Kinh Tương Ưng Bộ · Saṃyutta Nikāya

[22] Chương I — Tương Ưng Uẩn (a)

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Tương Ưng Bộ

Kinh Trung Bộ · Bài 3

[22] Chương I — Tương Ưng Uẩn (a)#

Tập III - Thiên Uẩn

Tương Ưng Bộ -

Samyutta Nikaya

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Tập III - Thiên Uẩn

[22] Chương I

Tương Ưng Uẩn (a)

-ooOoo-

A. Năm Mươi Kinh Căn

Bản

I. Phẩm Nakulapità

I. Nakulapitā (Tạp, 5.5 Trưởng Giả, Ðại

2,33a) (Tăng 13.4, Ðại 2,573a) (S.iii,1)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn sống giữa dân chúng Bhayga, tại núi Cá Sấu, rừng Bhesaka,

vườn Nai.

2) Rồi gia chủ Nakulapitā đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn

rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi xuống một bên, gia chủ Nakulapitā bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, con đã già, tuổi lớn, trưởng lão, cao niên, đã đạt đến

tuổi thọ, thân bệnh hoạn, luôn luôn ốm đau. Bạch Thế Tôn, con không được

thường thấy Thế Tôn và các vị tỳ-khưu đáng kính. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn

hãy giáo giới cho con! Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy giảng dạy cho con! Nhờ

vậy, con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.

4) – Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thân của

Gia chủ, này Gia chủ, là bệnh hoạn, ốm đau, bị nhiễm ô che đậy. Ai mang cái

thân này, này Gia chủ, lại tự cho là không bệnh, dù chỉ trong một giây phút;

người ấy phải là người ngu! Do vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập

như sau: “Dù cho thân tôi có bệnh, tâm sẽ không bị bệnh”. Như vậy, này Gia

chủ, Gia chủ cần phải học tập.

5) Rồi gia chủ Nakulapitā sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ

chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, đi đến Tôn

giả Sāriputta; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Sāriputta rồi ngồi xuống một bên.

6) Tôn giả Sāriputta nói với gia chủ Nakulapitā đang ngồi một bên:

– Này Gia chủ, tịch tịnh là các căn của Gia chủ; thanh tịnh và trong sáng

là sắc diện của Gia chủ. Có phải hôm nay Gia chủ đối diện với Thế Tôn, được

nghe pháp thoại?

– Làm sao không thể như vậy được, thưa Tôn giả? Hôm nay, thưa Tôn giả,

con được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng cho pháp thoại!

– Như thế nào, này Gia chủ, Gia chủ được rưới với nước bất tử, nhờ Thế

Tôn giảng cho pháp thoại?

7) – Ở đây, thưa Tôn giả, con đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế

Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thưa Tôn giả, con bạch Thế

Tôn:

“– Bạch Thế Tôn, con đã già, tuổi lớn, trưởng lão, cao niên, đã đạt đến

tuổi thọ, thân bệnh hoạn, luôn luôn ốm đau. Bạch Thế Tôn, con không được

thường thấy Thế Tôn và các tỳ-khưu đáng kính. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn

giáo giới cho con! Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn giảng dạy cho con! Nhờ vậy con

được hạnh phúc, an lạc lâu dài!”

Ðược nghe nói vậy, thưa Tôn giả, Thế Tôn nói với con:

“– Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thân của Gia

chủ, này Gia chủ, là bệnh hoạn, ốm yếu, bị nhiễm ô che đậy. Ai mang cái thân

này, này Gia chủ, lại tự cho là không bệnh, dù chỉ trong một giây phút;

người ấy phải là người ngu! Do vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập

như sau: ‘Dù thân tôi có bệnh, tâm sẽ không bị bệnh!”

Như vậy, thưa Tôn giả, con được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng

cho pháp thoại.

8) – Nhưng này Gia chủ, Gia chủ có hỏi thêm Thế Tôn như sau: “Cho đến như

thế nào, bạch Thế Tôn, là thân bị bệnh và tâm cũng bị bệnh? Cho đến như thế

nào là thân bị bệnh, nhưng tâm không bị bệnh không?”

9) – Thưa Tôn giả, con có thể đi đến thật xa để nghe tận mặt Tôn giả

Sāriputta ý nghĩa của lời nói này. Lành thay, nếu được Tôn giả Sāriputta

giải thích ý nghĩa của lời nói này!

10) – Vậy này Gia chủ, hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, ta sẽ nói.

– Thưa vâng, Tôn giả.

Gia chủ Nakulapitā vâng đáp Tôn giả Sāriputta.

11) Tôn giả Sāriputta nói như sau:

– Thế nào, này Gia chủ, là thân bệnh và tâm bệnh?

12) Ở đây, này Gia chủ, có kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh,

không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không

thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu

tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc,

hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy bị ám ảnh: “Sắc là ta,

sắc là của ta”. Do bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của ta”, khi sắc biến hoại,

đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

13) Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở

trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy bị ám ảnh: “Thọ là ta, thọ là

của ta”. Do bị ám ảnh: “Thọ là ta, thọ là của ta”, khi thọ biến hoại, đổi

khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

14) Vị ấy quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng, hay tưởng

ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy bị ám ảnh: “Tưởng là ta,

tưởng là của ta”. Do bị ám ảnh: “Tưởng là ta, tưởng là của ta”, khi tưởng

biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

15) Vị ấy quán các hành như là tự ngã hay tự ngã như là có các hành, hay

các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy bị ám ảnh: “Các

hành là ta, các hành là của ta”. Do bị ám ảnh: “Các hành là ta, các hành là

của ta”, khi các hành biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu,

não!

16) Vị ấy quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở

trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy bị ám ảnh: “Thức là ta, thức là

của ta”. Do bị ám ảnh: “Thức là ta, thức là của ta”, khi thức biến hoại, đổi

khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

17) Như vậy, này Gia chủ, là thân có bệnh và tâm có bệnh.

