[22] Chương I — Tương Ưng Uẩn (b)#
Tương Ưng Bộ -
Samyutta Nikaya
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Tập III - Thiên Uẩn
[22] Chương I
Tương Ưng Uẩn (b)
-ooOoo-
III. Phẩm Gánh Nặng
I. Gánh Nặng (Tạp, 2.3, Trọng Ðởm.
Ðại 2,19a) (Tăng 25.4, Ðại 2,631c) (S.iii,25)
1-2) Ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông
về gánh nặng, mang gánh nặng lên, đặt gánh nặng xuống. Hãy nghe và khéo
suy nghiệm, Ta sẽ giảng.
4) Này các Tỷ-kheo, thế nào là gánh nặng? Năm
thủ uẩn là câu trả lời. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn,
tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỷ-kheo, đây
gọi là gánh nặng.
5) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ mang gánh
nặng? Người là câu trả lời. Vị Tôn giả này có tên như thế này, dòng
họ như thế này. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ mang gánh
nặng!
6) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là mang gánh
nặng lên? Chính là tham ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và
tham, đi tìm hỷ lạc chỗ này, chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi
hữu ái. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là mang gánh nặng lên.
7) Này các Tỷ-kheo, thế nào là đặt gánh nặng
xuống? Ðây là sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn, sự từ
bỏ, sự xả ly, sự giải thoát, sự không chấp thủ. Này các Tỷ-kheo, đây
gọi là đặt gánh nặng xuống.
8) Thế Tôn thuyết như vậy, Thiện Thệ nói
như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Năm uẩn là gánh nặng,
Kẻ gánh nặng là người;
Mang lấy gánh nặng lên,
Chính là khổ ở đời.
Còn đặt gánh nặng xuống,
Tức là lạc, không khổ,
Ðặt gánh nặng xuống xong,
Không mang thêm gánh khác.
Nếu nhổ khát ái lên,
Tận cùng đến gốc rễ,
Không còn đói và khát,
Ðược giải thoát tịnh lạc!
II. Liễu Tri (Parinna) (Tạp 3.22 Trì Pháp.
Ðại 2,19a)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Và này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết những
pháp cần phải liễu tri, phải được liễu tri. Hãy nghe và khéo suy nghiệm,
Ta sẽ nói...
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần
phải liễu tri? Sắc, này các Tỷ-kheo, là pháp cần phải liễu tri, thọ
là pháp cần phải liễu tri, tưởng là pháp cần phải liễu tri, các hành là
pháp cần phải liễu tri, thức là pháp cần phải liễu tri. Những pháp này, này
các Tỷ-kheo, là những pháp cần phải liễu tri.
5) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là liễu tri? Này
các Tỷ-kheo, sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si, này
các Tỷ-kheo, được gọi là liễu tri.
I II. Thắng Tri (Tạp 1.3, Vô Tri. Ðại 2,1a)
(S.iii,27)#
1-2) Nhân duyên tại Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, do không thắng tri sắc, không
liễu tri, không ly tham, không từ bỏ, nên không có thể đoạn tận khổ.
4) Này các Tỷ-kheo, do không thắng tri thọ...
5-6) Này các Tỷ-kheo, do không thắng tri tưởng...
không thắng tri các hành...
7) Này các Tỷ-kheo, do không thắng tri thức, không
liễu tri, không ly tham, không từ bỏ, nên không có thể đoạn tận khổ.
8) Này các Tỷ-kheo, do thắng tri sắc, liễu tri, ly
tham, từ bỏ, nên có thể đoạn tận khổ.
9-11) Này các Tỷ-kheo, do thắng tri thọ... thắng
tri tưởng... thắng tri các hành...
12) Này các Tỷ-kheo, do thắng tri thức, liễu tri, ly
tham, từ bỏ, nên có thể đoạn tận khổ.
IV. Dục Tham (Tạp 3.27 Tham, Ðại 2,19c)
(S.iii,27)#
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Dục và tham (chandaràga) đối với sắc, này các
Tỷ-kheo, hãy từ bỏ nó. Như vậy, sắc ấy sẽ được đoạn trừ, nhổ tận
gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không
thể sanh khởi trong tương lai.
4) Dục và tham đối với thọ, này các Tỷ-kheo,
hãy từ bỏ nó. Như vậy, thọ ấy sẽ được đoạn trừ, nhổ tận gốc rễ,
làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh
khởi trong tương lai.
5) Dục và tham đối với tưởng...
6) Dục và tham đối với các hành...
7) Dục và tham đối với thức, này các Tỷ-kheo, hãy
từ bỏ nó. Như vậy, thức ấy sẽ được đoạn trừ, nhổ tận gốc rễ, làm cho
như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi
trong tương lai.
V. Vị Ngọt (Tạp 1.14, Vị, Ðại 2,2c)
(S.iii,27)#
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa
chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau:
4) "Cái gì là vị ngọt, cái gì là sự nguy
hiểm, cái gì là sự xuất ly của sắc? Cái gì là vị ngọt, cái gì là
sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của thọ? Cái gì là vị ngọt,
cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của tưởng? Cái gì là vị
ngọt, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của các hành?
Cái gì là vị ngọt, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly
của thức?"
5) Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau:
6) "Do duyên sắc, lạc hỷ sanh; cái ấy gọi
là vị ngọt của sắc. Sự vô thường, đau khổ, chịu sự biến hoại của
sắc; cái ấy gọi là sự nguy hiểm của sắc. Sự nhiếp phục dục và
tham đối với sắc, sự đoạn tận dục và tham; cái ấy là xuất ly của
sắc".
7) "Do duyên thọ, lạc hỷ sanh.."..
8) "Do duyên tưởng, lạc hỷ sanh..".
9) "Do duyên các hành, lạc hỷ sanh; cái ấy
gọi là vị ngọt của các hành. Sự vô thường, đau khổ, chịu sự
biến hoại của các hành; cái ấy gọi là sự nguy hiểm của các hành.
