Pháp Học Online

Chuyện Tiền Thân · Jātaka

531. Chuyện Đại Đế

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Chuyện Tiền Thân

Chuyện Tiền Thân · Bài 65

Chuyện Đại Đế#

Jātaka group 65

Chương XX Phẩm Bảy Mươi Bài Kệ

531. Chuyện Đại Đế Kusa (Tiền thân Kusa)

Quốc độ n ày hoan lạc ngập tràn . . .,

Đây l à câu chuyện bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại Jetavana (Kỳ Vi ên) về một Tỷ-kheo thối thất.

Chuyện kể rằng vị ấy thuộc dòng quý tộc, sống ở Sàvatthi (Xá-vệ), vì nhiệt tâm tin vào Chánh pháp nên ông xuất gia tu tập.

Một ngày kia, ông vào thành Sàvatthi để khất thực, lại gặp một nữ nhân xinh đẹp liền đem l òng say mê ngay khi mới thấy nàng. Bị tham dục chi phối, ông sống trong đau khổ, cứ để lông tóc, móng tay chân mọc d ài ra, mặc các y trong lẫn y ngoài đều dơ bẩn, v à héo mòn dần đến độ xanh xao khác n ào cây liễu rũ với các đường gân nổi l ên khắp mình mẩy.

Cũng giống như trên thiên giới, khi một vị Thiên tử nào sắp đọa khỏi kiếp sống Thi ên thần, thường để lộ ra năm dấu hiệu quen thuộc, đó l à: Các vòng hoa của vị ấy mang héo dần, xiêm y dơ bẩn, thân thể trở nên xấu xí, mồ hôi ở nách đổ ra v à vị ấy không còn thấy lạc thú gì trong Thiên cung nữa.

Trường hợp các Tỷ-kheo ở thế gian cũng vậy; khi thối thất tín tâm trong Chánh pháp, có n ăm dấu hiệu tương tự hiện ra: hoa tín tâm héo úa, y chân chánh dơ bẩn, do bất m ãn và các hậu quả của cái danh bất thiện mà thân thể các vị ấy trở nên xấu xí dần, mồ hôi bất tịnh cứ tuôn ra đầm đ ìa khiến họ không còn thấy lạc thú gì trong đời độc cư dưới gốc cây rừng nữa.

Đó l à những dấu hiệu đ ã xuất hiện ở vị này. Vì thế T ăng chúng đưa ông đến yết kiến bậc Đạo Sư, v à thưa:

- Bạch Thế Tôn, kẻ này đang thối thất.

Bậc Đạo Sư hỏi có đúng không, v à khi nghe ông thú nhận là đúng, Ng ài bảo:

- Này Tỷ-kheo, đừng l àm nô lệ cho tham dục. Đây l à một ác nữ nhân, ông hãy chế ngự dục tham của ông đối với kẻ ấy, h ãy hân hoan trong Chánh pháp. Chính vì mê say một nữ nhân, mà các bậc hiền trí ngày xưa, mặc dù có đủ uy lực phi thường, cũng đ ã mất hết quyền n ăng v à phải chịu khốn đốn đến suy t àn.

Nói vậy xong, Ngài kể một câu chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa tại quốc độ Malla, trong kinh th ành Kusàvati, vua Okkàka cai trị rất chân chánh. Đứng đầu mười sáu ng àn phi tần của ngài là Chánh hậu Silavatì. Bấy giờ bà không sinh con cái gì nên dân chúng trong kinh đô c ùng các triều thần tụ họp tại cửa cung, than vãn rằng quốc độ n ày sẽ bị diệt vong.

Vua mở cửa sổ ra phán hỏi:

- Trong triều đại trẫm, không có ai l àm điều g ì bất công trái đạo. Tại sao các ngươi trách móc trẫm?

Họ đáp:

- Tâu Đại vương, quả đúng vậy, không ai l àm gì trái đạo lý cả, nhưng Đại vương không có ho àng nam để nối d õi; một kẻ ngoại bang sẽ chiếm lấy vương quốc và hủy diệt đất nước n ày. Vậy xin Đại vương h ãy cầu tự để có ho àng nam trị nước cho đúng pháp.

- Thế khi muốn cầu tự, trẫm phải làm gì?

- Trước tiên, xin Đại vương h ãy truyền đưa ra đường một đám cung nữ ca múa hạ đẳng suốt trong một tuần lễ, xem đó như một lễ cúng tế thần, rồi nếu có một n àng nào sinh được con trai th ì tốt lắm. Nếu không thì xin hãy đưa một đám nữ nhạc trung lưu v à cuối cùng là đám nữ nhạc thượng hạng. Chắc hẳn giữa đám đông như thế sẽ có một n àng đầy đủ đức độ để sinh con trai.

Vua liền làm theo lời họ khuyên ngài, và cứ đến mỗi ng ày thứ bảy trong tuần, ngài hỏi th ăm đám người ấy trở về cung, sau khi đ ã hưởng thú vui chơi thỏa thích, xem có nàng nào thọ thai chưa. Và khi tất cả bọn họ đáp:

- Tâu Hoàng thượng, không có ai.

Bấy giờ vua thất vọng kêu lên:

- Ta chẳng có được ho àng nhi nào cả.

Dân chúng trong kinh thành lại trách móc vua như trước. Vua bảo:

- Tại sao các ngươi lại trách trẫm, theo lời các ngươi thỉnh cầu, nhiều đám nữ nhân đ ã được đưa ra tr ình diễn ngoài đường, nhưng không n àng nào thọ thai cả. Vậy trẫm phải làm sao bây giờ?

Họ đáp:

- Tâu Hoàng thượng, chắc hẳn đám nữ nhân n ày đều vô hạnh v à thiếu đức cả. Chúng không đủ công đức để sinh con trai. Song v ì chúng chưa thọ thai, vậy hoàng thượng đừng nản l òng, Chánh hậu Silavatì là một nữ nhân đầy đủ đức hạnh; xin h ãy đưa chánh hậu ra đường, lệnh b à sẽ sinh hoàng nam.

Vua vui lòng chấp thuận, truyền lệnh đánh trống công bố rằng v ào ngày thứ bảy kể từ hôm ấy, dân chúng phải tề tựu lại và vua sẽ đưa Chánh hậu Silavat ì ra đường l àm tế lễ. Rồi vào ngày thứ bảy, vua truyền lệnh trang điểm chánh hậu thật lộng lẫy v à rước bà từ cung ra đường phố biểu diễn.

Do uy lực công đức của b à, cung thất của Sakka ( Đế Thích) Thi ên chủ nóng dần lên. Thiên chủ Sakka xem xét việc này có ý nghĩa gì, và nhận thấy Chánh hậu đang khao khát một ho àng nam, liền suy nghĩ:

- Ta phải ban cho chánh hậu một hoàng nam.

Rồi trong khi tìm hiểu xem có vị nào trên thiên giới xứng đáng l àm con bà không, Thiên chủ chợt trông thấy Bồ-tát.

Truyện kể rằng, vào thời ấy, sau khi đ ã hưởng hết thọ mạng ở cõi trời Ba mươi ba, ngài (Bồ-tát) ước mong được tái sinh ở một cảnh giới cao hơn. Sakka Thiên chủ đền gần cửa cung ng ài, triệu ngài ra bảo:

- Này Hiền giả, ngài sẽ phải đến c õi nhân gian, và thọ sinh làm hoàng nam của Chánh hậu vua Okkaka.

Rồi Thiên chủ lại mời được một Thi ên tử khác đến v à bảo:

- Hiền giả cũng sẽ làm hoàng nam của Chánh hậu.

Và muốn rằng không có một nam nhân nào được phép làm tổn hại đức hạnh của chánh hậu, n ên Sakka Thiên chủ giả dạng làm một lão Bà-la-môn, đi đến cửa cung.

Đám dân chúng, sau khi tắm rửa trang điểm cho mình xong, mỗi người đều thầm mong trong trí là sẽ chiếm được ho àng hậu nên tề tựu ngay tại hoàng môn, nhưng khi thấy Sakka Thiên chủ họ cười ầm lên, hỏi ngài tại sao đến đây. Thi ên chủ bảo:

- Tại sao lại trách lão? Thân lão già rồi, song dục tình vẫn không giảm xuống, nên lão đến đây với hy vọng đem được ho àng hậu về với lão, giả sử lão chiếm được b à.

Cùng với những lời này, Thiên chủ dùng thần lực tiến lên phía trước cả đám người ấy, v à vì công đức của ng ài tỏa ra, không ai có thể đứng trước mặt ng ài được, v à ngay lúc chánh hậu mới bước ra khỏi cung, được trang điểm cực kỳ rực rỡ uy nghi, ng ài liền nắm lấy tay bà và đưa đi mất.

Thế rồi đám người kia đứng trơ ra đó mạ lỵ ngài, bảo:

- Thật là nhục nhã, một lão Bà-la-môn đ ã biến đi mất cùng một bà hoàng hậu dung sắc tuyệt thế. Lão cũng chẳng biết chuyện gì là cân xứng với lão nữa.

Chánh hậu cũng suy nghĩ: "Một ông già đang bắt ta đi mất đây", b à cũng nổi giận và lại cảm thấy ghê tởm.

Còn vua đứng ở cửa sổ mở rộng, nh ìn ra xem ai sẽ cướp được ho àng hậu mang đi, v à chợt thấy đó l à ai rồi, thì ngài hết sức bất bình.

Khi Sakka Thiên chủ vừa cùng bà thoát ra khỏi cổng thành, ngài liền dùng thần lực hóa hiện ra một ngôi nhà ngay gần đó, cửa đ ã mở sẵn cùng với một bó củi khô. Bà hỏi:

- Chỗ ở của lão đây chăng?

- Tâu lệnh bà phải, trước kia lão ở đây chỉ một mình, nay có cả đôi ta. L ão sẽ đi quanh đây kiếm ít gạo về trong lúc ấy xin lệnh bà nằm nghỉ trên đống củi n ày.

Nói vậy xong, ngài vỗ nhẹ trên người bà, khiến bà rúng động v ì sự tiếp xúc với Thiên chủ, rồi ngài đặt b à nằm xuống đó, ng ài vừa đụng v ào người bà là bà thiếp đi ngay. Sau đó, ng ài dùng thần lực siêu phàm đưa b à lên cõi trời Ba mươi ba và đặt b à xuống trên thiên tọa trong một cung điện lộng lẫy nguy nga.

Vào ngày thứ bảy, ngay khi vừa thức giấc, bà ngắm cảnh huy hoàng này và hiểu rằng đây không phải là một Bà-la-môn, mà chắc hẳn là chính Sakka Thiên chủ. Vào lúc này Sakka Thiên chủ đang ngự trên bảo tọa dưới cây San hô, được đo àn Thiên nữ ca múa vây quanh.

Bà liền bước ra khỏi thiên sàng, đi đến gần đảnh lễ Thiên chủ và kính cẩn đứng một b ên. Sau đó Thiên chủ bảo:

- Ta ban cho bà một điều ước; h ãy chọn đi.

- Vậy xin Thiên chủ ban cho thần thiếp một hoàng nam.

- Này hoàng hậu, không chỉ một mà thôi đâu. Ta sẽ ban hai vương tử cho bà. Một người thông minh trí tuệ nhưng xấu xí, người kia đẹp tướng song lại ngu đần, b à muốn có đứa con n ào trước?

- Xin đứa con thông minh trước. B à đáp.

- Được lắm. Ng ài bảo.

Rồi đưa cho b à một cọng cỏ Kusa (Cát tường), một chiếc thiên y cùng với gỗ chiên- đ àn, một đóa thi ên hoa San hô và cây đ àn Kokanada màu đỏ cánh sen.

Xong xuôi ngài đưa b à trở lại mội cung của hoàng gia, đặt b à nằm xuống trên cùng một vương sàng với vua và chỉ lấy ngón tay ngài đụng v ào người của bà là ngay lúc ấy Bồ-tát nhập mẫu thai, còn Thiên chủ lập tức trở về cõi của ngài ngay. Bà hoàng hậu hiền đức biết rằng b à đ ã thọ thai.

Lát sau vua tỉnh giấc thấy bà, liền hỏi ai đ ã đem b à đi.

- Tâu Thánh thượng, chính Sakka Thiên chủ.

- Kia chính mắt trẫm thấy một lão già Bà-la-môn mang khanh đi mất, tại sao khanh muốn đánh lừa trẫm?

- Tâu Thánh thượng, xin hãy tin thần thiếp, chính Sakka Thiên chủ đ ã đưa thiếp l ên thiên giới.

- Trẫm không tin khanh đâu.

Lúc ấy bà đưa vua xem cọng cỏ Kusa m à Thiên chủ đ ã tặng bà và nói:

- Bây giờ xin Thánh thượng tin lời thần thiếp.

Vua nghĩ thầm: "Cỏ Kusa hái được khắp nơi", nên ngài vẫn không tin bà. Bà liền đưa cho vua xem các Thiên y của bà. Thấy vậy ngài tin bà và bảo:

- Này ái hậu, nếu Thiên chủ đem khanh đi th ì khanh đ ã có thai chưa?

- Tâu Thánh thượng, thần thiếp đ ã có thai.

Vua rất hoan hỷ và truyền cử hành lễ mừng thai phụ.

Mười tháng sau, bà hạ sinh một hoàng nam, triều đ ình không đặt t ên gì khác ngoài tên ngọn cỏ Kusa. Vào thời gian vương tử Kusa biết chạy một mình, bà lại có thai một Thiên tử thứ hai, họ đặt tên là Jayampati. Hai vương tử được nuôi dưỡn g theo cung cách cao sang trọng vọng.

Bồ-tát thật vô cùng thông minh, không cần học với thầy nào cả, mà tự khả n ăng ng ài đ ã tài giỏi thành thạo mọi môn học thuật.

Vì vậy khi ngài được mười sáu tuổi, vua nóng lòng trao quốc độ cho ng ài, liền bảo chánh hậu:

- Này ái hậu, khi trao vương quyền cho vương nhi, ta sẽ cử hành lễ thật trọng thể, ta muốn nhìn thấy vương nhi được an vị tr ên ngai vàng khi ta còn sống. Nếu có công chúa ở xứ nào trong cõi Diêm-phù- đề m à ái hậu yêu mến, thì khi rước nàng ấy về đây, ta sẽ phong cho nàng làm chánh hậu của vương nhi. Vậy hãy th ăm d ò xem vương nhi có yêu mến công chúa xứ nào ch ăng?

Bà ưng thuận ngay và cho một cung nữ đệ tr ình vấn đề l ên thái tử để biết ý kiến ng ài. Nàng ấy đến tr ình vương tử mọi việc.

Nghe nói vậy, bậc Đại Sĩ liền suy nghĩ: "Ta không được tốt tướng, hễ một công chúa diễm lệ n ào dù được rước về đây l àm tân nương của ta thì khi thấy mặt ta cũng sẽ nói: "Mình sẽ phải làm gì với một người chồng xấu xí như thế này"; rồi nàng ấy trốn đi v à chúng ta chỉ thêm mang nhục. Vậy ta còn phải cần gì cuộc sống gia đ ình thế tục nữa? Ta muốn phụng dưỡng song thân lúc còn sống và khi song thân từ trần, ta quyết xuất gia làm ẩn sĩ". Vì thế ngài đáp:

- Ta có cần gì quốc độ ngai v àng hay yến tiệc hội hè đâu? Khi song thân ta từ trần, ta quyết xuất gia tu hành.

Nàng cung nữ ấy trở về và kể lại với chánh hậu chuyện ngài vừa nói.

Vua rất buồn bực; sau vài ngày lại gửi một chiếu chỉ khác, nhưng vương tử vẫn không chịu nghe theo. Sau ba lần từ chối lời đề nghị của vua cha; đến lần thứ tư ng ài suy nghĩ: "Quyết liệt phản đối mẹ cha m ãi là điều không hợp lý, n ên ta muốn bày một mưu kế gì đó".

Rồi ngài triệu người thợ vàng trưởng đo àn vào, đưa cho g ã một số vàng và bảo gã làm bức tượng một nữ nhân. Khi gã đi rồi, ng ài lấy thêm vàng và chính tay ngài nặn hình một nữ nhân.

Thật vậy, mục đích của chư Phật bao giờ cũng được th ành tựu. Bức tượng tuyệt đẹp vượt ngo ài mọi lời lẽ con người miêu tả nó. Sau đó, bậc Đại Sĩ truyền đem xi êm y khoác cho tượng ấy và đặt trong cung thất.

Khi thấy bức tượng do người thợ vàng trưởng đo àn đem v ào, ngài chê bai, và bảo:

- Ngươi hãy đi t ìm xem bức tượng đặt trong ho àng cung.

Gã thợ ấy bước vào, thấy bức tượng lên suy nghĩ: "Chắc đây phải l à một Thiên nữ đến hưởng lạc thú c ùng với vương tử".

