Kinh Tương Ưng Bộ · Saṃyutta Nikāya

[46] Chương II — Tương Ưng Giác Chi (b)

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Tương Ưng Bộ

Kinh Trung Bộ · Bài 5

[46] Chương II — Tương Ưng Giác Chi (b)#

Tập V - Thiên Ðại Phẩm

Tương Ưng Bộ -

Samyutta Nikaya

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Tập V - Thiên Ðại Phẩm

[46] Chương II

Tương Ưng Giác Chi (b)

-ooOoo-

V. Phẩm Chuyển Luân

41.I. Các Kiêu Mạn (Vidhà)

(Tạp 27, 19, Ðại 2, 196a) (S.v,98)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi...

2) -- Các Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, trong

thời quá khứ, đã đoạn tận ba kiêu mạn (vidhà); tất cả những vị ấy

đều nhờ tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi. Các Sa-môn hay Bà-la-môn

nào, này các Tỷ-kheo, trong tương lai, sẽ đoạn tận ba kiêu mạn; tất cả

những vị ấy đều nhờ tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi. Các Sa-môn

hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, trong thời hiện tại, đoạn tận ba

kiêu mạn này; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập và làm cho sung mãn

bảy giác chi này.

3) Thế nào là bảy giác chi? Niệm giác chi... Xả giác chi.

4) Các Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, trong thời

quá khứ, đã đoạn tận ba kiêu mạn; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập

và làm cho sung mãn bảy giác chi này.

42.II. Chuyển Luân (Tạp 27, 10. Ðại 2, 194a) (S.v,99)

1) ...

2) -- Cùng với sự xuất hiện của vua Chuyển luân, này các

Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của bảy báu. Thế nào là bảy?

3) Sự xuất hiện của bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, châu

ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu, sự xuất hiện của tướng quân báu. Cùng

với sự xuất hiện của vua Chuyển luân, này các Tỷ-kheo, là sự xuất

hiện của bảy báu này.

4) Cùng với sự xuất hiện của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh

Ðẳng Giác, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của bảy báu giác chi.

Thế nào là bảy?

5) Niệm giác chi báu xuất hiện... Xả giác chi báu xuất

hiện. Cùng với sự xuất hiện của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng

Giác, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của bảy giác chi báu này.

43.III. Màra (S.v,99)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông con đường

đưa đến chinh phục Ma quân. Hãy lắng nghe.

3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa

đến chinh phục Ma quân? Tức là bảy giác chi. Thế nào là bảy? Niệm

giác chi... Xả giác chi. Ðây là con đường, này các Tỷ-kheo, đưa

đến chinh phục Ma quân.

44.IV. Liệt Tuệ (Duppanna) (S.v,99)

1) ...

2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi

đến... ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn :

3) -- "Kẻ liệt tuệ ngu đần, kẻ liệt tuệ ngu

đần", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như

thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là liệt tuệ ngu đần?

4) -- Do bảy giác chi không được tu tập, không được làm cho

sung mãn, này Tỷ-kheo, nên được gọi là liệt tuệ ngu đần.

Thế nào là bảy? Niệm giác chi... Xả giác chi.

5) Này các Tỷ-kheo, chính do bảy giác chi này không được tu

tập, không được làm cho sung mãn, nên được gọi là liệt tuệ ngu

đần.

45.V. Có Trí Tuệ (S.v,100)

1-2) ...

3) -- "Có trí tuệ không ngu đần, có trí tuệ không

ngu đần", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như

thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là có trí tuệ không ngu

đần?

4) -- Do tu tập, do làm cho sung mãn bảy giác chi, này các

Tỷ-kheo, được gọi là có trí tuệ không ngu đần. Thế nào là

bảy giác chi này? Niệm giác chi... Xả giác chi.

5) Do tu tập, do làm cho sung mãn bảy giác chi này, này các

Tỷ-kheo, được gọi là có trí tuệ không ngu đần.

46.VI. Bần Cùng (Daliddo) (S.v,100)

1-2) ...

3) -- "Bần cùng, bần cùng", bạch Thế Tôn, được

gọi là như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được

gọi là bần cùng?

4) -- Do không tu tập, do không làm cho sung mãn bảy giác chi, nên

được gọi là bần cùng. Thế nào là bảy? Niệm giác chi... Xả giác

chi.

5) Do không tu tập, không làm cho sung mãn bảy giác chi này, này

Tỷ-kheo, được gọi là bần cùng.

47.VII. Không Bần Cùng (S.v,100)

1-2) ...

3) -- "Không bần cùng, không bần cùng", bạch Thế

Tôn, được gọi là như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế

Tôn, được gọi là không bần cùng?

4) -- Do tu tập, do làm cho sung mãn bảy giác chi, này Tỷ-kheo,

được gọi là không bần cùng. Thế nào là bảy? Niệm giác chi... Xả

giác chi.

5) Chính do tu tập, làm cho sung mãn bảy giác chi này nên được

gọi là không bần cùng.

48.VIII. Mặt Trời (S.v,101)

1) ...

2) -- Cái này là điềm đi trước, này các Tỷ-kheo, cái

này là tướng báo trước mặt trời mọc, tức là rạng đông. Cũng vậy, này

các Tỷ-kheo, cái này là điềm đi trước, cái này là tướng báo

trước bảy giác chi sanh khởi, tức là làm bạn với thiện (kalyànamittatà).

3) Tỷ-kheo làm bạn với thiện, này các Tỷ-kheo, được

chờ đợi rằng bảy giác chi sẽ được tu tập, bảy giác chi sẽ được làm cho

sung mãn. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo làm bạn với

thiện, được tu tập bảy giác chi, được làm cho sung mãn bảy giác chi?

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm

giác chi liên hệ đến viễn ly... tu tập xả giác chi liên hệ

đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn

diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo

làm bạn với thiện, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.

49.IX. Chi Phần (1) (Tạp 27, 20, Ðại 2, 196a) (S.v,101)

1) ...

2) -- Sau khi làm thành nội chi phần, này các Tỷ-kheo, Ta

không quán thấy một phần nào khác khiến bảy giác chi được sanh khởi,

này các Tỷ-kheo, thành phần ấy tức là như lý tác ý.

3) Với Tỷ-kheo thành tựu như lý tác ý này, này các

Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng bảy giác chi được tu tập, được làm cho

sung mãn. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thành tựu như

lý tác ý này, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi?

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm

giác chi liên hệ đến viễn ly... tu tập xả giác chi liên hệ

đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn

diệt, hướng đến từ bỏ.

5) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo làm bạn với

thiện, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.

50.X. Chi Phần (2) (S.v,102)

1) ...

2) -- Sau khi làm thành ngoại chi phần, này các Tỷ-kheo, Ta

không quán thấy một chi phần nào khác khiến bảy giác chi được sanh khởi,

này các Tỷ-kheo, chi phần ấy tức làm bạn với thiện.

3) Với Tỷ-kheo làm bạn với thiện, này các Tỷ-kheo,

được chờ đợi rằng bảy giác chi được tu tập, được làm cho sung mãn. Và

này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo làm bạn với thiện, tu tập

bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi?

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm

giác chi liên hệ đến viễn ly... tu tập xả giác chi liên hệ

đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn

diệt, hướng đến từ bỏ.

5) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo làm bạn với

thiện, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.

VI. Phẩm Tổng Nhiếp Giác Chi

1) Tất cả nhân duyên ở Sàvatthi...

51.I. Ðồ Ăn (Tạp 27, 4, Ðại 2, 192a) (S.v,102)

1) ...

