Kinh Tương Ưng Bộ · Saṃyutta Nikāya

[19] Chương VIII — Tương Ưng Lakkhana

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Tương Ưng Bộ

Kinh Trung Bộ · Bài 2

[19] Chương VIII — Tương Ưng Lakkhana#

Tập II - Thiên Nhân Duyên

Tương Ưng Bộ -

Samyutta Nikaya

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Tập II - Thiên Nhân Duyên

[19] Chương VIII

Tương Ưng Lakkhana

-ooOoo-

I. Phẩm Thứ Nhất

I. Ðống Xương (Tạp, Ðại 2,

135a) (S.ii,254)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá),

Veluvana (Trúc Lâm) chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2) Lúc bấy giờ Tôn giả Lakkhana và Tôn giả Mahà

Moggallàna trú ở núi Gijjhakùta (Linh Thứu).

3) Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna đắp y, vào buổi sáng,

cầm y bát, đi đến Tôn giả Lakkhana.

4) Sau khi đến, nói với Tôn giả Lakkhana:

-- Chúng ta hãy cùng đi, này Hiền giả Lakkhana.

Chúng ta hãy đi vào Ràjagaha để khất thực.

-- Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Lakkhana vâng đáp Tôn giả Mahà Moggallàna.

5) Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna khi đi từ núi Gijjhakùta

bước xuống, đi qua một chỗ, liền mỉm cười.

6) Rồi Tôn giả Lakkhana nói với Tôn giả Mahà

Moggallàna:

-- Này Hiền giả Moggallàna, do nhân gì, do duyên gì,

Hiền giả lại mỉm cười?

-- Này Hiền giả Lakkhana, không phải thời là câu

hỏi ấy. Trước mặt Thế Tôn, hãy hỏi tôi câu hỏi ấy.

7) Rồi Tôn giả Lakkhana và Tôn giả Mahà Moggallàna sau

khi đi khất thực ở Ràjagaha xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực

trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn,

rồi ngồi xuống một bên.

8) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Lakkhana nói với Tôn

giả Mahà Moggallàna:

-- Ở đây, Tôn giả Mahàa Moggallàna khi từ núi

Gijjhakùta bước xuống, đi ngang qua một chỗ, liền mỉm cười. Này

Hiền giả Moggallàna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?

9) -- Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi

Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một bộ xương đang đi trên trời. Các con

kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ xương sườn nó,

cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn.

10) -- Này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: "Thật

vi diệu thay! Thật vi diệu thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành

một chúng sanh như vậy. Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một Dạ-xoa như

vậy! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành được một tự ngã như vậy!"

11) Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

-- Sống với nhau như thực nhãn, này các Tỷ-kheo, là

các đệ tử! Sống với nhau như thực trí, này các Tỷ-kheo, là các

đệ tử. Vì rằng, một đệ tử sẽ biết, hay sẽ thấy, hay sẽ chứng

thực như vậy.

12) Xưa kia, này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy chúng sanh

ấy nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin

Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu

dài.

13) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một đồ

tể giết trâu bò (goghatako) ở Ràjagaha này. Do nghiệp của người

đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều

trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm và với quả thuần thục

còn lại, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy.

II. Ðồ Tể Giết Trâu Bò (Gavaghàtako)

(Tạp, Ðại 2, 135b) (S.ii,256)

1) ...

2) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi

Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một đống thịt đang đi giữa hư không. Các

con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ nó, cắn xé

nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn.

3) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một đồ

tể giết trâu bò.

III. Một Miếng Thịt và Kẻ Bắt Chim (Tạp,

Ðại 2, 136a) (S.ii,256)

1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi

Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một miếng thịt đang đi giữa hư không...

đau đớn.

2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một kẻ săn

chim ở Ràjagaha.

IV. Người Giết Dê Bị Lột Da (Tạp,

Ðại 2, 135c) (S.ii,256)

1) Ở đây, này Hiền giả... tôi thấy một bị

da... cắn mổ nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn...

