Kinh Tương Ưng Bộ · Saṃyutta Nikāya

[20] Chương XI — Tương Ưng Thí Dụ

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Tương Ưng Bộ

Kinh Trung Bộ · Bài 2

[20] Chương XI — Tương Ưng Thí Dụ#

Tập II - Thiên Nhân Duyên

Tương Ưng Bộ -

Samyutta Nikaya

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Tập II - Thiên Nhân Duyên

[20] Chương XI

Tương Ưng Thí Dụ

-ooOoo-

I. Chóp

Mái (S.ii,262)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana

(Kỳ-đà Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).

2) Ở đây, Thế Tôn nói như sau:

3) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, một ngôi nhà có nóc

nhọn cao, phàm có những cây kèo xa nào, tất cả chúng đều đi đến

góc nhọn, đều quy tựa vào góc nhọn, đều châu đầu vào góc

nhọn, tất cả chúng đều đâm đầu vào một gốc.

4) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những bất

thiện pháp nào, tất cả chúng đều lấy vô minh làm cội rễ, đều

lấy vô minh làm điểm tựa, đều châu đầu vào vô minh, tất cả chúng

đều đâm đầu vào một gốc.

5) Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải

học tập như sau: "Chúng ta hãy sống không phóng dật".

II. Ðầu Ngón Tay (Tạp, Ðại 2. 345a)

(Ðơn tạp 22. Trảo Thổ, Ðại 2, 498a) (S.ii,263)

1) ... Trú ở Sàvatthi.

2) Rồi Thế Tôn lấy một ít đất trên đầu móng tay

và nói với các Tỷ-kheo:

3) -- Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào?

Cái gì nhiều hơn, chút đất này Ta lấy trên đầu móng tay, hay quả đất

lớn này?

4) -- Cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức

là quả đất lớn này và ít hơn là chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu

móng tay. Không thể đi đến ước tính, không thể đi đến so

sánh, không thể đi đến một vi phần, khi so sánh quả đất lớn với

chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay.

5) -- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, rất ít là chúng

sanh được tái sanh làm người! Còn rất nhiều là những chúng sanh phải

tái sanh ra ngoài loài Người!

6) Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải

học tập như sau: "Chúng tôi sẽ sống không phóng dật".

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học

tập.

III. Gia Ðình (Tạp, 47.14, Nhơn Gia,

Ðại 2, 344c) (S.ii,263)

1) ... Trú ở Sàvatthi.

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, những gia đình nào

có nhiều phụ nữ và ít đàn ông, thời những gia đình ấy rất dễ bị các

đạo tặc, trộm ghè não hại.

3) -- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào

không tu tập từ tâm giải thoát, không làm cho sung mãn, thời vị ấy dễ bị phi

nhân não hại.

4) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, những gia đình nào

có ít phụ nữ và nhiều đàn ông, thời gia đình ấy khó bị các đạo tặc,

trộm ghè não hại.

5) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào tu tập

từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, thời vị ấy rất khó bị phi nhân não

hại.

6) Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải

học tập như sau: "Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung

mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo

thực hiện".

Như vậy, này các Tỷ-kheo các Ông cần phải học

tập.

IV. Cái Nồi (Tạp, Ðại 2, 344b)

(S.ii,264)#

1) ... Trú ở Sàvatthi.

2) -- Này các Tỷ-kheo, ai vào buổi sáng bố thí một

trăm cái nồi, ai buổi trưa bố thí một trăm cái nồi, hay ai buổi chiều bố

thí một trăm cái nồi, và ai buổi sáng chỉ trong thời gian bóp vú sữa con bò

một lần (trong nháy mắt), tu tập từ tâm giải thoát, hay ai buổi trưa chỉ trong

thời gian bóp vú sữa con bò một lần (trong nháy mắt), tu tập từ tâm giải

thoát, hay ai buổi chiều chỉ trong thời gian bóp vú sữa con bò một lần

(trong nháy mắt), tu tập từ tâm giải thoát, sự việc này đối với sự

việc trước, quả có lớn hơn.

3) Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải

học tập như sau: "Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung

mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo

thực hiện".

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học

tập.

V. Cây Lao (Satti) (Tạp, Ðại 2, 344c)

Sakti, S.(Hoernh, 1.44-45) (S.ii,265)

1) ... Trú ở Sàvatthi.

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây lao có lưỡi

sắc bén. Rồi một người đến và nói: "Với tay hay với nắm tay, tôi

sẽ bẻ gập đôi lưỡi sắc bén của cây lao này, tôi sẽ đánh phía cạnh cho

nó quặp dài lại, tôi sẽ uốn cong nó lại".

3) Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào?

Người ấy có thể với tay hay nắm tay bẻ gập đôi lưỡi sắc bén của cây

lao này, đánh phía cạnh cho nó quặp dài lại, uốn cong nó lại không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

4) Vì sao?

