trên các nội thọ...

Hay Ông hãy trú, quán tâm trên các nội tâm... Hay Ông hãy trú, quán pháp

trên các nội pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục

tham ưu ở đời. Hay Ông hãy trú, quán pháp trên các ngoại pháp, nhiệt

tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Hay Ông hãy

trú, quán pháp trên các nội ngoại pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.

Này Tỷ-kheo, khi nào Ông y cứ trên giới, an trú

trên giới và tu tập bốn niệm xứ theo ba cách như vậy; khi ấy, này

Tỷ-kheo, hoặc đêm hay ngày, chờ đợi là tăng trưởng trong các thiện

pháp, không phải là tổn giảm.

6) Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời

Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía

hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

7) Rồi Tỷ-kheo ấy sống một mình an tịnh, không

phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu đạt được mục đích mà

một thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng

đến: Chính là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại, vị

ấy tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy rõ

biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã

làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".

8) Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.

4. IV. Sàlà (Tạp 24,29, Ðại 2,173c) (S.v,144)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kosala, tại

một làng Bà-la-môn tên là Sàlà.

2) Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo...

Thế Tôn nói như sau:

3) -- Những Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, mới tu,

xuất gia chẳng bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này; những Tỷ-kheo ấy,

này các Tỷ-kheo, cần phải được khích lệ (samàdapetabbà), cần phải

được hướng dẫn, cần phải được an trú, tu tập bốn niệm xứ. Thế

nào là bốn?

4) "Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy trú, quán

thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh,

định tĩnh, nhất tâm, để có chánh trí như thật đối với thân. Hãy trú,

quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú, với tâm

thanh tịnh, định tĩnh, nhất tâm để có chánh trí như thật đối với các

thọ. Hãy trú, quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú,

với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhất tâm, để có chánh trí như thật đối

với tâm. Hãy trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên

chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhất tâm, để có chánh trí như thật

đối với các pháp".

5) Này các Tỷ-kheo, có những Tỷ-kheo hữu

học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn, khỏi các

khổ ách. Các vị ấy trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác,

chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhứt tâm để liễu tri về

thân. Các vị ấy trú, quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh

giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhứt tâm để liễu tri

về thọ. Các vị ấy trú, quán tâm trên tâm... để liễu tri về

tâm. Các vị ấy trú, quán pháp trên pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên

chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhất tâm để liễu tri về các

pháp.

6) Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào là bậc

A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm,

đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu

kiết sử, chánh trí, giải thoát; các vị ấy trú, quán thân trên thân,

nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhứt

tâm, ly hệ phược đối với thân. Các vị ấy trú, quán thọ trên các

thọ... Các vị ấy trú, quán tâm trên tâm... Các vị ấy trú, quán pháp

trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh,

định tĩnh, nhứt tâm, ly hệ phược đối với các pháp.

7) Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào mới tu,

xuất gia chẳng bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này; những vị ấy, này

các Tỷ-kheo, cần phải được khích lệ, cần phải được hướng dẫn,

cần phải được an trú, tu tập bốn niệm xứ này.

5. V. Một Ðống Thiện (Tạp 24,28, Ðại 2,171b)

(S.v,145)#

1-2) Tại Sàvatthi. Ở đấy, Thế Tôn nói như sau:

3) -- Ðống bất thiện, này các Tỷ-kheo, nếu

có ai nói là năm triền cái, người ấy nói một cách chơn chánh. Toàn bộ

đống bất thiện này, này các Tỷ-kheo, tức là năm triền cái.

Thế nào là năm?

4) Dục tham triền cái, sân triền cái, hôn trầm

thụy miên triền cái, trạo hối triền cái, nghi hoặc triền cái.

Ðống bất thiện này, này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói là năm

triền cái, người ấy nói một cách chơn chánh. Toàn bộ đống bất

thiện này, này các Tỷ-kheo, tức là năm triền cái.

5) Ðống thiện, này các Tỷ-kheo, nếu có ai

nói là bốn niệm xứ, người ấy nói một cách chơn chánh. Toàn bộ đống

thiện này, này các Tỷ-kheo, tức là bốn niệm xứ. Thế nào là

bốn?

6) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú,

quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục

tham ưu ở đời... quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán

pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục

tham ưu ở đời. Ðống thiện này, này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói

là bốn niệm xứ, người ấy nói một cách chơn chánh. Toàn bộ đống

thiện này, này các Tỷ-kheo, tức là bốn niệm xứ.

6. VI. Con Chim Ưng (Sakunagghi) (Tạp 24,15, Ðại

2,172c) (S.v,146)

1-2)...

3) -- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, một con chim ưng

cái thình lình vồ xuống và chụp lấy một con chim cút.

4) Rồi này các Tỷ-kheo, con chim cút bị con chim ưng

cái bắt, than khóc như sau:

"-- Như thế này, thật bất hạnh cho tôi! Thật

thiếu công đức cho tôi! Vì rằng tôi đã đi không phải chỗ hành xứ

của mình, đi vào cảnh giới của người khác. Nếu tôi đi trong chỗ

hành xứ của tôi, trong cảnh giới của cha mẹ tôi, thời con chim ưng này không

thể hơn tôi, nếu phải đánh nhau".

"-- Này Chim cút, thế nào là chỗ hành xứ

của ngươi, thế nào là cảnh giới của cha mẹ ngươi?"

-- "Là vạt đất được lưỡi cày xới lên".

5) Rồi này các Tỷ-kheo, con chim ưng cái không có

siết mạnh sức mạnh của mình, không có bóp chặt sức mạnh của mình, thả

con chim cút rồi nói:

-- "Hãy đi, này Chim cút. Sau khi đi tại chỗ

ấy, ta sẽ không thả cho ngươi".

6) Rồi này các Tỷ-kheo, con chim cút đi đến vạt

đất được lưỡi cày xới lên, leo lên một hòn đất lớn, đứng trên ấy và

nói với con chim ưng:

"-- Này, hãy đến ta, Chim ưng! Này, hãy

đến ta, này Chim ưng!"

7) Rồi này các Tỷ-kheo, con chim ưng cái siết

mạnh sức mạnh của mình, bóp chặt sức mạnh của mình, xếp cả hai cánh,

thình lình vồ lấy con chim cút. Này các Tỷ-kheo, khi con chim cút biết

được: "Con chim ưng này đang vồ mạnh xuống ta", liền nấp sau hòn

đất ấy. Này các Tỷ-kheo, ở đây, con chim ưng bị bể ngực.

8) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với ai đi tới

chỗ không phải hành xứ của mình, đi đến cảnh giới của người khác.