Sự nhiếp phục dục và tham đối với hành, sự đoạn tận dục và tham; cái
ấy là sự xuất ly của các hành".
10) "Do duyên thức, lạc hỷ sanh; cái ấy gọi
là vị ngọt của thức. Sự vô thường, đau khổ, chịu sự biến hoại của
thức; cái ấy gọi là sự nguy hiểm của thức. Sự nhiếp phục dục và
tham đối với thức, sự đoạn tận dục và tham; cái ấy là sự xuấy ly của
thức".
11) Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào đối với
năm thủ uẩn này, Ta chưa như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy
hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỷ-kheo, Ta
không tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với
thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn,
Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.
12) Nhưng này các Tỷ-kheo, khi nào đối với năm thủ
uẩn này, Ta như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là
nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng
Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có
Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và
loài Người.
13) Và tri kiến như sau khởi lên nơi Ta:
"Tâm Ta giải thoát, bất động. Ðây là đời sống
cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa".
VI. Vị Ngọt (S.iii,29)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu vị
ngọt của sắc. Vị ngọt của sắc là gì, Ta đã chứng đắc. Vị ngọt
của sắc như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.
4) Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu sự nguy
hiểm của sắc. Sự nguy hiểm của sắc là gì, Ta đã chứng đắc. Sự nguy
hiểm của sắc như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.
5) Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu sự xuất ly
của sắc. Sự xuất ly của sắc là gì, Ta đã chứng đắc. Sự xuất ly của sắc
như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.
6-8) Này các Tỷ-kheo, Ta đi tìm cầu vị ngọt của
thọ...
9-11) Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu vị
ngọt của tưởng...
12-14) Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu vị
ngọt của các hành...
15) Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu vị ngọt
của thức. Vị ngọt của thức là gì, Ta đã chứng đắc. Vị ngọt của
thức như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.
16) Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu sự nguy
hiểm của thức. Nguy hiểm của thức là gì, Ta đã chứng đắc. Nguy
hiểm của thức như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.
17) Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu sự xuất ly
của thức. Xuất ly của thức là gì, Ta đã chứng đắc. Xuất ly của thức như
thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.
18-19) Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào đối với
năm thủ uẩn này, Ta chưa như thật biết vị ngọt là vị ngọt, nguy
hiểm là sự nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỷ-kheo, Ta
không tuyên bố rằng... Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.
20) Và tri kiến như sau khởi lên nơi Ta: "Tâm Ta
giải thoát, bất động. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh
nữa".
VII. Vị Ngọt (Tạp 1.13 Vị, Ðại 2,2bb)
(S.iii,29)#
1-2) Nhân duyên tại Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt
của sắc, thời các loài hữu tình không có tham đắm đối với sắc. Và vì
rằng, này các Tỷ-kheo, có vị ngọt của sắc cho nên các loài hữu tình
có tham đắm đối với sắc.
4) -- Này Tỷ-kheo, nếu không có sự nguy hiểm
của sắc, thời các loài hữu tình không có yếm ly đối với sắc. Và vì
rằng, này các Tỷ-kheo, có sự nguy hiểm của sắc cho nên các loài hữu
tình có yếm ly đối với sắc.
5) Này các Tỷ-kheo, nếu không có sự xuất ly
đối với sắc, thời các loài hữu tình không có xuất ly đối với sắc. Và vì
rằng, này các Tỷ-kheo, có sự xuất ly của sắc cho nên các loài hữu tình
có sự xuất ly đối với sắc.
6-8) Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt
của thọ...
9-11) Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt
của tưởng...
12-14) Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt
của các hành...
15) Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt
của thức, thời các loài hữu tình không có tham đắm đối với thức. Và vì
rằng, này các Tỷ-kheo, có vị ngọt của thức cho nên các loài hữu tình
có tham đắm đối với thức.
16) Này các Tỷ-kheo, nếu không có sự nguy
hiểm của thức, thời các loài hữu tình không có xuất ly đối với thức.
Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có sự nguy hiểm đối với thức cho nên
các loài hữu tình có yếm ly đối với thức.
17) Này các Tỷ-kheo, nếu không có sự xuất ly
đối với thức, thời các loài hữu tình không có xuất ly đối với thức. Và
vì rằng, này các Tỷ-kheo, có sự xuất ly đối với thức cho nên các loài
hữu tình có xuất ly đối với thức.
18) Này các Tỷ-kheo, khi nào các loài hữu tình đối
với năm thủ uẩn này không như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt,
nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời các loài hữu tình ấy,
này các Tỷ-kheo, với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, với quần
chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, không thể sống
xuất ly, thoát sự liên hệ, giải thoát, với tâm tự tại.
19) Và này các Tỷ-kheo, khi nào các loài hữu tình
đối với năm thủ uẩn này, như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt,
nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời các loài hữu tình ấy,
này các Tỷ-kheo, với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, với quần
chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, có thể sống xuất
ly, thoát sự liên hệ, giải thoát, với tâm tự tại.
VIII. Hoan Hỷ (Tạp 1.7, Ư Sắc Hỷ
Lạc, Ðại 2,1c)(Tạp 1.5, Ðại 2,1b) (S.iii,31)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, ai hoan hỷ sắc, người ấy
hoan hỷ khổ. Ai hoan hỷ khổ, Ta nói, người ấy không giải thoát khỏi
khổ.
4) Này các Tỷ-kheo, ai hoan hỷ thọ...
5) Này các Tỷ-kheo, ai hoan hỷ tưởng...
6) Này các Tỷ-kheo, ai hoan hỷ các hành...
7) Này các Tỷ-kheo, ai hoan hỷ thức, người ấy
hoan hỷ khổ. Ai hoan hỷ khổ, Ta nói, người ấy không giải thoát khỏi
khổ.
8) Và này các Tỷ-kheo, ai không hoan hỷ sắc,
người ấy không hoan hỷ khổ. Ai không hoan hỷ khổ, Ta nói, người ấy
giải thoát khỏi khổ.