2) -- Ta sẽ giảng cho các Ông, này các Tỷ-kheo, các món ăn

và không phải món ăn của năm triền cái và bảy giác chi. Hãy lắng nghe.

I. Món Ăn Của Các Triền Cái

1-2) ...

3) -- Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho dục

tham (kàmacchanda) chưa sanh được sanh khởi; hay dục tham đã sanh được tăng

trưởng, quảng đại? Có tịnh tướng, này các Tỷ-kheo. Ở đây, nếu

phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món

ăn khiến cho dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh

được tăng trưởng, quảng đại.

4) Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho sân

chưa sanh được sanh khởi; hay sân đã sanh được tăng trưởng, quảng đại?

Có chướng ngại tướng (patighanimittam), này các Tỷ-kheo. Ở đây,

nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này

là món ăn khiến cho sân chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được

tăng trưởng, quảng đại.

5) Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho hôn

trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi; hay hôn trầm thụy miên đã sanh

được tăng trưởng, quảng đại? Không hân hoan, biếng nhác, chán nản, ăn

quá no, tâm uể oải. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được

làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho hôn trầm thụy

miên chưa sanh được sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng

trưởng, quảng đại.

6) Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho trạo

hối chưa sanh được sanh khởi, hay trạo hối đã sanh được tăng trưởng,

quảng đại? Có tâm chưa được chỉ tịnh, này các Tỷ-kheo. Ở đây,

nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này

là món ăn khiến cho trạo hối chưa sanh được sanh khởi, hay trạo hối đã

sanh được tăng trưởng, quảng đại.

7) Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho nghi

hoặc chưa sanh được sanh khởi, hay nghi hoặc đã sanh được tăng trưởng,

quảng đại? Có các pháp trú xứ của nghi hoặc. Ở đây, nếu phi như

lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn

khiến cho nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi, hay nghi hoặc đã sanh được

tăng trưởng, quảng đại.

II. Món Ăn Cho Các Giác Chi

8) -- Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho

niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay niệm giác chi đã sanh

được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có các pháp trú

xứ cho niệm giác chi. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm

cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho niệm giác chi

chưa sanh được sanh khởi, hay niệm giác chi đã sanh được tu tập, làm cho

viên mãn.

9) Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho trạch

pháp giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay trạch pháp giác chi đã sanh

được tu tập, được làm cho viên mãn? Có những pháp thiện và bất

thiện, này các Tỷ-kheo, có những pháp có tội và không có tội, có

những pháp liệt và thắng, có những pháp dự phần đen và trắng. Ở

đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái

này là món ăn khiến cho trạch pháp giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay

trạch pháp giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.

10) Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho tinh

tấn giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay tinh tấn giác chi đã sanh được tu

tập, được làm cho viên mãn? Có phát cần giới, này các Tỷ-kheo, tinh cần

giới, dõng mãnh giới. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho

sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho tinh tấn giác chi chưa

sanh được sanh khởi, hay tinh tấn giác chi đã sanh được tu tập, được làm

cho viên mãn.

11) Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho

hỷ giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay hỷ giác chi đã sanh được

tu tập, được làm cho viên mãn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có những

pháp trú xứ cho hỷ giác chi. Ở đây, nếu như lý tác ý

được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho hỷ

giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay hỷ giác chi đã sanh được tu tập,

được làm cho viên mãn.

12) Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho khinh

an giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay khinh an giác chi đã sanh được tu

tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có thân khinh an, tâm khinh

an. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời

chính cái này là món ăn khiến cho khinh an giác chi chưa sanh được sanh

khởi, hay khinh an giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.

13) Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho

định giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay định giác chi đã sanh được tu

tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có tịnh chỉ tướng, bất

loạn tướng. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn,

thời chính cái này là món ăn khiến cho định giác chi chưa sanh được

sanh khởi, hay định giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.

14) Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho xả

giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay xả giác chi đã sanh được tu tập,

được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có các pháp trú xứ cho xả giác

chi. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời

chính cái này là món ăn khiến cho xả giác chi chưa sanh được sanh khởi,

hay xả giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.

III. Không Phải Món Ăn Cho Các Triền Cái

15) -- Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn

khiến cho dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được

tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có bất tịnh tướng. Ở

đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái

này không phải là món ăn khiến cho dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay

dục tham đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.

16) Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến

cho sân chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được tăng trưởng, quảng

đại? Này các Tỷ-kheo, có từ tâm giải thoát. Ở đây, nếu như

lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là

món ăn khiến cho sân chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được

tăng trưởng, quảng đại.

17) Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến

cho hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã

sanh được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có phát cần giới,

tinh cần giới, dõng mãnh giới. Ở đây, nếu như lý tác ý

được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến

cho hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã

sanh được tăng trưởng, quảng đại.

18) Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến

cho trạo hối chưa sanh được sanh khởi, hay trạo hối đã sanh được tăng

trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có tâm chỉ tịnh. Ở đây,

nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này

không phải là món ăn khiến cho trạo hối chưa sanh được sanh khởi, hay

trạo hối đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.

19) Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến

cho nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi, hay nghi hoặc đã sanh được tăng

trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có pháp thiện và bất thiện,

có pháp có tội và không có tội, có pháp liệt và thắng, có pháp dự

phần vào đen và trắng. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm

cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho nghi hoặc

chưa sanh được sanh khởi, hay nghi hoặc đã sanh được tăng trưởng, quảng

đại.

IV. Không Phải Là Món Ăn Cho Các Giác Chi

20) -- Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải là món ăn

khiến cho niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay niệm giác chi

đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có các

pháp trú xứ cho niệm giác chi. Ở đây, nếu phi như lý tác

ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải món ăn khiến

niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay niệm giác chi đã sanh

được tu tập, được làm cho viên mãn.

21) Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải là món ăn

khiến cho trạch pháp giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay trạch pháp

giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo,

có các pháp thiện và bất thiện, có tội và không có tội, liệt và

thắng, dự phần vào đen và trắng. Ở đây, nếu phi như lý tác

ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn

khiến cho trạch pháp giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay trạch pháp

giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.

22) Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải là món ăn

khiến cho tinh tấn giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay tinh tấn giác chi

đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có phát

cần giới, tinh cần giới, dõng mãnh giới. Ở đây, nếu phi như lý

tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn

khiến cho tinh tấn giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay tinh tấn giác chi

đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.

23) Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến

cho hỷ giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay hỷ giác chi đã sanh

được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có những pháp

trú xứ cho hỷ giác chi. Ở đây, nếu phi như lý tác ý

được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải món ăn khiến cho

hỷ giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay hỷ giác chi đã sanh được

tu tập, được làm cho viên mãn.

24) Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến

cho khinh an giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay khinh an giác chi đã sanh

được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có thân khinh an,

tâm khinh an. Ở đây, nếu phi như lý tác ý, làm cho sung mãn,

thời chính cái này không phải món ăn khiến cho khinh an giác chi chưa sanh

được sanh khởi, hay khinh an giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho

viên mãn.

25) Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến

cho định giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay định giác chi đã sanh được

tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có tịnh chỉ tướng, bất

loạn tướng. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung

mãn, thời chính cái này không phải món ăn khiến cho định giác chi chưa

sanh được sanh khởi, hay định giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho

viên mãn.

26) Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến

cho xả giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay xả giác chi đã sanh được tu

tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có các pháp trú xứ cho xả

giác chi. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn,

thời chính cái này không phải món ăn khiến cho xả giác chi chưa sanh

được sanh khởi, hay xả giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên

mãn.