Do vậy, này các Tỷ-kheo, chớ có đi đến chỗ không phải hành xứ

của mình, chỗ cảnh giới của người khác. Này các Tỷ-kheo, đi đến

chỗ không phải hành xứ của mình, đi đến cảnh giới của người khác,

thời Ác ma nắm được cơ hội, Ác ma nắm được đối tượng.

9) Này các Tỷ-kheo, chỗ nào không phải hành xứ

của Tỷ-kheo? Chỗ nào là cảnh giới của người khác? Chính là năm dục

công đức. Thế nào là năm?

10) Có các sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ,

khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Có các tiếng do tai

nhận thức... Có các hương do mũi nhận thức... Có các vị do lưỡi nhận

thức... Có các xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả

ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây là chỗ

không phải hành xứ của Tỷ-kheo, chỗ cảnh giới của người khác.

11) Này các Tỷ-kheo, hãy đi đến chỗ hành

xứ của mình, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình. Này các Tỷ-kheo, đi

đến chỗ hành xứ của mình, đến cảnh giới của cha mẹ mình, thời

Ác ma không nắm được cơ hội, không nắm được đối tượng.

12) Và này các Tỷ-kheo, chỗ nào là chỗ hành

xứ của Tỷ-kheo? Chỗ nào là cảnh giới của cha mẹ? Chính là bốn

niệm xứ. Thế nào là bốn?

13) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú,

quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục

tham ưu ở đời; trú, quán thọ trên các thọ...; trú, quán tâm trên

tâm...; trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây là chỗ

hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình.

7. VII. Con Vượn (Tạp 24,18, Ðại 2,173b) (S.v,148)

1-2)...

3) -- Này các Tỷ-kheo, tại núi chúa Tuyết sơn

có khoảnh đất gồ ghề, không thăng bằng, chỗ ấy không có các loài

vượn, loài người qua lại.

4) Này các Tỷ-kheo, tại núi chúa Tuyết sơn có

những khoảng đất ghồ ghề, không bằng phẳng, chỗ ấy chỉ có loài

vượn qua lại, không có loài người.

5) Tại núi chúa Tuyết sơn, có những khoảnh đất

bằng phẳng, khả ái. Tại chỗ ấy có các loài vượn và loài người qua

lại. Tại đấy, này các Tỷ-kheo, những người thợ săn đặt các bẫy nhựa

(lepam) trên những con đường có vượn qua lại để bắt các con vượn.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, những con vượn nào tánh không ngu si, không

tham ăn, thấy bẫy nhựa ấy liền tránh xa. Còn con vượn nào ngu si, tham ăn,

thấy bẫy nhựa ấy, thò tay nắm lấy và bị dính vào đấy. "Ta sẽ gỡ bàn

tay ra", nó thò bàn tay thứ hai nắm lấy và bị dính ở đấy. "Ta sẽ

gỡ hai tay ra", nó giơ chân nắm lấy và bị dính ở đấy. "Ta sẽ gỡ

hai bàn tay và bàn chân ra", nó giơ bàn chân thứ hai nắm lấy và bị dính

ở đấy. "Ta sẽ gỡ cả hai tay và hai chân", nó dùng miệng ngậm

lấy và bị mắc dính ở đấy.

6) Như vậy, này các Tỷ-kheo, con vượn bị bắt năm

chỗ, liền rên la nằm xuống, rơi vào bất hạnh, rơi vào khổ não, bị

người thợ săn muốn làm gì thì làm. Này các Tỷ-kheo, người thợ săn

đâm chết nó, nướng nó trên đống than củi, và ra đi, theo sở thích của

mình.

7) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, là người đi đến

chỗ không phải hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của người khác. Này

các Tỷ-kheo, đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, chỗ

cảnh giới của người khác, Ác ma nắm được cơ hội, Ác ma nắm được đối

tượng.

8) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không phải

chỗ hành xứ của Tỷ-kheo, chỗ cảnh giới của người khác? Tức là

năm dục công đức. Thế nào là năm?

9) Các sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả

ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn... Các xúc do thân nhận

thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp

dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây không phải là chỗ hành xứ của Tỷ-kheo,

là chỗ cảnh giới của người khác.

10) Này các Tỷ-kheo, hãy đi đến chỗ hành

xứ của mình, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình. Này các Tỷ-kheo, đi

đến chỗ hành xứ của mình, đến chỗ cảnh giới của cha mẹ

mình, Ác ma không nắm được cơ hội, Ác ma không nắm được đối tượng.

11) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành xứ của

Tỷ-kheo, là cảnh giới của cha mẹ mình? Tức là bốn niệm xứ. Thế

nào là bốn?

12) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú,

quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục

tham ưu ở đời...; trú, quán thọ trên các cảm thọ...; trú, quán tâm

trên tâm...; trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây là chỗ

hành xứ của Tỷ-kheo, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình.

8. VIII. Người Ðầu Bếp (Tạp 24,14, Ðại

2,172b) (S.v,149)

I.

1)...

2-3) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đầu

bếp ngu si, không thông minh, không khéo léo, được giao lo liệu các

thứ xúp sai khác cho vua hay cho các đại thần của vua, như xúp chua, đắng,

cay, ngọt, chất kiềm, không phải chất kiềm (khàrikehi pi akhàrikehi

pi), chất mặn, không phải chất mặn.

4) Này các Tỷ-kheo, người đầu bếp ngu si, không

thông minh, không khéo léo ấy không nắm được sở thích về việc ăn

uống của người chủ của mình (bhattasa hay bhattuno?): "Hôm nay, chủ ta

thích món xúp này", hay: "Món xúp này chủ ta lấy ăn", hay :

"Món xúp này chủ ta dùng nhiều", hay: "Chủ ta tán thán món

xúp này". "Hôm nay, chủ ta thích món xúp chua này", hay: "Món

xúp chua này chủ ta lấy ăn", hay: "Món xúp chua này, chủ ta dùng

nhiều", hay : "Chủ ta tán thán xúp chua này". "Hôm nay,

chủ ta thích món xúp đắng này"... hay : "Hôm nay, chủ ta thích món

xúp cay này"... hay: "Hôm nay, chủ ta thích món xúp ngọt

này"... hay: "Hôm nay, chủ ta thích món xúp chất kiềm này"...

hay: "Hôm nay, chủ ta thích món xúp không phải chất kiềm này"...

hay: "Hôm nay, chủ ta thích món xúp không phải chất mặn này", hay:

"Món xúp không phải mặn này chủ ta lấy ăn", hay: "Món xúp không

phải mặn này chủ ta dùng nhiều", hay: "Chủ ta tán thán món xúp

không phải mặn này".