9) Và này các Tỷ-kheo, ai không hoan hỷ
thọ...
10) Và này các Tỷ-kheo, ai không hoan hỷ
tưởng...
11) Và này các Tỷ-kheo, ai không hoan hỷ các
hành...
12) Và này các Tỷ-kheo, ai không hoan hỷ thức,
người ấy không hoan hỷ khổ. Ai không hoan hỷ khổ, Ta nói, người ấy
giải thoát khỏi khổ.
IX. Sanh Khởi (Tạp 3.28 Sanh, Ðại 2,20a)
(S.iii,31)#
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, cái gọi là sắc sanh, trú,
khởi, hiện hữu; cái ấy là khổ sanh, bệnh tật trú, già chết
hiện hữu.
4-6) Này các Tỷ-kheo, cái gọi là thọ sanh,
trú, khởi, hiện hữu... tưởng sanh, trú, khởi, hiện hữu... các hành
sanh, trú, khởi, hiện, hữu...
7) Này các Tỷ-kheo, cái gọi là thức sanh, trú,
khởi, hiện hữu; cái ấy gọi là khổ sanh, bệnh tật trú, già
chết hiện hữu.
8) Này các Tỷ-kheo, cái gọi là sắc đoạn
diệt, an chỉ, biến mất; cái ấy gọi là khổ đoạn diệt, bệnh
tật an chỉ, già chết biến mất.
9-11) Này các Tỷ-kheo, cái gọi là thọ đoạn
diệt... tưởng đoạn diệt... các hành đoạn diệt...
12) Này các Tỷ-kheo, cái gọi là thức đoạn
diệt, an chỉ, biến mất; cái ấy là khổ đoạn diệt, bệnh tật an
chỉ, già chết biến mất.
X. Cội Gốc Của Ðau Khổ (S.iii,32)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về đau
khổ và cội gốc của đau khổ. Hãy lắng nghe...
4) Này các Tỷ-kheo, thế nào là đau khổ? Sắc,
này các Tỷ-kheo, là đau khổ; thọ là đau khổ; tưởng là đau khổ; các
hành là đau khổ; thức là đau khổ. Ðây, này các Tỷ-kheo, gọi là đau
khổ.
5) Này các Tỷ-kheo, thế nào là cội gốc của đau
khổ? Chính là khát ái này hướng tới tái sanh, câu hữu với hỷ và tham,
tìm cầu hỷ lạc chỗ này, chỗ kia; tức là dục ái, hữu ái, phi hữu
ái.
XI. Hoại Pháp (Tạp 2,19, Hoại Pháp, Ðại
2,12b) (S.iii,32)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Và này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về
hoại pháp và bất hoại pháp. Hãy lắng nghe...
4) Và này các Tỷ-kheo, cái gì là hoại pháp? Cái
gì là bất hoại pháp?
5) Sắc, này các Tỷ-kheo, là hoại pháp. Sự đoạn
diệt của sắc ấy, sự an chỉ, biến mất là bất hoại pháp.
6) Thọ, này các Tỷ-kheo, là hoại pháp...
7) Tưởng, này các Tỷ-kheo, là hoại pháp...
8) Hành, này các Tỷ-kheo, là hoại pháp...
9) Thức, này các Tỷ-kheo, là hoại pháp. Sự đoạn
diệt của thức ấy, sự an chỉ, biến mất là bất hoại pháp.
IV. Phẩm Không Phải Của Các Ông
I. Không Phải Của Các Ông (Tạp 10.14 Kỳ
Lâm, Ðại 2,10b) (S.iii,33)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các
Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.
4) Này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông?
5) Sắc, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông,
hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.
6) Thọ, này các Tỷ-kheo, không phải của các
Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.
7) Tưởng, này các Tỷ-kheo...
8) Các hành, này các Tỷ-kheo...
9) Thức, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông,
hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.
10) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người mang lại cỏ,
củi, cành cây, lá của Jetavana này, và đốt chúng hay tùy theo duyên sử dụng
chúng. Các Ông có nghĩ rằng: "Người ấy mang chúng tôi, hay đốt, hay
tùy theo duyên sử dụng chúng tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn. Vì sao như vậy? Vì
cái ấy không phải chúng con. Bạch Thế Tôn, cái ấy không phải thuộc tự
ngã của chúng con.
11) -- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, sắc không phải
của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các
Ông. Thọ không phải của các Ông... Tưởng không phải của các Ông. Các
hành không phải của các Ông... Thức không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó.
Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.
II. Không Phải Của Các Ông (S.iii,34)
1-2) Nhân duyên ở Sàavatthi...
3) -- Cái gì không phải của các Ông, này các
Tỷ-kheo, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các
Ông.
4) Này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông?
5) Sắc, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông,
hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.
6-8) Thọ, này các Tỷ-kheo, không phải của các
Ông... Tưởng, này các Tỷ-kheo... Các hành, này các Tỷ-kheo...
9) Thức, này các Tỷ-kheo, không phải của Ông, hãy
từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.
III. Tỷ Kheo (S.iii,35)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
[I]
2) Rồi một vị Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau
khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một
bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
3) -- Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy
thuyết pháp vắn tắt cho con! Sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ
sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
4) -- Này Tỷ-kheo, cái gì người ta thiên chấp tùy
miên, người ta sẽ được xưng danh tùy theo thiên chấp tùy miên ấy. Cái gì
người ta không thiên chấp tùy miên, người ta sẽ không được xưng danh tùy
theo thiên chấp tùy miên ấy.
-- Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện
Thệ, con đã hiểu.
5) -- Như thế nào, này Tỷ-kheo, Ông hiểu
ý nghĩa một cách rộng rãi điều Ta nói một cách vắn tắt?
6) -- Bạch Thế Tôn, nếu thiên chấp sắc, do thiên
chấp ấy được xưng danh. Nếu thiên chấp thọ, do thiên chấp ấy được
xưng danh. Nếu thiên chấp tưởng, do thiên chấp ấy được xưng danh.