Gã bỏ đi ra khỏi ph òng mà không dám đưa tay ra về phía bức tượng ấy, rồi g ã nói:

- Tâu điện hạ, trong cung ng ài có một Thiên nữ cao quý của chư Thiên, hạ thần không dám đến gần.

Ngài bảo:

- Hiền hữu, hãy đi đem bức tượng v àng ấy về đây.

Được bảo đến lần thứ hai, g ã mới đi mang bức tượng về.

Hoàng tử ra lệnh đem bức tượng do người thợ v àng đúc đặt v ào trong cung thất bằng vàng; còn bức tượng do ngài nặn thì được trang ho àng thật đẹp đặt l ên một chiếc xe, đem đệ tr ình mẫu hậu và bảo:

- Khi nào con tìm ra được một nữ nhân như thế n ày, con xin lấy nàng làm vợ.

Mẫu hậu triệu các quốc sư vào bảo:

- Này các hiền khanh, vương tử có đầy đủ công đức do Sakka Thi ên chủ ban cho ta, chàng phải tìm được một công chúa xứng đáng với ch àng. Vậy các khanh hãy đem bức tượng n ày đặt v ào vương xa phủ kín, đi khắp c õi Diêm-phù- đề, hễ thấy công chúa của vua n ào giống bức tượng thì hãy trao tượng cho vua ấy và bảo: "Quốc vương Okkàka sẽ làm hôn lễ với công chúa của Đại vương". Rồi h ãy thu xếp ngày trở về nước.

- Thật tốt lành thay.

Họ đáp xong cầm bức tượng ra đi c ùng một đo àn tùy tùng đông đảo. Trong cuộc h ành trình ấy, dù đến kinh th ành nào vào lúc hoàng hôn, đo àn người ấy cũng tụ tập lại rồi sau khi trang hoàng xiêm y, vòng hoa, nữ trang cho bức tượng, họ đặt tượng l ên chiếc loan xa đưa ra bến tắm, c òn chính họ trở lui, đứng b ên vệ đường nghe ngóng người qua lại có b àn tán gì ch ăng.

Dân chúng thấy bức tượng vàng, bảo nhau:

- Bức tượng này chỉ là một nữ nhân cũng thật vô cùng diễm lệ, chẳng khác một vị Thiên nữ. Tại sao nàng đến đây, n àng từ đâu lại? Trong kinh th ành này của ta, không có ai sánh bằng nàng được.

Sau khi tán dương sắc đẹp của tượng v àng, họ lại đi đường họ.

Các quốc sư bảo:

- Nếu có một cô gái nào như thế ở đây, dân chúng sẽ bảo: "Bức tượng n ày giống công chúa nọ, hoặc tiểu thư kia"; chắc tại đây không có cô gái n ào như vậy cả.

Họ liền đem bức tượng ra đi đến kinh th ành khác; trên bước giang hồ vô định, họ đến kinh th ành Sàgala ở quốc độ Madda.

Lúc bấy giờ vua Madda có bảy công chúa đẹp dị thường như bầy ti ên trên trời. Công chúa lớn nhất tên là Pabhàvatì (Quang Huy), thân nàng chiếu tỏa ra các tia sáng như thể ánh bình minh. Khi trời tối, trong phòng loan của nàng rộng chừng bốn cubit (1 cubit = 45 cm) không cần thắp đ èn, cả c ăn ph òng cũng sáng rực lên.

Lúc bấy giờ, nàng có một bà nhũ mẫu lưng gù, sau khi đ ã bưng cơm lên hầu Pabhàvatì, lại muốn gội đầu cho n àng vào lúc trời sẩm tối, bà ra đi múc nước c ùng với tám nữ tỳ, mỗi người mang một bình đựng nước đến bến tắm, chợt thấy bức tượng, b à tưởng đó l à Pabhàvatì liền kêu lên:

- Cô bé này tệ thật, cứ giả vờ muốn gội đầu v à bảo ta đi múc nước, lại lẻn đi trước chúng ta, ra đứng ngo ài đường kia k ìa.

Đang lúc giận dữ, b à kêu lên:

- Tệ quá, nàng làm nhục gia phong, nàng ra đứng kia, trước cả bọn ta nữa. Nếu đức vua biết được, chúng ta sẽ chết mất.

Nói xong, bà đánh v ào má bức tượng, làm một khoảng lớn bằng lòng bàn tay bà bị nứt ra. Khi thấy đó l à một bức tượng vàng, bà bật cười đến bảo các nữ tỳ:

- Hãy đến xem ta đ ã làm gì kìa. Ta tưởng đó l à dưỡng nữ của ta, nên ta đánh nó, bức tượng kia thật có đáng g ì nếu đem so với con gái ta? Ta chỉ l àm đau tay ta m à thôi.

Thế là các sứ giả của vua chạy ngay nắm lấy bà bảo:

- Đây l à chuyện gì bà bảo cho ta biết, con gái bà đẹp hơn tượng n ày sao?

- Ta muốn nói đến Pabh àvatì, công chúa của vua Madda, giá trị của tượng này không bằng một phần mười sáu của nàng ấy.

Họ vui mừng trong dạ, tìm lối vào cung nhờ người trình vua rằng sứ giả của vua Okkàka đang đứng ở cung môn.

Vua đứng dậy từ bảo tọa, ra lệnh cho họ v ào chầu. Khi vào, họ đảnh lễ vua v à tâu:

- Tâu Đại vương, bổn vương xin gửi lời hỏi thăm ngọc thể có được khang an chăng?

Họ được tiếp đón nồng hậu v à khi được hỏi tại sao đến đây, họ đáp:

- Bổn vương của chúng thần có một hoàng nam, vương tử Kusa rất dũng cảm, đức vua muốn trao quốc độ cho con n ên sai chúng thần đến xin Đại vương gá duy ên công chúa Pabhàvatì cho chàng và nhận bức tượng vàng này làm sính lễ.

Nói xong, họ dâng lên tượng vàng ấy. Vua rất đẹp ý, nghĩ rằng được kết thân với một d òng vua cao quý như vậy thật là vạn phúc. Các sứ giả lại tâu:

- Tâu Đại vương, chúng thần không dám chậm trễ ở nán lại đây, chúng thần phải về tr ình đức vua l à chúng thần đ ã đi cầu hôn công chúa được rồi, ng ài sẽ đến đón dâu sau.

Vua chấp thuận, tiếp đ ãi họ rất nồng hậu, sau đó để họ ra về. Họ về cung tr ình lại mọi việc lên đức vua v à hoàng hậu. Vua cùng đám t ùy tùng đông đảo khởi h ành từ Kusàvati dần dần theo thời gian đi đến kinh th ành Sàgala.

Vua Madda thân hành đón rước ng ài vào thành tiếp đ ãi rất trọng thể. Hoàng hậu Sìlavati là một nữ nhân thông thái, liền suy nghĩ: "Do nguyên nhân gì mà có việc này?".

Sau một hai ngày, bà bảo vua:

- Chúng ta đang mong được gặp tân nương.

Vua chấp thuận truyền triệu công chúa vào. Nàng Pabhàvati được phục sức cực kỳ lộng lẫy v à đám cung nữ theo hầu bước ra đảnh lễ mẫu hậu tương lai.

Vừa trông thấy nàng, chánh hậu liền suy nghĩ: "Công chúa này tuyệt đẹp, c òn con ta lại xấu xí, nếu nàng thấy con ta, nàng sẽ không ở dù chỉ một ngày, và sẽ trốn đi ngay. Vậy ta phải b ày mưu mới được".

Bà liền nói với vua Madda:

- Tân nương thực là đẹp đôi với ho àng nhi ta. Tuy thế hoàng tộc ta có một tục lệ cổ truyền, nếu nàng tuân theo luật đó, chúng ta sẽ rước n àng về làm hoàng phi.

- Đ ó là tục lệ gì?

- Trong dòng họ ta, người vợ không được phép nhìn chồng ban ngày cho đến bao giờ n àng thọ thai. Nếu nàng chịu làm theo đúng như vậy, chúng ta sẽ đón n àng về.

Vua hỏi công chúa:

- Này con yêu quý, con có làm thế được chăng?

- Tâu phụ vương, được. N àng đáp.

Sau đó, vua Okk àka đem nhiều sính lễ tặng vua Madda v à rước nàng cùng ra đi, vua Madda tiễn đưa công chúa về nh à chồng cùng với một đo àn hộ tống thật đông đảo. C òn vua Okkàka, khi vừa tới thành Kusàvati, liền ban lệnh cho kinh thành trang hoàng thật lộng lẫy, tất cả tù nhân đều được thả ra, v à sau khi làm lễ quán đảnh cho tân vương c ùng sắc phong nàng Pabhàvati làm chánh hậu, ngài truyền đánh trống loan báo triều đại vua Kusa ra đời.

Tất cả các vua toàn cõi Diêm-phù- đề có công chúa đều gửi đến triều cống vua Kusa hoặc có vương tử th ì gửi đến l àm cận thần để mong bầu bạn với ng ài.

Bồ-tát lại có cả đo àn nữ nhạc đông đảo v à trị dân thật oai phong lẫm liệt. Tuy vậy ngài không được phép nh ìn Pabhàvatì ban ngày, nàng cũng không được nh ìn ngài, chỉ ban đ êm ngài mới được tự do đi lại với n àng.

Vào thời ấy, thân thể của nàng Pabhàvatì tỏa sáng lạ thường, song Bồ-tát phải rời hậu cung khi trời còn tối. Vài ngày sau, ngài thưa với mẫu hậu rằng ngài muốn nhìn thấy Pabhàvatì vào ban ngày. Bà từ chối , bảo ngài:

- Con không nên ước muốn việc đó, phải đợi đến bao giờ n àng có thai đ ã.

Ngài van xin mẹ nhiều lần, vì thế bà bảo:

- Thôi được, con h ãy đến chuồng voi đứng đó giả l àm người quản tượng. Mẹ sẽ đem n àng lại đó, con sẽ tha hồ ngắm n àng, nhưng hãy cẩn thận đừng để n àng biết con.

Ngài thỏa thuận đi đến chuồng voi, mẫu hậu truyền l àm lễ hội voi và bảo Pabhàvatì:

- Này con, ta hãy cùng đi xem bầy voi của đức phu quân con.

Khi đem n àng lại đó, b à chỉ cho nàng tên của voi này, voi nọ; trong lúc Pabhàvatì đi sau lưng mẫu hậu, vua ném v ào lưng nàng một cục phân voi. Nàng tức giận bảo:

- Ta sẽ bảo đức vua chặt đầu ngươi.

Nói xong, nàng lại càu nhàu với mẫu hậu khiến bà phải dỗ dành nàng bằng cách xoa lưng nàng.

Lần thứ hai vua mong muốn nhìn thấy hoàng hậu, lại giả dạng làm người giữ ngựa trong chuồng ngựa, cũng như lần trước, ngài ném cục phân ngựa vào mình nàng và khi nàng bực tức, mẫu hậu lại dỗ dành nàng.

Một ngày kia Pabhàvatì tâu với mẫu hậu là nàng mong muốn nhìn thấy bậc Đại Sĩ B à từ chối lời thỉnh cầu của nàng và bảo:

- Thôi con đừng ước muốn như vậy nữa.

Nàng lại cứ nài nỉ bà mãi, cuối cùng bà bảo:

- Thôi được, ng ày mai hoàng nhi sẽ làm đám rước trọng thể khắp kinh th ành. Con cứ mở cửa sổ mà nhìn.

Nói xong, hôm sau, bà ra lệnh cho kinh thành trang hoàng rực rỡ, rồi truyền cho hoàng tử Jayampati mặc hoàng bào, cỡi voi cử hành lễ khải hoàn rất trọng thể khắp kinh thành.

Mẫu hậu cùng đứng nơi cửa sổ với n àng Pabhàvatì, bảo nàng:

- Con hãy xem cảnh huy hoàng của đức phu quân con.

Nàng bảo:

- Con đ ã được một đấng vương quân thật xứng đôi vừa lứa với con.

Lòng nàng vô cùng hoan hỷ. Song cũng ngày đó bậc Đại Sĩ giả dạng l àm người quản tượng, ngồi sau vương tử Jayampati, khi nhìn thấy Pabhàvatì cho thỏa lòng ao ước, ngài vui thích đưa tay l àm bộ điệu tr êu ghẹo nàng.

Khi con voi đi qua, mẫu hậu hỏi n àng có nhìn thấy đức vua chăng, n àng bảo:

- Tâu mẫu hậu, có thấy, song sau lưng đức vua l à người quản tượng rất thô lỗ đ ã lấy tay làm điệu bộ tr êu con; tại sao chúng lại để một người xấu xí, có dáng xui xẻo như vậy ngồi sau đức vua chứ?

- Con ạ, chúng muốn sau đức vua phải có người cận vệ.

Nàng suy nghĩ: ‘‘Người quản tượng này thật to gan, không tỏ lòng kính trọng đức vua tí n ào, hay đó chính l à vua Kusa? Chắc chắn vì đức vua xấu xí n ên họ không muốn cho ta thấy mặt ngài".

Thế là nàng rỉ tai bà nhủ mẫu lưng gù của nàng:

- Này nhũ mẫu, lập tức đi ra xem thử đức vua ngồi trước hay sau.

- Làm thế nào ta biết được điều đó?

- Nếu là đức vua th ì ngài sẽ bước xuống voi trước, nhũ mẫu sẽ biết được nhờ dấu hiệu n ày.

Bà vú đi ra đứng xa xa nh ìn thấy bậc Đại Sĩ bước xuống voi trước, v à sau đó l à vương tử Jayampati. Bậc Đại Sĩ nh ìn quanh, hết phía này đến phía kia, nhợt trông thấy b à lão gù lưng, biết ngay tại sao bà ta đ ã đến, liền triệu b à ta lại và nghiêm khắc bảo bà ấy không được tiết lộ bí mật của ng ài, rồi cho bà ta về.

Bà vú về và bảo hoàng hậu:

- Vị ngồi phía trước đ ã xuống voi trước tiên.

Và Pabhàvatì tin bà ta ngay.

Một lần nữa, vua muốn thấy mặt nàng và cầu xin mẫu hậu sắp đặt việc ấy. B à không thể từ chối ngài và bảo:

- Thôi được rồi , con h ãy vào ngự viên.

Ngài vào đó giấu m ình trong hồ sen đến tận cổ, đứng dưới nước lấy lá sen che đầu v à hoa sen che mặt. Và mẫu hậu đem Pabh àvati vào ngự viên lức sẩm tối bảo nàng:

- Này con hãy nhìn cây này, chim kia, nai nọ...

Như thế bà dụ nàng đi m ãi cho đến khi n àng tới gần bờ hồ sen.

Khi nàng nhìn thấy hồ phủ đầy năm loại hoa sen, nàng muốn tắm, liền bước xuống mé nước cùng các cung nữ. Trong lúc vui đ ùa nàng thấy hoa sen kia, liền đưa tay ra hái. Lúc đó vua rẽ lá sen ra, nắm lấy tay nàng bảo:

- Ta là vua Kusa.

Vừa thấy mặt ngài, nàng hét to:

- Kìa con quỷ đang chụp lấy ta.

Rồi nàng ngất đi ngay, v ì thế vua thả tay nàng ra.

Khi tỉnh lại, nàng nghĩ thầm: "Chúng bảo vua Kusa đ ã nắm lấy tay ta, ngài chính là người đ ã ném vào ta một cục phân voi trong chuồng voi, rồi một cục phân ngựa trong chuồng ngựa, cũng chính là người ngồi sau lưng voi và trêu ghẹo ta. Ta còn làm gì nữa với một người chồng xấu xa dị dạng như vậy? Nếu ta sống thì ta phải lấy người chồng khác mà thôi".

Thế là nàng triệu tập các quan đại thần đ ã hộ giá nàng đến đây, v à bảo họ:

- Hãy chuẩn bị loan xa. Ngay hôm nay ta phải đ ào tẩu.

Họ liền tâu chuyện này cùng đức vua. Ng ài nghĩ thầm: "Nếu nàng không trốn được, l òng nàng sẽ đau khổ tan nát; thôi để n àng đi, với t ài n ăng của chính m ình, rồi đây ta sẽ đưa n àng trở lại".

Thế là ngài cho phép nàng ra đi, n àng liền về ngay kinh thành vua cha nàng. Lúc ấy bậc Đại Sĩ đi từ ngự vi ên về thành và bước lên cung điện nguy nga của ng ài.

Thật ra chính là do kết quả một lời nguyền của nàng trong một đời trước m à nàng không ưng thuận Bồ-tát và cũng vì một nghiệp quá khứ của ngài mà ngài phải chịu xấu xí như thế.