5) Và này các Tỷ-kheo, người đầu bếp ngu si,

không thông minh, không khéo léo ấy không nhận được đồ mặc, không nhận

được lương bổng, không nhận được tiền thưởng. Vì sao? Vì rằng, này

các Tỷ-kheo, kẻ đầu bếp ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy

không nắm được sở thích về việc ăn uống của người chủ của mình.

6) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có

Tỷ-kheo ngu si, không thông minh, không khéo léo, trú, quán thân trên thân,

nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Dầu

vị ấy trú, quán thân trên thân, nhưng tâm không định tĩnh, các phiền

não không được đoạn tận; vị ấy không học được tướng ấy. Dầu vị ấy

trú, quán thọ trên các thọ.. quán tâm trên tâm... Vị ấy trú, quán

pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục

tham ưu ở đời. Dầu vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, nhưng tâm không

định tĩnh, các phiền não không được đoạn tận; vị ấy không học

được tướng ấy.

7) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngu si, không thông

minh, không khéo léo ấy, không được lạc trú ngay trong hiện tại, không

được tỉnh giác. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngu si,

không thông minh, không khéo léo ấy, không học được tướng tâm của

mình.

II.

8) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người đầu bếp

có trí, thông minh, khéo léo, được giao lo liệu các thứ xúp sai khác cho

các vua hay cho các đại thần của vua, như xúp chua, đắng, cay, ngọt, chất

kiềm, không phải chất kiềm, chất mặn hay không phải chất mặn. Này các

Tỷ-kheo, người đầu bếp có trí, thông minh, khéo léo ấy nắm đươĩc

sở thích về việc ăn uống của người chủ mình: "Hôm nay, chủ ta

thích món xúp này", hay: "Món xúp này chủ ta lấy ăn", hay :

"Món xúp này chủ ta dùng nhiều", hay: "Món xúp này chủ ta

tán thán", hay: "Hôm nay, chủ ta thích món xúp chua này", hay :

"Món xúp chua này chủ ta lấy ăn", hay: "Món xúp chua này chủ ta

dùng nhiều", hay : "Món xúp chua này chủ ta tán thán".

"Hôm nay, chủ ta thích món xúp đắng này"... "Hôm nay, chủ ta

thích món xúp cay này"... "Hôm nay, chủ ta thích món xúp ngọt

này"... "Hôm nay, chủ ta thích món xúp vị kiềm này"...

"Hôm nay, chủ ta thích món xúp không vị kiềm này"...: "Hôm

nay, chủ ta thích món xúp vị mặn này"... "Hôm nay, chủ ta thích món

xúp không mặn này", hay: "Món xúp không mặn này chủ ta lấy ăn",

hay: "Món xúp không mặn này chủ ta dùng nhiều", hay: "Món xúp

không mặn này chủ ta tán thán".

9) Này các Tỷ-kheo, người đầu bếp có trí,

thông minh, khéo léo ấy nhận được đồ mặc, nhận được lương bổng, nhận

được tiền thưởng. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, người đầu

bếp có trí, thông minh, khéo léo ấy nắm được sở thích về việc

ăn uống của người chủ của mình.

10) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có

Tỷ-kheo có trí, thông minh, khéo léo, trú, quán thân trên thân, nhiệt

tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do vị ấy trú,

quán thân trên thân, tâm được định tĩnh, các phiền não được đoạn

tận; vị ấy học được tướng ấy. Vị ấy trú, quán thọ trên các

thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh

giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do vị ấy trú, quán pháp

trên các pháp, tâm được định tĩnh, các phiền não được đoạn tận; vị

ấy học được tướng ấy.

11) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí, thông minh,

khéo léo ấy, ngay trong hiện tại, chứng được lạc trú, chứng được niệm tỉnh giác. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí,

thông minh, khéo léo ấy, học được tướng tâm của mình.

9. IX. Bệnh (Trường 2, Ðại 1,15ab) (S.v,152)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli, tại làng Beluva.

2) Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

-- Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy an cư vào mùa

mưa xung quanh Vesàli, chỗ nào có bạn bè, có người quen biết

(sandittham), có người thân thiết (sambhattam). Ở đây, Ta sẽ an cư mùa

mưa tại làng Beluva này.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, an cư mùa

mưa xung quanh Vesàli, tại chỗ có bạn bè, có người quen biết, có

người thân thiết. Còn Thế Tôn thì an cư mùa mưa tại làng Beluva.

3) Trong khi Thế Tôn an cư mùa mưa, một cơn bệnh

trầm trọng khởi lên, những cảm thọ khốc liệt gần như chết

tiếp diễn. Ở đây, Thế Tôn giữ niệm, tỉnh giác, không có

than vãn.

4) Rồi Thế Tôn suy nghĩ: "Thật không tương

xứng đối với Ta, nếu Ta không báo trước các vị ủng hộ Ta và không từ

giã chúng Tỷ-kheo mà nhập Niết-bàn. Vậy Ta hãy tinh tấn nhiếp phục

trọng bệnh này, lưu giữ mạng hành (jìvitasankhàra) và sống". Rồi

Thế Tôn với sức tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh ấy, lưu giữ

mạng hành và sống.

5) Rồi Thế Tôn thoát khỏi cơn bệnh; thoát khỏi

cơn bệnh không bao lâu, Ngài đi ra khỏi nhà bệnh, ngồi trên chỗ

đã soạn sẵn, trong bóng im, sau lưng ngôi nhà.

6) Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi

đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn

giả Ananda bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, con thấy Thế Tôn kham nhẫn!

Bạch Thế Tôn, con thấy Thế Tôn chịu đựng! Bạch Thế Tôn, thân con

cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt con mờ mịt không thấy rõ phương

hướng. Pháp không được tỏ rõ cho con vì Thế Tôn bị bệnh. Nhưng

bạch Thế Tôn, con được chút an ủi rằng Thế Tôn sẽ không diệt

độ, nếu Ngài không có lời di giáo lại cho chúng Tỷ-kheo.

7) -- Này Ananda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa

ở nơi Ta. Này Ananda, Ta giảng pháp không có phân biệt trong ngoài. Vì,

này Ananda, đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo Sư có bàn tay nắm

lại. Này Ananda, những ai nghĩ rằng Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo, hay

: Chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta, thời này Ananda, người ấy sẽ

có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ananda, Như Lai không có nghĩ rằng:

"Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo", hay "Chúng Tỷ-kheo

chịu sự giáo huấn của Ta", thời này Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di

giáo cho chúng Tỷ-kheo?