18) Thế nào, này Gia chủ, là thân có bệnh nhưng tâm không có bệnh?

19) Ở đây, này Gia chủ, vị đa văn Thánh đệ tử hiểu rõ các bậc Thánh,

thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, hiểu rõ các bậc

Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân,

không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự

ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy không bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của

ta”. Do không bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của ta”, khi sắc biến hoại, đổi

khác, vị ấy không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

20) Vị ấy không quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ

ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy không bị ám ảnh: “Thọ là ta,

thọ là của ta”. Do không bị ám ảnh: “Thọ là ta, thọ là của ta”, khi thọ biến

hoại, đổi khác, vị ấy không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

21) Vị ấy không quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng, hay

tưởng ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy không bị ám ảnh:

“Tưởng là ta, tưởng là của ta”. Do không bị ám ảnh: “Tưởng là ta, tưởng là

của ta”, khi tưởng biến hoại, đổi khác, vị ấy không khởi lên sầu, bi, khổ,

ưu, não!

22) Vị ấy không quán các hành như là tự ngã hay tự ngã như là có các hành,

hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy không bị ám

ảnh: “Các hành là ta, các hành là của ta”. Do không bị ám ảnh: “Các hành là

ta, các hành là của ta”, khi các hành biến hoại, đổi khác, vị ấy không khởi

lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

23) Vị ấy không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay

thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy không bị ám ảnh: “Thức

là ta, thức là của ta”. Do không bị ám ảnh: “Thức là ta, thức là của ta”,

khi thức biến hoại, đổi khác, vị ấy không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

(24) Như vậy, này Gia chủ, là thân có bệnh, nhưng tâm không có bệnh.

(25) Tôn giả Sāriputta thuyết như vậy, gia chủ Nakulapitā hoan hỷ, tín

thọ lời Tôn giả Sāriputta thuyết.

(hiệu đính 21/11/2024)#

II. Devadaha (Tạp 5.6, Tây, Ðại 2,33b)

(Tăng 41.4, Ðại 2,745b) (S.iii,5)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka, tại một

thị trấn của dân chúng Sakka tên là Devadaha.

2) Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo du hành ở

phía Tây, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi

ngồi xuống một bên.

3) Ngồi xuống một bên, các vị Tỷ-kheo ấy bạch

Thế Tôn:

-- Chúng con muốn xin Thế Tôn cho phép chúng con đi

đến quốc độ phương Tây. Chúng con muốn trú ở quốc độ phương Tây.

-- Này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo đã xin phép

Sàriputta chưa?

-- Bạch Thế Tôn, chúng con chưa xin phép Tôn giả

Sàriputta.

-- Này các Tỷ-kheo, vậy hãy xin phép Sàriputta.

Sàriputta, này các Tỷ-kheo, là bậc Hiền trí, là người đỡ đầu các

vị Tỷ-kheo đồng Phạm hạnh.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

4) Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta đang ngồi dưới cây

ba đậu (elagalà: cassia), không xa Thế Tôn bao nhiêu.

5) Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín

thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế

Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi đi đến Tôn giả Sàriputta; sau

khi đến, các vị ấy nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón

hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi

xuống một bên.

6) Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy nói với Tôn

giả Sàriputta:

-- Chúng tôi muốn, thưa Hiền giả Sàriputta, đi

đến quốc độ phương Tây. Chúng tôi muốn trú ở quốc độ phương Tây.

Bậc Ðạo Sư đã cho phép chúng tôi.

7) -- Này các Hiền giả, có những người đặt câu

hỏi với vị Tỷ-kheo thường đi các quốc độ khác nhau: Các Sát-đế-lị

hiền trí, các Bà-la-môn hiền trí, các Gia chủ hiền trí, các

Sa-môn hiền trí. Này chư Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa

quán sát, sẽ hỏi: "Bậc Ðạo Sư của Tôn giả nói gì, tuyên bố gì? Pháp

có được chư Tôn giả khéo nghe, khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ

trì, khéo thâm nhập với trí tuệ không?" Ðể khi trả lời, các Tôn

giả có thể lập lại các ý kiến của Thế Tôn, không có xuyên

tạc Thế Tôn với điều không thật, có thể trả lời tùy pháp, đúng

với Chánh pháp, và không để một vị đồng phạm hạnh nào, nói lời đúng pháp,

có thể có lý do để quở trách.

8) -- Chúng tôi có thể đi đến thật xa, thưa

Tôn giả, để nghe tận mặt Tôn giả Sàriputta nói về ý nghĩa của

lời nói này! Lành thay, nếu được Tôn giả Sàriputta giải thích ý

nghĩa của lời nói này!

9) -- Vậy này các Hiền giả, hãy lắng nghe và khéo

tác ý, tôi sẽ nói.

-- Thưa vâng, Tôn giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn

giả Sàriputta nói như sau:

10) -- Này các Hiền giả, có những người đặt câu

hỏi với vị Tỷ-kheo thường đi các quốc độ khác nhau: Các Sát-đế-lị

hiền trí... các Sa-môn hiền trí. Này các Hiền giả, các bậc

hiền trí với óc ưa quán sát, có thể hỏi: "Bậc Ðạo Sư của Tôn

giả nói gì, tuyên bố gì?" Ðược hỏi vậy, này các Hiền giả, các

Hiền giả phải trả lời: "Này các Hiền giả, bậc Ðạo Sư của chúng

tôi nói đến sự điều phục dục và tham".

11) Ðược trả lời như vậy, này các Hiền giả, có

thể có người hỏi thêm câu hỏi như sau: Có những vị Sát-đế-lị hiền

trí... có những Sa-môn hiền trí. Này chư Hiền giả, các bậc hiền

trí với óc ưa quán sát, có thể hỏi: "Ðối với cái gì, bậc Ðạo

Sư của các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham?" Ðược

hỏi như vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời như sau:

"Ðối với sắc, này các Hiền giả, bậc Ðạo Sư chúng tôi nói về

sự điều phục dục và tham... đối với thọ... đối với tưởng... đối

với các hành... đối với thức, bậc Ðạo Sư chúng tôi nói về sự

điều phục dục và tham".