Chuyện kể rằng ngày xưa tại ngoại ô thành Ba-la-nại, ở tại phố trên phố dưới, một gia đ ình nọ có hai con trai và một gia đ ình kia có một con gái. Bồ-tát là cậu em trong hai anh em kia, rồi cô gái kết duyên với người anh. Còn cậu em không có gia thất, nên vẫn sống chung với anh.

Một ngày kia, nhà này nướng loại bánh hảo hạng, trong lúc Bồ-tát còn ở trong rừng, nên họ để d ành cho ngài một chiếc, rồi chia bánh ra ăn hết. Lúc bấy giờ một vị Độc Giác Phật đến khất thực ở nh à ấy. Người chị dâu của Bồ-tát nghĩ rằng nàng sẽ nướng một chiếc bánh khác cho cậu em, nên đem chiếc bánh để d ành phần cậu đưa cho vị Độc Giác Phật.

Ngay lúc ấy cậu trở về từ khu rừng, nàng bảo:

- Này chú em, đừng giận tôi đ ã đưa phần của chú cho vị Độc Giác Phật rồi.

Cậu em đáp:

- Chị đ ã ăn hết phần m ình rồi lại đem cho phần ta đi, c òn bảo sẽ làm cái bánh khác cho ta đấy!

Cậu liền giận dữ bước ra lấy lại chiếc bánh từ bình bát của vị khất sĩ.

Nàng vội trở về nhà mẹ mình lấy một bơ tươi mới tan, có màu như hoa Champac (hoa Sứ) đổ đầy v ào bình bát ấy, nó liền tỏa ra một làn ánh sáng. Thấy vậy nàng cầu nguyện:

- Lạy Thánh giả, ước gì khi con tái sinh, thân thể con sẽ phát ra một luồng ánh sáng, con sẽ được xinh đẹp v à không bao giờ ở chung nhà với kẻ đ ê tiện này nữa.

Vì kết quả lời nguyền ngày xưa này, nàng không muốn gặp lại cậu nữa. Và Bồ-tát khi thả chiếc bánh lại vào bình bát, đ ã khấn:

- Lạy Thánh giả, dù nàng ở cách xa tr ăm dặm, cũng xin cho con có đủ uy lực bắt n àng về làm vợ.

Vì cậu đ ã giận dữ lấy chiếc bánh, nên kết quả của nghiệp quá khứ ấy là cậu bị tái sinh rất xấu xí.

Phần vua Kusa vô cùng đau khổ khi Pabh àvatì bỏ ngài ra đi, đến độ các cung phi khác, d ù đ ã phụng sự ngài đủ mọi cách, ng ài cũng không còn lòng dạ nào ngó ngàng đến họ; to àn cung điện ng ài thiếu mất Pabhàvatì trông thật vô cùng hiu quạnh. Sau đó ng ài nghĩ thầm: "Lúc này chắc nàng đ ã về đến th ành Sàvala"; và ngay sáng ngày hôm sau ngài tìm đến mẹ, v à thưa:

- Tâu mẫu hậu, con sẽ đi t ìm Pabhàvatì về đây. Xin mẫu hậu trị v ì quốc độ thay con.

Và ngài ngâm vần kệ đầu:

1. Đất nước n ày hoan lạc ngập tràn Ngọc vàng châu báu, vật trang hoàng, Thay con, mẫu hậu lên cai trị, Con sẽ ra đi để kiếm n àng .

Khi nghe ngài nói vậy, mẫu hậu bảo:

- Này vương nhi, con phải thật hết sức tỉnh giác, nữ nhân là giống có tâm bất tịnh.

Sau đó, b à đổ đầy thực phẩm cao lương v ào chiếc bát vàng và bảo:

- Vương nhi để d ành lương thực lúc đi đường.

Rồi bà từ giã ngài. Cầm lấy bát thức ăn ấy xong, ng ài đảnh lễ mẫu hậu rất cung kính rồi nói to:

- Nếu con còn sống, con sẽ có ngày gặp mẹ.

Và ngài trở về cung thất của mình.

Ngài trang bị n ăm thứ vũ khí cho m ình, đặt một ng àn đồng tiền v ào túi xách xong cầm cái bát thức ăn, chiếc đ àn Kokanada và rời kinh thành. Ngài là người lực lưỡng, nên đến giữa trưa, ng ài đ ã đi được năm mươi dặm đường. Sau khi ăn xong, c òn nửa ngày ngài đi th êm n ăm mươi dặm đường nữa, v ì thế chỉ trong vòng một ngày ngài đ ã đi được cả trăm dặm đường.

Chiều tối ngài tắm rửa và vào kinh thành Sàgala. Khi ngài vừa đến nơi th ì do uy lực đức độ của ng ài, nên Pabhàvati không thể nằm yên trên vương sàng mà phải bước xuống nằm trên sàn nhà. Bồ-tát lúc ấy đ ã mệt lã vì cuộc hành trình, khi ngài đang lang thang tr ên đường ng ài gặp một người đ àn bà mời vào nhà nghỉ ngơi. Sau khi rửa chân xong, bà ấy mời ngài đi ngủ.

Lúc ngài đang ngủ, b à ấy lo dọn cơm cho ngài, rồi thúc ngài dậy ăn cơm, ng ài vô cùng đẹp ý n ên đ ã cho bà ấy luôn cả ngàn đồng tiền v à cái bát vàng. Để lại chỗ đó luôn cả năm loại vũ khí, ng ài bảo:

- Ta cần phải đi v ài chỗ nữa.

Khi cầm cây đ àn lên, ngài đi đến chuồng voi v à gọi các người quản tượng:

- Hãy cho ta ở đây v à ta sẽ chơi nhạc để các anh nghe.

Họ đồng ý. Ng ài liền đi ra ngo ài, và nằm xuống. Khi đ ã hết mệt mỏi, ngài đứng dậy mở đ àn ra, vừa hát vừa nghĩ: "Dân chúng trong kinh thành sẽ nghe tiếng đ àn".

Trong lúc Pabhàvati nằm trên sàn nhà, nàng nghe tiếng hát và suy nghĩ: "Tiếng đ àn này không thể của ai khác ngoài vua ấy", nàng biết chắc vua Kusa đ ã đến đây chỉ v ì nàng. Vua Madda cũng nghe tiếng đ àn, liền nghĩ thầm: "Gã kia chơi đ àn thật du dương. Ngày mai ta sẽ gọi gã vào cho làm nhạc công". Còn Bồ-tát suy nghĩ: "Ta không thể nào thấy Pabhàvatì nếu ta ở đây, chỗ n ày không phải dành cho ta".

Sáng hôm sau, ngài dậy thật sớm, ăn điểm tâm trong nh à trọ xong, ngài bỏ đ àn, và đi đến người thợ gốm của vua xin l àm thợ học việc. Một ngày kia, sau khi đổ đất sét v ào đầy nh à, ngài hỏi người kia xem ngài có thể làm một số bình đất được chăng, người thợ gốm đáp:

- Được lắm.

Ngài liền đặt cục đất l ên bánh xe quay tròn. Khi đ ã quay được rồi, bánh xe quay nhanh đến giữa trưa.

Sau khi làm đủ mọi loại b ình đất lớn nhỏ, ng ài bắt đầu l àm một chiếc đặc biệt cho Pabh àvatì có nhiều hình vẽ trên đó. Thật vậy, mục đích của chư Phật bao giờ cũng th ành tựu. Ngài quyết định chỉ một m ình Pabhàvatì được thấy các h ình vẽ này thôi. Khi ngài phơi khô và nung các bình xong, ngôi nhà đầy cả đồ gốm.

Người thợ gốm ấy đem nhiều mẫu h àng đến cung vua. Vua thấy đồ gốm liền hỏi ai đ ã làm ra chúng.

- Tâu Đại vương, chính hạ thần.

- Trẫm chắc không phải ngươi làm được, vậy th ì ai làm?

- Tâu Đại vương, người thợ học việc của hạ thần.

- Không thể là thợ của ngươi được, phải thầy của ngươi mới đúng. Ngươi h ãy học nghề với người ấy. Từ nay hãy để người ấy l àm bình gốm cho các công chúa của trẫm.

Vua ban cho gã một ngàn đồng tiền v à bảo:

- Hãy trao tiền này cho người ấy, và đưa các b ình nhỏ đến các công chúa.

Gã cầm các bình nhỏ đến trao các công chúa, v à thưa:

- Những thứ này làm riêng để các công nương chơi.

Các công chúa đều có mặt để nhận qu à tặng.

Sau đó, người thợ gốm trao cho Pabh àvatì cái bình mà bậc Đại Sĩ đ ã làm riêng cho nàng. Khi cầm lên, nàng nhận ra ngay hình vẽ nàng và nhũ mẫu lưng gù, và biết đó l à công trình bằng tay của không ai khác ngoài vua Kusa, nàng tức giận bảo:

- Ta không cần cái này, đem cho ai muốn lấy nó đi.

Các công chúa kia thấy nàng giận dữ đều cười bảo:

- Đại tỷ tưởng đó l à công trình của vua Kusa, chính người thợ gốm làm nó chứ có phải vua ấy đâu, h ãy nhận đi.

Nàng không bảo cho các em biết vị vua ấy đ ã đến đây v à làm đồ gốm.

Còn người thợ gốm trao ngàn đồng v àng ấy cho Bồ-tát, và bảo:

- Này con, đức vua rất h ài lòng vì con. Từ nay con phải làm đồ gốm cho các công chúa, c òn ta sẽ đem chúng đến tặng các n àng.

Ngài suy nghĩ: "Mặc dù ta ở đây, ta cũng không thể thấy Pabh àvati được". Ng ài liền trả tiền lại người thợ gốm và đi đến nh à người đan giỏ cho vua.

Sau khi trở thành thợ học việc với người này, ngài làm một chiếc quạt bằng lá thốt nốt cho Pabhàvatì, trên đó ng ài vẽ một chiếc lọng trắng (biểu tượng của vương quyền), và lấy đề t ài một phòng đại tiệc có nhiều h ình người trong ấy, ngài vẽ hình Pabhàvatì đang đứng giữa.

Người thợ đan giỏ đem những thứ thủ công do vua Kusa l àm đến cung điện. Vua thấy, hỏi ai l àm chúng như trước và ban một ngàn tiền vàng cho người này, rồi bảo:

- Hãy trao những mẫu đồ đan lát n ày cho các công chúa.

Ngài lại trao chiếc quạt đặc biệt d ành cho Pabhàvatì. Lần này cũng vậy, không ai nhận ra các hình vẽ; song Pabhàvatì, khi thấy chúng, liền hiểu ngay công trình của vua Kusa, và bảo:

- Hãy đưa thứ n ày cho ai thích nó thì lấy đi.

Rồi nàng giận dữ ném xuống đất.

Các công chúa kia lại cười nàng. Còn người thợ đan giỏ đem tiền về trao cho Bồ-tát. Ng ài nghĩ rằng nơi này cũng không phải chỗ dành cho ngài ở được, n ên ngài trả tiền lại cho người đan giỏ rồi đi đến gặp người giữ ngự vi ên của vua và trở thành thợ học việc.

Trong khi làm đủ loại v òng hoa, ngài làm một vòng đặc biệt d ành cho Pabhàvati, nổi bật với nhiều hình dáng khác nhau. Người giữ vườn lại đem đến cung điện.

Khi vua thấy, bèn hỏi ai làm các kiểu vòng hoa này.

- Tâu Đại vương, chính hạ thần.

- Ta chắc ngươi không thể làm được, vậy ai?

- Muôn tâu, chính chú thợ học việc của hạ thần.

- Kẻ này không thể là thợ của nhà ngươi mà phải là tay thầy. Ngươi hãy học nghề với người này, từ nay người này phải kết vòng hoa cho các công chúa và trao cho gã ngàn đồng v àng này.

Khi ban tiền cho người thợ, vua phán:

- Hãy đem các v òng hoa đến dâng l ên các công chúa của trẫm.

Còn người giừ vườn lại dâng lên Pabhàvati vòng hoa mà Bồ-tát đ ã làm riêng tặng nàng. Ở đây nữa, n àng lại thấy giữa các hình ảnh khác nhau, có cả hình nàng và vua, nàng lại nhận ra đó l à công trình mỹ nghệ của vua Kusa, nên nàng giận dữ ném xuống đất.

Các công chúa em nàng cũng cười nhạo nàng như trước. Người làm vườn đem ng àn đồng tiền về trao cho Bồ-tát v à kể hết mọi sự tình đ ã xảy ra. Ngài suy nghĩ: "Chỗ này cũng không phải của ta". Ngài trả lại tiền cho người làm vườn rồi đi l àm thợ học việc với hỏa đầu quân của vua.

Một ngày kia, người đầu bếp đem đủ loại cao lương mỹ vị đến dâng vua, v ào trao cho Bồ-tát một miếng thịt để nấu cho phần ng ài. Ngài nấu thịt tuyệt khéo, đến độ m ùi thơm bay khắp kinh thành. Vua ngửi mùi thơm, hỏi thử xem người đầu bếp c òn nấu thêm món thịt gì trong bếp ch ăng.

- Tâu Đại vương, không. Song hạ thần có trao cho người thợ học việc một miếng thịt xương đề nấu, chắc đó l à mùi thịt mà Đại vương vừa ngửi.

Vua truyền đem món thịt ấy đến v à đặt một miếng l ên đầu lưỡi, lập tức nó l àm bừng dậy và rúng động cả bảy ng àn vị giác! Vua say mê lạc thú được thưởng thức các cao lương n ên trao cho người đầu bếp một ng àn đồng tiền v à phán:

- Từ nay ngươi phải đem ngự thiện dâng l ên trẫm và các công chúa do thợ học viện của ngươi nấu, ngươi đem phần của trẫm đến dâng trẫm, c òn thợ học việc của ngươi thì đem dâng phần các công chúa.

Người thợ về kể lại mọi sự; nghe thế ngài suy nghĩ: "Nay ước vọng của ta đ ã thành tựu. Ta sẽ gặp được Pabh àvatì rồi". Lòng đầy hân hoan, ng ài trao ngàn đồng tiền cho người đầu bếp v à hôm sau ngài nấu các món ăn để dâng vua, c òn chính ngài đi l ên nội cung, nơi Pabhàvatì đang cư ngụ, gánh theo một gánh thức ăn cho các công chúa.

Pabhàvatì thấy ngài đi l ên với gánh nặng như vậy liền suy nghĩ: "Ngài đang l àm công việc của kẻ gia nô phục dịch thật không xứng đáng với ng ài tý nào. Song nếu ta để y ên, ngài sẽ tưởng ta đồng ý như vậy, rồi không chịu đi nơi khác, cứ ở tại đây m à nhìn ta chằm chặp. Ta phải lập tức nhục mạ phỉ báng ngài và đuổi ng ài đi, không cho ng ài ở lại đây phút n ào nữa!".

Thế là nàng mở hé cửa ra, để một tay tr ên cánh cửa, tay kia đ è lên then cửa và ngâm vần kệ nhì:

2. Ku-sa, ngài phải chịu ngày đ êm Mang gánh nặng này thực chẳng nên, Đất nước Ku-sa, mau trở lại, Dị h ình, ta chẳng chút ưa nhìn!

Ngài liền suy nghĩ: "Ta đ ã nghe được lời Pabh àvati nói rồi". Lòng mừng khấp khởi, ngài vội ngâm ba vần kệ:

3. Pab-hà, say đắm bởi dung nhan, Đất nước ta đâu thiết ngó ng àng, Mỹ quốc Mạch- đa, niềm lạc thú, Bỏ ngai, ta sống để t ìm nàng! 4. Quang Huy kiều nữ, mắt mơ màng, Sao chiếm lòng ta đến dại cuồng? Hiểu r õ giang sơn là đất mẹ, Đi ên rồ phiêu bạt khắp mười phương! 5. Mình khoác tấm da rực sáng ngời, Vòng lưng đai quấn ánh v àng tươi, Tình nàng, kiều nữ, ta khao khát, Ta chẳng màng ngôi báu ở đời!

Khi ngài đ ã nói vậy xong, nàng suy nghĩ: "Ta phỉ báng ngài chỉ vì muốn làm cho ngài uất hận trong lòng; song ngài lại cố dùng lời lẽ hòa dịu với ta. Giả sử ngài bảo: <Ta là vua Kusa>, và bắt lấy ta, thì có ai cản ngài được? E rồi có kẻ nghe lọt được câu chuyện giữa ta v à ngài nói đây".

Thế là nàng vội đóng cửa lại v à cài then kỹ bên trong. Còn ngài cầm đ òn gánh lên và đem thức ăn đến các công chúa kia. Pabh àvatì bảo nữ tỳ lưng gù đem cho n àng các món ăn do vua Kusa nấu. B à vú đem lại v à bảo:

- Công chúa ăn đi n ào.

Pabhàvatì nói:

- Ta không muốn ăn những thức ăn do vua ấy nấu đâu. B à hãy ăn rồi đi lấy thức ăn của b à nấu cho ta và đem lại đây. Song đừng nói cho ai biết vua Kusa đ ã đến rồi đấy nhé.