8) Này Ananda, Ta nay đã già, bậc trưởng thượng, bậc

trưởng lão, đã đạt đến đoạn cuối của đời, đã đến tám mươi

tuổi. Này Ananda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ

dây thừng chằng chịt. Cũng vậy, thân Như Lai được duy trì sự sống giống

như chính nhờ dây thừng chằng chịt.

9) Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý

đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an

trú vô tướng tâm định, chính khi ấy, thân Như Lai được thoải mái. Vậy

này Ananda, hãy tự mình là hòn đảo cho chính mình, hãy tự mình nương

tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh pháp làm hòn đảo, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì

khác. Và này Ananda, thế nào là Tỷ-kheo tự mình là hòn đảo cho

chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì

khác, dùng Chánh pháp làm hòn đảo, dùng Chánh pháp làm chỗ nương

tựa, không nương tựa một gì khác?

10) Này Ananda, ở đây, Tỷ-kheo trú, quán thân trên

thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời;

quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các

pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.

Này Ananda, như vậy là Tỷ-kheo tự mình là hòn đảo cho chính mình,

tự mình nương tựa cho chính mình, không nương tựa một điều gì khác,

dùng Chánh pháp làm hòn đảo, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa,

không nương tựa một điều gì khác.

11) Này Ananda, những ai hiện nay hoặc sau khi Ta

diệt độ, tự mình là hòn đảo cho chính mình, tự mình nương tựa

chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm hòn đảo, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào

một gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng

Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.

10. X. Trú Xứ Tỷ-Kheo Ni (Tạp 24,13, Ðại

2,172,172a) (S.v,154)

1) Tại Sàvatthi...

2) Rồi Tôn giả Ananda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát

đi đến một trú xứ của Tỷ-kheo-ni; sau khi đến, ngồi xuống trên

chỗ đã soạn sẵn.

Rồi một số đông Tỷ-kheo-ni đến Tôn giả Ananda;

sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một

bên, các Tỷ-kheo-ni ấy thưa với Tôn giả Ananda:

3) -- Ở đây, bạch Thượng tọa Ananda, một số

đông Tỷ-kheo-ni sống khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, đạt được

sự rõ biết (sampajànanti) quảng đại, trước sau thù thắng.

-- Như vậy là phải, này các Ðại tỷ! Như vậy là

phải, này các Ðại tỷ! Này các Ðại tỷ, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni

nào sống với tâm khéo an trú trong bốn niệm xứ, vị ấy được chờ đợi

sẽ đạt được sự rõ biết quảng đại, trước sau thù thắng.

4) Rồi Tôn giả Ananda với bài pháp thoại, sau khi tuyên

thuyết cho các Tỷ-kheo-ni ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho

hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

5) Rồi Tôn giả Ananda sau khi đi khất thực ở Sàvatthi,

sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn;

sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên,

Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, con, vào buổi sáng,

đắp y, cầm y bát đi đến một trú xứ của Tỷ-kheo-ni, sau khi đến,

con ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi, bạch Thế Tôn, một số đông

Tỷ-kheo-ni đi đến con, sau khi đến, đảnh lễ con rồi ngồi xuống

một bên. Ngồi một bên, bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo-ni ấy thưa với con:

"Ở đây, bạch Thượng tọa Ananda, một số đông Tỷ-kheo-ni sống

khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, đạt được sự rõ biết quảng đại,

trước sau thù thắng". Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với

các Tỷ-kheo-ni ấy: "Như vậy là phải, này các Ðại tỷ! Như vậy

là phải, này các Ðại tỷ! này các Ðại tỷ, Tỷ-kheo hay

Tỷ-kheo-ni nào sống với tâm khéo an trú trong bốn niệm xứ, vị ấy

được chờ đợi sẽ đạt được sự rõ biết quảng đại, trước sau thù

thắng".

6) -- Như vậy là phải, này Ananda! Như vậy là phải,

này Ananda! Này Ananda, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào sống với tâm khéo an

trú trên bốn niệm xứ, vị ấy được chờ đợi sẽ đạt được sự rõ

biết quảng đại, trước sau thù thắng. Thế nào là bốn?

7) Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo sống, quán thân

trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở

đời. Vị ấy trú, quán thân trên thân, hoặc thân sở duyên (kàyàrammano) khởi

lên, hoặc thân nhiệt não (kàyasmin parilàho), hoặc tâm thụ động, hoặc

tâm phân tán hướng ngoại (bahiddha va cittam vikkhipati); do vậy, này Ananda,

Tỷ-kheo cần phải hướng tâm đến một tướng tịnh tín

(pasàdaniyenimitta). Do vị ấy hướng tâm đến một tướng tịnh tín, hân hoan

(pàmujjam: Thắng hỷ) sanh. Người có tâm hân hoan, hỷ sanh. Người có

tâm hỷ, thân được khinh an. Người có tâm khinh an, lạc thọ sanh.

Người có tâm lạc thọ, tâm được định tĩnh. Vị ấy tư sát như sau:

"Mục đích mà ta hướng tâm đến, mục đích ấy đã đạt được. Nay

ta rút lui (patisamharàmi) (khỏi đối tượng tịnh tín)". Vị ấy rút lui,

không tầm, không tứ. Vị ấy rõ biết: "Không tầm, không tứ, nội tâm niệm, ta được an lạc".

8-9) Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo sống, quán thọ

trên các thọ... sống, quán tâm trên tâm...

10) Vị ấy sống, quán pháp trên các pháp, nhiệt

tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Vị ấy trú,

quán pháp trên các pháp, hoặc thân sở duyên khởi lên, hoặc thân nhiệt

não, hoặc tâm thụ động, hoặc tâm phân tán, hướng ngoại; do vậy, này Ananda,

Tỷ-kheo cần phải hướng tâm đến một tướng tịnh tín. Do vị ấy hướng

tâm đến một tướng tịnh tín, hân hoan sanh. Người có hân hoan, hỷ

sanh. Người có tâm hỷ, thân được khinh an. Người có thân khinh an, lạc

thọ sanh. Người có lạc thọ, tâm được định tĩnh. Vị ấy tư sát như

sau: "Mục đích mà ta hướng tâm đến, mục đích ấy đã đạt được.

Nay ta rút lui (khỏi đối tượng tướng tịnh tín)". Vị ấy rút lui, không

tầm, không tứ. Vị ấy rõ biết: "Không tầm, không tứ, nội tâm niệm, ta được an lạc".

11) Như vậy, này Ananda, là sự tu tập về hướng

tâm.

12) Và này Ananda, thế nào là sự tu tập không có

hướng tâm?