12) Ðược trả lời như vậy, này các Hiền giả, có

thể có người hỏi thêm như sau: Các Sát-đế-lị hiền trí... các

Sa-môn hiền trí. Các vị hiền trí có óc quán sát, này các Hiền

giả, có thể hỏi: "Nhưng thấy sự nguy hiểm gì, bậc Ðạo Sư các

Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham đối với sắc... đối với

thọ... đối với tưởng... đối với các hành, bậc Ðạo Sư các Tôn giả

nói đến sự điều phục dục và tham đối với thức?" Ðược hỏi

như vậy, này các Hiền giả, các Ông cần phải trả lời như sau: "Này

các Hiền giả, đối với sắc, ai chưa viễn ly tham, chưa viễn ly dục, chưa

viễn ly ái, chưa viễn ly khát, chưa viễn ly nhiệt tình, chưa viễn ly khát

ái, khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, sẽ khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

Ðối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... đối với thức, ai

chưa viễn ly tham, chưa viễn ly dục, chưa viễn ly ái, chưa viễn ly khát, chưa

viễn ly nhiệt tình, chưa viễn ly khát ái, khi thức ấy biến hoại, đổi

khác, sẽ khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Này chư Hiền giả, do thấy sự

nguy hiểm này đối với sắc mà bậc Ðạo Sư của chúng tôi nói lên sự

điều phục dục và tham".

13) Ðược trả lời như vậy, này các Hiền giả, có

thể có người hỏi thêm như sau: Các Sát-đế-lị hiền trí... các

Sa-môn hiền trí. Các vị hiền trí có óc quán sát, này các Hiền

giả, (có thể hỏi): "Nhưng thấy sự lợi ích gì, bậc Ðạo Sư các Tôn

giả nói đến sự điều phục dục và tham đối với sắc... đối với

thọ... đối với tưởng... đối với các hành; bậc Ðạo Sư các Tôn giả

nói đến sự điều phục dục và tham đối với thức?" Ðược hỏi

vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời như sau: "Ðối

với sắc, này các Hiền giả, ai đã viễn ly tham, đã viễn ly dục, đã viễn

ly ái, đã viễn ly khát, đã viễn ly nhiệt tình, đã viễn ly khát ái, khi

sắc ấy biến hoại, đổi khác, sẽ không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

Ðối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... đối với thức,

này các Hiền giả, ai đã viễn ly tham, đã viễn ly dục, đã viễn ly ái,

đã viễn ly khát, đã viễn ly nhiệt tình, đã viễn ly khát ái, khi thức

ấy biến hoại, đổi khác, sẽ không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Do

thấy sự lợi ích này, này các Hiền giả, bậc Ðạo Sư của chúng tôi nói

đến sự điều phục dục và tham đối với sắc... đối với thọ...

đối với tưởng... đối với các hành; bậc Ðạo Sư của chúng tôi nói

đến sự điều phục dục và tham đối với thức".

14) Và này các Hiền giả, đạt được và an trú

trong các bất thiện pháp và ngay trong đời sống hiện tại, sống được

an lạc, không bị chướng ngại, không bị ưu não, không bị nhiệt não, sau

khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh thiện thú, đây không phải là sự

đoạn tận các bất thiện pháp được Thế Tôn tán thán.

15) Nhưng này các Hiền giả, vì rằng đạt được và

an trú trong các bất thiện pháp, và ngay trong đời sống hiện tại, sống

bị đau khổ, bị chướng ngại, bị ưu não, bị nhiệt não và sau khi thân

hoại mạng chung, sẽ phải sanh ác thú. Do vậy, đây là sự đoạn tận các bất

thiện pháp được Thế Tôn tán thán.

16) Và này các Hiền giả, đạt được và an trú

trong các thiện pháp, và ngay trong đời sống hiện tại, sống đau khổ,

bị chướng ngại, bị ưu não, bị nhiệt não, và sau khi thân hoại mạng

chung, sẽ phải sanh ác thú. Ðây không phải là sự thành tựu các thiện

pháp được Thế Tôn tán thán.

17) Nhưng này các Hiền giả, vì rằng đạt được và

an trú trong các thiện pháp, và ngay trong đời sống hiện tại, sống

được an lạc, không bị chướng ngại, không bị ưu não, không bị nhiệt

não, và sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh thiện thú. Do vậy,

đây là sự thành tựu các thiện pháp, được Thế Tôn tán thán.

18) Tôn giả Sàriputta thuyết như vậy. Các

Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sàriputta nói.

III. Hàliddikàni (Tạp, 20.15, Kha-lê, Ðại

2,144a) (S.iii,9)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Tôn giả Mahà Kaccàna (Ma-ha Ca-chiên-diên)

sống giữa các dân chúng Avanti, tại Kulaghara bên bờ một vực núi.

2) Rồi gia chủ Hàliddikàni đi đến Tôn giả Mahà

Kaccàna; sau khi đi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahà Kaccàna rồi ngồi xuống

một bên.

3) Ngồi xuống một bên, gia chủ Hàliddikàni nói với Tôn

Giả Mahà Kaccàna :

- Thưa Tôn Giả , Thế Tôn đã nói trong phẩm thứ

tám, trong tập: "Các câu hỏi của Màgandiya" như sau:

"Bậc Thánh bỏ gia đình,

Du hành không trú xứ,

Ðối với dân trong làng,

Không tác thành hệ lụy.

Tuyệt không các dục vọng,

Không ước vọng hão huyền,

Chấm dứt mọi tranh luận,

Bất cứ với một ai".