Bà vú lưng gù từ đó đem về ăn phần thức ăn của công chúa, v à đưa cho n àng phần thức ăn của b à ta. Cũng từ đó vua Kusa không thể n ào thấy nàng được lại suy nghĩ: "Ta không biết Pabh à có thương yêu ta chút nào ch ăng, ta muốn thử xem n àng ra sao".

Thế là sau khi đưa thức ăn đến dâng các công chúa kia, ng ài lại gánh thức ăn l ên vai, bước ra đạp chân xuống s àn nhà cạnh cửa khuê phòng của Pabhàvatì, làm cho các dĩa thức ăn đụng nhau k êu loảng xoảng, rồi ngài vừa hét lên vừa ngã nhào xuống đất m ê man bất tỉnh giữa đống đồ đạc.

Khi nghe tiếng ngài kêu lớn, nàng mở cửa phòng ra nhìn, thấy ngài ngã quỵ dưới sức nặng của gánh đồ ng ài đang mang đi, n àng thầm nghĩ: " Đây l à vị Đại vương ngự trị to àn cõi Diêm-phù- đề, thế m à vì ta, ngài đ ã chịu bao khổ sở ngày đ êm; bởi trước kia ngài được nâng niu chiều chuộng kỹ lưỡng n ên nay đ ã ngã nhào do gánh nặng thức ăn m à ngài đang mang đây. Thôi để ta xem ng ài còn sống không’’.

Rồi bước ra khỏi phòng, nàng nghễnh cổ lên nhìn vào mồm ngài xem hơi thở ra sao. Ngài phì nước bọt ra đầy miệng l àm v ăng cả l ên người nàng. Nàng vội rút lui về phòng, và phỉ báng ngài, khi nàng đứng b ên cửa hé mở, nàng ngâm kệ sau:

6. Rủi thay phận kẻ mãi mong cầu Thấy bị chối từ mọi ước ao, Như Đại vương, theo đ òi thắm thiết Tình kia chẳng đáp được đâu n ào!

Nhưng vì ngài đang si t ình nàng đến độ đi ên cuồng, nên dù ngài bị nàng phỉ báng, mạ ly đến đâu đi nữa, ng ài vẫn không tỏ vẻ oán hận mà chỉ ngâm kệ này:

7. Ai chiếm được người dạ luyến thương, D ù tình đáp lại hoặc đơn phương, Chỉ th ành công ấy làm khâm phục, Thất bại là bi thảm đoạn trường!

Trong khi ngài nói như vậy, nàng vẫn không động l òng thương, còn đáp lại với giọng cương quyết như để xua đuổi ng ài đi bằng vần kệ sau:

8. Theo đuổi nữ nhi chẳng thuận l òng Khác nào đ ào đá tảng tr ên đồng, Lưỡi c ày bằng gỗ giòn mau gẫy, Hay đón gió bằng chiếc lưới k hông!

Nghe thế, vua ngâm tiếp ba vần kệ nữa:

9. Như đá trơ trơ, quả dạ n àng, Bề ngoài hiền dịu tuyệt trần gian! Không lời th ăm hỏi d ù ta đến Theo đuổi t ình ai vạn dặm đ àng! 10 Nàng cứ cau mày lúc ngắm ta, Sa sầm dáng điệu, chúa ki êu xa, Còn ta, chỉ một tên đầu bếp Trong chốn cung đ ình xứ Mạch- đa. 11. Ho àng phi, ví thử xót thương người, Hạ cố ban ta một nụ cười, Ta chẳng còn làm đầu bếp nữa: Ku-sa chúa tể ngự tr ên đời!

Nghe ngài nói vậy, nàng nghĩ thầm: "Ông vua này thật cứ nói dai dẳng đến c ùng. Ta phải tìm mưu nói dối để đuổi ng ài đi nơi khác". N àng liền ngâm kệ này:

12. Nếu thầy tướng số nói không sai, Thì chính tiên tri đúng thế n ày: "Nàng bị chặt ra thành bảy mảnh, Khi nàng lấy chúa Cát Tường đây.

Nghe vậy vua cãi lại ngay:

- Này ái hậu, ta cũng đ ã hỏi ý các thầy tướng số ở xứ ta và họ tiên đoán chẳng ai có thể l àm phu quân của ái hậu trừ vị chúa công có giọng như sư tử, là Đại đế Kusa, v à theo trí hiểu biết của ta, ta cũng thấy những điều tr ên như vậy.

Ngài lại ngâm vần kệ khác:

13. Nếu thầy tướng số khác cùng ta Nói những lời chân thật, quả là: Nàng chẳng tôn ai làm chúa tể Của nàng, trừ Đại đế Ku-sa!

Nghe ngài nói vậy, nàng tự bảo: 'Ta không thể làm nhục ngài được! Vậy d ù ngài chịu rời bỏ đi hay không th ì có nghĩa lý gì đối với ta". N àng liền đóng cửa lại để khỏi ló đầu ra nữa. Ng ài đ ành gánh đồ đạc l ên ra đi.

Tứ ngày ấy, ngài không còn trông thấy nàng nữa và ngài trở nên vô cùng chán nản với công việc bếp núc của ngài. Khi ăn điểm tâm xong, ng ài phải chẻ củi, rửa bát dĩa, gánh nước rồi nằm nghỉ ngơi trên đống thóc. Ngài dậy thật sớm lo nấu cháo, rồi đem thức ăn đi phục dịch, v à ngài chịu đựng mọi sự h ành hạ thân xác này chỉ vì quá si tình nàng Pabhàvatì.

Một ngày kia, ngài thấy bà vú lưng gù đi ngang qua cửa bếp, liền ch ào bà . Vì sợ Pabhàvatì, bà vú không dám đến gần ng ài, chỉ làm ra vẻ đang vội v àng lắm. Thế là ngài chạy ngang đến gần b à ta, bảo:

- Này bà già gù?

Bà vú quay lại hỏi:

- Ai đấy nhỉ? Gi à này chẳng dám nghe những gì ngài nói đâu!

Ngài liền bảo:

- Cả hai chủ tớ ngươi thật quá ngang bướng! Dù ta ở gần các người lâu nay, ta cũng chẳng nghe già nói gì về ngọc thể của nàng cả.

Bà gù đáp:

- Thế ngài có quà gì cho già này ch ăng?

Ngài vội đáp:

- Giả sử ta cho ngươi quà, ngươi có gắng sức làm sao Pabhàvatì nguôi lòng và cho ta gặp mặt nàng ch ăng?

Nghe bà vú ưng thuận, ngài bảo:

- Nếu ngươi làm được việc ấy, ta sẽ chữa cho lưng g ù của ngươi thẳng lên, rồi tặng ngươi một vòng vàng đeo cổ.

Rồi để dụ b à vú, ngài ngâm n ăm vần kệ:

14. Chuỗi vàng ta sẽ tặng cho già, Khi đến Ku-sa, xứ sở nh à, Ví thử Pa-bhà thân yểu điệu Rủ l òng hạ cố đoái nh ìn ta! 15. Chuỗi vàng ta sẽ tặng cho già, Khi đến Ku-sa, xử sở nh à, Ví thử Pa-bhà, nàng thục nữ, Rủ lòng hạ cố nói cùng ta! 16. Chuỗi vàng ta sẽ tặng cho già, Khi đến Ku-sa, xử sở nh à, Ví thử Pa-bhà, nàng thục nữ, Rủ lòng cười hé nụ cùng ta! 17. Chuỗi vàng ta sẽ tặng cho già, Khi đến Ku-sa, đất nước nh à, Ví thử Pa-bha thân yểu diệu, Sẽ tươi cười diện kiến cùng ta! 18. Chuỗi vàng ta sẽ tặng cho già, Khi đến Ku-sa, đất nước nh à, Ví thử Pa-bhà nàng thục nữ, Đưa tay âu yếm đặt v ào ta!

Nghe lời ngài, bà vú bảo:

- Thôi xin Đại vương đi cho rồi, chỉ trong v ài ngày nữa thôi, già này sẽ đưa n àng đặt v ào tay Đại vương! Đại vương sẽ thấy gi à này đắc lực ra sao.

Nói vậy xong, bà già quyết định h ành động ngay; vừa đi đến gặp Pabh àvati, bà làm bộ lau chùi phòng nàng thật sạch, không còn sót một chút bụi nào, rồi cởi đôi h ài của nàng ra, bà quét dọn cả phòng nàng.

Sau đó, b à già đặt một chiếc ghế cao cho b à ở ngay bực cửa ( để giữ kỹ phía ngo ài cửa), rồi trải nệm trên một chiếc ghế thấp cho nàng, bà bảo:

- Này công chúa yêu ơi, để gi à bắt chấy trên đầu n àng nhé!

Bà đặt n àng ngồi đó, k ê đầu v ào lòng bà, xoa nhẹ cho nàng một lát rồi bảo:

- Ô kìa, ta bắt được nhiều chấy quá?

Bà già bắt được v ài con chấy trên đầu b à, đặt l ên đầu công chúa, rồi nói về bậc Đại Sĩ với lời lẽ y êu thương, bà ca ngợi ngài qua vần kệ này:

19. Công nương này chẳng thấy lòng vui Nhìn chúa Ku-sa chút nữa rồi, Dù chẳng thiếu gì, ngài phục dịch Kiếm tiền như nấu bếp tôi đ òi.

Pabhàvatì liền nổi giận với bà gù ngay. Thế là bà vú già nắm cổ nàng đẩy v ào phòng, còn bà đứng phía ngo ài đóng cửa lại, đứng sát v ào sợi dây thừng kéo cửa. Pabhàvatì không thể tới gần chụp bà vú được, phải đứng sát cửa v à mắng nhiếc bà vú qua vần kệ khác:

20. Mụ già nô lệ lưng gù vầy Sao dám buông lời quái dị thay! Xứng đáng được ta truyền cắt lưỡi Bằng thanh kiếm ngọt nhất đời n ày!

Bà già gù cứ đứng sát như vậy v ào sợi dây thừng buông thả xuống và bảo:

- Này, nàng chỉ là người vô dụng, lại đối xử t àn tệ thế kia, chứ sắc đẹp của n àng có ích lợi cho ai ch ăng?

Nói xong, bà già cao giọng nêu rõ mọi công đức của Bồ-tát, vừa thét to bằng giọng kh àn khàn của một người lưng gù qua mười ba vần kệ sau:

21. Pab-hà hỡi, chớ quý yêu người Vì dáng bề ngoài, hảo tướng thôi. Hãy gắng làm cho ngài đẹp ý, Vinh quang ng ài vĩ đại cao vời! 22. Pab-h à hỡi, chớ quý yêu người Vì dáng bề ngoài, hảo tướng thôi. Hãy cố làm cho ngài đẹp ý, Triều ng ài hưng thịnh nhất trên đời. 23. Pab-h à hởi, chớ quý yêu người Vì dáng bề ngoài, hảo tướng thôi. Hãy cố làm cho ngài đẹp ý, Quyền uy ng ài vĩ đại tr ên đời. 24. Pab-h à hỡi, chớ quý yêu người Vì dáng bề ngoài, hảo tướng thôi. Hãy cố làm cho ngài đẹp ý, Quyền ng ài cai trị rộng khắp nơi. 25. Pab-hà hỡi, chớ quý yêu người Vì dáng bề ngoài, hảo tướng thôi. Hãy cố làm cho ngài đẹp ý, Ng ài là vị Đại đế h ùng oai. 26. Pab-hà hỡi, chờ quý yêu người Vì dáng bề ngoài, hảo tướng thôi. Giọng của ngài như sư tử hống, Hãy làm toại ý đẹp l òng ngài. 27. Pab-hà hỡi, chờ quý yêu người Vì dáng bề ngoài, hảo tướng thôi. Hãy cố làm cho ngài đẹp ý, Giọng ng ài trong trẻo vút ngân dài. 28. Pab-hà hỡi, chớ quý yêu người Vì dáng bề ngoài, hảo tướng thôi. Hãy cố làm cho ngài đẹp ý, Giọng ng ài trầm lắng tận lòng ai! 29. Pab-hà hỡi, chớ quý yêu người Vì dáng bề ngoài, hảo tướng thôi. Hãy cố làm cho ngài đẹp ý Giọng ng ài êm dịu quá, nàng ôi! 30. Pab-hà hỡi, chớ quý yêu người Vì dáng bề ngoài, hảo tướng thôi. Hãy cố làm cho ngài đẹp ý Giọng ng ài như mật rót vào tai! 31. Pab-hà hỡi, chớ quý yêu người Vì dáng bề ngoài, hảo tướng thôi. Hãy gắng làm cho ngài mãn nguyện, Vì ngài có cả một tr ăm t ài. 32. Pab-hà hỡi, chớ quý yêu người Vì dáng bề ngoài, hảo tướng thôi. Hãy gắng làm cho ngài mãn nguyện Ngài, vua Sát- đế-lỵ anh t ài! 33. Pab-hà hỡi, chớ quý yêu người Vì dáng bề ngoài, hảo tướng thôi. Hãy gắng làm cho ngài đẹp ý, Ku-sa Đại đế, chính l à ngài!

Nghe bà vú nói vậy, Pabhàvatì đe dọa:

- Này mụ già gù lưng ơi, sao mụ la to thế kia? Nếu ta chụp được mụ th ì ta sẽ cho mụ biết tay ta là chủ đấy nhé.

Bà vú đáp:

- Lâu nay già vị tình nàng nên đ ã không tâu trình phụ vương về việc vua Kusa đến đây. Được rồi, hôm nay gi à sẽ đi tr ình đức vua cha.

Bà ta cũng cất cao giọng để hăm he n àng. Vì sợ có người nghe lọt chuyện này, nên nàng đ ành hoà dịu với bà già gù lưng ấy.

Thế là Bồ-tát không còn cách nào nhìn thấy nàng được nữa; sau bảy tháng r òng rã, ngài đâm chán ngán cảnh giường thô cơm hẩm, ng ài suy nghĩ: "Ta cần gì nàng nữa chứ? Sau bảy tháng ở đây, ta chẳng c òn cách nào được giáp mặt n àng, nàng thật quá nhẫn tâm tàn ác. Thôi ta quyết đi về thăm song thân ta m à thôi".

Vào lúc ấy Sakka Thiên chủ xem xét vấn đề n ày và nhận thấy vua Kusa đ ã bất mãn đến độ n ào rồi, nên ngài suy nghĩ: "Sau bảy tháng vua Kusa không còn biết làm sao gặp mặt Pabhàvatì, ta cố tìm cách gì để giúp ng ài thấy được n àng".

Sau đó, Sakka Thi ên chủ sai các Thiên sứ đi yết kiến bảy vị quốc vương khác l àm như thể vừa từ kinh đô vua xứ Madda đến v à tâu:

- Nàng Pabhàvatì đ ã rời bỏ vua Kusa và trở về nhà phụ vương nàng. Vậy xin Đại vương h ãy đến cầu hôn n àng gấp.

Cứ mỗi quốc vương, Thiên chủ đều gửi ri êng một thông điệp như vậy.

Mỗi vị vua kia đều đi đến kinh th ành cùng một đo àn tùy tùng đông đảo, v à đều không biết lý do đến đây của các vua khác. Các vị liền hỏi nhau:

- Tại sao Đại vương đến đây?

Và khi khám phá được các sự việc đang diễn tiến ra sao, các vua ấy đều nổi giận v à bảo:

- Quốc vương này có ý muốn gả một nàng công chúa cho cả bảy chúng ta ư? Hãy nhìn xem lão đối xử tồi tệ mức n ào. Lão nhạo báng chúng ta khi bảo: "Hãy cưới nàng làm vương hậu’’. Vậy lão phải gả Pabhàvatì cho cả bảy chúng ta hoặc là phải chiến đấu với chúng ta m à thôi.

Các vua ấy liền gửi thông điệp cho vua Madda về việc n ày và bao vây kinh thành.

Khi nghe thông điệp, vua Madda lo ngại v à hỏi ý kiến quần thần:

- Ta phải làm sao đây?

Quần thần đáp:

- Tâu Chúa thượng, bảy vua này đến đây t ìm công chúa Pabhàvatì. Nếu Chúa thượng từ khước việc gả nàng, các vị ấy sẽ phá thành xông vào kinh đô, rồi sau khi ti êu diệt chúng ta xong, họ sẽ chiếm vương quốc của Chúa thượng. Vậy, trong khi thành chưa bị phá vỡ, ta hãy trao công chúa Pabhàvatì cho họ.

Rồi quần thần ngâm kệ này:

34. Như thể bầy voi trận vẻ vang Dàn binh sừng sững, giáp bào mang, Trước khi chúng dẫm tan thành lũy, Xin chúa mau mau gửi cống nàng!