Nếu thiên chấp các hành, do thiên chấp ấy được xưng danh. Nếu thiên
chấp thức, do thiên chấp ấy được xưng danh.
7) Bạch Thế Tôn, nếu không thiên chấp sắc,
không do thiên chấp ấy được xưng danh. Nếu không thiên chấp thọ...
Nếu không thiên chấp tưởng... Nếu không thiên chấp hành... Nếu
không thiên chấp thức, không do thiên chấp ấy được xưng danh. Bạch Thế
Tôn, với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một
cách rộng rãi như vậy.
8) -- Lành thay, lành thay, Tỷ-kheo! Lành thay, với
lời nói vắn tắt này của Ta, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi
như vậy. Nếu thiên chấp sắc, do thiên chấp ấy được xưng danh. Nếu
thiên chấp thọ... Nếu thiên chấp tưởng... Nếu thiên chấp các
hành... Nếu thiên chấp thức, do thiên chấp ấy được xưng danh. Này
Tỷ-kheo, nếu không thiên chấp sắc, không do thiên chấp ấy được xưng
danh... Nếu không thiên chấp thọ... Nếu không thiên chấp tưởng...
Nếu không thiên chấp các hành... Nếu không thiên chấp thức, không do
thiên chấp ấy được xưng danh. Với lời nói vắn tắt này của Ta, này
Tỷ-kheo, Ông cần phải hiểu một cách rộng rãi như vậy.
9) Rồi Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ
lời Thế Tôn thuyết, từ chỗ ngồi đứng dậy, thân phía hữu hướng
về Ngài rồi ra đi.
[II]
10) Rồi Tỷ-kheo ấy sống một mình, tịnh cư, không
phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu chứng được mục đích mà
con nhà lương gia chân chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình
hướng đến: Ðó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh. Vị ấy ngay trong
hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy
biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã
làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
11) Và vị Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán
nữa.
IV. Vị Tỷ Kheo (S.iii,37)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi...
2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn... ngồi
xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
3) -- Bạch Thế Tôn, lành thay, nếu Thế Tôn
thuyết pháp một cách vắn tắt cho con. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết
pháp, con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh
cần.
4) -- Này Tỷ-kheo, cái gì người ta thiên chấp
(anuseti), cái ấy người ta được đo lường (anopuyti). Cái gì người ta được
đo lường, cái ấy người ta được xưng danh (sankham gacchati). Cái gì người
ta không thiên chấp, cái ấy người ta không được đo lường. Cái gì người
ta không được đo lường, cái ấy người ta không được xưng danh.
-- Con đã hiểu, bạch Thế Tôn. Con đã hiểu,
bạch Thiện Thệ.
5) -- Lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỷ-kheo, Ông
đã hiểu một cách rộng rãi như thế nào?
6) -- Nếu thiên chấp sắc, bạch Thế Tôn, với
sắc, người ta được đo lường. Với cái gì người ta được đo lường, với
cái ấy, người ta được xưng danh. Nếu thiên chấp thọ... Nếu thiên
chấp tưởng... Nếu thiên chấp các hành... Nếu thiên chấp thức, với
thức, người ta được đo lường. Với cái gì người ta được đo lường, với
cái ấy, người ta được xưng danh.
7) Nếu không thiên chấp sắc, bạch Thế Tôn, với
sắc, người ta không được đo lường. Với cái gì người ta không được đo
lường, với cái ấy, người ta không được xưng danh. Nếu không thiên chấp
thọ... Nếu không thiên chấp tưởng... Nếu không thiên chấp các
hành... Nếu không thiên chấp thức, với thức, người ta không được đo
lường. Với cái gì người ta không được đo lường, với cái ấy, người ta
không được xưng danh. Với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, bạch
Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
8) -- Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay,
này Tỷ-kheo! Lời nói vắn tắt này của Ta, Ông đã hiểu một cách rộng
rãi như vậy. Nếu thiên chấp sắc, này Tỷ-kheo, với sắc, người ta
được đo lường. Với cái gì được đo lường, với cái ấy, người ta được
xưng danh. Nếu thiên chấp thọ... Nếu thiên chấp tưởng... Nếu
thiên chấp các hành... Nếu thiên chấp thức, với thức, người ta được đo
lường. Với cái gì người ta được đo lường, với cái ấy, người ta được
xưng danh. Nếu không thiên chấp sắc, này Tỷ-kheo, với sắc, người ta
không được đo lường. Với cái gì người ta không được đo lường, với cái
ấy, người ta không được xưng danh. Nếu không thiên chấp thọ...
Nếu không thiên chấp tưởng... Nếu không thiên chấp các hành...
Nếu không thiên chấp thức, với thức, người ta không được đo lường.
Với cái gì người ta không được đo lường, với cái ấy, người ta không
được xưng danh. Với lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỷ-kheo, Ông đã
hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
9) Rồi vị Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín
thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế
Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
10) Rồi vị Tỷ-kheo ấy sống một mình, tịnh cư...
11) Vị Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán.
V. Ananda (S.iii,37)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang ngồi một
bên:
-- Này Ananda, nếu có người hỏi Ông: "Này
Hiền giả Ananda, những pháp nào sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự
diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy
rõ?" Nếu được hỏi vậy, này Ananda, Ông trả lời như thế nào?
4) -- Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con:
"Này Hiền giả Ananda, những pháp nào sự sanh khởi được thấy rõ, sự
diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy
rõ?" Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như sau :
5) "Trong sắc, này Hiền giả, sự sanh khởi được
thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi
được thấy rõ. Trong thọ... Trong tưởng... Trong các hành... Trong thức,
này Hiền giả, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy
rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ". Ðược hỏi vậy,
bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như vậy.
6) -- Lành thay, lành thay, này Ananda! Này Ananda, trong
sắc sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi
tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Trong thọ... Trong tưởng... Trong
các hành... Trong thức, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được
thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Này Ananda, trong
những pháp này, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ,
trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðược hỏi vậy, này
Ananda, Ông phải trả lời như vậy.
VI. Ananda (S.iii,38)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này Ananda, nếu Ông được hỏi như sau:
"Trong những pháp nào, này Hiền giả Ananda, sự sanh khởi đã được
thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến
đổi đã được thấy rõ? Trong những pháp nào sự sanh khởi sẽ được thấy
rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi
sẽ được thấy rõ? Trong những pháp nào, sự sanh khởi được thấy rõ, sự
diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy
rõ?" Ðược hỏi như vậy, này Ananda, Ông trả lời như thế nào?
4) -- Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi như sau:
"Trong những pháp nào, này Hiền giả Ananda, sự sanh khởi đã được
thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến
đổi đã được thấy rõ? Trong những pháp nào, sự sanh khởi sẽ được thấy
rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi
sẽ được thấy rõ? Trong những pháp nào, sự sanh khởi được thấy rõ, sự
diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy
rõ?" Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như sau:
5) "Ðối với sắc quá khứ, này Hiền giả, đã
đoạn diệt, đã biến hoại, đối với sắc ấy, sự sanh khởi đã được
thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến
đổi đã được thấy rõ. Ðối với thọ quá khứ, đã đoạn diệt, đã
biến hoại, sự sanh khởi của thọ ấy được thấy rõ, sự diệt mất
đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ.
Ðối với tưởng... Ðối với các hành... Ðối với thức quá khứ, đã đoạn
diệt, đã biến hoại, sự sanh khởi của thức ấy đã được thấy rõ, sự
diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã
được thấy rõ. Trong những pháp này, này Hiền giả, sự sanh khởi đã
được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự
biến đổi đã được thấy rõ.
6) Ðối với sắc chưa sanh, này Hiền giả, chưa
hiện hữu, trong sắc ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất
sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ.
Ðối với thọ chưa sanh, chưa hiện hữu, trong thọ ấy, sự sanh khởi
sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự
biến đổi sẽ được thấy rõ. Ðối với tưởng... Ðối với các hành...
Ðối với thức chưa sanh, chưa hiện hữu, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ,
sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ
được thấy rõ. Trong những pháp này, này Hiền giả, sự sanh khởi sẽ
được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự
biến đổi sẽ được thấy rõ.
7) Ðối với sắc đã sanh, này Hiền giả, đã
hiện hữu, trong sắc ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất
được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðối với
thọ đã sanh, đã hiện hữu... Ðối với tưởng đã sanh, đã hiện
hữu... Ðối với các hành đã sanh, đã hiện hữu... Ðối với thức đã
sanh, đã hiện hữu, trong thức ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự
diệt mất được thấy rõ. Trong những pháp này, này Hiền giả, sự sanh
khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự
biến đổi được thấy rõ".
Nếu con được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con
sẽ trả lời như vậy.
8) -- Lành thay, lành thay, này Ananda! Này Ananda, đối
với sắc thuộc quá khứ đã đoạn diệt, đã biến hoại; đối với sắc
ấy, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ,
trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Ðối với thọ...
Ðối với tưởng... Ðối với các hành... Ðối với thức, thuộc quá khứ đã
đoạn diệt, đã biến hoại, trong thức ấy, sự sanh khởi đã được thấy
rõ, sự biến mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi
đã được thấy rõ. Trong các pháp này, này Ananda, sự sanh khởi đã được
thấy rõ, sự biến mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến
đổi đã được thấy rõ.
9) Ðối với sắc chưa sanh, này Ananda, chưa hiện
hữu, trong sắc ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được
thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Ðối với
thọ... Ðối với tưởng... Ðối với các hành... Ðối với thức chưa sanh
khởi, chưa hiện hữu, trong thức ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự
diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được
thấy rõ. Ðối với những pháp này, này Ananda, sự sanh khởi sẽ được thấy
rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi
sẽ được thấy rõ.
10) Ðối với sắc đã sanh, này Ananda, đã hiện hữu,
đối với sắc ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy
rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðối với thọ...
Ðối với tưởng... Ðối với các hành... Ðối với thức đã sanh, đã hiện
hữu, đối với thức ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được
thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Trong những pháp
này, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi
tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðược hỏi như vậy, này Ananda,
Ông cần phải trả lời như vậy.
VII. Tùy Pháp (S.iii,41)
1-2) Nhân duyên ở Sàavatthi...
3) -- Ðối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy
pháp, tùy pháp này có mặt: Ðối với sắc, vị ấy sống nhiều yếm ly;
đối với thọ, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với tưởng, vị ấy
sống nhiều yếm ly; đối với các hành, vị ấy sống nhiều yếm ly;
đối với thức, vị ấy sống nhiều yếm ly.
4) Ai sống nhiều yếm ly đối với sắc... đối với
thọ... đối với tưởng... đối với các hành... ai sống nhiều yếm ly
đối với thức, vị ấy liễu tri sắc... liễu tri thọ... liễu tri tưởng...
liễu tri các hành... liễu tri thức. Do liễu tri sắc... thọ... tưởng... các
hành... do liễu tri thức, vị ấy được giải thoát khỏi sắc, giải thoát khỏi
thọ, giải thoát khỏi tưởng, giải thoát khỏi các hành, giải thoát khỏi
thức, giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy
giải thoát khỏi đau khổ.
VIII. Tùy Pháp (S.iii,41)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3-5) -- Ðối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy
pháp, tùy pháp này có mặt: Vị ấy sống tùy quán vô thường trong sắc... Ta
nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ.
IX. Tùy Pháp (S.iii,41)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3-5) -- Ðối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy
pháp, tùy pháp này có mặt: Vị ấy sống tùy quán khổ trong sắc... Ta nói vị
ấy giải thoát khỏi đau khổ.