2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người

đồ tể giết dê ở tại Ràjagaha này...

V. Người Giết Heo Với Ðao Kiếm (Tạp

19-14, Ðại 2, 136c) (S.ii,257)

1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi

Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng đao kiếm đang

đi giữa hư không. Các đao kiếm ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi

xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau

đớn.

2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người

giết heo ở tại Ràjagaha này...

VI. Người Săn Thú Với Cây Lao (Tạp,

Ðại 2, 136b) (S.ii,257)

1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi

Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng các cây lao đang

đi trên hư không. Những cây lao ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống

trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.

2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người

thợ săn thú ở tại Ràjagaha này.

VII. Người Tra Tấn Với Mũi Tên. (S.ii,

257)

1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi

Gujjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng các mũi tên, đang

đi giữa hư không. Những mũi tên ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi

xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau

đớn.

2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người tra

tấn ở tại Ràjagaha này.

VIII. Người Ðánh Xe Với Các Cây Kim (Tạp,

Ðại 2, 136b) (S.ii,257)

1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi

Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng mũi kim đang đi

giữa hư không...

2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người

điều phục các loài thú (xin đọc Sùto thế cho Sùcako của nguyên

bản).

IX. Người Do Thám

1) Ở đây, thưa Hiền giả, khi tôi từ núi

Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng mũi tên đang đi

giữa hư không.

2) Các mũi tên ấy đâm vào đầu và ra khỏi miệng

người ấy. Chúng đâm vào miệng và ra khỏi ngực người ấy, chúng đâm

vào ngực và ra khỏi bụng người ấy, chúng đâm vào bụng và ra khỏi bắp

vế của người ấy, chúng đâm vào bắp vế và ra khỏi cổ chân của

người ấy, chúng đâm vào cổ chân và ra khỏi bàn chân của người ấy và

người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.

3) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một gián

điệp ở tại Ràjagaha này.

X. Người Phán Quan Tham Nhũng Với Hòn Dái

Lớn (S.ii,258)

1) Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi tôi từ núi

Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với hòn dái đang đi giữa hư

không.

2) Khi đang đi, người ấy mang hòn dái trên vai mà đi.

Khi ngồi, người ấy ngồi trên những hòn dái ấy.

3) Và các con chim kên kên, chim quạ, chim ưng đuổi theo

người ấy để cắn mổ, cắn xé, và người ấy kêu lên những tiếng kêu

đau đớn.

4) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một phán quan

ở Ràjagaha này.

II. Phẩm Thứ Hai

I. Kẻ Thông Dâm Bị

Chìm Trong Hố (Tạp, Ðại 2, 137b) (S.ii,259)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana

(Trúc Lâm). ...,...

2) -- Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi

Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với đầu chìm trong hố phân.

3) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người

thông dâm ở tại Ràjagaha này.

II. Tà Ác Là Bà La Môn Ăn Phân (Tạp,

Ðại 2, 137c) (S.ii,259)

1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi

Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người chìm trong hố phân, ăn phân bằng

hai tay.

2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một Bà-la-môn

tại Ràjgaha này. Khi bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa đang giảng dạy, người ấy

mời chúng Tỷ-kheo dùng cơm. Rồi người ấy lấy một cái gáo đựng đầy

phân và nói: "Ôi mong các Tôn giả ăn cho tận kỳ thỏa thích và mang

về!"

III. Gian Phụ bị Lột Da (Tạp, Ðại, 2,

137b) (S.ii,259)

1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi

Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một phụ nữ bị lột da đang đi giữa hư

không. Những con chim kên, những con quạ, những con chim ưng đuổi theo để

cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau

đớn.

2) Người phụ nữ ấy, này các Tỷ-kheo, là một

người gian phụ ở Ràjagaha này.

IV. Người Phụ Nữ Xấu Xí Bói Toán (Tạp,

Ðại 1, 137b) (S.ii.260)

1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi

Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người phụ nữ hôi hám, xấu xí đang đi

trên hư không. Các con chim kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo

để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu

đau đớn.