Vua nghe vậy liền phán:

- Ví thử trẫm trao Pabhàvatì cho bất cứ một vua nào, thì đám vua kia sẽ giao chiến với trẫm. Vậy không thể n ào gả nàng cho bất cứ một ai cả. Sau khi bỏ rơi vị chúa tể tối cao của toàn cõi Diêm-phù- đề, n àng phải lãnh lấy phần thưởng do việc nàng trở về nhà. Trẫm sẽ giết nàng và phân thây làm bảy mảnh để tặng cho bảy vị vua n ày mỗi người một phần.

Nói xong vua ngâm kệ khác:

35. Chặt Pa-bhà bảy khúc cho cân, Ấy chính lời nguyền của trẫm ban Cho bảy vua kia, người một mảnh, Những người đến giết phụ vương n àng!

Lời nói này của vua được truyền vang khắp cung điện. Các tỳ nữ của Pabh àvatì đến bảo n àng:

- Người ta đồn rằng Chúa thượng sẽ truyền chặt công chúa ra bảy mảnh rồi gửi cho bảy vị vua ấy?

Nàng kinh hồn bạt vía, vùng đứng l ên từ chỗ ngồi, rồi được các cô em gái hộ tống đến cung thất của mẫu hậu.

*

Bậc Đạo Sư ngâm kệ để giải thích vấn đề:

36. Diễm lệ, dù da nhuốm sắc đen, B à hoàng vụt cất bước chân lên Trước đo àn thị nữ theo hầu cận Mình khoác lụa tơ, tiếng khóc rền.

*

Nàng bước vào yết kiến mẫu hậu, đảnh lễ b à xong liền cất lời than vãn:

37. Mặt phấn điểm trang, n ày soi gương sáng Khéo gắn khung ngà, quyến rũ, giờ đây Bao nét trắng trong biểu lộ thơ ngây Sắp bị các vua quăng nằm rừng vắng. 38. L àn tóc đen huyền cuộn tr òn duyên dáng Thật dịu mềm, ngào ngạt tỏa chiên- đ àn, Kền kền tìm, dù che kín rừng hoang Dùng móng vuốt xé tan, tung theo gió. 39. Đôi tay, đầu ngón sơn m àu đồng đỏ, Tẩm trầm hương sực nức mịn lông măng, Chặt vứt rừng hoang bởi chúa ki êu c ăng, Lo ài sói chụp tha về hang dấu kín. 40. Đầu vú tr òn như chà là muồi chín, Ngàt đ àn hương người đốn ở K à-si, Sơn cẩu đến gần, chắc sẽ kéo đi, Như đứa trẻ ôm gh ì bầu sữa mẹ. 41. Đôi mông đầy, dáng căng tr òn, mạnh khỏe, Quấn quanh vòng đai rực rỡ v àng ròng, Chặt vứt rừng hoang bởi chúa kiêu hùng, Loài sói chụp tha về nơi muốn dấu. 42. Mãnh thú s ăn mồi: s ài lang, sơn cẩu, Hễ một khi chúng ăn thịt Pa-bh à, Không thể nào còn phải chịu chết già. 43. Nếu các võ vương đến tử viễn xứ, Chặt tấm thân n ày của nàng thục nữ , Xin lấy xương con, đốt với lửa nồng, Ở một nơi n ào xa lánh bụi hồng. 44. Rồi mẹ lập một vườn hoa gần đó, Mẹ trồng khóm Ka-ni-k à-ra nhỏ, Khi đông t àn, cây ấy sẽ đơm hoa, V à mẹ ôi, khi mẹ nhớ con thơ, Mẹ hãy chỉ vào hoa mà kể lể: "Ái nữ Pa-bhà ngày xưa là thế..."

Như vậy, nàng quá kinh hoàng vì sợ chết nên cứ than khóc nỉ non với mẹ nàng. Còn vua Madda ra lệnh cho đao phủ đến, đem theo cái r ìu và tấm thớt. Việc đao phủ sắp đến được đồn vang động khắp ho àng cung, mẫu hậu nghe tin lão đến, liền v ùng dậy khỏi chiếc bảo tọa của bà, và đi v ào yết kiến vua, lòng tràn ngập đau buồn.

*

Bậc Đạo Sư ngâm kệ l àm sáng tỏ vấn đề:

45. Khi nhìn tấm thớt với gươm trần Đ ã đặt trong v òng tử tội nhân, Mẫu hậu như Thiên thần đứng dậy, Vội đi t ìm gặp đấng vương quân.

*

Rồi mẫu hậu ngâm kệ sau:

46. Với gươm này, chúa tể Mạch- đa Sẽ giết n àng công chúa nõn nà, Rồi gửi tấm thân nàng, mỗi mảnh Mỗi vua cừu địch để l àm quà.

Vua cố trấn an bà và phán:

- Này ái hậu nói gì thế này? Công chúa của ái hậu đ ã từ bỏ vị Đại đế của to àn cõi Diêm-phù- đề chỉ v ì duyên cớ vua ấy xấu xí, và cam phận chịu chết nên vội trở về nhà trước khi dấu chân nàng được xóa sạch tr ên con đường n àng đ ã đi qua. Vậy th ì nay nàng phải gặt hái lấy hậu quả của lòng ganh tị do sắc đẹp của n àng gây ra đó thôi.

Sau khi nghe vua nói, mẫu hậu đến gặp con gái v à than thở như vầy:

47. Con chẳng nghe lời nói của ta Đ ã khuyên con phận đẹp duy ên ưa, Nay thân con phải vương màu máu, Con sẽ chìm vào cõi Dạ-ma. 48. Số phận kia ta phải gánh mang Hoặc chung cùng gặp lắm bi thương, Vì làm ngơ trước lời khuyên tốt, Bỏ các lời r ăn của bạn v àng. 49. Ví thử hôm nay con sánh vai Cùng hoàng tử dũng cảm anh tài, Đại vương trang điểm to àn vàng ngọc, Sinh trưởng Ku-sa xứ sở ngài, Thì hẳn bạn bè không hộ tống Con đ ành mau bước xuống tuyền đ ài. 50. Khi trống đánh, vương tượng thét vang, Trong cung đ ình, giữa chốn trần gian, Còn nơi nào nữa ta tìm thấy Hạnh phúc cao hơn được hởi n àng? 51. Khi bầy ngựa hí, các ca nhân Rền rĩ điệu buồn với chúa công, Lạc thú như vầy trong bảo điện C òn gì đâu để sánh ngang bằng? 52. Khi tiếng sơn ca h òa tiếng công Cò kêu, hạc sếu gọi lừng vang, Như vầy cực lạc sao tìm được Nơi khác hay chăng, mẹ hỏi n àng?

Sau khi trò chuyện với nàng như vậy qua các vần kệ này, mẫu hậu suy nghĩ: "Giá bây giờ có vua Kusa ở đây, th ì ngài sẽ đuổi bảy vua kia cao chạy xa bay v à sau khi giải thoát con gái ta khỏi chịu khổ hình, lại sẽ đem n àng đi về nước". Rồi b à ngâm kệ:

53. Nay ở đâu người dẫm nát tan Nước th ù và chiến thắng cừu nhân? Ku-sa cao thượng đầy mưu trí Sẽ cứu nh à ta khỏi đoạn trường!

Lúc ấy Pabhàvatì suy nghĩ: "Mẫu hậu không đủ lời lẽ để tán dương vua Kusa. Ta sẽ cho mẹ ta biết ng ài đang ở đây l àm hết mọi việc của một kẻ đầu bếp", v à nàng ngâm kệ này:

54. Bậc chiến thắng tiêu diệt kẻ thù, Kìa trông! Ngài đ ã đến bây giờ! Ku-sa cao thượng đầy mưu trí Sẽ giết cừu nhân cứu liễu bồ!

Mẫu hậu liền suy nghĩ: "Chắc con ta quá kinh hoàng vì sợ chết nên nói lảm nhảm đây’’, rồi b à ngâm kệ:

55. Phải ch ăng con đ ã hóa đi ên rồ, Như kẻ si cuồng nói vẩn vơ? Ví thử Ku-sa đ à trở lại, Thì sao con chẳng nói cùng ta?

Nghe nói lời này, Pabhàvatì suy nghĩ: "Mẹ ta không tin lời ta. Bà chẳng biết là ngài đ ã trở về và đang sống tại đây từ bảy tháng nay. Ta muốn chỉ cho mẹ thấy việc n ày". Thế là nàng vừa dắt tay mẹ vừa mở cửa sổ, dang tay chỉ về phía ngài và ngâm kệ:

56. Mẹ trông! Kẻ nấu bếp đằng kia Đai quấn ngang lưng thật chỉnh tề, Đang cúi rửa nồi ni êu, bát dĩa, Nơi bầy công chúa ngự phòng khuê.

Chuyện kể rằng lúc bấy giờ vua Kusa nghĩ thầm: "Hôm nay tâm nguyện của ta sẽ thành tựu. Thực vậy Pabhàvatì đang kinh ho àng vì sợ chết, nên sẽ báo tin ta đang ở đây. Vậy ta phải rửa bát dĩa v à đem cất hết". Rồi ng ài đi lấy nước về v à bắt đầu rửa bát. Lúc ấy mẹ n àng mắng nhiếc nàng qua vần kệ:

57. Con hạ tiện dòng dõi phải ch ăng? Đường đường l à một vị công nương Hạ mình yêu lấy tên nô lệ Điếm nhục Mạch-đa tận tủy xương!

Còn Pabhàvatì suy nghĩ: "Chắc mẹ ta không biết rằng chỉ vì ta mà ngài đ ã sống khổ như thể này bấy lâu nay". Và nàng ngâm kệ nữa:

58. Hạ tiện, con đâu phải giống d òng! Con thề chẳng điếm nhục ho àng tông, May thay, ngài chẳng là nô lệ, Ngài kế vị Ok-ka Đại vương.

Bấy giờ nàng nói tiếp để tán tụng uy danh ng ài:

59. Hai vạn Sa-môn vẫn cúng dường, Chính là Thái tử Ok-kà vương, Con thề, ngài chẳng là nô lệ, Người mẹ thấy đang đứng dưới tường. 60. Ng ài thắng cân đai hai vạn voi, Con thề, ng ài chẳng phải nô tài, Ngài là vương tử Ok-kà đế, Người mẹ thấy đang đứng đó rồi! 61. Ng ài thắng cương hai vạn ngựa nòi, Con thề, ngài chẳng phải tôi đ òi, Ok-kà vương tử là ngài đó, Người mẹ thấy đang đứng giữa trời! 62. Ng ài vẫn cầm cương hai vạn xe, Ngài không nô lệ, đấy con thề, Ng ài là vương tử Ok-kà đế, Người mẹ thấy đang đứng dưới kia. 63. Ho àng ngưu hai vạn, vẫn cầm cương, Ngài chẳng là nô lệ, tiện dân, Mà chính Ok-kà-ka Thái tử, Là người mẹ thấy đứng b ên đường. 64. Ng ài lấy sữa tươi hai vạn bò, Con thề, ngài chẳng phải gia nô, Mà là Thái tử Ok-kà đế, Người mẹ thấy đang đứng dưới nh à.

Như thế là cảnh huy hoàng của bậc Đại Sĩ đ ã được n àng tán dương qua sáu vần kệ. Lúc ấy mẫu hậu suy nghĩ: "Con ta nói một cách chắc chắn đầy tin tưởng. Hẳn l à đúng vậy", n ên bà tin lời nàng và đem kể cho vua nghe đầu đuôi câu chuyện. Vua vội v ã đến gặp Pabh àvatì và hỏi:

- Có thật là vua Kusa đ ã đến đây như chuyện chúng đồn chăng?

- Tâu phụ vương, quả đúng vậy. Đ ã bảy tháng nay ngài làm hỏa đầu quân cho các công chúa.

Vua cha không tin lời nàng, liền chất vấn bà già lưng gù và khi nghe bà kể mọi việc trong chuyện này, vua quở trách con gái qua vần kệ này:

65. Như thể voi kia giả ểnh ương, Đến đây Thái tử đại h ùng cường, Con sai lầm quá và khờ dại, Dấu chuyện, song thân chẳng tỏ tường.

Vua đ ã quở trách công chúa như vậy xong, vội vã đi t ìm vua Kusa và sau các lễ nghi chào hỏi thông thường giữa hai vị, vua nhìn nhận sự xúc phạm của mình và ngâm kệ này:

66. Vì trẫm không nhìn thấy được ngay Đại vương giả dạng đến như vầy, To àn gia trẫm trót làm sai phạm, Đ ành phận xin tha thứ lỗi này!

Nghe lời này, bậc Đại Sĩ suy nghĩ: "Nếu ta nói nặng lời với vua cha th ì lòng ngài sẽ đau đớn nát tan ngay. N ên ta muốn nói lời an ủi vỗ về ngài thôi"; rồi vừa đứng giữa đống bát dĩa, ng ài vừa ngâm kệ:

67. Hỏa đầu quân, muốn đóng tr òn vai, Mình chính đ ã làm việc trái sai, Ví thử thân này, ngài chẳng biết, Yên tâm, lỗi ấy chẳng do ngài!

Sau khi vua cha được nghe những lời ân cần như vậy, liền trở về cung triệu Pabh àvatì đến, bảo n àng đi thỉnh cầu vua Kusa thứ lỗi, v à ngài ngâm kệ:

68. Mau lên, cô bé quá khù khờ Cầu khẩn Đại vương thứ tội cho, Mong ước ng ài nguôi cơn thịnh nộ, Vui lòng cứu lấy mạng đ ào tơ!

Nghe lời vua cha dạy như vậy, nàng liền được cả đo àn công chúa và cung nữ hộ tống đi đến gặp ng ài. Đúng ngay lúc ng ài đang đứng trong bộ áo quần nô dịch, thấy n àng tiến về phía mình, ngài nghĩ thầm: "Hôm nay ta quyết đánh tan l òng kiêu mạn của Pabhàvatì và khiến nàng phải nằm mọp dưới chân ta trong đám b ùn". Rồi ngài đổ xuống đất hết cả th ùng nước mà ngài đ ã đem đến đó, dẫm chân l ên một khoảng rộng bằng cái sàn nhà đập lúa, l àm thành một đám b ùn. Nàng vừa bước tới liền trượt té dưới chân ngài, phải nằm phủ phục trong đám b ùn mà xin ngài thứ tội.

*

Bậc Đạo sư ngâm kệ l àm sáng tỏ vấn đề n ày:

69. Pa-bhà trong dáng điệu Thi ên thần Vâng lệnh truyền kia của phụ vương, Đầu cúi xuống, tay ôm chặt lấy Đôi chân của chúa tể h ùng cường.

*

Rồi nàng ngâm các vần kệ sau:

70. Chuỗi ngày đ êm thiếp sống xa ngài, Hoàng thượng, giờ đây đ ã hết rồi, Nhìn thiếp cúi hôn chân Chúa thượng, Xin đừng thịnh nộ nữa, ng ài ôi! 71. Thần thiếp giờ xin hứa với ngài, Nếu ngài hạ cố để v ào tai, Chẳng bao giờ lại vì sao nữa Thiếp dám làm sai phạm đến trời! 72. Song nếu lời xin bị khước từ, Phụ vương liền giết mạng con thơ, Gửi đi từng mảnh thân tan tác Khắp các địch vương để tặng qu à!

Nghe vậy, vua nghĩ thầm: "Nếu ta bảo nàng: Việc này nàng phải tự lo liệu đấy chứ’, chắc tim n àng phải tan nát mất. Thôi ta chỉ muốn nói lời lẽ an ủi nàng". Và ngài ngâm các vần kệ đáp lời:

73. Ta nguyền vâng lệnh của nàng ban, Đem hết tâm can để cứu n àng, Ta chẳng thấy lòng hờn giận nữa, Quang Huy ngọc nữ, chớ kinh hoàng! 74. Này nghe ta nói, hỡi công nương, Ta cũng trao lời hứa thật chơn: Ta sẽ không làm gì xúc phạm Chẳng bao giờ nữa, với nàng thương! 75. Ta phải chịu bao nỗi muộn phiền Vì yêu nàng quá, hỡi người tiên! Ta nguyền giết hết bầy vua chúa, Cùng với nàng, ta lại đẹp duy ên!

Vua Kusa lúc ấy tràn đầy niềm tự h ào của một bậc đế vương khi thấy n àng như thể một thị nữ của Sakka Thiên chủ đang hầu hạ ng ài, ngài nghĩ thầm: "Trong lúc ta còn sống đây, c òn kẻ nào dám đến cướp mất tân giai nhân của ta được chứ?". V à ngài liền vùng dậy giữa sân hoàng cung, bảo:

- Toàn dân kinh thành này hãy nghe lệnh truyền báo hiệu ta ngự đến đây.

Rồi ngài nhảy múa, reo hò, và vỗ tay kêu lớn:

- Nay ta muốn bắt sống chúng, hãy bảo quân hầu đem bầy ngựa đến thắng v ào các cỗ xe của ta.