X. Tùy Pháp (S.iii,41)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Ðối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy
pháp, tùy pháp này có mặt: Vị ấy sống tùy quán vô ngã trong sắc... trong
thọ... trong tưởng... trong các hành. Vị ấy sống tùy quán vô ngã trong
thức...
4) Ai sống tùy quán vô ngã trong sắc, trong thọ,
trong tưởng, trong các hành, trong thức; vị ấy liễu tri sắc, liễu tri thọ,
liễu tri tưởng, liễu tri các hành, liễu tri thức. Do vị ấy liễu tri sắc, liễu
tri thọ, liễu tri tưởng, liễu tri các hành, liễu tri thức; vị ấy giải
thoát khỏi sắc, giải thoát khỏi thọ, giải thoát khỏi tưởng, giải thoát
khỏi các hành, giải thoát khỏi thức, giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu,
bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ.
V. Phẩm Tự Mình Làm Hòn Ðảo.
I. Tự Mình Làm Hòn Ðảo (Ðại 2,8a)
(S.iii,42)#
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Hãy sống tự mình làm hòn đảo cho chính mình,
này các Tỷ-kheo, hãy nương tựa nơi chính mình, không nương tựa một ai
khác. Hãy lấy pháp làm hòn đảo, hãy lấy pháp làm chỗ nương tựa, không
nương tựa một ai khác.
4) Với những ai sống tự mình làm hòn đảo cho chính
mình, này các Tỷ-kheo, nương tựa nơi chính mình, không nương tựa một ai
khác. Lấy pháp làm hòn đảo, lấy pháp làm chỗ nương tựa, không nương
tựa một ai khác, hãy như lý quán sát: "Sầu, bi, khổ, ưu, não do
nguồn gốc gì sanh? Do cái gì làm cho hiện hữu?"
5) Và này các Tỷ-kheo, sầu, bi, khổ, ưu, não do
nguồn gốc gì sanh? Do cái gì làm cho hiện hữu?
6) Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu
không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu
tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục
pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán
(samamupassati) sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong
tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Sắc của vị ấy biến hoại và đổi khác.
Khi sắc của vị ấy biến hoại và đổi khác thì sầu, bi, khổ, ưu, nào sẽ
khởi lên.
7) Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như
là có thọ...
8) Vị ấy quán tưởng như là tự ngã...
9) Vị ấy quán các hành như là tự ngã...
10) Vị ấy quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là
có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Thức này của vị
ấy biến hoại và đổi khác. Khi thức của vị ấy biến hoại và đổi
khác thì sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ khởi lên.
11) Này các Tỷ-kheo, biết sắc là vô thường,
biến hoại, ly tham, đoạn diệt; vị ấy thấy tất cả sắc xưa và nay là
vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Do thấy như thật với chánh trí
tuệ như vậy, sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn tận. Do chúng được
đoạn tận, vị ấy không bị ưu, não. Do không bị ưu, não, vị ấy sống an lạc.
Do sống an lạc, vị Tỷ-kheo được gọi là (Tadanganibbuto) vị đã lắng
dịu mọi tướng phần, nhứt hướng Niết-bàn.
12) Này các Tỷ-kheo, biết thọ là vô thường,
biến hoại, ly tham, đoạn diệt, vị ấy thấy tất cả thọ xưa và nay
là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Do thấy như thật với chánh trí
tuệ như vậy, các sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn tận. Do chúng được
đoạn tận, vị ấy không bị ưu, não. Do không bị ưu, não, vị ấy sống an lạc.
Do sống an lạc, vị Tỷ-kheo được gọi là vị đã lắng dịu mọi
tướng phần, nhứt hướng Niết-bàn..
13) Này các Tỷ-kheo, biết tưởng là vô
thường...
14) Này các Tỷ-kheo, biết các hành là vô
thường...
15) Này các Tỷ-kheo, biết thức là vô thường,
biến hoại, ly tham, đoạn diệt; vị ấy thấy tất cả thức xưa và nay là
vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Do thấy như thật với chánh trí
tuệ như vậy, các sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn tận. Do chúng được
đoạn tận, vị ấy không bị ưu, não. Do không bị ưu, não, vị ấy sống an lạc.
Do sống an lạc, vị Tỷ-kheo được gọi là vị đã lắng dịu mọi
tướng phần, nhứt hướng Niết-bàn..
II. Con Ðường (Ðại 2,8a) (S.iii,44)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông con
đường đưa đến thân kiến tập khởi và con đường đưa đến thân
kiến đoạn diệt. Hãy lắng nghe.
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường
đưa đến thân kiến tập khởi?
5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu
không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu
tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục
pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán sắc như
là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở
trong sắc.
6-8) ... quán thọ... quán tưởng... quán các hành...
9) ... quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có
thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.
10) Này các Tỷ-kheo, đây gọi là con đường
đưa đến thân kiến tập khởi. Con đường đưa đến thân kiến
tập khởi có nghĩa là: Sự quán sát đưa đến khổ tập khởi.
11) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường
đưa đến thân kiến đoạn diệt?
12) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh
đệ tử thấy rõ các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập
pháp các bậc Thánh, thấy rõ các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc
Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân; không quán sắc như là tự ngã, hay
không quán tự ngã như là có sắc, hay không quán sắc ở trong tự ngã, hay
không quán tự ngã ở trong sắc.
13-15) ... không quán thọ... không quán tưởng...
không quán các hành...
16) ... không quán thức như là tự ngã, hay không quán
tự ngã như là có thức, hay không quán thức ở trong tự ngã, hay không quán
tự ngã ở trong thức.
17) Này các Tỷ-kheo, đây gọi là con đường
đưa đến thân kiến đoạn diệt. Con đường đưa đến thân
kiến đoạn diệt có nghĩa là: Sự quán sát đưa đến sự khổ đoạn
diệt.