13) Này Ananda, Tỷ-kheo tâm không hướng ngoại, rõ

biết: "Tâm ta không hướng ngoại". Rồi vị ấy rõ biết:

"Tâm ta không chấp thủ đối với cái gì ở trước, hay cái gì ở sau

(pacchàpure), nhưng được giải thoát, không có hướng tâm". Rồi vị ấy

rõ biết: "Ta trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác,

niệm, ta được an lạc".

14) Này Ananda, Tỷ-kheo tâm không hướng ngoại, rõ

biết: "Tâm ta không hướng ngoại". Rồi vị ấy rõ biết:

"Tâm ta không chấp thủ đối với cái gì ở trước, hay cái gì ở sau,

nhưng được giải thoát, không có hướng tâm". Rồi vị ấy rõ biết:

"Ta trú, quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, ta được an lạc".

15) Này Ananda, Tỷ-kheo tâm không hướng ngoại, rõ

biết: "Tâm ta không hướng ngoại". Rồi vị ấy rõ biết:

"Tâm ta không chấp thủ đối với cái gì ở trước... Rồi vị ấy rõ

biết: "Ta trú, quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, ta được an lạc".

16) Này Ananda, Tỷ-kheo tâm không hướng ngoại... Rồi

vị ấy rõ biết: "Ta trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh

giác, niệm, ta được an lạc".

17) Như vậy, này Ananda, là tu tập không có hướng tâm.

18) Như vậy, này Ananda, Ta thuyết tu tập có hướng

tâm; Ta thuyết tu tập không có hướng tâm. Những gì, này Ananda, một bậc

Ðạo Sư cần phải làm vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đối với các

đệ tử, vì lòng từ mẫn khởi lên, những việc ấy, Ta đã làm cho các

Ông. Này Ananda, đây là những gốc cây. Ðây là những nhà trống. Hãy tu

Thiền, này Ananda. Chớ có phóng dật. Chớ có hối hận về sau. Ðây là

lời giáo giới của Ta cho các Ông.

19) Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Tôn giả Ananda

hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

II. Phẩm Nàlanda

11. I. Ðại Nhân (Tạp 24,12, Ðại 2,172a)

(S.v,158)#

1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

2) Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn...

Ngồi một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:

3) -- "Ðại nhân, đại nhân", bạch Thế Tôn,

được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn,

được gọi là đại nhân?

-- Với tâm giải thoát, này Sàriputta, Ta gọi là

đại nhân. Không có tâm giải thoát, Ta không gọi là đại nhân. Và này

Sàriputta, thế nào là tâm giải thoát?

4) Ở đây, này Sàriputta, một Tỷ-kheo trú, quán

thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham

ưu ở đời. Khi vị ấy trú, quán thân trên thân, tâm được ly tham, được

giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ;... trú, quán thọ trên

các thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú, quán pháp trên các pháp,

nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Khi

vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, tâm được ly tham, được giải thoát

khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

5) Như vậy, này Sàriputta, là tâm giải thoát. Với tâm

giải thoát, này Sàriputta, Ta gọi là đại nhân. Không có tâm giải thoát,

Ta không gọi là đại nhân.

12. II. Nàlanda (Tạp 18,9 Ðại 2,130c) (S.v,159)

1) Một thời, Thế Tôn trú ở Nàlanda, tại rừng

Pavàrikamba.

2) Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn...

Ngồi một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:

3) -- Như vậy, bạch Thế Tôn, là lòng tịnh tín của

con đối với Thế Tôn. Không thể đã có, không thể sẽ có, không

thể hiện có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác có thể vĩ đại

hơn, thắng trí hơn Thế Tôn về Chánh giác.

-- Thật là đại ngôn (ulàra), này Sàriputta, là lời

tuyên bố như con ngưu vương này của Ông, lời tuyên bố một chiều,

tiếng rống của con sư tử: "Như vậy là lòng tịnh tín của con đối

với Thế Tôn. Không thể đã có, không thể sẽ có, không thể

hiện có một Sa-môn hay một Bà-la-môn nào khác, có thể vĩ đại hơn,

thắng trí hơn Thế Tôn về Chánh giác".

4) Này Sàriputta, đối với các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng

Giác trong thời quá khứ, tất cả các vị Thế Tôn ấy, Ông có thể

biết rõ tâm niệm với tâm của Ông rằng: "Các bậc Thế Tôn ấy

đã có giới đức như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy đã có pháp như vậy. Các

bậc Thế Tôn ấy đã có tuệ như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy đã có

hạnh trú như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy đã giải thoát như vậy"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

5) -- Này Sàriputta, đối với các vị A-la-hán, Chánh

Ðẳng Giác trong thời vị lai, tất cả các vị Thế Tôn ấy, Ông có thể

biết rõ tâm niệm với tâm của Ông: "Các bậc Thế Tôn ấy sẽ

có giới đức như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy sẽ có pháp như vậy. Các bậc

Thế Tôn ấy sẽ có tuệ như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy sẽ có hạnh

trú như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy sẽ giải thoát như vậy"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

6) -- Này Sàriputta, đối với các vị A-la-hán, Chánh

Ðẳng Giác trong thời hiện tại, tất cả các bậc Thế Tôn ấy, Ông có

thể biết rõ tâm niệm với tâm của Ông rằng: "Các bậc Thế

Tôn ấy hiện có giới đức như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy hiện có

pháp như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy hiện có tuệ như vậy. Các bậc

Thế Tôn ấy hiện có hạnh trú như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy

hiện có giải thoát như vậy"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

7) -- Và này Sàriputta, ở đây, Ông không có chánh trí

với tâm của Ông biết được tâm của các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác,

quá khứ, vị lai, hiện tại; thời này Sàriputta, do ý nghĩa gì Ông lại

thốt ra lời đại ngôn, lời tuyên bố như con ngưu vương, lời tuyên bố một

chiều, tiếng rống tiếng con sư tử của Ông rằng: "Như vậy là

lòng tịnh tín của con đối với Thế Tôn. Không thể đã có, không

thể sẽ có, không thể hiện có một Sa-môn, hay Bà-la-môn nào khác,

có thể vĩ đại hơn, thắng trí hơn Thế Tôn về Chánh giác"?

-- Bạch Thế Tôn, con không có chánh trí với tâm

của con biết được tâm các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quá khứ, vị

lai, hiện tại, nhưng bạch Thế Tôn, con biết được pháp truyền

thống (dhammanvayo).