Rồi ngài ngâm vần kệ sau:

76. Đi mau, thắng tuấn m ã nhu thuần Vào các cỗ xe khéo điểm trang, Rồi h ãy nhìn ta anh dũng tiến Đánh cho tan tác bọn cừu nhân.

Bấy giờ ngài từ giã Pabhàvatì và bảo:

- Việc đi tội các quốc th ù của nàng là trách nhiệm của ta. Còn ái khanh hãy đi tắm rửa, điểm trang rồi l ên cung của mình mà nghỉ.

Phần vua Madda gửi các quan cố vấn đến l àm vệ sĩ danh dự cho ngài.

Quân thị vệ buông màn quanh ngài ngay tại cửa bếp và đem bọn thợ hớt tóc đến chăm sóc ng ài. Khí râu mép của tóc ngài đ ã được tô điểm, v à gội đầu xong xuôi, ng ài được phục sức đầy đủ mọi vẻ lộng lẫy c ùng với đám t ùy tùng vây quanh, ngài bảo:

- Ta muốn bước lên cung điện.

Vừa nhìn quanh tứ phương, ngài vỗ tay, hễ ngài nhìn tới nơi nào là mặt đất nơi ấy rung chuyển, v à ngài thét lớn:

- Này hãy xem uy lực của ta vĩ đại biết dường n ào!

*

Bậc Đạo Sư ngâm kệ l àm sáng tỏ vấn đề n ày:

77. Công nương nội điện chúa Mad-da, Chi êm ngưỡng ngài đang đứng phía xa Chẳng khác m ãnh sư chồm đứng dậy, Đôi tay đấm giữa khoảng bao la.

*

Sau đó vua Madda đưa đến cho ng ài một con voi đ ã được luyện thuần thục có thể giữ vững b ình thản khi bị tấn công, và voi ấy được trang ho àng thật rực rỡ. Vua Kusa ngự lên lưng voi với chiếc lọng trắng che đầu ng ài, và ra lệnh đem Pabh àvatì đến đó, đặt n àng lên ngồi sau lưng ngài xong, ngài rời kính thành bằng Đông môn, được cả đo àn đầy đủ bốn đạo quân hộ tống, v à ngay khi thấy các lực lượng của quân thù, ngài thét lớn:

- Ta là vua Kusa, kẻ nào khôn hồn muốn sống hãy nằm móp xuống sát đất?

Rồi ngài rống lên ba lần tiếng hống sư tử và hoàn toàn đánh bại đám địch quân.

*

Bậc Đạo Sư ngâm kệ giải thích vấn đề n ày:

78. Ngự mình voi, bà hoàng ngồi sau chúa, Vua Ku-sa lâm trận, giọng vang rền, 79. Muôn loài nghe sư tử rống gầm lên, Địch vương thảy b àng hoàng, vùng tán loạn. 80. Vệ sĩ, bộ binh, pháo, xa, mã, tượng Nghe tiếng Ku-sa, rủ liệt hãi hùng, Chúng rã rời và tháo chạy đường c ùng. 81. Đế Thích ngắm chiến trường, l òng hoan hỷ Tặng hoàng đế Ku-sa vi ên ngọc quí Ve-ro-can là mỹ hiệu bảo trân. 82. Chiến thắng rồi, vua nhận lấy ngọc thần, Ngất nghểu ngự mình voi, về thị trấn Của Mạch- đa, các địch vương bắt sống 83. Bị gông xiềng, đem đến trước phụ vương: -- "Xin Chúa công h ãy ngắm các cừu nhân Nay nằm đó, t ùy nghi quyền sinh sát, 84. Chúng chiến bại đầy đắng cay chua chát, Nay Chúa công t àn sát cứ thỏa lòng, Hay thả ra lần nữa hưởng hồng ân".

*

Quốc vương đáp:

85. Các địch vương n ày thuộc về Thiên tử, Nào phải quyền ta; tùy ngài xử sự, Chỉ ngài là Chúa tể của thần dân, Xin giết đi hoặc thả chúng thoát thân

Khi nghe nói vậy, bậc Đại Sĩ nghĩ thầm: "Ta c òn làm gì được với đám người n ày một khi chúng chết cả rồi? Không nên để cho chúng mất công đến đây m à chẳng được kết quả g ì. Pabhàvatì còn có bảy cô em gái đều l à công chúa của vua Madda, ta muốn cho chúng kết duyên với bảy vương tử này". Rồi ngài ngâm kệ:

86. Bảy nàng công chúa tựa tiên nga Tuyệt thế giai nhân đẹp mắt ta, Gả các n àng cho vua bảy nước Để l àm phò mã của vương gia.

Quốc vương đáp:

87. Ngự ngôi tối thượng, trước toàn dân, Quyết định ng ài nay phải vẹn tròn, Xin gả công nương theo thánh ý, Ngài là Chúa tể của quần thần.

Thế rồi quốc vương truyền lệnh trang điểm các công chúa thật đẹp v à cử hành lễ vu qui cho mỗi nàng được kết duy ên với một vua kia.

*

Bậc Đạo Sư ngâm năm vần kệ đề l àm sáng tỏ vấn đề:

88. Ku-sa sư tử hống vang rền Đem Mạch-đa công chúa kết duy ên Cả bảy nàng ban phần bảy vị, Anh hùng sánh với gái thuyền quyên. 89. Hoan hỷ đón bao nỗi ước mơ Từ b àn tay Chúa tể Ku-sa, Bảy vương tử nọ liền hồi giá Trở lại triều vua mỗi nước nhà. 90. Cầm lấy bảo châu tỏa sáng bừng, Xa giá Ku-sa trở lại cung Rước về ngọc nữ Pa-bhà ấy, Hoàng đế Ku-sa, bậc đại h ùng. 91. Cùng ngự vào trong một bảo xa, Sánh đôi vương giả trở về nh à, Chẳng ai sáng chói hơn người khác, Vì cả hai đồng đẹp tuyệt m à! 92. Mẹ hiền ra đón rước ho àng nhi, Từ đó quân vương với ái th ê Hạnh phúc lứa đôi c ùng tận hưởng, Nước nhà hưng thinh, lạc tràn trề.

*

Khi bậc Đạo Sư chấm dứt Pháp thoại n ày, Ngài thuyết giảng các Thánh đế v à nhận diện Tiền thân: - Vào lúc kết thúc các Thánh đế, vị Tỷ-kheo thối thất đ ã chứng Sơ quả Dự Lưu:

- Thời bấy giờ phụ vương và mẫu hậu là song thân trong hoàng gia ngày nay, vương đệ l à Ànanda, bà nhũ mẫu gù lưng là Khujjutarà, nàng Pabhàvatì là thân mẫu của Ràhula, và Đại đế Kusa chính l à Ta.

532. Chuyện hai hiền giả Sona - Nanda (Tiền thân Sona - Nanda)

Nhạc thần, Thiên tử, phải ngài ch ăng?...,

Chuyện này do bậc Đạo Sư kể trong lúc đang trú tại Kỳ Vi ên, về một Tỷ-kheo phụng dưỡng mẹ mình.

Hoàn cảnh đưa đến chuyện n ày cũng tương tự như trong Tiền thân Sàma (số 540, tập VII). Nhưng vào dịp này, bậc Đạo Sư bảo:

- Này các Tỷ-kheo, chớ xúc phạm Tỷ-kheo này. Các bậc hiền trí đời xưa, d ù được thỉnh cầu thống trị to àn cõi (Diêm-phù- đề), cũng đ ã từ chối việc ấy và phụng dưỡng song thân.

Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Một thuở nọ, thành Ba-la-nại được mệnh danh l à Brahmavadhana. Thời ấy, vua Manoja trị vì ở đó, v à một Bà-la-môn kia có thế lực và giàu sang, với tài sản lên đến tám trăm triệu đồng, nhưng không có con thừa kế. B à vợ Bà-la-môn ấy vâng lời chồng đi cầu tự.

Lúc ấy Bồ-tát từ giã Phạm thiên giới và nhập mẫu thai bà; vào ngày sinh, ngài được gọi t ên Sona nam tử. Vào thời ấu nhi đ ã biết chạy một mình, một vị Thiên khác từ giã Phạm thiên giới và cũng nhập mẫu thai bà. Lúc ra đời, vị ấy được gọi l à Nanda nam tử.

Ngay khi hai nam tử đ ã được dạy đủ các Thánh điển Vệ đ à và thông thạo mọi môn học thuật, vị Bà-la-môn nhìn thấy hai con trai mình đầy đủ hảo tướng biết bao, liền bảo vợ:

- Này phu nhân, chúng ta cần sắp đặt việc hôn nhân cho nam tử Sona.

Bà vợ chấp thuận ngay và thông báo việc này cho con trai. Chàng đáp:

- Con sống đời gia đ ình thế này là vừa đủ rồi. Bao lâu cha mẹ c òn sống, con muốn phụng dưỡng cha mẹ; đến khi cha mẹ qua đời, con muốn lui về v ùng Tuyết Sơn và thành người tu khổ hạnh.

Bà mẹ kể chuyện này với vị Bà-la-môn và khi họ nhắc đi nhắc lại nhiều lần nhưng không thuyết phục được con, liền bảo Nanda:

- Này con yêu, con hãy yên bề gia thất.

Chàng đáp:

- Con không muốn lượm những vật mà anh con đ ã vứt bỏ như thể một cục đờm. Con cũng nguyện khi cha mẹ từ trần, con c ùng anh con gia nhập hội chúng khổ hạnh.

Song thân suy nghĩ: "Nếu các con ta, dù còn thanh xuân, đ ã từ bỏ mọi dục lạc thân xác thì chúng ta lại càng phải sống đời khổ hạnh". V à hai vị bảo:

- Này con yêu, sao lại nói chuyện làm người tu khổ hạnh sau khi cha mẹ qua đời? Cả nh à ta đều muốn c ùng phát nguyện xuất gia.

Khi trình vua về mục đích của m ình, họ quyết định phân phát tất cả t ài sản theo cách bố thí, giải phóng các gia nhân nô tỳ và đem tặng những t ài sản xứng đáng thích hợp với đám thân quyến, rồi sau đó cả bốn vị khởi h ành từ kinh thành Brahmavadhana đến lập thảo am trong v ùng Tuyết Sơn ở một khu rừng đầy an lạc, cạnh một hồ nước được phủ năm loại sen, các vị sống đời khổ hạnh.

Hai anh em đồng săn sóc cha mẹ. Từ sáng sớm, hai vị đưa tăm xỉa răng v à nước súc miệng cho song thân. Hai vị lại quét dọn cả am thất, đem nước uống, dâu rừng ngọt ng ào để cha mẹ ăn, nước nóng, nước lạnh để tắm, kết tóc cha mẹ th ành từng búi, xoa dầu thơm vào chân cùng phục dịch mọi việc tương tự.

Thời gian cứ trôi qua như thế, hiền giả Nanda suy nghĩ: "Ta sẽ dâng đầy đủ mọi loại trái cây l àm thức ăn cho cha mẹ". Thế l à bất cứ loại trái cây nào hái được tại chỗ ấy ng ày hôm trước và hôm trước đó nữa vị ấy đều đem dâng cha mẹ sáng sớm hôm sau. Hai vị d ùng trái cây xong liền súc miệng và giữ giới kiêng ăn.

Còn hiền giả Sona đi thật xa để hái trái chín ngọt về dâng cha mẹ. Hai vị liền bảo:

- Này con yêu, chúng ta đ ã ăn từ sáng các thứ em con mang về v à bây giờ chúng ta đang ki êng ăn n ên không cần thứ trái cây này nữa.

Vì thế các thứ trái cây của ngài không được d ùng và phải bỏ phí cả. Ngày hôm sau và sau đó nữa cũng vậy.

Và thế là do chứng đắc Năm Thắng trí, ng ài đ ã du hành thật xa để đem trái cây về, nhưng song thân từ chối phần ấy. Sau đó bậc Đại Sĩ suy nghĩ: "Cha mẹ ta giờ đây rất yếu ớt, v à Nanda lại đem về to àn trái cây chưa chín hoặc mới chín cho cha mẹ ăn. Nếu thế n ày mãi, cha mẹ sẽ không sống lâu. Ta quyết ng ăn cản em ta l àm việc này". Vì vậy ngài bảo em:

- Này Nanda, từ nay về sau, khi em đem trái cây, em phải đợi đến lúc ta về, v à hai chúng ta đều muốn dâng cha mẹ các thức ăn c ùng một lần.

Mặc dù đ ã được bảo vậy, Nanda vẫn muốn l àm công đức ri êng một mình, nên không quan tâm lời anh dặn. Bậc Đại Sĩ suy nghĩ: "Nanda h ành động không đúng khi bất tuân lời ta. Ta muốn đuổi nó đi xa".

Rồi nghĩ rằng tự ngài muốn ch ăm sóc cha mẹ, ng ài bảo:

- Này Nanda, em đ ã bỏ qua lời r ăn dạy v à không lưu tâm đến lời nói của bậc trí. Ta l à huynh trưởng. Cha mẹ thuộc về trách nhiệm của ta. Ta muốn chỉ mình ta s ăn sóc cha mẹ. Em không thể ở đây được nữa. H ãy đi nơi khác.

Rồi ngài búng các ngón tay vào mặt em. Sau khi bị đuổi như vậy, Nanda không thể n ào ở lại trước mặt anh nữa, liền đến từ gi ã cha mẹ và thưa hết mọi việc xảy ra.

Sau đó lui về an thất ri êng, ông chú tâm Thiền định v à ngay hôm ấy, ông phát khởi N ăm Thắng trí v à Tám Thiền chứng. Ông suy nghĩ: "Ta có thể đi t ìm loại cát quý từ chân núi Sineru (Tu-di) về rải khắp thảo am của anh ta và xin anh ta thứ lỗi; và nếu anh ta chưa hồi tâm, ta sẽ đi t ìm nước hồ Anottata về xin anh ta thứ lỗi; và nếu anh ta cũng chưa hồi tâm bằng cách ấy, giả sử vì chư Thiên, anh ta không tha thứ cho ta, thì ta sẽ đem Tứ Thi ên vương và Thiên chủ Sakka ra xin anh ta thứ lỗi; và nếu anh ta cũng chưa hồi tâm, ta sẽ mang vị đại đế Manoja của to àn cõi Diêm-phù- đề, c ùng các vương hầu khác ra xin anh ta thứ lỗi. Làm như vậy, danh tiếng về đức hạnh của anh ta sẽ vang dậy cả khắp Di êm-phù- đề, v à sẽ sáng ngời mọi nơi như đôi vầng nhật nguyệt".

Lúc bấy giờ, nhờ thần lực, ông bay xuống kinh thành Brahmavaddhana đến trước cung môn của vua v à dâng sớ lên tâu vua:

- Có một vị khổ hạnh muốn yết kiến Đại vương.

Vua phán:

- Một vị khổ hạnh muốn gặp ta làm gì chứ? Chắc vị ấy đến khất thực.

Vua truyền bảo đem cơm cho ông, nhưng ông không d ùng chút nào. Rồi vua bảo cho gạo, y phục và các loại củ khoai, môn, nhưng ông cũng không muốn gì cả. Cuối cùng vua gửi một sứ giả đi hỏi tại sao ông đến, ông đáp sứ giả:

- Bần đạo đến để hầu hạ đức vua.

Khi nghe vậy, vua gửi lời nhắn lại:

- Ta thiếu gì nô tỳ, bảo vị ấy hãy làm phận sự của một ẩn sĩ khổ hạnh.

Nghe vầy, ông nói:

- Nhờ thần lực riêng, bần đạo sẽ được quyền thống trị to àn cõi Diêm-phù- đề, v à xin dâng tất cả lên Đại vương của các vị .

Vua nghe vậy liền suy nghĩ: "Quả thật các vị khổ hạnh rất thông thái. Chắc chắn các vị ấy biết được v ài mưu thần".

Sau đó vua triệu ông v ào yết kiến, mời ông ngồi lên bảo tọa, kính lễ và hỏi:

- Thưa Thánh giả, chúng tâu với trẫm rằng ngài sẽ được quyền thống trị to àn cõi Diêm-phủ- đề v à muốn ban quyền ấy cho trẫm phải ch ăng?

- Tâu Đại vương, quả vậy.

- Làm thế nào Thánh giả đạt được việc ấy?

- Tâu Đại vương, không cần đổ một giọt máu của ai cả, dầu l à một giọt vừa đủ cho con ruồi tý hon hút được, cũng không cần ti êu phí kho báu của Đại vương, chỉ cần nhờ thần lực của ri êng mình, bần đạo sẽ chiếm quyền thống trị v à dâng hết lên Đại vương. Chỉ cần ngay lập tức không chút tr ì hoãn, Đại vương phải khởi h ành ngay hôm nay.