52.II. Pháp Môn (Pariyàya) (Tạp 27, 4, Ðại 2, 192a) (S.v,108)

1) ...

2) Rồi một số đông Tỷ-kheo, vào buổi sáng, đắp y, mang y

bát đi vào Sàvatthi để khất thực.

3) Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ : "Nay còn quá sớm

để đi vào Sàvatthi khất thực, vậy chúng ta hãy đi đến khu vườn của

các du sĩ ngoại đạo".

4) Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến khu vườn của các du sĩ

ngoại đạo; sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo những lời chào

đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi

ngồi xuống một bên. Các du sĩ ngoại đạo nói với các Tỷ-kheo đang ngồi

một bên :

5) -- Này chư Hiền, Sa-môn Gotama có thuyết pháp như sau

cho các đệ tử : "Hãy đến, này các Tỷ-kheo, sau khi đoạn tận

năm triền cái là những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí

tuệ, hãy như thật tu tập bảy giác chi". Này chư Hiền, chúng tôi

cũng thuyết pháp như vậy cho các đệ tử : "Hãy đến, này chư

Hiền, sau khi đoạn tận năm triền cái là những pháp làm uế nhiễm

tâm, làm yếu ớt trí tuệ, hãy như thật tu tập bảy giác chi".

6) Ở đây, này chư Hiền, cái gì là đặc thù (viseso),

cái gì là thù thắng (abhippayo), cái gì là sai biệt giữa Sa-môn Gotama và

chúng tôi, tức là về thuyết pháp hay về giáo giới?

7) Rồi các Tỷ-kheo ấy không hoan hỷ, không bác bỏ lời

nói của các du sĩ ngoại đạo ấy; không hoan hỷ, không bác bỏ, từ chỗ

ngồi đứng dậy họ ra đi với ý nghĩ : "Chúng ta sẽ được biết

ý nghĩa lời nói này từ nơi Thế Tôn".

8) Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi đi khất thực ở Sàvatthi, sau

buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn;

sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

9) Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn :

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con, vào buổi sáng, đắp

y, cầm y bát và đi vào Sàvatthi để khất thực. Bạch Thế Tôn, rồi

chúng con suy nghĩ : "Nay còn quá sớm để đi vào Sàvatthi khất thực.

Vậy chúng ta hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo". Rồi, bạch

Thế Tôn, chúng con đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo; sau khi

đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo những lời chào đón hỏi thăm, sau

khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

Rồi bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với chúng con đang ngồi

một bên : "Này chư Hiền, Sa-môn Gotama thuyết pháp như sau... tức

là về thuyết pháp hay về giáo giới?"

10) Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con không tán thán, không bác

bỏ lời nói các du sĩ ngoại đạo ấy; không hoan hỷ, không bác bỏ, từ

chỗ ngồi đứng dậy chúng con ra đi với ý nghĩ : "Chúng ta sẽ

được hiểu lời nói này từ Thế Tôn".

11) -- Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải trả lời

với các du sĩ ngoại đạo như sau : "Này chư Hiền, có pháp môn nào,

do pháp môn ấy, năm triền cái được trở thành mười, bảy giác chi được

trở thành mười bốn?" Ðược đáp như vậy, này các Tỷ-kheo, các du

sĩ ngoại đạo sẽ không thể cắt nghĩa được, sẽ rơi vào khó khăn.

12) Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, vấn đề này vượt

ngoài giới vức của họ. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai ở Thiên

giới, thế giới này, ở Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng

Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể làm thỏa mãn tâm với

câu trả lời cho những câu hỏi này, ngoại trừ Như Lai, hay đệ tử Như Lai,

hay những ai được nghe từ hai vị ấy.

I. Năm Trở Thành Mười

13) -- Và này các Tỷ-kheo, pháp môn nào, do y cứ pháp môn

ấy, năm triền cái trở thành mười?

14) Cái gì thuộc nội dục tham, này các Tỷ-kheo, cái ấy là

triền cái. Cái gì thuộc ngoại dục tham, cái ấy là triền cái. Gọi

là dục tham triền cái là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên

thành hai.

15) Cái gì thuộc về nội sân, này các Tỷ-kheo, cái ấy

là triền cái. Cái gì thuộc ngoại sân, cái ấy là triền cái. Gọi

là sân triền cái là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành

hai.

16) Cái gì thuộc về nội hôn trầm thụy miên, này các

Tỷ-kheo, cái ấy là triền cái. Cái gì thuộc ngoại hôn trầm thụy miên,

cái ấy là triền cái. Gọi là hôn trầm thụy miên là có ý nghĩa

này. Chính do pháp môn này nên thành hai.

17) Cái gì thuộc nội trạo hối, này các Tỷ-kheo, cái ấy là

triền cái. Cái gì thuộc ngoại trạo hối, cái ấy là triền cái. Gọi

là trạo hối triền cái là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên

thành hai.

18) Cái gì thuộc về nội nghi hoặc, này các Tỷ-kheo, cái

ấy là triền cái. Cái gì thuộc ngoại nghi hoặc, cái ấy là triền cái.

Gọi là nghi hoặc triền cái là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn

này nên thành hai.

19) Này các Tỷ-kheo, chính là pháp môn này, do pháp môn

này, năm triền cái trở thành mười.

II. Bảy Trở Thành Mười Bốn

20) -- Và này các Tỷ-kheo, pháp môn nào, do y cứ pháp môn

ấy, bảy giác chi trở thành mười bốn?

21) Cái gì là niệm đối với nội pháp, này các Tỷ-kheo,

cái ấy là niệm giác chi. Cái gì là niệm đối với ngoại pháp, cái ấy

là niệm giác chi. Gọi là niệm giác chi là có ý nghĩa này.

Chính do pháp môn này nên thành hai.

22) Cái gì là quyết trạch, tư sát, quán sát với trí

tuệ đối với các nội pháp, này các Tỷ-kheo, cái ấy là trạch pháp

giác chi. Cái gì là quyết trạch, tư sát, quán sát đối với các ngoại

pháp, cái ấy là trạch pháp giác chi. Gọi là trạch pháp giác chi là có

ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.

23) Cái gì là thân tinh tấn, này các Tỷ-kheo, cái ấy là

tinh tấn giác chi. Cái gì là tâm tinh tấn, cái ấy là tinh tấn giác chi.

Gọi là tinh tấn giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này

nên thành hai.

24) Cái gì là hỷ có tầm, có tứ, này các Tỷ-kheo, cái

ấy là hỷ giác chi. Cái gì là hỷ không tầm, không tứ, cái ấy là

hỷ giác chi. Gọi là hỷ giác chi là có ý nghĩa này. Chính do

pháp môn này nên thành hai.

25) Cái gì là thân khinh an, này các Tỷ-kheo, cái ấy là

khinh an giác chi. Cái gì là tâm khinh an, cái ấy là khinh an giác chi. Gọi

là khinh an giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành

hai.

26) Cái gì là định có tầm, có tứ, này các Tỷ-kheo, cái

ấy là định giác chi. Cái gì là định không tầm, không tứ, cái ấy là định

giác chi. Gọi là định giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn

này nên thành hai.

27) Cái gì là xả đối với các nội pháp, này các Tỷ-kheo,

cái ấy là xả giác chi. Cái gì là xả đối với các ngoại pháp, cái ấy là

xả giác chi. Gọi là xả giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn

này nên thành hai.

28) Này các Tỷ-kheo, chính là pháp môn này, y cứ pháp môn

này, bảy giác chi trở thành mười bốn.