Với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, thưa Tôn

giả, ý nghĩa cần phải hiểu một cách rộng rãi như thế nào?

4) -- Sắc giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị

lòng tham sắc giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia

đình. Thọ giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham thọ

giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Tưởng

giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham tưởng giới trói buộc,

này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Hành giới, này Gia chủ,

là nhà của thức. Thức bị lòng tham hành giới trói buộc, này Gia chủ, được

gọi là du hành có gia đình. Thức giới, này Gia chủ, là nhà của thức.

Thức bị lòng tham thức giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành

có gia đình. Như vậy, này Gia chủ, là du hành có gia đình.

8) Và này Gia chủ, thế nào là du hành không gia

đình?

9) Ðối với sắc giới, này Gia chủ, cái gọi là dục,

là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú trước,

thiên chấp tùy miên; Như Lai đoạn tận chúng, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho

như thân cây ta-la, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương

lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không gia đình.

10) Ðối với thọ giới, này Gia chủ...

11) Ðối với tưởng giới, này Gia chủ...

12) Ðối với hành giới, này Gia chủ...

13) Ðối với thức giới, này Gia chủ, cái gọi là

dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú

trước, thiên chấp tùy miên; Như Lai đoạn tận chúng, cắt đứt tận gốc rễ,

làm cho như thân cây ta-la, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi

trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không gia đình.

14) Như vậy, này Gia chủ, là du hành không gia đình.

15) Như thế nào, này Gia chủ, là du hành có trú

xứ? Bị trói buộc bởi an trú chấp trước (niketa-visàra) vào sắc tướng, này

Gia chủ, gọi là du hành có trú xứ... vào thanh tướng... vào hương

tướng... vào vị tướng... vào xúc tướng. Bị trói buộc bởi an trú chấp

trước vào pháp tướng, này Gia chủ, gọi là du hành có trú xứ. Như vậy,

này Gia chủ, là du hành có trú xứ.

16) Như thế nào là du hành không trú xứ? Sự trói

buộc bởi an trú chấp trước vào sắc tướng, này Gia chủ, đối với Như Lai

đã được đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm

cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai

được gọi là du hành không trú xứ. Sự trói buộc bởi an trú chấp trước

vào thanh tướng... vào hương tướng... vào vị tướng... vào xúc tướng...

vào pháp tướng, này Gia chủ, đối với Như Lai đã được đoạn tận, cắt

đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không tái sanh, không

thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành

không trú xứ.

17) Như vậy, này Gia chủ, là du hành không trú xứ.

18) Như thế nào, này Gia chủ, là tác thành hệ lụy

trong làng? Ở đây, này Gia chủ, có người sống thân mật với gia chủ,

cùng vui, cùng buồn. Giữa những người sung sướng, vị ấy sung sướng. Giữa

những người buồn khổ, vị ấy buồn khổ. Khi có công việc phải làm khởi

lên, tự liên hệ mình vào các công việc ấy. Như vậy, này Gia chủ, là

tác thành hệ lụy trong làng.

19) Và như thế nào, này Gia chủ, là không tác

thành hệ lụy trong làng? Ở đây, này Gia chủ, vị Tỷ-kheo không sống

quá thân mật với gia chủ, không cùng vui, không cùng buồn, không vui sướng

giữa những người sung sướng, không buồn khổ giữa những người buồn khổ. Khi

có công việc phải làm khởi lên, không tự mình liên hệ vào các công

việc ấy. Như vậy, này Gia chủ, là không tác thành hệ lụy trong làng.

20) Như thế nào, này Gia chủ, là không tuyệt

không các dục vọng? Ở đây, này Gia chủ, có người không ly tham đối

với các dục vọng, không ly dục, không ly ái, không ly khát, không ly

nhiệt não, không ly khát ái. Như vậy, này Gia chủ, là không tuyệt

không đối với các dục.

21) Như thế nào, này Gia chủ, là tuyệt không

các dục vọng? Ở đây, này Gia chủ, có người ly tham đối với các

dục, ly dục, ly ái, ly khát, ly nhiệt não, ly khát ái. Như vậy, này Gia

chủ, là tuyệt không các dục.

22) Như thế nào, này Gia chủ, là hy vọng hão

huyền? Ở đây, này Gia chủ, có người suy nghĩ như sau: "Mong rằng

có sắc như vậy trong tương lai! Mong rằng có thọ như vậy trong tương lai!

Mong rằng có tưởng như vậy trong tương lai! Mong rằng có các hành như vậy

trong tương lai! Mong rằng có thức như vậy trong tương lai!" Như vậy, này

Gia chủ, là hư vọng hão huyền.

23) Như thế nào, này Gia chủ, là không hy vọng

hão huyền? Ở đây, này Gia chủ, có người không có suy nghĩ như sau:

"Mong rằng có sắc như vậy trong tương lai! Mong rằng có thọ như vậy

trong tương lai! Mong rằng có tưởng như vậy trong tương lai! Mong rằng có các

hành như vậy trong tương lai! Mong rằng có thức như vậy trong tương lai!"

Như vậy, này Gia chủ, là không hy vọng hão huyền.

24) Như thế nào, này Gia chủ, là tranh luận với

người? Ở đây, này Gia chủ, có người nói như sau: "Ông không

biết Pháp và Luật này. Ta biết Pháp và Luật này. Sao Ông có thể

biết Pháp và Luật này? Ông đã phạm vào tà kiến. Ta mới thật đúng

chánh kiến. Những điều đáng nói trước, Ông lại nói sau. Những

điều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Lời nói của ta mới tương ưng.

Lời nói của Ông không tương ưng. Chủ kiến của Ông đã bị bài bác. Câu

nói của Ông đã bị thách đố. Hãy đến mà giải vây lời nói ấy. Ông

đã bị thuyết bại. Nếu có thể được, hãy gắng thoát ra khỏi lối

bí". Như vậy, này Gia chủ, là tranh luận với người.