Vua tin lời ấy và khởi hành ngay với một đạo quân hộ tống. Nếu đạo quân gặp trời nóng, hiền giả Nanda d ùng lực thần tạo bóng cây khiến cho trời mát. Nếu trời mưa, ông không để cho mưa rơi xuống đạo quân. Ông ngăn cản luồng gió oi nồng. Ông phá bỏ gai góc tr ên đường đi c ùng các thứ hiểm nguy khác. Ông làm cho con đường bằng phẳng như v òng tròn dùng trong pháp môn thiền Kasina, rồi trải một tấm da, ông ngồi kiết-già trên không và cứ thế tiến dần phía trước đạo quân.

Theo cách này, trước tiên ông cùng đạo quân tr ên đến vương quốc Kosala, đóng trại gần kinh th ành, gửi sớ lên vua Kosala hoặc bảo tham chiến hoặc đầu h àng trước uy lực của ông. Vua nổi trận lôi đ ình, quát:

- Thế thì trẫm không phải là quốc vương hay sao? Trẫm sẽ chinh phạt các ngươi .

Vua dẫn đầu bốn đạo quân v à hai phe lâm trận. Hiền giả Nanda trải tấm da hươu ra ngồi giữa hai đạo quân, d ùng tấm da bắt hết mọi mũi tên do hai phe chiến đấu bắn ra, n ên không có một ai trong quân đội n ào bị thương vì trúng tên cả. Đến khi tất cả số t ên của họ đều d ùng hết, hai đạo quân đứng ngẩn ngơ không c òn biết nương tựa vào đâu nữa.

Rồi Hiền giả Nanda đến yết kiến vua Kosala v à trấn an vua:

- Tâu Đại vương, xin đừng lo âu tuyệt vọng, không có nguy cơ n ào đe dọa Đại vương cả. Vương quốc vẫn thuộc về Đại vương. Chỉ cần Đại vương thần phục vua Manoja thôi.

Vua tin lời hiền giả nói và thỏa thuận điều ấy. Sau đó dẫn vua ấy đến yết kiến vua Manoja, hiền giả Nanda thưa:

- Tâu Đại vương, quốc vương Kosala xin thần phục Đại vương. H ãy để y ên quốc độ ấy như cũ.

Vua Manoja sẵn sàng chấp thuận và nhận sự quy phục ấy. Vua cùng hai đạo quân tiến đến quốc độ Anga v à chiếm Anga, sau đó chiếm Magadha trong quốc độ có t ên ấy và nhờ các phương cách này, vua trở thành bá chủ của mọi quốc vương toàn cõi Diêm-phù- đề, rồi được chư hầu hộ tống đi thẳng đến th ành Brahmavaddhana.

Bấy giờ, vua chiếm được mọi quốc độ từ các vua n ày trong bảy n ăm, bảy tháng, bảy ng ày. Từ mỗi kinh thành, vua truyền đem đủ thức ăn loại cứng, loại mềm v à mời một tr ăm lẻ một quốc vương nâng chén rượu khải ho àn suốt bảy ngày đại lễ hội.

Hiền giả Nanda suy nghĩ: "Ta không muốn xuất hiện trước mặt vua cho đến khi ng ài đ ã hưởng mọi lạc thú của vương quyền thống trị trong bảy ngày".

Rồi khi đi khất thực trong xứ Bắc Kuru, Hiền giả an trú suốt bảy ng ày ở Tuyết Sơn, ngay cửa vào Kim Động.

Phần hoàng đế Manoja, v ào ngày thứ bảy, sau khi ngắm cảnh đại vinh quang quyền lực của m ình, tự nghĩ: "Cảnh huy hoàng này không phải do cha mẹ ta hay người khác trao tặng. Nó xuất phát từ ẩn sĩ Nanda và rõ ràng đ ã bảy ngày trôi qua từ khi ta thấy ngài. Không biết nay vị hiền hữu đ ã ban ta cảnh huy hoàng này đang ở đâu tr ên đời n ày?". Và vua nhớ đến hiền giả Nanda.

Còn Hiền giả Nanda khi biết vua đang nhớ m ình, liền xuất hiện trước vua trên không. Vua suy nghĩ: "Ta không biết vị khổ hạnh này là người phàm hay thần thánh. Nếu là người phàm, ta sẽ dâng ngài quyền thống trị khắp cõi Diêm-phù- đề. C òn nếu ngài là thần thánh, ta sẽ bày tỏ lòng tôn kính xứng đáng với ng ài.

Và để thử vị ấy, vua ngâm vần kệ đầu:

1. Nhạc thần, Thiên tử, phải ngài ch ăng, Hay ngẫu nhi ên ta gặp Ngọc hoàng, Hoặc một người thần thông quảng đại, Ngự bao th ành trị thật vinh quang. Nay ta ao ước ngài cho biết Quý tánh phương danh thật rõ ràng.

Nghe lời vua, Hiền giả Nanda ngâm vần kệ thứ hai nêu rõ thân thế mình:

2. Ta chẳng Thiên nhân, hoặc Nhạc thần, Cũng không Thiên chủ hoặc quân vương. Ta là người đủ thần thông lực, Sự thật nay ta đ ã tỏ tường .

Vua nghe vậy, nghĩ thầm: "Ngài bảo ngài là một người; như vậy ngài đ ã làm nhiều công đức cho ta lắm. Ta sẽ tỏ b ày sự tôn kính tối cao với ngài để ng ài đẹp ý". V à vua đáp lời:

3. Công đức ng ài ban bố chúng tôi Làm sao nói hết được n ên lời, Giữa dòng mưa lũ tuôn ồ ạt, Chẳng có trên đầu một giọt rơi. 4. Bóng mát ng ài làm cho chúng ta Khi luồng gió đốt cháy bay qua; Khỏi l àn tên ác, ngài bao phủ Giữa biết bao cừu địch quốc gia. 5. Thật nhiều quốc độ lạc an tr àn Ngài bảo tôn ta Đại đế vương, Hơn cả một trăm vị l ãnh chúa Trở thành tuân phục lệnh ta ban. 6. Những gì ngài chọn giữa kho tàng Hoan hỷ ta trao nhượng sẵn sàng: Xe thắng đ àn voi hay tuấn mã, Cung tần xiêm áo đẹp trang ho àng, Vương cung mỹ lệ nào ngài thích Đều sẽ trở th ành của Đại nhân. 7. Nếu muốn ngự cung Ma-kiệt-đ à, Hoặc là quốc độ xứ An-ga A-van-ti, trẫm vui lòng nhượng, Hoặc đến trị dân As-sa-ka. 8. Dẫu ng ài muốn một nửa giang sơn, Trẫm nhượng với tâm hỷ lạc tràn, Chỉ nói một lời điều ước muốn, Tức th ì vật ấy của hiền nhơn.

Nghe vậy, Hiền giả Nanda ngâm vần kệ giải thích ước nguyện của mình:

9. Vương quốc ta nào có ước ao, Kinh thành, lãnh dịa chẳng mong cầu, Cũng không tìm kiếm nhiều tài sản Từ chính bàn tay Đại đế đâu.

Vị ấy nói tiếp:

- Nhưng nếu Đại vương có l òng ưu ái ta, xin hãy làm theo lời thỉnh cầu của ta về việc duy nhất này:

10-11. Dưới quyền ngài, ngụ lão song thân Hưởng cảnh am tranh ở núi rừng, Ta chẳng được l àm gì phước đức Với song thân ấy l ão hiền nhân. Nếu ngài nói hộ điều ta muốn, Hiền giả So-na hết hận sân.

Vua liền bảo vị ấy:

12. Hoan hỷ, ta xin sẽ vẹn tròn Lệnh ngài, hỡi vị Bà-la-môn, Song ai là kẻ ta cần chọn Để tiến h ành ngay lệnh Đại nhơn?

Hiền giả Nanda đáp:

13. Hơn tr ăm phú hộ, B à-la-môn, Võ tướng oai quyền, danh vọng vang, Đại đế Ma-no-ja, đủ số L àm ta thỏa nguyện ước hoàn toàn.

Vua lại bảo:

14. Thắng ngay tượng, mã vào vương xa, Từ trụ, càng xe, vẫy ngọn cờ Theo gió, ta đi t ìm ẩn sĩ Trú nơi xa vắng, Ko-si-ya.

*

15. Hộ giá theo hầu, bốn đạo binh, Đại vương tiến bước để đăng tr ình Đi t ìm chốn thảo am tươi đẹp Ẩn sĩ trú an với hạnh l ành.

Các vần kệ này xuất phát từ Trí tuệ Tối thắng.

*

Bấy giờ vào ngày ấy, vua đến v ùng thảo am, Hiền giả Sona suy nghĩ: "Lúc này đ ã hơn bảy n ăm, bảy tháng, bảy ng ày từ lúc tiểu đệ ta ra đi khỏi nh à. Bây giờ em ta đang ở đâu?"

Rồi dùng thiên nhãn, ngài nhìn thấy em, liền tự bảo: "Em ta đang đến đây với một trăm lẻ một vị vua v à một đo àn hộ tống gồm hai mươi bốn đạo quân để xin ta thứ lỗi. Các vua n ày cùng đo àn tùy tùng đ ã chứng kiến nhiều thần thông do em ta biến hóa, và vì không biết gì về thần lực của ta, nên họ bảo: "Vị ẩn sĩ giả mạo này quá tự cao về thần lực của mình và tự sánh mình với vị chúa tể của chúng ta". Do lời kiêu mạn này, họ sẽ đọa v ào địa ngục. Vậy ta sẽ cho họ xem một điển h ình về phép thần thông của ta".

Rồi đặt đ òn gánh giữa không khí, chẳng chạm vào vai ngài một khoảng chừng bốn phân, cứ thế ngài du hành giữa khoảng bao la, bay ngang gần vua, để đi lấy nước từ hồ Anotatta.

Nhưng khi Hiền giả Nanda thấy ngài đến, lại không có can đảm lộ diện, m à lập tức biến mất ngay nơi vị ấy đang ngồi, v à tẩu thoát đi ẩn m ình trong vùng Tuyết Sơn. Tuy thế, khi vua Manoja thấy Hiền giả Sona đến gần trong dáng điệu uy nghi của bậc tu h ành, liền ngâm kệ này hỏi:

16. Ai đi t ìm nước giữa không gian, Với bước chân kia thật nhịp nhàng, Đ òn gánh cách xa chừng một tấc Chẳng hề đụng chạm tới m ình vàng? Khi nghe nói vậy, bậc Đại Sĩ liền đáp hai vần kệ: 17. So-na đạo sĩ chẳng bao giờ Đi lạc ra ngo ài luật ẩn cư, Phụng dưỡng song thân ta sớm tối, Ngày đ êm không mỏi mệt ưu tư. 18. Khoai sắn, chùm dâu, ấy thức ăn Trong rừng ta kiếm để đem dâng, Đời đời ghi nhớ ơn hai vị Xưa đ ã cho ta hưởng phước phần.

Nghe lời này, vua muốn bầu bạn với ngài, liền ngâm vần kệ khác:

19. Ta mong đến tận chốn am tranh Đạo sĩ Ko-si-ya ẩn m ình, Hiền giả So-na xin chỉ lối Đưa ta đến tịnh thất an l ành .

Lúc ấy bậc Đại Sĩ d ùng thần lực vạch ra một con đường m òn đưa đến thảo am v à ngâm vần kệ này:

20. Đây lối Đại vương h ãy nhờ rành: Đằng xa khóm lá. đậm m àu xanh Giữa lùm mun mọc như rừng nhỏ, Nơi ấy thảo am sẽ hiện hình.

*

21. Như vậy bậc Hiền trí đại h ùng, Chỉ đường cho các vị vương quân, Xong ng ài vội vã về am thất, Lần nữa du hành giữa cõi không. 22. Kế đó quét xong chốn thảo am, Đi t ìm nơi ẩn dật nghiêm đường, Ng ài vừa thức lão hiền nhân dậy, Vừa tặng dâng cha một tọa sàng. 23. Ngài nói: "Thánh nhân hãy đến ngay, Con xin cha tọa lạc nơi n ày, Các vua quý tộc danh lừng lẫy Sắp ngự giá qua giữa lối này. 24. Như vậy sao khi vị lão niên Nghe con đ òi hiện diện cầu xin, Vội vàng chân bước từ am thất An tọa ở bên cạnh cửa tiền.

Các vần kệ này phát xuất từ Trí tuệ Tối Thắng.

*

Phần Hiền giả Nanda đi yết kiến vua ngay khi Bồ-tát vừa đến am thất, vừa đem nước về từ hồ Anotatta, rồi Hiền giả Nanda cắm trại không xa am thất ấy.

Sau đó vua tắm rửa v à phục sức vô cùng lộng lẫy, liền được một trăm lẻ một tiểu vương hộ tống, vị Đại vương c ùng Hiền giả Nanda bước vào am thất trong cảnh huy hoàng trọng thể và cầu khẩn Bồ-tát tha thứ cho hiền đệ của ng ài.

Lúc ấy phụ thân của Bồ-tát thấy vị Đại vương ngự đến gần, liền hỏi Bồ-tát v à ngài giải thích vấn đề với cha.

*

Bậc Đạo Sư ngâm kệ l àm sáng tỏ việc này:

25. Thấy vua đứng đó đại vinh quang Được hộ tống quanh bởi tiểu vương, Bậc l ão hiền nhân liền cất tiếng Hỏi th ăm con trẻ chuyện tr ên đường: 26. "Ai đến đây trong tiếng rộn r àng Tù và, trống lớn nhỏ lừng vang, Âm thanh làm các vua hoan hỷ, Ai đến đây ca khúc khải ho àn? 27. Ai đây đang đến thật huy ho àng, Kh ăn quấn đầu cao dệt sợi v àng, Như chớp sáng ngời, cung tiễn đủ, Anh h ùng trẻ tuổi thật can tràng? 28. Ai đây đang đến thật vinh quang, Nét mặt vui tươi tỏa ánh v àng Như đám lửa t àn, cành phượng vĩ Sáng ngời đang cháy ở l ò than? 29. Ai đến đây c ùng chiếc lọng cao Được giương l ên thật khéo làm sao, Lọng che với gọng sườn tô điểm Xua ánh nắng gay gắt chói v ào? 30. Ai kia xòe quạt để ph òng thân, Quạt kết lông đuôi trâu chúa rừng, Như một vị hiền nhân trí giả Cỡi lưng voi nọ dáng oai phong? 31. Ai đang đến rực rỡ, huy ho àng, Các lọng giương cao trắng vẹn toàn, Tuấn mã giáp bào dòng quý tộc Vây quanh phải trái thật hiên ngang? 32. Ai kia đang đến tận nơi đây, Được cả hơn trăm l ãnh chúa này Hộ tống một đo àn vua quý tộc, Sau lưng và trước mặt như vầy? 33. Các vương xa với một đ àn voi Đám bộ binh c ùng với đám ngựa n òi, Ai đến với oai nghi chiến dấu, Bốn đo àn quân bố trận kia rồi? 34. Ai đến c ùng tất cả đạo quân Theo sau hộ giá rộng m ênh mông Không hề gián đoạn, d ài vô tận, Như sóng đại dương vỗ chập ch ùng? 35. "Ma-no đại đế, với Nan-da, Ngự giá đến đây viếng, hỡi cha, Như thể In-dra Thiên chủ ấy Đến đây thăm chốn ẩn am ta. 36. Hộ tống ng ài đang đến cả đo àn Sẵn sàng tuân lệnh, thật hùng cường, Không hề gián đoạn, d ài vô tận, Như sóng chập chùng giữa đại dương".

Đạo Sư lại ngâm:

37. Lụa tối cao sang, khoác cẩm bào, Dầu trầm hương ngát điểm tô v ào, Các vua này đến gần hai vị Thánh giả, dáng cung kính khẩn cầu.

Sau đó vua Manoja kính lễ xong, ngồi xuống một b ên, vừa trao đổi những lời ch ào hỏi ân cần, vừa ngâm đôi vần kệ:

38. Trẫm vẫn tin rằng các Thánh nhân Sống đời thịnh vượng lẫn an khang, Kiếm nhiều mễ cốc c ùng rau trái Phong phú khắp nơi chốn trú an. 39. Hẳn các ngài không bị bọ rầy, Loài bò sát quấy nhiễu lâu nay, Các ngài tránh được bao phiền lụy Do thú săn mồi ở chốn đây?