53.III. Lửa (Tạp 27,3, Ðại 2, 191c) (S.v,112)

1) ...

2) Rồi một số đông Tỷ-kheo, vào buổi sáng, đắp y cầm y

bát, đi vào Sàvatthi để khất thực.

3-10) ... (Giống như kinh Pháp Môn 52)

11) -- Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo

cần được trả lời như sau : "Này chư Hiền, khi tâm thụ động (linam),

trong khi ấy, tu tập giác chi nào là không phải thời, trong khi ấy, tu tập giác

chi nào là phải thời? Nhưng, này chư Hiền, trong khi tâm dao động

(uddhatam), trong khi ấy, tu tập giác chi nào là không phải thời, trong khi ấy,

tu tập giác chi nào là phải thời?" Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo,

các du sĩ ngoại đạo sẽ không thể cắt nghĩa được, sẽ rơi vào khó

khăn.

12) Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, vấn đề này vượt

ngoài giới vức của họ. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai ở Thiên

giới, thế giới này, ở Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng

Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể làm thỏa mãn tâm với

câu trả lời cho những câu hỏi này, ngoại trừ Như Lai, hay đệ tử Như Lai,

hay những ai được nghe từ hai vị ấy.

I. Phi Thời

13)-- Trong khi tâm thụ động, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy,

không phải thời là tu tập khinh an giác chi, không phải thời là tu tập định

giác chi, không phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Khi tâm thụ động,

này các Tỷ-kheo, thật khó làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.

14) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn đốt lên một

ngọn lửa nhỏ, người ấy ném vào đấy cỏ ướt, phân bò ướt, củi ướt,

để ngọn lửa ấy giữa mưa, gió và rắc bụi lên trên; người ấy có

thể nhen đỏ ngọn lửa nhỏ ấy không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong

khi ấy, không phải thời là tu tập khinh an giác chi, không phải thời là tu tập

định giác chi, không phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì rằng, khi

tâm thụ động, thật khó làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.

II. Phải Thời

15) -- Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong khi

ấy, phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, phải thời là tu tập tinh tấn

giác chi, phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các

Tỷ-kheo, khi tâm thụ động, thật dễ làm tâm phát khởi nhờ những pháp

này.

16) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn đốt lên một

ngọn lửa nhỏ, người ấy ném vào đấy cỏ khô, phân bò khô, củi khô,

dùng miệng thổi, không có rắc bụi lên trên; người ấy có thể nhen

đỏ ngọn lửa ấy không?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

-- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong

khi ấy, phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, phải thời là tu tập tinh tấn

giác chi, phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các

Tỷ-kheo, khi tâm thụ động, thật dễ làm tâm phát khởi nhờ những pháp

này.

III. Không Phải Thời

17) -- Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong khi

ấy, không phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, không phải thời là tu tập

tinh tấn giác chi, không phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng,

này các Tỷ-kheo, tâm dao động, thật khó được tịnh chỉ do những pháp

ấy.

18) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn dập tắt một

đống lửa lớn. Ở đây, người ấy ném vào cỏ khô, phân bò khô và củi

khô, lấy miệng thổi, và không rắc bụi lên trên. Người ấy có thể

dập tắt đống lửa lớn ấy không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, không

phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, không phải thời là tu tập tinh tấn

giác chi, không phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, tâm dao

động, thật không dễ được tịnh chỉ nhờ những pháp ấy.

IV. Phải Thời

19) -- Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong khi

ấy, phải thời là tu tập khinh an giác chi, phải thời là tu tập định giác chi,

phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì rằng, tâm dao động thật dễ

được tịnh chỉ nhờ những pháp này.

20) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người muốn dập tắt một

đống lửa lớn. Ở đây, người ấy ném vào cỏ ướt, ném vào phân bò

ướt, ném vào củi ướt, để giữa gió và mưa, và rắc bụi lên trên.

Người ấy có thể dập tắt ngọn lửa lớn ấy không?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

-- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong

khi ấy, phải thời là tu tập khinh an giác chi, phải thời là tu tập định giác

chi, phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì rằng, tâm dao động, thật dễ

được tịnh chỉ nhờ các pháp này.

21) Nhưng đối với niệm, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng

lợi ích trong mọi trường hợp.

54.IV. Từ (Tạp 27,32, Ðại 2, 197b) (S.v,115)

1) Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Koliya, tại thị

trấn của dân Koliya tên là Haliddavasana.

2) Rồi một số đông Tỷ-kheo, vào buổi sáng, đắp y cầm y,

bát đi vào Haliddavasana để khất thực.

3) Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ : "Thật là quá sớm

để đi vào Haliddavasana khất thực. Vậy, chúng ta hãy đi đến khu vườn

của các du sĩ ngoại đạo".

4) Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại

đạo; sau khi đến nói lên với những du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào

đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, họ

liền ngồi xuống một bên. Các du sĩ ngoại đạo ấy nói với các Tỷ-kheo

đang ngồi một bên:

5) -- Này chư Hiền, Sa-môn Gotama có thuyết pháp như sau

cho các đệ tử : "Hãy đến, này các Tỷ-kheo, sau khi đoạn tận

năm triền cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí

tuệ, hãy trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng

vậy, với phương thứ hai; cũng vậy, với phương thứ ba; cũng vậy, với phương

thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết

thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm

câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân... với tâm câu

hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... với tâm câu hữu với xả; cũng

vậy, với phương thứ hai; cũng vậy, với phương thứ ba; cũng vậy, với phương

thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết

thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm

câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân".

6) Này chư Hiền, chúng tôi cũng thuyết pháp cho các

đệ tử như sau : "Hãy đến, này chư Hiền, sau khi đoạn tận

năm triền cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí

tuệ, hãy trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ... với

tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... với tâm câu hữu với

xả... không hận, không sân".

7) Ở đây, này chư Hiền, cái gì là đặc thù, cái gì

là thù thắng, cái gì là sai biệt giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi, tức là

về thuyết pháp hay về giáo giới?

Rồi các Tỷ-kheo ấy không hoan hỷ, không bác bỏ lời nói

các du sĩ ngoại đạo ấy; không hoan hỷ, không bác bỏ, từ chỗ ngồi

đứng dậy, họ ra đi với ý nghĩ : "Chúng ta sẽ được biết

ý nghĩa lời nói này từ nơi Thế Tôn".

8) Rồi các Tỷ-kheo ấy sau khi đi khất thực ở Haliddavasana,

sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế

Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn :

9) -- Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con, vào buổi sáng,

đắp y cầm y bát đi vào Haliddavasana để khất thực. Rồi, bạch Thế

Tôn, chúng con suy nghĩ như sau : "Thật là quá sớm để đi vào

Haliddavasana khất thực. Vậy chúng ta hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại

đạo". Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con đi đến khu vườn các du sĩ

ngoại đạo... (như trên) ... Rồi chúng con, bạch Thế Tôn, không hoan

hỷ, không bác bỏ lời nói các du sĩ ngoại đạo ấy; không hoan hỷ,

không bác bỏ, từ chỗ ngồi đứng dậy, chúng con ra đi với ý nghĩ :

"Chúng ta sẽ được biết ý nghĩa lời nói này từ Thế

Tôn".

10) -- Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải nói với

các du sĩ ngoại đạo ấy như sau :

"Nhưng này chư Hiền, từ tâm giải thoát tu tập như

thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như

thế nào? Cứu cánh như thế nào? Và này chư Hiền, bi tâm giải

thoát tu tập như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như

thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế nào? Và này chư

Hiền, hỷ tâm giải thoát... xả tâm giải thoát tu tập như thế nào?

Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào?

Cứu cánh như thế nào? " Khi được hỏi như vậy, này các Tỷ-kheo,

các du sĩ ngoại đạo sẽ không thể cắt nghĩa được, sẽ rơi vào khó

khăn.

11) Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, vấn đề này vượt

ngoài giới vức của họ. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai ở Thiên

giới, thế giới này ở Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng

Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể làm thỏa mãn tâm với

câu trả lời cho những câu hỏi này, ngoại trừ Như Lai, hay đệ tử Như Lai,

hay những ai được nghe từ hai vị ấy.

12) Và này các Tỷ-kheo, từ tâm giải thoát tu tập như

thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như

thế nào? Cứu cánh như thế nào?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác

chi câu hữu với từ... tu tập xả giác chi câu hữu với từ, liên hệ

đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn

diệt, hướng đến từ bỏ. Nếu vị ấy muốn : "Ta sẽ trú với

tưởng ghê tởm đối với pháp không ghê tởm", vị ấy trú ở đây với

tưởng ghê tởm. Nếu vị ấy muốn : "Ta sẽ trú với tưởng không ghê

tởm đối với pháp ghê tởm", vị ấy trú ở đây với tưởng không ghê

tởm. Nếu vị ấy muốn: "Ta sẽ trú với tưởng ghê tởm đối với pháp

không ghê tởm và pháp ghê tởm", vị ấy trú ở đây với tưởng ghê tởm.

Nếu vị ấy muốn : "Ta sẽ trú với tưởng không ghê tởm đối với pháp

ghê tởm và pháp không ghê tởm", vị ấy trú ở đây với tưởng không ghê

tởm. Nếu vị ấy muốn : "Từ bỏ cả hai không ghê tởm và ghê tởm, ta

sẽ trú xả, chánh niệm tỉnh giác", vị ấy trú ở đây với xả, chánh

niệm tỉnh giác, hay đạt đến giải thoát được gọi là thanh tịnh,

vị ấy an trú. Này các Tỷ-kheo, từ tâm giải thoát là thanh tịnh tối

thượng, Ta tuyên bố như vậy. Ở đây là trí tuệ đối với Tỷ-kheo

không đạt tới giải thoát cao hơn.

13) Và này các Tỷ-kheo, bi tâm giải thoát tu tập như thế

nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế

nào? Cứu cánh như thế nào?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác

chi câu hữu với bi... tu tập xả giác chi câu hữu với bi liên hệ đến

viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt,

hướng đến từ bỏ. Nếu vị ấy muốn : "Ta sẽ trú với tưởng ghê

tởm đối với pháp không ghê tởm", vị ấy trú ở đây với tưởng ghê

tởm... Nếu vị ấy muốn : "Từ bỏ cả hai không ghê tởm và ghê tởm, ta

sẽ trú xả, chánh niệm tỉnh giác", vị ấy trú ở đây với xả, chánh

niệm tỉnh giác. Vượt qua một cách hoàn toàn các sắc tưởng, chấm dứt

các tưởng đối ngại, không tác ý các tưởng sai biệt, vị ấy nghĩ

rằng : "Hư không là vô biên", vị ấy đạt đến và trú Không vô

biên xứ. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng từ tâm giải thoát lấy Không vô

biên xứ làm tối thắng. Ở đây là trí tuệ của Tỷ-kheo không đạt

tới giải thoát cao hơn.

14) Và này các Tỷ-kheo, tu tập hỷ tâm giải thoát như

thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như

thế nào? Cứu cánh như thế nào?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác

chi câu hữu với hỷ... tu tập xả giác chi câu hữu với hỷ liên hệ

đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn

diệt, hướng đến từ bỏ. Nếu vị ấy muốn: "Ta sẽ trú với

tưởng ghê tởm đối với pháp không ghê tởm", vị ấy trú ở đây với

tưởng ghê tởm... Nếu vị ấy muốn: "Từ bỏ cả hai không ghê tởm và

ghê tởm, ta sẽ trú xả, chánh niệm tỉnh giác", vị ấy trú ở đây với

xả, chánh niệm tỉnh giác... Vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn

toàn, vị ấy nghĩ rằng: "Thức là vô biên", vị ấy đạt đến và

trú Thức vô biên xứ. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng hỷ tâm giải thoát

lấy Thức vô biên xứ làm tối thắng. Ở đây là trí tuệ của

Tỷ-kheo không đạt tơùi giải thoát cao hơn.

15) Và này các Tỷ-kheo, tu tập xả tâm giải thoát như

thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như

thế nào? Cứu cánh như thế nào?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác

chi câu hữu với xả... tu tập xả giác chi câu hữu với xả liên hệ đến

viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt,

hướng đến từ bỏ. Nếu vị ấy muốn: "Ta sẽ trú với tưởng ghê

tởm đối với pháp không ghê tởm", vị ấy trú ở đây với tưởng ghê

tởm. Nếu vị ấy muốn: "Ta sẽ trú với tưởng không ghê tởm đối với

pháp ghê tởm", vị ấy trú ở đây với tưởng không ghê tởm. Nếu vị

ấy muốn: "Ta sẽ trú với tưởng không ghê tởm đối với pháp ghê tởm và

pháp không ghê tởm", vị ấy trú ở đây với tưởng không ghê tởm.

Nếu vị ấy muốn: "Từ bỏ cả hai không ghê tởm và ghê tởm, ta sẽ trú

xả, chánh niệm tỉnh giác", vị ấy trú ở đây với xả, chánh niệm

tỉnh giác. Sau khi vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn với ý

nghĩ: "Không có vật gì", vị ấy chứng đạt và trú Vô sở hữu xứ. Ta

nói rằng, này các Tỷ-kheo, xả tâm giải thoát lấy Vô sở hữu xứ làm tối

thắng. Ở đây là trí tuệ của Tỷ-kheo không đạt tới giải thoát

cao hơn.

55. V. Sangàrava (S.v,121)

1) Sàvatthi...

2) Rồi Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn; sau khi

đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên

những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, vị ấy liền ngồi xuống một bên.

Ngồi một bên, Bà-la-môn Sangàrava thưa với Thế Tôn:

3) -- Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, có khi các

chú thuật (mantà) mà tôi học thuộc lòng lâu ngày (sajjhàyakatà:đọc

tụng) lại không nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được

học thuộc lòng? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, có khi các

chú thuật mà tôi không học thuộc lòng lâu ngày, lại nhớ đến được,

còn nói gì các chú thuật được học thuộc lòng?

I

4) -- Này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị dục tham (kàmaràga) xâm

chiếm, bị dục tham chi phối và không như thật rõ biết sự xuất ly khỏi

dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và

thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích

của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho

nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không nhớ đến

được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước trộn lẫn với thuốc nhuộm

gôm lắc, hay màu đỏ tía, hay màu xanh, hay màu vàng, và ở đây một người

có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, không có thể như thật biết

được, thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị dục

tham xâm chiếm, bị dục tham chi phối, không như thật rõ biết sự xuất

ly khỏi dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết

và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi

ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai.

Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không nhớ

đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.

5) Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị sân xâm

chiếm, bị sân chi phối, không như thật biết sự xuất ly khỏi sân đã

khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích

của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người;

trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các

chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến

được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước được lửa đun sôi, sôi

lên sùng sục, sôi lên cuồn cuộn. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm

mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này

Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị sân xâm chiếm... Cho nên, các chú

thuật được học thuộc lòng không thể nhớ đến được, còn nói gì

các chú thuật không được học thuộc lòng.

6) Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị hôn trầm thụy

miên xâm chiếm, bị hôn trầm thụy miên chi phối, không như thật biết

sự xuất ly ra khỏi hôn trầm thụy miên đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy

không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như

thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật

biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc

lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú

thuật không được học thuộc lòng.

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị rong rêu che phủ.

Ở đây, một người có mắt muốn ngắm khuôn mặt của mình, không thể

như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với

tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm... còn nói gì các chú thuật không

được học thuộc lòng.

7) Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị trạo hối xâm

chiếm, bị trạo hối chi phối, không như thật biết sự xuất ly khỏi trạo

hối đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy

lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của

người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên,

các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ

đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị gió thổi, dao động,

chấn động, nổi sóng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm khuôn mặt của

mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này

Bà-la-môn, khi trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm... còn nói gì các chú

thuật không được học thuộc lòng.

8) Lại nữa, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị nghi hoặc

xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối, và không như thật biết sự xuất ly

khỏi nghi hoặc đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết

và thấy sự lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy

sự lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy sự lợi

ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại

không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được

học thuộc lòng.

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị khuấy động, khuấy

đục, khuấy bùn, đặt trong bóng tối. Ở đây, một người có mắt muốn

ngắm khuôn mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được.

Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi

hoặc chi phối... còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.

9) Ðây là nhân, đây là duyên, này Bà-la-môn, có khi các chú

thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến

được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.

II

10) -- Này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị dục tham xâm

chiếm, không bị dục tham chi phối, lại như thật rõ biết sự xuất ly

của dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy như thật biết và thấy

lợi ích của mình; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích của

người; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các

chú thuật không được học thuộc lòng lâu ngày được nhớ đến, còn

nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không trộn lẫn với thuốc

gôm lắc, hay màu đỏ tía, hay màu xanh, hay màu vàng. Ở đây, một người

có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy

được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị dục tham xâm

chiếm... còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.

11) Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị sân xâm

chiếm... còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không được lửa đun

sôi, không sôi lên sùng sục, không sôi lên cuồn cuộn. Ở đây, một

người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và

thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị sân xâm

chiếm, không bị sân chi phối... còn nói gì các chú thuật đã được

học thuộc lòng.

12) Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị hôn trầm

thụy miên xâm chiếm, không bị hôn trầm thụy miên chi phối... còn nó gì

các chú thuật đã được học thuộc lòng.

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không bị rong rêu che

phủ. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể

như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với

tâm không bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, không bị hôn trầm thụy miên

chi phối... còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.

13) Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị trạo hối

xâm chiếm, không bị trạo hối chi phối... còn nói gì các chú thuật đã

được học thuộc lòng.

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không bị gió thổi, không

bị dao động, không bị chấn động, không bị nổi sóng. Ở đây, một người

có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy

được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị trạo hối xâm

chiếm, không bị trạo hối chi phối... còn nói gì các chú thuật đã được

học thuộc lòng.

14) Lại nữa, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị nghi

hoặc xâm chiếm, không bị nghi hoặc chi phối... còn nói gì các chú thuật

đã được học thuộc lòng.

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước trừng tịnh, trong sáng,

không bị khuấy động, đặt giữa ánh sáng. Ở đây, một người có mắt

muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được.

Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị nghi hoặc xâm

chiếm, không bị nghi hoặc chi phối và như thật biết sự xuất ly khỏi

nghi hoặc đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy như thật biết và thấy lợi

ích của mình; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích của người;

trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú

thuật không được học thuộc lòng lâu ngày được nhớ đến, còn nói

gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.

15) Ðây là nhân, đây là duyên, này Bà-la-môn, có khi các chú

thuật không được học thuộc lòng lâu ngày lại có thể nhớ đến

được, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.

16) Có bảy giác chi này, này Bà-la-môn, không chướng ngại,

không triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho

sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Thế nào là bảy?

Niệm giác chi, này Bà-la-môn, không phải là chướng ngại, triền cái,

không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa

đến chứng ngộ quả minh và giải thoát... Xả giác chi, không phải là

chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được

làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Bảy giác chi

này, này Bà-la-môn, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm

uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng

ngộ quả minh và giải thoát.

17) Khi được nói vậy, Bà-la-môn Sangàrava bạch Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!... từ nay cho đến

mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

56. VI. Abhaya (Vô úy) (Tạp 27,1, Ðại 2,191a) (S.v,126)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Linh

Thứu.

2) Rồi hoàng tử Abhaya đi đến Thế Tôn; sau khi đến,

đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, hoàng tử Abhaya

bạch Thế Tôn:

3) -- Bạch Thế Tôn, Puurana Kassapa nói như sau:

-- "Không có nhân, không có duyên để không biết,

không thấy. Không biết, không thấy không có nhân, không có duyên. Không

có nhân, không có duyên để biết, để thấy. Biết và thấy

không có nhân, không có duyên". Ở đây, Thế Tôn đã nói như

thế nào?

4) -- Này Hoàng tử, có nhân, có duyên để không biết,

để không thấy. Không biết, không thấy có nhân, có duyên. Này Hoàng

tử, có nhân, có duyên để biết, để thấy. Biết và thấy có

nhân, có duyên.

I

5) -- Do nhân nào, do duyên nào, bạch Thế Tôn, để không

biết, để không thấy? Như thế nào không biết, không thấy có

nhân, có duyên?

6) -- Này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị dục tham xâm

chiếm, bị dục tham chi phối và như thật không biết, không thấy sự

xuất ly khỏi dục và tham đã sanh; đây là nhân, đây là duyên, này Hoàng

tử, để không biết, để không thấy. Như vậy, không biết, không

thấy có nhân, có duyên.

7) Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị sân xâm

chiếm, bị sân chi phối...

8) Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị hôn trầm

thụy miên xâm chiếm, bị hôn trầm thụy miên chi phối...

9) Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị trạo hối xâm

chiếm, bị trạo hối chi phối...

10) Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị nghi hoặc

xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối, và thật sự không biết, không thấy

sự xuất ly khỏi nghi hoặc đã sanh; đây là nhân, đây là duyên, này Hoàng

tử, để không biết, không thấy. Như vậy, không biết, không thấy

có nhân, có duyên.

11) -- Bạch Thế Tôn, pháp môn này được gọi là gì?

-- Này Hoàng tử, được gọi là các triền cái.

-- Thật vậy, chúng là triền cái, bạch Thế Tôn. Thật

vậy, chúng là triền cái, bạch Thiện Thệ. Chỉ bị chinh phục bởi

một triền cái mà thôi, bạch Thế Tôn, cũng không có thể biết

như thật, thấy như thật, còn nói gì bị cả năm triền cái chinh phục.

II

12) -- Nhưng, bạch Thế Tôn, do nhân nào, do duyên nào để

biết, để thấy? Như thế nào biết và thấy có nhân, có duyên?

13) -- Ở đây, này Hoàng tử, Tỷ-kheo tu tập niệm giác

chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ

đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Vị ấy nhờ tâm được tu tập

niệm giác chi nên như thật biết và thấy. Ðây là nhân, đây là

duyên, này Hoàng tử, để biết, để thấy. Như vậy, biết và

thấy có nhân, có duyên.

14-18) Lại nữa, này Hoàng tử, Tỷ-kheo...

19) Lại nữa, này Hoàng tử, Tỷ-kheo tu tập xả giác chi liên

hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến

đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Vị ấy nhờ tâm được tu tập xả giác

chi nên như thật biết và thấy. Ðây là nhân, đây là duyên để

biết, để thấy. Như vậy, thấy và biết có nhân, có duyên.