8) Ví như, bạch Thế Tôn, tại một thành ở biên

giới, với những hào lũy kiên cố, vững chắc, với những thành quách, tháp canh

kiên cố và chỉ có một cửa ra vào. Tại đấy, có một người gác cửa sáng

suốt, thông minh, có trí, không cho vào những người lạ mặt, chỉ cho vào

những người quen mặt. Trong khi người ấy đi tuần đến con đường xung

quanh thành trì ấy để xem, không thấy có một khe hở ở tường nào, hay

lỗ hổng ở tường nào, cho đến một con mèo có thể lọt qua

được. Và người ấy suy nghĩ rằng: "Có những sinh loại thô lớn nào đi

vào hay đi ra ngôi thành này, tất cả phải đi vào hay đi ra cửa này".

Như vậy, bạch Thế Tôn, là pháp truyền thống mà con được biết.

9) Bạch Thế Tôn, phàm có những bậc A-la-hán, Chánh

Ðẳng Giác nào trong thời quá khứ, tất cả bậc Thế Tôn ấy, sau khi đoạn

tận năm triền cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu kém trí

tuệ, sau khi khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, sau khi như thật tu tập

bảy giác chi, đã chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bạch Thế

Tôn, phàm có những bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nào trong thời vị lai, tất

cả các bậc Thế Tôn ấy, sau khi đoạn tận năm triền cái, các pháp làm

uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, sau khi khéo an trú tâm trên

bốn niệm xứ, sau khi như thật tu tập bảy giác chi, sẽ chứng ngộ vô

thượng Chánh đẳng Chánh giác. Còn Thế Tôn, bạch Thế Tôn, là bậc

A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp

làm uế nhiễm tâm, làm yếu kém trí tuệ, sau khi khéo an trú tâm

trên bốn niệm xứ, sau khi như thật tu tập bảy giác chi, chứng ngộ vô

thượng Chánh đẳng giác.

10) -- Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Ông hãy luôn

luôn thuyết pháp thoại này cho các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, các nam cư

sĩ, các nữ cư sĩ. Này Sàriputta, nếu có những người ngu si nào còn có

những nghi ngờ, hay những do dự đối với Như Lai sau khi nghe pháp thoại này

của Ta, sự nghi ngờ, do dự ấy của họ đối với Như Lai sẽ trừ diệt.

13. III. Cunda (Tạp 24,39, Ðại 2,176b) (S.v,161)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Thắng Lâm,

khu vườn của ông Cấp Cô Ðộc.

2) Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta trú ở Magadha, tại

làng Nàla, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Và Sa-di Cunda là thị

giả của Tôn giả Sàriputta.

3) Tôn giả nhập Niết-bàn vì bệnh ấy.

4) Rồi Sa-di Cunda cầm lấy y bát của Tôn giả Sàriputta

đi đến Sàvatthi, Thắng Lâm, tại khu vườn của ông Cấp Cô Ðộc, đi

đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda, rồi ngồi

xuống một bên. .. Ngồi một bên, Sa-di Cunda nói với Tôn giả Ananda:

-- Bạch Thượng tọa, Tôn giả Sàriputta đã mệnh

chung. Ðây là y bát của vị ấy.

5) -- Này Hiền giả Cunda, đây là lý do để

đến yết kiến Thế Tôn. Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi

đến Thế Tôn; sau khi đến, chúng ta hãy báo tin này cho Thế

Tôn.

-- Thưa vâng, Thượng tọa.

Sa-di Cunda vâng đáp Tôn giả Ananda.

6) Rồi Tôn giả Ananda và Sa-di Cunda đi đến Thế

Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một

bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, Sa-di Cunda này thưa như sau:

"Bạch Thượng tọa, Tôn giả Sàriputta đã mệnh chung. Ðây là y và

bát của vị ấy". Bạch Thế Tôn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau

sậy (bàng hoàng) (madhurakajato). Các phương hướng không hiện ra rõ ràng

đối với con. Pháp sẽ không được giảng cho con, khi con nghe tin Tôn giả

Sàriputta đã mệnh chung.

7) -- Này Ananda, Sàriputta có đem theo giới uẩn khi

mệnh chung? Có đem theo định uẩn khi mệnh chung? Có đem theo tuệ

uẩn khi mệnh chung? Có đem theo giải thoát uẩn khi mệnh chung? Có đem

theo giải thoát tri kiến khi mệnh chung không?

-- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta không đem theo

giới uẩn khi mệnh chung, không đem theo định uẩn khi mệnh chung, không

đem theo tuệ uẩn khi mệnh chung, không đem theo giải thoát uẩn khi

mệnh chung, không đem theo giải thoát tri kiến khi mệnh chung. Nhưng

bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta là vị giáo giới cho con, là vị đã vượt

qua (bộc lưu), là bậc giáo thọ, là vị khai thị, khích lệ, làm cho

phấn khởi, làm cho hoan hỷ, là vị thuyết pháp không biết mệt

mỏi, là vị hộ trì cho các đồng Phạm hạnh. Chúng con đều ức niệm

rằng Tôn giả Sàriputta là tinh ba của pháp (dhammojam), là tài sản của pháp

(dhammabhogam), là hộ trì của pháp.

8) -- Này Ananda, có phải trước đây Ta đã từng tuyên

bố với Ông rằng mọi pháp khả ái, khả ý đều có tánh chất khác

biệt, có tánh chất ly tán, có tánh chất đổi khác? Làm sao, này Ananda, ở

đây, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: "Mong rằng cái

gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại

có thể không bị diệt hoại!"? Sự kiện như vậy không xảy ra.

9) Ví như, này Ananda, từ một cây lớn mọc thẳng,

có lõi cây, một cành cây lớn bị gãy đổ. Cũng vậy, này Ananda, từ nơi

chúng Tỷ-kheo đứng thẳng, có lõi cây, Sàriputta bị mệnh chung. Làm

sao, này Ananda, ở đây, lời ước nguyền này có thể thành tựu được:

"Mong sao cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị

diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!"? Sự kiện như

vậy không xảy ra.

10) Do vậy, này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho

chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác.

Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa,

chớ nương tựa một điều gì khác. Này Ananda, thế nào là Tỷ-kheo

tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình,

không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn,

dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì

khác?

11) Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo trú, quán thân

trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở

đời... trú, quán thọ trên các thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú,

quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp

phục tham ưu ở đời. Như vậy, này Ananda, Tỷ-kheo tự mình là ngọn

đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì

khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương

tựa, không nương tựa một điều gì khác.

12) Này Ananda, những ai hiện nay, hay sau khi Ta

diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa

chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm

ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một

điều gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong

hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.