25) Như thế nào, này Gia chủ, là không tranh luận

với người? Ở đây, này Gia chủ, vị Tỷ-kheo không nói lời nói như

sau: "Ông không biết Pháp và Luật này.... .. Hãy thoát ra khỏi lối

bí". Như vậy, này Gia chủ, là không tranh luận với người.

26) Như vậy, này Gia chủ, Thế Tôn đã nói trong

phẩm thứ tám, trong tập: "Các câu hỏi của Màgandiya" như sau:

"Bậc Thánh bỏ gia đình,

Du hành không trú xứ,

Ðối với dân trong làng,

Không tác thành hệ lụy.

Tuyệt không các dục vọng.

Không ước vọng hão huyền,

Chấm dứt mọi tranh luận,

Bất cứ với một ai".

Với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, này Gia chủ,

ý nghĩa cần phải hiểu một cách rộng rãi như vậy.

IV. Hàliddikàni (Tạp 20.16 Kha-lê, Ðại

2,144c) (S.iii,12)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Tôn giả Mahà Kaccàna sống giữa dân chúng

Avanti, tại Kulaghara, bên bờ một vực núi.

2) Rồi gia chủ Hàliddikàni đi đến Tôn giả Mahà

Kaccàna... rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi xuống một bên, gia chủ Hàliddikàni nói với Tôn

giả Mahà Kaccàna:

4) -- Thế Tôn đã nói trong tập Các Câu hỏi Của

Sakka như vầy: "Những Sa-môn, Bà-la-môn nào được giải thoát với sự

đoạn tận khát ái, những vị ấy đã hoàn toàn đạt được toàn thiện,

đã hoàn toàn đạt được an ổn khỏi các khổ ách, đã hoàn toàn hành Phạm

hạnh, đã hoàn toàn đạt được mục đích, là bậc tối thượng giữa loài

Trời, loài Người". Với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, thưa Tôn

giả, ý nghĩa cần phải hiểu một cách rộng rãi như thế nào?

5) -- Ðối với sắc giới, này Gia chủ, cái gọi là

dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú

trước, thiên chấp, tùy miên; sự đoạn tận chúng, ly tham, đoạn diệt, từ

bỏ, từ khước chúng một cách hoàn toàn; như vậy gọi là tâm khéo giải

thoát.

6) Ðối với thọ giới, này Gia chủ...

7) Ðối với tưởng giới, này Gia chủ...

8) Ðối với hành giới, này Gia chủ...

9) Ðối với thức giới, này Gia chủ, cái gọi là

dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú

trước, thiên chấp, tùy miên; sự đoạn tận chúng, ly tham, đoạn diệt, từ

bỏ, từ khước chúng một cách hoàn toàn; như vậy gọi là tâm khéo giải

thoát.

10) Như vậy, này Gia chủ, là ý nghĩa đã được

Thế Tôn nói đến trong tập Các Câu hỏi Của Sakka: "Những Sa-môn,

Bà-la-môn nào được giải thoát với sự đoạn tận khát ái, những vị ấy đã

hoàn toàn đạt được toàn thiện, đã hoàn toàn đạt được an ổn khỏi

các khổ ách, đã hoàn toàn hành Phạm hạnh, đã hoàn toàn đạt được mục

đích, là bậc tối thượng giữa loài Trời và loài Người".

V. Thiền Ðịnh (Tạp 3.7-8 Thọ,

Ðại 2,17a) (Tạp 3.1. Sanh Diệt, Ðại 2,15b) (Tạp 3.2 Bất Thừa, Ðại 2,15b)

(S.iii,13)#

1) Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi...

2) Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

"Này các Tỷ-kheo". -- "Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các

Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

-- Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Vị

Tỷ-kheo có Thiền định, này các Tỷ-kheo, hiểu biết một cách

như thật.

3) Hiểu biết gì một cách như thật? Sắc tập

khởi và đoạn diệt; thọ tập khởi và đoạn diệt; tưởng tập khởi

và đoạn diệt; các hành tập khởi và đoạn diệt; thức tập khởi và

đoạn diệt.

4) Này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc tập khởi?

Thế nào là thọ tập khởi? Thế nào là tưởng tập khởi? Thế nào

là các hành tập khởi? Thế nào là thức tập khởi?

5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hoan

hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú. Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm

trước và an trú gì?

6) Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc.

Do vị ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc, hỷ đối với

sắc khởi lên. Do hỷ đối với sắc, thủ đối với sắc khởi lên. Do duyên

thủ đối với sắc, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh,

già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của

toàn bộ khổ uẩn này.

7-10) Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú

thọ... rồi an trú tưởng... rồi an trú các hành... rồi an trú thức. Do vị

ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thức, hỷ khởi lên. Do

hỷ đối với thức, thủ đối với thức khởi lên. Do duyên thủ đối với

thức, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết,

sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ

uẩn này.

11) Này các Tỷ-kheo, đây là sắc tập khởi, đây là

thọ tập khởi, đây là tưởng tập khởi, đây là hành tập khởi, đây là

thức tập khởi.

12) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc đoạn

diệt, thế nào là thọ đoạn diệt, thế nào là tưởng đoạn

diệt, thế nào là các hành đoạn diệt, thế nào là thức đoạn

diệt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị ấy không hoan hỷ, không hoan

nghênh, không đắm trước và an trú.

13) Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm

trước và an trú gì? Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước

và an trú sắc. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm

trước và an trú sắc, hỷ đối với sắc đoạn diệt. Do hỷ đối với

sắc đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu

đoạn diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

14) Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm

trước và an trú thọ. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không

đắm trước và an trú thọ, hỷ đối với thọ đoạn diệt. Do

hỷ đối với thọ đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn

diệt nên hữu đoạn diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ

khổ uẩn này.