Bạch Thế Tôn, không dễ gì, với tay hay nắm tay bẻ

gập đôi lưỡi sắc bén của cây lao này, đánh phía cạnh cho nó quặp dài

lại, uống cong nó lại, mà không khiến cho người ấy mệt nhọc và

bị não hại.

5) -- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi một ai (vị

Tỷ-kheo) tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe,

làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện, thời một phi

nhân nào nghĩ rằng, có thể đánh ngã một tâm như vậy, kẻ phi nhân ấy ở

đây sẽ mệt nhọc và bị não hại.

6) Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải

học tập như sau: "Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung

mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo

thực hiện".

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học

tập.

VI. Người Bắn Cung (Tạp 24.9,

Cung, Ðại 2, 171c) (S.ii,265)

1) ... Trú ở Sàvatthi.

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, bốn người bắn cung

dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật, đứng tại

bốn phương.

3) Rồi một người đến và nói rằng: "Ta sẽ nắm

bắt và đem lại những mũi tên được bắn đi bốn phương, trước khi chúng

rơi xuống đất, do bốn người bắn cung này bắn đi, những người dõng mãnh,

lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật".

4) -- Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào?

Như vậy có vừa đủ chăng để gọi người nhanh nhẹn ấy đầy đủ với

sự nhanh nhẹn tối thượng?

5) -- Bạch Thế Tôn, nếu chỉ từ một người bắn

cung dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật, có

thể nắm bắt và đem lại một mũi tên được bắn đi, như vậy là vừa đủ

để gọi người nhanh nhẹn ấy, đầy đủ với sự nhanh nhẹn tối thượng.

Còn nói gì từ bốn người bắn tên, dõng mãnh, lão luyện, thuần tay,

thiện xảo về cung thuật!

6) -- Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự nhanh nhẹn

của người ấy. Và như vậy là sự nhanh nhẹn của mặt trăng, mặt trời, còn

nhanh hơn sự nhanh nhẹn trước. Và như vậy, này các Tỷ-kheo là sự nhanh

nhẹn của người ấy, và như vậy là sự nhanh nhẹn của mặt trăng, mặt trời,

và như vậy là sự nhanh nhẹn của các chư Thiên chạy trước mặt trăng, mặt

trời. Còn nhanh nhẹn hơn là sự biến diệt của thọ hành (thọ

mạng của các sự vật).

7) Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải

học tập như sau: "Chúng tôi sẽ sống không phóng dật".

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học

tập.

VII. Cái Chốt Trống (Tạp

47.18, Cổ, Ðại 2, 315b) (S.ii,166)

1) ... Trú ở Sàvatthi.

2)-- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, dân chúng Dasàrahà

có một cái trống tên là Anaka.

3) Khi cái trống Anaka bắt đầu nứt ra, dân chúng

Dasàrahà đóng vào một cái chốt khác. Cho đến một thời gian, này các

Tỷ-kheo, cả cái thùng ván của trống Anaka biến mất và chỉ còn lại

những cái chốt tụ tập lại.

4) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo sẽ

thành trong tương lai.

5) Những bài kinh nào do Như Lai thuyết, thâm sâu,

nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến không,

họ sẽ không nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng; họ sẽ không

lóng tai; họ sẽ không an trú chánh tri tâm, và họ sẽ không nghĩ rằng

các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải thấu đáo.

6) Còn những bài kinh nào do các thi sĩ làm, những bài

thơ với những danh từ hoa mỹ, với những câu văn hoa mỹ, thuộc ngoại

điển, do các đệ tử thuyết giảng, họ sẽ nghe khi các kinh ấy

được thuyết giảng; họ sẽ lóng tai; họ sẽ an trú chánh tri tâm và

họ sẽ nghĩ rằng, các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải

học thấu đáo. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các kinh do Như Lai

thuyết, thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên

hệ đến không sẽ đi đến tiêu diệt.

7) Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải

học tập như sau: "Những bài kinh nào do Như Lai thuyết giảng, thâm

sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến không,

chúng tôi sẽ nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng; chúng tôi sẽ lóng

tai; chúng tôi sẽ an trú chánh tri tâm. Và chúng tôi sẽ nghĩ rằng, các pháp

ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải học thấu đáo".

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học

tập.

VIII. Cỏ Rơm (Tạp, Ðại 2, 344b)

(S.ii,267)#

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Vesàli (Tỳ-xá-ly), Mahàvana

(Ðại Lâm), Kuutàgàrasàlà (Trùng Các giảng đường).

2) Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

"Này các Tỷ-kheo". -- "Thưa vâng, bạch Thế Tôn".