14. IV. Celam (Tạp 24, 40, Ðại 2,177a) (S.v,163)

1) Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Vajjii, tại

Ukkacelà, trên bờ sông Hằng, với đại chúng Tỷ-kheo, sau khi Tôn giả

Sàriputta và Tôn giả Moggalàna mệnh chung không bao lâu.

2) Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, xung

quanh có chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Rồi Thế Tôn, sau khi nhìn quanh chúng

Tỷ-kheo im lặng, liền nói với các Tỷ-kheo:

3) -- Này các Tỷ-kheo, chúng này của Ta được xem

hình như trống không. Nay Sàriputta và Moggalàna đã mệnh chung, này các

Tỷ-kheo, chúng của Ta thành trống không. Phương hướng nào Sàriputta và

Moggalàna trú, phương hướng ấy không còn có ước vọng gì (anapekkhà).

4) Này các Tỷ-kheo, các bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng

Giác trong thời quá khứ, các vị Thế Tôn ấy đã có một cặp đệ tử

tối thắng như Ta có Sàriputta và Moggalàna. Này các Tỷ-kheo, các bậc

A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nào trong đời vị lai, những bậc Thế Tôn ấy sẽ

có một cặp đệ tử tối thắng như Ta có Sàriputta và Moggalàna.

5) Thật là vi diệu thay về các đệ tử, này

các Tỷ-kheo! Thật hy hữu thay về các đệ tử, này các Tỷ-kheo!

Họ thực hành những lời dạy của đức Bổn sư. Họ làm trách nhiệm

giáo giới. Họ được bốn chúng ái kính, khả ý, khả kính, quý

mến. Thật vi diệu thay, này các Tỷ-kheo, về Như Lai! Thật hy hữu

thay, này các Tỷ-kheo, về Như Lai! Trong khi cặp đệ tử như vậy

mệnh chung, Như Lai không có sầu buồn, hay không có than khóc. Làm sao, này

Ananda, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: "Mong sao cái

gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại

có thể không bị diệt hoại!"? Sự kiện như vậy không xảy ra.

6) Ví như, này các Tỷ-kheo, từ một cây lớn mọc

thẳng, có lõi cây, những cành cây lớn hơn bị gãy đỗ. Cũng vậy, này

các Tỷ-kheo, từ nơi đại chúng Tỷ-kheo đứng thẳng, có lõi cây,

Sàriputta và Moggalàna bị mệnh chung. Làm sao, này các Tỷ-kheo, ở đây,

lời ước nguyền này có thể thành tựu được: "Mong sao cái gì

được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có

thể không bị diệt hoại!"? Sự kiện như vậy không thể xảy

ra.

7) Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy tự mình là ngọn

đèn cho chính mình... (như trên số 10, kinh trước)...

8) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú,

quán thân trên thân... không nương tựa một ai khác.

9) Này các Tỷ-kheo, những ai hiện nay, hay sau khi

Ta diệt độ... nếu những vị ấy thiết tha học hỏi.

15. V. Bàhiya, hay Bàhika (Tạp 24,24, Ðại 2,175a)

(S.v,165)#

1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

2) Rồi Tôn giả Bàhiya đi đến Thế Tôn; sau khi

đến... Ngồi một bên, Tôn giả Bàhiya bạch Thế Tôn:

-- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn

thuyết pháp vắn tắt cho con. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ

sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

-- Như vậy, này Bàhiya, hãy làm cho thanh tịnh các pháp

căn bản trong các thiện pháp. Thế nào là các pháp căn bản trong các

thiện pháp? -- Giới khéo thanh tịnh và tri kiến chánh trực.

3) Và này Bàhiya, khi nào Ông có giới khéo thanh tịnh,

và tri kiến chánh trực; rồi này Bàhiya, y cứ vào giới, an trú vào giới,

Ông hãy tu tập bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?

4) Ở đây, này Bàhiya, Ông hãy trú, quán thân trên

thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.

Hãy trú, quán thọ trên các thọ... Hãy trú, quán tâm trên tâm... Hãy

trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Khi nào, này Bàhiya, y cứ vào giới, an trú vào

giới, Ông tu tập như vậy bốn niệm xứ này. Do vậy, này Bàhiya, ban đêm

hay bàn ngày, chờ đợi là các thiện pháp tăng trưởng, không phải tổn

giảm.

5) Rồi Tôn giả Bàhiya hoan hỷ, tín thọ lời

Thế Tôn dạy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi

ra đi.

6) Rồi Tôn giả Bàhiya sống một mình, an tịnh, không

phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu chứng được mục đích mà

người thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia

đình: Chính là vô thượng Phạm hạnh, ngay trong hiện tại, vị ấy tự mình

chứng ngộ với thượng trí, chứng đạt và an trú. Vị ấy rõ biết:

"Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm,

không còn trở lui trạng thái này nữa".

7) Rồi Tôn giả Bàhiya trở thành một vị A-la-hán nữa.

16. VI. Uttiya (Tạp 24,22, Ðại 2,174c) (S.v,166)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

2-4) Rồi Tôn giả Uttiya đi đến Thế Tôn; sau khi

đến...

--. .. Do vậy, này Uttiya, Ông sẽ vượt khỏi giới vức

của tử ma.

5-7) Rồi Tôn giả Uttiya trở thành một vị A-la-hán nữa.

17. VII. Bậc Thánh (Tạp 24,23, Ðại 2,176a) (S.v,166)

1) Ở Sàvatthi...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn niệm xứ này

được tu tập, được làm cho sung mãn, là những Thánh dẫn đạo, dắt dẫn

những ai thực hành theo, đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Thế

nào là bốn?

3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú,

quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục

tham ưu ở đời... trú, quán thọ trên các thọ... trú, quán tâm trên

tâm... trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.

4) Này các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ này được tu

tập, được làm cho sung mãn, là những Thánh dẫn đạo, dắt dẫn những ai thực

hành theo, đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau.

18. VIII. Phạm Thiên (Tạp 44,12, Ðại 2,322a;

24.3,171a; 410b; 494a) (S.v,167)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Uruvelà, trên bờ sông

Neranjarà, tại cây bàng ajapàla, sau khi mới giác ngộ.

2) Trong khi Thế Tôn độc cư Thiền tịnh, tâm

niệm tư tưởng như sau được khởi lên: "Ðây là con đường độc

nhất đưa đến thanh tịnh cho các chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt

khổ đau, chứng đạt chánh lý (nàya), chứng ngộ Niết-bàn. Tức là bốn

niệm xứ". Thế nào là bốn?

3) -- Này Tỷ-kheo, hãy trú, quán thân trên thân,

nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời...

trú, quán thọ trên các thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú, quán

pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục

tham ở đời. Ðây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho các

chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng

ngộ Niết-bàn. Tức là bốn niệm xứ.