15-16) Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm

trước và an trú tưởng... không đắm trước và an trú các hành. Do vị ấy

không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú các hành,

hỷ đối với các hành đoạn diệt. Do hỷ đối với các hành đoạn

diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn

diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

17) Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm

trước và an trú thức. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không

đắm trước và an trú thức, hỷ đối với thức đoạn diệt. Do hỷ

đối với thức đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt

nên hữu đoạn diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn

này.

18) Này các Tỷ-kheo, đây là sắc đoạn diệt,

đây là thọ đoạn diệt, đây là tưởng đoạn diệt, đây là các

hành đoạn diệt, đây là thức đoạn diệt.

VI. Tỉnh Mặc (Tạp, 3.7-8, Thọ, Ðại

2,17a) (S.iii,15)

1) Nhân duyên tại Sàvatthi...

2) -- Này các Tỷ-kheo, hãy trú tâm, dán tâm vào

tỉnh mặc. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo có tỉnh mặc hiểu biết

một cách như thật.

3) Hiểu biết gì một cách như thật? Sắc tập

khởi và đoạn diệt; thọ tập khởi và đoạn diệt; tưởng tập khởi

và đoạn diệt; các hành tập khởi và đoạn diệt; thức tập khởi và

đoạn diệt ( Như kinh trước, từ số 4 đến số 18 ).

VII. Chấp Thủ Và Ưu Não (Tạp 2.11 Thủ

Trước, Ðại 2,10c) (S.iii,15)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi...

2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông

về sự chấp thủ và ưu não, sự không chấp thủ và không ưu não. Hãy lắng

nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

3) Thế Tôn nói như sau:

-- Này các Tỷ-kheo, thế nào là chấp thủ và ưu

não?

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu

không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu

tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục

pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, người ấy quán

sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay

tự ngã ở trong sắc. Ðối với vị ấy, sắc ấy biến hoại và đổi khác.

Ðối với vị ấy, khi sắc ấy biến hoại và đổi khác, thức tùy chuyển

theo sự biến hoại của sắc. Các pháp ưu não sanh khởi do thức tùy

chuyển theo sự biến hoại của sắc sau khi xâm nhập tâm và an trú. Do

tâm bị xâm chiếm nên khủng bố, chướng ngại, khát vọng được sanh

khởi và ưu não.

5) Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như

là có thọ, hay thọ trong tự ngã, hay tự ngã trong thọ. Ðối với vị

ấy, thọ ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi thọ ấy

biến hoại và đổi khác, thức tùy chuyển theo sự biến hoại của

thọ. Các pháp ưu não sanh khởi do thức tùy chuyển theo sự biến

hoại của thọ sau khi xâm chiếm tâm và an trú. Do tâm bị xâm nhập nên

khủng bố (uttàsavà), chướng ngại, khát vọng được sanh khởi và ưu não.

6-7) Vị ấy quán tưởng như là tự ngã... vị ấy quán

các hành như là tự ngã, hay tự ngã như là có các hành, hay các hành trong

tự ngã, hay tự ngã trong các hành. Ðối với vị ấy, các hành ấy biến

hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi các hành ấy biến hoại và đổi

khác, thức tùy chuyển theo sự biến hoại của các hành. Các pháp ưu

não do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của các hành sanh khởi sau khi

xâm chiếm tâm và an trú. Do tâm bị xâm chiếm nên khủng bố, chướng

ngại, khát vọng được sanh khởi và ưu não.

8) Vị ấy quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là

có thức, hay thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức. Ðối với vị ấy, thức

ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi thức ấy biến hoại và

đổi khác, thức tùy chuyển theo sự biến hoại của thức. Các pháp ưu

não do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của thức sanh khởi sau khi xâm

chiếm tâm và an trú. Do tâm bị xâm chiếm nên khủng bố, chướng ngại,

khát vọng được sanh khởi và ưu não.

9) Như vậy, này các Tỷ-kheo, là chấp thủ và ưu

não.

10) Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là không

chấp thủ và không ưu não?

11) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh

đệ tử thấy rõ các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, khéo tu

tập pháp các bậc Thánh, thấy rõ các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc

Chân nhân, khéo tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự

ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong

sắc. Ðối với vị ấy, sắc ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy,

khi sắc ấy biến hoại và đổi khác, thức không tùy chuyển theo sự

biến hoại của sắc. Các pháp ưu não do thức tùy chuyển theo sự

biến hoại của sắc không sanh khởi, không xâm chiếm tâm và an trú. Do

tâm không bị xâm chiếm nên không có khủng bố, không có chướng ngại,

không có khát vọng khởi lên và ưu não.

12) Không quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như

là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Ðối

với vị ấy, thọ ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi

thọ ấy biến hoại và đổi khác, thức không tùy chuyển theo sự

biến hoại của thọ. Các pháp ưu não do thức tùy chuyển theo sự

biến hoại của thọ không sanh khởi, không xâm chiếm tâm và an trú.

Do tâm không bị xâm chiếm nên không có khủng bố, không có chướng ngại,

không có khát vọng khởi lên và ưu não.

13) Không quán tưởng như là tự ngã...

14) Không quán các hành như là tự ngã...

15) Không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là

có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Ðối với vị ấy,

thức ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi thức ấy biến

hoại và đổi khác, thức không tùy chuyển theo sự biến hoại của thức.

Các pháp ưu não do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của thức không

sanh khởi, không xâm chiếm tâm và an trú. Do tâm không bị xâm chiếm

nên không có khủng bố, không có chướng ngại, không có khát vọng khởi

lên và ưu não.

16) Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự không chấp

thủ, không ưu não.

VIII. Chấp Thủ Và Ưu Não (Tạp 2.12, Hị

Trước, Ðại 2,11a) (S.iii,18)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi...

2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông

về sự chấp thủ và ưu não, sự không chấp thủ và không ưu não...

Thế Tôn nói như sau:

3) -- Này các Tỷ-kheo, thế nào là chấp thủ và

ưu não?