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế

Tôn nói như sau:

3) -- Sống trên các gối rơm, này các Tỷ-kheo, là

lối sống hiện nay của dân chúng Licchavi, không phóng dật, nhiệt tâm

trong nhiệm vụ. Ajàtasattu, con bà Vedehi, vua nước Magadha không có được

cơ hội, không có được đối tượng để xâm lăng.

4) Trong tương lai, này các Tỷ-kheo, dân chúng

Licchavi trở thành nhu nhược, tay chân mềm mỏng. Họ nằm trên những đồ

nằm mềm mại. Họ ngủ cho đến mặt trời mọc trên những gối

bông. Ajàtasattu, con bà Vedehi, vua nước Magadha, sẽ nắm được cơ hội, sẽ

nắm được đối tượng để xâm lăng.

5) Sống trên các gối rơm, này các Tỷ-kheo, là

nếp sống hiện nay của các Tỷ-kheo, không phóng dật, nhiệt tâm

trong các nỗ lực. Ác ma không có cơ hội, không có đối tượng để

xâm lăng.

6) Trong tương lai, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo

sẽ trở thành nhu nhược, tay chân mềm mỏng. Họ nằm trên những đồ nằm

mềm mại. Họ ngủ cho đến mặt trời mọc trên những gối bông. Ác

ma sẽ nắm được cơ hội, sẽ nắm được đối tượng (để xâm lăng).

7) Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải

học tập như sau: "Chúng tôi sẽ sống trên những gối rơm, không phóng

dật, nhiệt tâm trong nỗ lực".

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học

tập.

IX. Voi (Tạp, Ðại 2, 284a) (Biệt

Tạp 122. Ðại 2, 380c) (S.ii,268)

1) Tại ngôi vườn ở Sàvatthi.

2) Lúc bấy giờ, một vị tân Tỷ-kheo đi đến các

gia đình quá nhiều thì giờ. Các Tỷ-kheo nói với Tỷ-kheo ấy:

-- Tôn giả chớ có đi đến các gia đình quá

nhiều thì giờ.

3) Ðược nói vậy, vị Tỷ-kheo ấy nói:

-- Những Trưởng lão Tỷ-kheo này nghĩ rằng,

họ có thể đi đến các gia đình. Sao không phải ta?

4) Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn...

rồi ngồi xuống một bên.

5) Ngồi xuống một bên, các vị Tỷ-kheo ấy bạch

Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, có người tân

Tỷ-kheo đi đến các gia đình quá nhiều thì giờ. Các Tỷ-kheo

nói với Tỷ-kheo ấy: "Tôn giả chớ có đi đến các gia đình quá

nhiều thì giờ". Ðược các Tỷ-kheo nói vậy, Tỷ-kheo ấy nói:

"Những Trưởng lão Tỷ-kheo này nghĩ rằng, họ có thể đi

đến các gia đình. Sao không phải ta?"

6) -- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, gần một hồ nước

lớn, tại một khu rừng, các con voi sống ở đấy. Chúng lặn xuống hồ, lấy vòi

nhổ lên các củ và rễ sen, rửa chúng thật sạch, làm cho chúng sạch bùn rồi

ăn chúng. Nhờ vậy, các con voi ấy được dung sắc và sức mạnh, và không vì

nhân duyên ấy những con voi đi đến chết hay đi đến đau khổ gần

như chết.

7) Ðược huấn luyện theo các con voi lớn ấy, này

các Tỷ-kheo, các con voi trẻ và nhỏ lặn xuống hồ, lấy vòi nhổ lên các

củ, rễ sen, không rửa chúng thật sạch, không làm cho chúng sạch bùn rồi ăn

chúng. Do vậy, các con voi ấy không được dung sắc và sức mạnh, và vì nhân

duyên ấy những con voi đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như

chết.

8) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây các Trưởng

lão Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn

để khất thực. Tại đấy họ thuyết pháp. Các gia chủ hoan hỷ

làm bổn phận của mình với các vị ấy. Các Tỷ-kheo ấy thọ dụng các

lợi đắc, không tham trước, không say đắm, không phạm tội, thấy những nguy

hiểm, hiểu sự xuất ly với trí tuệ. Nhờ vậy, các Tỷ-kheo ấy

được dung sắc và sức mạnh, và không vì nhân duyên ấy họ đi đến

chết hay đi đến đau khổ gần như chết.

9) Nhưng này các Tỷ-kheo, được huấn luyện theo

các Trưởng lão Tỷ-kheo, các tân Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm y

bát đi vào làng hay thị trấn để khất thực.

10) Tại đấy, các vị thuyết pháp. Các gia chủ hoan

hỷ làm bổn phận của mình. Các Tỷ-kheo ấy thọ dụng các lợi đắc,

tham trước, say đắm, phạm tội, không thấy sự nguy hiểm, không hiểu sự

xuất ly với trí tuệ. Do vậy, các vị Tỷ-kheo ấy không được dung sắc

và sức mạnh, và vì nhân duyên ấy họ đi đến chết hay đi đến

đau khổ gần như chết.

11) Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải

học tập như sau: "Chúng tôi sẽ thọ dụng các lợi đắc, không tham

đắm, không say mê, không phạm tội, thấy những nguy hiểm, hiểu rõ sự

xuất ly với trí tuệ".

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học

tập.

X. Con Mèo (Tạp, Ðại 2, 345c) (S.ii,270)

1) ... Trú ở Sàvatthi.

2) Lúc bấy giờ có Tỷ-kheo thường dùng quá

nhiều thì giờ giữa các gia đình. Các Tỷ-kheo nói với vị ấy:

"Tôn giả chớ có dùng quá nhiều thì giờ giữa các gia đình".

3) Tỷ-kheo ấy được các Tỷ-kheo nói vậy, tâm

không hoan hỷ.

4) Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn...

và bạch Thế Tôn:

5) -- Ở đây, bạch Thế Tôn, có Tỷ-kheo

thường dùng quá nhiều thì giờ giữa các gia đình. Các Tỷ-kheo nói

với vị ấy: "Tôn giả chớ có dùng quá nhiều thì giờ giữa các gia

đình". Tỷ-kheo ấy được các Tỷ-kheo nói vậy, tâm không hoan

hỷ.

6) -- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có con mèo đứng

rình con chuột bên cạnh một đống rác tại một ống cống và nghĩ rằng:

"Nếu có một con chuột nhắt nào đi kiếm ăn chạy ra, ta sẽ bắt lấy

và ăn thịt".

7) Rồi này các Tỷ-kheo, có con chuột nhắt vì

kiếm ăn chạy ra. Và con mèo ấy bắt lấy nó, mau chóng hành động

(sankharirva) và nuốt nó. Và con chuột nhắt ấy cắn ruột, cắn phủ tạng con

mèo. Do nhân duyên ấy, con mèo đi đến chết hay đi đến đau khổ

gần như chết.

8) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, một số

Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để

khất thực, thân không phòng hộ, lời nói không phòng hộ, tâm không phòng hộ,

niệm không an trú, các căn không chế ngự.

9) Ở đấy, các vị ấy thấy các phụ nữ mặc không

đứng đắn, hay mặc không kín đáo. Sau khi các vị ấy thấy các phụ nữ mặc

không đứng đắn, hay mặc không kín đáo, tham dục não hại tâm. Các vị ấy

bị tham dục não hại tâm, đi đến chết hay đi đến đau khổ gần

như chết.

10) Ðây là sự chết, này các Tỷ-kheo, trong giới

luật của bậc Thánh, tức là sự từ bỏ học giới và hoàn tục. Ðây là đau

khổ gần như chết, này các Tỷ-kheo, tức là sự vi phạm một uế tội,

một tội phạm còn có thể tuyên bố xuất gỡ được.

11) Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải

học tập như sau: "Phòng hộ thân, phòng hộ lời nói, phòng hộ tâm, an

trú chánh niệm, chế ngự các căn, chúng tôi sẽ đi vào làng hay thị

trấn để khất thực".

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học

tập.

XI. Con Chó Rừng (Giả-can) (Tạp 47.22.

Ðại 2, 346a) (S.ii,271)

1) ... Trú ở Sàvatthi.

2) -- Các Ông có nghe chăng, này các Tỷ-kheo, trong

ban đêm khi trời gần sáng, con giả-can đang tru lớn tiếng?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

3) -- Ðó là con giả-can, này các Tỷ-kheo, bị mắc

bệnh ghẻ lở. Chỗ nào nó muốn đi, chỗ nào nó muốn đứng, chỗ

nào nó muốn ngồi, chỗ nào nó muốn nằm, gió lạnh buốt thổi lên trên nó.

4) Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu ở đây có

người nào, tự cho là Thích tử, lại có thể cảm thọ được một trạng

huống tự ngã như vậy.

5) Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải

học tập như sau: "Chúng tôi sẽ không phóng dật".

6) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải

học tập.

XII. Con Giả Can (S.ii,272)

1) ... Trú ở Sàvatthi.

2) -- Các Ông có nghe chăng, này các Tỷ-kheo, trong

ban đêm lúc gần sáng, có con giả-can già tru lớn tiếng?.

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

3) -- Rất có thể, này các Tỷ-kheo, trong con

giả-can già ấy, có nhiều biết ơn, có nhiều cảm tạ, hơn là ở

đây trong một người tự xưng là Thích tử về biết ơn và về cảm

tạ!

4) Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải

học tập như sau: "Chúng tôi sẽ biết ơn, cảm tạ. Dầu cho có chút

ít gì làm giữa chúng tôi, chúng tôi cũng không để cho mất đi".

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học

tập.