III. Vô Thường (Tạp 3,35, Thanh Tịnh,
Ðại 2,21c) (S.iii,44)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì
vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã, cần phải như
thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi; cái
này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi". Do như thật
quán với chánh trí tuệ như vậy, tâm ly tham, được giải thoát, không có
chấp thủ các lậu hoặc.
4-6) Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô thường...
Tưởng, này các Tỷ-kheo... Các hành, này các Tỷ-kheo...
7) Thức, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô
thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì là vô ngã, cần phải như
thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi; cái
này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi". Do như thật
quán với chánh trí tuệ như vậy, tâm ly tham, được giải thoát, không có
chấp thủ các lậu hoặc.
8) Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đối với
sắc giới có tâm ly tham, giải thoát, không có chấp thủ các lậu hoặc, đối
với thọ giới... đối với tưởng giới... đối với hành giới... đối với
thức giới, có tâm ly tham, giải thoát, không có chấp thủ các lậu hoặc. Do
giải thoát, vị ấy an trú. Do an trú, vị ấy tri túc. Do tri túc, vị ấy không
ưu não. Do không ưu não, vị ấy tự mình tịch tịnh. Vị ấy biết: "
Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn
trở lui trạng thái này nữa".
IV. Vô Thường (Tạp 3,36, Chánh Quán Sát,
Ðại 2,21c) (S.iii,45)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì
vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã, cần phải như
thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi; cái
này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi".
4-6) Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô thường...
Tưởng, này các Tỷ-kheo, là vô thường... Các hành, này các Tỷ-kheo,
là vô thường...
7) Thức, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô
thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã, cần phải như thật
quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi; cái này
không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi".
8) Do như thật quán với chánh trí tuệ như vậy, vị
ấy không có các tùy kiến về quá khứ. Do không có các tùy kiến
về quá khứ nên không có các tùy kiến về tương lai. Do không có
các tùy kiến về tương lai, kiên trì chấp thủ không có. Do không có
kiên trì chấp thủ, đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng...
đối với các hành... đối với thức, tâm ly tham, giải thoát, không chấp thủ
các lậu hoặc. Do giải thoát, vị ấy an trú. Do an trú, vị ấy tri túc. Do tri
túc, vị ấy không ưu não. Do không ưu não, vị ấy tự mình được tịch tịnh
một cách viên mãn. Vị ấy biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành,
những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
V. Quán Kiến (Tạp 2,13, Giác, Ðại
2,11b) (S.iii,46)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn
nào quán tự ngã dưới nhiều hình thức sai khác, quán cả năm thủ uẩn hay
quán một trong năm thủ uẩn.
4) Thế nào là năm? Này các Tỷ-kheo, ở đây kẻ
vô văn phàm phu không được thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp
các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy rõ các
bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp
các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay
sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc, quán thọ... quán tưởng...
quán các hành... quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay
thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Nếu quán như vậy, thời đi
đến chấp kiến: "Tôi là".
5) Này các Tỷ-kheo, khi đi đến chấp kiến:
"Tôi là", thời năm căn nhập vào avakkanti (hiện hữu), tức là
nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.
6) Này các Tỷ-kheo, có ý, có các pháp, có vô
minh giới. Cảm xúc bởi cảm thọ, cảm thọ này sanh do xúc chạm với vô
minh; kẻ vô văn phàm phu đi đến chấp kiến: "Tôi là", đi
đến chấp kiến: "Cái này là tôi", đi đến chấp kiến:
" Tôi sẽ là", đi đến chấp kiến: "Tôi sẽ không là",
đi đến chấp kiến: "Tôi sẽ hiện hữu với sắc", đi
đến chấp kiến: "Tôi sẽ hiện hữu với vô sắc", đi
đến chấp kiến: "Tôi sẽ hiện hữu với tưởng", đi đến
chấp kiến: "Tôi sẽ hiện hữu với không tưởng", đi đến
chấp kiến: "Tôi sẽ hiện hữu với phi tưởng phi phi tưởng".
7) Như vậy, này các Tỷ-kheo, do năm căn an trú ở
đây, nhưng đối với vị Ða văn Thánh đệ tử, vô minh được đoạn trừ
và minh khởi lên. Do vô minh được viễn ly, do minh sanh khởi, không đi
đến chấp kiến: "Tôi là", không đi đến chấp kiến:
"Cái này là tôi", không đi đến chấp kiến: "Tôi sẽ
hiện hữu"... "Tôi sẽ không hiện hữu"... "Tôi sẽ
hiện hữu với sắc"... "Tôi sẽ hiện hữu với vô sắc"...
"Tôi sẽ hiện hữu với tưởng"... "Tôi sẽ hiện hữu với vô
tưởng", không đi đến chấp kiến: "Tôi sẽ hiện hữu với
phi tưởng phi phi tưởng".
VI. Các Uẩn (Tạp 2,23 Ấm, Ðại 2,13b)
(S.iii,47)#
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng năm uẩn và năm
thủ uẩn, hãy lắng nghe...
4) Này các Tỷ-kheo, thế nào là năm uẩn?
5) Này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì quá khứ, vị
lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa
hay gần; đây gọi là sắc uẩn.
6-8) Này các Tỷ-kheo, phàm có thọ gì... phàm có
tưởng gì... phàm có các hành gì...
9) Này các Tỷ-kheo, phàm có thức gì quá khứ, vị
lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa
hay gần; đây gọi là thức uẩn.
10) Những cái này, này các Tỷ-kheo, được gọi
là năm uẩn.
11) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là năm thủ
uẩn?
12) Này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì quá khứ vị
lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại... hoặc xa hay gần, có lậu hoặc, được
chấp thủ; đây gọi là sắc thủ uẩn.
13-15) Này các Tỷ-kheo, phàm có thọ gì... phàm
có tưởng gì... phàm có các hành gì...
16) Này các Tỷ-kheo, phàm có thức gì, quá khứ, vị
lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa
hay gần, có lậu hoặc, được chấp thủ; đây gọi là thức thủ uẩn.
17) Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là năm thủ
uẩn.
VII. Sona (Tạp 1,20, Thu-lữ-na, Ðại 2,6a)
(S.iii,48)#
1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana
(Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2) Rồi Sona, con một gia chủ, đi đến Thế Tôn;
sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
3) Thế Tôn nói với Sona, con một gia chủ, đang ngồi
một bên:
4) -- Này Sona, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào quán sắc
vô thường, khổ, biến hoại là: "Ta tốt đẹp hơn", hay quán:
"Ta bằng nhau", hay quán: "Ta hạ liệt hơn"; những vị ấy
đâu phải là những ai khác, nếu không phải là những người không thấy
như thật!
5) ... quán thọ vô thường, khổ, biến hoại...
6) ... quán tưởng vô thường, khổ, biến hoại...
7) ... quán các hành vô thường, khổ, biến hoại...
8) ... quán thức vô thường, khổ, biến hoại là :
"Ta tốt đẹp hơn", hay quán: "Ta bằng nhau", hay quán: "Ta
hạ liệt hơn"; những vị ấy đâu phải là những ai khác, nếu không
phải là những người không thấy như thật!
9) Này Sona, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không quán
sắc vô thường, khổ, biến hoại là: "Ta tốt đẹp hơn", hay không
quán: "Ta bằng nhau", hay không quán: "Ta hạ liệt hơn";
những vị ấy đâu phải là những ai khác, nếu không phải là những vị thấy
như thật!
10-12) Này Sona, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không
quán thọ... không quán tưởng... không quán các hành...
13) Này Sona, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không quán
thức vô thường, khổ, biến hoại là: "Ta tốt đẹp hơn", hay không
quán: "Ta bằng nhau", hay không quán: "Ta hạ liệt hơn";
những vị ấy đâu phải là những ai khác, nếu không phải là những vị thấy
như thật!
14) Ông nghĩ thế nào, này Sona, sắc là thường hay
vô thường?
-- Vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có
hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này
là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
15) -- Thọ là thường hay vô thường?...
16) Tưởng là thường hay vô thường?...
17) Các hành là thường hay vô thường?...
18) Thức là thường hay vô thường?
-- Vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có
hợp lý hay chăng nếu quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái
này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
19) -- Do vậy, này Sona, phàm sắc gì quá khứ, vị lai,
hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay
gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: "Cái này
không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã
của tôi".
20-22) Phàm thọ gì... phàm tưởng gì... phàm các
hành gì...
23) Phàm thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc
nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức cần
phải như thật quán với chánh trí tuệ: "Cái này không phải của tôi,
cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
24) Nếu thấy vậy, này Sona, vị Ða văn Thánh đệ
tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với
tưởng, yếm ly đối với các hành, yếm ly đối với thức. Do yếm ly,
vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên
chánh trí: "Ta đã giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã
tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui
trạng thái này nữa".
VIII. Sona (Tạp 1,31, Thu-lữ-na, Ðại 2,6c)
(S.iii,50)#
1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagala (Vương Xá),
Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2) Rồi Sona, con vị gia chủ, đi đến Thế Tôn; sau
khi đến, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên.
3) Thế Tôn nói với Sona, con vị gia chủ, đang ngồi
một bên:
4) -- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Sona, không
biết rõ sắc, không biết rõ (nappajananti) sắc tập khởi, không biết
rõ sắc đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn
diệt; không biết rõ thọ... không biết rõ tưởng... không
biết rõ các hành... không biết rõ thức, không biết rõ thức tập
khởi, không biết rõ thức đoạn diệt, không biết rõ con đường
đưa đến thức đoạn diệt; những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này Sona,
không những không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, không
được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; những vị ấy trong
đời sống hiện tại, cũng không tự mình chứng tri với thắng trí, chứng
đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.
5) Còn những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Sona,
biết rõ sắc, biết rõ sắc tập khởi, biết rõ sắc đoạn diệt,
biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt; biết rõ
thọ... biết rõ tưởng... biết rõ các hành... biết rõ thức,
biết rõ thức tập khởi, biết rõ thức đoạn diệt, biết rõ con
đường đưa đến thức đoạn diệt; những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này
Sona, không những được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, được
chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; những vị Tôn giả ấy, ngay
trong đời sống hiện tại, còn tự mình chứng tri với thắng trí, chứng đạt
và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.
IX. Hỷ Ðược Ðoạn Tận (S.iii,51)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo thấy sắc
vô thường là vô thường; đấy là chánh tri kiến của vị ấy. Thấy chơn
chánh như vậy, vị ấy yếm ly. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận.
Do tham đoạn tận, hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm
được giải thoát, vị ấy được gọi là vị đã khéo giải thoát.
4-6) Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo thấy
thọ vô thường là vô thường... tưởng vô thường... các hành vô
thường...
7) Này các Tỷ-kheo, khi vị Tỷ-kheo thấy thức vô
thường là vô thường; đấy là chánh tri kiến của vị ấy. Thấy chơn chánh
như vậy, vị ấy yếm ly. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham
đoạn tận, nên hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được
giải thoát, vị ấy được gọi là vị đã được khéo giải thoát.
X. Hỷ Ðược Ðoạn Tận (S.iii,52)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Hãy như lý tác ý sắc, này các
Tỷ-kheo, hãy như thật quán (samanupassati) sắc là vô thường. Này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào như lý tác ý sắc, như thật quán sắc là
vô thường, vị ấy yếm ly đối với sắc. Do hỷ đoạn tận, tham được
đoạn tận. Do tham đoạn tận, hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn
tận, tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là vị đã được khéo giải
thoát.
4) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào như lý tác
ý thọ... tác ý tưởng... tác ý các hành...
5) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào như lý tác
ý thức, như thật quán thức là vô thường, vị ấy yếm ly đối với
thức. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham đoạn tận, hỷ
được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được giải thoát, vị ấy
được gọi là đã được khéo giải thoát.