Các vần kệ sau đây do hai b ên đối đáp nhau:

Ẩn sĩ:

40. Xin cám ơn ngài, hỡi Đại vương, Chúng ta luôn thịnh vượng, an khương, Kiếm nhiều mễ cốc c ùng rau quả Phong phú khắp nơi chốn náu nương. 41. Bần đạo cũng không bị bọ rầy, Lo ài bò sát quấy nhiễu lâu nay, Chúng ta tránh được bao phiền lụy Do thú săn mồi đến chốn đây. 42. Các loại cây cao vẫn mọc đầy Cho người ẩn sĩ sống như vầy, Cũng không bệnh tật gây tai hại Từng thấy xảy ra ở chốn n ày. 43. Bần đạo xin ngh ênh tiếp Đại vương, Dịp may n ào chỉ lối đưa đường, Trông ng ài hùng hậu, vinh quang quá, Sứ mệnh gì mang, hãy tỏ tường? 44. Tin-dook, pi-yal, các lá cây, Ka-su-ma chín ngọt ngào thay Như đường mật, kính dâng ng ài ngự Thứ tuyệt hảo nhà có sẵn đây. 45. V à nước mát này ở động sâu Ẩn m ình trong một ngọn đồi cao, Đại vương, xin kính dâng b ình nước Ngài ngự cho lòng thỏa khát khao.

Đại vương:

46. Trẫm đây c ùng tất cả vị vua Xin nhận quà ngài tặng chúng ta, Song hãy lắng nghe lời sắp nói Của hiền hữu, Trí giả Nan-da. 47. Chúng ta tất cả bước theo hầu Hiền giả Nan-da đến khẩn cầu Ng ài chiếu cố nghe người khốn khổ Van xin quy lụy đáp ơn sâu.

Nghe nói vậy, hiền giả Nanda đứng dậy từ chỗ ngồi, vừa định lễ cha mẹ v à huynh trưởng, vừa ngâm kệ đ àm đạo với đo àn tùy tùng của mình:

48. Xin cả toàn dân, lẻ một tr ăm, Những người danh vọng B à-la-môn, Các vua Sát-ly dòng cao quý Sáng chói với tên tuổi lẫy lừng, Cùng với Ma-no-ja Đại đế, Thảy đều công nhận việc cầu ân. 49. Dạ-xoa Thần ở thảo am này, Các vị đang quy tụ ở đây, L ão, ấu các sơn thần, thổ địa, Lắng nghe ta nói chuyện như vầy. 50. Tiểu nhi xin kính lễ song thân, Kế đến xin thưa bậc Thánh nhân, Tiểu đệ l à em đây thuở trước Ng ài xem có mặt tựa tay chân. 51. Làm sao phụng dưỡng lão song thân Ấy chính em cầu nguyện đặc ân, Xin Thánh nhân thôi đừng cản trở Cho em l àm Thánh sự riêng phần. 52. Ân cần phụng dưỡng cả song thân Trước đ ã được l àm bởi Thánh nhân, Người thiện tán đồng bao thiện sự, Sao phi ên tiểu đệ chẳng nhường phần? Do vầy em đạt nhiều công đức, Đạo lộ l ên thiên giới sẵn sàng. 53. Nhiều người khác biết rõ nơi đây Đạo lộ d ành cho phận sự này, Ấy chính con đường l ên thượng giới, Xin Hiền nhân nhận thức như vầy. 54. Song bậc Thánh nhân đ ã cản ng ăn Em l àm thiện sự thế này ch ăng? Khi em mong muốn nhờ công đức Đem lại song thân trọn lạc an .

Khi được Nanda nói như vầy, bậc Đại Sĩ bảo:

- Các vị đ ã nghe những lời Nanda phải nói ra; giờ đây h ãy nghe ta.

Và ngài ngâm các vần kệ sau:

55. Các vị theo hầu tiểu đệ ta H ãy nghe ta nói lượt bây giờ: Kẻ nào đối xử đầy khinh bỉ Nhũng bậc tiền nhân của mẹ cha, Phạm tội ác c ùng chư trưởng lão, Tái sinh địa ngục đốt ti êu ma. 56. Song kẻ tinh thông đạo Thánh nhân, Con dường chân lý hiểu tinh tường, Giữ g ìn giới luật và công hạnh, Quyết sẽ chẳng sa cảnh khổ buồn. 57. Anh em cùng các bậc thân sinh, Tất cả do dây kết hợp thành, Nhiệm vụ suốt đời luôn đặt nặng Tr ên vai của vị trưởng hiền huynh. 58. Làm trưởng huynh, thiên chức nặng sao Hân hoan ta gánh vác đi đầu Như thuyền trưởng hộ ph òng thuyền nọ, Chân lý ta không hề lãng xao.

Khi nghe lời này, tất cả các vua đều vô c ùng hoan hỷ và nói:

- Hôm nay chúng ta đều biết được rằng to àn thể gia đ ình là trách nhiệm đặt l ên người huynh trưởng.

Rồi các vị rời bỏ Hiền giả Nanda và vừa chú tâm hướng về bậc Đại Sĩ, vừa ngâm hai vần kệ tán dương ng ài:

59. Tri kiến tìm ra tựa lửa bừng Sáng ngời chiếu rọi giữa đ êm trường, Cũng như Thánh giả Ko-si ấy Hiển lộ cho ta lý chánh chân. 60. Như nhật thần kia chiếu ánh quang Sáng ngời khắp mặt biển mênh mang Phố bày hình thể bao sinh vật, Dù chúng xấu xa hoặc thiện lương, Cũng vậy Ko-si-ya Thánh giả Hiển bày chân lý với quân vương.

Như vậy là mặc dù từ lâu các vua chúa đ ã tin tưởng vào Hiền giả Nanda vì chứng kiến các kỳ tích thần thông của vị ấy, tuy thế bậc Đại Sĩ nhờ uy lực tri kiến đ ã phá hủy lòng tin của họ, khiến họ phải chấp nhận lời ngài và do vậy tất cả đều trở th ành những người hầu cận tuân phục ngài nhất ở đời.

Lúc ấy Hiền giả Nanda suy nghĩ: " Đại huynh ta l à một bậc trí giả tinh thông am tường kinh điển. Ng ài đ ã chinh phục các vị vua này và đưa họ về phía ng ài. Ngoài ngài ra, ta không có nơi nương tựa nào khác. Ta chỉ còn biết khẩn cầu ngài thôi".

Thế rồi ông ngâm vần kệ này:

61. Huynh chẳng lưu tâm dáng khẩn cầu, Cũng không dang rộng cánh tay đâu, Em mong l àm kẻ hèn nô lệ Đợi lệnh huynh ban, vội đến chầu.

Dĩ nhiên bậc Đại Sĩ không cảm thấy hờn giận hay oán th ù đối với Nanda, nhưng ng ài đ ã hành động như một cách khiển trách em để hạ bớt l òng kiêu mạn của vị ấy khi phát biểu tự cao thái quá như vậy. Nhưng bây giờ khi nghe những lời em nói ra, ngài vô cùng hoan hỷ và muốn ban ân huệ cho em, ngài bảo:

- Nay ta tha thứ hiền đệ rồi v à sẽ cho phép hiền đệ chăm sóc cha mẹ.

Và ngài ngâm kệ nêu rõ đức tính của hiền đệ:

62. Em thông Chính pháp, hỡi Nan-da, Nhu các Thánh nhân đ ã dạy mà: Duy nhất quý cao là thiện sự, Em làm đẹp ý thỏa l òng ta. 63. Mẹ cha xứng đáng được tôn thờ, Em h ãy nghe điều ta nói ra: Nhiệm vụ phần em lo gánh vác M à không cảm thấy nặng bao giờ. 64. Mẹ cha ta bảo dưỡng lâu nay Cũng để cầu mong hạnh phúc vầy, Đến lượt Nan-da nay đ ã tới Cầu xin khúm núm phụng thờ đây. 65. Vị n ào trong nhị Thánh nhân hiền Mong muốn Nan-da phụng dưỡng riêng, Xin nói một lời, và tiểu đệ Phải theo hầu vị ấy ưu ti ên .

Lúc ấy mẹ ngài từ chỗ ngồi đứng dậy v à bảo:

- Sona thân yêu, em con đ ã vắng nhà lâu nay. Bây giờ rốt cuộc nó đ ã trở về, ta không đích thân hỏi thăm nó v ì chúng ta đều nương tựa v ào con cả. Song nếu con cho phép, bây giờ ta xin được ôm lấy nam tử thánh thiện n ày trong tay và hôn lên trán nó.

Rồi bà ngâm kệ này nêu rõ ý của bà:

66. So-na, cha mẹ dựa con đây, Nếu được con cho phép việc n ày, Mẹ sẽ ôm vào lòng của mẹ Nan-da thánh thiện quý cao vầy.

Sau đó bậc Đại Sĩ nói với mẹ:

- Này mẹ yêu quý, con cho phép mẹ rồi, mẹ hãy đi ôm lấy Nanda, con trai mẹ rồi ngửi tóc v à hôn đầu nó để xoa dịu nỗi sầu trong l òng mẹ.

Thế là bà đi đến Hiền giả Nanda v à ôm choàng lấy con trước toàn thể hội chúng và ngửi tóc, hôn đầu con, l àm tiêu tan mọi nỗi khổ trong lòng bà, và ngâm kệ nói chuyện với bậc Đại Sĩ:

67. Giống như cây yếu ớt bồ- đề Rung động v ì cơn gió nặng bề, Cũng vậy, tim ta vui rộn rã Thấy Nan-da đ ã được quay về. 68 . Dường như ta thấy lại Nan-da Cũng chẳng khác n ào một giấc mơ, Hóa dại, vui mừng ta hét lớn: "Nan-da nay trở lại cùng ta!" 69. Song nếu khi tàn giấc ngủ mê, Thấy Nan-da ấy đ ã ra đi, Tâm ta sẽ chịu bao gi ày xéo Do nỗi buồn đau quá n ão nề. 70. Trở lại hôm nay với mẹ cha, Nan-da rốt cuộc đ ã về nhà, Thân yêu với mẹ cha đồng đẳng, Nó tạo ngôi nh à với chúng ta. 71. Dù nghiêm đường quý mến Nan-da, H ãy để em con ở tự do, Con phục vụ nhu cầu l ão phụ, Nan-da cần trọn nghĩa cùng ta.

Bậc Đại Sĩ chấp thuận lời mẹ v à nói:

- Con mong được như vậy.

Và ngài khuyến giáo em:

- Này Nanda, em đ ã lãnh phận sự của người anh cả, quả thật mẫu thân chính là đại ân nhân của ta. Em h ãy thận trọng ch ăm nom mẹ.

Ngài lại ngâm hai vần kệ tán thán công đức của mẹ hiền:

72. Là nơi nương tựa thật ân cần, Mẹ đ ã nuôi ta với sữa nguồn, Mẹ chính là đường l ên thượng giới, Mẹ thương hiền đệ nhất tr ên trần. 73. Mẹ đ ã ch ăm lo bảo dưỡng ta, Mẹ nhiều ân huệ phát ban ra, Mẹ l à đường dẫn l ên thiên giới, Và mẹ yêu hiền đệ nhất nh à .

Như vậy bậc Đại Sĩ đ ã nêu lên công đức của mẹ qua hai vần kệ, v à khi mẹ ngài đ ã về chỗ ngồi một lần nữa, ngài bảo:

- Này Nanda, em có một bà mẹ đ ã chịu đựng nhiều gian lao khó vượt qua. Cả hai ta đ ã được mẹ nuôi nấng rất nhọc nhằn. N ày em hãy thận trọng ch ăm sóc mẹ v à không được đưa thứ dâu chua cho mẹ ăn nữa.

Và để l àm sáng tỏ cho hội chúng thấy rõ những công việc cực kỳ gian khổ được d ành cho số phận bà mẹ, ngài ngâm kệ:

74. Cầu nguyện khát khao một đứa con, Mẹ quỳ trước mỗi một đền thần, Bốn m ùa thay đổi thường quan sát, Khảo cứu thi ên v ăn thật tận tường. 75. Ho ài thai theo với khoảng thời gian, Mẹ thấy lòng mong đợi dịu d àng, Thoáng chốc hài nhi vô ý thức Bắt đầu quen biết một thân bằng. 76. Suốt khoảng thai kỳ ngót một năm, Mẹ chăm chút kỹ một kho t àng, Rồi sau sinh hạ con yêu quý, Ngày ấy vui lòng tiếng "mẹ" mang. 77. Với bầu sữa, mẹ hát ru con, Xoa dịu hài nhi khóc nỉ non, Ấp ủ trong vòng tay ấm áp, Nỗi đau của trẻ được xua tan. 78. Trông nom trẻ tội nghiệp thơ ngây, Sợ nắng gió l àm hại trẻ đây, Được gọi vú nuôi, thôi cũng được, Nâng niu con trẻ cứ như vầy. 79. T ài vật nào cha mẹ có đây, Mẹ d ành cho trẻ để sau n ày, Bà suy: "Cũng có ngày con hỡi, Gia sản may ra đến tận tay". 80. "H ãy làm này nọ, bé yêu ơi", Bà mẹ lo âu gọi thế hoài, Khi trẻ thành người trai lực lưỡng, Mẹ còn kêu khóc, thở than dài. Nó liều lĩnh dám đi t ìm gặp Vợ láng giềng nhân lúc tối trời. Mẹ giận dữ la rầy cáu kỉnh: "Sao không trở lại lúc ban mai?" 81. Nếu được nuôi đầy khổ nhọc vầy, M à người xao lãng mẹ hiền này, Chơi trò gian dối, thì ta hỏi, Còn đợi g ì ngoài ngục đọa đ ày? 82. Nếu được nuôi đầy khổ nhọc vầy, M à người xao lãng phụ thân này, Chơi trò gian dối, thì ta hỏi, Còn đợi g ì ngoài ngục đọa đ ày? 83. Kẻ nào tài sản quá mê say, Tài sản mất đi cũng có ng ày, Còn kẻ thờ ơ xao lãng mẹ, Hối hận vì tai hại đắng cay. 84. Kẻ n ào tài sản quá mê say, Tài sản mất đi cũng có ng ày, Còn kẻ thờ ơ thân phụ nó, Hối hận vì tai hại đắng cay. 85. An vui nh àn nhã, với cười đ ùa, Giải trí, là tài sản tại gia Của kẻ ch ăm lo đầy tận tụy Mẫu thân khi tuổi tác gi à nua. 86. An vui nhàn nhã, với cười đ ùa, Giải trí, là tài sản tại gia Của kẻ ch ăm lo đầy tận tụy Phụ thân khi tuổi tác gi à nua. 87. Quà tặng cùng lời nói dễ thương, Ân cần phục vụ cạnh song đường, Nhiệt t ình tâm trí luôn bình đẳng B ày tỏ đúng thời, đúng chốn luôn. 88. Những đức tính n ày đối thế nhân, Giống như mấu trục bánh xe lăn, Nếu không có chúng, th ì tên mẹ Sẽ phải cầu xin với các con. 89. Từ mẫu cũng như nghiêm phụ ta Phải đều được kính trọng tôn thờ, Hiền nhân tán thán người n ào có Những đức tính n ày tỏ lộ ra. 90. Song thân như vậy đáng tuy ên dương, Giữ địa vị cao cả khác thường, Được gọi "Phạm thi ên" do cổ đức, Uy danh hai vị lớn khôn lường. 91. Song thân hiền phải được tôn vinh Xứng đáng từ con cái của m ình, Người dưỡng mẹ cha theo chánh hạnh Là người có trí tuệ thông minh. 92. Đem dâng thức uống với đồ ăn S àng tọa và y phục xứng phần, Phải tắm mẹ cha, dầu tẩm ướt, Rửa cho sạch sẽ cả đôi chân. 93. Bậc trí tán dương các việc tr ên, Làm con phụng sự mẹ cha hiền, Hân hoan tràn ngập trên trần thế, Thân hoại, an vui hưởng cõi thiên.

Như vậy bậc Đại Sĩ chấm dứt Pháp thoại khác n ào làm cho núi Sineru (Tu-di) rung chuyển. Nghe ngài nói, tất cả các quốc vương cùng đo àn tùy tùng đến trở th ành những kẻ mộ đạo. V ì vậy sau đó an trú hội chúng v ào Ngũ giới và khuyến giáo họ tính cần bố thí cùng các đức tính tương tự, ng ài bảo họ ra về.

Sau khi cai trị quốc độ một cách chân chánh, v ào cuối đời tất cả các vua ấy đều đi l ên cộng trú với chư Thiên.

Hai Hiền giả Sona và Nanda suốt đời sống phụng sự cha mẹ v à về sau được sinh Phạm thi ên giới.

*

Đến đây bậc Đạo Sư chấm dứt Pháp thoại, Ng ài tuyên thuyết các Thánh Đế v à nhận diện Tiền thân.

Lúc kết thúc các Thánh Đế, vị Tỷ-kheo phụng dưỡng mẹ được an trú v ào Sơ quả Dự lưu:

- Thời ấy, song thân là phụ mẫu trong hoàng gia, Hiền giả Nanda là Ànanda, vua Manoja là Sàriputta, một tr ăm lẻ một vị vua l à tám mươi đại Trưởng l ão và một số vị khác, hai mươi bốn đạo quân l à đệ tử đức Phật, c òn Hiền giả Sona chính là Ta.

↑