20) -- Bạch Thế Tôn, pháp môn này được gọi là gì?

-- Này Hoàng tử, được gọi là các giác chi.

-- Thật vậy, chúng là giác chi, bạch Thế Tôn. Thật vậy,

chúng là giác chi, bạch Thiện Thệ. Bạch Thế Tôn, chỉ được đầy

đủ với một giác chi mà thôi đã có thể như thật thấy và biết, còn

nói gì đầy đủ cả bảy giác chi.

Bạch Thế Tôn, sự mệt nhọc về thân và mệt

nhọc về tâm khi con leo lên núi Linh Thứu đã đươc khinh an, nhẹ nhàng

và pháp đã được con hoàn toàn chứng đắc.

VII. Phẩm Hơi Thở Vô Hơi Thở Ra

57. I. Bộ Xương (Tạp 27,38, Ðại 2,198a) (S.v,129)

I. Quả Lớn, Lợi Ích Lớn

1) Sàvatthi...

2) -- Tu tập cốt tưởng, này các Tỷ-kheo, làm cho sung mãn,

được quả lớn, được lợi ích lớn.

3) Này các Tỷ-kheo, cốt tưởng tu tập như thế nào, làm

cho sung mãn như thế nào, đưa đến quả lớn, đưa đến lợi ích

lớn?

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm

giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ

đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ...

tu tập xả giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên

hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ

bỏ.

5) Này các Tỷ-kheo, cốt tưởng được tu tập như vậy, được

làm cho sung mãn như vậy, có quả lớn, có lợi ích lớn.

II. Trí Và Bất Hoàn (Annàsativà)

1) ...

2) -- Tu tập, làm cho sung mãn cốt tưởng, này các Tỷ-kheo,

một trong hai quả được chờ đợi: Ngay trong hiện tại được Chánh trí, hay

nếu có dư y, chứng được Bất hoàn.

3) Tu tập cốt tưởng như thế nào, làm cho sung mãn như

thế nào, này các Tỷ-kheo, một trong hai quả được chờ đợi: Ngay trong

hiện tại được Chánh trí, hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn?

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm

giác chi câu hữu với cốt tưởng... tu tập xả giác chi câu hữu với cốt tưởng

liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến

đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

5) Tu tập cốt tưởng như vậy, được làm cho sung mãn như vậy,

này các Tỷ-kheo, một trong hai quả được chờ đợi: Ngay trong hiện tại

được Chánh trí, hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn.

III. Nghĩa Lợi Lớn

1) ...

2) -- Cốt tưởng, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm

cho sung mãn, đưa đến nghĩa lợi lớn.

3) Cốt tưởng, tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như

thế nào, này các Tỷ-kheo, đưa đến nghĩa lợi lớn?... (Như số 4,5

đoạn trên).

IV. An Ổn Lớn Khỏi Khổ Ách

(Như kinh trên, chỉ khác là đưa đến an ổn lớn, khỏi khổ

ách)

V. Hứng Khởi Lớn (Samvegà) (S.v,130)

(Như trên, chỉ khác là đưa đến hứng khởi lớn)#

VI. Lạc Trú (S.v,131)

(Như kinh trên, chỉ khác là đưa đến lạc trú)#

58. II. Côn Trùng Ăn (Pulavaka)

I-VI) Tu tập tưởng bị côn trùng ăn, này các Tỷ-kheo...

59.III. Xanh Bầm (Vinilaka)

I-VI. Tu tập tưởng xác bị xanh bầm, này các Tỷ-kheo...

60. IV. Bị Nứt Nẻ (Vicchiddaka)

I-VI. Tu tập tưởng xác bị nứt nẻ, này các Tỷ-kheo...

61.V. Sưng Phồng Lên (Uddhumàtaka)

I-VI. Tu tập tưởng xác bị sưng phồng lên, này các

Tỷ-kheo...

62. VI. Từ (Tạp 27,33, Ðại 2,197c)

I-VI. Tu tập từ tâm, này các Tỷ-kheo...

63. VII. Bi

I-VI. Tu tập bi tâm, này các Tỷ-kheo...

64. VIII. Hỷ

I-VI. Tu tập hỷ tâm, này các Tỷ-kheo...

65. IX. Xả

I-VI. Tu tập xả tâm, này các Tỷ-kheo...

66. X. Hơi Thở Vô Hơi Thở Ra

I-VI. Tu tập hơi thở vô hơi thở ra, này các Tỷ-kheo...

VIII. Phẩm Ðoạn Diệt (S.v,132)

67. I. Bất Tịnh (Tạp 27,30, Ðại 2,197a)

I-VI. Tu tập tưởng bất tịnh, này các Tỷ-kheo...

68.II. Chết (Tạp 27,31, Ðại 2,197b)

I-VI. Tu tập tưởng chết, này các Tỷ-kheo...

69. III. Ghê Tởm (Tạp 27,38, Ðại 2,198b)

I-VI. Tu tập tưởng ghê tởm đối với đồ ăn, này các

Tỷ-kheo...

70. IV. Bất Khả Lạc Hay Toàn Thế Giới

I-VI. Tu tập tưởng bất khả lạc đối với toàn thế giới, này

các Tỷ-kheo...

71.V. Vô Thường (Tạp 27,37, Ðại 2,198a)

I-VI. Tu tập tưởng vô thường, này các Tỷ-kheo...

72. VI. Khổ (Tạp 27,38, Ðại 2,198a)

I-VI. Tu tập khổ tưởng, này các Tỷ-kheo...

73. VII. Vô Ngã

I-VI. Tu tập tưởng vô ngã, này các Tỷ-kheo...

74. VIII. Ðoạn Tận

I-VI. Tu tập tưởng đoạn tận, này các Tỷ-kheo...

75. IX. Ly Tham

I-VI. Tu tập tưởng ly tham, này các Tỷ-kheo...

76. X. Ðoạn Diệt

I. Quả Lớn, Lợi Ích Lớn (S.v,133)

1) ...

2) -- Tu tập tưởng đoạn diệt, làm cho sung mãn, này các

Tỷ-kheo, được quả lớn, được lợi ích lớn.

3) Và này các Tỷ-kheo, tu tập tưởng đoạn diệt như

thế nào...?

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm

giác chi câu hữu với tưởng đoạn diệt...

5) Tu tập tưởng đoạn diệt như vậy, làm cho sung mãn như

vậy, này các Tỷ-kheo, được quả lớn, được lợi ích lớn.

II. Trí Và Bất Hoàn

2) -- Tu tập tưởng đoạn diệt, làm cho sung mãn, này các

Tỷ-kheo, một trong hai quả được chờ đợi: Ngay trong hiện tại được

Chánh trí, hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn.

3) Tu tập như thế nào, làm cho sung mãn tưởng đoạn diệt

như thế nào, này các Tỷ-kheo...?

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm

giác chi câu hữu với tưởng đoạn diệt...

5) Tu tập tưởng đoạn diệt như vậy, làm cho sung mãn như

vậy, này các Tỷ-kheo...

III. IV, V, VI. Nghĩa Lợi Lớn, An Ổn Lớn Khỏi Khổ Ách,

Hứng Khởi Lớn, Lạc Trú (S.v,133)

1) ...

2) -- Tưởng đoạn diệt được tu tập, được làm cho sung

mãn, đưa đến nghĩa lợi lớn, đưa đến an ổn lớn khỏi các khổ ách,

đưa đến hứng khởi lớn, đưa đến lạc trú lớn.

3) Tu tập đoạn diệt tưởng như thế nào, làm cho sung mãn

như thế nào, đưa đến nghĩa lợi lớn, đưa đến an ổn lớn khỏi

các khổ ách, đưa đến hứng khởi lớn, đưa đến lạc trú lớn?

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm

giác chi câu hữu với tưởng đoạn diệt... tu tập xả giác chi câu hữu với

tưởng đoạn diệt liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly

tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ...

5) Tu tập tưởng đoạn diệt như vậy, làm cho sung mãn như

vậy, này các Tỷ-kheo, đưa đến nghĩa lợi lớn, đưa đến an ổn

lớn khỏi các khổ ách, đưa đến hứng khởi lớn, đưa đến lạc trú

lớn.

IX. Phẩm Sông Hằng Quảng Thuyết

77. I. Hướng Về Ðông

(S.v, 134)#

1) ...

2) - Ví như, này các Tỷ Kheo, Sông Hằng thiên về phương

Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông. Cũng vậy, này

các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Bảy Giác Chi làm cho sung mãn Bảy Giác Chi,

thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về

Niết-bàn.

3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm

giác chi.... tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ

đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập bảy giác chi, thiên về

Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.

78-88. II - XII (S.v,134)

(Cho đến phẩm Tầm Cầu, như trên)#

X. Phẩm Không Phóng Dật

89-98. I-X. (S.v,135)

-- Này các Tỷ-kheo, như các loài hữu tình không chân, hay

có hai chân, hay có bốn chân, hay có nhiều chân...

(Như trên, theo đoạn bảy giác chi)#

XI. Phẩm Cần Dùng Sức Mạnh

99-100. I-XII. (S.v,135)

-- Này các Tỷ-kheo, ví như các hành động cần phải dùng

sức mạnh...

(Như trên, theo đoạn bảy giác chi)#

XII. Phẩm Tầm Cầu

101-110. I-XII . (S.v,136)

-- Có ba sự tầm cầu, này các Tỷ-kheo. Thế nào là ba?

Tầm cầu dục, tầm cầu hữu, tầm cầu Phạm hạnh...

(Như trên, theo đoạn bảy giác chi)#

XIII. Phẩm Bộc Lưu

111-119 I-IX. (S.v,136)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi...

2) -- Có bốn bộc lưu, này các Tỷ-kheo. Thế nào là bốn?

Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu...

120.X. Thượng Phần Kiết Sử (S.v,136)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm thượng phần kiết sử.

Thế nào là năm? Tham sắc giới, tham vô sắc giới, mạn, trạo cử, vô minh.

Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm thượng phần kiết sử.

3) Này các Tỷ-kheo, với mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn

diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, bảy giác chi cần phải tu tập.

Thế nào là bảy?

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm

giác chi... tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ

đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

5) Này các Tỷ-kheo, vì mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn

diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, bảy giác chi này cần

phải tu tập.

XIV. Phẩm Sông Hằng Quảng Thuyết

121. I. (S.v,137)

1) ...

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng thiên về

phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông. Cũng

vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập bảy giác chi, thiên về

Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.

3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm

giác chi... tu tập xả giác chi với mục đích nhiếp phục tham, với mục

đích nhiếp phục sân, với mục đích nhiếp phục si. Cũng vậy, này các

Tỷ-kheo, Tỷ-kheo... xuôi về Niết-bàn.

122-132. II-XII. (S.v,138)

(Như trên, cho đến phẩm Tầm Cầu) ...

XV. Phẩm Không Phóng Dật (Nhiếp

phục tham)

132-142. I-X . (S.v,138)

Gồm các kinh:

Chân Của Như Lai, Nóc Nhọn, Căn Rễ, Với Lõi, Cây, Hoa

Lý, Vua, Mặt Trăng, Mặt Trời, và Vải là thứ mười.

XVI. Phẩm Cần Dùng Sức

Mạnh(Nhiếp phục tham)

143-154. I-XII. (S.v,138)

Gồm các kinh:

Sức Mạnh, Hột Giống, Rắn, Cây, Ghè, Râu Lúa Mì, Hư Không,

Mây, Tàu, Thuyền, Khách, Sông.

XVII. Phẩm Tầm Cầu (Nhiếp phục

tham)

155-164 I-X (S.v, 139)

Gồm các kinh:

Tầm Cầu, Mạn, Lậu Hoặc, Hữu, Khổ, Chướng Ngại, Vết Nhơ,

Ðau Ðớn, Thọ, Ái, Khát.

XVIII.Phẩm Bộc Lưu

165-174. I-IX. (S.v,139)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn bộc lưu này. Thế nào là

bốn? Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu...

120.X. Thượng Phần Kiết Sử (S.v,136)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm thượng phần kiết sử.

Thế nào là năm? Tham sắc giới, tham vô sắc giới, mạn, trạo cử, vô minh.

Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm thượng phần kiết sử.

3) Này các Tỷ-kheo, với mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn

diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, bảy giác chi cần phải

tu tập. Thế nào là bảy?...

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm

giác chi... tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ

đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

5) Này các Tỷ-kheo, vì mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn

diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, bảy giác chi này cần

phải tu tập.

XIV. Phẩm Sông Hằng Quảng Thuyết

121. I. (S.v,137)

1) ...

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng thiên về

phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông. Cũng

vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập bảy giác chi, thiên về

Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.

3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm

giác chi... tu tập xả giác chi với mục đích nhiếp phục tham, với mục

đích nhiếp phục sân, với mục đích nhiếp phục si. Cũng vậy, này các

Tỷ-kheo, Tỷ-kheo... xuôi về Niết-bàn.

122-132. II-XII. (S.v,138)

(Như trên, cho đến phẩm Tầm Cầu) ...

XV. Phẩm Không Phóng Dật (Nhiếp

phục tham)

132-142. I-X. (S.v,138)

Gồm các kinh:

Chân Của Như Lai, Nóc Nhọn, Căn Rễ, Với Lõi, Cây, Hoa

Lý, Vua, Mặt Trăng, Mặt Trời, và Vải là thứ mười.

XVI. Phẩm Cần Dùng Sức Mạnh

(Nhiếp phục tham)#

143-154. I-XII . (S.v,138)

Gồm các kinh:

Sức Mạnh, Hột Giống, Rắn, Cây, Ghè, Râu Lúa Mì, Hư Không,

Mây, Tàu, Thuyền, Khách, Sông.

XVII. Phẩm Tầm Cầu (Nhiếp phục

tham)

155-164 I-X (S.v, 139)

Gồm các kinh:

Tầm Cầu, Mạn, Lậu Hoặc, Hữu, Khổ, Chướng Ngại, Vết Nhơ,

Ðau Ðớn, Thọ, Ái, Khát.

XVIII. Phẩm Bộc Lưu

165-174. I-IX. (S.v,139)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn bộc lưu này. Thế nào là

bốn? Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu..

175. X. Thượng Phần Kiết Sử (S.v,139)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm thượng phần kiết sử.

Thế nào là năm? Tham sắc giới, tham vô sắc giới, mạn, trạo cử, vô minh.

Ðây là năm thượng phần kiết sử.

3) Này các Tỷ-kheo, với mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn

diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, bảy giác chi cần phải

tu tập. Thế nào là bảy?

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm

giác chi... tu tập xả giác chi với mục đích nhiếp phục tham, nhiếp

phục sân, nhiếp phục si, nhập vào bất tử, lấy bất tử làm tối thượng,

lấy bất tử làm cứu cánh, thiên về Niết-bàn, hướng về

Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.

5) Này các Tỷ-kheo, với mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn

diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, bảy giác chi này cần

phải tu tập.