4) Rồi Phạm thiên Sahampati với tâm của mình biết

được tâm ý Thế Tôn, ví như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co

lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, vị ấy biến mất ở

Phạm thiên giới, hiện ra trước mặt Thế Tôn. Rồi Phạm thiên Sahampati

đắp thượng y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch

Thế Tôn:

5) -- Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là

phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, đây là con đường độc nhất

đưa đến thanh tịnh cho các chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu,

chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn. Tức là bốn niệm xứ.

Thế nào là bốn? Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân,

nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.

Tỷ-kheo trú, quán thọ trên các cảm thọ... Tỷ-kheo trú, quán

tâm trên tâm... Tỷ-kheo trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh

giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Bạch Thế Tôn, đây

là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho các chúng sanh, vượt qua

sầu bi, chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn.

Tức là bốn niệm xứ.

6) Phạm thiên Sahampati thuyết như vậy. Nói như vậy

xong, Phạm thiên Sahampati lại nói thêm:

Thấy con đường độc nhất,

Ðưa đến đoạn tận sanh.

Bậc lân mẫn chúng sanh,

Biết được con đường ấy.

Chính với con đường này,

Trước đã từng vượt qua,

Tương lai sẽ vượt qua,

Nay vượt khỏi bộc lưu.

19. IX. Sedaka, hay Ekantaka (Tạp 24,17, Ðại 2,173b)

(S.v,168)#

1) Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sumbha,

tại Desakà, một thị trấn của dân chúng Sumbhà.

2) Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và

bảo:

-- Thuở trước, này các Tỷ-kheo, một người nhào

lộn với cây tre, sau khi dựng lên một cây tre, liền bảo người đệ tử

tên là Medakathàlikà: "Này Medakathàlikà, hãy đến, leo lên cây tre

và đứng trên vai ta" -- "Thưa thầy, vâng". Này các Tỷ-kheo,

đệ tử Medakathàlikà vâng đáp người nhào lộn trên cây tre, leo lên cây

tre và đứng trên vai của thầy.

3) Rồi này các Tỷ-kheo, người nhào lộn trên cây

tre nói với đệ tử Medakathàlikà: "Này Medakathàlikà, Ông hộ trì cho

ta và ta sẽ hộ trì cho Ông. Như vậy, chúng ta nhờ che chở cho nhau, nhờ hộ

trì cho nhau, trình bày các tiết mục, thâu hoạch được lợi tức và leo

xuống cây tre một cách an toàn".

4) Khi được nghe nói vậy, này các Tỷ-kheo, đệ

tử Medakathàlikà nói với người nhào lộn trên cây tre: "Thưa thầy, không

nên như vậy. Thưa thầy, nên như vầy: Thầy nên hộ trì tự ngã thầy và con

sẽ hộ trì tự ngã con. Như vậy, chúng ta tự che chở cho mình, tự hộ trì cho

mình, trình bày các tiết mục, thâu hoạch được lợi ích, và leo xuống

cây tre một cách an toàn. Ðây là chánh lý (nàyo) cần phải làm".

5) Thế Tôn nói:

-- Này các Tỷ-kheo, như đệ tử Medakathàlikà

đã nói với thầy của ông ấy: "Tôi sẽ hộ trì cho mình", tức là

niệm xứ cần phải thực hành. Này các Tỷ-kheo, "Chúng ta sẽ hộ trì

người khác", tức là niệm xứ cần phải thực hành. Trong khi hộ trì cho

mình, này các Tỷ-kheo, là hộ trì người khác. Trong khi hộ trì người

khác, là hộ trì cho mình.

6) Và này các Tỷ-kheo, thế nào trong khi hộ trì

cho mình, là hộ trì người khác? Chính do sự thực hành (àsevanàya), do sự tu

tập (bhàvanàya), do sự làm cho sung mãn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, trong

khi hộ trì cho mình, là hộ trì người khác.

7) Và này các Tỷ-kheo, thế nào trong khi hộ trì

người khác, là hộ trì cho mình? Chính do sự kham nhẫn, do sự vô hại, do lòng

từ, do lòng ai mẫn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi hộ trì người

khác, là hộ trì cho mình.

8) Này các Tỷ-kheo, "Tôi sẽ hộ trì cho

mình", tức là niệm xứ cần phải thực hành. Này các Tỷ-kheo,

"Tôi sẽ hộ trì người khác", tức là niệm xứ cần phải thực

hành. Trong khi hộ trì cho mình, này các Tỷ-kheo, là hộ trì người khác.

Trong khi hộ trì người khác, là hộ trì cho mình.

20. X. Quốc Ðộ (hay Ekantaka) (Tạp 24,21, Ðại

2,174b) (S.v,169)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Sumbha, tại

một thị trấn của dân chúng Sumbha tên là Sedaka.

2) Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo...

3) -- Ví như một số đông quần chúng, này các

Tỷ-kheo, tụ họp lại và nói: "Cô gái hoa hậu của quốc độ. Cô

gái hoa hậu của quốc độ!". Và người con gái hoa hậu quốc độ ấy với

tất cả sự quyến rủ của mình, múa cho họ xem, với tất cả sự

quyến rủ của mình, hát cho họ nghe. Và một số quần chúng còn đông

hơn tụ họp lại và nói: "Cô gái hoa hậu của quốc độ múa và

hát". Rồi một người đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc,

ghét khổ, họ nói với người ấy như sau: "Này Ông, hãy xem đây. Ðây

là cái bát đầy dầu. Ông hãy mang bát dầu ấy và đi vòng quanh đám quần

chúng lớn và người con gái hoa hậu của quốc độ. Và một người với cây

kiếm giơ cao sẽ đi theo sau lưng Ông. Tại chỗ nào làm đổ một ít

dầu, tại chỗ ấy, đầu Ông bị rơi xuống". Các Ông nghĩ thế nào,

này các Tỷ-kheo, người ấy có thể không tác ý đến bát dầu,

phóng tâm hướng ngoại không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

4) -- Ví dụ này, này các Tỷ-kheo, Ta nói ra để

nêu rõ ý nghĩa. Và đây là ý nghĩa của nó. Này các Tỷ-kheo, cái

bát đầy dầu là đồng nghĩa với thân hành niệm.

5) Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải

học tập như sau: "Chúng ta sẽ tu tập thân hành niệm, làm cho sung

mãn, làm cho như thành cỗ xe, làm cho như thành đất nền, làm cho

tiếp tục an trú, làm cho tích tập, làm cho khéo có hiệu năng

(susamàraddhà)". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học

tập.