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu

quán sắc: "Ðây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi".

Sắc ấy của vị này biến hoại, đổi khác. Vị này khi sắc ấy biến

hoại, đổi khác, khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

5) ... quán thọ...

6) ... quán tưởng....

7) ... quán các hành...

8) ... quán thức: "Ðây là của tôi, đây là tôi,

đây là tự ngã của tôi". Thức ấy của vị này biến hoại, đổi khác.

Vị này khi thức ấy biến hoại, đổi khác, khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

9) Như vậy, này các Tỷ-kheo, là chấp thủ và ưu

não.

10) Này các Tỷ-kheo, như thế nào là không chấp

thủ và không ưu não?

11) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh

đệ tử quán sắc: "Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi,

đây không phải là tự ngã của tôi". Sắc ấy của vị này biến hoại,

đổi khác. Vị này, khi sắc biến hoại, đổi khác, không khởi lên sầu, bi,

khổ, ưu, não.

12) ... quán thọ: "Ðây không phải của

tôi..".

13) ... quán tưởng: "Ðây không phải của

tôi..".

14) ... quán các hành: "Ðây không phải của

tôi.."..

15) ... quán thức: "Ðây không phải của tôi, đây

không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi". Thức ấy của vị

này biến hoại, đổi khác. Vị này, khi thức ấy biến hoại, đổi khác,

không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

16) Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không chấp thủ,

không ưu não.

IX. Ba Thời Là Vô Thường (Tạp 1.8 Quá

Khứ, Ðại 2,1c. Tạp 3.29-30 Lược Thuyết, Ðại 2,20a) (S.iii,19)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi...

2) -- Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường, trong quá

khứ, trong vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Thấy vậy, này các

Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử đối với sắc quá khứ không tiếc

nuối (anapekkha), đối với sắc vị lai không hoan hỷ, đối với sắc hiện

tại hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt.

3) Này các Tỷ-kheo, thọ là vô thường...

4) Này các Tỷ-kheo, tưởng là vô thường...

5) Này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường, trong

quá khứ, trong vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Thấy vậy, này các

Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử đối với các hành quá khứ không

tiếc nuối, đối với các hành vị lai không hoan hỷ, đối với các hành

hiện tại hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt.

6) Này các Tỷ-kheo, thức là vô thường trong quá

khứ, trong vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Thấy vậy, này các

Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử đối với thức quá khứ không

tiếc nuối, đối với thức vị lai không hoan hỷ, đối với thức hiện

tại hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt.

X. Ba Thời Là Khổ

1) Nhân duyên ở Sàvatthi...

2) -- Sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ, quá khứ, vị

lai, còn nói gì đến hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða

văn Thánh đệ tử, đối với sắc quá khứ không tiếc nuối, đối với

sắc vị lai không hoan hỷ, đối với sắc hiện tại hướng đến

yếm ly, ly tham đoạn diệt.

3) Thọ, này các Tỷ-kheo, là khổ...

4) Tưởng, này các Tỷ-kheo, là khổ...

5) Các hành, này các Tỷ-kheo, là khổ...

6) Thức, này các Tỷ-kheo, là khổ, quá khứ, vị lai,

còn nói gì đến hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn

Thánh đệ tử đối với thức quá khứ không tiếc nuối, đối với thức

vị lai không hoan hỷ, đối với thức hiện tại hướng đến yếm

ly, ly tham, đoạn diệt.

XI. Ba Thời Là Vô Ngã (S.iii,20)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi...

2) -- Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, quá khứ, vị

lai, còn nói gì đến hiện tại. Vị Ða văn Thánh đệ tử đối với

sắc quá khứ không tiếc nuối, đối với sắc vị lai không hoan hỷ, đối

với sắc hiện tại hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt.

3) Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô ngã...

4) Tưởng, này các Tỷ-kheo, là vô ngã...

5) Các hành, này các Tỷ-kheo, là vô ngã...

6) Thức, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, quá khứ, vị

lai, còn nói gì đến hiện tại. Vị Ða văn Thánh đệ tử đối với

thức quá khứ không tiếc nuối, đối với thức vị lai không hoan hỷ,

đối với thức hiện tại hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt.

II. Phẩm Vô Thường

I. Vô Thường (Tạp 1.1 Vô thường, Ðại

2,1a) (S.iii,21)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sàvathi...

2) Tại đấy...

3-6) -- Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường...,

thọ là vô thường..., tưởng là vô thường... các hành là vô thường...,

thức là vô thường.

7) Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh

đệ tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly

đối với tưởng, yếm ly đối với các hành, yếm ly đối với thức... Do

yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát,

trí khởi lên: "Ta đã được giải thoát". Vị ấy biết : "Sanh

đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở

lui trạng thái này nữa".

II. Khổ (S.iii,21)

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...

3-7) -- Này các Tỷ-kheo, sắc là khổ..., thọ là

khổ..., tưởng là khổ..., các hành là khổ..., thức là khổ...

8) Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh

đệ tử... "... không còn trở lui trạng thái này nữa".

III. Vô Ngã (S.iii,21)

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...

3-7) -- Này các Tỷ-kheo, sắc là vô ngã..., thọ

là vô ngã..., tưởng là vô ngã..., các hành là vô ngã..., thức là vô

ngã...

8) Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh

đệ tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly

đối với tưởng, yếm ly đối với các hành, yếm ly đối với thức. Do

yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát,

trí khởi lên: "Ta được giải thoát". Vị ấy biết: "Sanh đã

tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui

trạng thái này nữa".

IV. Cái Gì Vô Thường (Tạp 1.9, Vô

Thường, Ðại 2,2a) (S.iii,22)

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...

3)-- Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường; cái gì vô

thường là khổ; cái gì khổ là vô ngã; cái gì vô ngã, cần phải như thật

quán với chánh trí tuệ: "Cái này không phải của tôi; cái này không

phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi".

4) Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô thường; cái gì

vô thường là khổ; cái gì khổ là vô ngã; cái gì vô ngã cần phải như thật

quán với chánh trí tuệ: "Cái này không phải của tôi; cái này không

phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi".

5) Tưởng, này các Tỷ-kheo, là vô thường...

6) Các hành, này các Tỷ-kheo, là vô thường...

7) Thức, này các Tỷ-kheo, là vô thường; cái gì vô

thường là khổ; cái gì khổ là vô ngã; cái gì vô ngã cần phải như thật

quán với chánh trí tuệ: "Cái này không phải của tôi; cái này không

phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi".

8) Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh

đệ tử yếm ly đối với sắc... "... không còn trở lui trạng thái

này nữa".

V. Cái Gì Khổ (Tạp 1.10 Vô Thường. Ðại

2,2a) (S.iii,22)

1-2) Nhân duyên tại Sàvatthi...

3) -- Sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ. Cái gì khổ là

vô ngã; cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ:

"Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không

phải tự ngã của tôi".

4) Thọ, này các Tỷ-kheo, là khổ...

5) Tưởng, này các Tỷ-kheo, là khổ...

6) Các hành, này các Tỷ-kheo, là khổ...

7) Thức, này các Tỷ-kheo, là khổ. Cái gì khổ là

vô ngã; cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ:

"Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không

phải tự ngã của tôi".

8) Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh

đệ tử yếm ly đối với sắc... "...không còn trở lui trạng thái

này nữa".

VI. Cái Gì Vô Ngã (S.iii,22)

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...

3) -- Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Cái gì vô

ngã; cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: "Cái này không phải

của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của

tôi".

4-6) Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô ngã... Tưởng,

này các Tỷ-kheo, là vô ngã... Các hành, này các Tỷ-kheo, là vô

ngã...

7) Thức, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Cái gì vô

ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: "Cái này không phải

của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của

tôi".

8) Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh

đệ tử yếm ly đối với sắc... "... không còn trở lui trạng thái

này nữa".

VII. Có Nhân Là Vô Thường (Tạp 1.11

Nhân. Ðại 2,2a) (S.iii,23)

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...

3) -- Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì

là nhân, cái gì là duyên cho sắc sanh khởi; cái ấy cũng vô thường. Sắc đã

được cái vô thường làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu có

thể thường được?

4) Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì

là nhân, cái gì là duyên cho thọ sanh khởi; cái ấy cũng vô thường.

Thọ đã được cái vô thường làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ

đâu có thể thường được?

5) Tưởng, này các Tỷ-kheo, là vô thường...

6) Các hành, này các Tỷ-kheo, là vô thường...

7) Thức, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì là

nhân, cái gì là duyên cho thức sanh khởi; cái ấy cũng vô thường. Thức đã

được cái vô thường làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu có

thể thường được?

8) Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh

đệ tử yếm ly đối với sắc... "... không còn trở lui với trạng

thái này nữa".

VIII. Có Nhân Là Khổ (Tạp 1.12 Nhân.

Ðại 2,2b) (S.iii,23)

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...

3) -- Sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ. Cái gì là

nhân, cái gì là duyên cho sắc sanh khởi; cái ấy cũng khổ. Sắc đã được

cái khổ làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu có thể lạc

được?

4) Thọ, này các Tỷ-kheo, là khổ...

5) Tưởng, này các Tỷ-kheo, là khổ...

6) Các hành, này các Tỷ-kheo, là khổ...

7) Thức, này các Tỷ-kheo, là khổ. Cái gì là nhân,

cái gì là duyên cho thức sanh khởi; cái ấy cũng khổ. Thức đã được cái

khổ làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu có thể lạc được?

8) Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh

đệ tử yếm ly đối với sắc... "... không còn trở lui trạng thái

này nữa".

IX. Có Nhân Là Vô Ngã (S.iii,23)

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...

3) -- Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Cái gì là

nhân, cái gì là duyên cho sắc sanh khởi; cái ấy cũng vô ngã. Sắc đã được

cái vô ngã làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu là ngã được?

4-6) Thọ... Tưởng... Các hành, này các Tỷ-kheo,

là vô ngã...

7) Thức, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Cái gì là

nhân, cái gì là duyên cho thức sanh khởi; cái ấy cũng vô ngã. Thức đã

được cái vô ngã làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu là ngã

được?

8) Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh

đệ tử yếm ly đối với sắc... "... không còn trở lui trạng thái

này nữa".

X. Ananda (S.iii,24)

1) Ở tại Sàvatthi... trong vườn...

2) Lúc bấy giờ Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn;

sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

-- "Ðoạn diệt, đoạn diệt", bạch

Thế Tôn, chúng con được nghe nói đến. Do đoạn diệt những pháp

nào, bạch Thế Tôn, được gọi là đoạn diệt?

4) -- Sắc, này Ananda, là vô thường, hữu vi, do nhân

duyên sanh khởi, chịu sự đoạn tận, chịu sự hoại diệt, chịu sự ly tham,

chịu sự đoạn diệt. Sự đoạn diệt của sắc được gọi là đoạn

diệt.

5) Thọ, này Ananda, là vô thường, hữu vi, do nhân

duyên sanh khởi, chịu sự đoạn tận, chịu sự hoại diệt, chịu sự ly tham,

chịu sự đoạn diệt. Sự đoạn diệt của thọ được gọi là đoạn

diệt.

6-7) Tưởng, này Ananda, là vô thường... Các hành, này

Ananda, là vô thường...

8) Thức, này Ananda, là vô thường, hữu vi, do nhân

duyên sanh khởi, chịu sự đoạn tận, chịu sự hoại diệt, chịu sự ly tham,

chịu sự đoạn diệt. Sự đoạn diệt của thức được gọi là đoạn

diệt.

9) Sự đoạn diệt của những pháp này, này Ananda,

được gọi là đoạn diệt.