2) Người phụ nữ ấy, này các Tỷ-kheo, là một

người bói toán ở chính Ràjagaha này.

V. Người Ðàn Bà Khô Héo Ðã Rải Than

Ðỏ trên Một Người Ðàn Bà ( Tạp 19-25. Sân Nhuế Ðính Du Sái, Ðại 2,

137c) (S.ii, 260).

1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi

Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người đàn bà cằn cỗi, khô héo,

dính đầy than mồ hóng, đang đi trên hư không... Người ấy kêu lên những

tiếng kêu đau đớn.

2) Người đàn bà ấy, này các Tỷ-kheo, là đệ

nhất phu nhân của vua xứ Kalinga. Bà ta vì ghen tức nên đã đổ lò than hồng

lên trên một vương nữ khác.

VI. Kẻ Trộm Cướp Ðứt Ðầu (Tạp 19-15

Ðoạn Nhơn Ðầu. Ðại 2, 136c) (S.ii,260)

1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi

Gujjhakùta bước xuống, tôi thấy một cái thân không đầu đi giữa hư không.

Con mắt và miệng thời ở trên ngực.

2) Các con chim kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi

theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng

kêu đau đớn.

3) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người ăn

cướp tên là Hàrika ở tại Ràjagaha.

VII. Tỷ Kheo (Tạp, Ðại 2, 138b)

(S.ii, 260)#

1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi

Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một Tỷ-kheo đi giữa hư không.

2) Y tăng-già-lê (thượng y) của vị ấy bị cháy đỏ,

cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái bát cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực,

cháy đỏ ngọn. Cái nịt cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ

ngọn. Thân cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Và vị ấy

thốt lên những tiếng kêu đau đớn.

3) Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, là một ác

Tỷ-kheo trong thời bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa thuyết pháp.

VIII. Tỷ Kheo Ni (Tạp Ðẳng, Ðại 2,

138b) (S.ii,261)

1) ... tôi thấy một Tỷ-kheo-ni đi giữa hư không.

2) Y tăng-già-lê của vị ấy bị cháy đỏ.

3) ... là một ác Tỷ-kheo-ni...

IX. Học Nữ (S.ii,261)

1) ... tôi thấy một học nữ đi giữa hư không.

2) Y tăng-già-lê của vị ấy bị cháy...

3) ... là một ác học nữ...

X. Sa Di (S.ii,261)

1) ... tôi thấy một Sa-di đi giữa hư không...

2-3) Y Tăng-già-lê của vị ấy bị cháy... là một ác

Sa-di.

XI. Sa Di Ni (S.ii,261)

1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi

Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một Sa-di-ni đi giữa hư không.

2) Y tăng-già-lê (sanghàti) của vị này bị cháy đỏ,

cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Bình bát cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực,

cháy đỏ ngọn. Cái nịt cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ

ngọn. Thân cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Vị ấy

thốt lên những tiếng kêu đau đớn.

3) Này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: "Thật vi

diệu thay, thật hy hữu thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một

chúng sanh như vậy. Một kẻ có tên như vậy trở thành một Dạ-xoa như vậy.

Một kẻ có tên như vậy lại trở thành được một tự ngã như vậy".

4) Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

-- Sống với nhau như thực nhãn, này các Tỷ-kheo, là các

đệ tử. Sống với nhau như thực trí, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử.

Vì rằng, một đệ tử sẽ biết, hay sẽ thấy, hay sẽ chứng thực như vậy.

5) Xưa kia, này các Tỷ-kheo, Ta cũng thấy Sa-di-ni

ấy, nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin

Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu

dài.

6) Vị Sa-di-ni ấy, này các Tỷ-kheo, là một ác

Sa-di-ni trong thời bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa thuyết pháp. Do nghiệp

của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm,

nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, và với quả

thuần thục còn lại, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy.