Chuyện tiểu Thiên nga (Tiền thân Cullahamsa)#
Chương XXI Phẩm Tám Mươi Bài Kệ
533. Chuyện tiểu Thiên nga (Tiền thân Cullahamsa)
Bầy chim không để ý g ì ta...,
Đây l à chuyện do bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại Trúc Lâm về cách Tôn giả Ànanda đ ã hy sinh tính mạng.
Khi những người thiện xạ được mua chuộc để sát hại đức Như Lai v à người đầu ti ên được Devadatta (Đề-b à- đạt-da) phái đi l àm việc này đ ã trở về, y nói:
- Bạch Tôn giả, con không thể đoạt mạng sống của đức Thế Tôn, v ì Ngài có đủ đại thần thông lực.
Devadatta đáp:
- Thôi được, ông không cần phải sát hại Sa-môn Gotama. Ta sẽ đích thân đoạt mạng sống của vị ấy.
Thế rồi trong khi đức Như Lai đang đi dạo dưới bóng mát ng ã về tây của núi Gijjhakùta (Linh Thứu), Devadatta trèo lên đỉnh núi v à ném xuống một tảng đá lớn như thể từ chiếc máy lăn đá bắn ra v à tự nhủ: "Với tảng đá n ày, ta sẽ giết Sa-môn Gotama". Song hai đỉnh núi giao nhau chặn lấy tảng đá v à một mảnh vụn v ăng ra đụng v ào chân của đức Thế Tôn l àm chảy máu, và gây đau nhức dữ dội.
Y sĩ Jìvaka lấy dao cắt rộng miệng vết thương ở chân đức Như Lai, để máu độc chảy ra v à cắt bỏ chỗ thịt sưng rồi xoa thuốc vào vết thương cho lành.
Bậc Đạo Sư đi lại như trước, với các vị đại đệ tử hầu cận quanh Ng ài, trong mọi dáng điệu uy nghi của một vị Phật. V ì thế, khi thấy Ngài, Devadatta nghĩ thầm: "Quả thật không có một kẻ phàm phu nào chiêm ngưỡng dung sắc tối thắng của kim thân Sa-môn Gotama lại dám tời gần vị ấy, ngoại trừ vương tượng Nàlàgiri là một mãnh thú hung dữ chẳng biết gì về các công đức của Phật, Pháp, Tăng. Nó sẽ ti êu diệt Sa-môn này".
Thế là ông liền đi kể chuyện n ày với vua. Vua sẵn sàng đồng ý với đề nghị n ày và triệu người quản tượng vào bảo:
- Này khanh, ngày mai khanh phải làm cho Nàlàgiri say rượu đến độ đi ên cuồng, và lúc tảng sáng thả nó ra đường phố m à Sa-môn Gotama đi qua.
Devadatta hỏi người quản tượng ngày thường con voi này uống bao nhiêu rượu men và khi y đáp: "Tám v ò", ông bảo:
- Ngày mai hãy cho nó uống mười sáu vò rồi thả nó ra về phía con đường Sa-môn Gotama đi qua.
- Được lắm -Người quản tượng đáp.
Vua truyền đánh trống khắp kinh th ành và công bố:
- Ngày mai Nàlàgiri sẽ say rượu mạnh đến đi ên cuồng và được thả lỏng trong kinh th ành. Dân chúng trong thành phải làm mọi việc cần làm vào sáng sớm, và sau đó không ai được liều lĩnh ra đường phố.
Devadatta từ cung vua xuống tận chuồng voi và bảo đám quản tượng:
- Này ta bảo cho các ông biết, chúng ta có thể hạ nhục một người từ địa vị cao sang xuống địa vị thấp h èn và nâng một người từ địa vị thấp h èn lên địa vị cao sang. Nếu các ông muốn danh giá, th ì sáng sớm ngày mai hãy cho Nàlàgiri uống mười sáu vò rượu mạnh, và đúng lúc Sa-môn Gotama đi đến lối ấy, h ãy đâm con voi kia với các gậy nhọn, nó sẽ phá chuồng nổi đi ên, ông hãy đuổi nó ra về phía con đường Sa-môn Gotama thường đi qua v à thế là tiêu diệt vị ấy.
Bọn chúng sẵn sàng làm như vậy. Tiếng đồn vang dậy khắp kinh th ành. Các đệ tử tại gia thân cận Phật, Pháp, Tăng nghe tin ấy liền đến gần bậc Đạo Sư v à thưa:
- Bạch Thế Tôn, Devadatta đ ã âm mưu với vua, ngày mai sẽ cho thả con voi Nàlàgiri ra đường m à Thế Tôn đi qua. Xin Thế Tôn ng ày mai đừng v ào thành khất thực, mà cứ ở lại đây. Chúng con sẽ cúng dường thực phẩm ngay tại tinh xá l ên T ăng chúng với đức Phật đứng đầu.
Đức Phật không nói thẳng: "Ng ày mai Ta sẽ không vào thành khất thực", mà Ngài đáp:
- Ngày mai ta sẽ thị hiện thần thông để nhiếp phục N àlàgiri và đánh bại t à đạo. V à vì không đi khất thực trong th ành Vương Xá, ta sẽ rời thành cùng một số Tỷ-kheo hộ tống đi thẳng đến Veluvana (Trúc Lâm), rồi dân chúng ở Vương Xá sẽ đến đó mang theo nhiều b ình bát thực phẩm và ngày mai họ sẽ cúng dường bữa ăn tại trai đường của tinh xá ấy.
Bằng cách này, bậc Đạo Sư đ ã chấp thuận lời thỉnh cầu của họ.
Khi được tin đức Như Lai đ ã tán đồng nguyện vọng của họ, họ ra đi từ kinh th ành, mang theo nhiều bình bát thực phẩm và bảo nhau:
- Chúng ta sẽ cúng dường lễ vật ngay tại tinh xá ấy.
Còn bậc Đạo Sư thuyết Pháp v ào canh một, giải đáp các vấn đề khó khăn v ào canh giữa và phần đầu canh cuối, Ng ài nằm nghiêng về phía hữu như dáng sư tử, giữa canh cuối Ngài an trú trong Thánh quả, và sau cùng khi Ngài nhập định đại bi v ì nhân loại khổ đau, Ng ài quán sát mọi người quyến thuộc của Ngài đ ã đủ cơ duy ên thuần thục để được giáo hóa, v à nhận thấy rằng do kết quả việc nhiếp phục con voi Nàlàgiri, tám mươi bốn ngàn người sẽ được thông hiểu Pháp.
Rạng ngày hôm sau, khi đ ã phục vụ mọi nhu cầu thân thể, Ngài nói với Tôn giả Ànanda:
- Này Ànanda, hôm nay hãy bảo tất cả Tỷ-kheo trong mười tám tinh xá quanh thành Vương Xá đến hộ tống Ta v ào trong thành ấy.
Tôn giả tuân lệnh và tất cả T ăng chúng tập hợp tại Trúc Lâm.
Bậc Đạo Sư được Tăng chúng đông đảo hộ tống đi v ào Vương Xá và bọn quản tượng tiến hành công việc theo lệnh truyền, còn quần chúng tụ họp thành nhiều đám. Những người mộ đạo nghĩ thầm: "Hôm nay sẽ có cuộc đại chiến giữa đức Phật l à vương tượng với con voi của thế giới phàm tục này. Chúng ta sẽ chứng kiến đức Phật đánh bại N àlàgiri nhờ thần lực vô song của Ngài", và họ trèo lên đứng tr ên các lầu thượng và mái nhà cùng nóc nhà.
Còn các đám t à đạo không tin tưởng lại suy nghĩ: "N àlàgiri là một con dã thú hung hãn, không biết gì về công đức của chư Phật. Hôm nay nó sẽ dẫm nát h ình thể vinh quang của Sa-môn Gotama và khiến vị ấy phải chết. Hôm nay ta sẽ trừ khử địch thủ của ta rồi".
Họ cũng đứng tr ên các thượng lầu và các chỗ cao khác.
Còn con voi, khi nhìn thấy đức Thế Tôn đến gần, đ ã làm mọi người kinh hoàng bằng cách phá sập nhà cửa, giương vòi ra nghiền nát xe cộ, tai vểnh, đuôi dựng ngược h ùng hổ chạy như một ngọn núi sừng sững lao về phía đức Thế Tôn.
Khi thấy nó, T ăng chúng thưa với đức Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Nàlàgiri là một dã thú hung hãn, là tên sát nhân, đang tiến đến đường n ày. Thật ra nó chẳng biết gì đến công đức của chư Phật. Xin đức Thế Tôn, bậc Thiện Thệ h ãy lùi bước.
- Này các Tỷ-hheo, đừng sợ, Ta có đủ uy lực nhiếp phục N àlàgiri.
Sau đó Tôn giả S àriputta thỉnh cầu đức Phật:
- Bạch Thế Tôn, khi nào có việc gì phải phụng sự phụ thân, thì đó l à trách nhiệm đặt l ên vai con trưởng. Con xin nguyện nhiếp phục con vật này.
Bậc Đạo Sư lại bảo:
- Này Sàriputta, uy lực của đức Phật l à một việc, còn uy lực của các đệ tử l à một việc khác.
Ngài từ chối lời đề nghị của Tôn giả v à bảo:
- Ông phải ở lại đây.
Đây cũng l à lời thỉnh cầu của tám mươi vị Trưởng lão nhưng Ngài từ chối tất cả. Lúc ấy Tôn giả Ànanda vì lòng ái kính bậc Đạo Sư nồng nhiệt n ên không thể chấp nhận việc này và kêu lớn:
- Hãy để con voi n ày giết con trước tiên.
Rồi Tôn giả đứng ngay trước bậc Đạo Sư, sẵn s àng hy sinh tính mạng vì đức Như Lai. V ì thế bậc Đạo Sư bảo vị ấy:
- Này Ànanda, đi ra ngay, đừng đứng trước mặt Ta.
Vị Trưởng lão đáp:
- Bạch Thế Tôn, con voi này rất hung bạo và man rợ, đó l à một tên sát nhân, giống như ngọn lửa ở đầu cái v òng. Xin để nó giết con trước rồi sau đó mới đến gần đức Thế Tôn.
Và mặc dù đ ã được bảo đến lần thứ ba, vị Trưởng l ão này vẫn đứng y ên tại chỗ và không đi lui. Lúc ấy đức Thế Tôn d ùng thần lực đẩy vị ấy ra sau v à đưa Tôn giả v ào giữa T ăng chúng. Ngay lúc n ày một phụ nữ chợt trông thấy Nàlàgiri, quá kinh hoảng vì sợ chết, liền chạy làm rơi đứa con m à bà đang bế b ên hông xuống giữa khoảng đức Như Lai v à con voi rồi vội thoát thân.
Con voi đuổi theo b à, chợt đến gần đứa bé đang khóc lớn. Bậc Đạo Sư gây xúc động với l òng từ bi được trải rộng rất đặc biệt, vừa cất giọng dịu ngọt như tiếng của Phạm thi ên vừa gọi con voi Nàlàgiri:
- Này Nàlàgiri, những kẻ đ ã làm voi đi ên cuồng với mười sáu vò rượu mạnh không để cho voi tấn công kẻ n ào khác, mà chúng làm vậy vì nghĩ rằng voi sẽ tấn công Ta. Đừng nhọc công chạy quanh không mục đích, m à hãy đến đây.
Khi nghe giọng nói của bậc Đạo Sư, con voi mở mắt v à nhìn dáng uy nghi của đức Thế Tôn, liền xúc động m ãnh liệt và nhờ thần lực của đức Phật, công hiệu độc hại của rượu mạnh tan biến mất.
Vừa hạ vòi và vẫy tai, nó vừa đi đến quỳ xuống dưới chân đức Như Lai. Lúc ấy bậc Đạo Sư bảo nó:
- Này Nàlàgiri, ngươi là một con voi hung dữ ta là vương tượng đ ã thành Phật. Từ nay ngươi đừng hung dữ v à man rợ nữa, đừng sát nhân, m à hãy tu tập tâm từ.
Nói vậy xong, Ngài đưa tay phải ra vỗ về trán voi v à thuyết Pháp qua các vần kệ này:
Nếu voi dám đánh Chúa voi n ày, Voi sẽ khóc than kiếp đọa đ ày, Đánh Chúa voi n ày, ngươi phải chịu Đọa v ào khổ cảnh kiếp sau hoài. Từ bỏ buông lung với dại cuồng, Kẻ ngu không đạt đến thi ên đường, Nếu mong thi ên lạc trong đời kế Voi phải lo l àm việc thiện lương.
Toàn thân con voi được thấm nhuần niềm hoan hỷ, v à giá như nó chẳng phải là loài vật bốn chân, thì nó đ ã đắc Sơ quả Dự Lưu. Dân chúng chi êm ngưỡng phép thần thông này, liền reo hò vang dậy và búng ngón tay dòn dã.
Trong niềm hân hoan, họ tung lên đủ mọi trang sức phủ khắp m ình voi. Từ đó N àlàgiri được mệnh danh l à Dhanapàlaka (Tài Hộ: giữ kho báu).
Bấy giờ vào dịp gặp gỡ voi Tài Hộ này, tám vạn bốn ngàn chúng sinh được uống vị ngọt của Pháp Bất tử. V à bậc Đạo Sư đ ã an trú voi Tài Hộ vào Ngũ giời. Nó vừa dùng vòi hất bụi bặm từ chân đức Thế Tôn rải l ên đầu nó, vừa cúi m ình đi lui, rồi đứng đảnh lễ đấng Thập lực cho đến khi Ng ài khuất dạng, sau đó nó quay về chuồng voi.
Từ đó về sau, nó ho àn toàn thuần thục và không hại ai cả. Bấy giờ ý nguyện của bậc Đạo Sư đ ã thành tựu, nên Ngài quyết định rằng kho báu ấy vẫn l à tài sản của những người đ ã ném nó lên con voi, Ngài suy nghĩ: "Hôm nay Ta đ ã thực hiện một đại thần thông. Nếu Ta đi khất thực trong k ình thành này thì không thích hợp".
Thế là sau khi đánh bại đám t à đạo, Ng ài được các Tỷ-kheo hộ tống đi ra kinh th ành như một vị tướng lãnh chiến thắng và tiến thẳng về phía Trúc Lâm. Dân chúng đem theo một số cơm nước v à thức ăn loại cứng đi v ào tinh xá rồi cử hành đại lễ cúng dường.
Chiều hôm ấy, trong lúc ngồi đông đủ tại Chánh Pháp đường, Tăng chúng bắt đầu thảo luận, bảo nhau:
- Tôn giả Ànanda đ ã thành tựu một việc hy hữu khi sẵn sàng hy sinh tính mạng để cứu đức Như Lai. Vừa trông thấy N àlàgiri, mặc dù đ ã bị bậc Đạo Sư bảo ba lần không được ở lại đó, Tôn giả vẫn không chịu đi ra. N ày các Hiền giả, quả thật Trưởng lão ấy đ ã làm một việc hy hữu.
Bậc Đạo Sư suy nghĩ: "Câu chuyện n ày xoay quanh vấn đề đức hạnh của Ànanda, Ta phải hiện diện ở đó mới được".
Ngài liền bước ra khỏi Hương phòng vừa đến hỏi hội chúng:
- Này các Tỷ-kheo, các ông đang b àn vấn đề g ì trong lúc ngồi tại đây?
Và khi T ăng chúng đáp: Về vấn đề như vầy như vầy. . .,
Ngài bảo:
- Không phải chỉ bây giờ, mà ngày xưa nữa, ngay khi còn ở hình hài súc sinh, Ànanda cũng đ ã hy sinh tính mạng vì Ta.
Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày xưa, trong quốc độ Mahimsaka ở kinh th ành Sakula, có vị vua mệnh danh Sakula cai trị vương quốc theo Chánh pháp. Thời ấy, không xa kinh thành, có một người bẫy chim ở trong ngôi làng của dân bẫy chim, kiếm sống bằng nghề đánh bẫy chim v à đem ra phố bán. Gần kinh th ành là một hồ sen tên là Mànusiya, chu vi mười hai dặm, phủ đầy năm loại hoa sen. Một đ àn chim đủ loại thường đến đó v à người thợ kia tha hồ đặt bẫy. Bấy giờ chúa lo ài Thiên nga là Dhatarattha có đám t ùy tùng gồm chín mươi sáu ngàn Thiên nga an trú trong Kim Động tr ên núi Cittakùta và vị đại tướng của đ àn là Sumukha (Sư-mục-kha).
Một ngày kia, một đ àn Thiên nga màu vàng óng ả bay đến hồ Manusiya v à sau khi gặm chồi sen thỏa thích trong vùng đất phong phú thực phẩm n ày, chúng bay về ngọn núi Cittakùta mỹ lệ kia và trình báo với chúa chim Dhatarattha:
- Tâu Đại vương, có hồ sen t ên là Mànusiya, một vùng đất thực phẩm phong phú nằm giữa nơi cư trú của lo ài người. Chúng thần muốn đến nơi đó ăn uống.
Chúa chim đáp:
- Những nơi cứ trú của loài người đầy nguy hiểm. Đừng để chuyện n ày lôi cuốn các bạn.
Sau đó mặc d ù không ưng thuận đi, ng ài vẫn bị chúng nài nỉ mãi, liền bảo:
- Nếu các bạn thích chuyện ấy thì chúng ta sẽ đi.
Rồi cùng với đám hầu cận, ng ài bay đến đó. Vừa đáp xuống từ tr ên không, ngài đ ã đặt chân v ào dây thòng lọng ngay đúng lúc ng ài chạm mặt đất. Thế l à dây ấy siết chân ngài như thể cái kẹp sắt và giữ chân ngài thật chặt.
Lúc ấy ngài nghĩ cách phá cái bẫy liền giật mạnh nó, trước tiên da chân rách ra, kế đó thịt bị xé ra v à cuối cùng dây gân đứt, đến khi cái bẫy chạm tới xương, máu tuôn xối xả gây đau nhức dữ dội . Ng ài suy nghĩ: "Nếu ta thốt tiếng kêu bị bắt, đồng loại ta sẽ hốt hoảng v à nếu không được ăn g ì chúng sẽ nhịn đói bay về v à do kiệt sức, chúng sẽ rơi xuống nước".
Vì vậy ngài chịu đau cho đến khi đám thân thuộc đ ã ăn uống no n ê và vui đ ùa theo kiểu thiên nga, ngài cất tiếng kêu của con chim bị nạn. Nghe vậy, cả bầy Thiên nga kinh hoảng sợ chết liền bay về phía núi Cittakùta.
Ngay khi chúng đ ã khuất dạng, Sumukha đại tướng loại Thi ên nga, suy nghĩ: "Có thể đây l à một việc khủng khiếp đ ã xảy ra với Đại vương chăng? Ta muốn t ìm xem sao".
Rồi bay hết tốc lực mà vẫn không nhìn thấy bậc Đại Sĩ trong phần của đo àn quân Thiên nga đang bay về, chim ấy đi t ìm ngài ở đo àn chim lớn, và cũng không thấy ngài đâu cả nó tự bảo: "Chắc chắn có việc g ì ghê gớm xảy ra rồi". Khi quay lại nó liền thấy bậc Đại Sĩ bị mắc bẫy, thân đầy máu đang chịu đau đớn vô c ùng và đang nằm tr ên đám b ùn. Chim ấy hạ cánh xuống đậu tr ên mặt đất, vừa cố sức an ủi bậc Đại Sĩ, vừa nói:
- Xin Đại vương chớ sợ, thần sẽ giải cứu Đại vương khỏi cái bẫy d ù phải hy sinh tính mạng mình.
Lúc ấy, muốn thử lòng chim bạn, bậc Đại Sĩ ngâm vần kệ đầu:
1. Bầy chim không để ý g ì ta, Vội vã chúng bay biến thật xa, Chim bị giam tìm đâu bạn hữu? Bay ngay, đừng ở nán đây m à .
Tiếp theo đây l à các vần kệ đối đáp nhau:
Đại tướng:
2. Dù có đi hay ở vời ng ài, Ngày kia thần cũng phải lìa đời, Thần theo ng ài thuở còn vinh hiển, Lúc khổ đau không thể bước rời. 3. Hoặc thần phải chết với quân vương, Hoặc sống đời hiu quạnh đoạn trường, Th à chết ngay đây th ì thật tốt Còn hơn sống để khóc bi thương. 4. Bỏ ng ài không đúng nghĩa quân thần, Khi ở trong t ình cảnh đáng buồn, Thần sẽ rất h ài lòng mãn nguyện Cùng ngài chung số phận phong trần.
Nga vương:
5. Số phận nào cho chim bị giam, Ngoại trừ dây nướng thịt hung tàn, Tự do, trí vẫn còn suy nghĩ, Sao có thể đ ành chịu bỏ thân? 6. Có lợi gì khanh hoặc với ta Từ đây, khanh xét thấy, Thi ên nga, Lợi gì quyến thuộc ta còn sống Nếu cả hai ta phải chết mà? 7. Kim Nga, nghĩa cử của hiền khanh Sẽ bị màn đ êm phủ thật nhanh, Hành động hy sinh n ày biểu lộ Đức g ì nếu đặt dưới b ình minh?
Đại tướng:
8. Ngài không thấy, hỡi Thiên nga vương, Hạnh phúc theo sau việc Chánh chân? Chánh nghĩa được tôn s ùng xứng đáng Dạy cho người thực chất hiền lương. 9. Thấy Chân chánh, tất cả việc l ành Có thể từ Chân chánh phát sinh, Vì đ ã quý yêu ngài thắm thiết, Thần hân hoan phóng xả thân mình. 10. Nếu biết điều Chân chánh, chúng ta Không hề bỏ bạn lúc sa cơ, Cho d ù phải cứu mình đi nữa, Bậc trí khuy ên đây Chánh nghĩa m à.
Nga vương:
11. Chánh nghĩa của khanh đ ã thực hành, Trong khi ta nhận thấy chân tình, Đi ngay, nếu thật khanh mong muốn L àm việc mà ta rất tán thành. 12. Có lẽ các dây thuở đ ã qua Buộc ràng quyến thuộc dưới quyền ta Kịp thời chuyển đến khanh sau đó Với trí, t ài điều khiển vượt xa. 13. Trong khi đôi bạn quý cao n ày Trao đổi tâm tư tuyệt diệu vầy, H ãy ngắm, gã s ăn chim táo bạo Hiện ra trước mắt chúa tôi đây Khác g ì Thần chết đang đi đến Trước kẻ liệt giường khốn khổ thay. 14. Đôi bạn thấy kia một kẻ th ù Nên lòng lo sợ, nặng ưu tư, Lặng yên đậu đó không di chuyển Khi g ã đến gần tự nẻo xa. 15. Thấy bầy ngỗng nọ đ ã bay tung Đây đó, biến dần giữa c õi không, Nơi chốn đôi chim cao thượng đậu, Cừu nhân vội v ã tiến lên gần. 16. Trong lúc gã đang vội bước chân, Đến nơi định mệnh đ ã dành phần, Thợ s ăn rung động v ì tư tưởng, Kêu lớn: "Bầy chim bị bắt không?" 17. Gã thấy một chim trong bẫy gi ăng, Và con chim nọ gã nhìn sang Ch ăm lo chim bạn đang t ù hãm, Còn nó không xiềng xích buộc ràng. 18. Hoang mang trí óc lẫn hoài nghi, Gã ngắm đôi chim cao thượng kia, Khôn lớn cả đôi, c ùng đẹp m ã, Gã liền cất tiếng, giọng từ bi:
Thợ s ăn:
19. Đ ành rằng chim bị bắt trong dây Không thể bao giờ cất cánh bay, Ngươi vẫn tự do và lớn mạnh, Sao ngươi quyết ở với chim này? 20. Với ngươi, chim có họ hàng gì, Khi cả đ àn kia đ ã trốn di, Dầu được tự do, ngươi ở lại, B ên chim bị bắt một mình kia?
Đại tướng:
21. Hỡi cừu nhân của đám Thi ên nga, Ngài chính quân vương, vốn bạn mà, Thân thiết như đời ta chẳng khác, Ồ không, ta chẳng muốn bao giờ Bỏ ng ài trong lúc ngài lâm nạn. Cho đến khi Thần chết gọi ta.
Thợ s ăn:
22. Chim này không phát hiện hay sao Chiếc bẫy người gi ăng kín thế n ào? Phận sự của anh hùng tướng lãnh Là đề ph òng hiểm họa gian lao .
Đại tướng:
23. Khi người sắp gặp bước suy tàn, Giờ Tử thần đang tiến lại gần, D ù bạn đến kề b ên chiếc bẫy, Cũng không thấy bẫy sập dây gi ăng!
Thợ s ăn:
24. Bẫy dù đủ loại, hỡi chim Thần, Đôi lúc đặt ra chỉ uổng công, Đến phút cuối c ùng do định mệnh Con người bị bẫy kín, thương vong.
Như vậy là nhờ đối thoại với g ã bẫy chim mà đại tướng Thi ên nga đ ã xoa dịu lòng gã, và chim ấy ngâm vần kệ xin gã tha mạng cho bậc Đại Sĩ:
25. Có phải đây l à kết quả lành Do lời thân thiện với tôn huynh Xin người tha mạng đôi ta với, Ta được tự do giải thoát nhan h.
Người bẫy chim say mê giọng đối đáp dịu ngọt của Sumukha, liền ngâm kệ:
26. Này chim, ngươi chẳng bị giam mình,
Hãy chạy đi, mau chạy thật nhanh, Ta chẳng muốn thân ngươi đổ máu, B ình an, hãy sống chuỗi ngày xanh.
Tiếp theo sau chim Sumukha ngâm bốn vần kệ:
27. Ta không tha thiết sống riêng ta, Nếu bạn ta đây phải chết m à, Xin hãy vui lòng tha vị ấy, Thịt ta thay thế chúa Thiên nga. 28. Chúng ta về tuổi tác tương đồng, C ùng cỡ rộng dài các cẳng chân, Không mất gì, dù người đổi lấy Mạng ta thay thế mạng quân vương. 29. H ãy xét xem ta với cách này, Thỏa lòng thèm muốn với ta đây, Trước ti ên hãy buộc ta vào bẫy, Rồi để chúa chim giải thoát ngay. 30. Do đó người th ành tựu ước mong, Và ta đạt nguyện vọng trong l òng, Thiên nga, Tôn giả đều h òa hợp Trong lúc đời trôi m ãi chẳng dừng.
Vậy là nhờ nghe giảng Pháp lành, tim người thợ s ăn dịu lại, như thể vải được nhúng dầu v à gã giao bậc Đại Sĩ cho chim ấy, khác n ào giao nô lệ cho chủ nhân, rồi ngâm kệ:
31. Xin làm chứng, các bậc hiền nhân Nô lệ, họ hàng, các bạn thân, Do chính một mình ngươi cứu giúp Chúa chim đượcgiải thoát giam cầm. 32. Ít ai có được một thân bằng Như chính ngươi đang thật sẵn s àng Chia xẻ cùng nhau chung số phận Khi chim chúa gặp bẫy vong thân. 33. Vậy chúa chim này, ta thả ra Bạn ngươi, theo gót cũng bay xa, Mau lên, giữa đám chim thân thuộc Ngươi sẽ như sao chiếu sáng l òa.
Nói vậy xong, người đánh bẫy kia với từ tâm đến gần bậc Đại Sĩ v à cắt các sợi dây ra, ôm ngài trong tay, đưa ng ài ra khỏi nước và đặt ng ài trên đám cỏ xanh tươi b ên bờ hồ, rồi hết sức dịu dàng, gã nhẹ tay nới lỏng chiếc bẫy đ ã trói chân ngài rồi ném nó ra xa.
Sau đó, phát sinh t ình thương mến mãnh liệt đối với bậc Đại Sĩ, với tâm l òng tràn ngập niềm thân ái, gã lấy nước rửa máu ở vết thương của ngài và chùi sạch sẽ. Do n ăng lực của từ tâm ấy, vết thương ở chân Bồ-tát khép lại dần, gân nối liền gân, thịt liền thịt, da liền da. Da non hiện ra v à lông tơ mọc phủ lên đó.
Bồ-tát vẫn giống hệt như trước kia chân không hề bị sa bẫy bao giờ và an toàn theo tư thế bình thường hoan hỷ. Lúc ấy Sumukha chiêm ngưỡng bậc Đại Sĩ hạnh phúc như vậy, tất cả đều do h ành động của m ình, trong niềm vui tràn trề, nó ca tụng người bẫy chim.
*
Bậc Đạo Sư ngâm vần kệ l àm sáng tỏ vấn đề:
34. Hoan hỷ nhìn chim chúa thoát thân Ngỗng làm vinh dự đấng minh quân, V à êm tai kẻ làm ân phước, Bằng những lời hay đẹp nhất trần: 35. "Lạp hộ, c ùng thân quyến cả nhà, Mong chư vị hạnh phúc chan hòa Như ta hạnh phúc khi nhìn thấy Chim chúa Thiên nga được thả ra".
Sau khi tán thán người bẫy chim như vậy, tướng quân Sumukha nói với Bồ-tát:
- Tâu Chúa thượng, người này đ ã cống hiến chúng ta một công đức thật vĩ đại: ví thử y không nghe lời chúng ta, y có thể được đại phú hoặc bằng cách luyện tập chúng ta cho thuần để nuôi l àm trò tiêu khiển và đem dâng các vị Đại vương n ào đó hoặc giết chúng ta để bán l àm thức ăn. Song y đ ã nghe theo lời ta mà hoàn toàn không quan tâm đến kế sinh nhai của y. Vậy ta h ãy đưa y v ào yết kiến quốc vương và làm cho y được hạnh phúc suốt đời.
Bậc Đại Sĩ chấp thuận việc n ày ngay.
Sau khi vừa đ àm luận với bậc Đại Sĩ bằng ngôn ngữ ri êng của loài chim xong, tướng quân Sumukha nói với kẻ bẫy chim bằng tiếng người và hỏi:
- Này hiền hữu, tại sao hiền hữu đặt bẫy?
Để kiếm lợi - G ã đáp.
Sumukha bảo:
- Nếu vậy thì hiền hữu hãy đưa chúng ta v ào thành trình diện với đức vua, ta sẽ thuyết phục đức vua ban phú quý cho hiền hữu.
Và chim ấy ngâm các vần kệ:
36. Nhanh lên, ta sẽ dạy cho người Phương cách tìm ra thật lắm lời, Khi thấy đại danh chim ngỗng chúa, Chẳng mang tỳ vết nhỏ nhất đời. 37. Mau đem ta đến chốn triều đường, Thân thể b ình an được vẹn to àn, Đứng ở mỗi đầu, không trói buộc, Phía tr ên đ òn gánh của người mang. 38. Rồi người hãy nói: "Tấu Minh quân, Thần đến mang theo cặp ngỗng hồng, Một chủ tướng đầu đ àn ngỗng ấy, Còn chim kia chính Thiên nga vương". 39. Chúa tể loài người ấy ngắm xem Thiên nga vương giả, sẽ bừng lên Bao niềm hoan hỷ và sung sướng, Sẽ tặng người vô số bạc tiền.
Khi chim ấy nói xong, người bẫy chim đáp:
- Xin các vị đừng mong muốn yết kiến đức vua nữa. Vua chúa quả thật tâm tính hay thay đổi: họ sẽ bắt giữ các vị để l àm trò tiêu khiển hoặc giết chết các vị đấy.
Sumukha đáp:
- Này hiền hữu, đừng sợ g ì cả. Ta đ ã thuyết Pháp làm dịu lòng một kẻ độc ác như bạn v à đ ã khiến bạn quy phục ta, dù người là một kẻ bẫy chim với bàn tay vấy máu đỏ. C òn các vua chúa thật ra đầy nhân từ v à trí tuệ, là những người có thể phân biệt lời lẽ thiện ác. Vậy hãy mau đưa chúng ta v ào yết kiến đức vua của hiền hữu.
Người bẫy chim nói:
- Thôi được, xin các vị chớ giận tôi . Nếu việc này làm các vị thật sự thích thú, thì tôi sẽ đưa các vị đến yết kiến vua.
Thế rồi gã đưa đôi chim l ên đ òn gánh của gã và đi đến triều đ ình xin bệ kiến vua. Khi được vua hỏi chuyện, người bẫy chim công bố mọi sự kiện của trường hợp n ày.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ l àm sáng tỏ vấn đề:
40. Vội làm khi gã mới nghe xong Việc các chim mong tận cõi lòng, Đem cặp hồng nga v ào bệ kiến, Bình an, thân thể mạnh hoàn toàn, Đậu kia, chẳng có g ì ràng buộc, Trên mỗi đầu đ òn gánh gã mang. 41. Rồi người ấy nói: "Tấu Minh quân Thần đến mang theo cặp ngỗng hồng, Một chủ tướng đầu đ àn ngỗng ấy, Còn chim kia chính Thiên nga vương . 42. "Kìa, những chim này mạnh biết bao, Trở thành mồi bẫy của ngươi sao, Sao ngươi bò tới gần bên chúng Chẳng khiến chúng kinh hãi tẩu đ ào?" 43. "Trong ao hồ, khải tấu Minh quân, Xin hãy ngắm xem bẫy lưới gi ăng, Trong mọi chốn lo ài chim trú ẩn, Bẫy thường được đặt tạo thương vong. 44. Chính trong một bẫy kín như vầy Thần đ ã bắt chim chúa ngỗng này, Chim bạn tự do ngồi kế cận Và mong cầu chúa thoát tù đ ày. 45. Chim này làm phận sự hơn xa Thành tựu phàm nhân đạt đến m à, Cương quyết tập trung toàn nỗ lực Làm cho chim chúa được buông tha. 46. Chim đằng kia muốn chịu hy sinh, Xứng đáng hưởng th êm cuộc sống mình, Ví thử chúa chim này được sống, Chúa chim đ ã được bạn tôn vinh. 47. Nghe những lời chim ấy giải b ày, Tiểu thần liền đạt phước ân ngay, Hân hoan giải phóng chim t ù tội, Ra lệnh đôi chim cất cánh bay. 48. Hoan hỷ nh ìn chim chúa thoát thân, Ngỗng làm vinh dự đấng minh quân, V à êm tai kẻ làm ân phước Bằng những lời hay đẹp nhất trần: 49. "Lạp hộ, c ùng thân quyến họ hàng, Mong chư vị hạnh phúc muôn vàn Như ta hạnh phúc khi nhìn thấy Chúa chim Thiên nga được thoát nạn, 50. Nhanh l ên, ta sẽ dạy cho người Phương cách tìm ra thật lắm lời, Khi thấy đại danh chim ngỗng chúa Chẳng mang tỳ vết nhỏ nhất đời. 51. Mau đem ta đến chốn triều đường, Thân thể b ình an được vẹn to àn, Đứng ở mỗi đầu, không trói buộc, Phía tr ên đ òn gánh của người mang. 52. Rồi người hãy nói: "Tấu Minh quân, Thần đến mang theo cặp ngỗng hồng, Một chủ tướng đầu đ àn ngỗng ấy, Còn chim kia chính Thiên nga vương". 53. Chúa tể loài người ấy ngắm xem Thiên nga vương giả, sẽ bừng lên Bao niềm hoan hỷ và sung sướng, Sẽ tặng người vô số bạc tiền . 54. Do vậy, theo lời chim bảo ban Thần đưa đôi ngỗng đến triều đường, Mặc d ù chúng tự do tìm kiếm Nơi trú bình an ở núi ngàn. 55. Chim kia có số phận như vầy, Dù thật chánh chân đến thế n ày Có thể chuyển lay lòng trắc ẩn Thợ s ăn hung bạo tựa thần đây. 56. Thi ên nga này, khải tấu Minh quân, Tặng vật tiểu thần đến hiến dâng, Giữa những chốn người săn đặt bẫy, Hiếm khi t ìm được vật ngang bằng.
Như vậy, gã đứng đó tán dương những đức hạnh của Sumukha. Sau đó vua Sakula tặng ngỗng chúa một bảo tọa cao sang v à Sumukha một kim đôn quý giá. Khi đôi chim đ ã an tọa, vua mới dùng bắp rang, mật ong, mật mía và các món tương tự đựng trong các chén dĩa bằng v àng. Khi đôi chim đ ã ăn xong, vua chấp hai tay thỉnh cầu bậc Đại Sĩ thuyết Pháp rồi ngồi xuống một kim đôn nữa.
Theo lời thỉnh cầu ấy, chúa Thiên nga đ àm đạo đầy hứng thú với vua.
Bậc Đạo Sư ngâm kệ l àm sáng tỏ mọi việc:
57. Giờ đây nh ìn thấy đấng quân vương An tọa kim đôn sáng rỡ r àng, Chim ngỗng dùng âm thanh dịu ngọt Làm êm tai chúa tể trần gian .
Thiên nga:
58. " Đại vương, ngọc thể có khang an, Vạn sự Đại vương thảy vẹn to àn, Quý quốc hẳn là đang thịnh vượng, Được ng ài cai trị thật công bằng?"
Quân vương:
59. Nga vương, trẫm vẫn được khang an, Vạn sự trẫm đây được vẹn to àn, Bổn quốc hiện giờ rất thịnh vượng, Hưởng nền cai trị thật công bằng.
Thiên nga:
60. Ngài có triều thần thật chánh chân, Biết khuyên nhủ chúa, chẳng sai lầm, Nếu cần, họ sẵn sàng liều chết Vì chánh nghĩa và danh chúa công?
Quân vương:
61. Trẫm có triều thần thật chánh chân, Biết khuyên nhủ trẫm, chẳng sai lầm, Nếu cần, họ sẵn sàng liều chết Vì chánh nghĩa và danh quả nhân.
Thiên nga:
62. Phải ch ăng ho àng hậu cũng chung dòng, Lời lẽ ôn nhu, biết phục tòng, Diễm lệ, nhiều con, danh tiếng tốt, Vâng chiều mọi Thánh ý Minh quân?
Quân vương:
63. Trẫm nay có chánh hậu chung dòng, Lời lẽ ôn nhu biết phục tòng, Diễm lệ, nhiều con, danh tiếng tốt, Vâng chiều mọi ý trẫm cầu mong.
Khi Bồ-tát đ ã chấm dứt những lời chào hỏi thân hữu xong, vua lại đ àm đạo c ùng ngài:
Quân vương:
64. Khi vận rủi kia đưa đẩy ng ài, Đến cừu nhân tối hiểm tr ên đời, Khi ng ài gặp phải tay người ấy, Ngài đ ã chịu bao thống khổ rồi? 65. Gã kia có chạy, gậy trong tay Đánh đập các ng ài, nói trẫm hay? Với những con người gian ác ấy Trẫm thường nghe nói cách như vầy.
Thiên nga:
66. Ta không hề gặp bước gian nan Trong lúc lòng ta vẫn nhớ ơn Kẻ ấy chẳng bao giờ đối xử Với ta như những bọn cừu nhơn. 67. Người bẫy chim run rẫy, ngạc nhiên, Cầu mong hỏi chuyện của đôi chim, V à Sư-mục, tướng quân khôn nhất, Đ ã trả lời ngay kẻ ấy liền. 68. Nghe những lời chim tuớng giải bày Người kia liền đạt phước ân ngay, Hân hoan giải thoát ta từ bẫy, Ra lệnh đôi ta cất cánh bay. 69. Tâu Đại vương, Sư-mục ước mong Đến đây v à yết kiến long nhan, Nghĩ rằng người bẫy chim thân hữu Sẽ kiếm ra vô số bạc vàng .
Quân vương:
70. Cung nghênh các vị, đúng ho àn toàn, Trẫm thật hân hoan gặp bạn vàng, Hiền hữu bẫy chim rồi sẽ nhận Thỏa lòng mọi tặng vật trần gian .
Nói vậy xong, vua nhìn thẳng một vị cận thần và khi vị ấy hỏi:
- Tâu Đại vương, xin cho biết Thánh ý.
Vua đáp:
- Khanh hãy đưa người bẫy chim n ày đi tỉa gọn râu tóc v à sau khi gã được tắm rửa, xoa dầu thơm, h ãy cho gã phục sức xiêm y lộng lẫy và đưa g ã lại đây.
Khi việc này đ ã xong và người bẫy chim được dẫn đến, vua ban ân cho g ã một ngôi làng hằng n ăm sinh lợi một trăm ng àn đồng tiền v à thêm một ngôi nhà đứng ở vị trí giáp hai mặt đường, một cỗ xe lộng lẫy v à cả kho vàng ròng.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ l àm sáng tỏ vấn đề:
71. Quân vương rộng lượng đ ã truyền ban Người bẫy chim vô số bạc vàng, Sau đó hồng nga cất tiếng nói Âm thanh m ê mẩn cả tâm can .
*
Sau đó bậc Đại Sĩ thuyết Pháp cho vua, v à khi nghe ngài giảng giải, vua sinh tâm hoan hỷ, mong muốn bày tỏ dấu hiệu kính trọng đối với vị Pháp sư, vua liền tặng ng ài chiếc lọng trắng, vừa dâng lên ngài cả quốc độ vừa ngâm các vần kệ n ày:
72. Những gì trẫm có, đúng công bằng Những vật trẫm đ òi hỏi chánh chân, Sẽ chuyển qua quyền ngài thọ hưởng, Nếu ngài nêu nguyện ước trong tâm. 73. Dẫu ngài đem bố thí ban ân, Hoặc sử dụng, hay muốn hưởng phần, Trẫm nhượng quyền h ành cùng tất cả, Và giao ngài cả chiếc ngai vàng.
Bậc Đại Sĩ liền trao trả chiếc lọng trắng m à vua đ ã tặng ngài. Rồi vua suy nghĩ: "Ta đ ã nghe Pháp do vị chúa hồng nga thuyết giảng, song vị tướng quân Sumukha này được g ã bẫy chim tán tụng nhiệt liệt là nói n ăng dịu ngọt như mật rót v ào tai, vậy ta cũng muốn nghe chim ấy thuyết Pháp". Thế là vua ngâm vần kệ khác để đ àm đạo với chim ấy:
74. Trí hiền Sư-mục thật tinh thông, Ví thử nói ra tự nguyện lòng Chỉ một hai lời thôi cũng đủ Trẫm đây hạnh phúc bội muôn phần.
Sau đó Sumukha đáp:
75. Xin tâu Chúa thượng, trước Minh quân, Đúng phép, tôi không dám nói năng D ù chỉ một đôi lời nhỏ mọn, Khác n ào vương tử của Long thần. 76. Vì chúa hồng nga hiện diện đây, V à ngài Đại đế tối cao vầy, Có quyền đ òi hỏi đầy chân chánh Niềm kính trọng tôi phải tỏ b ày. 77. Thần tôi hèn mọn, tấu Quân vương, Nên chẳng dám can thiệp luận bàn, Khi nhị Đại vương đang nghị sự Bao điều quan trọng giữa triều đường.
Vua nghe chim ấy nói, lòng đầy hoan hỷ phán bảo:
- Người bẫy chim nhiệt liệt ca tụng tướng quân, chắc chắn không thể có được ai khác như khanh cả, quả thật khanh l à vị thuyết Pháp êm dịu làm sao!
Vua ngâm các vần kệ này:
78. Người bẫy chim ca tụng nhiệt tình Chim này trí tuệ, tuyệt thông minh, Tinh khôn như vậy đâu t ìm thấy Ở kẻ trí chưa được học h ành. 79. Trong đám chim cao quý trẫm xem Chim n ày vô địch giữa đ àn em, Tối cao đức tính chim đầy đủ Đệ nhất hữu t ình vượt hẳn lên. 80. Hình dáng thanh cao, giọng ngọt ngào Khiến lòng mê mẩn biết dường nào, Ước mong của trẫm là hai vị Ở mãi bên mình thỏa ước.
Sau đó bậc Đại Sĩ ngâm kệ ca tụng vua:
81. Ngài đối đ ãi đây với chúng thần Như người đối với đại thân bằng, N ày đây Chúa thượng vừa ban phát H èn mọn đội chim hưởng phước ân. 82. Song đ àn chim quyến thuộc kêu than Xa vắng lâu ngày đ ã bặt t ăm, V à có nhiều chim đầy khổ n ão Vì không còn thấy bóng Nga vương. 83. Vậy để xua tan nỗi khổ n ày, Đại vương, xin thả chúng thần ngay, Cúi xin Chúa thượng nay cho phép Gặp lại thân bằng, cất cánh bay. 84. Hôm nay hạnh ngộ đấng Quân vương, Thần thấy tâm hoan hỷ ngập tr àn, Thần chắc từ nay toàn bạn hữu Chẳng còn duyên cớ để kinh ho àng.
Khi ngài nói vậy xong, vua mới chịu để hai vị gi ã từ. Bậc Đại Sĩ lại thuyết giảng với vua về nỗi khổ đau theo liền Ngũ ác dục v à niềm hạnh phúc đi theo công đức, rồi ng ài khích lệ vua:
- Xin Đại vương giữ giới luật v à trị dân chân chánh cùng thu phục nhân tâm với Tứ Nhiếp pháp (Bốn pháp hòa hợp: Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng sự)
Sau đó ng ài khởi hành về núi Cittakùta.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ l àm sáng tỏ vấn đề:
85. Như vầy với chúa tể loài người, Chim chúa Dha-ta đ ã đáp lời, Sau đó t ìm thân bằng quyến thuộc, Tung đôi cánh mạnh nhất l ên trời. 86. Nhìn chủ tướng chim được vạn an Trở về từ c õi chết nhân gian, Đ àn chim vỗ cánh kêu ầm ĩ Chào đón chúa chim lại họp đ àn. 87. Vây quanh chúa tể chúng tôn sùng, Tin tưởng, giờ đây đám ngỗng hồng Kính cẩn nghi êng mình chào chúa tể Hân hoan vì chúa được an thân.
Trong khi hộ tống chim chúa, bầy Thiên nga hỏi ngài:
- Tâu Chúa thượng, làm thế nào ngài thoát nạn?
Bậc Đại Sĩ thuật cho chúng nghe ng ài được giải thoát nhờ Sumukha giúp đỡ, v à nói về hành động của vua Sakula c ùng người bẫy chim.
Nghe vậy cả bầy Thiên nga hân hoan ca ngợi tất cả các vị:
-Vạn tuế tướng quân Sumukha của đ àn Thiên nga, và Đại vương Sakula c ùng chú bẫy chim. Cầu mong các vị an lạc hạnh phúc lâu dài.
Bậc Đạo Sư ngâm vần kệ cuối c ùng để l àm sáng tỏ vấn đề:
88. Ai có từ tâm ắt đạt th ành Việc gì các vị ấy thi hành, Như Thiên nga trở về bằng hữu Lần nữa đôi chim được trọn l ành .
*
Đến đây bậc Đạo Sư chấm dứt Pháp thoại v à bảo:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ mà cả ngày xưa nữa, Ànanda cũng đ ã hy sinh tính mạng vì Ta.
Và Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy, Channa (Xa-nặc) là người bẫy chim, Sàriputta (Xá-lợi-phất)là nhà vua, Ànanda (A-nan) là Sumukha, các đệ tử đức Phật l à chín mươi ngàn Thiên nga, và Ta chính là chúa Thiên nga.
534. Chuyện đại Thi ên nga (Tiền thân Mahàhamsa)
Kìa đám hồng nga cất cánh bay...,
Chuyện này bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại Trúc Lâm, về việc Trưởng lão Ànanda hy sinh tính mạng.
Phần duyên khởi cũng giống hệt như chuyện đ ã có nhưng vào dịp này, trong lúc bậc Đạo Sư kể chuyện quá khứ, đ ã tường thuật cổ tích sau đây.
*
Ngày xưa ở thành Ba-la-nại, một vị quốc vương mệnh danh Samyama có vị chánh hậu tên là Khemà (Thái Hòa). Thời ấy, Bồ-tát cùng đám t ùy tùng chín mươi ngàn thiên nga trú trên đỉnh núi Cittak ùta.
Một ngày kia vào lúc tảng sáng, hoàng hậu Khemà thấy chiêm bao: một bầy thiên nga màu vàng ánh đến đậu tr ên ngai vua và thuyết Pháp với giọng ngọt ngào. Trong khi hoàng hậu đang lắng tai nghe v à tán thán mà chưa được trọn b ài thuyết giảng, thì bình minh đ ã đến, bầy thi ên nga liền chấm dứt Pháp thoại và bay qua cửa sổ mở rộng Hoàng hậu vội vàng thức dậy kêu to:
- Bắt lấy chúng, bắt lấy bầy thiên nga trước khi chúng thoát thân.
Và trong lúc vừa dang rộng cánh tay, bà tỉnh dậy. Nghe lời bà, đám cung nữ thưa:
- Tâu lệnh bà, bầy thiên nga ở đâu?
Và chúng cười khúc khích.
Lúc ấy, hoàng hậu biết đó chỉ l à giấc mơ, và nghĩ thầm: "Ta không thể thấy một vật không có thật: chắc chắn có loài kim nga trên đời n ày, song nếu ta tâu đức vua: "Thiếp mong muốn nghe lo ài kim nga thuyết Pháp" , ngài sẽ bảo: "Ta chưa từng thấy giống kim nga nào cả, làm gì có chuyện chim kim nga thuyết Pháp". Và ngài sẽ không quan tâm đến vấn đề đó. Song nếu ta tâu: "Thần thiếp có niềm ao ước ấy trong lúc mang thai", ng ài sẽ cho tìm chúng mọi cách và thế là ta được thỏa tâm nguyện".
Vì vậy, vừa giả bệnh, vừa dặn dò các cung nữ xong, bà đi nằm. Khi vua đ ã ngự lên ngai mà không thấy bà đến yết kiến như thường lệ, liền hỏi ho àng hậu Khemà ở đâu v à khi nghe bà bị bệnh, vua đến thăm b à, vừa ngồi một bên giường bà, vừa vuốt lưng và hỏi th ăm bệnh t ình của bà. Bà đáp:
- Tâu Chúa thượng, thần thiếp chẳng bệnh gì cả, song thiếp chợt có những mềm ao ước của một thai phụ.
- Này ái khanh, cứ nói đi, ái khanh muốn g ì, trẫm sẽ tìm được cho ái khanh ngay.
- Tâu Chúa thượng, thiếp ao ước nghe chim kim nga thuyết Pháp trong lúc chim ấy ngự trên ngai vàng, có chiếc lọng che trên đầu, v à thiếp mong dâng lên chim ấy nhiều tràng hoa thơm cùng các lễ vật khác để tỏ l òng cung kính tán thán của thiếp. Nếu thiếp đạt được điều n ày thì quý biết bao, nếu không, thiếp chẳng muốn sống nữa.
Vua liền an ủi bà và bảo:
- Nếu có vật ấy trên thế giới này thì ái khanh sẽ được toại nguyện, chớ lo buồn.
Rồi ra khỏi cung thất của hoàng hậu, vua tham vấn các vị đại thần v à phán:
- Này các khanh, hãy lưu ý: hoàng hậu Khemà bảo: "Nếu thiếp nghe được chim kim nga thuyết Pháp th ì thiếp sẽ sống, nếu không, thiếp sẽ chết". Vậy hãy cho trẫm biết, có loài chim kim nga nào ch ăng?
Triều thần đáp:
- Tâu Chúa thượng, chúng thần chưa từng nghe hoặc thấy loài ấy.
- Thế ai biết được chuyện n ày?
- Tâu Chúa thượng, các Bà-la-môn.
Vua liền triệu tập các Bà-la-môn đến v à hỏi:
- Có chuyện nào như việc loài chim kim nga thuyết Pháp ch ăng?
- Tâu Đại vương, có . Theo truyền thuyết của chúng thần, các loài cá, cua, rùa, nai, công và thiên nga đều có sắc v àng ánh. Trong số ấy, người ta bảo dòng giống Thiên nga Dhatarattha rất tinh khôn thông thái. Cộng thêm loài người nữa là bảy loài sinh vật có màu vàng ròng.
Vua vô cùng hoan hỷ, hỏi:
- Vậy loài hồng nga thông thái này cư ngụ ở đâu?
- Tâu Đại vương, chúng thần không biết.
- Thế thì ai biết chứ?
- Bọn bẫy chim - Họ đáp.
Vua liền tập hợp tất cả dân bẫy chim từ khắp nước về, và hỏi họ:
- Này các hiền hữu, các chim kim nga thuộc dòng giống Dhatarattha cư trú ở đâu?
Một người bẫy chim đáp:
- Tâu Đại vương, theo truyền thuyết từ đời nọ sang đời kia, người ta bảo chúng cư trú trong d ãy Tuyết Sơn, trên đỉnh Cittak ùta.
- Vậy khanh có biết làm cách nào bắt được chúng chăng?
- Tâu Đại vương, thần không biết.
Vua liền triệu tập các Bà-la-môn thông thái, sau khi cho họ biết có loài chim kim nga trên đỉnh Cittak ùta, vua hỏi họ có cách nào để bẫy chúng chăng. Họ đáp:
- Tâu Đại vương, cần g ì chúng thần phải bắt chim? Chúng thần sẽ bày mưu kế đưa chim về gần kinh th ành và bắt chúng.
- Mưu kế gì vậy?
- Tâu Đại vương, về phía bắc kinh th ành, xin Đại vương ra lệnh đ ào một cái hồ rộng ba dặm, một địa điểm thật an to àn, chứa đầy nước, trồng đủ loại ngũ cốc c ùng n ăm loại hoa sen phủ mặt hồ. Rồi giao hồ cho một người bẫy chim thiện xảo chăm sóc, không cho phép ai đến gần hồ, v à phân công nhiều người canh giữ bốn góc, rao truyền cho dân chúng biết đây l à hồ bảo tồn chim muông. Khi nghe vậy, mọi loài chim sẽ đến đó. Sau đó các chim kim nga n ày nghe bọn chúng bảo nhau hồ này thật an toàn, tức nhiên sẽ đến thăm hồ v à Đại vương sẽ bảo lấy th òng lọng bẫy chúng.
Vua nghe vậy, liền bảo đ ào hồ như họ miêu tả ở vùng họ nói, rồi triệu một người bẫy chim thiện xảo đến, ban cho g ã một ngàn đồng tiền v à phán:
- Từ nay ngươi hãy bỏ nghề cũ, trẫm sẽ cấp dưỡng vợ con gia đ ình ngươi. Cẩn thận canh giữ hồ bình an này và buộc mọi người phải tránh xa hồ, truyền rao khắp bốn phương rằng đây l à hồ bảo tồn chim muông, hễ có loài chim nào lai vãng nơi đây đều l à của trẫm, và khi loài chim kim nga đến, ngươi sẽ được vinh hoa phú quý.
Cùng với những lời khích lệ này, vua giao gã ch ăm nom hồ bảo tồn. Từ ng ày ấy, gã bẫy chim làm đúng như vua truyền canh giữ nơi ấy v à do gã bảo vệ hồ bơi được b ình an, sẽ dần dần được mệnh danh l à người bẫy chim Khemà (Bình An).
Từ đấy, mọi lo ài chim đến đậu nơi ấy, v à vì chúng truyền tin cho nhau rằng hồ này bình an ổn định, n ên nhiều loài thiên nga bay đến. Trước hết l à loài thiên nga màu cỏ xanh, rồi nhờ chứng loan báo, kế đó l à loài hoàng nga, và theo cách này giống thiên nga đỏ tía, thi ên nga trắng và thiên nga Paka lần lượt đến.
Khi chúng đến, Khem à trình vua như vầy:
- Tâu Đại vương, năm lo ài thiên nga đ ã đến, v à chúng vẫn đang tiếp tục ăn uống hồ n ày. Giờ đây thi ên nga Paka đ ã đến, chỉ v ài ngày nữa là loài kim nga sẽ đến. Xin Đại vương chớ lo âu nữa.
Vua nghe vậy liền truyền đánh trống lệnh công bố khắp kinh th ành rằng không ai được phép đến nơi kia, bất cứ kẻ n ào bất tuân sẽ chịu hình phạt chặt tay chân và tịch thu gia sản, nên từ đó không ai dám đến đó nữa.
Bấy giờ, thiên nga Paka cư trú không xa đỉnh Cittak ùta trong Kim Động. Lo ài chim này có sức mạnh phi thường và cũng giống như thiên nga dòng họ Dhatarattha, màu sắc thân của chúng rất đặc sắc, c òn con gái của Thiên nga vương Paka lại có màu vàng ánh. Vì thế vua cha nghĩ rằng nàng xứng đôi với Thi ên nga vương Dhatarattha và gả nàng cho vua chim kia. Nàng rất được vua chim sủng ái, nhờ vậy hai d òng họ thiên nga này trở nên thân thiết nhau.
Một hôm bầy thiên nga hầu cận Bồ-tát hỏi thiên nga Paka:
- Các bạn tìm thức ăn ở đâu bây giờ?
- Chúng tôi đang kiếm ăn gần Ba-la-nại, trong một v ùng nước an toàn, nhưng còn các bạn bay tận đâu?
- Đến nơi như vầy, như vầy - Chúng đáp.
- Sao các bạn không đến hồ bảo tồn chim muông? Đó l à một cái hồ tuyệt đẹp, đủ các lo ài chim, được năm loại sen bao phủ, rất nhiều loại ngũ cốc v à quả cây, cùng nhiều đ àn ong đủ loại bay lượn vo ve. Tại bốn phía đều có người canh giữ công bố hồ được vĩnh viễn tránh khỏi hiểm nguy. Không ai được phép đến gần, lại c àng không có việc hại nhau đâu.
Theo cách này, chúng cứ ca tụng hồ bình an mãi. Khi nghe chuyện thiên nga Paka nói, chúng trình với Sumukha (Sư-mục-kha).
- Bầy chim kia bảo chúng thần ở gần Ba-la-nại có một hồ bình an như vầy, dòng họ Paka vẫn thường đi ăn tại đó . Xin tướng công tâu với Đại vương Dhatarattha v à nếu ngài cho phép chúng thần, thì chúng thần cũng sẽ kiếm mồi tại đó.
Sumukha trình với chúa chim, ngài suy nghĩ: "Loài người quả thật đầy mưu thần chước quỷ. Chắc chắn phải có lý do g ì đây. Từ xưa tới nay không hề có hồ như vậy. Chắc hẳn bây giờ hồ đ ã được xây để bắt chúng ta". Ng ài liền bảo Sumukha:
- Khanh đừng tán th ành việc đi đến hồ kia. Hồ n ày chẳng được họ xây bằng thiện ý đâu; m à nó được xây để bắt chúng ta đó. Chắc chắn lo ài người đầy ác tâm v à mưu mô xảo quyệt. Hãy ở lại chỗ các khanh thường kiếm mồi.
Lần thứ hai bầy kim nga thưa với tướng Sumukha rằng chúng rất nóng lòng đi đến hồ B ình An và vị ấy lại trình nguyện vọng của chúng lên chúa chim. Bậc Đại Sĩ suy nghĩ: "Không n ên để quyến thuộc ta bất m ãn vì ta. Vậy chúng ta cùng đến đó".
Vì vậy được chín mươi ng àn thiên nga hộ tống, ngài bay đến đó v à gặm chồi non, vui đ ùa theo cung cách loài thiên nga xong rồi bay về núi Cittakùta.
Sau khi bầy chim đ ã ăn uống v à giã từ, gã bẫy chim Khemaka đi tr ình vua Ba-la-nại việc chim đ ã đến. Vua vô c ùng hoan hỷ phán:
- Này hiền hữu Khemaka, hãy gắng bắt lấy một hai thiên nga, rồi ta sẽ ban thưởng vinh hoa phú quý cho khanh.
Cùng với các lời này, vua ban bổng lộc cho gã và bảo gã ra về.
Khi trở lại hồ, người bẫy chim ngồi giấu mình trong cái thùng rỗng và ngắm các hoạt động của bầy thi ên nga. Các vị Bồ-tát quả thật đ ã thoát ly tham dục. Vì thế bậc Đại Sĩ bắt đầu từ nơi đ ã hạ cánh xuống, bước đi ăn lúa một cách chừng mực từ tốn. C òn các chim kia đều bay nhảy kiếm mồi khắp nơi. Do vậy, người bẫy chim suy nghĩ: "Thi ên nga này đ ã thoát ly tham dục: đây chính l à con chim ta phải bắt lấy".
Ngày hôm sau trước khi bầy thiên nga hạ cánh xuống hồ, gã đến một nơi gần đó giấu m ình trong cái thùng rỗng, ngồi yên tại đó nh ìn qua khe hở của thùng. Lúc ấy bậc Đại Sĩ được chín mươi ng àn Thiên nga hộ tống đáp xuống nơi ng ài đ ã đến hôm trước, v à đậu ngay tại chỗ ăn hôm qua, tiếp tục gặm lúa.
Người bẫy chim nhìn qua khe hở của thùng, chú ý ngay vẻ đẹp phi thường của chim n ày, và suy nghĩ: "Chim này lớn bằng cỗ xe, lông vàng ánh và cổ lại có ba khoang đỏ. Ba khoang n ày chạy từ cổ xuống dọc theo phần giữa bụng, trong khi ba khoang khác chạy xuống nổi rõ trên lưng, toàn thân tỏa sáng như một khối vàng ròng treo trên sợi dây làm bằng chỉ đỏ. Đây chắc hẳn l à chim chúa và chính là con chim ta quyết bắt lấy".
Còn chúa Thiên nga, sau khi ăn lúa tr ên đồng ruộng xong, lại vui đ ùa trong vũng nước và sau đó được đ àn chim hộ tống trở về núi Cittakùta. Suốt sáu ngày liền, ngài kiếm mồi theo kiểu ấy.
Vào ngày thứ bảy, Khemakha kết một sợi dây lớn bằng lông ngựa đen v à buộc dây thòng lọng trên cây sào, rồi vì biết chúa Thiên nga sẽ đáp xuống ng ày mai vào chỗ cũ, gã đặt cây s ào có buộc cái bẫy ở trên vào trong vũng nước.
Hôm sau, chúa Thiên nga hạ cánh xuống liền bị mắc chân vào bẫy, nó kẹp chặt chân chim như sợi dây sắt siết mạnh. Chim chúa muốn phá bẫy nên kéo lê nó đi v à lấy hết sức đạp mạnh v ào bẫy. Trước tiên chỗ da vàng ánh bị bầm dập, kế đó thịt m àu đỏ thắm bị rách, rồi gân đứt l ìa, cuối cùng đáng lẽ chân chim đ ã bị gãy, song nghĩ rằng thân thể tàn tật không xứng đáng với một chúa chim, n ên chim không chống cự nữa. Trong khi các chỗ đau bắt đầu nhức nhối, chim suy nghĩ: "Nếu ta thốt tiếng k êu cứu quyến thuộc ta sẽ hoảng hốt và dù chưa ăn no đủ, chúng cũng sẽ chạy trốn, th ì e còn đói l òng, chúng sẽ rơi xuống nước".
Vì thế cố chịu đựng nỗi đau, chim đứng y ên trong gọng kìm của chiếc bẫy, giả vờ ăn lúa. Nhưng khi đ àn chim đ ã no nê rồi, và đang chơi đ ùa theo kiểu cách thiên nga, chim chúa liền thốt tiếng kêu bị nạn.
Bầy thiên nga nghe vậy bay bổng lên đi mất, như đ ã được tả trước đáy. Tướng quân Sumukha cũng xem xét mọi việc như đ ã kể, rồi bay đi t ìm quanh quẩn mà không thấy bậc Đại Sĩ trong ba đ àn thiên nga lớn kia, liền suy nghĩ: "Chắc hẳn đây l à một chuyện khủng khiếp đ ã xảy ra với đức vua" v à vị ấy liền quay về nói:
- Tâu Chúa thượng, xin đừng sợ, thần sẽ giải cứu Chúa thượng d ù phải hy sinh tánh mạng của thần.
Rồi vừa đáp xuống vũng b ùn, chim ấy an ủi vỗ về bậc Đại Sĩ. Bậc Đại Sĩ suy nghĩ: "Chín mươi ng àn thiên nga đ ã bỏ ta bay đi mất, chỉ c òn chim này một mình trở lại đây. Ta không biết khi người bẫy chim đến, Sumukha cũng sẽ bỏ ta m à bay đi không". Rồi để thử l òng chim kia, ngài dựa mình đầy máu v ào chiếc sào buộc cái bẫy, và ngâm ba vần kệ:
1. Kìa đám hồng nga cất cánh bay, Cả bầy hốt hoảng h ãi kinh đầy, Đi ngay, Sư-mục-kha v àng ánh, Khanh muốn gì ch ăng ở chốn n ày? 2. Họ hàng ta đ ã bỏ rơi ta, Bọn chúng đều cao chạy vút xa, Đ ào tẩu ngay, không hề nghĩ ngợi, Sao khanh đơn độc ở đây m à? 3. Thiên nga cao thượng, hãy bay về, Tù tội làm sao có bạn bè? Lúc được tự do, Sư-mục hỡi, Bay đi, đừng bỏ dịp may kề!
Nghe vậy, Sumukha nghĩ thầm: "Thiên nga vương này không biết bản tính ta; ngài tưởng ta chỉ là thứ bạn nói lời xu nịnh. Ta sẽ tỏ cho ngài thấy ta yêu quý ngài biết bao", rồi chim ấy ngâm bốn vần kệ:
4. Không, thần sẽ chẳng bỏ Nga vương, Khi đến gần tai họa thảm thương, Song ở lại đây, thần đ ã quyết Bên ngài, dù sống chết không màng. 5. Không, thần sẽ bỏ Nga vương, Khi đến gần tai họa thảm thương, Chẳng dự v ào hành vi hạ liệt Với bầy chim nọ, chẳng theo gương. 6. Thần đồng tâm hiệp ý c ùng ngài, Đồng bạn vui chơi thuở thiếu thời, Giữa đám quần thần, tâu Chúa thượng, Nổi danh l à thủ lãnh hùng oai. 7. Khi về với quyến thuộc thân bằng Thần biết làm sao để nói năng, Ví thử bỏ ng ài cho số phận, Vô tình bay bổng thật nhanh chân? Không, thà chịu chết hơn là sống Khi phải đóng vai hạ liệt thần.
Khi Sumukha đ ã ngâm bốn vần kệ như giọng sư tử rống, bậc Đại Sĩ l ên tiếng nêu rõ đức độ của bạn:
8. Bản tính khanh, Sư-mục Tướng quân, Vẫn thường an trú lý Như chân, Không bao giờ bỏ rơi vua chúa, Thân hữu, hãy tìm cách thoát thân. 9. Khi ta nhìn thấy mặt Hiền khanh, Trong trí ta không khỏi hãi kinh, Dù cảnh ngộ buồn, khanh cũng sẽ Tìm đường giải cứu bạn thân m ình.
Trong lúc đôi chim đang đ àm luận như vậy, người bẫy chim đứng tr ên bờ hồ thấy bầy thiên nga bay rẽ ra thành ba đ àn và không biết việc này có ý nghĩa gì, gã chợt nhìn đến nơi g ã đ ã đặt bẫy v à thấy Bồ-tát dựa mình vào cây gậy có cột thòng lọng. Vô cùng mừng rỡ, gã buộc thắt lưng lại cầm gậy vội vàng đến gần v à đứng trước đôi chim, như ngọn lửa ở đầu chiếc v òng, đầu g ã vươn cao trên đôi chim v à gót chân chôn chặt dưới bùn.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ l àm sáng rõ vấn đề:
10. Đôi chim cao thượng đ ã trao nhau Tư tưởng như vầy thật quý cao, Hãy ngắm kẻ s ăn chim táo bạo Tay cầm chiếc gậy, bước chân mau. 11. Thấy g ã đến gần, Sư-mục-kha Đứng l ên ngay trước chúa Thiên nga, Hiên ngang khích lệ quân vương ấy Đầy nỗi lo trong bước sẩy sa. 12. "Nga vương cao quý, chớ kinh ho àng, Kinh hãi chẳng là cách Đại vương, Với lẽ công bằng, thần nỗ lực Khẩn cầu với lý luận khôn ngoan Bằng h ành động hết l òng can đảm Lần nữa Chúa công được thoát n àn.
Sumuakha an ủi bậc Đại Sĩ như vầy, rồi vừa đi đến b ên người bẫy chim, vừa dùng tiếng người thật êm dịu hỏi:
- Này Hiền hữu, danh tánh của bạn là gì?
Y đáp:
- Này Chúa loài kim nga, ta có tên là Khemaka.
Sumukha đáp:
- Này Hiền hữu, đừng tưởng rằng chỉ một thi ên nga tầm thường đ ã bị bắt vào bẫy lông ngựa của hiền hữu: đó chính l à Chúa công Dhatarattha, lãnh tụ của chín mươi ngàn thiên nga đang bị mắc bẫy. Ng ài thật là hiền trí, đức hạnh, v à đang sẵn s àng hòa giải. Ta sẽ làm bất cứ việc gì mà ngài phải làm cho hiền hữu. Ta cũng có sắc vàng ánh và ta muốn hy sinh thân mạng mình vì ngài. Nếu hiền hữu muốn nhổ lông ngài, xin hãy nhổ lông ta; hoặc nếu hiền hữu muốn làm việc gì khác với da, thịt, gân, xương ngài, xin cứ lấy ra từ thân ta. Hơn nữa, giả sử hiền hữu muốn luyện ngài thành chim thuần, xin hãy luyện ta, bán ta lúc còn sống; hoặc nếu muốn kiếm tiền, xin hãy bán ta, chứ đừng giết ng ài, vì ngài là bậc đầy đủ trí tuệ v à đức hạnh như thế. Nếu hiền hữu muốn giết ng ài, hiền hữu sẽ chẳng bao giờ thoát khỏi địa ngục hoặc đọa xứ khổ cảnh tương tự.
Sau khi đe dọa kẻ bẫy chim bằng nỗi kinh ho àng địa ngục, khiến y phải nghe lời khuyến dụ êm tai của mình, Sumukha lại đến gần đứng cạnh Bồ-tát, v à an ủi ngài .
Gã bẫy chim nghe lời ấy, suy nghĩ: "Chỉ là một con chim như thế, nó lại có thể làm được những g ì loài người không thể làm được. V ì loài người không chung thủy trong tình bằng hữu. Ôi đấy thật l à một chim thần, đầy trí tuệ v à biện tài". Toàn thân gã rung động với nỗi hoan lạc kỳ diệu, tóc g ã dựng đứng v ì kinh ngạc, gã làm rơi chiếc gậy và chấp hai tay lên trước trán, như người kính lễ mặt trời, gã đứng đó tuy ên dương công hạnh của Sumukha.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ l àm sáng tỏ vấn đề:
13. Người s ăn chim nọ đ ã nghe lời Chim ấy nói ra với biện tài, Tóc dựng đứng l ên, tay chấp lại, Tôn sùng kính lễ trước chim trời. 14. Chưa được nghe hay thấy trước giờ Chim d ùng tiếng nói của người ta, Và bằng giọng lưỡi chim tuyên thuyết Chân lý tối cao quả thật là. 15. Với ngươi; chim có họ hàng gì, Khi cả đ àn cùng chạy trốn đi, D ù được tự do, ngươi ở lại B ên chim bị bắt một mình kia?
Khi nghe người bẫy chim độc ác hỏi câu n ày, Sumukha suy nghĩ: "Kẻ ấy đ ã động l òng, ta muốn bày tỏ cho y thấy đức tính của ta để y hồi tâm th êm nữa" . Và chim ngâm kệ:
16. Hỡi cừu nhân của đám thi ên nga, Ngài chúa công, ta đại tướng m à, Ta chẳng bỏ ngài cho số phận, Bình an đ ào thoát một mình ta. 17. Đừng để Thi ên nga chúa đại h ùng Nơi đây phải chết thật đơn thân, B ên ngài, hạnh phúc ta tìm thấy, Ta được ng ài như đáng chúa công .
Khi nghe lời thuyết giáo dịu dàng về cách nhận lãnh trách nhiệm của chim kia, người bẫy chim tràn ngập hân hoan và lông tóc dựng đứng v ì kinh ngạc, suy nghĩ: "Giả sử ta giết Thiên nga chúa đầy đủ đạo hạnh v à mọi đức tính n ày, ta sẽ chẳng bao giờ thoát khỏi bốn khổ hình. Vậy cứ để vua Ba-la-nại muốn l àm gì ta cũng mặc, ta sẽ trao chim mắc bẫy này như quà biếu không cho Sumukha và thả chim đi".
Gã liền ngâm kệ:
18. Ngươi kính Điểu vương, cao quý thay, V ì ngươi vẫn sống vời chim này, Hãy bay về chốn ngươi chung sống, Ta thả tự do hiền chúa ngay.
Nói vậy xong, người bẫy chim đầy thiện ý đến gần bậc Đại Sĩ uốn cây s ào xuống, đặt chim chúa tr ên bùn, và lại nhấc sào ra khỏi thòng lọng. Sau đó g ã kéo chim ra khỏi hồ, vừa đặt chim tr ên đám cỏ Kusa non, g ã vừa nhẹ tay tháo chiếc bẫy đ ã kẹp chân chim. Lòng gã rạt rào tình thân mến bậc Đại Sĩ , v à với từ tâm, gã lấy nước rửa sạch máu rồi chùi đi ch ùi lại nhiều lần.
Nhờ uy lực của từ tâm ấy, gân dính liền gân, thịt liền thịt, da liền da, chân chim lại lành như trước, chẳng còn gì khác với chân kia, và Bồ-tát ngồi đó hân hoan thư thái như xưa.
Sumukha thấy chim chúa hạnh phúc dường nào nhờ hành động của m ình, nên vô cùng hoan hỷ nghĩ thầm: "Người này đ ã đem lại lợi ích cho ta, nhưng ta chưa l àm gì cho y cả. Nếu y bắt ta cho các triều thần và giao ta cho họ, y sẽ được một số tiền lớn, v à nếu y bắt ta cho chính y, y sẽ bán ra rồi thu lợi lớn. Ta muốn hỏi y đôi điều". Như vậy do l òng mong ước làm ích lợi cho gã, chim ngâm kệ hỏi:
19. Nếu vì mục đích của ri êng tây, Ông đ ã bắt ta, đặt bẫy n ày, Ta được tự do ông trả lại, L òng không lo lắng, nghĩ suy đầy. 20. Song bằng không, quả thật to gan, Người bẫy chim tha mạng điểu vương M à chẳng vì ân vua phép nước, Hiển nhiên trộm cướp chẳng gì hơn.
Người bẫy chim nghe vậy bảo:
- Ta không bắt chim cho ta đâu, ta được vua Samyama ở Ba-la-nại sai l àm.
Rồi gã kể cho chim nghe toàn thể câu chuyện, từ lúc đầu ho àng hậu nằm mộng cho đến khi vua nghe có lo ài thiên nga đến, v à phán: "Này hiền hữu Khemaka, hãy cố bắt một hai thiên nga, rồi trẫm sẽ ban đại phú quý cho khanh", v à cấp lương thực cho gã lên đường.
Khi nghe vậy, Sumukha suy nghĩ: "Người bẫy chim này không kể gì đến kế sinh nhai của ri êng mình, khi thả chúng ta ra là gây khó kh ăn cho y, song nếu từ đây, ta trở về Cittak ùta, thì trí tuệ siêu phàm của điểu vương Dhatarattha cũng như h ành động v ì tình bằng hữu của ta đều không được biểu lộ, người bẫy chim cũng sẽ không hưởng đại phú quý, nh à vua cũng không được an trú v ào Ngũ giới và ước nguyện của hoàng hậu cũng không thành tựu". Vì thế, chim ấy đáp:
- Này hiền hữu, nếu quả thật như vậy, thì ông không thể để cho chúng ta đi. H ãy đưa chúng ta đến yết kiến vua v à ngài sẽ đối xử với chúng ta t ùy thích.
Chim ấy lại ngâm vần kệ làm sáng tỏ vấn đề:
21. Ông là tôi tớ của quân vương, Ý nguyện ngài, ông phải vẹn toàn, Tùy thích vua Sa-mya định đoạt Với ta, đối xử hợp tâm can.
Nghe vầy, người bẫy chim nói:
- Thưa các ngài, các vị không nên mong ước diện kiến đức vua. Vua chúa quả thật l à những người vô cùng nguy hiểm. Họ sẽ luyện các vị thành chim thuần thuần tính hoặc giết đi.
Sumukha liền đáp:
- Này hiền hữu bẫy chim, đừng bận l òng vì chúng ta. Nhờ thuyết Pháp, ta đ ã khiến cho một người độc ác như ông phát khởi từ tâm. Vậy sao ta không l àm việc này với vua? Vua chúa đủ trí tuệ để hiểu lời chân thiện. H ãy mau đưa ta đến yết kiến vua. Ông đừng đem chúng ta đi như đôi chim mắc bẫy, m à hãy đặt ta v ào chiếc lồng hoa và đưa đi như vậy. H ãy làm chiếc lồng lớn phủ sen trắng cho điểu vương Dhatarattha v à lồng nhỏ hơn phủ sen đỏ cho ta, đặt ng ài phía trước, ta phía sau, hơi thấp hơn một chút, rồi khẩn cấp đưa ta đi yết kiến vua.
Khi nghe lời Sumukha, người bẫy chim suy nghĩ: "Sumukha đến yết kiến đức vua chắc hẳn mong ta được đại vinh hiển". L òng vô cùng hoan hỷ, gã làm đôi lồng bằng các c ành liễu mềm phủ hoa sen, xong liền lên đường c ùng với đôi chim theo cách mi êu tả.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ để l àm sáng tỏ vấn đề:
22. Người s ăn chim nắm cả hai tay Trong lúc được nghe nói thế n ày, Liền đặt v ào lồng đôi ngỗng đỏ Sắc da v àng ánh đẹp như vầy. 23. Bộ lông ngời sáng, chúa Thi ên nga Càng đẹp mắt trông, với Mục-kha, Y ên ổn trong lồng người đặt bẫy Cầm l ên cùng với ngỗng đi ra.
*
Ngay khi người bẫy chim lên đường c ùng với đôi ngỗng, chim chúa Dhatarattha chợt nhớ đến vương hậu của m ình là công chúa của Thiên nga vương Paka, do lòng tham ái chi phối, chim chúa than thở như vầy với Sumukha.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ l àm sáng tỏ vấn đề:
24. Nga vương vừa mới được mang ra, Liền nói như vầy vời Mục-kha: "Vương hậu diễm kiều đầy quý tướng Bây giờ đang khổ n ão vì ta. Nếu nàng nghe nói rằng ta chết, Ta sợ đời n àng cũng phải sa. 25. Như cò hương khóc bạn tình lang, Đơn độc b ên bờ vắng đại dương, Rực rỡ, Su-he (*) da óng ả Sẽ còn thương tiếc mãi quân vương.
(*) Suhemà: tên hoàng hậu Thiên nga
*
Nghe vầy, Sumukha suy nghĩ: "Thiên nga này, dù luôn sẵn sàng khuyến giáo kẻ khác, lại bị tham dục chi phối, tất cả chỉ vì chim mái, nên cứ lảm nhảm như nước đang sôi s ùng sục, hoặc chẳng khác tiếng bầy chim từ bến bờ vụt lên rồi sà xuống mổ lúa trên ruộng! Hay ta phải cố dùng trí tuệ nêu rõ cho ngài thấy những thói xấu của nữ giới và làm ngài tỉnh táo lại ch ăng?", v à chim này ngâm kệ:
26. Thiên nga vĩ đại, trí vô song, L ãnh đạo anh minh của giống d òng, Sao phải ưu phiền vì nữ giới, Tỏ bày bao nhược điểm trong l òng. 27. Như gió mang đi đủ thứ m ùi Dù là thơm ngát hoặc tanh hôi, Tham lam như trẻ thành mù quáng Ăn thức c òn tươi hoặc chín rồi. 28. Không xét suy chân chánh việc làm Mê mờ, ngài chẳng thấy trên đ àng Việc gì cần tránh, gì làm được, Trong lúc sa cơ, gặp hiểm nàn. 29. Hóa dại, ngài ca tụng má hồng Có đầy vẻ diễm lệ say l òng; Tầm thường, tuy vậy, là đa số, Chẳng khác tr à đ ình của túy ông. 30. Ưu phiền, bệnh tật với tai ương, Như xích xiềng, gông, cực bạo tàn, Ảo ảnh, dối gian và cạm bẫy Tử thần cất kín tận tâm can. Nữ nhân đều thế, ai tin chúng Hạ liệt quả l à nhất thế gian!
Lúc ấy chúa chim Dhatarattha đang say m ê nữ giới, liền bảo:
- Hiền hữu không biết các đức tính của phái nữ, nhưng các bậc hiền trí biết r õ, nữ giới không đáng bị chỉ trích đâu.
Rồi ngài giải thích qua các vần kệ:
31. Bậc trí nhìn chân lý rõ rành, Còn ai khiển trách, dám phê bình? Nữ nhân sinh ở trong trần thế Để hưởng đặc quyền với đại danh. 32. Nhi nữ sinh ra để cợt đ ùa, Tình yêu lạc thú được ban cho, Hạt mầm nảy nở trong nhi nữ, Nguồn gốc đời ta được hộ ph ò, Từ đó nam nhân bừng nhịp thở, Khó l òng khinh thị đám quần thoa. 33. Ri êng khanh, Sư-mục, có tinh thông Cung cách dung nghi đám má hồng, Xúc động h ãi kinh, khanh có thấy Trí này sáng suốt muộn màng không? 34. Khi một nam nhân gặp bất an, Giữa tai biến, chịu đựng can cường, Trong cơn khủng hoảng bao hiền trí Cố sức cho ta được thoát n àn. 35. Quân vương muốn gặp bậc anh hùng Để có người khuy ên nhủ hộ phòng Chống nỗi kinh hoàng do nghịch cảnh, Giải bày thích đáng, cứu nguy vong. 36. Ta mong đầu bếp của ho àng gia Đừng nướng thân ta đ ã xác xơ, Như trái cây tre thường giết mẹ Bộ lông vàng cũng giết đời ta. 37. Tự do, khanh chẳng muốn bay đi, Tự nguyện giam cầm để cứu nguy, Giờ phút hiểm ngh èo, đừng nói nữa, H ãy hoàn thành sứ mạng nam nhi.
Bằng cách tán tụng nữ giới, bậc Đại Sĩ đ ã làm cho Sumukha phải im lặng, nhưng khi thấy vị ấy buồn bực biết bao, giờ đây ng ài muốn hòa giải với bạn, liền ngâm kệ này:
38. Gắng sức làm sao thật đúng thời, Với công bằng biện hộ như lời, Anh h ùng hành động, xin hiền hữu Đem lại cho ta cả cuộc đời .
Lúc ấy Sumukha suy nghĩ: "Ngài hết sức kinh hãi vì sợ chết; ngài không biết uy lực của ta. Sau khi yết kiến vua Ba-la-nại và đ àm đạo đôi điều với vua, ta sẽ biết cách h ành động. Lúc n ày ta muốn an ủi đại vương của ta", v à vị ấy ngâm vần kệ:
39. Nga vương cao quý, chờ kinh hoàng, Kinh hãi chẳng là cách Đại vương, Với lẽ công bằng, thần nỗ lực Khẩn cầu vời lý luận khôn ngoan, Bằng h ành động hết l òng can đảm Lần nữa chúa công được thoát n àn.
Trong lúc hai vị đang nói chuyện với nhau bằng tiếng chim như vậy, người bẫy chim chẳng hiểu lời n ào chim nói cả, cứ mang đôi chim tr ên đôi gánh đi v ào thành Ba-la-nại, gã được một đám đông theo sau v ì tràn đầy thích thú kinh ngạc trước cảnh kỳ dị kia, họ đưa hai tay l ên trời với dáng điệu nguyện cầu. Khi đến ho àng môn, người bẫy chim nhờ trình vua về việc gã đến chầu.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ l àm sáng tỏ vấn đề:
40. Người s ăn chim đến cổng ho àng gia, Tiến lại gần cùng gánh nặng kia, "Trình tấu Đại vương, thần yết kiến, Thưa rằng đây chính hiệu hồng nga". Người canh cổng đi v ào trình y đ ã đến. Vua vô c ùng hoan hỷ, phán:
- Cho phép y vào chầu tức thì.
Rồi được một đám triều thần vây quanh, vua ngự l ên ngai vàng có lọng trắng che trên đầu, thấy Khemaka bước l ên bệ với gánh nặng trên vai, vừa khi nhìn đôi Thi ên nga sắc vàng óng ả, vua phán:
- Ước nguyện của ta đ ã thành tựu.
Rồi vua truyền lệnh cho quần thần làm mọi việc xứng đáng đền đáp lại người bẫy chim.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ l àm sáng tỏ vấn đề:
41. Nhìn thấy đôi chim dáng Thánh thần, Tr àn đầy quý tướng đẹp vô ngần, Vua Sa-mya ấy liền lên tiếng Cùng với lời trao đám cận thần: 42. "Ban gã s ăn chim thức uống ăn, Loại mềm, y phục đẹp oai h ùng, Vàng ròng cả khối màu hồng đỏ Ban thật nhiều như dạ ước mong" .
*
Lòng vô cùng hân hoan, vua muốn bày tỏ nỗi thích thú của mình liền phán:
- Hãy đi trang điểm cho người bẫy chim rồi đưa y đến đây.
Thế là đám triều thần đưa g ã ra khỏi cung, truyền tỉa râu tóc gã, sau khi y đ ã tắm rửa, xoa đầu thơm v à mặc y phục lộng lẫy, họ đưa y v ào yết kiến vua. Lúc đó vua ban cho y hai thôn l àng hưởng lợi tức hàng n ăm một trăm ng àn đồng tiền, một cỗ xe do bầy ngựa thuần chủng kéo, một ngôi nh à rộng rãi đầy đủ tiện nghi c ùng đại phú quý vinh hiển.
Khi nhận được đại danh vọng như vậy, người bẫy chim tâu tr ình để giải thích những việc y đ ã làm:
- Tâu Đại vương, thần không dâng Đại vương loại thi ên nga bình thường đâu; đây chính l à chúa tể của cả đ àn chín mươi ngàn thiên nga, mệnh danh Dhatarattha và đây l à đại tướng Sumukha.
Sau đó, vua hỏi:
- Này hiền hữu, làm sao khanh bắt được đôi chim ấy?
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ giải thích vấn đề:
43. Đại vương nh ìn thấy kẻ đi săn, Đẹp ý hân hoan, mới phán rằng: "Hồ ấy, Khe-ma, đ àn ngỗng đến H àng ngàn con để kiếm đồ ăn. 44. Giữa cả đ àn chim một giống dòng, Làm sao khanh cố sức thi công Chọn ra chim chúa này kiều diễm, Và bắt Thiên nga vẫn sống ch ăng?" Người săn chim đáp lời vua: 45. Bảy ng ày ròng rã, dạ âu lo Thần đ ã hoài công đánh dấu hồ, T ìm vết Thiên nga này tuyệt đẹp, Ẩn m ình trong một cái lu to. 46. Hôm nay thần thấy bãi chim ăn M à chính Thiên nga đ ã đến gần; Lập tức chỗ kia thần đặt bẫy, Thi ên nga phút chốc bị sa chân.
Khi nghe vậy, vua suy nghĩ: "Kẻ này lúc đứng ở cổng chỉ kể chuyện chim chúa Dhatarattha bay đến, v à bây giờ y cũng chỉ nói về chim này thôi. Thế việc này có ý nghĩa gì?". Và vua ngâm vần kệ:
47. Thợ s ăn tr ình chỉ một chim thôi, Nhưng trẫm thấy đầy đủ cả đôi, Nhầm lẫn g ì ch ăng, khanh đến tặng Trẫm đây th êm một chú chim trời?
Lúc ấy người bẫy chim đáp:
- Tâu Đại vương, không có g ì thay đổi trong ý định của thần, v à thần cũng không muốn dâng Thiên nga thứ hai này cho ai cả. Hơn nữa, thần chỉ bắt được một con trong bầy thôi.
Rồi y nói tiếp để giải thích:
48. Thiên nga có những sọc vàng hồng Tất cả đều v òng xuống dưới thân, Đ ã bị bắt vào trong chiếc bẫy, Thần dâng đây đúng lệnh Minh quân. 49. Chim tuyệt đẹp n ày được tự do Vẫn ngồi bên cạnh bạn sa cơ, Dùng lời lẽ thế nhân êm dịu Cố sức làm cho bạn khỏi lo.
Theo cách này y tuyên dương đức hạnh của Sumukha:
- Ngay khi biết Thiên nga Dhatarattha bị bắt, chim ấy ở lại an ủi bạn và khi thần đến gần, nó liền bay đến gặp thần, đứng giữa không gian vừa đ àm luận vui vẻ với thần bằng tiếng người, vừa nói rõ mọi đức hạnh của chim Dhatarattha. V à sau khi đ ã làm cho lòng thần dịu lại như vậy, nó liền đến đứng trước bạn m ình lần nữa. Tâu Đại vương, khi nghe t ài hùng biện của Sumukha, thần đ ã được cảm hóa v à thả chim Dhatarattha. Do vậy, việc thả chim Dhatarattha khỏi bẫy và việc thần đến đây với đôi ngỗng n ày đều nhờ công Sumukha cả.
Khi nghe vậy, vua nóng lòng nghe Sumukha thuyết giáo, và trong khi người bẫy chim vẫn đang cung kính đảnh lễ vua, th ì mặt trời vừa lặn, đ èn đuốc được thắp sáng, một đám tướng l ãnh và nhiều người khác tụ họp lại. Hoàng hậu Khemà được đo àn nữ nhạc hộ tống đến ngự b ên phải vua; ngay lúc ấy vua muốn thuyết phục Sumukha cất tiếng nói, liền ngâm kệ:
50. Sao ngươi im tiếng, hỡi Thiên nga, Ta đoán phải chăng bởi sợ ta, Đến trước quân vương, ngươi diện kiến, M à sao chẳng thốt một lời ra?
Nghe vậy, Sumukha đáp để chứng tỏ m ình không sợ gì cả:
51. Ta chẳng sợ gì, tấu Đại vương, Khi trao lời giữa chốn triều đường, Nếu cơ hội tốt n ào đi đến, Ta quyết sẽ không tránh luận b àn.
Nghe vậy, vua mong ước làm chim ấy nói nhiều hơn, liền ngâm kệ chê bai vị tướng chim:
52. Chẳng bầy xạ thủ mặc quân bào, Chẳng mão, chẳng da bảo hộ nào, Không có tùy tùng người hoặc ngựa, Cũng không xa, pháo để theo hầu. 53. Chẳng thấy v àng đâu, chẳng thị th ành, Chẳng lâu đ ài tráng lệ quang vinh, Tháp canh không có, phòng xâm phạm Với lũy hào bao bọc bản doanh Do tướng Mục-kha xây dựng vậy, Không gì đáng sợ ở b ên mình.
Khi vua dùng cách này hỏi chim tại sao không kinh hãi, Sumukha liền đáp kệ:
54. Chẳng ai bảo vệ, hoặc quân canh, Chẳng muốn kim ngân hoặc thị thành, Giữa chốn không gian, ta kiếm lối Vân du khắp cả cõi trời xanh. 55. Nếu ngài an trú lý Như chân, Ta ước mong tuyến thuyết, Đại vương, B ài học giúp cho ngài lợi lạc, Bằng lời tinh tế lại khôn ngoan. 56. Song nếu Đại vương chỉ dối gian, Một người tâm tính thật tồi t àn, Lời người đặt bẫy n ày hùng biện Chẳng ích gì cầu khẩn Đại vương.
Nghe vậy, vua liền đáp:
- Tại sao ngươi dám bảo trẫm lừa dối tồi tàn? Thế trẫm đ ã làm gì ch ăng?
Sumukha liền đáp:
- Vậy Đại vương h ãy nghe đây.
Và chim nói như sau:
57. Nghe lời các vị Bà-la-môn, Ngài dựng hồ lạc lẫy lừng, Và đ ã truyền rao khắp thập hướng: An toàn đây chỗ của chim muông. 58. Trong chốn hồ n ày thật tịnh thanh, Các dòng nước phẳng lặng, trong xanh, Chim muông thấy thức ăn phong phú Sống cuộc đời an ổn trọn l ành. 59. Nghe tiếng đồn n ày vọng thật xa, Chúng ta th ăm cảnh đẹp ho àng gia, Than ôi! Mắc bẫy, ta tìm thấy Lời hứa Quân vương hóa phỉnh phờ. 60. Song lời dối trá khéo bao che Hành động tham lam tội lỗi kia Chẳng tái sinh thi ên, người thế tục, Thẳng đường địa ngục sẽ đưa về.
Như vậy ngay giữa đám triều thần, chim đ ã làm vua phải hổ thẹn. Sau đó vua ph án:
- Này Sumukha, trẫm không bắt ngươi để giết v à ăn thịt đâu; song nghe tiếng ngươi thông tuệ biết bao, n ên trẫm muốn tận tai nghe ngươi hùng biện đấy thôi.
Rồi vua ngâm kệ làm sáng tỏ vấn đề:
61. Mục-kha, trẫm chẳng phạm sai lầm, Trẫm chẳng bắt chim bởi dục tâm, Đây chính nguy ên nhân gây việc ấy: Danh ngươi thông tuệ, trí cao thâm. 62. "Nơi đây chắc hẳn chúng n êu ra Chân thật, những lời ích lợi ta", Nên kẻ bẫy chim, ta hạ lệnh, Đem ngươi về đó, hỡi Thi ên nga.
Nghe thế , Sumukha đáp:
- Tâu Đại vương, ng ài đ ã hành động sai lầm.
Và chim ngâm các vần kệ sau:
63. Ta chẳng thể tuyên thuyết thật chân, Khi ta kinh hãi chết kề gần, Cũng không hít thở hơi từ giã Hấp hối phút giây của tử thần. 64. Ai muốn lấy chim để bẫy mồi, Săn mồi bằng thú dữ t ìm tòi, Pháp sư đánh bẫy bằng b ài giảng, Kẻ ấy không sao khỏi đọa rồi. 65. Ai buông lời lẽ thật cao sang, Dự định h ành vi hạ liệt tràn, Thì ở đời n ày, đời kế nữa, Sa từ hạnh phúc đều đau buồn. 66. Đừng say sưa quá phút vinh quang, Cũng chớ khổ đau lúc hiểm n àn, Hãy sửa lỗi lầm thành tốt đẹp, Hết l òng phấn đấu trước tai ương. 67. Bậc trí đến khi cuối cuộc đời, Đ ã nhìn thấy đích tử thần rồi, Sống tr ên trần đúng đường chân chánh, Theo hướng đi l ên đến c õi trời. 68. Nghe những lời này, giữ chánh chân, Mau mau giải phóng, hỡi Minh quân, Dha-ta-ra ấy là chim chúa Tuyệt thế Thiên nga giữa cả đ àn.
Nghe vậy, vua phán:
69. Mau hãy đi t ìm nước rửa chân, Đem v ào đây cả chiếc kim đôn, H ãy nhìn trẫm thả từ lồng ấy Tối thượng Thiên nga ở cõi trần. 70. Cùng bậc anh hùng đại tướng quân, Thật l à tài giỏi lại tinh thông, Dầu khi hoạn nạn hay vinh hiển Đều dạy thiết thân với chúa công. 71. Bậc chân chánh ấy xứng uy danh Theo bước chúa công suốt lộ tr ình, Vì đ ã sẵn sàng trang bị đủ Với vua chia xẻ tử cùng sinh.
Nghe lời vua phán, quan hầu đem bảo tọa đến mời đôi chim. Hai vị đậu ở đó rửa chân với nước hoa v à xoa dầu thơm đ ã được lọc cả trăm lần.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ giải thích vấn đề:
72. Chim chúa ngự trên một chiếc ngai, Tám chân ngời chói, đặc v àng thoi Bên ngoài có lụa Kà-si phủ, Quang cảnh này trông thật tuyệt vời. 73. Sư-mục ngồi bên cạnh Điểu vương, Tướng công trung tín lại can cường, Ở trên bảo tọa trùm da hổ, Tất cả đều nguy ên cả khối vàng. 74. Nhiều chúa Kà-si đựng chén v àng Chọn đầy thực phẩm đủ cao lương, Mang v ào mời cặp Thiên nga ấy Tặng vật cúng dâng của Đại vương.
*
Khi thực phẩm được đem thiết đ ãi hai vị như thế, vua Kàsi muốn đích thân đón tiếp hai vị, liền tự tay lấy chén v àng mời khách, hai vị thưởng thức mật ong, gạo rang và uống rượu đường. Sau đó Bậc Đại Sĩ nhận thấy cung cách vua thiết đ ãi thật ân cần như vậy liền đ àm đạo thân mật với vua.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ l àm sáng tỏ vấn đề:
75. Nghĩ thầm? "Lễ vật thật cao sang Chúa tể Kà-si đ ã cúng dường, Thông hiểu triều nghi nên ngỗng chúa Như vầy cất tiếng hỏi quân vương.
Thiên nga:
76. " Đại vương, ngọc thể có khang an, Vạn sự Đại vương thảy vẹn to àn, Quý quốc hẳn là đang thịnh vượng, Được ng ài cai trị thật công bằng?"
Quân vương:
77. Nga vương, trẫm vẫn được khang an, Vạn sự trẫm đây được vẹn to àn, Bổn quốc hiện giờ rất thịnh vượng, Hưởng nền cai trị thật công bằng.
Thiên nga:
78. Ngài có triều thần thật chánh chân, Biết khuyên nhủ chúa, chẳng sai lầm, Nếu cần, họ sẵn sàng liều chết Vì chánh nghĩa và danh chúa công?
Quân vương:
79. Trẫm có triều thần thật chánh chân, Biết khuyên nhủ trẫm, chẳng sai lầm, Nếu cần, họ sẵn sàng liều chết Vì chánh nghĩa và danh quả nhân.
Thiên nga:
80. Phải ch ăng ho àng hậu cũng chung dòng, Lời lẽ ôn nhu, biết phục tòng, Diễm lệ, nhiều con, danh tiếng tốt, Vâng chìu mọi Thánh ý Minh quân?
Quân vương.
81. Trẫm nay có chánh hậu chung dòng, Lời lẽ ôn nhu, biết phục tòng, Diễm lệ, nhiều con, danh tiếng tốt, Vâng chìu mọi ý trẫm cầu mong.
Thiên nga:
82. Và nay quốc độ lạc an chăng, Thoát được bao đ àn áp bạo tàn, Chẳng chịu độc t ài, chuyên chế trị, Hưởng nền cai trị thật công bằng?
Quân vương:
83. Ngày nay vương quốc trẫm bình an Thoát được bao đ àn áp bạo tàn, Chẳng chịu độc t ài, chuyên chế trị, Hưởng nền cai trị thật công bằng.
Thiên nga:
84. Có xua ác đảng khỏi giang san Đưa các thiện nhân đến vẻ vang, Ng ài có tránh xa điều chánh trực, Hoặc theo đường lối bọn t à gian?
Quân vương:
85. Trẫm xua ác đảng khỏi giang san, Đưa các thiện nhân đến vẻ vang, Trẫm quyết tránh xa bao ác hạnh, V à theo đường lối bậc hiền lương.
Thiên nga:
86. Đại vương có thấy qu ãng đời m ình Đ ã vụt trôi qua thật quá nhanh, Hãy mãi say sưa vì vọng tưởng Nhìn thấy đời sau chẳng h ãi kinh?
Quân vương:
87. Thiên nga, trẫm thấy quãng đời m ình Đ ã vụt trôi qua thật quá nhanh, Nên vẫn hành trì Mười giới hạnh Chẳng hề kinh hãi cõi lai sinh. 88. Bố thí, ăn năn, trí chánh chân, Ôn nhu, hiền dịu, chuộng bình an, Từ bi, nhẫn nhục, đầy thân ái, Đạo đức không ô nhiễm bụi trần. 89. Những điều đức hạnh tận tâm can Vững chắc vươn lên, thấy rõ ràng, Từ đó nảy sinh nguồn hạnh phúc, Hân hoan cho trẫm quý muôn vàn. 90. Song dù Sư-mục chẳng hề hay Tội ác trẫm đâu có phạm n ày, Vẫn cứ vô tình tuôn xối xả Những lời thô lỗ, giọng nồng cay. 91. Ta chẳng biết chi các việc này, Chim kia đổ trách nhiệm lầm đây, Nói năng thô lỗ. N ên ta nghĩ: Trí tuệ yếu non đ ã hiển bày.
Khi nghe vậy, Sumukha suy nghĩ: "Vị vua đức hạnh n ày đang phẫn nộ v ì ta đ ã khiển trách ngài. Rồi ta sẽ xin ngài tha thứ’’. Rồi chim ấy ngâm kệ:
92. Thần đ ã lỗi lầm với Đại vương, Nói năng bừa b ãi thật đi ên cuồng, Song khi chim chúa này lâm nạn, Lòng của hạ thần tựa nát tan. 93. Như đất chứa đầy mọi chúng sinh, Như người cha đối với con m ình, Đại vương, xin rộng l òng tha thứ Lỗi chúng thần đây phạm đ ã đ ành.
Lúc ấy, vua liền nâng chim lên, ôm vào lòng và đặt chim tr ên một kim đôn, vua chấp nhận lời thú nhận lỗi lầm kia v à phán:
94. Trẫm cám ơn Sư-mục tướng quân, Khanh không hề dấu tính chơn thuần, Khanh làm nhụt chí ta cương quyết Trẫm thấy khanh cương trực, thật chân.
Cùng với những lời này, vua hết sức hoan hỷ về bài thuyết Pháp của Bậc Đại Sĩ v à lời lẽ cương trực của Sumukha, liền suy nghĩ: "Khi ta hoan hỷ, ta phải hành động để b ày tỏ mềm hoan hỷ của ta".
Rồi muốn nhường cảnh vinh hiển của mình cho đôi chim, vua phán:
95. Những gì châu báu với kim, ngân, Bảo vật, ngọc trai, hoặc ngọc hồng Ở tại Kà-si thành của trẫm, Trữ trong kho báu chốn hoàng cung. 96. Đồng, sắt, vỏ s ò, với ngọc trai, Bảo châu vô số, đám ng à voi Gỗ chiên- đ àn quý màu vàng ánh, Y phục cao sang, da hổ, nai, Tất cả kho tàng, quyền trị nước, Trẫm xin ban tặng hết cho ngài.
Cùng với những lời trên, vua làm vinh dự đôi chim bằng chiếc lọng trắng v ào trao vương quốc cho đôi chim.
Sau đó Bậc Đại Sĩ ngâm kệ đ àm đạo với vua:
97. Ngài muốn làm vinh dự chúng thần, Xin hãy vui lòng, tấu Đại quân, L àm Đạo sư cho thần học hỏi Mười điều vương pháp để an dân. 98. Rồi nếu chúng thần được Đại vương Chuẩn ph ê đồng ý, lạc an tr àn, Chúng thần xin phép ngài từ biệt, Và trở về th ăm viếng họ h àng.
Vua cho phép đôi chim ra đi, v à trong khi Bồ-tát còn đang thuyết Pháp, mặt trời đ ã mọc.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ giải thích vấn đề:
99. Kà-si chúa tể, suốt đ êm thâu, Chìm đắm trong tư tưởng thật sâu, Sau đó vua bằng l òng chấp thuận Theo lời vương điểu ấy y êu cầu.
*
Khi đ ã được vua cho phép từ gi ã, Bồ-tát lại nói:
- Xin Đại vương tỉnh giác v à trị nước chân chánh.
Và ngài an trú vua vào Ngũ giới.
Vua ban hai vị bắp rang với mật ong và nước đường trong dĩa v àng, khi hai vị đ ã dùng bữa ăn xong, vua cung kính dâng hai vị các hoa thơm v à nhiều lễ vật khác, rồi tự tay nâng Bồ-tát lên trong chiếc lồng vàng, và hoàng hậu Khemà nâng Sumukha lên. Khi mặt trời mới mọc vua và hoàng hậu mở cửa sổ và nói:
- Xin các Tôn giả hãy ra đi.
Rồi hai vị tháo lồng thả đôi chim ra.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ giải thích vấn đề:
100. Cũng vừa lúc ấy mặt trời lên, Ngày tỏa sáng dần mất bóng đ êm, Phút chốc đôi chim vừa khuất bóng Trong vùng sâu thẳm của thanh thiên.
*
Bậc Đại Sĩ l à một trong đôi chim bay ra khỏi lồng v àng đứng tr ên không và bảo:
- Xin Đại vương chớ lo âu, phải luôn tỉnh giáo v à an trú vào giáo Pháp của ta.
Ngài an ủi vua như vậy rồi cùng Sumukha bay về thẳng núi Citakùta. Chín mươi ngàn thiên nga kia cất cánh bay ra khỏi Kim Động tụ tập tr ên cao nguyên và khi thấy hai vị đến, chúng ra ngh ênh tiếp và hộ tống hai vị về nhà. Như vậy hai vị được cả đo àn quyến thuộc đưa về tận cao nguy ên Cittakùta.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ l àm sáng tỏ vấn đề:
101. Nhìn chủ tướng chim được vạn an Trở về từ c õi chết nhân gian., Đ àn chim vỗ cánh kêu ầm ĩ Chào đón chúa chim lại họp đ àn. 102. Vây quanh chúa tể chúng tôn sùng, Tin tưởng, giờ đây đám ngỗng hồng Kính cẩn nghi êng mình chào chúa tể, Hân hoan vì chúa được an thân.
*
Trong khi hộ tống chúa chim, bầy thiên nga hỏi ngài:
- Tâu Đại vương, l àm thế nào ngài thoát nạn?
Bậc Đại Sĩ kể cho chúng nghe ng ài thoát nạn nhờ Sumukha giúp đỡ, v à các hành động của vua Samyama c ùng triều thần.
Nghe vậy, bầy thiên nga hân hoan ca ngợi các vị:
- Vạn tuế Đại tướng Sumukha của chúng ta, vạn tuế Đại vương v à người bẫy chim. Cầu mong các vị được hạnh phúc v à thoát khỏi khổ đau.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ v à sáng tỏ vấn đề:
103. Ai có từ tâm ắt đạt th ành . Việc gì các vị ấy thi hành, Như Thiên nga trở về bằng hữu Lần nữa đôi chim được trọn l ành.
Chuyện này đ ã được kể đầy đủ trong số 533. Tiền thân Cullahamsa.
*
Đến đây, bậc Đạo Sư chấm dứt Pháp thoại và nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy, người bẫy chim là Channa (Xa-nặc), Hoàng hậu Khemà là Tỷ-kheo-ni Khemà (Thái Hòa), vua là Sàriputta (Xá-lợi-phất), đo àn tùy tùng của vua là các đệ tử Phật, Sumukha l à Ànanda (A-nan) và Chúa Thiên nga chính là Ta.
535. Chuyện thực phẩm Thiên giới (Tiền thân Sudhàbhojana)
Ta không phải kẻ bán buôn rong...,
Chuyện này được bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại Jetavana (Kỳ Vi ên) liên hệ đến một Tỷ-kheo có tâm bố thí h ào phóng.
Tương truyền vị ấy là một người thuộc dòng dõi quý tộc ở tại Sàvathi (Xá-vệ) sau khi nghe bậc Đạo Sư thuyết Pháp, đ ã xin quy y và sống đời tu h ành. Khi đ ã viên mãn mọi giới đức v à đầy đủ các đạo hạnh của người xuất gia có l òng tràn ngập thân ái đối với các bạn đồng tu, mỗi ng ày ba lần ông nhiệt tâm phụng sự Phật, Pháp, T ăng v à tỏ ra gương mẫu trong đức hạnh v à chuyên cần bố thí.
Muốn thành tựu giới bổn về tình thân ái, bất cứ vật gì vị ấy nhận được, ông đều bố thí cả, bao lâu c òn người nhận, cho đến khi ông chẳng c òn gì để ăn. Tính h ào phóng và tình thân ái của ông được đồn đại khắp Tăng chúng. V ì vậy một hôm, câu chuyện bắt đầu trong Chánh pháp đường, về một Tỷ-kheo có tâm h ào phóng và chuyện bố thí đến độ d ù ông chỉ nhận được nước uống vừa đủ trong l òng bàn tay, ông cũng đem cho các bạn đồng tu với tâm ly tham. Ý nguyện của vị ấy chẳng khác g ì một vị Bồ-tát.
Với thiên nhĩ thông, bậc Đạo Sư nghe được chuyện Tăng chúng đang nói, liền bước ra khỏi Hương ph òng của Ngài, đến gần v à hỏi T ăng chúng đang b àn luận gì. Khi các vị đáp chuyện như vầy như vầy Ng ài bảo:
- Này các Tỷ-kheo, ngày xưa, vị Tỷ-kheo này không hề hào phóng, trái lại ông keo kiệt đến độ không thể cho một giọt dầu tr ên ngọn cỏ. Vì vậy, ta đ ã giáo hóa ông khiến ông biết hy sinh bản thân và bằng cách tán thán các công đức bố thí, Ta đ ã an trú ông vào hạnh bố thí. Cho nên khi nhận được nước chỉ vừa đủ trong l òng bàn tay, ông cũng nói: "Ta không muốn uống một giọt nào mà không cho bớt đôi chút". Rồi ông nhận được một điều ước ta ban cho, v à kết quả việc bố thí kia là ông có tâm hào phóng và chuyên bố thí.
Cùng với những lời này, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, có một gia chủ giàu tiền đến tám trăm triệu đồng v à vua ban cho ông chức giữ Ngân khố. Được vua ban vinh hiển như thế v à được dân chúng vô c ùng trọng vọng, một hôm ông suy xét về cảnh thịnh vượng của đời m ình, liền suy nghĩ: "Cảnh vinh quang này ta đạt được không phải do lười biếng hay các ác nghiệp trong đời trước, m à là do thành tựu các công đức; vậy ta cần phải lo liệu cuộc sống tương lai thật vững chắc".
Vì thế ông đến yết kiến vua v à thưa;
- Tâu Đại vương, trong nh à hạ thần có kho báu trị giá tám tr ăm triệu đồng, xin Đại vương nhận lấy từ hạ thần.
Vua đáp:
Trẫm không cần tài sản của khanh, Trẫm đ ã có nhiều tài sản rồi, vậy cứ lấy của cải làm việc gì tùy thích.
Ông thưa:
- Tâu Đại vương, hạ thần có thể đem tiền để bố thí chăng?
Vua phán:
- Cứ làm như khanh muốn.
Ông liền ra lệnh xây sáu bố thí đường mỗi ngôi ở mỗi cổng th ành, một ngôi ở giữa thành phố, và một ngôi ở cổng nhà mình, rồi mỗi ngày đem chi ti êu sáu tr ăm ng àn đồng tiền, ông bắt đầu l àm đại sự bố thí; trong lúc sinh thời, ông chuy ên bố thí và dạy bảo các con:
- Hãy cố ch ăm lo để đừng gián đoạn truyền thống bố thí n ày của cha.
Đến lúc mạng chung, ông tái sinh l àm Sakka Thiên chủ ( Đế Thích).
Con trai ông cũng bố thí như vậy và tái sinh làm Canda (Nguyệt thần), con của Canda là Suriya (Nhật thần), con của Suriya là Màtali (Quản xa thần) và con của Màtali là Pañcasikha (Ngũ kế Nhạc thần).
Bấy giờ con trai của Pañcasikha, cháu thứ sáu trong dòng ấy, là người Thủ kho tên là Maccharikosiya (Triệu phú keo kiệt) vẫn còn cả tám tr ăm triệu nhưng ông nghĩ: "Tổ ti ên ta thật khờ dại. Các vị ấy đ ã ném bỏ tài sản do công khó góp nhặt, còn ta sẽ giữ gìn kho báu. Ta quyết không cho ma nào một xu nhỏ".
Ông liền phá hủy và đốt rụi các bố thí đường rồi trở th ành kẻ keo kiệt kinh niên. Vì thế đám h ành khất tụ tập trước cổng nhà ông chìa tay ra và kêu lớn:
- Thưa Đại quan thủ kho, xin ng ài đừng bỏ tục cổ truyền của tổ ti ên, mà ngài hãy bố thí.
Khi nghe vậy, dân chúng khiển trách ông, và bảo:
- Vị triệu phú biển lận này đ ã bỏ truyền thống gia đ ình.
Ông hổ thẹn, bảo canh giữ để ngăn đám h ành khất đứng ở cổng nh à ông, vì thế họ vô cùng khốn đốn cơ cực, không c òn để mắt v ào cổng ấy nữa. Từ đó, ông tiếp tục cuốn tiền lại để cất, chứ không hưởng thụ phần m ình cũng không chia với vợ con.
Ông sống bằng cơm gạo đỏ, dọn với tương chua, mặc áo quần vải thô, chỉ gồm to àn sợi lấy từ rễ và thân cây dâu, che đầu bằng d ù lá đi chiếc xe cũ ọp ẹp do đôi b ò tồi tàn kéo. Như vậy tất cả tiền bạc của con người độc ác n ày chẳng khác gì con chó nhặt được quả dừa.
Một hôm, khi sắp vào chầu vua, ông nghĩ nên đưa vị Phó thủ kho đi c ùng, và khi đến gần nh à vị kia, ông thấy vị Phó thủ kho đang ngồi giữa vợ con ăn cháo gạo với đường mịn, nấu với bơ tươi. Khi thấy Maccharikosiya, vị ấy đứng dậy bảo:
- Xin mời Đại quan thủ kho v ào ngồi trên tọa sàng này và ăn cháo gạo c ùng tiểu đệ.
Vừa trông thấy cháo gạo, miệng ông đ ã chảy nước miếng và muốn ăn ngay, nhưng ông chợt suy nghĩ: "Nếu ta ăn một chút cháo, th ì khi vị Phó thủ kho đến nh à, ta phải đáp lại l òng hiếu khách của y và như vậy là sẽ tiêu phí tiền của. Ta những muốn ăn đâu".
Sau đó bị n ài ép mãi, ông vẫn từ chối, bảo:
- Ta đ ã ăn rồi, ta no lắm.
Song suốt buổi vị Phó thủ kho ăn cháo, ông cứ ngồi nh ìn và chảy nước miếng, rồi khi xong bữa, ông cùng vị ấy vào cung.
Khi về nhà, lòng ông tràn ngập nỗi thèm ăn cháo gạo, nhưng lại nghĩ: "Nếu ta nói ta muốn ăn cháo gạo, nhiều người cũng sẽ muốn ăn theo v à sẽ tiêu phí một số gạo giã trắng. Thôi ta chẳng muốn nói một lời với ai".
Vì thế suốt đ êm ngày, ông cứ miên man suy nghĩ không gì khác ngoài cháo, nhưng vì sợ tốn tiền nên không nói với ai mà chỉ giữ cơn thèm trong lòng. Tuy thế không thể nào chịu đựng m ãi được chuyện ấy, ông dần trở n ên xanh xao, và do sợ tiêu phí của cải, ông không nói thèm ăn với ai v à dần dần ông kiệt sức phải nằm liệt giường.
Lúc ấy, vợ ông đến thăm, lấy tay vỗ v ào lưng ông và hỏi:
- Phu quân có bệnh ch ăng?
Ông kêu to:
- Bà bệnh ấy chứ, ta khỏe lắm mà!
- Phu quân xanh xao lắm. Phu quân có điều g ì lo nghĩ? Đức vua không đẹp ý hay các con đối xử bất kính với ch àng? Hay chàng thèm muốn vật gì ch ăng?
- Phải, ta đang th èm muốn.
- Phu quân nói cho thiếp biết với.
- Bà có giữ kín miệng được chăng?
- Được lắm, thiếp sẽ giữ kín mọi điều th èm muốn cần được giữ kín.
Nhưng dù vậy, do sợ tiêu phí của cải, ông không có can đảm nói với vợ, sau bị b à thúc giục mãi, ông đáp:
- Này bà, hôm kia ta thấy vị Phó thủ kho ăn cháo gạo nấu với đường mịn, bơ tươi v à mật ong, từ đấy, ta cứ th èm ăn loại cháo như vậy.
- Thiếp sẽ nấu cháo gạo cho cả dân thành phố Ba-la-nại ăn m à.
Lúc ấy, ông cảm thấy như bị ai đánh cái gậy v ào đầu, ông nổi cơn thịnh nộ với vợ v à nói:
- Ta dư biết bà giàu có lắm. Nếu ở nhà bà thì bà tha hồ nấu cháo và cho cả thành phố ăn.
- Được thiếp sẽ nấu vừa đủ cho dân cả một khu phố ăn thôi.
- Bà có liên hệ gì với chúng cơ chứ? Mặc chúng ăn thứ g ì chúng có.
- Thế thì thiếp sẽ nấu đủ cho bảy gia đ ình chọn rải rác đâu đó.
- Chúng là gì của bà vậy?
- Thế thì thiếp chỉ nấu cho gia nhân trong nhà này thôi.
- Chúng là gì của bà vậy?
- Thế thì thiếp chỉ nấu cho gia đ ình ta thôi.
- Chúng là gì của bà vậy?
- Thế thì thiếp chỉ nấu cho phu quân và thiếp thôi.
- Ôi kìa, bà là ai chớ? Trường hợp bà cũng không được đ âu.
- Vậy thiếp chỉ nấu cho một mình phu quân thôi.
- Xin bà đừng nấu cho ta. Nếu b à nấu trong nhà, nhiều người sẽ thấy. Chỉ cần cho ta một đấu gạo gi ã trắng, một góc tư lít sữa, một cân đường, một hũ mật ong, và một cái nồi, ta sẽ đi v ào rừng nấu cháo và ăn.
Bà vợ làm như vậy, bảo một gia nô đem tất cả những thứ ấy và ông ra lệnh gia nô đến đứng ở nơi kia. Sau đó bảo gia nô đi khuất, một m ình ông trùm kín người giả dạng đi đến đó v à cạnh bờ sông dưới một góc cây, ông bảo làm cái lò, đem củi v à nước cho ông rồi dặn kẻ gia nô:
- Đi ra đứng ở đường kia, nếu chú thấy ai, h ãy ra hiệu cho ta, và khi ta gọi, chú hãy đến.
Bảo tên gia nô đi xong, ông nhóm lửa v à nấu cháo. Lúc ấy Sakka Thiên chủ đang chi êm ngưỡng kinh thành tráng lệ của chư Thiên, rộng mười ngàn dặm, con đường lát v àng dài sáu mươi dặm, Tối thắng điện Vejayanta cao một ng àn dặm, Thiện pháp đường bao quát năm trăm dặm, chiếc ngai ho àng thạch rộng sáu mươi dặm, chiếc lọng trắng với cành hoa vàng chu vi n ăm dặm, v à bản thân ngài được một đo àn tùy tùng thật huy hoàng gồm hai mươi l ăm triệu Thi ên nữ.
Vừa chiêm ngưỡng mọi cảnh vinh quang này, ngài vừa suy nghĩ: "Ta đ ã có khả n ăng l àm gì để đạt đến vinh quang n ày?". Rồi với thiên nhãn, ngài thấy hạnh bố thí mà ngài đ ã tạo nên trong thời làm quan Đại thủ kho tại Ba-la-nại, v à ngài suy nghĩ: "Thế nay các con cháu ta tái sinh cõi nào?", vừa xem xét vấn đề ấy ng ài vừa nói: "Con trai Canda của ta tái sinh làm Thiên tử, và con trai nó là Suriya". Khi để ý đến việc tái sinh của tất cả con cháu, ng ài kêu lên: "Thế số phận con trai của Pañcasikha thì sao? Quan sát kỹ, ngài thấy truyền thống dòng dõi đ ã bị phá hủy, và ý tưởng này chợt đến với ng ài: "Tên hà tiện độc ác n ày chẳng hưởng tài sản cũng chẳng cho ai cả. Truyền thống gia tộc đ ã bị nó phá hoại. Khi chết, nó sẽ tái sinh địa ngục. Bằng cách thuyết giáo cho nó v à tái lập truyền thống gia đ ình, ta sẽ chỉ cho nó con đường tái sinh thi ên giới".
Vì thế ngài triệu tập Canda và các vị kia rồi bảo:
- Này, ta sẽ giáng trần: truyền thống gia đ ình ta đ ã bị Maccharikosiya phá hủy, các bố thí đường đ ã bị đốt sạch v à nó chẳng hưởng thụ tài sản cũng chẳng cho ai cả, song giờ đây nó đang th èm ăn cháo gạo v à suy nghĩ: "Nếu nấu cháo trong nhà, thì cháo phải được đem cho người khác", n ên nó vào rừng và nấu cháo một mình. Chúng ta sẽ đi giáo hóa nó v à dạy nó hiểu kết quả của bố thí. Song nếu tất cả chúng ta đồng thời xin nó cho cháo gạo, nó sẽ ng ã l ăn đ ùng ra chết tại chỗ. Vậy ta sẽ đi trước v à khi ta đ ã xin nó cháo rồi ngồi xuống, các khanh hãy đến, lần lượt từng vị giả dạng B à-la-môn xin cháo.
Nói vậy xong, chính ngài giả dạng một Bà-la-môn đến gần người triệu phú v à kêu to:
- Này, đường n ào đi đến Ba-la-nại?
Maccharikosiya đáp:
- Lão có mất trí không đấy? L ão không biết cả con đường đến Ba-la-nại ư? Tại sao l ão đến đường n ày? Hãy từ đây m à đi ra.
Sakka giả vờ không nghe ông nói, cứ tiến gần ông, hỏi ông nói gì. Thế rồi ông hét lên:
- Này, Bà-la-môn điếc đặc kia, ta bảo tại sao l ão đến đường n ày? Hãy đi ra đường kia.
Sakka đáp lại:
- Tại sao ông hét to thế? Ta thấy đây có khói v à lửa, cháo gạo lại đang sôi, chắc l à dịp thiết đ ãi các Bà-la-môn đấy m à. Khi các Bà-la-môn được mời ăn, ta cũng muốn hưởng đôi chút. Tại sao ông xua ta đi?
- Ở đây chẳng đ ãi tiệc Bà-la-môn nào cả. Lão hãy cút đi.
- Thế tại sao ông nổi giận như vậy? Khi ông dùng bữa, tôi muốn xin một chút.
Ông đáp:
- Ta chẳng muốn cho lão dù chỉ một miếng cháo. Món ăn hiếm hoi n ày chỉ vừa đủ nuôi sống ta thôi, v à đây cũng do ta đi xin. L ão hãy đi kiếm đồ ăn nơi khác.
Ông nói vậy là muốn nhắc đến việc đ ã xin vợ phần gạo ấy. Và ông ngâm kệ:
1. Ta không phải kẻ bán buôn rong, Không của cho vay hoặc biếu không, Chút cháo thí này rất khó kiếm, Chẳng vừa dọn đủ cả ta, ông!
Nghe vậy, Sakka Thiên chủ đáp:
- Ta cũng sẽ lấy giọng ngọt như mật ngâm kệ đáp lễ ông đây, h ãy lắng nghe ta.
Rồi ông cố ng ăn ng ài và bảo:
- Ta không muốn nghe kệ của lão.
Thiên chủ Sakka vẫn ngâm đôi vần kệ:
2. Của ít cũng nên bố thí mà, Của vừa cũng phải lấy cho vừa, Của nhiều càng phải cho nhiều nữa, Không thí, vấn đề chẳng đặt ra. 3. Ko-si, ta nói một đôi lời: Bố thí của ông một chút thôi, Ông chớ một m ình ăn thực phẩm, Ăn ri êng chẳng hưởng lạc cao vời, Chính nhờ bố thí, ông th ăng tiến Đạo lộ thanh cao đến c õi trời.
Khi nghe lời ngài, ông đáp:
- Này Bà-la-môn, đây l à một lời nói nhân từ của lão, thôi để khi cháo chín, l ão sẽ được ăn một chút. H ãy ngồi xuống đây.
Sakka ngồi xuống một bên. Khi ngài vừa ngồi, Canda theo cách này đến gần v à bắt đầu nói chuyện như thế, dù Maccharikosiya cố ng ăn chặn, vị n ày vẫn ngâm đôi vần kệ:
4. Nào có ích chi lễ tế thần, Hoài công ước vọng ở trong tâm, Nếu ông ăn cháo v à không muốn Cho thực khách đây một ít phần. 5. Ko-si, ta nói một đôi lời: Bố thí của ông một chút thôi, Ông chớ một m ình ăn thực phẩm Ăn ri êng chẳng hưởng lạc cao vời, Chính nhờ bố thí, ông th ăng tiến Đạo lộ thanh cao đến c õi trời.
Khi nghe lời vị ấy, kẻ hà tiện miễn cưỡng bảo:
- Thôi được, h ãy ngồi xuống, ông cũng sẽ được một ít cháo.
Vị ấy liền đến ngồi cạnh Sakka. Sau đó Suriya cũng theo cách trên đến gần v à bắt đầu nói chuyện theo cách trên, mặc dù kẻ hà tiện cố ng ăn chặn, vị ấy vẫn ngâm đôi vần kệ:
6. Chân thật ông dâng lễ tế thần, Chẳng hoài công ước nguyện trong tâm, Nếu ông không một mình ăn cháo, M à biếu khách đây một ít phần. 7. Ko-si, ta nói một đôi lời: Bố thí của ông một chút thôi, Ông chớ một m ình ăn thực phẩm, Ăn ri êng chẳng hưởng lạc cao vời, Chính nhờ bố thí, ông th ăng tiến Đạo lộ thanh cao đến c õi trời.
Nghe lời này, kẻ hà tiện lại càng thêm miễn cưỡng bảo:
- Thôi được, cứ ngồi xuống v à lão sẽ được một ít cháo.
Suriya đến ngồi cạnh Canda. Sau đó M àtali theo cách trên cũng đến gần v à bắt đầu nói chuyện, mặc d ù kẻ hà tiện cố ng ăn chặn, vị n ày vẫn ngâm hai vần kệ:
8. Hồ, lạch Ga-yà chảy xiết dòng, Ai đem dâng lễ cúng chư thần, Đến Tim-ba hoặc Do-na ấy Sóng nước trôi nhanh lớp chập ch ùng, Hưởng kết quả do dâng lễ vật, Đạt th ành ước nguyện ở trong lòng, Nếu không ngồi một mình ăn cháo, M à biếu khách đây một ít phần. 9. Ko-si, ta nói một đôi lời: Bố thí của ông một chút thôi, Ông chớ một m ình ăn thực phẩm, Ăn ri êng chẳng hưởng lạc cao vời, Chính nhờ bố thí, ông th ăng tiến Đạo lộ thanh cao đến c õi trời.
Nghe lời này, ông bối rối như thể có đỉnh núi đ è nặng lên, ông miễn cưỡng nói:
- Thôi được, cứ ngồi xuống, l ão sẽ được một ít.
Màtali đến ngồi cạnh Suriya. Sau đó Pañcasikha cũng theo cách trên đến gần v à bắt đầu nói chuyện, dù kẻ hà tiện cố ng ăn chặn, vị n ày vẫn ngâm đôi vần kệ:
10. Như cá tham ăn vội nuốt mau Miếng mồi buộc ở chiếc cần câu, Người ngồi ri êng biệt và ăn cháo Khi có khách n ày kế cận sao? 11. Ko-si, ta nói một đôi lời: Bố thí của ông một chút thôi, Ông chớ một m ình ăn thực phẩm, Ăn ri êng chẳng hưởng lạc cao vời, Chính nhờ bố thí, ông th ăng tiến Đạo lộ thanh cao đến c õi trời.
Maccharikosiya nghe vậy, gắng gượng một cách mệt nhọc, rên to lên:
- Thôi được, cứ ngồi xuống, l ão sẽ được ăn một chút.
Pañcasikha liền đến ngồi cạnh M àtali. Khi n ăm vị Bà-la-môn đều an tọa, cháo cũng đ ã chín. Kosiya nhấc cháo ra khỏi lò, bảo các vị Bà-la-môn đem lá tới. Vẫn ngồi tại chỗ, năm vị vươn tay ra đưa các ngọn lá cây leo hái từ Tuyết Sơn. Kosiya thấy vậy bảo:
- Ta không thể cho cháo vào các ngọn lá to như thế của các vị đâu. H ãy lấy lá cây keo hay các cây tương tự.
Các vị đi lượm lá ấy, mỗi lá lớn bằng cái mộc của chiến sĩ. Ông lấy muỗng múc một ít cháo cho tất cả các vị. Vào lúc ông đ ã múc xong cho vị cuối cùng, vẫn còn nhiều cháo trong nồi. Sau khi mời các vị Bà-la-môn xong, chính ông ngồi xuống cầm cái nồi.
Ngay lúc ấy, Pañcasikha đứng l ên, biến hình thành con chó đến đứng trước các vị v à tiểu tiện. Mỗi vị Bà-la-môn đều lấy một ngọn lá che cháo. Một giọt nước tiểu của chó rơi vào lưng bàn tay của Kosiya. Các vị Bà-la-môn lấy nước trong bình ra trộn với cháo giả vờ ăn. Kosiya nói:
- Cho ta một chút nước, rửa tay xong ta mới ăn cháo.
Các vị bảo:
- Hãy đi kiếm nước cho m ình và rửa tay.
- Ta đ ã cho các vị cháo thì nay hãy cho ta một chút nước.
- Chúng ta không làm việc trao đổi thí vật.
- Thế thì giữ dùm ta nồi cháo, khi rửa tay xong, ta sẽ trở về.
Và ông xuống bờ sông. Lúc ấy con chó tiểu tiện đầy nồi. Kosiya thấy chó tiểu tiện liền lấy gậy lớn v à đến gần hăm dọa nó. Bấy giờ con chó biến th ành con ngựa thuần chủng và trong khi nó đuổi theo ông, nó biến hóa đủ m àu. Khi thì chó màu đen, khi th ì trắng, khi thì vàng, khi thì lốm đốm. Dáng nó khi th ì cao, khi thì thấp. Nó hiện ra đủ h ình dáng khác nhau như vậy và rượt theo Kosiya khiến ông sợ chết khiếp, chạy đến gần các B à-la-môn trong khi các vị bay lên đứng trên không. Khi thấy thần lực các vị, ông ngâm kệ:
12. Các ngài Thánh giả Bà-la-môn Đang đứng tr ên cao giữa cõi không, Con chó các ngài sao lạ vậy Thay hình đổi dạng cả ng àn lần, Dầu là chỉ một mình con chó, Các vị là ai, nói thật chân. Nghe vậy, Sakka Thiên chủ đáp: 13. K ìa! Can-da với Su-ri-ya, Và nọ, Mà-ta-li quản xa, Thiên chủ là ta đây, Đế Thích Ở tr ên Thiên giới Ba-mươi ba, Pañ-ca-si chính là Thần nhạc Ngũ Kế đuổi ngươi chạy đấy m à.
*
Và Sakka ngâm kệ ca ngợi danh vọng của Pañcasikha:
14. Trống to, trống nhỏ thảy vang lừng Đánh thức thần dây khỏi giấc nồng, Khi tỉnh, nhạc hân hoan trổi khúc L àm tim chàng rộn rã vui mừng.
Nghe lời ngài, Kosiya hỏi:
- Nhờ hành động g ì, con người đạt vinh quang thiên giới đến như vậy?
- Những người không thực hành bố thí, những kẻ tạo ác nghiệp và keo kiệt không thể lên thiên giới, mà tái sinh địa ngục.
Sakka ngâm kệ nêu rõ điều n ày:
15. Sinh ra keo kiệt, kẻ xan tham Khinh bỉ Bà-la-môn, đạo nhân, Khi chết, bỏ thân ph àm tục ấy, Phải vào địa ngục trú thân t àn.
Và ngài ngâm các kệ sau để chứng tỏ những người hiền trí theo chánh hạnh sẽ đạt thi ên giới:
16. Kiên trì chánh hạnh, đạt thi ên đ àng, Bố thí, điền thân, tránh lỗi lầm, Khi chết, bỏ thân ph àm tục ấy, Sẽ lên thiên giới sống bình an.
Sau đó, Sakka lại bảo:
- Này Kosiya, chúng ta không đến đây để xin ăn cháo đây nhưng v ì lòng thương xót ngươi mà chúng ta đến.
Và ngài ngâm kệ nêu rõ việc ấy cho y:
17. Dù trong đời trước có thân t ình, Ngươi hận sân, keo kiệt, ác hành, Nên chính vì ngươi, ta giáng thế, Ng ăn ngươi khỏi địa ngục lai sinh.
Nghe vậy, Kosiya suy nghĩ: "Các ngài nói các ngài có thiện chí đối với ta, muốn ta khỏi đọa đ ày địa ngục v à an trú vào Thiên giới, và ông vô cùng hoan hỷ ngâm kệ:
18. Như vầy ngài thuyết giảng cho ta, Chắc chắn ngài mong lợi lạc mà, Ta sẽ theo lời ngài khuyến giáo, Như ta hiểu được ý sâu xa. 19. Từ nay ta bỏ thói xan tham, Ki êng kỵ việc hung ác bạo tàn, Bố thí gia tài, cho tất cả, Dù là chén nước cũng chia phần. 20. Sak-ka, bố thí mãi như vầy, Tài sản nhà ta giảm sút ngay, Ta quyết sẽ tu hành xuất thế, Tham dục loại nào cũng chạy bay .
Sau khi cảm hóa Kosiya, Sakka Thiên chủ lại dạy ông các quả báo của hạnh bố thí, làm cho ông biết hy sinh quên mình, và nhờ thuyết Pháp, ngài đ ã an trú ông vào Ngũ giới xong, liền cùng các vị Thiên hầu cận trở về trời.
Phần Kosiya cũng vào thành Ba-la-nại, sau khi xin phép vua, ông bảo gia nhân đi lấy tất cả nồi chảo mà họ có được, đổ đầy v àng bạc từ kho báu đem cho hành khất. Bấy giở, ông khởi hành từ vùng Tuyết Sơn bên phía hữu, và ở một nơi giữa sông Hằng và một hồ thiên nhiên, ông xây một am thất bằng lá, trở thành ẩn sĩ khổ hạnh sống toàn củ quả rừng. Vị ẩn sĩ sống ở đó một thời gian cho đến tuổi gi à.
Thời ấy Sakka Thiên chủ có bốn ái nữ: Hy Vọng, Tín Thành, Vinh Quang và Danh Dự. Các nàng đem theo nhiều tr àng hoa trời thơm ngát đến hồ Anotatta, chơi đ ùa trong nước, và sau khi đ ã thỏa thích ở đó, lại an tọa tr ên đỉnh Manosil à.
Ngay lúc ấy, ẩn sĩ Bà-la-môn Nàrada lên cung đ ình cõi trời Ba mươi ba nghỉ ngơi tránh cơn nắng gắt ban ngày, và dựng một chỗ an trú ngay dưới khóm cây Cittakùta trong Thiên lạc Viên Nandana. Cầm một đóa san hô trong tay để l àm lọng che nắng, ông về Kim Động, nơi ông an trú tr ên đỉnh Manosil à. Các Thiên nữ thấy đóa hoa trong tay ông liền xin ông cho hoa.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ l àm sáng tỏ vấn đề:
21. Trên đỉnh Hương Sơn, chúa núi rừng, Sak-ka ái nữ, các ti ên nương Hân hoan nhìn Thánh nhân lừng lẫy, Bước đến cầm hoa đẹp dị thường. 22. Cành hoa trong sáng ngát mùi hương Xứng với Thiên tiên, các Thánh thần, Chẳng quỷ ma hay người thế tục Dám đ òi hoa quý giá vô ngần. 23. Tín Thành, Hy Vọng, với Vinh Quang, Danh Dự, màu da sáng tựa vàng Giữa các tiên nương là tuyệt sắc, Đứng l ên nói với Bà-la-môn: 24. Cho đóa san hô, hỡi Thánh nhân, Nếu cho hoa ấy thuộc oai thần, Chúng con kính lễ như Thi ên chủ, Ngài sẽ được ban mọi phước phần. 25. Na-ra-da thấy chúng mong cầu Liền khởi ngay tranh chấp lớn lao: - Ta chẳng cần hoa, ai muốn được, Phải l à vương hậu các nàng bầu.
Bốn Thiên nữ nghe vậy liền ngâm kệ:
26. Nà-ra-da, tối thượng là ngài, Ngài muốn ban ai ước nguyện này, Ai được ng ài ban quà tặng ấy Sẽ là tiên đẹp nhất trong bầy!
Nàrada nghe vậy liền bảo:
27. Tiên nương, lời ấy chẳng như chân, Tu hành nào dấy cuộc tranh phân? Hãy tìm lập tức ngài Tiên chúa, Sẽ biết ai dung sắc tuyệt trần .
*
Lúc ấy bậc Đạo Sư ngâm kệ n ày:
28. Kiêu ngạo về sắc đẹp, phát cuồng, Nóng l òng vì bậc trí tinh khôn, Chúng đi đến Sak-ka Thi ên chủ Để biết ai xinh đẹp nhất đ àn.
*
Các nàng vừa đứng, vừa hỏi câu n ày:
29. Bầy tiên h ăm hở vội đi t ìm, Đế Thích đầy tôn trọng, phán liền: "Tất cả ti ên nương đều tuyệt sắc Vậy ai phá hoại sự b ình yên?" . Nghe ngài hỏi vậy, các nàng đáp: 30. N à-ra-da, bậc đại hiền nhân Nhẹ bước du h ành giữa cõi không, Chân lý uyên thâm, chuyên chánh hạnh, Như vấy, đ ã nói ở Hương Sơn: "Hãy tìm Thiên chủ Sak-ka ấy Để biết ai ưu, liệt giữa đ àn".
Nghe thế, Sakka Thiên chủ suy nghĩ: "Nếu ta bảo ai trong bốn ái nữ của ta đức hạnh vượt l ên các nàng kia, chúng sẽ nổi giận. Trường hợp này ta không thể quyết định được. Ta sẽ đưa chúng đến Kosiya, vị ẩn sĩ tại Tuyết Sơn, vị ấy phải quyết định vấn đề n ày cho chúng". Vì thế ngài bảo:
- Ta không thể quyết định trường hợp các con được. Tr ên vùng Tuyết Sơn có vị ẩn sĩ tên là Kosiya. Ta muốn gửi một chén tiên thực tặng vị ấy. Vị ấy chẳng ăn g ì mà không chia cho kẻ khác, và trong lúc cho, vị ấy biểu lộ sự xét đoán bằng cách tặng kẻ n ào đức hạnh. Ai trong các con nhận được thực phẩm từ tay vị kia là nàng tiên tối thắng giữa cả đ àn.
Vừa nói vậy, ngài vừa ngâm kệ:
31. Hiền nhân trú ở khóm rừng xa, Chẳng đụng thức ăn chưa phát ra; Vừa tặng qu à, Ko-si xét đoán Ai l à đệ nhất đám ti ên nga.
Rồi ngài triệu tập Màtali và bảo vị ấy đi đến ẩn sĩ kia; khi truyền lệnh, ng ài ngâm kệ sau:
32. Trên sườn núi Tuyết, chỗ Hằng Hà Xuôi phía Nam, hiền Thánh ẩn cư; Tiên thực, Mà-ta-li, đến tặng, Ng ài đang thiếu ẩm thực đây mà .
*
Lúc ấy bậc Đạo Sư ngâm kệ:
33. Mà-ta-li nhận lệnh trời ban, Lái chiếc thiên xa ngựa cả ngàn, Thoắt đứng dấu m ình am ẩn sĩ, Và dâng tiên thực tặng hiền nhân.
*
Kosiya nhận lấy và ngay khi đang đứng, ông ngâm hai vần kệ:
34. Khi lửa tế đ àn, lão đốt l ên Ngợi ca vầng nhật đuổi đ êm đen, Sak-ka ngự trị tr ên Thiên giới, Ai khác? - trao tay thực phẩm tiên. 35. Như hạt ngọc trai, trắng tuyệt trần, Ngát hương, thanh tịnh, đẹp vô ngần, Mắt ta từ trước chưa hề thấy Ai đặt v ào tay thực phẩm thần?
Màtali liền đáp :
36. Ta đến, Sak-ka hạ lệnh truyền, Vội v àng mang thực phẩm thần tiên, Cao lương thượng vị, đừng lo sợ, Xin h ãy ăn đi, hỡi bậc hiền, Ng ài thấy Mà-ta-li trước mắt, Quản xa thần ở cõi chư Thiên. 37. Do thọ dụng đây thực phẩm thần, Mười hai ác nghiệp thảy ti êu dần: Đói cơm, khát nước, buồn, đau, mệt, Nóng, lạnh, đấu tranh, với hận sân, Lười biếng, nộ cuồng, mồm phỉ báng, Mời ng ài tiên thực, chớ phân vân.
Nghe vậy, Kosiya ngâm kệ giải thích rằng ông đ ã có lời phát nguyện xưa:
38a. Ăn một m ình, ta thấy thật sai, Nên xưa ta đ ã nguyện thành lời: Ta không đụng đến thức ăn nữa, Nếu chẳng cho ai bớt một v ài. b. Ăn một m ình không được tán th ành Bởi người có trí tuệ cao minh, Ai không san sẻ cho người khác, Hạnh phúc làm sao đến với m ình?
Khi Màtali hỏi vị này:
- Thưa Thánh giả, ngài thấy điều g ì sai trái khi ăn mà chẳng chia phần cho kẻ khác, nên ngài phát nguyện này?
Ông đáp:
39. Những người nào phạm tội tà dâm, Hoặc bọn người tàn sát nữ nhân, Phỉ báng, rủa nguyền bao Thánh giả, Hoặc người phản bội các thân bằng, Hoặc tồi tệ nhất: người keo kiệt, Ta chẳng hề mong xếp hạng chung; Nước uống cho dù là một giọt, Ta không đụng nếu chẳng chia phần. 40. Vật ta đem tặng m ãi tuôn tràn Cùng khắp nam nhân lẫn nữ nhân, Bậc trí sẽ tuyên dương những kẻ Phát ban của cải để thi ân; Những ai h ào phóng trên trần giới Và tránh xan tham đủ mọi đ àng Sẽ được mọi người đồng tán thán, Quý y êu như thiện hữu, chân nhân.
Nghe nói vậy, Màtali xuất hiện nguyên hình trước vị này! Vừa lúc ấy, bốn Thiên nữ đứng ở bốn phương: Vinh Quang ở phía Đông, Hy Vọng ở phía Nam, Tín Thành ở phía Tây, và Danh Vọng ở phía Bắc.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ l àm sáng tỏ vấn đề:
41. Cả bốn tiên nương sắc tựa vàng, Tên là Hy Vọng với Vinh Quang, Tín Thành, Danh Dự, tuân Thiên mệnh, Bước đến Ko-si-ya ẩn am. 42. Thi ên nữ hình dung rực lửa hồng, Mỗi phương đến đứng một cô n àng, Trước Ma-ta quản xa Thiên tử, Bậc trí vui mừng vội hỏi han: 43. "Là ai, Thiên nữ tựa sao mai, Chiếu sáng trời Đông khắp mọi nơi, M ình khoác xiêm y vàng chói lọi, Tên gì cho biết, gái nhà trời?" 44. "Vinh Quang, bạn quý của người đời, Ta bảo vệ người trong sạch thôi, Ta đến đây mong cầu thực phẩm, Xin l àm toại nguyện, Thánh nhân ôi! 45. Ta ban hạnh phúc đến người n ào Ta muốn tâm cầu thỏa ước ao, Tên gọi Vinh Quang, thưa Thánh giả, Xin đem ti ên thực tặng ta nào!
Nghe vầy, Kosiya đáp:
46. Những người tài, đức, lại tinh thông, Xuất chúng mọi điều trí ước mong, Song bởi thiếu n àng nên thất bại; Việc này, ta trách ác phần nàng. 47. Kẻ kia tham dục lại chây lười, Dị tướng, con dòng hạ liệt thôi, Song được n àng ban cho phú quý, Khiến người quý tộc hóa nô tài. 48. Ta thấy nàng hư dối, độn đần, Cuốn lôi bọn ngốc, thật liều thân, Lại c òn đánh bại bao người trí; Không có quyền đ òi nước, tọa sàng, Nói gì thực phẩm thần tiên ấy, Đi gấp, ta không chút thích n àng!
Thế là nàng tiên liền biến mất ngay lập tức. Sau đó ông nói chuyện với n àng Hy Vọng:
49. Nàng là ai, hỡi tiên nga, Trong sáng, hàm r ăng trắng mượt m à, Sáng chói vòng vàng, khuyên lấp lánh, Xiêm y rực rỡ gợn thu ba, Đầu c ài thoa đỏ như m àu lửa Được đốt bằng ch ùm cỏ Ku-sa? 50. Trông nàng như một chị nai rừng Chạm nhẹ mũi tên của thợ s ăn, Thơ thẩn mắt nh ìn quanh hốt hoảng Khác nào con vật bị kinh hoàng; Hỡi nàng Thiên nữ mắt hiền dịu, Nàng có bạn nào ở đấy chăng, V ì thế lạc đường không sợ h ãi Một mình phiêu bạt giữa rừng hoang?
Nàng đáp vần kệ n ày:
51. Ta chẳng có đây bạn chí thân, Từ Sak-ka điện, chốn Thi ên cung, Ma-sak-ka ấy là tên gọi, Ta chính là Thiên nữ giáng trần, Hy Vọng giờ đây đang xuất hiện Để mong cầu thực phẩm thi ên thần, Xin ngài nghe kỹ, thưa Tôn giả, Và tặng ta điều vẫn ước mong.
Nghe vậy, Kosiya bảo:
- Người đời vẫn nói với ta rằng bất cứ ai l àm nàng hài lòng, nàng liền ban hy vọng cho kẻ ấy bằng cách hoàn thành kết quả của niềm hy vọng, còn ai không làm nàng vui lòng, thì nàng không ban cho kẻ ấy. Như thế, thành công không đến với kẻ ấy l à do nàng, mà nàng lại tạo ra thất bại kia.
Để chứng minh điều n ày, ông ngâm kệ:
52. Lái buôn hy vọng kiếm kho tàng Ra biển lên tàu vượt đại dương, Đôi lúc ch ìm tàu đâu thấy nữa, Mất v àng, thoát chết cũng kêu than. 53. Nông gia cày ruộng vẫn cầu mong Gieo hạt, cố làm hết khả n ăng, Song gặp tai ương hay hạn hán, Mất m ùa gặt hái để b ù công. 54. Kẻ thích giàu, hy vọng hết lòng Vì vua chiến đấu thật anh h ùng, Ngã nhào, địch siết v òng vây hãm, Chiến đấu v ì vua phải thiệt thân. 55. Để v àng, kho lúa tặng bà con, Vì lạc thiên đường vẫn ước mong, Chịu đựng lâu ng ày bao khổ hạnh, Do tà pháp dẫn đến đau buồn. 56. Lừa dối thế nhân, ước h ão huyền, Hãy lìa hư vọng thỏa tâm nguyền, Không quyền đ òi hỏi ngay sàng tọa Bình nước, nói gì thực phẩm tiên! Ta chẳng thích nàng, Hy Vọng hỡi, Biến đi, n àng hãy biến đi liền!
Nàng Thiên nữ ấy cũng bị khước từ, liền biến mất dạng ngay lập tức. Sau đó vị ấy lại ngâm kệ tr ò chuyện với Thiên nữ Tín Thành:
57. Lừng danh Thiên nữ sắc huy hoàng Đứng phía trời Tây tướng bất trường, M ình khoát xiêm y vàng rực rỡ, Tên gì cho biết, hỡi tiên nương.
Nàng liền ngâm kệ đáp:
58. Tín Thành, bạn quý của người đời, Ta bảo vệ người trong sạch thôi, Ta đến đây cầu mong thực phẩm, Xin l àm toại nguyện, Thánh nhân ôi!
Kosiya bảo:
- Những người nào vì tin tưởng từ lời này đến lời khác vẫn hay làm các chuyện nọ chuyện kia, thường làm những việc không nên làm hơn là những việc nên làm, và thực sự tất cả đều do n àng.
Và vị ấy ngâm các vần kệ:
59. Bố thí rộng tay bởi tín tâm, Cử kiêng, điều phục, hộ ph òng thân; Vì nàng, có lúc mất ân phước, Trộm cắp, vu oan, lại vọng ngôn. 60. Với vợ hiền, cao quý, thục đoan, Đ àn ông thường thận trọng, khôn ngoan, Dục tình chế ngự đầy chu đáo, Song đặt l òng tin ả bán hương! 61. Vì nàng, lan rộng thói tà dâm, Nàng bỏ thiện lương, sống lỗi lầm. Không có quyền đ òi bình nước uống, Cũng chẳng đ òi đâu được tọa s àng, Nói gì thực phẩm từ thiên giới; Đi gấp, ta không chút thích n àng!
Nàng Thiên nữ cũng biến ngay lập tức. Nhưng Kosiya lại trò chuyện với nàng Danh Dự khi nàng đang đứng ở phương Bắc, v à ngâm hai vần kệ:
62. Bình minh viền rực bóng đ êm tàn, Như chóa mắt ta, sắc đẹp n àng, Thiên nữ hình dung, ôi tuyệt mỹ, Nàng là ai, hãy nói danh xưng. 63. Như một cây mềm, dễ mọc ngang Trên vùng đất lửa đốt lan tr àn, Lá hồng theo gió mùa hè rụng, Sao cứ nhìn ta dáng thẹn thuồng Như thể có điều g ì muốn nói, Nhưng yên lặng đứng đó, cô n àng?
Lúc ấy nàng ngâm kệ đáp:
64. Danh Dự là ta, bạn chí thân Vẫn thường giúp đỡ các chân nhân, Đến đây ta muốn xin ti ên thực, Song ước mơ nào dám nào n ăng, Cầu khẩn đáng l à điều hổ thẹn, Nhất l à đối với gái hồng quần.
Nghe vầy, vị ẩn sĩ ngâm hai vần kệ:
65. Nàng chẳng cần đ òi hỏi khẩn van, Nhận sao cho hợp với quyền nàng, Ta ban điều dám đâu mơ tưởng, H ãy nhận món này thỏa ước mong. 66. Hôm nay dùng tiệc ở trong am, Xin hạ cố, Thiên nữ sắc vàng, Ta thiết đ ãi nàng bao thượng vị, Món ăn thi ên giới cũng chia nàng.
*
Những vần kệ sau đây phát xuất từ Trí tuệ Tối thắng của đức Phật:
67. Danh Dự, tiên nương thật vẻ vang, Được mời l àm khách ở trong am, Ko-si-ya có nhiều hoa quả, Khe suối quanh n ăm chảy ngập tr àn, Lại thấy từng đo àn hiền Thánh giả Vẫn thường lui tới các thôn làng. 68. Rập rạp khóm cây đang trổ hoa, Pi-yal, xo ài, mít cạnh Ju-da, Sà-la, đ ào đỏ tươi tô điểm, H ùng vĩ, sung, bàng đổ bóng xa. 69. Theo gió, nhiều hoa tỏa ngát hương, Đậu k ê, gạo đủ thứ, k ìa trông, Nơi nơi buồng chuối trồng phong phú, Tre, sậy chen nhau rập nhất vùng. 70. Ở về phía Bắc, được viền quanh Bờ bến phẳng phiu, mát dịu l ành, Khe suối trong ngần tuôn chảy mãi, Hãy nhìn hồ nước dáng uy linh. 71. Đ àn cá tung t ăng hạnh phúc tr àn Tự do nô giỡn thật bình an, Giữa bao thực phẩm đầy phong phú Hưởng thọ sao cho thỏa ước mong. 72. Bầy chim hạnh phúc chốn an b ình Thưởng thức cao lương thật thỏa tình, Thiên nga, ưng, hạc, chim công quý, Cu gáy, ngỗng hồng với trĩ xanh. 73. Cọp, beo, sư tử đến từng bầy L àm dịu ngay cơn khát chốn này, Gấu, chó, sói rừng thường lảng vảng, Đấy l à nguồn nước uống tràn đầy. 74. Trâu nghé, tây ngưu cũng đến đây, Linh dương, nai đỏ, lợn từng bầy, Hươu rừng rất lớn v à nhiều loại Xuất hiện mèo tai thỏ lắm thay! 75. Các sườn núi rực rỡ muôn hoa Tươi thắm bao màu sắc điểm tô, Vang dội tiếng chim muông ríu rít, Lượn bay khắp cả chốn rừng thưa.
Đức Thế Tôn đ ã ca tụng vùng thảo am của Kosiya như vậy. Bây giờ để mi êu tả cung cách Thiên nữ Danh Dự đi v ào am, Ngài ngâm kệ:
76. Nàng Thiên nữ dựa một cây cành Bao phủ quanh bằng tán lá xanh, Như chớp từ vầng mây sấm sét Sáng lòe lên giữa cảnh am tranh. 77. Tọa sàng thanh lịch soạn cho nàng Ở phía trên đầu, nệm thật sang Bằng cỏ Ku-sa thơm sực nức, Phủ ngo ài da quý của linh dương. 78. Vị Thánh ẩn cư lại bảo ban Cùng nàng Danh Dự, vị tiên nương: "Tọa sàng đ ã soạn cho nàng hưởng, Xin hãy an tâm nhận tọa sàng". 79. Ẩn sĩ lấy ra nước suối trong Đựng v ào lá mới hái, nhanh chân, Biết điều thầm kín n àng mơ ước, Hoan hỷ, người trao thực phẩm thần. 80. Tay ôm tặng vật, dạ vui mừng Thiên nữ hân hoan bảo Thánh nhân: "Thờ phụng ta rồi ngài thắng lợi Giờ ta tìm lại cảnh thiên đường". 81. Thi ên nữ say kiêu hãnh vẻ vang Với ân huệ yết kiến Thiên hoàng: "Hãy nhìn, Thiên đế ng àn con mắt, Tiên thực đây. Phần thưởng h ãy ban". 82. Sak-ka cùng với chúng Thiên thần Kính lễ nàng Thiên nữ tuyệt luân, Trong lúc nàng ngồi trên bảo tọa, Thiên nhân đồng ái mộ dung nhan .
Trong lúc tôn vinh nàng như vậy, ý tưởng này chợt đến với Thi ên chủ Sakka: "Vì duyên cớ gì Kosiya từ chối ban tặng vật cho các nàng kia, lại ban thực phẩm thần tiên cho nàng này thôi?". Để xác định lý do này, ngài lại triệu Màtali đến.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ l àm sáng tỏ vấn đề:
83. Sak-ka Thiên chủ cõi B ăm ba Phán lệnh Mà-ta-li quản xa, Truyền: " Đến bảo hiền nhân giải thích Cớ g ì Danh Dự được ban qu à?
Tuân lệnh ngài, Màtali cỡi thiên xa Vejayanta (Tối thắng xa của Đế Thích) khởi h ành đến nơi kia.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ giải thích vấn đề:
84. Vì vậy, Mà-ta-li vội vàng Phóng xe du lịch giữa không gian, Phụ tùng mọi thứ đều cân xứng Trong vẻ vinh quang đẹp dị thường, C àng đúc bằng v àng tinh luyện kỹ, Khung xe đóng khéo được trang ho àng Cầu kỳ, đủ các h ình tô điểm, Tất cả xe đều chạm trổ v àng. 85. Trên vàng được phát họa chim công Khéo tạo th ành con số thật đông, B ò, ngựa, hổ, voi và báo nữa, Linh dương, nhung lộc sắp tranh hùng, Ở trong bảo ngọc này đều khắc Đ àn cưỡng cùng chim khác lượn vòng. 86. Xe được thắng thi ên mã cả ngàn, Mạnh như voi trẻ, sắc kim hoàng, Cảnh này xem thực vinh quang quá, Ngực chúng đều bao mạng lưới v àng Cùng các tràng hoa treo lủng lẳng, Được buông lơi lỏng sợi dây cương, Vừa khi nghe một lời ra lệnh, Chúng lướt nhanh như gió nhẹ nh àng. 87. Ngay lúc Mà-ta nhảy vụt nhanh Cỡi thiên xa ấy, giữa thiên thanh, Âm thanh mười hướng đồng vang dội Qua giữa không gian đ ã tốc hành, Thiên tử làm trần gian chấn động: Biển, trời, đất với núi rừng xanh. 88. Chẳng bao lâu đến thảo am kia Mong ước tỏ l òng tôn kính ra, Để một vai trần ch ào Thánh giả, Mà-ta-li lại bắt đầu thưa Với vị B à-la-môn trí tuệ Tinh thông Thánh điển thật cao xa. 89. Nghe đây, Tôn giả Ko-si-ya, Lời nói của Thi ên chủ Sak-ka Về việc ngài đang mong muốn biết, K ìa xem, sứ mạng được giao ta: "Trong khi Tôn giả không công nhận Quyền của Tín Th ành, Hy Vọng và Vinh Quang, xin hỏi sao Danh Dự Riêng nhận từ tay ấy thưởng quà?"
Khi nghe những lời này, vị ẩn sĩ khổ hạnh ngâm vần kệ:
90. Mà-ta-li hỡi, nàng Vinh Quang Là ngọc nữ không được vẹn to àn, Trong lúc Tín Thành tâm bất định, Hỡi ng ài, Thiên tử quản xa thần, Nàng Hy Vọng vẫn thường lừa dối Thích phản bội lời hứa của nàng, Danh Dự riêng mình theo đức hạnh, Trú thân trong Thánh đạo b ình an.
Bây giờ vị ấy lại ngâm kệ ca ngợi đức hạnh của n àng:
91. Sống ở gia môn, gái má hồng Vẫn luôn được bảo vệ, canh ph òng, Nữ nhân đ ã quá thời xuân sắc, Và những kẻ đang sống với chồng, Ví thử có khi n ào nhục dục Bỗng nhiên phát khởi ở trong lòng, Nghe lời nói của nàng Danh Dự, Chế ngự dục tâm hạ xuống dần. 92. Khi các dáo, tên ở chiến trường Phóng nhanh rào rạt tựa mưa tuôn, Trong cơn trốn chạy, bao đồng đội Ng ã xuống hay đ ào tẩu loạn cuồng, Nghe được lời n àng Danh Dự nói, Nhiều người dừng chạy, dẫu nguy nan, Và dầu đang ngập tr àn kinh hoảng, Lần nữa xông ra chốn kiếm thương. 93. Giống như bờ biển vẫn thường ng ăn Những đợt ba đ ào giữa đại dương, Danh Dự cũng thường hay trấn áp Con đường của những bọn t à gian; Mà-ta-li hỡi, mau về gặp Thiên chủ In-dra, nói rõ ràng: Bậc Thánh khắp nơi trên thế giới Thảy đều tôn trọng đại danh n àng.
Nghe vậy, Màtali ngâm vần kệ:
94. Ko-si-ya, kẻ ấy là ai Đ ã gợi ý kia đến với ng ài, Có phải là In-dra Đại đế, Phạm thi ên, đầy tạo hóa cao vời? N àng Danh Dự ấy, thưa Tôn giả, Phải biết được sinh bởi ý trời Thiên chủ In-dra, trên thượng giới, Riêng nàng đức hạnh tối cao ngôi .
Trong lúc vị Thiên tử nói, ngay chính thời khắc ấy, Kosiya sắp phải tái sinh. Màtali liền bảo:
- Này Kosiya, thân ngũ uẩn đang l ìa Tôn giả. Việc thực hành hạnh bố thí đ ã viên mãn. Tôn giả còn có gì liên hệ với nhân thế nữa đâu? Chúng ta sẽ cũng lên thiên giới bây giờ.
Vừa quyết định đưa vị ấy l ên trời, Thiên tử vừa ngâm kệ:
95. Thánh nhân, hãy bước đến bây giờ, Lập tức lên xe quý của ta, Ta sẽ dẫn ngài về thượng giới, Cung đ ình ngự trị cõi B ăm ba In-dra đang đợi chờ Tôn giả, Quyến thuộc ln-dra quả thực l à. Thiên đạo hôm nay l ên cộng trú Ngài thành đạt với chúa In-dra .
Trong lúc Màtali đang nói, Kosiya từ trần v à hóa sinh vào hàng Thiên chúng mà không cần qua trung gian cha mẹ, rồi bước lên đứng tr ên thiên xa. Sau đó Màtali đưa vị ấy đến yết kiến Sakka. Khi thấy vị ấy, Thiên chủ Sakka rất đẹp ý v à thưởng Thiên nữ Danh dự cho vị ấy đưa về l àm vương hậu chánh cung, lại ban cho vị ấy vương quyền cai trì một miền rộng bao la nữa.
*
Trong khi nhận xét thực trạng các pháp, bậc Đạo Sư bảo:
- Chính công đức của một số hiền nhân được thanh tịnh theo cách ấy.
Và Ngài ngâm vần kệ cuối cùng:
96. Chính hành động của Thánh hiền nhân Đưa đến đời sau quả phước ân, Kết quả thiện h ành an trú mãi. Người nhìn thực phẩm của Thiên thần Được đem trao tặng n àng Danh Dự, Thân hoại, trú an với Ngọc hoàng.
*
Đến đây bậc Đạo Sư chấm dứt Pháp thoại với những lời này:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ mà ngày xưa nữa, Ta cũng đ ã giáo hóa kẻ xan tham này vốn là gã keo kiệt cố hữu.
Nói xong, Ngài nhận diện Tiền thân?
-Thời ấy Uppalavannà (Liên Hoa Sắc) là Thiên nữ Danh Dự, vị Tỷ-kheo có tâm bố thí hào phóng là Kosiya, Anuruddha (A-na-luật- đ à) là Màtali, Kassapa (Ca-diếp) là Suriya, Moggallàna (Mục-kiền-liên) là Canda, Sàriputta (Xá-lợi-phất) là Nàrada, và Ta chính là Sakka Thiên chủ.
536. Chuyện Chúa Chim Kunàla (Tiền thân Kunàla)
Câu chuyện này do bậc Đạo Sư kể trong lúc trú gần hồ Kùnàla, liên hệ đến năm trăm vị Tỷ-kheo bị tâm bất mãn chi phối. Câu chuyện diễn tiến theo trình tự sau đây.
Hai bộ tộc Sàkiya (Thích-ca) và Koliya (Câu-ly) có con sông Rohini chảy giữa hai thành phố Kapilavatthu (Ca-tỳ-vệ) và Koliya, sông này được ngăn bằng một con đ ê duy nhất, nhờ đó dân chúng c ày bừa gặt hái. Trong tháng Jetthamùla (tháng n ăm v à sáu), khi lúa bắt đầu trổ bông v à rủ xuống, nông dân cư trú ở hai thành này tụ họp lại. Rồi dân chúng Koliya nói:
-Nếu cả hai bên cùng kéo nước, thì nước sẽ không đủ cho cả hai th ành phố chúng ta. Song dân chúng tôi sẽ được m ùa to nếu chỉ một bên chúng tôi kéo nước, vậy hãy cho chúng tôi nước sông này.
Dân chúng thành Kapilavatthu đáp:
- Khi các ông đ ã chất thóc đầy vựa th ì chúng tôi không dám cả gan đem v àng ròng, ngọc bích, tiền đồng, thúng giỏ trong tay lai v ãng trước cửa nhà các ông đâu. Chúng tôi cũng sẽ được m ùa to nếu chỉ riêng chúng tôi lấy nước, vậy hãy cho chúng tôi lấy nước đi.
- Ta không muốn cho - Đám người n ày đáp.
- Ta cũng không muốn - Đám người kia trả lại.
Trong lúc lời qua tiếng lại ồn ào như vậy, một người trong bọn họ đứng l ên đấm v ào một kẻ khác, đến lượt người ấy đấm trả một kẻ thứ ba v à cứ thế họ đấm đá nhau v à hằn học đụng chạm v ào nguồn gốc hoàng tộc của nhau, làm t ăng dần cảnh huy ên náo ấy. Các nông gia Koliya bảo:
- Các người Kapilavatthu hãy cút ngay đi, chúng bây l à loài cẩu trệ, lang sói, ăn ở với chị em gái của m ình như súc vật kia. Voi, ngựa, giáo khiên của chúng chống lại ta có lợi ích gì?
Các nông gia Sakiya đáp:
- Này lũ người cùi khốn nạn, hãy cút đi mau với con cháu của bây, một lũ tồi tàn, thân phận hèn hạ, chẳng khác bầy dã thú sống trong bông cây táo. Voi, ngựa, giáo, khiên của chúng chống lại ta có ích lợi gì?
Vì thế họ đi kể chuyện với các vi ên chức trong hội đồng phụ trách công việc ấy v à các vị này lại báo cáo với các vị trưởng tộc hoàng gia. Sau đó, các vị trưởng tộc Sakiya (Thích-ca) bảo:
- Phe ta sẽ cho chúng thấy đám người ăn ở với chị em gái của mình hùng dũng như thế nào.
Rồi họ xông ra, sẵn sàng chiến đấu. C òn bộ tộc Koliya (Câu-ly) bảo:
- Phe ta sẽ cho chúng thấy những người sống trong bộng cây táo hùng dũng ra sao.
Và họ cũng xông tới, sẵn sàng chiến đấu.
Nhưng một số đạo sư khác lại kể chuyện như vầy:
"Khi các nữ tỳ của bộ tộc Sakiya (Thích-ca) và bộ tộc Koliya (Câu-ly) ra sông để lấy nước, vừa ném xuống đất các v ành kh ăn họ đội tr ên đầu, vừa ngồi xuống chuyện tr ò vui vẻ, thì một người cầm nhầm kh ăn của người khác v ì tưởng đó l à kh ăn của m ình, và khi có tranh cãi do việc này gây ra, mỗi người đều bảo khăn kia của m ình, dần dần dân chúng của hai kinh thành cả nô lệ, nông dân, tùy tùng, thủ lãnh, quan chức, phó vương đều xông ra sẵn s àng chiến đấu.
Tuy thế, bản kinh trước được t ìm thấy trong nhiều tập Sớ giải và được xem l à hợp lý, đáng chấp nhận hơn bản sau.
Bấy giờ vào buổi xế chiều, dân chúng đ ã xông ra sẵn sàng lâm trận. Thời ấy, đức Thế Tôn đang trú tại S àvatthi, lúc rạng đông, trong khi đang quán sát thế gian, Ng ài thấy họ khởi hành ra trận, Ngài tự hỏi nếu Ngài đến đó, trận chiến có chấm dứt chăng, v à Ngài quyết định: "Ta quyết đến đó v à để dập tắt cuộc tử chiến n ày, ta sẽ kể ba chuyện Tiền thân, để chứng minh lợi lạc của t ình đo àn kết, ta sẽ dạy họ Kinh Attadanta: Bạo lực (Sutta Nipàta: Kinh Tập IV, 15) và sau khi nghe ta thuyết giảng, dân chúng hai thành này sẽ đưa đến diện kiến ta mỗi b ên hai tr ăm năm mươi thanh ni ên, ta sẽ nhận họ vào Giáo đo àn và Hội chúng càng thêm đông đảo".
Vì thế, sau khi đ ã tắm rửa, Ngài đến th ành Sàvatthi khất thực. Lúc trở về, sau buổi thọ trai, vào xế chiều, Ngài bước ra từ Hương phòng, không báo cho ai một lời, Ngài cầm y bát và một mình ra đi v à ngồi kiết-già trên không giữa hai đám người ấy.
Thấy rằng đây l à cơ hội làm quần chúng kinh ngạc, Ngài ngồi đấy tỏa ra các tia sáng xanh đậm từ tóc Ng ài khiến bầu trời đen tối. Rồi khi tâm họ lo âu, Ng ài liền xuất hiện và tỏa ra ánh sáng ngũ sắc.
Dân chúng Kapilavatthu thấy đức Thế Tôn liền suy nghĩ: "Đức Thế Tôn, vị thân tộc cao quý của ta, đ ã đến. Có thể Ng ài đ ã thấy phận sự chiến đấu đặt tr ên phe ta ch ăng? Nay bậc Đạo Sư đ ã đến, ta không thể lao vũ khí chống kẻ th ù nào nữa?". Rồi họ hạ vũ khí xuống và nói:
- Dân Koliya cứ giết chết hay thiêu sống ta đi.
Dân Koliya cũng làm giống như vậy.
Lúc ấy đức Thế Tôn giáng lâm, v à ngự trên bảo tọa của đức Phật đặt ở một nơi tuyệt đẹp tr ên bãi cát, và Ngài chiếu hào quang vô thượng của một bậc Giác Ngộ.
Các vị vua đảnh lễ đức Thế Tôn v à an tọa. Sau đó bậc Đạo Sư hỏi, mặc d ù Ngài đ ã biết rõ sự việc:
- Thưa các Đại vương, tại sao các vị đến đây?
- Bạch Thế Tôn, chúng con đến đây không phải để ngắm d òng sông hay vui chơi, mà để chiến đấu.
- Các Đại vương có tranh chấp về việc g ì?
- Về nước sông.
- Thế nước sông đáng giá bao nhiêu?
- Bạch Thế Tôn, rất ít.
- Thế đất đai đáng giá bao nhi êu?
- Đất vô giá.
- Thế các vị Tướng quân đáng giá bao nhi êu?
- Họ cũng vô giá.
- Thế tại sao chỉ vì một chút nước chẳng ra gì mà các vị phải hủy diệt các tướng quân cao quý? Quả thật, cuộc tranh chấp này không có gì đền b ù được cả song v ì một cuộc tử chiến giữa một vị thần cây và một sư tử đen n ên một mối thù truyền kiếp đ ã được tạo ra v à kéo dài đến tận hiện kiếp n ày.
Cùng với những lời trên, Ngài kể cho họ nghe Tiền thân Phandana (số 475, Tập V). Sau đó Ng ài bảo?
- Không nên đi theo nhau một cách m ù quáng thế này. Một đo àn súc vật bốn chân ở vùng Tuyết Sơn trải dài ba ngàn dặm, đ ã theo lời một con thỏ, lần lượt đâm đầu xuống biển cả. Do đó, không n ên theo nhau cách này.
Nói vậy xong, Ngài kể Tiền thân Daddabha (số 322, Tập III)
Hơn nữa, Ngài lại bảo:
- Đôi khi kẻ yếu nh ìn thấy nhược điểm của người mạnh; khi khác, kẻ mạnh thấy nhược điểm của người yếu, n ên có lần một con chim cút mái đ ã giết một vương tượng. Và Ngài kể Tiền thân Latukika (số 357, Tập III).
Như vậy để l àm dịu cuộc tranh chấp, Ngài đ ã kể ba chuyện Tiền thân. Và để chứng minh hiệu quả của sự đo àn kết, Ngài kể hai chuyện Tiền thân:
- Trong trường hợp những sinh vật sống chung đo àn kết, không ai tìm ra kẽ hở để tấn công cả.
Nói vậy xong, Ngài kể Tiền thân Rukkhadhamma (số 74, Tập I)
Ngài lại nói:
- Đối với những sinh vật đo àn kết, không ai có thể tìm ra lỗ hổng để tấn công cả, nhưng khi chúng đ ã tranh chấp lẫn nhau, thì một kẻ đi săn n ào đó cũng t àn phá chúng và tiêu diệt chúng. Quả thật không có phần thưởng gì trong cuộc tranh chấp cả.
Cùng với những lời này, Ngài kể Tiền thân Vattaka (số 33, Tập I).
*
Sau khi đ ã kể n ăm chuyện Tiền thân như vậy, Ng ài chấm dứt bằng cách tụng kinh Attadanta. Khi đ ã trở thành những kẻ mộ đạo, các vị vua nói:
- Nếu bậc Đạo Sư không đến, chúng ta đ ã tàn sát lẫn nhau làm máu chảy thành sông. Chính nhờ bậc Đạo Sư m à chúng ta còn sống. Nhưng ví thử trước kia bậc Đạo Sư sống đời thế tục, th ì giang sơn gồm bốn đại châu lục c ùng với hai ngàn đảo nhỏ nữa hẳn đ ã vào tay Ngài và hẳn Ngài đ ã có hơn một ngàn vương tử. Hơn nữa, chắc hẳn Ngài đ ã có một đo àn tùy tùng gồm các tướng lãnh quý tộc. Song từ bỏ mọi vinh quang này, Ngài xuất thế và đạt Trí tuệ Tối thắng. Bây giờ ta h ãy tiễn Ngài lên đường c ùng một đo àn tùy tùng tướng lãnh quý tộc.
Thế là dân chúng hai thành mỗi bên tặng Ngài hai tr ăm năm mươi vị quý tộc. Sau khi truyền giới xuất gia cho họ, Ng ài đi về một khu rừng lớn.
Từ ngày hôm sau, được đệ tử hộ tống Ng ài đi khất thực ở hai th ành, khi thì vào Kapilavatthu, lúc khác lại vào Koliya, dân chúng cả hai thành đều hết sức kính trọng Ng ài.
Giữa đám vương gia quý tộc n ày là những vị thọ giới không do hoan hỷ mà vì kính trọng bậc Đạo Sư nỗi bất m ãn trong tâm liền sinh. Những người vợ cũ của họ muốn khơi dậy niềm bất mãn của họ, cứ gửi đi những lời nhắn tin n ày nọ, khiến họ lại càng trở nên nản lòng thối chí hơn nữa.
Khi quán sát, bậc Đạo Sư nhận thấy tâm họ đ ã bất mãn như thế nào, liền suy nghĩ: "Các Tỷ-kheo này, dù sống với một vị Giác Ngộ như Ta, vẫn sinh tâm bất mãn. Ta thử xem cách thuyết giảng nào sẽ ích lợi cho họ", và Ngài nghĩ đến Pháp thoại Kun àla. Rồi ý tưởng này chợt nảy ra trong trí Ngài: "Ta sẽ đưa các Tỷ-kheo n ày đến v ùng Tuyết Sơn và sau khi chứng minh các ác dục liên hệ đến nữ giới qua chuyện Kun àla và xóa tan nỗi bất mãn của họ, ta sẽ cho họ đạt Sơ quả trong Thánh đạo.
Vì thế sáng sớm Ngài đắp y trong v à cầm y bát đi khất thực ở th ành Kapilavatthu, sau khi trở về và dùng ngọ trai đ ã xong, Ngài bảo n ăm trăm vị Tỷ-kheo:
- Các ông đ ã từng thấy vùng Tuyết Sơn đầy lạc thú chưa?
- Bạch Thế Tôn, chưa - Các vị đáp.
- Thế các ông có muốn đi chi êm bái Tuyết Sơn ch ăng?
- Bạch Thế Tôn, chúng con không có thần thông lực làm sao chúng con đi được?
- Song giả sử có ai đó đưa các ông c ùng đi, các ông có muốn đi chăng ?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Bậc Đạo Sư liền d ùng thần lực đưa tất cả các vị l ên không gian và du hành đến v ùng Tuyết Sơn, vừa trụ trên không, Ngài vừa chỉ cho Hội chúng xem một dãy Tuyết Sơn kỳ diệu với nhiều đỉnh núi như Kim Sơn, Ngọc Sơn, Hồng Sơn, Ngân Sơn, B ình Địa Sơn, Thủy Tinh Sơn, với năm sông lớn v à các hồ Kannamundaka, Rathakàra, Sihappapàta, Chaddanda, Tiyaggala, Anotatta và Kunàla, tất cả bảy hồ.
Tuyết Sơn là một vùng mênh mông, cao n ăm trăm dặm, rộng ba ng àn dặm. Ngài đ ã dùng thần thông lực chỉ cho Hội chúng thấy cảnh tuyệt mỹ của vùng này, cùng các nơi cư trú được xây tại đó, v à các loại súc vật như từng đo àn sư tử, cọp, voi... Ngài đều chỉ r õ từ nơi này: các vùng đất thi êng và nhiều lạc viên khác đầy hoa quả sum s ê, từng đ àn chim đủ loại v à các cây hoa mọc trên đất lẫn dưới nước, b ên sườn Đông của Tuyết Sơn l à một bình nguyên đất v àng và bên sườn Tây là một bình nguyên đất đỏ.
Thoạt nhìn thấy những vùng kỳ vĩ này, nỗi lòng mong nhớ khát khao của các Tỷ-kheo đối với các b à vợ cũ tiêu tan mất. Sau đó, bậc Đạo Sư c ùng các Tỷ-kheo từ không trung hạ xuống sườn Tây của Tuyết Sơn trên một cao nguyên rộng sáu mươi dặm, trong thung lũng đỏ d ài ba dặm, dưới gốc cây Sà-la bao phủ cả bảy dặm và trường thọ suốt một kiếp, bậc Đạo Sư được Tăng chúng vây quanh, tỏa h ào quang lục sắc và an tọa, làm chấn động cả l òng đại dương v à chiếu sáng như mặt trời, Ngài nói với các Tỷ-kheo bằng một giọng ngọt như mật:
- Này các Tỷ-kheo, hãy hỏi Ta về các kỳ quan mà các ông chưa từng thấy ở vùng Tuyết Sơn này.
Lúc ấy, hai chim cu cườm ngậm một khúc cây ở hai đầu, v à ở giữa có đặt chim chúa. Tám chim cu ở trước v à tám con ở sau, tám con bên phải và tám con bên trái, tám con ở dưới và tám con ở trên, cứ thế che bóng trên chim chúa trong khi vừa hộ tống chim chúa vừa bay qua không gian.
Khi thấy đ àn chim này, các Tỷ-kheo hỏi bậc Đạo Sư:
- Bạch Thế Tôn, bầy chim này có ý nghĩa gì ch ăng?
- Này các Tỷ-kheo, đây l à một tục lệ cổ của gia tộc ta, một truyền thống do Ta tạo ra, thời xưa chúng hộ tống Ta như vậy. Thuở bấy giờ có cả một đ àn chim lớn. Ba ngàn n ăm trăm chim mái son trẻ đ ã hộ tống Ta. Dần dần chúng tản mát, và đ àn chim còn lại như các ông thấy đó.
- Bạch Thế Tôn, chúng đ ã hộ tống Thế Tôn trong rừng nào?
Bậc Đạo Sư bảo.
- Này các Tỷ-kheo, hãy nghe đây.
Vừa hồi tưởng chuyện cũ, Ngài vừa kể một chuyện quá khứ và giáo hóa các vị như vầy.
*
Đây l à chuyện tương truyền và danh tiếng phát ra từ đó:
Một vùng đất kia có đủ loại cây cỏ mọc l ên, được phủ với nhiều khóm hoa, nhiều d ã thú lai vãng như voi, gayal, trâu, nai, trâu rừng (yak), hươu sao, tê giác, nai lớn, sư tử, hổ, báo, gấu, sói, linh cẩu, rái cá, linh dương kadalì, mèo rừng, thỏ tai dài, vô số đ àn voi đủ loại trú ngụ, đủ loại hươu nai lui tới, l à nơi nương náu của bầy yakkha (dạ-xoa) mặt ngựa, yêu tinh, ma quỷ...
Vùng ấy lại được một khóm cây rậm rạp che phủ, nở hoa ở tr ên ngọn, thân mảnh mai cao, không có lỏi bên trong, vang dội tiếng chim líu lo, sung sướng như đi ên cuồng, nào là chim ưng, gà gô, chim voi, công trĩ, cu gáy; vùng ấy lại được tô điểm với h àng tr ăm khoáng chất như thủy ngân, thạch tín trắng, thạch tín v àng, son đỏ, v àng và bạc. Chính trong khu rừng kỳ thú này có con chim Kunàla (một loại sơn ca), màu sắc rực rỡ với bộ lông sáng chói. Chim Kunàla này có ba ngàn n ăm trăm chim mái theo hầu. Thời ấy hai con chim ngậm một khúc cây trong mỏ đặt chim Kun àla ở giữa và bay lên, vì sợ rằng nỗi gian lao trong quãng đường xa sẽ l àm chim này nhích ra khỏi chỗ đậu v à rơi xuống.
N ăm trăm chim mái bay phía dưới v à chúng suy nghĩ: "Nếu chúa Kunàla này rơi xuống khỏi chỗ đậu, th ì chúng ta sẽ giữ lấy ngài trong đôi cánh của ta".
N ăm trăm chim khác bay phía tr ên, vì sợ rằng sức nóng làm cháy da chim Kunàla.
N ăm trăm chim khác bay mỗi b ên ngai, để cản nóng, lạnh, cỏ cây, bụi bặm, gió, sương đụng v ào ngài.
N ăm trăm chim bay phía trước v ì sợ rằng bọn ch ăn trâu b ò, cắt cỏ, lượm củi, tiều phu, kiểm lâm đánh chim Kun àla bằng que củi, hay mảnh sành, nắm tay hay hòn đất, cây gậy hay con dao, h òn sỏi, hoặc lo rằng chim Kunàla sẽ va chạm vào bụi cây, dây leo, hay cây lớn, cột trụ, tảng đá hoặc một con chim lớn n ào đó.
N ăm trăm chim bay phía sau, nói với Ng ài những lời dịu dàng, thân ái bằng những âm điệu du dương, ngọt ng ào vì e rằng chim Kunàla mệt mỏi trong khi đậu tại đó.
N ăm trăm chim bay lượn v òng quanh đây đó, mang về đủ loại trái cây khác nhau v ì sợ rằng chim Kunàla phải chịu đói khổ.
Thời ấy bầy chim nhanh nhẹn đưa chim Kun àla đi du ngoạn t ừ lạc viên này đến lạc vi ên khác, khu vườn này đến khu vườn khác, b ờ sông này đến bờ sông khác, đỉnh núi n ày đến đỉnh núi khác, vườn xo ài này đến vườn xo ài khác, vườn hồng đ ào này đến vườn hồng đ ào khác, vườn mít này đến vườn mít khác, rừng dừa n ày đến rừng dừa khác. Cứ thế ng ày nọ sang ngày kia, chim Kunàla được bầy chim n ày hộ tống như vậy, lại trách mắng chúng:
- Này lũ xấu xa kia, chết đi, chết tiệt cả đi, chúng bây l à quân trộm cắp, lừa đảo, vô tâm, ph ù phiếm, bạc nghĩa vong ân, như gió cuốn đi bất cứ nơi n ào chúng bây muốn.
*
Sau những lời này, bậc Đạo Sư bảo:
- Này các Tỷ-kheo, hiển nhiên là ngay khi Ta còn ở đời sống súc sinh, ta đ ã hiểu rõ tính tình vô ơn, độc ác, vô luân của nữ giới, v à ngay thời ấy, Ta đ ã không rơi vào uy lực của họ và Ta đ ã đặt họ dưới uy lực của Ta.
Khi Ngài đ ã xóa tan nỗi bất mãn trong tâm T ăng chúng, Ng ài lại giữ im lặng.
Vào lúc này, hai chim cu màu đen đến nơi đây, nâng niu chúa l ên cao trên khúc cây ấy, trong khi bốn chim khác bay phía dưới và mỗi bên. Thấy chúng, các Tỷ-kheo lại hỏi bậc Đạo Sư về bầy chim v à Ngài đáp:
- Này các Tỷ-kheo, ngày xưa Ta có bạn là một chim sơn ca chúa tên là Punnamukha, và truyền thống trong gia tộc chim ấy là như vầy.
Để đáp lại câu hỏi của các Tỷ-kheo như trước, Ng ài bảo:
*
Trên sườn Đông của d ãy Tuyết Sơn, chúa tể của núi đồi, l à những dòng suối xanh biếc, bắt nguồn từ những sườn núi thoai thoải, trong một vùng thơm ngát, mê hồn, sáng tươi, diễm lệ với hoa sen nở rộ đủ m àu xanh, trắng, sen bách diệp, súng trắng và cây hoa thần tiên, một miền bát ngát mỹ miều với đủ loại kỳ hoa dị thảo, cây leo, vang vọng tiếng thi ên nga, vịt, ngỗng, có từng đo àn ẩn sĩ khổ hạnh, những vị có đủ thần thông biến hóa, lại có các thần linh, ma quỷ, dạ-xoa, y êu quái, nhạc thần, tiên nữ và mãng xà.
Chính trong một khu rừng kỳ ảo như vậy sơn ca chúa Punnamukha đ ã cư trú. Giọng sơn ca thật du dương êm ái, chính đôi mắt tươi vui ấy l à đôi mắt của con chim say sưa với nhiều hoan lạc. Ba ng àn n ăm trăm chim mái theo hộ tống chim sơn ca Punnamukha n ày. Cũng vậy, có hai con chim vừa ngậm khúc cây trong mỏ và đặt Punnamukha ở giữa vừa bay l ên không gian, vì sợ chim chúa phải chịu mệt nhọc...
Thuở ấy chim Punnamukha được đ àn chim này hộ tống ban ngày, đ ã ca ngợi chúng như vầy:
- Các hiền muội thật đáng tuy ên dương, hành động n ày của các hiền muội rất phù hợp với các mệnh phụ cao sang, vì các hiền muội đ ã phụng sự chúa công mình.
Lúc ấy, thực ra sơn ca Punnamukha đến gần nơi chim Kun àla đang đậu, v à đ àn chim hầu cận chim Kunàla đ ã thấy chim kia, trong khi chim ấy còn ở đằng xa, chúng kéo lại gần chim Punnamukha v à cầu thân như vầy:
- Này Hiền hữu Punnamukha, chim Kunàla là một con chim hung bạo với giọng lưỡi thô tục. Có lẽ nhờ hiền hữu giúp đỡ, chúng tôi may ra mới nghe được lời nói tử tế của vị ấy.
- Thưa các quý nương, có lẽ chúng ta làm được việc ấy.
Nói vậy xong, chim ấy đến gần Kun àla, sau lời chào hỏi ân cần, chim ấy cung kính đậu một b ên và nói với Kunàla như vầy:
- Này Hiền hữu Kunàla, tại sao Hiền hữu đối xử t àn tệ với các quý nương này mặc dù họ giữ phẩm hạnh tốt đẹp? Hiền hữu Kun àla, ta nên nói lời dịu ngọt ngay cả với các nữ nhân có lời lẽ thiếu tao nhã, huống hồ đối với các quý nương thanh cao thế n ày.
Khi chim ấy nói vậy xong, Kunàla liền phỉ báng Punnamukha như sau:
- Này quân khốn nạn kia, hãy chết đi, chết tiệt cả đi. Ai lại giống như ngươi cứ mềm l òng trước lời van xin của nữ giới?
Khi bị khiển trách như vậy, chim Punnamukha liền bỏ đi. Rồi chẳng bao lâu sau đó, Punnamukha lâm bệnh nặng, v à chịu đau đớn kịch liệt v ì chứng xuất huyết, làm chim gần chết. Bầy chim hầu cận sơn ca Punnamukha liền suy nghĩ: "Sơn ca này bị bệnh nặng, chắc là phải được vực dậy từ căn bệnh n ày".
Nghĩ vậy, chúng liền rời bỏ chim ấy một mình và kéo đến gần chim Kun àla.
Kunàla nhìn chúng bay lại từ xa, khi thấy chúng liền hỏi:
- Lũ khốn nạn kia, chúa của bây đâu?
- Hiền hữu Kunàla, chim Punnamukha bị bệnh. Có lẽ chim ấy phải được vực dậy từ cơn bệnh n ày.
Khi chúng nói vậy xong, chim Kunàla nguyền rủa chúng:
- Hãy chết đi, lũ khốn nạn kia, chết tiệt đi, chúng bây l à lũ trộm cắp, lừa đảo, vô tâm, ph ù phiếm, bạc nghĩa vong ân như gió cuốn đi nơi n ào bây muốn.
Nói vậy xong, chim ấy đến gần nơi sơn ca Punnamukha nằm v à nói như sau:
- Chào Hiền hữu Punnamukha.
- Chào Hiền hữu Kunàla - Chim kia đáp.
Sau đó, chim Kun àla dùng đôi cánh v à mỏ ôm lấy Punnamukha và vừa nâng bạn lên, vừa cho uống đủ thứ thuốc. Nhờ thế, bệnh t ình của sơn ca đ ã thuyên giảm. Khi chim Punnamukha đ ã khoẻ mạnh, bầy chim bay trở về và Kunàla cho chim Punnamukha ăn quả rừng trong v ài ngày, đến khi bạn đ ã hồi sức, chim chúa bảo:
- Này Hiền hữu, nay đ ã bình phục, hãy tiếp tục sống với đ àn chim hộ tống bạn, còn ta sẽ trở về nơi cư trú của ta.
Lúc ấy Punnamukha bảo bạn:
- Chúng đ ã bỏ ta khi ta lâm trọng bệnh và bay đi nơi khác. Ta không cần bọn lừa đảo ấy nữa.
Nghe vậy, Bậc Đại Sĩ đáp:
- Này Hiền hữu, ta sẽ kể cho bạn nghe về tính độc ác của nữ giới.
Rồi ngài ôm lấy Punnamukha và đưa đến Thung Lũng Đỏ tr ên sườn Tuyết Sơn, đậu tr ên một tảng hồng thạch tín dưới gốc cây Sàla tỏa rộng bảy dặm đường, trong lúc Punnamukha v à đám t ùy tùng đậu b ên cạnh. Khắp cả vùng Tuyết Sơn vang lên lời bố cáo của chư Thiên:
- Hôm nay điểu vương Kun àla an tọa trên phiến hồng thạch ở Tuyết Sơn sẽ thuyết Pháp với vẻ kỳ diệu của một vị Phật. Xin các vị lắng tai nghe ngài.
Nhờ bố cáo như vậy, lần lượt chư Thiên ở sáu tầng trời Dục giới đều nghe v à tụ họp lại nhiều sơn thần, rắn thần, kim sí điểu (chim thần cánh v àng), kên kên cũng loan báo sự kiện trên. Thời ấy thứu vương Ànanda cùng với đo àn tùy tùng mười ngàn kên kên trú ngụ tại đỉnh Thứu Sơn. Khi nghe tin chấn động n ày, chim ấy suy nghĩ: "Ta sẽ đi nghe thuyết Pháp". Rồi c ùng đ àn chim hộ tống đến đậu ri êng một nơi.
Ẩn sĩ Ànanda đ ã đắc năm Thắng trí đang ở v ùng Tuyết Sơn cùng đo àn đệ tử gồm mười ng àn ẩn sĩ, khi nghe tin chư Thiên loan truyền, liền suy nghĩ: "Chúng bảo nhau hiền hữu Kunàla sẽ nói về các lỗi lầm của nữ giới, ta cũng phải đi nghe bạn thuyết giảng". Rồi được một ng àn vị khổ hạnh hộ tống, vị ấy dùng thần thông du hành đến đó v à ngồi riêng một nơi. Thế là đ ã có một hội chúng họp lại đông như vậy để nghe Phật pháp.
Lúc ấy Bậc Đại Sĩ, với trí kiến của một vị nhớ lại cái tiền thân của m ình, lấy Punnamukha làm nhân chứng, kể lại một trường hợp trong tiền kiếp liên hệ với lỗi lầm của nữ giới.
*
Bậc Đạo Sư nói để l àm sáng tỏ vấn đề:
Thời ấy chim Kunàla nói với sơn ca Punnamukha, vừa mới được vực dậy từ giường bệnh:
- Này Hiền hữu Punnamukha, ta đ ã thấy Kanhà, một nữ nhân có hai cha và n ăm chồng, lại c òn luyến ái một nam nhi thứ sáu là một gã lùn có đầu thụt v ào cổ và què chân nữa.
Ở đây chúng ta cũng có th êm một vần kệ:
1. Chuyện cổ, Kan-hà, được kể rằng: Cả năm ho àng tử gả cho nàng, Tham lam, nàng vẫn còn ham muốn Một gã gù lưng, gái điếm đ àng!
- Này Hiền hữu Punnamukha, ta đ ã thấy trường hợp một nữ ẩn sĩ khổ hạnh tên Saccatapàvì sống trong nghĩa địa v à bỏ cả buổi ăn thứ tư, song lại phạm tội lỗi với một thợ vàng.
- Này Hiền hữu Punnamukha, ta đ ã chứng kiến trường hợp nàng Kàkàti, vợ của vua Venateyya, sống giữa biển cả, tuy thế đ ã phạm tội lỗi với nhạc công Natakuvera (Tiền thân số 327, tập III).
- Này Hiền hữu Punnamukha, ta đ ã thấy nàng tóc vàng Kurangavì, mặc dù yêu Elakamàra, lại phạm tội lỗi với Chalangakumara và Dhanantevàsì.
Ta cũng biết chuyện mẹ của Brahmadatta đ ã bỏ vua Kosala và phạm tội lỗi với Pancàlacanda ra sao.
Các người này cùng nhiều nữ nhân khác đ ã theo tà dục, ta không nên đặt l òng tin vào họ hoặc ca ngợi họ. Ví như quả đất có khuynh hướng vô tư đối với to àn thế giới, đem lại t ài sản cho mọi loài, cung cấp mái ấm cho mọi người (tốt cũng như xấu) chịu đựng tất cả, không hề rung động, không g ì lay chuyển, đối với nữ giới cũng phải như vậy. Đ àn ông không nên tin tưởng họ.
2. Sư tử sống bằng máu thịt tươi, Dùng n ăm móng sắc xé con mồi, T ìm vui trong nỗi đau lo ài khác Cẩn thận! Nữ nhân cũng một nòi!
- Này Hiền hữu Punnamukha. Thực vậy, bọn súc sinh này không chỉ là bọn gái giang hồ, điếm đ àng, đầu đường xó chợ, chúng không lẳng lơ đĩ thỏa cho bằng sát nhân. Ta muốn nói đến bọ gái đứng đường buôn hương bán phấn n ày. Chúng giống như quân cường đạo với cuộn tóc v àng kết lại, chúng như thuốc độc, như lũ lái buôn tự khoe m ình, quanh co như sừng dê, miệng lưỡi độc địa như lo ài rắn, như cái hố có nắp đậy, tham lam vô tận như địa ngục, khó l àm thỏa mãn như quỷ cái, ngốn ngấu mọi loài như Diêm vương, tàn phá mọi sự như ngọn lửa, cuốn trôi mọi vật ở trước nó như dòng sông; như cơn gió thổi tới nơi nào nó muốn, không biết phân biệt gì như đỉnh núi Neru, kết trái quanh năm như lo ài cây độc.
Ở đây lại có th êm một vần kệ nữa:
3. Như độc dược, quân cướp bạo t àn, Quanh co như gạc của sơn dương, Mãnh xà hai lưỡi là loại chúng, Chực sẵn khoe khoang tựa lái buôn. 4. Giết hại như là hố đậy che, Như mồm địa ngục, thỏa không hề, Như lo ài quỷ dữ tham vô độ, Thần chết mang theo mọi vật kia. 5. Ngốn ngấu khác đâu ngọn lửa nồng, Mạnh như hồng thủy hoặc cuồng phong, Như Ne-ru đỉnh m àu vàng chói Thiện ác không hề biết biệt phân. 6. Não hại như cây độc sát nhân, Chúng luôn t àn phá cả n ăm phần, Gia t ài sự nghiệp đều ti êu tán, Phung phí bạc vàng, mọi bảo trân.
*
Chuyện công chúa Kanhà
Truyền thuyết kể rằng thời xưa, vua Brahmadatta ở xứ Kàsi nhờ có quân hùng tướng mạnh chiếm quốc độ Kosala, giết vua kia v à cướp vị chánh hậu lúc ấy đang có thai, đưa về Ba-la-nại v à phong bà làm vương phi. Về sau bà sinh một gái, và vì vua này không có con trai hay gái gì cùng huyết thống với mình, nên vô cùng hoan hỷ và phán:
- Này mỹ hậu, hãy chọn một điều ước trẫm ban tặng ái khanh.
Bà nhận điều ước nhưng chưa lựa chọn. Bấy giờ họ đặt t ên công chúa là Kanhà.
Vừa khi nàng lớn lên, mẫu hậu bảo:
- Này con yêu quý, phụ vương đ ã ban mẹ một điều ước, mẹ đ ã nhận song còn trì hoãn sự lựa chọn. Nay con hãy chọn điều g ì con thích.
Do dục tình phát triển quá độ phá tan nỗi e thẹn của một thiếu nữ, n àng nói với mẹ:
- Con không thiếu thứ gì cả. Xin phụ vương hãy triệu tập một đại hội để kén ph ò mã cho con.
Mẫu hậu kể lại chuyện này với vua. Vua phán:
- Hãy cho công chúa thứ gì nàng muốn.
Và vua ban lệnh truyền mở hội kén phò mã. Trong sân chầu, một đám nam nhi tụ tập phục sức cực kỳ lộng lẫy. Kanh à cầm một giỏ hoa trong tay, đứng nh ìn từ cánh cửa lầu thượng và không hài lòng về một chàng trai nào cả.
Lúc ấy Ajjuna, Nakula, Bhìmasena, Yudhitthila, Sahadeva, thuộc dòng vua Pàndu, là n ăm ho àng tử của vua này, sau khi học tập đủ các học thuật tại Takkasil à với một vị giáo sư lừng danh thế giới, đang l ãng du đây đó với ý định t ìm hiểu thông suốt các phong tục địa phương, v à vừa đến Ba-la-nại.
Khi nghe tin loan báo vang dậy khắp kinh thành, và hỏi th ăm để biết chuyện g ì đang xảy ra, họ liền đến đứng cả năm người th ành một hàng, trông hình dáng như n ăm pho tượng bằng v àng. Thoạt nhìn thấy họ, Kanhà say mê luôn cả n ăm, liền ném v òng hoa lên đầu của năm ch àng trai khi họ đứng trước mặt n àng và bảo:
- Tâu mẫu hậu, con xin chọn cả n ăm ch àng.
Hoàng hậu trình việc này với vua. Vì vua đ ã ban cho nàng điều ước, n ên không thể nói: "Con không được l àm việc này", nhưng lòng vua vô cùng phiền muộn. Tuy thế, sau khi hỏi nguồn gốc n ăm ch àng là con ai, và khi biết đó l à con vua Pàndu, vua nghênh tiếp n ăm ch àng vô cùng trọng thể và gả công chúa làm vợ cả n ăm ch àng.
Nhờ mãnh lực của dục tình nồng nhiệt, nàng chiếm được t ình yêu của n ăm ch àng vương tử trong cung điện bảy tầng của n àng.
Bấy giờ nàng có một kẻ hầu cận vừa gù, vừa què và dù nàng đ ã chiếm trọn con tim của n ăm vương tử, ngay khi năm ch àng đ ã ra khỏi cung đ ình, nàng tìm được cơ hội v à bị lửa dục nung nấu, nên đ ã phạm tội lỗi với gã nô lệ lưng gù kia.
Trong khi trò chuyện với gã, nàng nói:
- Không có ai được ta y êu quý bằng chàng. Ta sẽ giết n ăm vương tử n ày và lấy máu từ cổ họ xoa vào đôi chân ch àng.
Khi nàng bầu bạn với vị thái tử trong n ăm vị kia, n àng thường bảo:
- Chàng thân yêu đối với thiếp hơn bốn ch àng kia. Vì chàng, thiếp sẽ hy sinh cả đến tính mạng m ình. Khi phụ vương b ăng h à, thiếp sẽ trao quốc độ cho ri êng chàng.
Nhưng khi bầu bạn với các chàng kia, nàng cũng làm y hệt như vậy. Các chàng vô cùng đẹp l òng vì nàng, và suy nghĩ: "Nàng thương yêu chúng ta và nhờ đó vương vị n ày sẽ thuộc về ta".
Một hôm nàng bị bệnh, họ tụ tập quanh nàng, một người xoa đầu, kẻ xoa tay chân, trong khi g ã nô lệ ngồi dưới chân nàng. Với vị thái tử Ajjuna đang xoa đầu n àng, nàng lấy đầu ra hiệu ngầm bảo: "Không ai được thiếp thương y êu hơn chàng. Bao lâu thiếp còn sống, thiếp sẽ sống vì chàng và khi phụ vương từ trần, thiếp sẽ trao vương quốc cho chàng", và thế là nàng chiếm trọn tim chàng.
Đới với các người kia, n àng cũng làm dấu bằng tay chân với ý nghĩa như vậy. Nhưng đối với g ã gù lưng, nàng làm dấu bằng lưỡi với ngụ ý: "Chỉ có chàng là người duy nhất được ta y êu quý. Ta chỉ sống vì chàng" .
Nhờ những điều n àng đ ã nói trước kia, tất cả bọn họ đều hiểu các dấu hiệu n ày có ý nghĩa gì. Nhưng trong khi mỗi người nhận ra dấu hiệu dành riêng cho mình, vương tử Ajjuna vừa thấy các dấu hiệu tay, chân và lưỡi ấy liền suy nghĩ: "Trong trường hợp ta cũng như với các người khác, chắc phải có điều g ì đó n àng muốn chứng tỏ bằng dấu hiệu kia, vậy đối với g ã lưng gù này hẳn cũng có một thân tình nào đây".
Thế rồi vừa đi ra ngo ài với các em, chàng hỏi:
- Các hoàng đệ có thấy công chúa năm chồng n ày làm dấu với ta bằng đầu n àng ch ăng?
- Thưa vâng, có thấy.
- Các em có hiểu ý nghĩa của nó ch ăng?
- Thưa không.
- Ý nghĩa của nó là như vầy, như vầy. Thế các em có biết ý nghĩa dấu hiệu bằng tay chân của nàng với các em ch ăng?
- Thưa vâng, chúng em có biết.
- Nàng cũng làm dấu cho ta như vậy. Thế các em có biết ý nghĩa dấu hiệu nàng bảo gã lưng gù bằng lưỡi ch ăng?
- Chúng em không biết.
Chàng liền bảo họ:
- Nàng cũng phạm tội với gã đó.
Vì họ không tin chàng, chàng bảo gã lưng gù đến v à hỏi gã, gã liền kể cho chàng mọi chuyện. Khi họ nghe gã nói, họ đều mất hết l òng say mê đối với n àng và bảo nhau:
- Ôi rõ ràng giống đ àn bà thật xấu xa tội lỗi. Vừa rời khỏi các nam nhi như chúng ta vốn quý tộc cao sang và đầy đủ phúc phận, n àng đ ã phạm tà hạnh với một gã lưng gù gớm ghiếc, đáng gh ê tởm như thế này. Ai có trí tuệ lại ham thích kết duyên với đám nữ nhi vô sĩ gian t à như vậy?
Sau khi lần lượt phỉ báng nữ nhân như trên, n ăm vương tử suy nghĩ: "Chúng ta đ ã chán chê đời sống vợ chồng rồi". Các vị lui về ở ẩn tại v ùng Tuyết Sơn, và sau khi đ ã thành tựu pháp Thiền quán Kasina, lúc mạng chung, các vị đi theo nghiệp của m ình.
Chim chúa Kunàla là vương tử Ajjuna, chính vì lý do ấy, khi nêu ra điều g ì bản thân đ ã thấy, chim ấy đều bắt đầu câu chuyện với lời: "Ta đ ã thấy". Khi kể lại những việc khác mà chim ấy đ ã thấy thời xưa, chim ấy cũng dùng những lời ấy.
Sau đây l à phần giải thích một sự việc được n êu ra ở chuyện khởi đầu.
*
Chuyện nữ khổ hạnh Saccatapàvì
Ngày xưa, tương truyền có một nữ khổ hạnh bạch y tên là Saccatapàvì xây một thảo am ở một nghĩa địa gần Ba-la-nại. Trong lúc sống ở đây, n àng nhịn luôn bốn bữa ăn trong số năm bữa, khắp kinh th ành, danh vọng nàng sáng chói gần xa chẳng khác nào đôi vầng nhật nguyệt. Dân chúng th ành Ba-la-nại nếu có hắt hơi hay vấp ngã đều bảo: "Cầu phúc cho Saccatap àvì!"
Bấy giờ vào ngày đầu một lễ hội, một số thợ v àng dựng lều tại một nơi dân chúng tụ tập, và đem theo cá thịt rượu mạnh, dầu thơm, tr àng hoa, v.v. rồi bắt đầu tiệc rượu say sưa.
Lúc ấy một gã thợ rèn nghiện rượu đang lúc nôn tháo, đ ã kêu lên "Cầu phúc cho Saccatapàvì!"
Có người khôn ngoan trong bọn họ bảo:
- Ôi thật là đi ên rồ mù quáng, chú đang tôn trọng một nữ nhân tính khí thay đổi bất thường. Chú thật l à đồ đi ên!
Gã đáp:
- Này bạn, đừng nói vậy, nếu không sẽ phạm tội đọa v ào địa ngục đấy.
Người khôn ngoan liền bảo:
- Đồ đi ên, hãy câm mồm lại. Hãy đánh cuộc với ta một ng àn đồng v àng, trong bảy ngày kể từ nay, cứ ngồi tại chính nơi đây, ta sẽ giao tận tay chú n àng Saccatapàvì phục sức diễm lệ cùng liên hoan rượu mạnh và ta cũng sẽ say sưa đánh chén với n àng. Bọn nữ nhi đều tính t ình bất định như thế.
Gã kia đáp:
- Bạn không thể có khả n ăng l àm việc ấy đâu.
Và gã đánh cuộc một ng àn đồng v àng.
Thế rồi thông báo với đám thợ v àng kia xong, sáng sớm hôm sau chàng trai giả dạng một vị khổ hạnh tiến vào nghĩa địa, không xa nơi n àng cư ngụ và đứng chi êm bái mặt trời. Nàng thấy chàng lúc bắt đầu đi khất thực, v à suy nghĩ: "Chắc chắn đây l à một vị khổ hạnh có thần thông. Ta ở một bên nghĩa địa, c òn Ngài ở ngay chính giữa: tâm Ngài chắc hẳn thuần tịnh như bậc Thánh. Ta muốn tỏ lòng ngưỡng mộ Ngài".
Thế là nàng đến gần ch àng đảnh lễ, nhưng ch àng không nhìn cũng không nói gì. Ngày hôm sau chàng cũng cứ làm vậy. Nhưng qua ngày thứ ba, khi nàng đảnh lễ, ch àng nhìn xuống và bảo:
- Hãy đi ngay.
Qua ngày thứ tư, chàng ân cần nói với nàng:
- Nàng đi khất thực có mệt nhọc chăng?
Nàng nghĩ thầm: "Ta đ ã được ch ào hỏi ân cần rồi" và hoan hỷ ra đi .
Ngày thứ n ăm n àng lại nhận được một lời ch ào hỏi ân cần hơn và sau khi ngồi nghỉ chốc lát, nàng đảnh lễ ch àng và ra đi .
Nhưng vào ngày thứ sáu, nàng lại đến đảnh lễ ch àng khi chàng ngồi đó. Ch àng nói:
- Này hiền muội, có tiếng gì ồn ào ca nhạc vang lừng ở Ba-la-nại hôm nay thế?
Nàng đáp:
- Bạch Thánh giả, Ngài không biết có mở lễ hội trong thành và đây l à tiếng những người đang li ên hoan tại đó ư?
Giả vờ không biết, chàng bảo:
- Phải, chắc đây l à tiếng ồn ta nghe được.
Rồi chàng lại hỏi:
- Này hiền muội, nàng nhịn ăn bao nhi êu bữa?
- Bạch Thánh giả, bốn. Còn Thánh giả nhịn bao nhiêu bữa? Nàng hỏi.
- Này hiền muội, bảy.
Nhưng đó l à chàng nói dối, vì chàng thường ăn suốt ng ày đ êm. Rồi chàng lại hỏi:
- Nàng đ ã thọ giới bao nhiêu n ăm?
Nàng nói:
- Mười hai n ăm, thế Thánh giả xuất gia bao lâu?
- Đây l à n ăm thứ sáu - Ch àng đáp.
Rồi chàng lại hỏi:
- Này hiền muội, nàng đ ã đạt đến thanh tịnh của bậc Thánh chưa?
- Bạch Thánh giả, chưa, còn Thánh giả?
- Chúng ta đều chưa đạt cả - Ch àng đáp.
- Này hiền muội, chúng ta không hưởng thọ dục lạc cũng không thành tựu viễn ly lạc. Vậy thì địa ngục nóng bỏng có nghĩa g ì với ta chứ? Chúng ta hãy theo con đường của đại chúng đi: ta sẽ trở th ành gia chủ và vì ta có sẵn tài sản của mẹ ta, ta sẽ chẳng thiệt hại gì cả.
Khi nghe chàng nói và do thiếu tịnh tín bất động, n àng đem l òng say mê chàng, liền nói:
- Thưa ngài, tiện nữ cũng thấy tâm bất mãn, nếu ngài không từ chối, thiếp xin theo về ở nhà cùng chàng.
Chàng đáp ngay:
- Ta không từ chối nàng đâu, n àng sẽ là vợ ta.
Sau đó ch àng đưa n àng về thành và sống chung với nàng. Khi cùng nàng đến tửu quán, chính ch àng uống rượu mạnh và giao nàng vào tay đám bạn để ch è chén say sưa tồi tệ hơn nữa. Vì thế gã trai kia thua cuộc mất một ngàn tiền vàng, còn nàng được ch àng thợ vàng này ban cho vô số con trai con gái. Thời ấy chim Kunàla là người thợ vàng và khi kể chuyện này, chim bắt đầu bằng những lời: "Ta biết".
Chuyện thứ hai là một cổ tích được kể đầy đủ trong Tiền Thân K àkati (số 327, chương IV, tập III). Vào thời ấy, Kunàla là chim Garuda (Kim sí điểu), v à vì lý do này, khi chứng minh điều g ì thấy tận mắt, chim ấy bắt đầu bằng lời: "Ta biết".
*
Chuyện công chúa Kurangavi
Trong chuyện thứ ba, một thuở nọ, vua Brahmadatta giết vua Kosala và chiếm quốc độ. Cướp mất ho àng hậu đang có thai, vua trở về Ba-la-nại, v à dù biết rõ tình trạng của bà, vua vẫn phong bà làm hoàng hậu. Đến kỳ khai hoa nở phụng, b à sinh một hoàng nam giống như một bức tượng vàng ròng.
Bà suy nghĩ: "Khi con ta lớn lên, vua Ba-la-nại sẽ bảo: "Nó là con trai của kẻ thù ta. Nó có nghĩa gì với ta đâu? V à sẽ giết nó. Nhưng không, ta không thể để con ta chết v ì tay kẻ thù". Vì thế bà bảo nhũ mẫu:
- Này chị, hãy lấy vải thô quấn hài nhi này và đi quẳng v ào nhà xác.
Nhũ mẫu làm theo lời bà, và sau khi tắm rửa xong, liền về nhà.
Còn vua Kosala, sau khi từ trần, tái sinh làm vị thần hộ mạng hài nhi ấy, và do thần lực xui khiến, một con dê cái của một mục tử đang nuôi đ àn dê ở vùng này, thấy đứa bé liền đem l òng thương yêu, cho nó bú sữa xong, đi quanh quẩn một lát rồi trở về hai, ba hoặc cả bốn lần để cho nó bú.
Người ch ăn d ê thấy con dê đi quanh đó, liền đến nơi, thấy đứa bé cũng đem l òng thương yêu và ẫm nó về cho vợ. Bấy giờ bà vợ không có con nên không có sữa cho nó bú. Vì thế con dê cái tiếp tục cho nó bú.
Từ hôm ấy, cứ mỗi ngày đều có hai ba con d ê chết. Người ch ăn d ê suy nghĩ: "Nếu đứa bé n ày được ta tiếp tục chăm sóc th ì tất cả đ àn dê đều chết. Nó có nghĩa g ì với ta chứ?" Sau đó y đặt nó v ào một nồi đất, đậy l ên một cái nắp và xoa lên mặt nó đầy bột đậu không thừa một kẽ hở n ào, rồi thả nó xuống sông.
Đứa bé do d òng nước cuốn trôi đến bờ thấp gần cung vua th ì được một kẻ vá đồ cũ hạ đẳng trông thấy khi đang đứng rửa mặt với vợ. Y vội vàng chạy đến kéo cái nồi ra khỏi nước v à đặt tr ên bờ. Y suy nghĩ: "Ta lấy được cái g ì đây?". Vừa mở nồi ra, y vội thấy đứa bé. V ợ y cũng không có con nên sinh lòng thương yêu nó. Vì thế bà đem nó về nh à s ăn sóc.
Khi đứa bé l ên bảy tám tuổi, cha mẹ nó thường đem nó theo mỗi khi đến cung vua. Lúc được mười sáu tuổi, ch àng trai thường đến cung vua để vá đồ cũ. Vua v à hoàng hậu có một công chúa tên Kurangavì là một cô gái nhan sắc phi thường. Từ lúc nàng trông thấy chàng trai, nàng đem ra luyến ái ch àng và không còn để ý đến ai nữa, n àng thường đi đến nơi ch àng làm việc. Do thường xuyên gặp gỡ nhau, họ say mê lẫn nhau và lén lút phạm tà hạnh trong ngự viên. Dần dần bọn thị tỳ tâu lên vua cha chuyện ấy.
Vua nổi trận lôi đ ình triệu tập các cận thần lại phán:
- Tên hạ đẳng n ày đ ã phạm các tội như vầy như vầy. Các khanh xem phải làm gì để trị nó đi.
Các cận thần tâu:
- Tội nó nặng lắm, sau khi buộc nó chịu mọi hình phạt, ta phải xử tử nó.
Thuở ấy, cha của chàng trai là vua Kosala đ ã trở thành vị thần hộ mạng của chàng, liền nhập vào thân mẹ chàng, nên nhờ thần lực ấy, bà đến gần vua v à thưa:
- Tâu Đại vương, ch àng trai này không phải là kẻ hạ đẳng đâu. Nó là con trai thiếp sinh ra với vua Kosala. Thiếp đ ã nói dối Đại vương khi bảo rằng con thiếp đ ã chết. Vì biết rằng nó là con trai của kẻ thù Đại vương, n ên thiếp đ ã sai một nhũ mẫu đem nó bỏ v ào nhà xác. Sau đó một người chăn d ê ch ăm sóc nó, nhưng khi cả bầy d ê bắt đầu chết, y đ ã thả nó xuống sông và do dòng nước cuốn đến đây, nó được kẻ hạ đẳng vá đồ cũ trong cung n ày tìm thấy và nuôi nấng. Nếu Đại vương không tin thiếp, xin cứ gọi những kẻ n ày vào và hỏi họ.
Vua triệu đám người ấy v ào, bắt đầu với nhũ mẫu; khi chất vấn, biết r õ các sự kiện do bà kể, vua rất hân hoan thấy chàng trai thuộc dòng quý tộc, liền ra lệnh cho chàng đi tắm rửa, trang điểm thật lộng lẫy v à gả công chúa cho chàng. Thuở ấy, do việc chàng đ ã gây ra cái chết của đ àn dê, chàng được đặt t ên Elakamàra (Bả thuốc giết dê).
Sau đó, vua giao cho ch àng xe cộ, một đạo quân v à bảo chàng lên đường:
- Hãy đi l àm chủ quốc độ của phụ vương con ng ày trước.
Vì thế chàng ra đi c ùng với Kurangavì và được tôn l ên ngôi báu. Lúc ấy vua Ba-la-nại suy nghĩ: "Con ta chẳng được học h ành gì cả", nên truyền Chalangakumara đến l àm thầy dạy chàng các môn học thuật. Khi nhận vị này làm sư trưởng, chàng lại phong ông chức đại tướng. Dần d à, Kurangavì thông gian với ông. Vị đại tướng có một quan hầu cận t ên Dhanantevàsì và ông nhờ kẻ ấy trao các món y phục cùng nữ trang khác cho Kurangavì, nàng cũng thông gian với kẻ ấy. Bọn ác nhân thật là hư hỏng vô đạo như vậy n ên ta không thể tán dương họ. Bậc Đại Sĩ dạy điều n ày khi ngài kể một chuyện quá khứ, vì thuở ấy ngài là Chalangakumàra, do đó sự kiện ng ài kể là một việc chính mắt ngài thấy.
*
Chuyện vương hậu Kosala.
Trong chuyện thứ n ăm n ày có một thời vua Kosala chiếm quốc độ Ba-la-nại v à phong bà chánh hậu đang có thai của vua ấy l ên ngôi chánh cung rồi trở về kinh đô của m ình. Về sau, bà sinh ra một vương tử. Vì không có con riêng của mình, vua rất yêu quý hài nhi và truyền dạy bảo chàng mọi môn học thuật.
Khi chàng trưởng thành, vua cha truyền chàng đi l àm chủ quốc độ thuộc quyền cha ch àng thuở trước. Chàng ra đi ngự trị xứ ấy.
Sau đó mẫu hậu ch àng bảo bà nhớ con trai liền xin phép vua Kosala khởi hành đến Ba-la-nại c ùng một đo àn hộ tống đông đúc v à trú chân ở một thị trấn giữa hai nước. Tại đây có một thanh ni ên Bà-la-môn tuấn tú tên gọi Pañcàlacanda đem dâng ho àng hậu một tặng vật. Vừa thấy kẻ ấy, bà liền say mê và phạm tà dục với y.
Sau khi ở lại đó v ài ngày, bà đến Ba-la-nại thăm ho àng tử. Lúc trở về, bà lại trú chân ở tại thị trấn nọ và sau nhiều ngày thông gian với tình nhân, bà trở về thành Kosala. Chẳng bao lâu sau, bà lấy cớ này cớ nọ để đi thăm con, b à xin phép vua và đến ở nửa tháng trong thị trấn kia để thông gian với t ình nhân. Bọn nữ nhi đầy tội lỗi v à giả dối như vậy đó.
Trong khi kể chuyện quá khứ này, ngài bắt đầu với những lời: "Chuyện n ày cũng có ý nghĩa ấy."
Về sau với nhiều cách biểu lộ sự khéo léo trong khi thuyết Pháp, ngài nói:
- Này hiền hữu Punnamukha, có bốn thứ tỏ ra tai hại khi gặp hoàn cảnh; ta bảo bốn thứ này không được đặt v ào nhà láng giềng, đó l à: bò đực, b ò cái, cỗ xe và vợ. Một người có trí phải tránh xa việc này ra khỏi nhà mình:
7- 8. Chớ cho hàng xóm mượn bò xe, Chớ gửi vợ ta đến bạn b è, Bò đực chết v ì làm quá độ, Phá xe v ì chúng thiếu tay nghề, Sữa bò cái vắt cho khô cạn, Vợ đến b à con hỏng thói lề!
Này hiền hữu Punnamukha, có sáu điều tỏ ra tai hại khi gặp ho àn cảnh: một cái cung thiếu dây, một cô vợ ở gia đ ình bà con, một chiếc thuyền (không lái), một chiếc xe gãy trục, một bạn thân vắng mặt, một bạn đường độc ác, đôi khi thật tai hại.
Này hiền hữu Punnamukha, thật vậy, có tám duyên cớ khiến đ àn bà khinh bỉ chồng: đó l à do nghèo khó bệnh tật, già cả, nghiện rượu, ngu đần, phóng túng, bôn ba đủ mọi thứ việc, xao l ãng bổn phận đối với vợ. Thật vậy, đ àn bà khinh bỉ chồng mình vì tám duyên cớ ấy.
Ở đây lại th êm vần kệ này:
9. Bệnh, nghèo, già, nghiện rượu, buông lung, Việc quá bôn ba, hoặc độn đần, Hoặc thấy chồng không lo bổn phận, Vợ thường chẳng trọng đấng phu quân.
Thật vậy, do chín nguyên nhân này, một nữ nhân phạm lỗi lầm: giả sử nàng thích lui tới các công viên, vườn hoa, bờ sông, thích th ăm viếng nh à bà con hoặc người xa lạ, ham mê trang điểm y phục của hạng quý phái, hoặc n àng nghiện rượu mạnh, ưa nhìn quanh quẩn bên mình, hoặc đứng tựa cửa, th ì này ta bảo, do chín duyên cớ này, một nữ nhân phạm lỗi lầm.
Ở đây lại th êm vần kệ này:
10. Đ àn bà ưa mặc áo quần sang, Nghiện rượu, rong chơi, dạ vẫn ham Vườn cảnh, công viên, trên bến nước, Đến nh à người lạ hoặc thân bằng. Nàng thường đến đứng b ên khung cửa, Lơ đ ãng nhìn quanh quẩn mặt đ àng, Theo chín cách này hư hỏng sớm, Lạc xa đường đức hạnh hiền lương .
Thật vậy, này hiền hữu Punnamukha, nữ nhân làm xiêu lòng nam nhi bằng bốn mươi cách khác nhau: Nàng uốn người lên, nàng cong người xuống, nàng nhảy tung t ăng, n àng làm vẻ e thẹn, nàng bóp chặt các đầu ngón tay, n àng đặt chân n ày lên chân kia, nàng lấy que cào mặt đất, n àng tung chàng trai lên rồi hạ xuống, nàng nô đ ùa và khiến chàng trai nô đ ùa, nàng hôn chàng và bảo chàng hôn nàng, nàng ăn v à cho chàng ăn, n àng trao tặng hoặc cầu xin vật gì đó, n àng nhại lại những gì chàng làm, nàng nói với giọng lúc bổng lúc trầm, nàng cất tiếng khi rõ ràng khi khó hiểu, nàng lôi cuốn chàng bằng múa ca đ àn địch, bằng những giọt nước mắt hay cách l àm dáng, hoặc với áo quần lộng lẫy, nàng cười cợt hay trừng mắt, nàng rủ áo hay vén xiêm, khoe đ ùi ra hoặc che đ ùi lại, nàng khoe ngực khoe nách, khoe rốn, nàng nhắm mắt, nàng nhướng mày, nàng mím môi, nàng lè lưỡi, nàng thả lỏng hay kéo sát xiêm y, nàng buông lơi hay quấn chặt kh ăn tr ùm đầu. Quả thật n àng lôi cuốn nam nhi bằng bốn mươi cách này.
Thật vậy này hiền hữu Punnamukha, một nữ nhân hư đốn được biết r õ qua hai mươi l ăm cách khác nhau: n àng ca ngợi việc chồng nàng vắng mặt, nàng chẳng thích chồng trở về, nàng chê bai chồng, nàng không lên tiếng khen chồng, nàng làm thương tổn chồng, và không làm lợi ích chồng, nàng làm những việc có hại cho chồng chứ không muốn làm gì giúp đỡ chồng, n àng mặc cả xiêm y lúc đi ngủ v à nằm ngoảnh mặt làm ngơ chồng, nàng l ăn lóc qua lại, gây chuyện ầm ĩ, thở d ài sườn sượt, kêu đau nhức m ình mẩy, thường hay đi tiểu tiện, xử sự mất nết, hễ nghe tiếng người lạ, n àng chổng tai ch ăm chú, n àng phung phí tài sản của chồng, nàng giao du thân mật với bạn hàng xóm, nàng hay đi lang thang ra ngo ài, thơ thẩn dạo phố, nàng phạm tội ngoại tình, vì khinh bỉ chồng, nàng có nhiều tư tưởng xấu xa trong lòng.
Quả thật, này hiền hữu Punnamukha, một nữ nhân hư hỏng được biết qua hai mươi lăm cách n ày.
Và đây lại th êm các vần kệ cảm thán:
11. Đồng t ình sự vắng mặt phu quân Chàng bước ra đi, chẳng n ão lòng, Dạ chẳng vui mừng chàng trở lại, Chẳng bao giờ tán thán công chồng, Đây l à dấu hiệu nêu cho rõ Lề thói thông thường ác nữ nhân. 12. Bất tuân, tính kế hại phu quân, Làm việc không nên, bỏ lợi chồng. Mặt ngoảnh đi, n àng nằm xuống ngủ Bên chàng, xiêm áo phủ hoàn toàn, Đây l à dấu hiệu nàng hư đốn Chắc chắn lộ ra thật r õ ràng. 13. Trằn trọc, chẳng nằm một lát yên, Thở dài sườn sượt, lại kêu rên, Hoặc nàng cứ giả vờ đau bụng, Như muốn tiểu, n àng vẫn đứng l ên, Các dấu hiệu này người thấy rõ Tính tình của phụ nữ hư hèn. 14. Độc ác trong h ành động của n àng, Nàng làm những việc phải can ng ăn, Nghe lời người lạ cầu ân huệ, T ài sản chồng, nàng thật phí hoang Để được ngoại t ình, là dấu hiệu Mọi người thấy rõ tính tà gian. 15. Bạc vàng góp nhặt bởi công chồng, Đồ đạc chất đầy thật khổ thân, N àng phí phạm nhanh, cùng lối xóm Nàng thân mật quá độ dần dần, Chính nhờ dấu hiệu n ày ta biết Tính nết gian tà của nữ nhân. 16. Hãy ngắm nàng đi dạo phố phường, Phủ ph àng đối xử với phu quân Khinh khi thô lỗ nhất trần thế, Chẳng ngớt ngoại t ình, loạn trí tâm. Nhờ dấu hiệu này, ta thấy rõ Bọn hồng quần quả thật tà gian. 17. Nàng vẫn đứng ngay trước cửa n àng Coi thường mọi phép tắc đoan trang, Khoe thân trơ trẽn cho h ành khách, Buồn bực nhìn quanh quẩn mọi phương, Các dấu hiệu này cho thấy rõ Thói tà gian của bọn hồng quần. 18. Như rừng cây được gỗ l àm thành, Như các dòng sông chảy uốn quanh, Vậy cứ tạo thời cơ thuận tiện, Nữ nhân đều lạc lối vô minh. 19. Tạo nơi kín đáo, hợp thời cơ, Con đường đức hạnh phải rời xa, Nữ nhân tất cả đều hư đốn Nếu có chốn nơi, lại đúng giờ Ví các t ình nhân kia chẳng đến, Chúng liền phạm tội với t ên gù. 20. Đ àn bà phục vụ thú đ àn ông, Chớ một ai tin bọn nữ nhân, Lòng dạ chúng thường thay đổi m ãi, Dục tham chúng lại cứ buông lung. Nữ nhân xứng gọi người cầu lạc Hèn mạt nhất trong đám hạ tầng, Chúng vẫn giống như l à bến tắm Thường chung chạ với mọi nam nhân. Hơn nữa, Ngài lại kể:
*
Chuyện vương hậu Kinnarà
Ngày xưa tại Ba-la-nại, có vị vua tên là Kandan rất khôi ngô tuấn tú, hằng ngày các cận thần đem đến dâng một ng àn hộp nước hoa. Với nước hoa này, họ làm cho cung điện thật cao sang thanh lịch. Sau đó họ chẻ các hộp ấy nhóm lửa thơm ngát v à nấu thức ăn với lửa ấy.
Bấy giờ vương hậu là một nữ nhân diễm lệ có tên Kinnarà và vị tế sư của vua là Pañncalacanda, cùng tuổi với vua và rất thông tuệ. Phía trong bức tường cạnh cung vua có một cây hồng đ ào, cành lá sà xuống tận bức tường và một tên què dị dạng gớm ghiếc sống ở dưới bóng cây ấy.
Một hôm vương hậu Kinnarà nhìn ra cửa sổ thấy gã, liền đem l òng say mê gã. Ban đ êm, sau khi đ ã chiếm được sự sủng ái của vua nhờ các t ài quyến rũ của bà, vừa khi vua ngủ say, và thường rón rén đứng dậy sắp đặt mọi thứ cao lương mỹ vị v ào một cái bát bằng vàng và đeo nó b ên hông, bà hoàng đu m ình qua cửa sổ nhờ một sợi dây vải, trèo lên cây hồng đ ào và buông mình xuống bằng một nhánh cây, bà đưa cao lương mỹ vị cho g ã què ăn rồi giao hoan với g ã, xong bà lại trèo lên cung điện theo cách b à đ ã đi xuống. Sau khi tắm gội to àn thân bằng nước hương, bà liền nằm xuống bên cạnh vua.
Theo cách này, bà thường xuyên phạm tà hạnh với gã què và vua không biết tý gì cả.
Một ngày kia, sau một lễ hội oai nghi diễu quanh kinh thành, vua đi v ào cung chợt thấy tên què kia, một sinh vật đáng thương đang nằm dưới bóng cây hồng đ ào, và vua bảo vị tế sư:
- Khanh hãy nhìn con ma trên đất n ày.
- Tâu Đại vương, truyền việc g ì ch ăn g?
- Này hiền hữu, có thể nào một nữ nhân bị dục tình kích động lại muốn đến gần một sinh vật đáng gh ê tởm như thế này ch ăng?
Nghe lời vua phán, gã què tràn đầy ki êu mạn suy nghĩ: "Vua này nói gì thế? Có lẽ vua không biết tý nào về việc hoàng hậu đến thăm ta". Rồi chắp hai tay về phía cây hồng đ ào, gã la to:
- Tâu vị thần hộ mạng cây này, trừ ngài ra, không ai biết chuyện ấy cả.
Vị tế sư thấy hành vi của gã, nghĩ thầm: "Chắc chắn chánh hậu của vua nhờ cây này giúp đi xuống phạm t à hạnh với gã".
Vì thế vị ấy tâu với vua:
- Tâu Đại vương, ban đ êm Đại vương tiếp xúc với thân thể chánh hậu th ì thấy như thế nào?
- Ta không nhận thấy gì cả - Vua đáp - Song v ào canh giữa thân thể bà lạnh lắm.
- Thế thì tâu Đại vương, d ù trường hợp các nữ nhân khác ra sao đi nữa, chánh hậu Kinnar à cũng đ ã thông gian với gã kia.
- Hiền hữu nói gì thế này? Lẽ nào một nữ nhân diễm lệ thế kia lại hành lạc cùng với con vật gớm ghiếc này ư?
- Vậy thì tâu Đại vương, ta thử t ìm chứng cớ chuyện này.
- Trẫm chấp thuận - Nhà vua bảo.
Và sau buổi cơm tối, vua nằm xuống cạnh bà để thử việc kia. V ào giờ ngủ như thường lệ, vua giả vờ ngủ say và bà cũng hành động như trước. Vua muốn theo d õi bước chân bà, liền đứng nấp trong bóng cây hồng đ ào. Tên què đang giận d ữ với bà hoàng và bảo:
- Tối nay nàng đến chậm quá.
Rồi gã lấy tay đánh v ào chiếc vòng tai của bà, vì thế bà đáp:
- Xin lang quân chớ giận. Thiếp phải chờ nhà vua ngủ say đ ã chứ.
Nói vậy xong, bà làm mọi việc như thể đóng vai một người vợ trong nh à gã què. Nhưng khi gã đánh b à, chiếc vòng tai có hình đầu sư tử, rời khỏi tai b à rớt xuống chân vua. Nhà vua nghĩ thầm: "Chính cái này sẽ là vật tuyệt diệu cho ta". Rồi vua lượm chiếc vòng dấu đi .
Sau khi phạm tà dục với tình nhân, bà trở về như trước và đi v ào nằm cạnh vua. Nhà vua khước từ mọi điệu bộ gợi t ình của bà và ngày hôm sau, vua truyền lệnh:
- Hoàng hậu Kinarà phải đến chầu v à mang theo mọi món trang sức trẫm đ ã ban.
Bà đáp:
- Món nữ trang có hình đầu sư tử của ta đang để ở tiệm v àng.
Và bà từ chối đi diện kiến.
Khi lệnh vua ban ra lần thứ hai, bà đến với một chiếc hoa tai độc nhất.
Nhà vua hỏi:
- Hoa tai kia của khanh đâu?
- Ở tiệm vàng.
Vua truyền người thợ vàng đến, phán:
- Tại sao ngươi không để ho àng hậu đeo hoa tai?
- Tâu Đại vương, hạ thần không giữ hoa tai ấy.
Nhà vua nổi cơn thịnh nộ, bảo:
- Này con tiện tỳ hư đốn kia, g ã thợ vàng của ngươi chắc hẳn là một người giống như ta.
Nói vậy xong, vua ném chiếc hoa tai ấy xuống trước mặt bà và bảo vị tế sư:
- Này hiền hữu, khanh đ ã nói đúng, h ãy đi bảo chém đầu nó ngay.
Vị ấy liền đem b à giấu ở một nơi an toàn trong cung, và đến tâu tr ình vua:
- Tâu Đại vương, xin chớ giận ho àng hậu Kinnarà, mọi nữ nhân đều như vậy cả. Nếu Đại vương muốn thấy bọn nữ nhân vô đạo ra sao, hạ thần sẽ chỉ cho Đại vương thấy tính gian t à và lừa dối của chúng. Thôi, ta hãy cải trang và vi hành xuống thôn quê.
Nhà vua sẵn sàng chấp thuận, giao vương quốc cho mẫu hậu rồi lên đường ngao du với vị tế sư.
Khi hai vị đ ã đi một dặm đường v à ngồi bên đường cái, th ì một phú gia nọ đang mở hội đám rước dâu cho con trai, đ ã đặt cô dâu ngồi v ào một cỗ xe đóng kín v à hộ tống nàng với một đo àn tùy tùng rầm rộ. Khi thấy đám n ày, vị tế sư nói:
- Nếu Đại vương muốn, ng ài có thể làm cho cô gái này thông gian với ngài.
- Này hiền hữu, khanh nói gì thế? Với cả đo àn tùy tùng rầm rộ này, làm sao có chuyện ấy được?
- Vậy thì xin Đại vương h ãy nhìn đây.
Rồi tiến lên phía trước, ông dựng lên một bức màn giống như một túp lều không xa đường cái, để vua ở trong màn, còn chính ông ngồi bên đường khóc lóc. Lúc ấy vị phú ông thấy vậy liền hỏi:
- Tại sao hiền hữu khóc?
Ông đáp:
- Tiện nội đang thai nghén nặng nề n ên tiểu đệ l ên đường đưa n àng về nhà mẹ, đang lúc đi đường n àng lên cơn đau đớn khổ sở trong bức m àn kia, và nàng lại không có người phụ nữ nào ở bên nàng, còn tiểu đệ th ì không thể vào đó với n àng được. Tiểu đệ không biết việc sẽ ra sao nữa.
- Nàng phải có một người đ àn bà ở bên cạnh. Thôi đừng khóc nữa. Ở đây có nhiều đ àn bà lắm. Một người trong bọn sẽ đến với n àng.
- Vậy thì xin để tiểu thư n ày vào. Đây sẽ l à điềm l ành cho tiểu thư.
Phú ông nghĩ thầm: "Người kia nói đúng đấy. Đây sẽ l à việc lành cho con dâu ta. Nó sẽ được phước sinh ra vô số con trai con gái". Rồi ông đưa n àng vào trong đó.
Vừa bước vào màn, thoạt trông thấy vua, nàng đ ã say mê và phạm tà hạnh với vua, rồi vua tặng nàng một chiếc nhẫn có dấu hiệu riêng của mình.
Khi việc ấy đ ã xong và nàng bước ra khỏi liều, chúng bạn hỏi:
- Bà ấy sinh con gì thế?
- Một cậu trai sắc vàng óng!
Thế rồi vị phú ông đem n àng đi mất. Vị tế sư đến gặp nh à vua và nói:
- Tâu Đại vương, ng ài vừa thấy ngay cả một thiếu nữ cũng đ ã hư hỏng như vậy. Còn nói gì các nữ nhân khác càng hư hỏng đến đâu? Xin Đại vương cho biết ng ài có ban nàng vật gì không?
- Có ta ban nàng chiếc nhẫn có tín hiệu riêng của ta.
- Hạ thần quyết không cho nàng giữ vật ấy đâu.
Ông liền vội vã chạy theo bắt kịp chiếc xe và khi bọn họ hỏi:
- Thế này là nghĩa lý gì?
Ông đáp:
- Cô tiểu thư này ra đi với chiếc nhẫn m à tiện nội Bà-la-môn đặt tr ên gối của nàng, vậy tiểu thư hãy trả chiếc nhẫn lại đi.
Khi trao nhẫn lại, nàng cào tay vị Bà-la-môn và nói:
- Hãy cầm lấy, quân đểu giả!
Như vậy vị Bà-la-môn này dùng đủ mọi cách n êu cho vua thấy nhiều nữ nhân khác cũng phạm tà dâm rồi nói:
- Tâu Đại vương, thế n ày là đủ rồi. Chúng ta sẽ đi nơi khác thôi.
Vua đi khắp c õi Diêm-phù- đề (Ấn Độ) v à hai vị bảo nhau:
- Tất cả nữ nhân đều giống hệt nhau. Chúng có nghĩa g ì với ta đâu? Thôi ta h ãy quay về đi.
Thế rồi hai vị đi thẳng về nh à ở Bà-la-nại. Vị tế sư nói:
- Tâu Đại vương, mọi nữ nhân đều như thế cả; bản chất của chúng đều gian t à. Xin ngài tha tội cho chánh hậu Kinnarà.
Thể theo lời khẩn cầu của vị tế sư, vua tha tội cho bà, song truyền đuổi b à ra khỏi cung. Khi vua đ ã tống bà ra khỏi cung rồi, vua chọn một vương hậu khác và truyền lệnh đuổi luôn t ên què cùng chặt nhánh cây hồng đ ào bỏ đi.
Vào thời ấy chúa chim Kunàla là Pañcàlacanda. Vì thế khi kể lại chuyện ngài đ ã chứng kiến tận mắt, ngài ngâm kệ để chứng minh:
21. Từ chuyện Kin-na, Kan-da vương Có nhiều việc tỏ lộ ra rằng: Nữ nhân tất cả đều không thấy Thích thú trong nh à chúng trú an; Người vợ bỏ rơi chồng cách ấy, Dù chồng thắm thiết lại hùng cường, Vẫn thường đi với đ àn ông khác, Ngay với gã què cũng lạc đường.
*
Chuyện vương hậu Pañcapàpà
Đây l à một chuyện khác nữa: Ngày xưa vị vua Bà-la-nại mệnh danh là Baka cai trị vương quốc đúng chánh pháp. Thời ấy một người đ àn ông nghèo khổ sống ở Đông môn th ành Ba-la-nại sinh được một gái đặt t ên là Pañcapàpà. Chuyện kể rằng trong một đời quá khứ n àng làm con gái nhà nghèo nhào trộn đất sét để đắp tường. Lúc ấy một vị Độc Giá c Phật suy nghĩ: "Ta phải tìm đất sét ở đâu để đắp hang núi n ày cho sạch sẽ gọn gàng? Có thể ta tìm được ở Ba-la-nại" .
Vị ấy liền đắp y, cầm b ình bát trong tay đi v ào kinh thành và đứng không xa nữ nhân n ày. Nàng tức giận nhìn vị ấy, nghĩ thầm: "Trong tâm địa xấu xa của y chắc đang cầu xin cả đất sét lẫn thức ăn". Vị Độc Giác Phật vẫn đứng bất động. V ì thế khi nàng thấy vị ấy đứng y ên, nàng hồi tâm, nhìn vị ấy một lần nữa và nói:
- Bạnh Tôn giả, ngài chưa có đất sét.
Rồi nàng lấy một cục đất lớn đặt v ào bình bát và với cục đất sét n ày, vị ấy làm cho một vật trong hang được gọn g àng. Và phần thưởng dành cho cục đất sét ấy l à thân thể nàng trở nên êm dịu lúc tiếp xúc, nhưng hậu quả của nét mặt giận dữ kia là tay chân, mồm, mắt, mũi nàng trở nên xấu xí dị dạng, vì thế quần chúng biết nàng qua biệt hiệu Pañcapapà (Ngũ ác tật).
Bấy giờ vua Ba-la-nại có dịp du hành quanh kinh thành ban đ êm và khi đi đến chốn n ày, nàng đang nô đ ùa với các thôn nữ khác, và vì không biết đó l à vua, nàng nắm lấy tay vua. Kết quả việc xúc chạm với nàng là vua mất hết tự chủ và như thể bị rúng động v ì xúc chạm với thần tiên, lòng rạo rực dục tình, vua nắm lấy tay nàng mặc dù nàng trông thật xấu xí dị dạng, và hỏi nàng là con gái nhà ai. Nàng đáp:
- Con gái một người cư ngụ bên cổng thành.
Và nghe nàng chưa có chồng, vua bảo:
- Ta sẽ là chồng nàng. Hãy đi xin phép cha mẹ chấp thuận.
Nàng đến gặp cha mẹ v à nói:
- Có một anh chàng muốn cưới con làm vợ.
Khi cha mẹ đồng ý v à bảo:
- Chắc người kia cũng nghèo khó tội nghiệp lắm mới muốn cưới cô gái như con.
Nàng đến báo tin cho nh à vua biết cha mẹ nàng đ ã bằng lòng.
Thế rồi vua ở chung với nàng ngay trong chính nhà ấy, và tảng sáng hôm sau lại tìm về cung. Tứ hôm ấy, vua thường cải trang đến đó v à không còn quan tâm nhiều đến bất cứ nữ nhân n ào khác.
Bấy giờ một hôm cha nàng mắc bệnh lên máu. Liều thuốc chữa bệnh cho là thường xuyên cung cấp cháo nấu với sữa, lạc, mật ong và đường. Song v ì nhà nghèo, họ không thể kiếm đâu ra món ấy. Sau đó b à mẹ bảo con gái:
- Này con, chồng con có thể kiếm cho ta một ít cháo này ch ăng ?
Nàng đáp:
- Mẹ ơi, chồng con chắc còn nghèo hơn ta nữa, song dù vậy, con cũng sẽ hỏi chàng, mẹ đừng lo g ì .
Nói thế xong, vào lúc vua trở về, nàng ngồi xuống như thể đang buồn bực. Khi vua đến hỏi tại sao n àng buồn như vậy và nghe chuyện ấy, vua bảo:
- Này hiền thê, thế khi nào ta sẽ phải đem về món thuốc công hiệu n ày?
Rồi vua suy nghĩ: "Ta không thể tiếp tục đến đây bằng cách n ày mãi được, ta phải xem xét nỗi hiểm nguy v ì cứ đi lui đi tới thế n ày. Song nếu ta đưa n àng về triều, quần thần không biết nàng có được l àn da xúc chạm êm dịu, họ sẽ chế nhạo ta và nói: " Đức vua đem về một con quỷ cái". C òn nếu ta để cho cả kinh th ành biết được xúc giác êm dịu ấy của nàng thì ta sẽ gạt bỏ hết mọi lời chê bai chống đối ta" . Vì thế vua bảo nàng:
- Này ái thê, thôi đừng buồn bực nữa. Ta sẽ đem cho cha n àng một ít cháo ấy.
Nói xong, sau khi hưởng lạc thú cùng nàng, vua trở về cung. Hôm sau vua bảo nấu món cháo như nàng đ ã tả và lấy lá kết thành hai cái giỏ, một giỏ đựng cháo gạo v à trong giỏ kia vua đặt một vương miện bằng ngọc rồi buộc chặt chúng lại.
Ban đ êm vua đến bảo n àng:
- Này ái thê, chúng ta nghèo lắm. Phải khó kh ăn vất vả lắm ta mới kiếm được cháo n ày. Nàng phải dặn cha nàng: "Hôm nay ăn cháo trong giỏ n ày; ngày mai giỏ kia".
Nàng làm theo lời dặn. Còn cha nàng, sau khi ăn một ít cháo đ ã thấy thỏa mãn ngay nhờ các chất bổ dưỡng t ăng dần sinh lực, phần c òn lại nàng đưa cho mẹ v à chính nàng cũng ăn một phần, n ên cả ba đều cảm thấy vô c ùng sung sướng, còn cái giỏ đựng vương miện bảo ngọc ấy, họ để d ành cho nhu cầu hôm sau.
Khi về cung thất, vua rửa mặt và bảo:
- Hãy đem vương niệm của trẫm đến đây.
Quần hầu đáp:
- Chúng thần không tìm ra vương miện.
Vua phán:
- Hãy đi t ìm khắp kinh thành.
Họ đi t ìm nhưng vẫn không thấy đâu cả. Vua phán:
- Thôi được, h ãy đi t ìm trong các nhà nghèo ngoại thành, bắt đầu từ các giỏ lá đựng thức ăn.
Họ đi t ìm và thấy vương miện bảo châu trong nhà này, liền la lên:
- Cha mẹ của cô nàng này là bọn trộm!
Họ trói cả hai và đem đến tr ình vua. Lúc ấy cha nàng thưa:
- Tâu Chúa thượng, chúng thần không phải bọn trộm, có một ngươi đ ã mang cho chúng thần bảo vật này.
- Ai thế? Vua hỏi.
- Con rể của thần - Lão đáp.
Khi được hỏi người ấy ở đâu, l ão đáp:
- Tiện nữ biết.
Rồi lão nói chuyện với nàng:
- Này con, con biết chồng con là ai chứ?
- Con không biết.
- Nếu vậy thì chúng ta tiêu đời rồi!
- Thưa cha, chàng đến lúc trời tối v à đi trước khi trời sáng, v ì vậy con không biết hình dáng chàng, nhưng con có thể nhận ra chàng bằng cách nắm tay chàng.
Cha nàng kể việc này với các quan và họ tâu trình vua. Vua giả vờ không biết gì về việc này và phán:
- Được h ãy để nữ nhân n ày ở trong bức màn ở sân chầu, và đục một lỗ tr ên màn lớn bằng bàn tay đ àn ông rồi gọi dân chúng đến đây để t ìm cho ra tên trộm bằng cách chạm vào tay nó.
Quần thần làm theo lệnh vua. Khi đến gặp n àng và thấy nàng như vậy, họ đều gh ê tởm bảo nhau:
- Nó là con quỷ cái.
Trong nỗi ghê tởm, họ không dám đụng v ào nàng. Nhưng họ cũng đưa n àng đặt v ào trong bức màn ở sân chầu và tập họp dân chúng lại. Khi cầm tay mỗi người đến dang qua lỗ hỏng, n àng bảo:
- Không phải người này.
Dân chúng đều say m ê vì sự xúc chạm thần tiên của nàng nên không thể bỏ đi được. Họ suy nghĩ: "Nếu n àng ấy đáng bị trừng phạt th ì dù chúng ta phải lấy gậy đánh n àng, chúng ta cũng sẵn sàng chịu đựng mọi việc phục dịch của bọn tôi đ òi vì nàng và rước nàng về nhà làm vợ chánh".
Sau đó quân hầu của vua đánh đuổi bọn họ đi th ì tất cả quần chúng bắt đầu từ vị phó vương đều làm như lũ người đi ên. Lúc ấy vua bảo:
- Thế trẫm có thể là người ấy ch ăng?
Rồi vua dang tay ra. Người đ àn bà ấy nắm lấy tay vua và la to:
- Ta đ ã bắt được t ên trộm?
Vua hỏi quần thần:
- Khi tay các khanh được n àng ấy nắm, các khanh nghĩ sao?
Họ tâu vua giống hệt cảm giác họ đ ã nhận được. Vì thế vua phán:
- Do duyên cớ này trẫm đ ã bảo chúng đưa n àng về cung. Nếu dân chúng không biết gì về xúc giác của nàng, họ sẽ khinh chê trẫm. Này các khanh đ ã biết mọi sự thật nhờ trẫm, vậy hãy nói ra nàng ấy nên ở nhà ai để l àm vợ?
Quần thần đáp:
- Tâu Ðại vương, ở cung của Ðại vương.
Thế rồi cử hành lễ quán đảnh, vua phong n àng làm chánh hậu và ban cho cha mẹ nàng quyền cao chức trọng. Từ đó về sau, v ì say mê nàng, vua không bảo tiến hành điều tra về n àng, cũng chẳng ngó ngàng đến nữ nhân n ào khác. Các vương phi kia tìm cách khám phá điều bí mật li ên quan đến n àng.
Một hôm, nàng nằm mộng thấy điềm n àng làm chánh hậu của hai vị vua, liền kể giấc mộng ấy với vua. Vua triệu các người giải mộng đến hỏi:
- Giấc mộng chánh hậu thấy như vậy có nghĩa gì?
Bấy giờ bọn họ đ ã nhận hối lộ từ các vương phi kia, liền thưa:
- Việc chánh hậu ngồi trên lưng voi toàn trắng là dấu hiệu Ðại vương b ăng h à, và việc lệnh bà sờ mặt tr ăng trong khi cỡi tr ên lưng voi là dấu hiệu bà đưa một vị địch vương đến chống Ðại vương.
- Vậy phải làm gì bây giời? Vua hỏi.
- Ðại vương không thể xử tử bà, nhưng Ðại vương phải đặt b à lên chiếc thuyền và đẩy xuống cho trôi sông.
Ban đ êm, vua sai đặt n àng lên thuyền cùng thức ăn, áo quần v à đồ nữ trang rồi đẩy n àng trôi theo dòng. Trong khi nàng được d òng nước cuốn đi tr ên thuyền, nàng đến diện kiến vua P àvàriya, lúc ấy đang du hí trong d òng nước.
Vị đại tướng của vua thấy chiếc thuyền liền hỏi:
- Chiếc thuyền này thuộc về ta.
Vua bảo:
- Hàng hóa trên thuyền thuộc về trẫm.
Khi chiếc thuyền đến gần, hai vị thấy nữ nhân kia v à vua hỏi:
- Ngươi là ai mà giống như quỷ cái thế?
Nàng mỉm cười đáp n àng là chánh hậu của vua Baka rồi kể cho vua nghe tất cả chuyện đời n àng, rằng nàng lừng danh khắp cõi Diêm-phù- đề với biệt hiệu Ngũ ác tật. Lúc ấy vua nắm tay n àng nhấc ra khỏi thuyền, vừa cầm bàn tay nàng, vua liền thấy rạo rực say mê vì sự xúc chạm ấy, bởi thế các cung tần mỹ nữ của vua chẳng còn được xem l à xứng đáng với danh hiệu nữ nhân nữa, vua liền tôn n àng lên địa vị chánh hậu v à nàng được vua sủng ái như chính bản thân của vua vậy.
Khi vua Baka nghe mọi chuyện đ ã xảy ra liền bảo:
- Ta không cho phép vua ấy phong nàng làm chánh hậu đâu.
Rồi truyền triệu tập quân sĩ, vua đến đóng quân ở một cảng đối diện b ên kia sông, gửi thông điệp với mục đích l à bảo vua Pàvàriya hoặc phải giao trả vị chánh hậu của mình hoặc ứng chiến.
Vị địch vương kia sẵn s àng lâm trận, nhưng các quân sư của cả hai vua đều nói:
- Không cần phải chết vì một nữ nhân. Bà ấy thuộc về vua Baka vì đó l à phu quân đầu ti ên của bà, song bà ấy lại thuộc về vua Pàvàriya vì vua này đ ã cứu bà ra khỏi chiếc thuyền. Do vậy hãy để b à ấy ở trong khoảng thời gian bảy ngày tại cung của mỗi vị vua.
Sau khi bàn luận kỹ lưỡng, họ thuyết phục hai vị vua đồng ý quan điểm n ày và cả hai đều vô c ùng hoan hỷ, bảo xây kinh thành ở hai bờ đối diện của sông ấy v à ngự đến ở đó, c òn nữ nhân ấy nhận địa vị chánh hậu của cả hai vua, v à cả hai đều say m ê nàng.
Bấy giờ nàng ở bảy ngày cùng một vị vua, rồi nàng lên thuyền qua sông đến cung của vị kia, v à lúc ở giữa dòng, nàng lại phạm tà hạnh với tên lái thuyền là một lão già vừa hói vừa què.
Thời ấy chúa chim Kunàla là vua Ba ka, nên ngài kể chuyện này như việc do chính mắt ngài trông thấy, và ngài ngâm kệ để chứng minh điều n ày:
22. Pà-và chánh hậu, Ba-ka vương, Tham dục hai vua thật khó lường, Tuy thế, nàng kia còn phạm tội Với tên nô lệ của chồng nàng. Vậy còn tên hạ tiện nào khác Nàng lại không mong thuốn phạm gian?
*
Chuyện vương hậu Pingiyànĩ.
Tuy nhiên còn một chuyện khác nữa:
Ngày xưa, vương hậu của vua Brahamadata, mệnh danh là Pingiyànĩ, mở cửa sổ nhìn ra và thấy một người giữ ngựa của hoàng gia. Ðến khi vua đ ã ngủ say, nàng trèo xuống qua cửa sổ, phạm tà dục với y rồi lại trèo lên cung điện, tắm rửa to àn thân với đủ loại nước hoa v à nằm xuống cạnh vua. Bấy giờ một hôm, vua suy nghĩ: "Ta không biết vì sao vào lúc nửa đ êm, thân thể hoàng hậu luôn giá lạnh, ta muốn xem xét vấn đề n ày".
Vì thế một ngày kia, vua giả vờ ngủ rồi trở dậy đi theo n àng và thấy nàng phạm tà hạnh với gã giữ ngựa. Vua trở về bước lên nội cung và nàng cũng vậy, sau khi phạm tội ngoại tình, liền trở vào nằm trên chiếc giường đẩy.
Hôm sau, trước mặt quần thần, vua triệu nàng vào chầu rồi công bố tà hạnh của nàng và phán:
- Tất cả đ àn bà đều tội lỗi như thế cả.
Rồi mặc dù tội ấy đáng h ành hình, tù đ ày, xẻo thịt, hoặc phanh thây, vua vẫn tha tội cho nàng, nhưng vua lại truất phế nàng khỏi ngôi cao và phong một nữ nhân khác làm chánh hậu.
Vào thời ấy chúa chim Kunàla là vua Brahmadatta, vì thế chính ngài kể chuyện này như một việc ngài đ ã thấy tận mắt và ngài ngâm kệ để chứng minh:
23. Kiều nữ Ping-ya, ái hậu vua Brah-ma-dat ngự trị sơn hà, Tuy nhiên, nàng với tên nô lệ, Của đấng quân vương phạm dục t à, Do bởi hoang dâm, nàng mất hết Cả quân vương lẫn gã gia nô.
Sau khi kể tội lỗi của nữ giới trong các chuyện đời xưa, ngài lại nói về tà hạnh của họ bằng cách khác nữa:
24. Hèn hạ, đổi thay ấy nữ nhân, Chúng c òn bội nghĩa với vong ân Nam nhân, ví thử không si ám, Chẳng hạ cố tin chúng nói n ăng. 25. Chúng ít quan tâm bổn phận m ình, Hoặc lời kêu gọi của ân tình, Vô tâm trước tấm lòng cha mẹ, Hoặc mối buộc ràng của đệ huynh. Chúng đóng vai người không hổ thẹn Khi vi phạm luật lệ công b ình, Mọi hành vi chúng đều tuân phục Ước vọng trong tâm của chính m ình. 26. Dù ở với chàng bao tháng n ăm, D ù chàng yêu dấu lại ân cần, Nồng nàn trong dạ và thân thiết Như chính đời ch àng quả thật chân, Trong lúc gian lao và khốn khổ, Chúng đ ành lòng bỏ đức phu quân. Về phần ta chẳng bao giờ nữa C òn đặt l òng tin bọn nữ nhân. 27. Tâm nữ nhân thường thấy đổi thay Như l à loài vượn khỉ leo cây, Hoặc như tàn lá cây soi bóng Trên đỉnh non cao, vực thẳm d ày. Chủ đích ở trong l òng nữ giới Sao cũng chập chờn cứ chuyển lay Như thể bánh xe l ăn vút m ãi Không hề có lúc nghỉ ngừng quay. 28. Khi đ ã nghĩ suy thật kỹ càng, Chúng nhìn quanh quẩn kiếm tìm đ àng Ðể đi bắt một người gi àu có, Biến gã thành mồi của chúng s ăn, Những bọn dại khờ như vậy đó, Chúng d ùng lời mặt ngọt chiêu hàng, Như chàng giữ ngựa miền Cam-bốt Dùng cỏ thơm câu ngựa dã man. 29. Song nếu nhìn quanh thật kỹ càng Mà không tìm thấy được con đường Ðể mong chiếm đoạt phần t ài sản Biến gã thành mồi của chúng s ăn, Chúng đuổi g ã ngay như một kẻ Ðã lên bờ nọ lúc sang ngang, Tức thì bỏ mặc thuyền trôi dạt, Thuyền ấy từ đây chúng chẳng m àng. 30. Như ngọn lửa thiêu đốt bạo hung Chúng ôm gh ì gã chặt trong lòng, Hoặc là đẩy g ã như dòng nước Lũ lụt chảy cuồn cuộn tứ tung! Chúng tán tỉnh chàng nào chúng ghét Cũng nhiều như kẻ chúng tôn sùng, Như con thuyền vẫn thường kề sát Cả bến bờ xa lẫn bến gần! 31. Chúng chẳng thuộc về một hoặc hai, Chúng như hàng quán mở ra mời; Người dùng lưới bắt nhanh làn gió, Như nữ nhân cầm giữ bọn trai. 32. Như quán nước, sông suối, mặt đường, Hoặc như nh à trọ, sảnh công đường, Nữ nhân buông thả c ùng tất cả, Tội chúng làm sao có thể lường! 33. Ðộc hại như đầu rắn hổ đen, Tham mồi như ngọn lửa vừa nhen, Như b ò lựa cỏ ngon lành nhất, Chúng muốn tình lang lắm của tiền! 34. Tránh loài voi, rắn hổ đen mun, Ngọn lửa tưới bằng lạc cháy b ùng, Người được phong vương v à quán đảnh, Bọn hồng quần, phải chạy nhanh chân. Những ai biết sống luôn ph òng hộ Xem các thứ này tựa địch quân. Quả thật chính l à tâm địa chúng L àm sao biết rõ, khó vô cùng! 35. Má hồng tài trì thật thông minh, Hay có hình dung tuyệt đẹp xinh, V à đám m ày râu thường ái mộ, Bọn này ta phải tránh cho nhanh; Vợ người hàng xóm, cô nàng kiếm Một phú ông loan phượng hợp thành, N ăm hạng nữ nhi n ày tất cả, Nam nhân không được kết ân t ình! 36. Dù một nam nhân chứa bạc vàng Cả trần gian để tặng ri êng nàng Mà tim chàng vẫn yêu thương nhất, Nàng cũng làm ô nhục đến ch àng, Nếu có thời cơ nào thuận tiện. Vậy nên cẩn thận kẻo e rằng Bạn sẽ rơi vào tay độc ác Của bọn người h èn hạ dối gian! 37. Chàng phô dáng khỏe mạnh hùng cường, Không phạm lỗi lầm của thế gian, Chàng đến cầu hôn cô thiếu nữ, Ch àng vừa tuấn tú lại yêu thương. Gặp cơn hoạn nạn và đau khổ, N àng sẽ rời xa, sẽ bỏ chàng. Ta chẳng bao giờ tin tưởng chúng, Phần ta đối với bọn hồng nhan! 38. Chàng chớ tin vì cứ nghĩ rằng: "Nàng yêu ta đó, đúng rồi chăng?" Ch àng đừng tin lẽ thường nhi nữ Trước mặt ch àng tuôn lệ ướt đầm! 39. Chớ tin cái ổ lót cành khô Cùng các lá cây tự thuở xưa Người bạn ngày xưa, đừng tín nhiệm, Ng ày nay có thể hóa người thù, Chớ tin vua chúa vì suy nghĩ: "Người ấy, bạn ta thuở trước giờ" Và chớ tin vào người phụ nữ Dù sinh cho bạn chục con thơ! 40. Cầu lạc chính là bọn nữ nhân, Dục tham sao cứ mãi buông lung, Lũ người vi phạm nền luân lý, Bọn chúng, bạn đừng có cậy trông. Vợ cứ giả vờ tr ò luyến ái Bao la, vô hạn trước ông chồng, Chớ tin nàng ấy,vì nhi nữ Chung chạ như bao bến tắm sông! 41 . Sẵn sàng chém giết hoặc phân thây, Không có việc gì chẳng nhúng tay, Khi đ ã diễn xong trò cắt cổ, Chúng còn uống máu của chàng ngay! Bọn mày râu chớ say mê chúng, Một lũ dục tham hạ liệt đầy, Phóng đ ãng và còn chung chạ nữa Như là bến tắm sông Hằng vầy! 42. Lời nói chúng thường chẳng biệt phân Giữa điều chân thật với t à gian, Như bò lựa cỏ ngon lành nhất, Chúng kiếm tình nhân lắm bạc vàng. 43. Dụ một chàng bằng mắt, nụ cười, Chàng kia bằng cách bước đi chơi, Giả trang lôi cuốn vài chàng nữa Ðám khác bằng câu chuyện ngọt bùi! 44. Hung bạo, nhẫn tâm, lại bất lương, Song lời lẽ chúng ngọt như đường, Không g ì bọn nữ nhi không biết Ðể gạt chàng nào chúng kết hôn! 45. Quả thật đ àn bà thảy ác gian, Việc ô nhục của chúng vô lường, Chúng đều tham đắm v à liều lĩnh Thiêu đốt nhanh như ngọn lửa bừng. 46. Nữ nhân chẳng phải được sinh ra Ðể thích người này, ghét kẻ kia, Chúng tán chàng nào mà chúng ghét Cũng nhiều như kẻ chúng tôn thờ, Như con thuyền vẫn thường kề sát Cả bến bờ gần lẫn bến bờ xa. 47. Vì phải đâu l à chuyện ghét thương Mà ta thường thấy ở hồng quần, Ðàn ông chúng bám vì vàng bạc Như bám vào cây, đám bọ tr ùng! 48. Kẻ làm nghề đốt xác người ta, Hoặc quét hoa khô khỏi điện thờ, Hoặc g ã giữ voi hay giữ ngựa, Ðến cùng là đứa giữ trâu b ò, Tuy nhiên vì bạc tiền, nhi nữ Vẫn chạy theo phường hạ đẳng kia. 49. Bỏ rơi quý tộc nếu ngh èo nàn, Nhưng chính tên vô loại, hạ tầng, Ðối với tên này, như xác thối, Nếu giàu, chúng cũng chạy nhanh chân.
Như vậy, Ànanda, vị thứu vương, dựa theo những sự việc do chính ngài biết, đ ã nói về những tính xấu của nữ giới, rồi giữ im lặng. Còn Nàrada, sau khi nghe những gì Ngài cần phải nói, cũng dựa theo những việc chính mình biết, liền kể ra những tính xấu của họ.
Ðể chứng minh điều n ày, bậc Ðạo Sư bảo:
- Thật vậy, lúc ấy Nàrada, khi nghe kể đoạn khởi đầu, đoạn giữa v à đoạn cuối của câu chuyện mà Ànanda, thứu vương cần phải nói ra, đến đây, liền ngâm các vần kệ này:
50. Bốn vật chẳng hề biết thỏa thuê, Những lời ta nói, lắng tai nghe: Ðại dương, đạo sĩ v à vua chúa, Hỡi Ðiểu vương, và bọn nữ nhi. 51. Mọi dòng trong đất gặp qu ê hương Cũng chẳng làm đầy đủ đại dương, Vẫn có cái g ì còn thiếu thốn, Dù cùng nước biển thảy hòa tan. 52. Bà-la-môn thuộc các kinh thơ, Tri kiến theo truyền thuyết thuở xưa, Thánh kiến, tuy nhiên, còn thiếu thốn Và khao khát mãi, mãi chưa vừa. 53. Vị vua chinh phục cõi trần ai, Tất cả núi đồi, các biển khơi, Có thể gọi kho t àng bất tận Chứa đầy t ài sản của mình thôi, Vẫn mơ thế giới bên kia biển Vì nghĩ bên này quá nhỏ nhoi! 54. Nhi nữ kết duyên với tám chồng Sẵn sàng tuân phục ý riêng nàng, Anh hùng gan dạ đầy t ài giỏi Nhiệm vụ tình quân thảy vẹn toàn; Tuy vậy nàng yêu chàng thứ chín Bởi vì còn thiếu thốn trong lòng! 55. Ðàn bà như lửa nuốt con mồi, Như nước lũ tuôn thảy cuốn trôi, Tai họa, gai đâm l à bọn chúng, Chúng thường đi lạc kiếm v àng thôi! 56. Chàng kia dùng lưới đón xuân phong, Hoặc chỉ một m ình tát biển đông, Vỗ với một tay, xưa lại dám Ðể tâm tư hướng đến giai nhân! 57. Ðối với quần thoa có trí tài, Thật chân là của quý trên đời, Tính t ình phức tạp như tơ rối, Như thói các đ àn cá biển khơi. 58. Nói n ăng dịu ngọt, khó vừa l òng, Như thể khó đầy các lạch sông, Chúng lắng ch ìm dần, dần xuống mãi, Biết hồng quần, phải chạy nhanh chân! 59. Hồng nhan phản bội khiến mê say, Ðệ nhất tịnh nhân phải đọa đ ày; Chúng cứ chìm dần, dần xuống mãi, Những ai biết chúng, phải xa bay! 60. Bất kỳ chúng phục vụ đ àn ông Vì bạc vàng, tham dục thỏa lòng, Chúng đốt g ã như nhiên liệu cháy Ðược thả vào trong ngọn lửa hồng!
Khi Nàrada đ ã nêu ra các tội lỗi của nữ nhân như vậy, bậc Ðại Sĩ một lần nữa dùng những thí dụ đặc biệt chứng minh các tính xấu của họ.
*
Ðể làm sáng tỏ việc này, bậc Ðạo Sư nói:
- Thật vậy, chim chúa Kunàla, sau khi biết phần đầu, phần giữa v à phần kết thúc câu chuyện Nàrada kể, đến đây liền ngâm các vần kệ sau:
61. Người khôn dám nói một đôi lời Với quỷ cầm gươm sắc mới m ài, Ðánh đập hung x à, song chớ bạo Chuyện trò với gái một mình thôi! 62. Nữ sắc làm mờ trí tục nhân, Nói, cười, ca, múa, cánh tay trần Gây phiền lụy những tâm dao động, Như quỷ dữ xưa giết lái buôn. 63. Ðắm say rượu thịt, cố hoài công Kiềm chế cơn thèm, nén dục tâm Như quái vật xưa trong biển cả Nuốt trôi tài sản của nam nhân. 64. Chúng chiếm riêng tham dục ngũ phần, Buông lung kiêu mạn cứ tuôn tràn, Như sông tìm đại dương đi tới, Bọn phóng dật l àm mồi nữ nhân. 65. Trai tráng được nhi nữ thích ham, Ðộng tâm bởi nhục dục tham lam, Kẻ kia nung nấu vì cuồng vọng, Chúng đốt sạch trơn tựa lửa than! 66. Kẻ nào nếu chúng biết giàu sang, Nhào đến cướp đi, trọn bạc v àng, Tay quấn chặt chàng bừng lửa dục, Như dây leo quấn chặt cành Sàl. 67. Như trái vim-ba, miệng đỏ tươi, D ùng nhiều mưu kế hại con người, Khi thì cười lớn, khi cười nụ, Như quỷ sam-va, chúa bẫy mồi! 68. Nữ nhi trang điểm đủ kim ho àn Ðược họ nhà trai đón thật sang, Cho dẫu được canh ph òng cẩn mật, Vẫn thường phạm tội phản phu quân, Như nàng kiều nữ ngày xưa ấy Ðã được mang trong bụng quỷ nhân. 69. Người có trí và thật nổi danh Ðược tôn sùng dưới mắt quần sinh, Tuy nhiên sa dưới quyền nhi nữ Sẽ không còn tươi sáng hiển vinh, Như cả vầng tr ăng vừa bị nuốt Bởi La-hầu đại lực y êu tinh. 70. Cừu nhân trút hận xuống cừu nhân, Hay bạo chúa phô nỗi hận sân, Số phận còn đau hơn thế nữa Che mờ tất cả, bởi nguồn căn Dục tham, n ên phải đ ành sa đọa Ở dưới quyền uy của nữ nhân. 71. Bị h ăm c ào cấu khắp thân hình, Hoặc nắm tóc lôi kéo khỏi mình, Dọa quất bằng roi, hay gậy gộc, Hoặc là đấm đá khắp chung quanh, Nữ nhi vẫn chạy đi t ìm kiếm Một gã cùng đinh kết bạn t ình, Vì thấy lạc hoan trong gã ấy Như loài ruồi kiếm xác ương sình! 72. Tránh bọn nữ nhân ở giữa đường, Hoặc kinh th ành hoặc ở công trường Của vua, thị trấn, thôn làng nhỏ, Bậc có trí hiền sẽ lạc an, Tránh được bẫy đang giăng vậy đó Bởi Na-mu-ci, chính Ma vương. 73. Kẻ nào buông lỏng luật Sa-môn, Tập những thói đ ê tiện, hạ tầng, Kẻ khốn ngu si đ ành đổi lấy Ngục sâu thay thế cảnh thi ên đường, Giống như những kẻ n ào đem đổi Ngọc có tỳ thay ngọc vẹn to àn. 74. Ðời này, đời kế đáng khinh kh i Là kẻ cố tâm khổ lụy vì Bọn ác nữ nhân, đi lảo đảo, Ng ã nhào liều lĩnh, thật ê chề Như con lừa dữ cuồng đi ên chạy Với chiếc xe l ăn lóc mọi bề. 75. Hoặc v ào rừng lụa lắm gươm dao, Hoặc ngục Pa-ta phải đọa v ào, Ðội lốt thú rùng đi l ãng vãng, Chốn ma đói chẳng thoát thân n ào. 76. Trong vườn Hỷ lạc thú vui chơi Của các Thiên tiên ở cõi trời, Quyền đại đế vương tr ên mặt đất Ti êu vong vì nữ giới, than ôi! Thói phường phóng dật buông lung ấy Ði đến sầu bi đọa xứ thôi. 77. Khó đâu th ành đạt thú thi ên đường, Cũng chẳng khó quyền lực đế vương Trải rộng khắp nơi tr ên cõi đất, Các n àng Thiên nữ ở lầu vàng Ðã thành tựu các điều như vậy, Ðoạn diệt từ lâu ác dục tham. 78. Từ Dục giới này được hóa thân Ði vào Sắc giới đủ quyền năng Tái sinh v ào cõi A-la-hán, Những vị đ ã trừ diệt dục tâm. 79. Cực lạc vượt qua mọi khổ đau, Không duy ên sinh, bất động, thâm sâu, Ðạt thành bởi những người thanh tịnh Ðắc Niết-bàn, ly dục đ ã lâu.
*
Như vậy bậc Ðại Sĩ chấm dứt Pháp thoại sau khi làm cho hội chúng đắc Ðại Niết-bàn bất diệt. Các loài yêu quỷ mãnh xà và đồng loại ở v ùng Tuyết Sơn cùng các vị thần đứng tr ên không gian, đều reo mừng tán thán:
- Lành thay! Thật là khéo nói với đầy đủ vẻ nhiệm m àu của một bậc Giác Ngộ!
Ànanda, thứu vương, Nàrada, vị thần Ba-la-môn, Punnamukha, chim sơn ca chúa, và bậc Ðại Sĩ đều trở về trú xứ của m ình. Song các vị kia thỉnh thoảng còn trở lại nhận lời chỉ giáo từ đôi b àn tay của bậc Ðại Sĩ và do tuân thủ giáo pháp của ngài nên được tái sinh v ào cõi Thiên.
*
Ðến đây, bậc Ðạo Sư chấm dứt bài giảng và ngâm vần kệ cuối cùng để nhận diện Tiền thân:
80. U-dà-yi ấy chúa Sơn ca, Linh thứu vương là À-nan-da, Nà-ra-da là Xá-lợi-phất, Ku-nà-la hót chính là Ta.
Các vị phải hiểu Tiền thân này như vậy.
Bấy giờ các Tỷ-kheo này, khi đến đây, đ ã đến bằng thần thông của bậc Ðạo Sư, còn khi về, lại về bằng chính uy lực thần thông của mình. Và ở trong Ðại Lâm, bậc Ðạo Sư đ ã trình bày cho các vi thấy phương tiện để đạt được chánh định, n ên ngay hôm ấy các vị đắc quả A- la-hán. Có một số đông chư Thi ên tụ họp nơi ấy nên đức Thế Tôn tuy ên thuyết cho các vị nghe Kinh Ðại Hội (Mahàsamaya Sutta).
537. Chuyện đại Sutasoma (Tiền thân Mah à-Sutasoma)
Chuyện này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Jetavana (Kỳ Viên) về Trưởng lão Angulimàla (Người đeo v òng ngón tay).
Cách vị ấy tái sinh và gia nhập Giáo hội phải được hiểu như đ ã được mi êu tả đầy đủ trong kinh Angulim àla (Trung Bộ II).
Bấy giờ từ khi nhờ phát nguyện một hành động nói lời Chân thật, ông cứu sống một người đ àn bà sinh khó, rồi ông kiếm được thực phẩm cúng dường thật dễ d àng. Sau đó nhờ tu tập hạnh viễn ly, ông chứng đắc quả A-la-hán v à được công nhận l à một trong tám mươi Ðại Trưởng lão.
Bấy giờ T ăng chúng bắt đầu nói về đề t ài này, bảo nhau:
- Này các Hiền giả, thật vi diệu thay là phép thần thông do đức Thế Tôn thị hiện để giáo hóa nhẹ nh àng như vậy và không cần dùng chút bạo lực nào, Ngài đ ã điều phục một tướng cướp hung bạo khát máu như Angulim àla! Ôi quả thật chư Phật đ ã thành tựu những việc hy hữu thay!
Bậc Ðạo Sư ngồi trong Hương phòng, với thiện nhĩ thông, hiểu được chuyện đang nói, v à biết rằng hôm nay Ngài đến đó sẽ rất lợi ích v à sẽ thuyết giảng một đại kinh n ên với oai nghi tối thắng của một bậc Giác Ngộ, Ngài đi đến Chánh Pháp đường, ngồi tr ên sàng tọa dành cho Ngài và hỏi hội chúng đang thảo luận đề t ài gì. Khi vị trình Ngài chuyện ấy, Ngài bảo:
- Này các Tỷ-kheo, thật không kỳ diệu gì việc Ta giáo hóa vị ấy ngày nay, khi Ta đ ã chứng đắc Vô thương Chánh giác. Ta cũng đ ã điều phục vị ấy khi ta c òn sống trong một đời trước với một tr ình độ tri kiến hạn hẹp m à thôi.
Cùng với những lời này, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày xưa, vua Koravya cai trị rất đúng pháp tại th ành Indapatta, trong quốc độ Kuru (Câu-lâu). Bồ-tát ra đời l àm con của vị chánh hậu, và do ngài thích nước ép trái soma, nên được đặt t ên Sutasoma. Khi ngài đến tuổi trưởng th ành, vua gửi ngài đến Takkasil à để thọ giáo với một vị danh sư lẫy lừng khắp thế giới. Thế l à khi nhận lãnh học phí để trả cho thầy, ng ài lên đường đến đó.
Tại Ba-la-nại, vương tử Brahmadatta con vua Kàsi cũng được cha gửi đến đó c ùng mục đích như tr ên và cùng lên đường theo hướng ấy. Trong lúc du h ành, Sutasoma ngồi nghỉ trên ghế dài trong một sảnh đường cạnh cổng th ành. Vương tử Brahmadatta cùng đến ngồi xuống cạnh ng ài trên ghế đó. Sau khi ch ào thân hữu xong, Sutasoma hỏi bạn:
- Này Hiền hữu, bạn đ ã mệt mỏi vì cuộc hành trình rồi đó. Bạn từ đâu đến?
Khi vị kia đáp:
- Từ Ba-la-nại.
Ngài lại hỏi vị kia là con của ai.
- Con vua Brahmadatta.
- Quý danh là gì?
- Vương tử Brahmadatta.
- Hiền hữu đến đây có mục đích g ì?
- Ðể được dạy các môn học thuật.
Sau đó vương tử Brahmadatta bảo:
- Hiền hữu cũng mệt mỏi vì chuyến đi n ày rồi.
Và hỏi th ăm ng ài tương tự như trên, Sutasoma kể cho bạn nghe mọi chuyện về mình.
Cả hai vị đều suy nghĩ: "Chúng ta đều l à các vương tử đi thọ giáo các môn học thuật từ tay c ùng một vị thầy", liền kết bạn với nhau.
Khi vào thành, hai vị đến nh à giáo sư, đảnh lễ thầy, v à sau khi nêu rõ lai lịch danh tánh, hai vị nói đến đây để xin thọ giáo các môn học thuật. Vị thầy sẵn s àng nhận lời thỉnh cầu ấy.
Sau khi trao học phí xong, hai vị bắt đầu học tập v à không chỉ hai vị, mà còn nhiều vương tử khác ở xứ Diêm-phù- đề thời ấy, l ên đến hơn một trăm vị, xin thọ giáo với vị thầy n ày.
Sutasoma là đệ tử lớn chẳng bao lâu đạt đến t ài n ăng giảng dạy, nhưng không muốn thăm hỏi các bạn kia, ng ài suy nghĩ: "Ðây là thân hữu của ta", ngài chỉ đến với vương tử Brahmadatta m à thôi, và trở thành thầy riêng của bạn, ngài giáo huấn bạn, trong lúc các vị kia phải từ từ thu thập kiến thức cho mình.
Các vị ấy sau thời gian tinh cần học tập cũng từ giã sư phụ, và tập họp thành một đo àn tùy tùng theo Sutasoma lên đường hồi hương. Sau đó, Sutasoma đứng trước đám đông để từ gi ã họ, bảo:
- Sau khi các vị chứng tỏ tài học của mình trước phụ vương, các vị sẽ ổn định đời mỗi người trong vương quốc của m ình. Khi ổn định xong, xin nhớ tuân theo lời giáo huấn của ta.
- Thưa Tôn sư, đó l à những gì?
- Vào những ngày tr ăng non v à tr ăng tr òn, phải giữ Bố-tát giới và cử sát sinh.
Chúng bạn đều đồng ý tuân lời dặn ấy. Bồ-tát nhờ thần lực ti ên tri theo tướng mạo mỗi người, biết rằng đại nạn sẽ xảy đến với vương tử Ba-la-nại trong tương lai, v à sau khi giảng dạy đầy đủ như vậy, ng ài cho họ ra đi.
Các vị ấy đều trở về xứ sở, v à sau khi trình bày việc học hành của mình trước các phụ vương, các vị ấy lên nối ngôi trong vương quốc của mình. Rồi để thông báo việc n ày cùng việc tiếp tục tuân thủ lời dạy của ngài, các vị vua ấy gửi thư cùng tặng vật đến Sutasoma.
Khi biết được t ình hình mọi việc, bậc Ðại Sĩ liền trả lời các thư kia cùng dặn các vị giữ vững niềm tin. Một trong các vị ấy là vua Ba-la-nại, vốn chưa bao giờ ăn cơm m à không có thịt, vì thế, để giữ ng ày trai giới quần hầu thường lấy thịt cất riêng một nơi.
Bấy giờ, một hôm thịt được cất ri êng như vậy, do người đầu bếp bất cẩn, bầy chó khéo nuôi của ho àng cung ăn hết. Người đầu bếp không t ìm ra thịt vội cầm một nắm tiền đi quanh quẩn vẫn không mua được thịt g ì cả, tự nhủ: "Nếu ta dọn cơm không có thịt, ta sẽ chết mất. Ta phải làm gì đây?" Nhưng lại nghĩ: "C òn có một cách". Ðến chiều tối, y ra nghĩa địa phơi đầy xác chết, lấy một ít thịt đ ùi của một người mới chết, y nướng thịt thật chín và dọn lên làm thức ăn.
Khi một lát thịt vừa chạm vào đầu lưỡi vua th ì nó gây rung động khắp bảy ng àn dây thần kinh vị giác và tiếp tục tạo ra sự xáo trộn cả toàn thân. Tại sao vậy? Ðó là do trước kia, vua đ ã từng dùng thịt này rồi. Vì truyện kể rằng trong đời sống ngay trước đời n ày, vua đ ã là một quỷ Dạ-xoa (Yakkha) từng ăn nhiều thịt người n ên nó hợp khẩu vị vua. Vua suy nghĩ: "Nếu ta giữ im lặng mà ăn thịt n ày, y sẽ không nói cho ta biết đó l à thịt gì". Vì thế, khi nhổ ra, vua để rơi một miếng thịt xuống đất. Người đầu bếp thưa:
- Tâu Ðại vương, xin ngài dùng thịt này, không sao cả đâu.
Vua ra lệnh mọi quân hầu lui ra và bảo:
- Trẫm biết rõ lắm nhưng đó l à thịt gì?
- Ðó là thứ thịt Ðại vương đ ã thưởng thức các lần trước.
- Chắc chắn các lần khác thịt không có mùi thơm này.
- Tâu Ðại vương, hôm nay thịt được nấu kỹ lắm ạ.
- Chắc chắn trước kia ngươi cũng nấu giống thế này ch ăng?
Rồi khi thấy y im lặng, vua phán:
- Hoặc là phải nói thật với trẫm hoặc ngươi phải chết.
Thế là y cầu khẩn vua cam đoan không trừng phạt v à kể đúng sự thật. Vua bảo:
- Ðừng nói gì việc ấy nữa. Ngươi sẽ phải ăn thịt nướng thường lệ v à chỉ nấu thịt người cho trẫm.
- Tâu Ðại vương, chắc chắn việc này khó lắm ạ.
- Ðừng sợ, chẳng có gì khó cả.
- Thế tiểu thần kiếm đâu ra thường xuy ên thứ thịt ấy?
- Chả có bọn tù nhân trong ngục đó sao?
Từ đó, y l àm theo lời vua dặn. Dần dần, khi thiếu tù nhân, y trình:
- Tiểu nhân phải làm gì bây giờ?
Vua phán:
- Hãy ném xuống đường cái một gói có ng àn đồng tiền rồi bắt lấy kẻ n ào lượm gói ấy như kẻ trộm và xử tử nó đi.
Y tuân lệnh. Dần dần, không tìm ra kẻ nào có ý nhìn đến gói tiền ấy nữa, g ã thưa:
- Tiểu thần phải làm sao đây ?
- Vào lúc trống điểm canh khuya, kinh th ành thật đông người. Vậy ngươi h ãy xuống vào trong một chỗ nứt ở tường nhà hay ở ngã tư, hạ thủ một người và cắt đi v ài miếng thịt.
Từ đó, y thường trở về với một ít thịt mỡ v à nhiều nơi trong kinh thành phát hiện nhiều xác chết. Tiếng than khóc vang lên: "Tôi đ ã mất cha, mất mẹ, mất anh em rồi".
Dân trong thành kinh hoàng bảo nhau:
- Chắc chắn sư tử, cọp beo hay quỷ dữ đ ã ăn thịt các người này.
Khi quan sát các tử thi, họ thấy có chỗ giống vết thương hở miệng liền nói:
- Kìa, ắt hẳn một người nào đó ăn thịt chúng đấy.
Dân chúng tụ tập ở sân chầu và kêu than. Nhà vua hỏi:
- Này các hiền hữu, có chuyện gì thế?
- Tâu đại vương, trong kinh th ành này có kẻ cướp ăn thịt người. Xin ng ài ra lệnh bắt nó.
- Làm sao trẫm biết đó l à ai được? Trẫm phải đi quanh quẩn kinh thành này mà canh giữ ch ăng?
Dân chúng bảo nhau:
- Nhà vua không quan tâm đến kinh th ành. Chúng ta sẽ báo cáo việc này lên vị đại tướng K àlahatthi.
Họ đến tr ình vị tướng ấy việc này và nói:
- Xin Ðại tướng tìm cho ra tên cướp này.
Vị ấy đáp:
- Hãy đợi bảy ng ày ta sẽ tìm ra tên cướp và giao cho các vị.
Khi giải tán quần chúng xong, ông ra lệnh cho các tướng lãnh:
- Này các hiền hữu, dân chúng bảo có tên cướp ăn thịt người trong th ành này. Các hiền hữu, hãy mai phục ở nhiều nơi và bắt nó.
- Ðược lắm - Họ đáp.
Từ ngày ấy họ vây quanh toàn thành. Bấy giờ người đầu bếp đang ẩn m ình trong cái lỗ ở tường nhà kia đ ã giết một phụ nữ và bắt đầu nhét đầy thịt n ày vô giỏ của y. Vì thế đám tướng l ãnh chụp y, đấm đánh túi bụi v à vừa trói y ra sau, vừa la lớn:
- Chúng ta đ ã bắt được t ên trộm ăn thịt người rồi!
Một đám đông vây quanh họ. Rồi vừa đánh đập y một trận m ê tơi vừa buộc giỏ thịt trên cổ y, họ đem y đến trước vị đại tướng. Khi thấy y, vị ấy suy nghĩ : "Có thể l à kẻ này ăn thịt người hay trộn nó với các thứ thịt khác rồi đem bán, hoặc y giết người theo lệnh ai khác chăng?" v à để hỏi vấn đề n ày, ông ngâm vần kệ đầu:
1. Hỡi người sành các món cao lương, Ðòi hỏi gì sao thật khẩn trương Ðã giục ngươi làm điều khủng khiếp? Chỉ v ì thực phẩm hoặc tiền vàng Ngươi tàn sát những người này vậy, Hỡi kẻ khốn kia lạc bước đ àng?
Ðầu bếp:
2. Chẳng vì thê tử hoặc thân bằng, Quyến thuộc, bản thân hoặc bạc vàng, Thần giết bà này vì Chúa thượng, Vì vua ngự trị cả giang san Vẫn ăn thịt ấy, thần gây tội Chính là do lệnh của vua ban .
Tướng quân:
3. Nếu do mua chuộc để ch ìu lòng Thèm khát tham tàn của Chúa công, Ngươi đ ã phạm hành vi khủng khiếp, Vậy ngày mai đến lúc hừng đông, Chúng ta t ìm Chúa công tham kiến, Ðưa cáo trạng ra trước mặt rồng.
Ðầu bếp:
4. Kà-la đại tướng đáng tôn s ùng, Thần sẽ tuân lời của tướng công, Ðến rạng đông thần t ìm Chúa thượng Và đưa cáo trạng trước sân rồng.
Thế rồi vị đại tướng bảo đặt y xuống, trói thật chặt và rạng ngày mai, ông bàn bạc với tướng lãnh xong, và khi tất cả đều đồng ý, liền cho đóng quân canh mọi hướng. Khi đ ã kiểm soát kinh thành thật kỹ, ông buộc giỏ thịt vào cổ người đầu bếp v à đưa y đến cung điện, c òn cả kinh thành náo động l ên.
Vua đ ã dùng điểm tâm ng ày hôm trước, nhưng đ ã bỏ cơm tối và suốt đ êm cứ ngồi mãi, chờ đợi người đầu bếp từng giây phút. Vua suy nghĩ: "Hôm nay nữa, gã đầu bếp cũng không đến, v à ta nghe tiếng náo động khắp kinh th ành. Chuyện gì sắp xảy ra ch ăng?" Vừa nhìn ra cửa sổ, vua thấy người ấy bị kéo đến đây như đ ã tả trên, và nghĩ rằng mọi sự đ ã bị phát giác, vua thu hết can đảm đi đến ngồi tr ên ngai. Khi tướng quân Kàlahatthi đến gần hỏi chuyện, vua đáp lời.
*
Bậc Ðạo Sư ngâm kệ làm sáng tỏ vấn đề:
5. Vầng nhật vừa lên, mới rạng đông, Ðem theo đầu bếp đến sân rồng, K à-la tiến lại gần thiên tử, Tâu những lời này với chúa công: 6."Hỏa đầu quân, có đúng vậy chăng Ðưa lệnh vua ra tận phố phường, Tàn sát nam nhi cùng phụ nữ, Ðể dâng chúa thượng món cao lương 7."Ðiều này thật đúng đấy, K à-la, Việc ấy được l àm bởi lệnh ta, Sao khiển trách tên đầu bếp nọ, Vì làm theo lệnh của ta mà?".
Khi nghe vầy, đại tướng suy nghĩ: "Chính miệng nhà vua thú nhận việc ấy, ôi thật là con người hung bạo! Bấy lâu nay vua đ ã và đang ăn thịt người. Ta phải ng ăn chặn việc n ày mới được" v à ông đáp :
- Tâu Chúa thượng, chớ làm việc này, xin chớ ăn thịt người!
- Này Kàlahatthi, khanh nói gì thế? Trẫm không thể ngừng được.
- Tâu Chúa thượng, nếu ngài không ngừng việc này lại, ngài sẽ hủy diệt cả mạng rồng cùng giang san này đấy.
- Cho dù vương quốc ta bị tiêu diệt, ta cũng không thể ngừng việc ấy được đâu.
Lúc ấy vị đại tướng muốn l àm vua tỉnh trí hơn, liền kể một chuyện quá khứ để chứng minh.
*
Chuyện Thủy quái Ànanda
Ngày xưa có sáu thủy quái sống ở đại dương. Trong số đó có Ànanda, Timanda, Aijhohàra, ba con này dài n ăm trăm dặm; v à Titimiti, Mingala, Timivapingala, ba con này dài một ngàn dặm; cả bọn chúng tự nuôi sống bằng rong biển sevala mọc trên da.
Trong bọn có Ànanda sống ở một phía đại dương v à được nhiều lo ài thuỷ tộc đến viếng. Một hôm chúng suy nghĩ: "Các lo ài vật hai chân và bốn chân đều có vua, nhưng chúng ta không có. Vậy ta muốn tôn thủy quái n ày làm vua". Thế là chúng đồng l òng tôn Ànanda lên làm vua, từ đó sáng chiều chúng đều đến b ày tỏ lòng tôn kính vua mình.
Bấy giờ một hôm, Ànanda ở trên núi nọ ăn rong sev àla và vô ý ăn nhằm một con cá, v ì tưởng đó l à rong. Thịt nó thật ngon miệng nên thủy quái tự hỏi thứ gì mà ngọt ngào như vậy, liền lấy ra khỏi mồm, và nhìn thấy đó l à một miếng cá. Nó suy nghĩ: "Bấy lâu nay ta không hề biết nên chẳng ăn thứ n ày, mọi sáng chiều loài cá vẫn thường đến để b ày tỏ lòng tôn kính ta, ta sẽ ăn một hai con thôi, v ì nếu khi chúng đang bị ta ăn v à ta lộ rõ mọi việc cho chúng biết, thì không có con nào dám bén mảng đến gần ta, bọn chúng sẽ chuồn hết cả".
Thế rồi nằm ẩn mình, thủy quái chụp những con cá nào đang bơi l ùi lại phía sau và ăn thịt chúng. Khi số cá giảm dần, chúng suy nghĩ: "Hiểm họa n ày đe dọa chúng ta từ phía n ào đây?"
Rồi một con cá tinh khôn trong bọn suy nghĩ: "Ta không hài lòng với việc Ànanda đang l àm. Ta muốn tìm hiểu rõ vị ấy sắp làm gì đây". Khi bầy cá đến kính lễ Ànanda, con cá tinh khôn kia ẩn mình trong lỗ tay Ànanda. Lúc bảo đ àn cá quay về, Ànanda vồ lấy những con nào bơi lùi phía sau. Con cá khôn ngoan thấy việc này, thuật lại cho bọn kia, chúng đều kinh hoảng chạy trốn hết.
Từ ngày ấy, Ànanda thèm mùi cá không chịu ăn các thứ khác. Khi phát bệnh v ì đói, nó suy nghĩ: " Ðàn cá đi đâu cả tr ên đời n ày? Trong lúc tìm chúng, nó thấy một ngọn núi và suy nghĩ: "Vì sợ ta, chắc đ àn em đang sống trong núi n ày. Ta sẽ bao vây núi và canh chừng thật kỹ". Thế là vừa vây quanh núi với đầu đuôi cuộn tr òn cả hai phía, nó suy nghĩ: "Nếu chúng ở đây, chúng sẽ trốn thoát".
Khi nhìn thấy chính đuôi nó cuộn tr òn quanh núi, nó lại nghĩ: "Con cá này sống gần núi và đang cố tránh ta". Trong cơn cuồng nộ, nó chụp lấy đuôi m ình dài n ăm mươi dặm m à tưởng là bắt được cá, nó ngấu nghiến k êu ken két, do đó phải chịu đau đớn h ành hạ khủng khiếp.
Khi ngửi mùi máu, đ àn cá tụ tập cùng nhau kéo từng mảnh đuôi của Ànanda ra ăn hết cho đến tận đầu. V ì thân xác khổng lồ như vậy, nó không thể nào trở mình được n ên phải mạng chung. Rồi ở đó có một đống xương cao như núi.
Các vị nam nhi Thánh giả khổ hạnh khi du hành qua không gian, trông thấy đống xương, liền kể cho dân chúng nghe n ên dân chúng khắp cõi Diêm-phù- đề (Ấn Ðộ) đều biết chuyện ấy. K àlahatthi kể chuyện này để chứng minh v à ngâm kệ:
8. A-nan ăn cá biết bao lo ài, Lúc đám t ùy tùng trốn thoát rồi, Nó cắn đuôi m ình nhai ngấu nghiến Ðến khi thủy quái phải lìa đời. 9. Nô lệ dục tham, chẳng biết g ì Thú vui nào khác, kẻ ngu si Ðui mù, phóng dật, gây đau khổ Hủy diệt họ h àng, cả thiếu nhi, Rồi biến thân thành mồi béo bở Cho lòng tham quái ác ly kỳ. 10. Nghe lời thần nói, tấu Quân vương, Món thịt người, xin chúa chờ ăn, Việc ác ki êng làm, e ngại phải Cùng chung số phận thật kinh hoàng Của con thủy quái và đ ành để Ðất nước Chúa công phải mạt tàn.
Khi nghe vậy, vua bảo:
- Này Kàlahatthi, ta cũng biết một ví dụ như khanh. Rồi kể một chuyện cổ làm ví dụ chứng minh tính thèm thịt người của mình, vua ngâm kệ:
11. Nam nhi thừa kế Su-jà-ta Ðòi quả hồng đ ào, cứ hét la, Cậu bé buồn phiền vì mất chúng, Phải đ ành thiệt mạng, hóa ra ma. 12. Vậy xưa nay trẫm vẫn ăn luôn Những món, K à-la hỡi, cực sang, Thiếu món thịt người, e có lẽ Không còn đời sống để lo toan .
*
Chuyện Nam tử của phú ông Sujàta
Tương truyền ngày xưa một vị địa chủ trưởng giả có t ên Sujàta ở Ba-la-nại làm chỗ cư trú trong hoa viên của mình và cung phụng n ăm trăm vị ẩn sĩ đến đấy từ v ùng Tuyết Sơn để t ìm muối và dấm. Trong nhà ông luôn có thực phẩm dọn sẵn mời các vị ấy, nhưng các vị thỉnh thoảng vẫn đi khất thực trong v ùng quê và đem về những miếng hồng đ ào lớn để ăn.
Trong lúc các vị ấy đang ăn hồng đ ào đ ã đem về, Suj àta nghĩ thầm: "Hôm nay là ngày thứ ba hay thứ tư rồi mà các Thánh giả này chưa đến nh à ta đây. Không biết các ng ài đ ã đi đâu tr ên đời n ày?" Thế rồi bảo cậu con trai cầm tay mình, ông đi đến đó trong lúc các vị ấy đang d ùng bữa ăn. Lúc ấy một chú tiểu đang đưa nước để các vị trưởng l ão súc miệng và chú đang ăn một miếng đ ào đỏ. Suj àta đảnh lễ các ẩn sĩ v à khi đ ã an tọa, liền hỏi:
- Thưa các Tôn giả, các ngài đang d ùng gì thế?
- Thưa gia chủ, những miếng đ ào đỏ lớn đấy.
Cậu bé nghe vậy cảm thấy thèm, vì thế vị trưởng chúng ẩn sĩ bảo cho cậu một miếng nhỏ. Cậu bé ăn đ ào và quá say mê mùi vị thơm ngon ấy nên cứ nằn nì đ òi các vị cho thêm miếng nữa. Ông phú hộ đang nghe Pháp, liền bảo:
- Thôi đừng khóc, khi về nh à, con sẽ được ăn một miếng.
Ông đánh lừa cậu bé như vậy v ì sợ các Thánh giả kia sẽ mệt nhọc bởi tiếng kêu khóc của con. An ủi cậu bé xong, ông từ giã hội chúng ẩn sĩ và về nhà. Từ lúc đến nh à, cậu bé cứ lãi nhải kêu to:
- Cho con một miếng.
Còn các ẩn sĩ lại bảo:
- Chúng ta đ ã ở đây lâu ng ày rồi.
Và họ ra đi về v ùng Tuyết Sơn. Vì không thấy cậu bé trong hoa viên, các ẩn sĩ gửi cho cậu một món quà gồm nhiều miếng xoài, đ ào, mít, chuối và vài trái cây khác nữa, tất cả trộn chung với đường mịn. Món trái cây trộn đường vừa đặt l ên đầu lưỡi cậu bé liền gây tác dụng như một thứ thuốc độc giết người. Suốt bảy ng ày cậu không ăn g ì được v à chết sau đó.
Vua kể chuyện này như một cách tự chứng minh. Lúc ấy Kàlahatthi nghĩ thầm: "Ông vua này thật quá tham ăn của ngon vật lạ. Ta sẽ kể nhiều ví dụ khác nữa", v à nói:
- Tâu Ðại vương, xin chừa món này đi.
- Không thể được. - Vua đáp.
- Nếu ngài không chừa được, ng ài sẽ bị gia tộc từ bỏ dần và tước mất hết vương quyền vinh hiển. Xin hãy nghe đây.
*
Chuyện Nam tử Bà-la-môn.
Ngày xưa cũng tại chính trong kinh thành Ba-la-nại này có một gia đ ình Bà-la-môn tuân hành Ngũ giới. Nhà này chỉ sinh được một con trai độc nhất n ên được cha mẹ y êu quý và là niềm vui của hai thân, một cậu trai thông minh, am hiểu thấu suốt ba tập Vệ- đ à.
Cậu thường đi chu du c ùng đám thanh ni ên đồng tuổi với cậu. Các người kia trong đám ấy thường ăn cá thịt c ùng các thức tương tự và uống rượu mạnh. Còn cậu trai này không ăn thịt cũng không uống rượu mạnh. Chúng bạn chợt suy nghĩ: "Thằng bé n ày vì không uống rượu mạnh nên không phải trả tiền, ta phải lập mưu bắt nó uống mới được".
Thế rồi bọn chúng tụ tập nhau lại, bảo:
- Này hiền hữu, chúng ta hãy tổ chức đám hội.
Cậu đáp:
- Các bạn uống rượu mạnh nhưng ta thì không, vậy các bạn cứ đi m à không có ta.
- Này hiền hữu, ta sẽ lấy sữa để bạn uống.
Cậu đồng ý nói:
- Ðược rồi.
Bọn trai lêu lổng ấy ra vườn lấy một ít rượu mạnh buộc vào một ngọn lá làm thành cái chén và đặt nó giữa đám lá sen. Thế rồi khi họ bắt đầu uống, họ cho cậu trai một ít sữa. Một t ên ranh mãnh trong bọn kêu lớn:
- Hãy đem cho ta một ít mật hoa sen.
Sau khi đ ã bảo đem mật ấy v ào, y đục một lỗ dưới đáy ngọn lá nằm giữa đám sen kia v à đưa l ên miệng hút vào. Bọn kia cũng bảo đem một ít cho họ uống. Cậu trai hỏi đó l à thức gì, và uống một ít rượu mạnh cứ tưởng đó l à mật hoa sen.
Sau đó họ lại đưa cho cậu một ít thịt hầm v à cậu cũng ăn luôn.
Khi cậu đ ã say vì uống nhiều ngụm rượu liên tiếp họ bảo cậu:
- Ðây không phải mật hoa sen đâu. Rượu mạnh đấy.
Cậu đáp:
- Bấy lâu nay ta chưa hề biết vị ngọt là thế nào cả. Này ta bảo, hãy đem cho ta th êm rượu mạnh nữa đi!
Họ mang rượu đến v à một lần nữa trao cho cậu vì cậu rất thèm khát. Sau đó khi cậu đ òi thêm nữa, họ bảo cậu hết sạch rượu rồi.
Cậu nói:
- Mau lên, ta bảo kiếm thêm cho ta nữa đi.
Và cậu đưa cho họ chiếc nhẫn có tín hiệu của cậu.
Sau khi uống với họ suốt ngày, cậu say túy lúy, mắt đỏ ngầu như máu, người run rẩy, nói lảm nhảm, cậu về nh à nằm vật xuống. Lúc ấy cha cậu nhận thấy cậu đ ã uống rượu, đến khi hiệu lực của rượu đ ã qua hẳn, ông bảo cậu:
- Này con, con đ ã làm một việc rất sai lầm, là người trong gia tộc Bà-la-môn mà con uống rượu mạnh, từ nay đừng bao giờ l àm vậy nữa.
- Cha bảo sao? Suốt đời con, chưa bao giờ con nếm được vị g ì ngon ngọt đến thế.
Vị Bà-la-môn cứ nài nỉ con chừa rượu. Cậu đáp:
- Con không thể bỏ được.
Sau đó vị B à-la-môn suy nghĩ: "Nếu như vậy thì truyền thống gia tộc ta sẽ bị hủy hoại và tài sản ta cũng tiêu tan". ông liền ngâm kệ này.
13. Nam tử La-môn tộc quý cao, Là trai khả ái, lại thanh tao, Con đừng uống vật đầy gh ê tởm Không một La-môn hưởng thụ nào. Sau những lời này, ông lại bảo:
- Này con yêu, phải chừa rượu đi, nếu không cha sẽ tống con ra khỏi nh à và xin vua đuổi con khỏi vương quốc n ày.
Cậu trai đáp:
- Cho dù vậy, con cũng không thể bỏ rượu mạnh.
Và cậu ngâm hai vần kệ:
14. Bởi vì cha muốn cản ng ăn con, Uống thứ n ày hương vị tuyệt ngon, Con sẽ đi xa bất kể số, T ìm nơi đâu rượu vẫn trường tồn! 15. Con sẽ ra đi vội bước chân, Chẳng c òn ở lại với song thân, Vì nay thấy mặt con, e hẳn Cha ghét con cay đắng bội phần!
Cậu lại còn nói thêm:
- Con quyết sẽ không chừa rượu đâu. Cha cứ l àm gì tùy ý.
Lúc ấy vị Bà-la-môn đáp:
- Ðược rồi, nếu con từ bỏ cha mẹ thì cha mẹ cũng từ bỏ con luôn.
Và ông ngâm vần kệ này:
16. Ta sẽ tìm vài cậu thiếu niên Ðể cho thừa kế mọi kim tiền, Cút đi, đồ khốn, nơi ta chẳng Nghe thấy t ên ngươi đáng rủa nguyền!
Sau đó, đem cậu con ra t òa án, ông truất quyền thừa kế của cậu và sai đuổi ch àng ra khỏi nhà. Cậu trai về sau làm kẻ khốn khổ cùng bần, mặc áo quần vải thô, cầm bát khất thực trong tay đi lang thang xin ăn rồi dựa v ào một bức tường và chết.
Kàlahatthi kể chuyện này để l àm bài học r ăn vua, v à bảo:
- Tâu Ðại vương, nếu ngài từ chối nghe lời chúng thần, thì họ sẽ sai người đuổi ng ài ra khỏi quốc độ n ày.
Nói vậy xong, ông ngâm kệ:
17. Vậy lắng nghe này, tấu Ðại vương, Tuân theo lời dặn của ngu thần, Nếu không sẽ giống chàng say rượu Ngài bị đuổi ra khỏi thổ cương.
Ngay sau ví dụ được K àlahatthi dẫn chứng như vậy vua cũng không thể từ bỏ thói quen của mình, và kể một chuyện khác để chứng minh:
18. Ðồ đệ của chư Ðại Thánh hiền, Su-jà ta, cổ tích lưu truyền, Nhịn luôn thực phẩm cùng đồ uống, V ì đ ã đắm say một nữ ti ên. 19. Như đầu ngọn cỏ đọng hơi sương So với mọi nguồn nước đại dương, Cũng vậy t ình người đem sánh với Ái t ình dâng tặng một tiên nương. 20. Vậy xưa nay trẫm vẫn ăn luôn Những món, K à-la hỡi, cực sang, Thiếu món thịt người, e có lý Không còn đời sống để lo toan.
*
Chuyện Phú ông Sujàta.
Chuyện này cũng giống như chuyện đ ã kể trên.
Tương truyền phú ông Sujàta này thấy rằng các vị ẩn sĩ kia không trở về vào thời các vị đang ăn những miếng hồng đ ào lớn, liền nghĩ thầm: "Ta không biết tại sao các vị ấy không trở về. Nếu các vị đi nơi khác, ta sẽ đi t ìm cho ra, hơn nữa, ta lại muốn nghe các vị thuyết Pháp".
Thế rồi ông ra hoa viên nghe vị Trưởng hội chúng ấy thuyết Pháp, và khi mặt trời lặn, dù ông được bảo ra về, ông vẫn nói:
- Ðệ tử muốn ở lại đây hôm nay.
Và đảnh lễ hội chứng hiền nhân xong, ông v ào am tranh của mình nằm xuống. Ban đ êm, Sakka Thiên chủ được cả đo àn thiên nhân hộ tống, cùng với các thị nữ của ngài, đến đảnh lễ đám Thánh nhân kia khiến cả v ùng thảo am sáng rực lên.
Sujàta không biết chuyện gì, đứng dậy nh ìn qua khe hở của am tranh, nhìn thấy Sakka đến đảnh lễ hội chúng Thánh nhân v à được cả đám t ùy tùng tiên nữ Apsarasas hộ tống. Vừa thấy các nàng tiên lòng ông đ ã bùng lên dục vọng như lửa đốt. Thi ên chủ Sakka an tọa và sau khi nghe thuyết Pháp xong, trở về cõi của ngài.
Hôm sau vị địa chủ đến đảnh lễ các ẩn sĩ v à hỏi:
- Bạch các Tôn giả, vị nào đ êm qua đến đảnh lễ các vị?
- Thưa tôn ông, đó l à Sakka Thiên chủ.
- Thế các vị vây quanh ngài là ai?
- Ðó là các tiên nữ Apsarasas.
Sau khi đảnh lễ các vị khổ hạnh, ông về nh à và từ lúc đó, ông cứ đi ên cuồng kêu gào: "Cho ta một nàng tiên Apsaras".
Ðám quyến thuộc vây quanh ông, tự hỏi không biết ông có bị quỷ ám ch ăng, v à họ búng tay.
Ông bảo:
- Không phải ta nói đến chuyện búng tay n ày đâu m à chuyện các nàng tiên Apsaras kia.
Khi họ mặc y phục chỉnh tề và đưa v ào cho ông một bà vợ hay thậm chí một kỹ nữ sang trọng và nói:
- Ðây là một nàng tiên Apsaras.
Ông đáp:
- Ðây không phải là tiên Apsaras, mà là con quỷ cái!
Rồi ông cứ lảm nhảm la hét đi ên cuồng.
- Cho ta một nàng tiên Apsaras!
Sau đó không chịu ăn uống g ì cả, ông chết đi.
Khi nghe vậy, Kàlahatthi tự nhủ: "Ông vua này thật là kẻ đại tham của lạ. Ta quyết l àm cho vua tỉnh trí hơn lên". Rồi ông nói:
- Những chim kim nga bay qua không gian cũng chết vì ăn thịt đồng loại của chúng.
Và để chứng minh việc n ày, ông ngâm hai vần kệ:
21. Như các thiên nga có sắc vàng Du hành qua giữa cõi không gian, Thảy đều phải chết v ì sinh sống Bằng thực phẩm kia trái lẽ thường. 22. Cũng vậy, xin ngài hỡi Ðại vương, Lắng nghe thần nói thật tinh tường; Vì ăn thực phẩm n ày phi pháp Dân sẽ đuổi ng ài khỏi thổ cương.
*
Chuyện đ àn Kim Nga.
Tương truyền ngày xưa chín mươi ngàn thiên nga sống ở Kim động tr ên đỉnh núi Cittak ùta. Suốt bốn tháng mùa mưa, chúng không di chuyển ra ngoài. Nếu chúng làm vậy, đôi cánh chúng sẽ ướt sũng nước, chúng sẽ không thể bay xa v à sẽ rơi xuống biển. Do đó chúng không đi ra ngo ài. Nhưng khi mùa mưa đến, chúng nhặt thóc lúa hoang ở một cái hồ thi ên nhiên đem về chất đầy hang v à sống bằng thóc lúa.
Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau khi không vào hang, thì một con nhện unnanabhi to bằng cái bánh xe ở cửa hang vẫn thường gi ăng tơ hằng tháng, mỗi sợi tơ của nó to bằng sợi dây thừng b ò. Ðàn thiên nga cho một thiên nga còn trẻ hai phần thức ăn v ì nghĩ rằng nó có thể phá thủng màn nhện kia.
Khi trời trở nên quang đ ãng, con thiên nga trẻ này đứng trước chúng phá hủy m àn nhện và cả đo àn thoát ra bằng cách này.
Bấy giờ có một mùa mưa kéo dài n ăm tháng n ên lương thực của đ àn thiên nga cạn dần, chúng hỏi ý kiến nhau phải làm gì, rồi nói:
- Nếu muốn sống, chúng ta phải lấy trứng.
Trước hết, chúng ăn trứng, rồi đến lượt ngỗng con v à kế đó l à ngỗng già. Sau n ăm tháng m ùa mưa chấm dứt, con nhện đ ã gi ăng năm m àn lưới to tướng, còn đ àn thiên nga, vì ăn thịt đồng loại chúng, đ ã trở nên yếu đuối. Con ngỗng trẻ kia đ ã nhận phần ăn gấp đôi, cố phá vỡ được bốn m àn nhện, nhưng không thể phá nổi màn thứ n ăm v à bị dính chân vào đó. Thế rồi con nhện cắt đầu nó v à hút máu. Hết ngỗng đầu rồi đến lượt ngỗng thứ hai đến phá m àn nhện, con nhện suy nghĩ: "Ðây lại thêm một con ngỗng nữa dính vào chỗ ấy", và hút máu cả bầy, thời bấy giờ dòng giống thiên nga dhatarattha phải tuyệt diệt, tương truyền như vậy.
*
Vua nôn nóng kể thêm một chuyện chứng minh, nhưng đám thị dân đứng l ên nói:
- Thưa Ðại tướng, ngài đề nghị phải l àm gì? Ngài sẽ tiến hành ra sao vì nay ngài đ ã bắt được t ên ăn thịt người d ã man ấy? Nếu y không từ bỏ việc ấy, hãy sai người đuổi y ra khỏi vương quốc n ày.
Và quần chúng không chịu để cho vua nói lời n ào nữa. Khi nghe câu chuyện chung của quần chúng, vua kinh hoảng không nói gì thêm, và một lần nữa vị đại tướng hỏi vua:
- Tâu Ðại vương, ngài có thể từ bỏ việc ấy ch ăng?
- Không thể được. - Vua đáp.
Thế rồi vị đại tướng sắp v ào một phía tất cả hậu cung của vua, gồm các vương tử và công chúa trang sức thật lộng lẫy và nói:
- Tâu Ðại vương, hãy ngắm vòng quyến thuộc, đám cận thận v à cảnh huy hoàng vương giả của ngài, xin đừng để ng ài phải tiêu tan tất cả, mà xin ngài hãy ngừng ăn thịt người.
Vua đáp:
- Tất cả mọi thứ này không còn thân thiết với ta hơn món thịt người.
- Vậy xin Ðại vương hãy ra đi khỏi kinh th ành và quốc độ n ày.
- Kàlahatthi, - vua đáp - ta không cần quốc độ, ta sẵn l òng ra đi nhưng h ãy cho ta một ân huệ: hãy cho ta lấy thanh kiếm và người đầu bếp của ta.
Do đó, họ cho vua lấy một cây kiếm, một cái nồi để nấu thịt người, v à một cái thùng cùng người đầu bếp, họ đuổi vua ra khỏi xứ sở.
Ðem theo người đầu bếp, vua ra khỏi kinh th ành, đi v ào rừng làm chỗ cư trú dưới gốc cây đa. Khi sống ở đó vua thường đứng tr ên con đường đưa v ào rừng, và giết người, đem xác về đưa cho người đầu bếp, y nấu thịt, dọn l ên và cả hai đều sống theo cách ấy.
Mỗi khi vua xông ra, hét lớn: "Ta đây l à tên cướp ăn thịt người!" không ai đứng vững được nữa, họ đều ng ã xuống đất, người n ào vua thích thì vua cứ tóm lấy, xách chổng ngược chân lên trời hay không đều có thể cả, rồi đưa cho người đầu bếp.
Một hôm, vua không tìm ra người nào trong rừng cả khi về nhà, người đầu bếp hỏi:
- Tâu Ðại vương, thế nào đây?
Vua bảo y đặt nồi l ên lò lửa.
- Nhưng thịt đâu, tâu Ðại vương?
- Ồ ta sẽ tìm ra thịt mà. - Vua đáp.
Người đầu bếp suy nghĩ : "Thôi chết ta rồi? " v à vừa run rẩy, y vừa nhóm bếp và đặt nồi l ên lò. Sau đó kẻ ăn thịt người giết y với một nhát kiếm v à nấu thịt ăn. Từ đó vua ho àn toàn cô độc v à phải nấu ăn cho m ình.
Tiếng đồn vang dậy khắp c õi Diêm-phù- đề (Ấn Ðộ): "Kẻ ăn thịt người kia giết hại khách qua đường". Thời ấy có một vị B à-la-môn giàu đang đi buôn với năm trăm cỗ xe h àng hóa từ Ðông sang Tây và suy nghĩ: "Dân chúng đồn rằng kẻ ăn thịt người ấy giết người tr ên xa lộ. Ta sẽ đi xuy ên qua rừng này bằng cách trả tiền mãi lộ".
Thế là ông trả một ngàn đồng tiền cho đám dân sống ở lối đi v ào rừng, dặn họ chở ông an toàn qua khu rừng rồi lên đường c ùng với họ. Ông đặt cả đo àn xe đi trước v à sau khi tắm gội, xoa dầu thơm và phục sức lộng lẫy, ông ngồi vào chiếc xe êm ái do đôi b ò trắng kéo, và được cả đo àn hộ tống, ông khởi hành cuối cùng.
Kẻ ăn thịt người tr èo lên cây ngồi rình đợi người, nhưng d ù y không cảm thấy thèm ăn bất cứ người n ào trong đo àn xe, vừa chợt thấy vị Bà-la-môn thì nước miếng trong mồm y nhỏ ra vì thèm ăn thịt vị ấy. Khi vị B à-la-môn đến gần, y xưng danh hiệu thét lớn:
- Ta là tên cướp ăn thịt người đây?
Vừa vung kiếm lên giống như một người tung cát mù mắt kẻ khác, y nhào tới đo àn người và không ai có khả n ăng chống cự lại y, m à tất cả đều ng ã sống soài xuống đất.
Vừa chụp lấy chân vị Bà-la-môn đang ngồi tr ên chiếc xe êm ái kia, tên cướp ném ông lên lưng mình, đầu dốc ngược xuống đất, đập mạnh v ào gót chân y trong khi kéo ông đi xa. Ðám người kia đứng dậy k êu nhau:
- Này bạn hãy dậy mau lên. Ta đ ã nhận một ngàn đồng tiền từ tay vị B à-la-môn. Ai trong bọn ta ra dáng nam nhi đây? Cả bọn ta d ù mạnh hay yếu, đều phải đuổi theo nó một đoạn đường.
Họ đuổi theo y v à kẻ ăn thịt người dừng lại nh ìn lui khi không thấy ai, lại tiếp tục đi chầm chầm. Lúc ấy một người bạo gan chạy hết tốc lực bắt kịp y. Khi thấy g ã kia, kẻ cướp nhảy lên một hàng rào, dẫm nhầm một mảnh gỗ cây keo nhô ra ở đầu b àn chân khiến y bị thương, phải lê bước trong khi máu rỉ ra từ vết thương.
Lúc ấy người đuổi theo thấy vậy liền nói:
- Chắc chắn ta đ ã làm y bị thương, các bạn cứ bám sát theo, ta sẽ bắt được y.
Họ thấy y yếu sức quá liền họp sức đuổi bắt y. Khi thấy m ình bị đuổi theo y, kẻ cướp thả vị B à-la-môn và tìm cách thoát thân.
Ðám người hộ tống vị Bà-la-môn suy nghĩ ngay khi cứu được ông: "Chúng ta phải l àm gì với kẻ cướp này nữa?", rồi quay về.
Còn kẻ ăn thịt người đi đến gốc đa, nằm xuống giữa đám cây con v à khấn vái thần cây này:
- Lạy nữ thần cây, nếu trong bảy ngày bà có thể làm lành vết thương của ta, thì ta nguyện sẽ tẩm thân cây bằng máu lấy từ cổ họng của một tr ăm lẻ một vương tử khắp c õi Diêm-phù- đề, v à treo ruột gan chúng quanh thân cây rồi dâng lễ tế đ àn bằng n ăm loại thịt ngon ngọt.
Bấy giờ do y không có gì để ăn uống, thân thể y hao m òn dần và trong bảy ngày, vết thương đ ã lành. Y nhận thấy y lành bệnh là nhờ nữ thần cây đa, v à chỉ trong vài ngày, y phục hồi sức mạnh bằng cách ăn thịt người, n ên y suy nghĩ: "Vị thần đ ã giúp đỡ ta rất nhiều. Ta phải thực hiện lời thề nguyện ấy".
Y cầm kiếm xông ra từ gốc cây và lên đường với mục đích đem về các vương tử.
Bấy giờ, một thần Dạ-xoa, đ ã từng làm bạn đường c ùng đi đây đó với y v à cùng ăn thịt người, v ì trong một tiền kiếp, y cũng đ ã là một Dạ-xoa, chợt trông thấy y và biết rằng trong một tiền kiếp y chính là bạn mình, liền hỏi:
- Này bạn có nhận biết ta ch ăng?
- Ta không biết.
Sau đó Dạ-xoa kể cho kẻ cướp nghe một việc m à cả hai đ ã cùng làm trong đời trước, kẻ ăn thịt người nhận ra bạn v à chào hỏi ân cần. Khi được hỏi tái sinh thời n ào, ở đâu, y kể cho bạn nghe nơi sinh trưởng của m ình, trước kia đ ã bị đuổi ra khỏi vương quốc ra sao v à hiện đang ở đâu. Y c òn kể thêm cho bạn nghe y đ ã bị thương vì mảnh gỗ như thế nào và bây giờ y đang viễn du để giải lời thề với vị nữ thần cây.
- Ta sẽ phải vượt qua nỗi gian khổ này nhờ sự trợ giúp của bạn: này bạn, chúng ta hãy cùng đi. - Y nói.
- Ta không đi được, nhưng có việc n ày ta có thể giúp bạn. Ta biết chắc chắn một lá bùa đặc biệt có lời quý vô giá. Nó giữ vững sức mạnh, tốc độ của đôi chân v à t ăng cường uy lực. H ãy học bùa chú này.
Y đồng ý ngay v à vị quỷ thần trao bùa cho y rồi ra đi. Kẻ ăn thịt người học thuộc l òng thần chú ấy, từ đó y đi nhanh như gió v à rất gan dạ. Trong vòng bảy ngày y tìm được một trăm lẻ một vị vua đang đi tr ên đường tới ngự vi ên và nhiều nơi khác, y chồm lên các vị ấy nhanh như gió cuốn, xưng danh hiệu xong, y nhảy quanh và hét lớn khiến họ kinh hoảng. Rồi y nắm lấy chân họ, dốc ngược đầu xuống đất, mang đi thật nhanh như gió cuốn.
Kế đó, y đục lỗ trong l òng bàn chân họ và treo họ lên bằng dây trên cây đa, gió đánh l ên họ khi họ vừa chạm đầu ngón chân xuống đất, họ treo lủng lẳng tr ên cây, quay cuồng như chuỗi hoa héo trong giỏ.
Nhưng kẻ ăn thịt người lại suy nghĩ: "Sutasoma l à thầy giáo riêng của ta. Ðừng để cho to àn cõi Diêm-phù- đề phải suy t àn". Vì thế y không mang vị ấy về.
Khi có ý định dâng lễ tế thần cây, y nhóm lửa v à ngồi xuống mài cọc nhọn. Vị nữ thần cây suy nghĩ: "Y chuẩn bị dâng lễ tế đ àn cho ta, nhưng không phải chính ta đ ã chữa lành vết thương của y. Nay y sắp làm một việc sát sinh trọng đại. Phải l àm gì đây? Ta không đủ khả năng ngăn cản y".
Vì thế bà vội đi kể với Tứ Ðại Thiên vương về sự việc này và xin các vị ng ăn cản y. Khi các vị đáp không thể l àm việc ấy, bà đến yết kiến Sakka Thi ên chủ, kể cho ngài toàn thể câu chuyện và xin ngài ng ăn cản y. Ng ài nói:
- Ta không thể làm việc ấy, nhưng ta sẽ chỉ cho ngươi một người có thể làm được.
- Ðó là ai? Bà hỏi.
- Trong thế giới chư Thiên và loài người, không có ai khác ngoại trừ Sutasoma, vương tử xứ Kuru ở trong kinh thành Indapatta. Ngài sẽ giáo hóa cho y thuần thục, sẽ điều phục y để cứu mạng các vua kia, chữa cho y khỏi bệnh ăn thịt người v à tưới nước cam lồ khắp cõi Diêm-phù- đề. Nếu ngươi muốn cứu mạng các vua kia, h ãy bảo y trước tiên phải đem Sutasoma đến rồi dâng lễ tế đ àn lên cây.
- Thật chí lý. - Vị thần đáp.
Rồi bà vội vàng ra đi, giả dạng một ẩn sĩ đến gần kẻ ăn thịt người. Nghe tiếng chân, y nghĩ thầm: "Một vua n ào đó đ ã trốn thoát được chăng?" Vừa nh ìn lên thấy ẩn sĩ, y lại nghĩ: "Các ẩn sĩ chắc chắn đều l à Sát- đế-lỵ (quý tộc). Nếu ta bắt được nó, ta sẽ l àm tròn con số một tr ăm lẻ một vua v à dâng lễ".
Y đứng l ên mang kiếm trong tay đuổi theo ẩn sĩ nhưng d ù y đ ã s ăn l ùng vị ấy suốt ba dặm đường, y vẫn không bắt kịp vị ấy v à mồ hôi đổ r òng ròng khắp tứ chi. Y nghĩ thần: "Trước kia ta từng đuổi theo v à bắt được voi, ngựa hoặc xe chạy hết tốc lực, nhưng hôm nay d ù ta đ ã chạy hết sức mình cũng không thể bắt được vị ẩn sĩ n ày vẫn đang đi thật tự nhi ên. Vì lý do gì vậy?" Rồi y lại nghĩ: "Các ẩn sĩ thường có thói quen vâng lời: nếu ta bảo vị ấy dừng lại và vị ấy làm theo, ta sẽ bắt lấy". Y liền kêu lớn:
- Thánh giả, hãy đứng lại:
- Ta đang đứng đây. - Vị ấy đáp - Ngươi cũng thử đứng lại n ào.
Y đáp:
- Ô kìa, các ẩn sĩ dù có phải cứu mạng mình cũng không nói dối, nhưng ngài lại nói dối đấy.
Và y ngâm kệ:
23. Mặc dù ta bảo đứng y ên ngay, Ngài vẫn phóng mình tựa gió bay, Ngài lại thét: "Này! Ta đứng đó!" Chắc l à ngài nói dối ta đây. Chuyện n ày quả thật không phù hợp. Ẩn sĩ ôi! Mang lấy kiếm này, Ngài phải giả làm tên bất hại Ðiểm lông chim hạc trắng, con mây. Kế đó nữ thần đáp đôi vần kệ: 24. Ta vẫn l òng theo đạo chánh chân, Chẳng thay t ên họ hoặc thân nhân, Cường gian đây sống đời ph ù phiếm, Phút chốc đọa v ào ngục khổ thân. 25. Can đảm l ên đi, hỡi Chúa công, Bắt So-ma vĩ đại anh h ùng, Ðem về đây để ng ài dâng lễ Sẽ đạt thi ên đường, có biết không?
Cùng với những lời này, nữ thần cởi lớp áo giả dạng ẩn sĩ và xuất lộ nguyên hình, chói sáng giữa bầu trời như vầng nhật. Kẻ ăn thịt người nghe b à nói và ngắm hình dung bà, liền hỏi bà là ai. Khi nghe bà đáp b à ra đời l àm vị thần cây này, y thích thú nghĩ thầm: "Ta đ ã trông cậy thần hộ mạng của ta rồi" và nói:
- Thưa nữ thần tiên, xin đừng lo ngại về Sutasoma, m à xin ngài hãy nhập vào thân cây lần nữa.
Vị thần nhập vào thân cây ngay trước mắt y. Vừa lúc ấy mặt trời lặn và mặt tr ăng l ên. Kẻ ăn thịt người vốn tinh thông các kinh Vệ-đ à và các sách bổ sung vào kinh ấy, lại quen với cách vận hành của các thiên thế, nên khi nhìn lên trời, y suy nghĩ: "Ngày mai sẽ có chòm sao Phussa xuất hiện, Sutasoma sẽ đến tắm ở ngự vi ên và ta sẽ ra tay với vua ấy". Nhưng vì vua ấy có một vệ sĩ lực lưỡng và dân chúng khắp cõi Diêm-phù- đề sẽ đến hộ vệ vua trong v òng ba dặm, vậy vào canh một trước khi vệ sĩ đóng quân, ta sẽ đến ngự vi ên Migàcira, xuống hồ hoàng gia và đứng đó".
Thế rồi y xuống hồ và đứng đó, che đầu bằng ngọn lá sen. Do uy lực vĩ đại của y, các lo ài cá, rùa đều l ùi lại phía sau và bơi quanh từng đ àn lớn bên bờ nước. Ta có thể hỏi: Do đâu y lại có cảnh vinh quang n ày? Ðó là do lòng mộ đạo của y trong đời trước.
Vào thời đức Phật Kassapa (Ca-diếp), y bắt đầu phân phát sữa theo phiếu. Nhờ vậy, y trở th ành người rất có thế lực, và sau khi bảo T ăng chúng dựng sảnh đường để đốt lửa chống m ùa lạnh, y cúng dường lửa, củi và cái rìu chẻ củi. Do kết quả việc này, y rất nổi tiếng. Vì thế bây giờ, khi y vào ngự viên, trời chỉ vừa rạng đông, quân sĩ đ ã canh phòng suốt ba dặm đường chung quanh, c òn vua Sutasoma, sau buổi điểm tâm lúc sáng sớm, đ ã ngự lên mình voi được tô điểm y ên cương thật lộng lẫy, với bốn đội quân h ùng hậu hộ giá tiến ra khỏi kinh thành.
Ngay lúc ấy, một Bà-la-môn tên Nanda đi từ Takkasil à, mang theo bốn vần kệ, mỗi vần đáng giá một trăm đồng tiền, vừa đến kinh th ành sau cuộc hành trình, dài một tr ăm hai mươi dặm, v à trú ngụ ở một vùng ngoại ô.
Vừa rạng đông, vị ấy v ào thành thấy vua đang ngự xa giá đi qua đông môn, liền giơ tay l ên hô lớn: "Vạn tuế Ðại vương!" Bấy giờ vua bị viễn thị, trong khi đang cỡi voi, vua thấy cánh tay giơ l ên của vị Bà-la-môn đang đứng tr ên một mô đất cao, liền tiến đến gần tr ên mình voi vừa ngâm kệ vừa hỏi như sau:
26. Trẫm hỏi ngài sinh ở xứ nào, Ðến đây, Ðạo sĩ hỡi, vì sao? Nói rồi, nay trẫm liền ban tặng Bất cứ điều chi đấy nguyện cầu. Kế đó vị B à-la-môn đáp lời vua: 27. Bốn vần thi kệ, tấu Quân vương, Ý nghĩa sâu xa tựa hải dương, Mang đến đây, xin nghe thật kỹ Cao si êu huyền bí thảy am tường.
Vị ấy tiếp:
- Tâu Ðại vương, bốn vần thi kệ này do đức Phật Kassapa dạy tiểu thần, mỗi vần đáng giá một trăm đồng tiền. Sau khi nghe xong, nếu Ðại vương muốn dâng tế lễ nước trái cây soma, tiểu thần sẽ đến chỉ dẫn Ðại vương.
Vua vô cùng hân hoan phán:
- Này Tôn sư, ngài khéo làm việc này lắm, nhưng hôm nay trẫm không trở về triều được. Hôm nay l à ngày giao hội của chòm sao Phussa, là ngày trẫm đi gội đầu. Khi trở về, trẫm sẽ nghe lời ng ài. Xin đừng phật ý v ì trẫm.
Cùng với những lời này, vua ra lệnh đám quần thần:
- Các khanh đến nh à một Bà-la-môn nào đó chuẩn bị một s àng tọa và sắp đặt một nơi ăn dưới mái hi ên.
Xong vua đi v ào ngự viên. Khu vườn được bao bọc bởi một tường th ành cao mười tám cubit (1 cubit: 45cm) và được bầy voi canh ph òng chung quanh đứng kề sát nhau. Kế tiếp l à bầy ngựa, đo àn xe, cuối cùng là đám xạ thủ v à các bộ binh khác; thật giống như cả đại dương dậy sóng l à đạo quân được di chuyển đến đây.
Sau khi đ ã trút bỏ các vật trang sức nặng nề và được cạo râu, gội đầu với dầu thơm rồi, vua đi tắm hồ sen trong dáng diện uy nghi cao quý, v à khi bước ra khỏi nước, vua đứng đó trong bộ áo tắm, quân hầu liền đem v òng hoa thơm ngát đến trang điểm cho ng ài.
Kẻ ăn thịt người suy nghĩ: "Khi đ ã phục sức đầy đủ, nh à vua hẳn sẽ nặng lắm. Ta muốn bắt lấy vua khi còn nhẹ để mang đi". Thế rồi vừa thét lớn vừa nhảy quanh v à vung kiếm trên đầu nhanh như chớp, y xưng danh hiệu xong liền nói to:
- Này, ta đây l à kẻ cướp ăn thịt người.
Rồi đặt ngón tay tr ên trán vua, y bước ra khỏi nước.
Ngay khi nghe tiếng thét, các quản tượng cùng đ àn voi, các kỵ mã cùng đ àn ngựa, các quản xe cùng đ àn xe đều ng ã xuống đất, cả đo àn quân sĩ đều thả vũ khí đang cầm v à nằm sát xuống bụng.
Kẻ ăn thịt người chụp lấy Sutasoma dựng ng ài thẳng đứng l ên. Tất cả đám vương tử trước kia, y đều bắt lấy từ b àn chân và dốc ngược đầu xuống đất, rồi kéo l ê họ đi khiến đầu họ đập v ào gót chân y, nhưng nay đến gần Bồ-tát, y cúi xuống nhắc ng ài lên và đặt tr ên vai mình.
Nghĩ rằng có lối đi quanh qua cổng th ành, y nhảy lên bức thành cao mười tám cubit, ngay tại điểm đối diện con đường ấy, y vừa tiến l ên vừa dẫm chân lên trán bầy voi làm rỉ ra chất dịch, lật nhào chúng xuống như thể các đỉnh núi. Kế đó y dẫm chân l ên lưng bầy ngựa, dù thường ngày chúng nhanh như gió và quý vô cùng, rồi cũng đạp chúng ng ã xuống đất.
Sau đó, y bước l ên mặt trước của các cỗ xe lộng lẫy chẳng khác gì người quay con vụ (con cù), hay như thể người dẫm nát cây phalaka xanh biếc hay đám lá b àng, và thoắt một cái, y đ ã chạy xa ba dặm.
Rồi muốn biết có ai chạy theo để cứu Sutasoma không, y nh ìn lên và thấy không ai, y lại đi chầm chậm. Khi nhận ra những giọt nước rơi xuống m ình từ tóc Sutasoma, y nghĩ thầm: "Không ai sống mà khỏi sợ chết. Chắc có lẽ Sutasoma cũng đang khóc v ì sợ đấy", v à y ngâm kệ:
28. Những bậc uyên thâm, các trí nhân Tư duy cao cả phát sinh luôn, Chẳng bao giờ khóc, tìm an trú Bậc Thánh xua tan nỗi khổ buồn. 29. Có phải vợ con hoặc họ hàng, Bản thân, kho thóc, bạc hay vàng, Ðã làm lệ chảy, So-ma hỡi, Ðại đế Ku-ru, đáp r õ ràng. Sutasoma đáp: 30. Không khóc g ì cho chính bản thân, Vợ con, đất nước hoặc kho t àng, Thánh hạnh ngày xưa ta vẫn giữ, Khóc vì lời hứa chẳng chu toàn. 31. Trước một La-môn, đ ã hứa lời, Khi ta trị nước với quyền oai, Lời kia ta ước mong gìn giữ Danh dự cứu xong, trở lại ngài! Kẻ ăn thịt người đáp lại: 32. Ta chẳng tin rằng có thế nhân Vận may thoát móng tử ma thần, Trở về nộp mạng cho cừu địch, Nếu để ng ài đi, chẳng phục ho àn. 33. Thoát kè sát nhân ác, trở về Hoàng cung, mộng ước đẹp tr àn trề, Cuộc đời thân thiết đầy lôi cuốn Hồi phục cho ng ài phải đắm m ê. Vì lý do gì trên thế giới Mà ngài trở lại với ta hề?
Khi nghe lời này, bậc Ðại Sĩ vẫn gan dạ như sư tử, đáp:
34. Vô tội, con người thích chết hơn Sống mang đầy tội đáng khinh nhờn, Nếu v ì cứu mạng, buông lời dối Người chẳng thoát đâu ngục khổ buồn. 35. Gió có thể lay chuyển núi cao, Trời, tr ăng rụng xuống c õi trần lao, Thưa ngài, và mọi dòng sông cạn, Nhưng vọng ngôn, ta chẳng phạm vào.
Dù Ngài nói vậy, kẻ ăn thịt người vẫn không tin ng ài. Do đó, Bồ-tát suy nghĩ: "Kẻ n ày không tin ta; ta quyết làm cho y tin bằng một lời thề", và bảo:
- Thưa Tôn giả ăn thịt người, xin h ãy thả ta xuống khỏi lưng, ta sẽ thề nguyền khiến ngài tin ta.
Sau những lời này, ngài được kẻ ăn thịt người đưa xuống, đặt tr ên mặt đất v à ngài phát nguyện:
36. Này! Khi ta chạm kiếm, đao n ày, Thề nguyện trang nghiêm trước mặt ngài, Hãy thả ta và ta thoát nợ, Cứu xong danh dự, trở về đây.
Lúc ấy kẻ ăn thịt người nghĩ thầm: "Vua Sutasoma n ày thề chịu hình phạt nếu vi phạm luật lệ dòng Khattiya (Sát- đế-lỵ, v õ tướng). Ta còn muốn gì với vị ấy nửa? À, ta cũng là một vua Sát- đế-lỵ. Ta sẽ lấy máu từ chính cánh tay m ình và tế lễ thần cây. Ðây thật là một chàng trai rất nhát gan". Rồi y ngâm kệ:
37. Trước một La-môn, đ ã hứa lời, Khi ngài trị nước với quyền oai, Lời kia, ta phải bắt ngài giữ, Danh dự cứu rồi, trở lại thôi.
Sau đó bậc Ðại Sĩ nói:
-Này Hiền hữu, xin chớ phật lòng. Sau khi ta đ ã nghe bốn vần kệ kia, mỗi vần đáng giá một trăm đồng tiền, v à dâng lễ cúng dường vị Pháp sư xong, ta sẽ trở lại vào lúc rạng đông.
Và ngài ngâm kệ này:
38. Trước một La-môn đ ã hứa lời, Khi ta trị nước với quyền oai, Lời kia ta ước mong gìn giữ, Danh dự cứu xong, trở lại ngài.
Kẻ ăn thịt người đáp:
- Ngài đ ã thề chịu hình phạt nếu vi phạm phong tục của dòng Sát- đế-lỵ. Ng ài hãy cẩn thận hành động cho đúng phép.
Ngài nói:
- Này hiền hữu ăn thịt người, ng ài đ ã biết ta từ bé: trước kia ta chưa bao giờ nói dối dù để đ ùa chơi, còn nay ta đ ã được l ên ngai vàng và biết điều phải trái th ì sao ta nói dối được? H ãy tin ta, ta sẽ dâng lễ vật tế đ àn cho hiền hữu.
Ðược thúc giục phải tin tưởng ngài, y đáp:
- Thôi được, Ðại vương hãy ra đi, v à nếu Ðại vương không trở lại thì sẽ không có tế lễ và thần cây cũng không chấp nhận lễ nếu không có Ðại vương. Vậy đừng l àm trở ngại việc dâng lễ của ta.
Rồi y để bậc Ðại Sĩ ra đi.
Giống như mặt tr ăng thoát khỏi móng vuốt của thần Rahu (La-hầu) v à với sức mạnh của một chú voi còn trẻ, ngài nhanh chân về đến kinh th ành.
Còn đám quân sĩ của ng ài suy nghĩ: "Ðại vương Sutasoma là bậc hiền trí và là vị Pháp sư tuyệt hảo. Nếu Ngài có thể nói một hai lời với y, ngài sẽ cảm hóa y và trở về như con voi dũng mãnh thoát khỏi mồm sư tử". Rồi họ lại nghĩ: "Dân chúng sẽ khiển trách chúng ta và nói: Sau khi bỏ mặc đức vua của các ông cho kẻ ăn thịt người, các ông c òn trở lại với bọn này ư?"
Vì thế họ cắm trại ngoài kinh thành và khi chợt thấy ngài từ xa đi đến, họ bước ra đón ng ài, đảnh lễ ân cần v à thưa:
- Tâu Ðại vương, ngài không khiếp sợ kẻ ăn thịt người ấy ư?
Ngài đáp:
- Kẻ ăn thịt người ấy đ ã làm một việc khó kh ăn hơn bất cứ việc g ì song thân ta đ ã làm. Là một kẻ hung tàn bạo ngược như vậy mà sau khi nghe ta thuyết Pháp, y đ ã để ta đi.
Sau đó, quân hầu trang điểm xi êm y cho ngài xong, đưa ng ài lên lưng voi và hộ tống ngài về kinh. Khi thấy ngài, dân chúng hân hoan, và do lòng nhiệt thành của ngài đối với Pháp, ng ài không đi viếng song thân m à lại nghĩ: "Ta sẽ th ăm cha mẹ sau", v à ngài vào cung điện ngự l ên ngôi báu.
Rồi ngài triệu vị Bà-la-môn đến, ra lệnh cạo râu cho ông, sau khi râu tóc được tỉa xong, ông được tắm rửa, xoa dầu thơm v à phụ sức xiêm y lộng lẫy và họ đưa ông đến trước ngôi vua.
Khi vị Bà-la-môn đ ã được đưa v ào yết kiến, chính vua Sutasoma cũng đi tắm gội, sau đó v à ra lệnh đem ngự thiện của ng ài dâng vị Bà-la-môn. Ðến khi vị Bà-la-môn đ ã thọ thực xong, chính vua mới dùng phần ngự thiện ấy.
Sau đó, ng ài đặt vị B à-la-môn lên một bảo tọa và để tỏ l òng tôn kính, ngài cúng dường vị ấy các tràng hoa thơm cùng các lễ vật tương tự, rồi chính ngài ngự trên một bảo tọa thấp và thỉnh cầu vị kia:
- Thưa Tôn sư, chúng ta muốn nghe các vần kệ mà Tôn sư đ ã đem đến cho chúng ta.
*
Bậc Ðạo Sư ngâm kệ để l àm sáng tỏ vấn đề:
39. Thoát tay tàn bạo, giết nhân dân, Ðến Ðạo sĩ, người bạn thiết thân, Ngài bảo: "Chúng ta đều ước muốn Nghe b ài thi kệ giá tr ăm đồng, Nếu ng ài chiếu cố ban lời dạy, Lợi lạc chúng ta được hưởng phần".
*
Khi Bồ-tát thỉnh cầu, vị Bà-la-môn liền rửa tay với nước hoa rồi rút ra một quyển sách đẹp từ túi xách, cầm sách cả hai tay v à nói :
- Tâu Ðại vương, xin hãy nghe bốn vần kệ của tiểu thần, mỗi vần đáng giá một trăm đồng tiền. Chúng đ ã được đức Phật Kassapa dạy cho tiểu thần. Chúng có đặc tính hủy diệt tham đắm, ki êu mạn và các ác hạnh tương tự, chúng tạo cho con người khả n ăng ti êu trừ dục vọng, an tịnh các c ăn, thậm chí đưa đến Niết-b àn có uy lực vĩnh cửu, đoạn diệt khát ái, chặt đứt v òng luân hồi và nhổ tận gốc chấp thủ.
Cùng với những lời này, ông nhìn vào sách và ngâm các vần kệ sau:
40. Hãy hòa hợp với Thánh hiền nhân, Này hỡi So-ma, chỉ một lần, Và chớ bao giờ thân kẻ ác, Bình an tràn ngập khắp toàn thân .
41. Thường xuyên giao kết với hiền nhân, Chỉ nhận hiền nhân chính bạn thân, Học chánh lý từ bao bậc Thánh, Mỗi ngày tu tập tốt thêm dần.
42. Như các xe vua khéo điểm trang Cũng th ành mờ nhạt, sẽ tan hoang, Thân ta yếu đuối c àng mòn mỏi, Và phải chịu nhanh chóng lụi tàn. Song Ðạo Thánh hiền nhân vĩnh cửu, Chẳng hề tàn tạ với thời gian, Thiên nhân tuyên thuyết cùng người thiện Qua các thời chưa được bảo ban.
43. Bầu trời gi ăng rộng r ãi bao la, Quả đất trải d ài ở dưới ta, Lãnh thổ bên kia bờ đại hải, Chúng ta đều biết thật l à xa. Song còn vĩ đại hơn muôn vật, Tầm mức ấy c àng tỏa rộng ra Là Ðạo lý về điều thiện, ác Người hiền, kẻ ác dạy cho ta.
*
Như vậy vị Bà-la-môn đ ã dạy ngài bốn vần kệ, mỗi vần trị giá một tr ăm đồng, đúng như trước kia đ ã được đức Phật Kassapa thuyết giảng, rồi ông ngồi y ên lặng. Bậc Ðại Sĩ rất hoan hỷ nghe kệ và bảo:
- Chuyến đi của ta về đây không phải l à không được phần thưởng xứng đáng.
Rồi ngài suy nghĩ: "Những vần kệ này không phải chỉ là lời của một đệ tử hay một Thánh nhân, cũng không phải l à tác phẩm của một thi sĩ, mà đó chính l à do một đấng To àn Tri Kiến nói ra; ta không biết chúng đáng giá ra sao. D ù ta có dâng toàn thế giới trải dài lên tận cõi trời Phạm thiên, sau khi chất đầy cả thế giới ấy với bảy báu vật, ta cũng không thể đền đáp xứng đáng những vần kệ n ày. Chắc chắn ta có thể trao vương quyền cho vị ấy tại kinh thành Indapatta rộng bảy dặm trong đất nước Kuru trải d ài hơn ba tr ăm dặm n ày. Dĩ nhiên số phần vị ấy xứng đáng l àm vua".
Nhưng khi nhìn ông với khả n ăng ti ên đoán tương lai của một người theo h ình dáng bề ngoài, ngài không thấy các dấu hiệu như thế. Rồi ngài lại nghĩ đến ông với chức vụ đại tướng quân hay những chức vụ tương tự, nhưng cũng không thấy ông có tướng cầm đầu d ù chỉ một ngôi làng nhỏ.
Kế đó, khi xem xét trường hợp hưởng thọ t ài sản, bắt đầu từ mười triệu đồng, ng ài thấy vị ấy đáng được hưởng bốn ng àn đồng, v à nghĩ cách làm vinh dự vị ấy với chỉ số tiền này thôi, ngài ban tặng vị ấy bốn cái túi, một túi đựng một ng àn đồng tiền v à bảo:
- Thưa Tôn sư, khi ngài dạy các vương tử khác những vần kệ này, ngài nhận được bao nhi êu?
-Tâu Ðại vương, mỗi vần một tr ăm đồng vậy chúng chỉ đáng giá một trăm thôi.
Bậc Ðại Sĩ bảo:
- Thưa Tôn sư, ngài không biết tính chất vô giá của món hàng mà ngài đem bán đâu. Từ nay phải xem l à chúng đáng giá một ng àn đồng tiền.
Nói vậy xong, ngài ngâm kệ này:
44. Các kệ này không chỉ bốn tr ăm, Ðúng hơn, phải nói giá hàng ngàn, Bốn ngàn đây, Ðạo Sư, cầm lấy, Ðem chúng đi ngay, h ãy vội vàng.
Sau đó ng ài đưa vị ấy đến một cỗ xe êm ái và ra lệnh cho quan hầu:
- Hãy đưa vị B à-la-môn này về nhà an toàn.
Rồi ngài bảo ông đi về. Lúc n ày có tiếng tung hô tán thán nổi lên cùng tiếng kêu lớn:
- Hoan hô! Hoan hô! Ðại vương Sutasoma đ ã tôn vinh các vần kệ này rất trọng thể, khi nghĩ rằng mỗi vần kệ đáng giá một ng àn đồng tiền m à trước kia chỉ đáng giá một trăm.
Song thân của vua nghe tiếng ồn, hỏi chuyện gì, và khi nghe sự thật của việc ấy, do lòng tham lam, hai vị nổi giận với bậc Ðại Sĩ. Còn ngài, sau khi cho vị Bà-la-môn ra về, liền đến thăm song thân v à đảnh lễ hai vị. Sau đó, phụ vương bảo:
- Này vương nhi, con đ ã thoát khỏi tay của kẻ được xem l à tướp cướp hung bạo.
Rồi thay vì lộ vẻ vui mừng khi thấy ngài, do lòng tham tiền, vua cha hỏi:
- Có thật chúng nói con ban bốn ngàn đồng tiền v ì nghe bốn vần kệ ch ăng?
Khi nghe ngài thú nhận là đúng, vua cha ngâm kệ n ày:
45. Kệ thường mỗi khúc tám mươi đồng, Hoặc đến một trăm, giá tận c ùng, Song hởi So-ma, nên tự chủ, Một ngàn là giá kệ chưa từng!
Lúc ấy bậc Ðại Sĩ muốn thúc giục vua cha nhìn sự vật theo cách khác, liền nói:
- Tâu phụ vương, chính là con không muốn t ăng th êm tài sản, mà t ăng th êm kiến thức thôi.
Và ngài ngâm các kệ này:
46. Con mong Thánh kiến cứ t ăng dần, Bầu bạn thiết thân với Thánh nhân, Chẳng có sông n ào đầy biển cả, Thiện ngôn con học m ãi không cùng. 47. Như lửa khát khao réo củi rơm, Biển đ òi sông, lạch đổ nhiều hơn, Hiền nhân cũng vậy, tâu Ho àng thượng, Khao khát nghe lời nói thiện chơn. 48. Từ miệng nô tỳ, nếu được nghe Tối cao ý nghĩa kệ tr àn trề, Lời kia con nhận đầy cung kính, Ðạo lý thiện chân thỏa chẳng hề.
Sau khi nói vậy xong, ngài bảo:
- Xin phụ vương đừng chỉ v ì tiền mà trách móc con. Con đ ã về đây, sau khi thề nguyền rằng con sẽ trở lại đó khi đ ã nghe Pháp xong. Nay con sẽ trở lại với quái nhân kia, xin phụ vương nhận lấy vương quyền.
Ngài trao chủ quyền cho phụ vương và ngâm kệ:
49. Ðất nước của cha lắm bạc vàng, Cân đai, quốc phục, lạc vô ng àn, Sao còn khiển trách khi con bỏ Dục lạc, chết vào tay sát nhân?
Lúc này tim vua cha nóng rực lên và ngài bảo:
- Này, vương nhi Sutasoma yêu quý, con nói gì thế? Cha sẽ đi c ùng tất cả bốn đạo quân v à sẽ bắt được kẻ cướp ấy.
Rồi ngài ngâm kệ:
50. Dũng sĩ đến đây bảo vệ ta! Kẻ th ì cỡi tượng, kẻ lên xa, Bộ binh, kỵ mã đầy cung tiễn, Thống l ãnh đạo quân, giết địch nh à!
Lúc ấy phụ vương mẫu hậu ngài, mắt đẫm lệ, năn nỉ ng ài:
- Này vương nhi, chớ đi, con không thể đi được.
Rồi mười sáu ngàn cung nữ ca múa cùng đám cận thần than khóc:
- Tâu Ðại vương, sao Ðại vương nở đến đó, bỏ chúng thần bơ vơ?
Và khắp kinh thành, không ai giữ được niềm xúc động, họ bảo nhau:
- Người ta nói ngài đ ã trở về đây sau khi đ ã hứa lời với kẻ ăn thịt người; giờ đây ng ài đ ã nghe bốn vần kệ, mỗi vần đáng giá một trăm đồng, v à đ ã bày tỏ lòng cung kính trọng thể đối với vị Pháp sư, c ùng từ giã song thân, ngài sẽ quay lại lần nữa với kẻ ăn thịt người ấy.
Rồi cả kinh thành náo động dữ dội. C òn ngài khi nghe cha mẹ bảo thế, liền ngâm kệ này:
51. Hành động cừu nhân ăn thịt người Bắt con, rồi thả, thật cao vời, Khắc ghi thuở trước t ình bằng hữu, Ðã hứa, làm sao con nuốt lời?
Ngài lại an ủi song thân:
- Phụ vương và mẫu hậu yêu quý, xin đứng lo âu v ì con. Con đ ã làm một việc công đức, n ên việc điều phục ngũ dục tham không phải l à vấn đề khó khăn g ì đâu.
Vừa từ giã song thân, ngài vừa khuyến giáo quần chúng và ra đi.
*
Bậc Ðạo Sư ngâm kệ làm sáng tỏ vấn đề:
52. Lời khéo khuyên, từ biệt lão thân, Chân thành nhắn nhủ cả quân, dân, Giữ lời thệ ước, không lừa dối, Vội trở về bên kẻ sát nhân.
*
Lúc ấy kẻ ăn thịt người suy nghĩ: "Nếu hiền hữu Sutasoma của ta muốn trở về, th ì cứ để bạn trở về, không thể khác được, v à mặc vị thần cây muốn làm gì tùy ý, còn ta sẽ giết các vương tử này và dâng tế lễ tế đ àn bằng thịt của chúng với n ăm món ngon ngọt nữa".
Thế rồi kẻ ấy chất đống củi hỏa thi êu và châm lửa, nghĩ rằng phải đợi cho đến khi than nóng đỏ l ên. Trong lúc y ngồi mài cái xiên thịt thì Sutasoma đến.
Vừa thấy ngài, kẻ ăn thịt người vui mừng trong l òng, liền hỏi:
- Này Hiền hữu, bạn đ ã đi l àm được những g ì bạn muốn rồi chứ?
Bậc Ðại Sĩ đáp:
- Thưa vâng, này Ðại vương, ta đ ã nghe những vầng kệ do đức Phật Kassapa dạy vị B à-la-môn kia, ta đ ã tỏ lòng tôn kính trọng thể đối với vị Pháp Sư v à vì thế ta đ ã trở lại sau khi làm xong việc ta cần làm.
Ðể chứng minh điều n ày, ngài ngâm kệ:
53. Trước một La-môn đ ã hứa lời, Khi ta trị nước với quyền oai, Nay ta đ ã trọn lời thề ước, Danh dự cứu xong, trở lại rồi. Vậy hãy giết ta và tế lễ Dâng thần cây gỗ của nhà ngài, Hay là thỏa mãn lòng tham muốn Ðộc ác bạo hung với thịt người!
Nghe lời vầy, kẻ ăn thịt người suy nghĩ: "Vua n ày không sợ, vị ấy nói lên với lòng đ ã xua tan mọi nỗi kinh hoàng chết chóc. Ta muốn biết uy lực này phát xuất từ đâu. Không thể có g ì khác được. Vị ấy nói: "Ta đ ã nghe các vần kệ mà đức Phật Kassapa dạy bảo. Chắc hẳn uy lực si êu phàm này phát xuất từ đây. Ta sẽ bảo vị ấy ngâm kệ n ày cho ta nghe và do đó ta cũng sẽ thoát bất cứ nỗi sợ h ãi nào".
Khi đ ã quyết định như vậy xong, y ngâm kệ n ày:
54. Dù ta trì hoãn một hai ngày, Lửa vẫn còn làm khói tỏa bay, Chẳng mất quyền ăn mồi thịt ấy , Thịt quay than nóng thật ngon thay! Các vần kệ giá tr ăm đồng chẵn Ng ài hãy mau lên, đọc kệ ngay!
Nghe vậy, bậc Ðại Sĩ suy nghĩ: "Kẻ ăn thịt người n ày là kẻ phạm tội ác. Ta sẽ khiển trách y đôi lời v à làm y biết ô nhục vì những lời của ta". Ngài liền bảo:
55. Kẻ ăn đồng loại, bạo t àn thay, Thèm thịt, đ ã rơi khỏi chiếc ngai, Vần kệ dạy cho ta Chánh lý, Chánh, Tà phải kết hợp sau đây? 56. Với kẻ cướp hung ác bạo t àn, Bàn tay đ ã nhúng máu đầy tr àn, Lợi gì Thánh kiến này đem đến, Phát xuất từ đâu lẽ Chánh Châ n
Cho dù được nghe nói các lời n ày, kẻ ăn thịt người cũng không tức giận. V ì sao vậy? Ðó là do uy lực từ tâm của bậc Ðại Sĩ. Vì thế y nói:
- Này Hiền hữu Sutasoma, chỉ một mình ta là bất chánh thôi sao?
Và y ngâm kệ:
57. Kẻ nọ đi săn bắt thú rừng Ðể làm thành món thịt thơm lừng, Và người kia giết người đồng loại Lấy thịt b à con để nấu ăn, Khi chết, cả hai đồng tội lỗi, Sao ri êng ta bị trách cùng hung?
Nghe vậy, bậc Ðại Sĩ ngâm kệ này để phá tan t à kiến ấy:
58. Trong ngũ thú, loài có móng, r ăng, Khôn ngoan, vương tử cứ d ùng ăn, C òn ngài ăn thịt đ à kiêng kỵ, Này Ðại vương ôi, thật bạo hung!
Khi nghe lời khiển trách trên, y thấy không còn đường n ào thoát được cả, liền cố t ìm cánh che dấu tội lỗi của mình và ngâm kệ:
59. Thoát kẻ bạo hung nuốt thịt người, Về cung, đầy mộng ước xinh tươi, Sao c òn nộp mạng cho cừu địch, Ng ài chắc tinh thông đạo lý trời?
Lúc ấy, bậc Ðại Sĩ đáp:
- Này hiền hữu, một người như ta chắc hẳn phải thông thạo kiến thức truyền thống Khattiya (Sát- đế-lỵ: v õ tướng, quý tộc). Ta hiểu rõ lắm chứ, nhưng ta không hướng dẫn hành động của ta theo đó.
Và ngài ngâm kệ:
60. Ai thông đạo Khat-ti-ya vầy, Ðều xuống ngục sâu sống đọa đ ày, Ta vốn ghét c ăm truyền thống ấy, Theo lời đ ã hứa, trở về đây. H ãy làm tế lễ và ăn thịt Ta trọn, Ðại vương khủng khiếp này .
Kẻ ăn thịt người hỏi:
61. Ðất rộng, cung đ ình, bò, ngựa, trâu, Hương thơm, áo đẹp, lắm n àng hầu, Ðại vương đầy đủ bao điều ấy, Chánh pháp ng ài tìm hạnh phúc đâu?
Bồ-tát đáp lại:
62. Mọi lạc thú mà cõi thế gian Tặng ta, chẳng có thú nào hơn Niềm vui Chánh pháp ta tìm thấy: Ẩn sĩ, La-môn vẫn trú an Trong đạo Chánh chân v à giải thoát Tử sinh, bờ nọ đến an to àn.
Như vậy bậc Ðại Sĩ đ ã thuyết giảng cho kẻ ấy về hạnh phúc trong Chánh pháp. Lúc ấy kẻ ăn thịt người, nh ìn vào mặt ngài sáng rực rỡ như đóa sen nở hay vầng trăng tr òn đầy, lại suy nghĩ: "Vua Sutasoma n ày thấy ta đang sửa soạn một đống than hồng v à mài nhọn cái xiêng nướng thịt, tuy nhiên không hề tỏ ra chút mảy may sợ hãi. Có thể đây l à thần lực của các vần kệ đáng giá một trăm đồng kia hay l à nó phát xuất từ một chân lý nào khác? Ta sẽ hỏi vị ấy". Và y ngâm kệ theo hình thức câu hỏi:
63. Thoát kẻ bạo hung nuốt thịt người Về cung, tràn mộng ước xin tươi, Sao còn trở lại th ăm th ù địch? Vương tử chắc không sợ chết rồi, Ðể giữ trọn lời ngài đ ã hứa, Bỏ qua dục lạc ở trên đời.
Bậc Ðại Sĩ đáp lại:
64. Ta phát nguyện làm muôn ngàn công đức, Lễ dồi d ào được danh tiếng lừng vang, Ðến đời sau, ta giữ thẳng con đường, Ai sợ chết khi trú an Chánh pháp? 65. Ta phát nguyện l àm muôn ngàn công đức, Lễ dồi d ào được danh vọng vẻ vang, Không ăn năn, ta tiến đến thi ên đ àng, Hãy tế lễ và xé mồi ăn thịt. 66. Song thân, ta đ ã thương yêu khắng khít, Ta được khen cai trị tuyệt công b ình, Ðến đời sau ta chọn lối quang vinh, Ai sợ chết khi trú an Ðạo giáo? 67. Song thân, ta đ ã phụng thờ chu đáo, Ta được khen cai trị tuyệt công b ình, Không ăn năn, ta tiến đến thi ên đ ình, Hãy tế lễ và xé mồi ngon ngọt. 68. Ta phục vụ đám thân bằng quyến thuộc, Cai trị công b ình được mọi người khen, Không ăn năn, ta chọn lối thăng thi ên, Hãy tế lễ và xé mồi ăn gấp. 69. Biết bao người, ta cúng dường cung cấp: B à-la-môn, đạo sĩ, thảy hân hoan Ðến đời sau, ta chọn lối thi ên đ àng, Ai sợ chết khi trú an Chánh pháp? 70. Biết bao người, ta cúng dường cung cấp, Bà-la-môn, đạo sĩ, thảy hân hoan, Không ăn năn, ta tiến tới thi ên đ àng, Hãy tế lễ và xé mồi ăn thịt.
Nghe vậy, kẻ ăn thịt người suy nghĩ: "Vua Sutasoma n ày là bậc thiện nhân tài trí: giả sử ta ăn thịt vị ấy, sọ đầu ta sẽ vỡ ra bảy mảnh, hoặc quả đất sẽ há miệng nuốt ta mất", v à y hoảng sợ nói:
- Này Hiền hữu, bạn không phải hạng người mà ta phải ăn thịt đâu.
Và y ngâm kệ:
71. Thuốc độc kẻ n ào uống chủ tâm, Ðộc xà hung bạo, lấy tay cầm, Tan thành bảy mảnh ngay đầu nó, Người chẳng dối lời, lại dám ăn!
Y nói với bậc Ðại Sĩ như vầy:
- Ta chắc bạn như thể là thứ thuốc độc chết người, ai dám ăn bạn chứ?
Và nóng lòng muốn nghe các vần kệ, y van xin ngài ngâm kệ cho y. Nhưng khi muốn tỏ lòng cung kính cao trọng đối với đạo Thánh hiền, lời thỉnh cầu của y bị bậc Ðại Sĩ từ chối vì lý do rằng y không phải là kẻ xứng đáng nhận vần kệ đầy đạo đức vẹn to àn như vậy, y tự nhủ: "Khắp cõi Diêm-phù- đề (Ấn Ðộ) không có vị hiền nhân nào như thế này, vì khi vị ấy thoát được tay ta, vị ấy đi về nghe kệ, v à sau khi bày tỏ lòng cung kính trọng thể đối với vị Pháp sư, vị ấy trở lại đây với dấu hiệu thần chết in tr ên trán. Các vần kệ này chắc hẳn có giá trị siêu phàm". Lòng y vẫn tràn đầy ước vọng cung kính nghe kệ ấy, y van xin bậc Ðại Sĩ và ngâm kệ này:
72. Những người nghe giáo lý như chân, Thiện, ác sẽ mau chóng biệt phân, Có lẽ nếu nghe vần kệ ấy, Tâm ta sẽ hỷ lạc vô ngần .
Lúc ấy bậc Ðại Sĩ suy nghĩ: "Nay kẻ ăn thịt người mong muốn nghe kệ: ta sẽ ngâm kệ cho y", v à ngài nói:
- Thôi được, n ày hiền hữu, hãy lắng nghe thật kỹ.
Sau khi đ ã làm kia chú ý, ngài ngâm nga các vần kệ đúng như ng ài đ ã được B à-la-môn Nanda thuyết giáo, trong lúc chư Thiên thần ở sáu cõi trời Dục giới đều đồng thanh hô lớn v à Thiên chúng đều hoan ngh ênh tán thán, bậc Ðại Sĩ thuyết Pháp cho kẻ ăn thịt người như vầy:
73. Hãy hòa hợp với Thánh hiền nhân, Này hỡi So-ma, chỉ một lần, Và chớ bao giờ thân kẻ ác, Bình an tràn ngập khắp toàn thân. 74. Thường xuyên giao kết với hiền nhân, Chỉ nhận hiền nhân chính bạn thân, Học chánh lý từ bao bậc Thánh, Mỗi ngày tu tập tốt thêm dần. 75. Như các xe vua khéo điểm trang Cũng th ành mờ nhạt, sẽ tan hoang, Thân ta yếu đuối c àng mòn mỏi, Và phải chịu nhanh chóng lụi tàn. Song Ðạo Thánh hiền nhân vĩnh cửu, Chẳng hề tàn tạ với thời gian, Thiên nhân tuyên thuyết cùng người thiện Qua các thời chưa được bảo ban. 76. Bầu trời giăng rộng r ãi bao la, Quả đất trải d ài ở dưới ta, Lãnh thổ bên kia bờ đại hải Chúng ta đều biết thật l à xa. Song còn vĩ đại hơn muôn vật, Tầm mức ấy c àng tỏa rộng ra Là Ðạo lý về điều thiện, ác Người hiền, kẻ ác dạy cho ta.
Nhờ các vần kệ được bậc Ðại Sĩ khéo ca tụng và cũng chính vì kẻ ăn thịt người có trí khôn ngoan, y nghĩ thầm: "Quả thật các vần kệ n ày là lời của đức Phật To àn Tri kiến". Và toàn thân y rúng động v ì n ăm thứ hỷ lạc, y cảm thấy một niềm từ ái đối với Bồ-tát v à nhìn ngài theo cách một người cha sẵn sàng ban chiếc lọng trắng của hoàng gia cho con mình. Rồi y lại nghĩ: "Ta không có tặng vật bằng vàng ròng để tặng Sutasoma, nhưng ta sẽ ban một điều ước cho mỗi vần kệ ấy". V à y ngâm kệ:
77. Ý nghĩa chứa chan, giọng sáng trong, Lọt tai, vương tử, các chân ngôn, Tâm ta hoan hỷ, ta thích thú, Muốn tặng bạn hiền bốn đặc ân .
Lúc ấy bậc Ðại Sĩ lại quở trách y:
- Này quả thật còn điều ước n ào bạn muốn ban cho ta nữa ư?
Và ngài ngâm kệ:
78. Người chẳng biết gì phận bản thân, Ðiều lành, điều ác chẳng hề phân, Chẳng phân địa ngục c ùng thiên giới, Nô lệ cho lòng dục hám ăn, Sao kẻ đ ê hèn như bạn vậy Biết ban ân huệ đến tha nhân? 79. Nếu bảo:"Cho ta ân huệ n ày", Rồi ngài lấy lại lời thề ngay, Ai khôn ngoan muốn đ ành lòng chịu Liều lĩnh phân tranh vậy hỡi ngài?
Kẻ ăn thịt người tự nhủ: "Vị ấy không tin ta. Ta muốn l àm vị ấy tin", rồi y ngâm kệ:
80. Chẳng ai đ òi tặng một hồng ân, Rồi lại nuốt lời hứa, giả nhân, Bạo dạn chọn hồng ân, hỡi bạn, Dù ta mất mạng, vẫn ban phần.
Lúc ấy bậc Ðại Sĩ suy nghĩ: "Kẻ này nói như một vị anh hùng và hứa làm những gì ta nói, ta sẽ nhận lời đề nghị của y. Nhưng nếu ta chọn ngay điều ước đầu ti ên là y phải chừa ăn thịt người, chắc y sẽ đau l òng lắm. Vậy trước hết ta sẽ chọn ba điều ước khác, sau đó sẽ chọn điều n ày", và ngài ngâm kệ:
81. Ai kẻ sống cùng một Thánh nhân, Thường xuyên đối diện với đồng tâm, Vậy l à người trí luôn tin chắc Làm đẹp ý l òng bậc trí chân Ta nguyện cầu ngài luôn tráng kiện, Sống lâu đến cả một trăm năm, Ðây lời cầu nguyện đầu ti ên vậy, Ta muốn ngài ban tặng đặc ân.
Kẻ ăn thịt người nghe vậy, suy nghĩ: "Người n ày, dù ta đ ã đẩy ra khỏi vương quyền, nay vẫn cầu chúc trường thọ cho ta, một kẻ cướp lừng danh th èm khát thịt người và muốn làm hại vị ấy. Ôi! Thật là một người đầy thiện ý đối với ta". Y thấy l òng hân hoan, mà không biết rằng lời ước này được chọn để đánh lừa y v à sẽ có lợi cho ngài, y liền ngâm kệ ban lời ước:
82. Ai kẻ sống cùng một Thánh nhân, Thường xuyên đối diện với đồng tâm, Vậy l à người trí luôn tin chắc Làm đẹp ý l òng bậc trí chân. Ngài nguyện cầu ta luôn tráng kiện Sống lâu đến cả một trăm năm, Trước lời cầu nguyện đầu ti ên ấy Hoan hỷ ta ban tặng đặc ân. Tiếp theo, Bồ-tát nói: 83. Các vua bị bắt dưới tay ngài Nhiều nước phong vương, quán đảnh rồi, Những vị vua h ùng trên cõi đất Chớ n ên ăn thịt, Ðại vương ôi! Ðây là điều kế ta cầu khẩn Như một lời nguyền ước thứ hai .
Như vậy trong khi lựa chọn đặc ân thứ hai ng ài đ ã đạt ước nguyện đem lại mạng sống cho hơn một trăm vị vua Sát-đế-lỵ, v à kẻ ăn thịt người ngâm kệ ban ng ài điều ước ấy:
84. Các vua bị bắt dưới tay ta Nhiều nước phong vương, quán đảnh xưa, Những vua h ùng mạnh, ta thề nguyện, Ta sẽ không ăn thịt nữa m à. Ước thứ hai này ta cũng tặng Thể theo lời bạn nguyện cầu ta.
Như thể các vị vua ấy có nghe được những g ì hai vị này nới ch ăng? Họ chẳng nghe được g ì cả vì khi kẻ ăn thịt người châm lửa, v à sợ khói lửa làm hại cây, y bước lùi một khoảng xa cây ấy. Bậc Ðại Sĩ đ àm luận với y, ngồi ở khoảng giữa cây và đống lửa, cho n ên các vua không nghe mọi chuyện hai vị nói, mà chỉ nghe một phần và an ủi lẫn nhau:
- Thôi đừng sợ h ãi, nay Sutasoma đang cải hóa kẻ ăn thịt người.
Lúc ấy bậc Ðại Sĩ ngâm kệ:
85. Hơn tr ăm vua ấy bị ng ài giam Ðều bị trói tay, lại khóc than, Xin trả mỗi người về cố quốc, Ðệ tam ân huệ, ước ngài ban.
Như vậy trong khi chọn điều ước thứ ba, bậc Ðại Sĩ xin cho các vị vua được phục hồi qu ê quán, mỗi vị về vương quốc mình. Tại sao vậy? - Bởi vì kẻ ăn thịt người kia, giả sử không ăn thịt họ, nhưng v ì sợ các vua thù oán y, sẽ giam cầm họ lại và bắt họ ở trong rừng hoặc giết họ rồi phơi thây, hoặc đem họ ra v ùng biên địa bán l àm nô lệ. Do đó ng ài chọn điều ước cho các vua phục hồi cố quốc, v à kẻ ăn thịt người ngâm kệ chấp thuận lời thỉnh cầu n ày:
86. Hơn tr ăm vua ấy bị ta giam, Ðều bị trói tay, lại khóc than, Ta sẽ phục hồi về cố quốc, Ðệ tam ân huệ được ta ban.
Bấy giờ Bồ-tát ngâm kệ chọn điều thứ tư:
87. Vương quốc hãi kinh, hóa dại cuồng, Trốn ngài, dân chúng ẩn trong hang, Thịt người, Chúa thượng, xin kiêng ky, Ấy nguyện thứ tư, ước được ban.
Khi ngài nói vậy xong, kẻ ăn thịt người vỗ tay cười lớn:
- Này Hiền hữu Sutasoma, quả thật đây l à điều bạn muốn nói không? L àm sao ta có thể ban cho bạn đặc ân n ày chứ? Nếu bạn muốn nhận một đặc ân khác, th ì hãy chọn một điều nữa đi.
Rồi y ngâm kệ này:
88. Ta thấy món này, hợp vị ta, Nếu ta ẩn náu chốn rừng già, Làm sao lạc thú ta kiêng kỵ, Nguyện ước thứ tư, chọn lại mà!
Lúc ấy bậc Ðại Sĩ nói:
- Vì ngài thích thịt người nên ngài nói: "Ta không thể từ bỏ nó được". Người n ào làm ác chỉ vì thú vui thì thật là kẻ ngu si.
Và ngài ngâm kệ:
89. Vua chúa như ngài chẳng được chơi, Hy sinh cuộc sống chỉ v ì vui. Hãy tìm ý nghĩa cao siêu nhất Cuộc sống tặng ban quý tuyệt vời Lạc thú vị lai đời kế tiếp Rồi ng ài hưởng phước đức n ày thôi.
Khi những lời này được bậc Ðại Sĩ nói xong, kẻ ăn thịt người bị nỗi kinh ho àng trấn áp và suy nghĩ: "Ta không thể từ chối lời ước mà Sutasoma lựa chọn, cũng không thể chừa ăn thịt người. Vậy ta phải l àm gì đây?"
Với đôi mắt đẫm lệ, y ngâm kệ n ày:
90. Ngài biết ta yêu thích thịt người, Su-ta Ðại Sĩ, thế này thôi, Ta không bỏ nó bao giờ nữa, Suy nghĩ, chọn điều khác, bạn ôi!
Bồ-tát lại đáp:
91. Người nào luôn hưởng thú vui chơi, Hủy diệt cuộc đời để được vui, Như kẻ say dùng liều thuốc độc, Về sau phải chịu khổ không nguôi. 92. Người quyết tâm chừa lạc thú đời, Con đường phận sự khó theo ho ài, Như người đau uống liều điều trị, Sống lại đời sau cực lạc thôi.
Sau khi ngài nói vậy xong, kẻ ăn thịt người đau đớn khóc than, ngâm vần kệ:
93. Ngũ lạc phát sinh tự giác quan, Ta đều từ bỏ cả song thân, Ta v ào rừng ở vì nhân ấy, Lời bạn ước sao có thể ban?
Bậc Ðại Sĩ ngâm kệ đáp:
94. Trí nhân không thể nói hai lời, Ta biết thiện nhân đúng ước thôi: "Hiền hữu chọn đi v ài nguyện ước" Là điều ng ài đ ã bảo ta rồi, Giờ đây những chuyện ng ài đang nói Khó hợp điều n ày, Chúa thượng ôi!
Một lần nữa, kẻ ăn thịt người vừa khóc vừa ngâm kệ:
95. Tổn đức, ô danh, khổ nhục tr àn, Tham lam, tà hạnh, tội muôn vàn, Ta đều phạm, để ăn đồng loại, Lời bạn ước, sao ta phải ban?
Bậc Ðại Sĩ lại nói:
96. "Không ai đ òi tự nguyện ban ân, Rồi lấy lại lời, kẻ giả nhân, Bạo dạn chọn ân này, bạn hỡi, Dù ta mất mạng, cũng ban phần.
Khi ngài đ ã đưa ra vần kệ do chính kẻ ăn thịt người cảm khái thốt l ên trong giai đoạn đầu, ng ài lại ngâm kệ để khích lệ y can đảm ban điều ước ấy:
97. Thiện nhân đ ành mất cả dòng đời Song giữ lời xưa, dẫu thiệt th òi, Chúa thượng, nếu ngài ban ước nguyện, Làm ngay chuyện ấy trọn công ngài. 98. Ai đem t ài sản cứu tay chân, Sẽ bỏ tay chân cứu lấy thân, Tài sản, tứ chi, thân sẽ mất, Chỉ còn Chân lý khẩn cầu ân.
Như vậy bậc Ðại Sĩ dùng nhiều phương tiện an trú kẻ ăn thịt người v ào Chánh pháp, và bây giờ ngài ngâm kệ để giải thích việc cần phải tôn trọng danh hiệu của ng ài:
99. Miệng kẻ nào minh chứng Thật chân, Ðoạn nghi nhờ các bậc hiền nhân, Kẻ ấy chính là nơi ẩn trú, Chính là điểm tựa, chốn nương thân. L òng hiền nhân mến thương người ấy Sẽ chẳng bao giờ phải diệt vong .
Sau khi ngâm kệ xong, ngài bảo:
- Này Hiền hữu ăn thịt người, nếu bạn vi phạm lời dạy của một bậc Ðạo Sư Tối thắng như vậy, thì thật không hợp lẽ phải, và hơn nữa, khi bạn còn trẻ, ta đ ã làm vị trợ giáo cho bạn, đ ã chỉ bảo bạn nhiều rồi, nay ta dùng uy lực của một bậc Giác Ngộ ngâm cho bạn nghe các vần kệ trị giá mỗi vần một tr ăm đồng: vậy bạn h ãy vâng lời ta.
Khi nghe vậy, kẻ ăn thịt người suy nghĩ: "Sutasoma đ ã là thầy dạy ta, vừa là bậc đa văn uy ên bác và ta đ ã ban cho vị ấy chọn điều ước. Ta phải l àm gì đây? Cái chết quả thật l à một sự dĩ nhiên trong cuộc đời mỗi người. Vậy ta sẽ không ăn thịt người nữa nhưng phải ban ân huệ m à ngài yêu cầu".
Với dòng lệ tuôn tràn từ đôi mắt, y đứng l ên và quỳ xuống chân Sutasoma, ngâm kệ ban ân:
100. Thực phẩm ngọt ngon, thú vị thay, Vì duyên cớ ấy, ẩn rừng cây, Nhưng nay bạn bảo ta làm vậy, Ta tặng bạn - thầy ân huệ đây.
Lúc ấy bậc Ðại Sĩ nói:
- Này Hiền hữu, mong được như vậy. Ðối với người đ ã đứng vững v àng trong giới hạnh, thì ngay cái chết cũng là một ân huệ. Thưa Ðại vương, ta xin nhận đặc ân m à ngài đ ã ban ta. Ngay từ hôm nay, ngài được an trú trong con đường của một bậc Ðạo Sư hướng dẫn, và vì vậy, ta xin ngài một đặc ân n ày nữa: nếu ngài có lòng thương mến ta, xin ngài chấp nhận Ngũ giới.
Y đáp:
- Tốt lành thay, xin Hiền hữu dạy ta Ngũ giới.
- Xin Ðại vương học Ngũ giới từ ta.
Thế rồi y đảnh lễ bậc Ðại Sĩ với n ăm phần thân thể sát đất v à ngồi xuống một bên, và bậc Ðại Sĩ an trú y vào Ngũ giới.
Lúc ấy các địa thần tụ họp lại, bảo nhau:
- Không ai từ các chúng sinh trong địa ngục Av ìci (A-tỳ: Vô gián) đến chư Thi ên tối cao trong các cõi Vô sắc mà vì lòng thương mến đối với bậc Ðại Sĩ, có thể làm cho kẻ ăn thịt người n ày từ bỏ việc sát nhân ấy. Ôi! Sutasoma đ ã thị hiện một phép thần thông vị diệu thay?
Các vị hoan nghênh làm rừng cây vang dội với những tiếng reo hò lớn, và khi nghe huyên náo, Tứ Ðại Thiên vương cũng reo lớn như vậy toàn thế giới vang rền tiếng tán thán đến tận c õi Phạm thiên.
Các vị vua bị treo trên cành cây nghe tiếng náo động reo mừng của chư Thần, v à nữ thần cây vẫn còn đứng ở nơi trú ẩn cũng thốt ra âm thanh hưởng ứng. Như vậy người ta nghe tiếng reo h ò của các vị Thần, nhưng không thể thấy được h ình dáng các vị.
Khi nghe tiếng reo lớn hoan nghênh của chư Thần, các vị vua suy nghĩ: "Nhờ Sutasoma chúng ta được cứu mạng, Sutasoma đ ã thị hiện phép thần thông để giáo hóa kẻ ăn thịt người ấy", v à các vị cũng dâng lên lời tán tụng Bồ-tát.
Còn kẻ ăn thịt người đứng sang một b ên sau khi đảnh lễ dưới chân Bồ-tát. Bậc Ðại Sĩ bảo y:
- Này Hiền hữu, hãy thả các vương tử này.
Y suy nghĩ: "Ta là kẻ thù của họ. Nếu họ được ta thả ra, họ sẽ nói: "H ãy bắt y, y là kẻ thù của chúng ta", và sẽ làm hại ta. Nhưng dù có mất mạng sống, ta cũng không thể phạm vào giới hạnh mà ta đ ã nhận từ tay Sutasoma. Ta sẽ đi c ùng ngài và thả họ ra, như thế ta sẽ được b ình an". Rồi vừa đảnh lễ Bồ-tát, y vừa nói:
- Này Sutasoma, chúng ta hãy cùng đi thả các vương tử.
Và y ngâm kệ:
101. Ngài là thầy giáo của riêng ta, Cùng với bạn thân, chỉ một mà. Hãy ngắm, thưa ngài, lời bạn bảo Ta vừa mới thực hiện bây giờ. Lượt ngài thực hiện lời ta bảo: Ta sẽ đi c ùng thả các vua.
Bồ-tát đáp:
102. Ta là thầy giáo của ngày xưa Cùng với bạn thân, chỉ một mà. Quả thật, thưa ngài, lời dạy bảo Ngài vừa mới thực hiện bây giờ. Lượt ta thực hiện lời ngài bảo: Ta sẽ cùng đi thả các vua.
Khi đến gần các vua kia, ng ài nói:
103. Các ngài bị trói trên cây này, Nước mắt chảy tuôn đ ã ngập đầy, V ì ác quỷ này làm hại vậy, Song ta vẫn muốn các ngài hay Một lời ước hẹn cùng vua ấy Chẳng có bao giờ đụng ngón tay.
Các vị vua đáp liền:
104. Khóc than vì bị trói trên cây, Ác quỷ hại người, đáng ghét thay, Tuy thế, chúng ta long trọng hứa: Nếu còn sống, chẳng hại người này.
Lúc ấy Bồ-tát nói:
- Tốt lành thay, xin hãy hứa lời này với ta.
Và ngài ngâm kệ:
105. Như với bầy con, bậc mẹ cha Tỏ tình yêu thắm thiết, bao la, Ước mong vua ấy luôn minh chứng Là một người cha đúng nghĩa m à. Mong ước các ngài như lũ trẻ Thương yêu vua ấy thật sâu xa .
Các vị vua cũng đều đồng ý việc n ày và ngâm kệ:
106. Như với bầy con, bậc mẹ cha Tỏ tình yêu thắm thiết, bao la, Ước mong vua ấy luôn minh chứng Là một người cha đúng nghĩa m à. Mong ước chúng ta như lũ trẻ Thương yêu vua ấy thật sâu xa .
Như vậy bậc Ðại Sĩ đ ã đ òi các vị ấy thề ước xong, ngài gọi kẻ ăn thịt người đến v à bảo:
- Hãy đến thả các vương tử n ày ra.
Kẻ ăn thịt người cầm kiếm cắt dây trói một vua trong số đó. V ì vua này đ ã nhịn ăn suốt bảy ng ày cùng chịu đau khổ đến đi ên cuồng, nên vừa được cắt dây thả ra, vị ấy ng ã nhào xuống đất. Bậc Ðại Sĩ thấy vậy động l òng từ bi, liền nói:
- Này Hiền hữu ăn thịt người, đừng cắt dây thả họ xuống như vậy.
Rồi ôm lấy một vị vua thật chặt trong đôi tay, ng ài ôm sát vị ấy vào ngực mình và nói:
- Bây giờ hãy cắt dây đi.
Như vậy, kẻ ăn thịt người cắt dây trói họ với thanh kiếm v à bậc Ðại Sĩ, nhờ có sức mạnh phi thường, liền ôm mỗi vị vua vào ngực, và đưa xuống nhẹ nh àng như thể đó l à con mình, rồi đặt vị ấy nằm sát xuống đất. Cứ vậy ng ài đặt tất cả các vị vua xuống đất v à sau khi rửa các vết thương, ngài nhẹ nhàng kéo các dây trói khỏi tay họ, giống như thể sợi dây ở tai trẻ con, ngài chùi sạch máu đông, l àm cho các vết thương không nhiễm độc. Rồi ng ài bảo kẻ ăn thịt người:
- Này Hiền hữu, hãy giã một ít vỏ cây kia trên hòn đá rồi mang đến cho ta.
Sau khi ngài bảo y đi t ìm vỏ cây về, ngài thực hiện một lời Thề Chân lý và chà xát lòng bàn tay các vua ấy, thì các vết thương lành lặn ngay lập tức.
Kẻ ăn thịt người lấy một ít gạo đ ã chà vỏ, nấu thành một thứ thuốc phòng bệnh, rồi hai vị đưa cho một trăm lẻ một vương tử Sát-đế-lỵ uống như thuốc ph òng bệnh, vì vậy mọi người đều hân hoan vừa lúc mặt trời lặn.
Hôm sau, vào lúc rạng đông, giữa trưa v à xế chiều, hai vị đều cho họ uống nước cháo, nhưng ng ày thứ ba, hai vị cho họ ăn cháo gạo v à cơm chín, cứ thế cho đến khi họ b ình phục. Sau đó bậc Ðại Sĩ hỏi xem họ đủ mạnh hẳn đề về nh à chưa và khi họ đáp họ có thể l ên đường, ng ài bảo:
- Này, Hiền hữu ăn thịt người, chúng ta c ùng đi về vương quốc của m ình.
Nhưng y vừa khóc, vừa quỳ xuống chân bậc Ðại Sĩ và kêu to:
- Xin Hiền hữu đem các vua n ày ra đi, c òn ta sẽ tiếp tục ở đây sống bằng củ quả rừng.
- Này Hiền hữu, bạn muốn làm gì ở đây thế?
Vương quốc bạn là nơi đầy lạc thú. Hãy đi về cai trị ở Ba-la-nại.
- Này Hiền hữu nói gì thế? Ta không thể về đó được. To àn dân kinh thành đều l à kẻ thù của ta. Họ sẽ phỉ báng ta và nói: "Kẻ này đ ã ăn thịt mẹ, cha ta, h ãy bắt tên cướp này", và họ sẽ lấy hòn đất đoạt mạng sống ta, nhưng c òn ta đ ã quyết nhờ Hiền hữu an trú vào Ngũ giới, ta không thể giết ai được cả, cho d ù để cứu mạng m ình. Ta không muốn đi đâu. V ì ta từ bỏ thói ăn thịt người, ta sẽ sống bao lâu nữa đây? V à giờ đây ta cũng sẽ không c òn thấy Hiền hữu nữa.
Kẻ ấy vừa khóc vừa nói:
- Thôi bạn hãy ra đi.
Bậc Ðại Sĩ vỗ lưng y và bảo:
- Này Hiền hữu, ta tên là Sutasoma: trước đây ta vừa cải hóa một người độc ác như bạn, v à nếu bạn hỏi bạn sẽ phải kể chuyện gì ở Ba-la-nại, tại sao ta muốn an trú bạn ở đó, hoặc chia đôi vương quốc của ta, th ì ta sẽ giao bạn một nửa đất nước ấy.
- Trong kinh thành của bạn cũng có những kẻ thù của ta. - Y đáp.
Sutasoma nghĩ thầm: "Khi vâng lời ta, người này đ ã hoàn thành một nhiệm vụ thật khó kh ăn. Vậy ta phải d ùng phương tiện nào đó đưa y về cảnh vinh quang ng ày trước".
Và để chi êu dụ y, ngài ca tụng cảnh huy hoàng vĩ đại trong kinh th ành của y như sau:
107. Thú vật, chim muông, đủ mọi nơi, Ng ày xưa thịt của chúng ngài xơi Do đầu bếp khéo t ài đun nấu, Thật đúng cao lương vị tuyệt vời Tạo nỗi hân hoan như Đế Thích Hưởng bao ti ên thực ở trên trời. Tại sao ngài bỏ rơi tất cả, Tìm lạc thú rừng vắng lẻ loi? 108. Cung nữ cao sang, dáng mảnh mai, Xiêm y lộng lẫy khoác hình hài, Chung quanh Chúa thượng ngày xưa ấy, Cả đám vây quanh chật ních người, Như Ðế Thích trong Thiên chúng nọ, Ngài đi, l òng hạnh phúc vui tươi, Sao ngài lìa bỏ đời như vậy, T ìm lạc thú rừng vắng lẻ loi? 109. Giữa vương sàng rộng rãi mênh mông, Ngài ngự, ngày xưa, hỡi Chúa công, Nhiều lớp ch ăn m àn lông thú quý, Chất lên cao phủ cả mình rồng, Dưới đầu ng ài gối màu hồng thắm, Giường nệm sạch tinh, trắng tựa bông, Sao lại giã từ tất cả vậy, Tìm vui đơn độc ở trong rừng? 110. Nơi kia nhiều lúc giữa đ êm thanh, Ngài vẫn thường nghe tiếng trống canh, Và những âm thanh siêu thế tục Vẫn thường vang dội đến tai m ình, Lời ca, tiếng nhạc đồng h òa điệu, Khơi dậy tâm tư rộn r ã tình. Sao lại giã từ tất cả vậy, Tìm vui đơn độc giữa rừng xanh 111. Ng ài có hoa viên đẹp đắm say, Nơi kia phong phú cỏ hoa đầy, Mi-g à vốn đ ã từng danh tiếng Là chốn ngự viên, đô thị n ày, Xa pháo dập dìu vô số kể, Ngựa, voi lũ lượt đứng từng bầy, Sao ng ài lại bỏ rơi tất cả, Tìm thú rừng hoang cô độc vầy.
Bậc Ðại Sĩ suy nghĩ: "Có lẽ khi người này nhớ lại hương vị các món cao lương mà y đ ã thưởng thức ngày xưa, y sẽ mong muốn trở về với ta". Vì thế ngài chiêu dụ y trước tiên bằng thức ăn, kế đó l à lôi cuốn các sắc dục của y, thứ ba là ý nghĩ về sàng tọa, thứ tư là ca múa nhạc, thứ n ăm l à gợi lại ngự viên và kinh thành.
Ngài làm cho kẻ ấy mê mẩn với những ý tưởng trên rồi nói:
- Thưa Ðại vương, ta sẽ đi c ùng ngài về Ba-la-nại và ổn định ng ài tại đó xong, ta mới trở về vương quốc ta. Nhưng nếu chúng ta thất bại trong việc ổn định vương quốc Ba-la-nại, th ì ta sẽ tặng bạn một nữa giang sơn của ta. Ngài còn làm gì với cuộc sống ở rừng nữa chứ" Chỉ cần làm theo lời ta dặn ngài là được.
Sau khi nghe lời ngài, kẻ ăn thịt người nôn nóng đi với ng ài và suy nghĩ: "Sutasoma mong muốn ta an lạc quả thật là người đầy nhân từ. Trước ti ên ngài đ ã an trú ta trong giới đức, nay lại bảo sẽ phục hồi vinh quang cũ cho ta v à ngài có khả n ăng l àm việc đó. Ta cần phải đi với ng ài. Ta còn làm gì với rừng hoang nữa chứ?"
Lòng đầy hoan hỷ, y ước mong ca ngợi Sutasoma về đức hạnh của ng ài, liền nói:
- Này Hiền hữu Sutasoma, không gì tốt đẹp hơn kết giao với bạn hiền, không g ì xấu xa hơn kết giao với bạn ác.
112. Giống như trong nửa tháng đ êm đen, Mặt nguyệt mỗi ng ày một khuyết thêm, Cũng vậy kết giao cùng kẻ ác Chịu bao hủy hoại, hỡi vua hiền! 113. Như ta kết bạn hỏa đầu quân, Kẻ tối liệt trong bọn hạ tầng, Ta đ ã phạm vào bao ác nghiệp Kịp thời xuống địa ngục đ ày thân. 114. Ví như trong nửa tháng trời quang, Mặt nguyệt ngày thêm một sáng dần, Cũng vậy, kết giao cùng bậc thiện, Ðại vương ôi, sẽ chẳng suy tàn. 115. Như với bạn, ta được kết đôi, Này Su-ta, phải biết ngay thôi: Sau khi thành tựu điều chân chánh, Tất cả an vui đến c õi trời. 116. Như lũ lụt tràn mặt đất khô, Thấy thường tạm bợ, chóng trôi qua, Cũng vầy kết bạn c ùng người ác Là việc phù du, nước nổi mà. 117. Song nước lụt tràn khắp hải dương Thấy bền lâu ấy chuyện bình thường Cũng như giao kết cùng người thiện, Là chuyện lâu dài, hỡi Ðại vương. 118. Giao kết thiện nhân chẳng chóng qua, Tình huynh đệ vững suốt đời ta, Kết giao kẻ ác mau t àn lụi, Kẻ ác thường đi lạc hướng t à.
Như vậy kẻ ăn thịt người ca tụng bậc Ðại Sĩ qua bảy vần kệ trên. Còn ngài đem kẻ ấy v à các vua kia đi đến một l àng biên địa. Khi thấy bậc Ðại Sĩ, quần chúng vào kinh thành thông báo việc ấy. Quần thần của vua đi c ùng một đạo quân hộ tống bậc Ðại Sĩ và ngài cùng đo àn tùy tùng này vào vương quốc Ba-la-nại.
Trên đường đi, dân chúng mang qu à đến tháp t ùng ngài, thế rồi cả đám đại chúng theo ng ài đến Ba-la-nại.
Thời ấy vương tử của kẻ ăn thịt người đang l àm vua và Kàlahatthi vẫn là đại tướng quân, n ên dân kinh thành đến tr ình vua việc này:
- Tâu Ðại vương, nhiều người kể với chúng thần rằng vua Sutasoma đ ã giáo hóa kẻ ăn thịt người v à đang đến đây với y, chúng thần không muốn cho phép y v ào kinh thành đâu.
Họ vội vàng đóng cổng th ành và đứng đó với binh khí trong tay. Khi thấy cổng th ành đ ã đóng, bậc Ðại Sĩ để kẻ ăn thịt người v à một tr ăm lẻ một vua kia ở lại rồi c ùng với vài cận thần đi k êu lớn:
- Ta là vua Sutasoma, hãy mở cổng ngay.
Các tướng lãnh đi tâu tr ình vua và vua ra lệnh mở cổng thành lập tức để bậc Ðại Sĩ vào thành. Vua cùng vị đại tướng K àlahatthi ra nghênh tiếp ngài và đưa ng ài cùng lên thượng lầu của cung điện.
Bậc Ðại Sĩ an tọa trên ngai vàng, triệu tập bà chánh hậu của kẻ ăn thịt người c ùng cả đám cận thần đến, rồi ng ài bảo Kàlahatthi:
- Này Kàlahatthi, tại sao khanh không cho vua ấy vào thành?
Vị này đáp:
- Ðó là một kẻ cùng hung cực ác, trong khi làm vua cai trì kinh thành này, đ ã ăn thịt nhiều người, l àm điều phi pháp đối với các vị vua Sát-đế-lỵ v à làm tan nát toàn cõi Diêm-phù- đề: đó l à lý do khiến chúng thần hành động như vậy.
Ngài đáp:
- Các khanh chớ nghĩ rằng bây giờ kẻ ấy còn hành động như thế nữa. Ta đ ã giáo hóa y và an trú y vào giới đức. Y sẽ không l àm tổn hại ai cho dù để cứu mạng m ình đi nữa. Các khanh không c òn gì nguy hiểm do y gây ra cả, vậy các khanh đừng h ành động như thế. Thực ra các con phải chăm sóc cha mẹ: ai y êu quý cha mẹ sẽ lên thiên giới, còn các người khác sẽ xuống địa ngục.
Ngài khuyên r ăn vương tử như thế, trong lúc vị ấy ngồi tr ên một bảo tọa thấp bên cạnh ngài. Rồi ngài giáo huấn vị đại tướng:
- Này Kàlahatthi, khanh là bạn thân cũng là tùy tướng của vua, ngày trước khanh đ ã được vua phong quyền cao chức trọng, vậy khanh cũng phải h ành động v ì quyền lợi của vua.
Ngài lại khuyến giáo vương hậu:
- Này vương hậu, bà xuất thân dòng quý tộc và tự tay vua bà đ ã đạt ngôi vị chánh hậu, lại đầy đủ con trai con gái với vua ấy. Vậy b à cũng phải hành động v ì quyền lợi của vua.
Rồi ngài thuyết giảng Chánh pháp để đưa vấn đề n ày lên hàng đầu:
119. Không vua nào được quyền chinh phục Người chẳng n ên xâm phạm suốt đời; Không bạn n ào nên lừa dối bạn Bằng hành vi bội bạc tình người. 120. Nàng nào có ý sợ phu quân, Ta bảo chẳng là vợ chánh chân; Khi phụ thân già không cấp dưỡng, Làm con chẳng đúng với danh xưng. 121. Chẳng phải l à nơi chốn hội trường, Nếu hiền nhân chẳng vãng lai luôn, Những ai không giảng bày Chân lý Rộng khắp, chẳng là bậc trí nhân. 122. Những bậc ly tham dục, hận sân, Si mê, là những Thánh hiền nhân Chẳng hề quên giảng bày Chân lý Cho các thế nhân khắp mọi vùng. 123. Bậc hiền ở giữa đám ngu đần, Nếu lặng thinh, ai biết trí nhân, Vị ấy nói l ên thì tất cả Nhận ra Thầy dạy Pháp như chân. 124. Thuyết giảng, tôn vinh Pháp chánh chân, Giương cao cờ hiệu của hiền nhân, Thánh nhân biểu tượng là lời thiện, Ngài phất ngọn cờ Chánh pháp luôn.
Vua và vị đại tướng nghe ng ài thuyết Chánh pháp đều rất hoan hỷ, liền nói:
- Chúng ta hãy đi rước Ðại vương về đây.
Sau khi truyền đánh trống báo cáo khắp kinh th ành, hai vị triệu tập dân chúng lại và bảo:
- Ðừng sợ nữa, chúng ta nghe tin đức vua đ ã được an trú v ào Chánh pháp. Chúng ta hãy đi đón ng ài về đây.
Thế rồi hai vị cùng quần chúng được bậc Ðại Sĩ dẫn đầu đi đảnh lễ vua kia. Họ đưa các thợ cạo đến v à khi tóc râu được cạo sạch xong, vua ấy tắm rửa, mặc xi êm y sang trọng vào, họ đặt vua ngồi tr ên một đống bảo ngọc, l àm lễ quán đảnh (rảy nước phong vương), rồi rước vua v ào thành.
Vị vua ăn thịt người l àm lễ cung kính chào một tr ăm lẻ một vua Sát-đế-lỵ v à bậc Ðại Sĩ. Khắp nước Diêm-phù- đề chấn động v ì tin loan truyền rằng Sutasoma, chúa thượng của loài người, đ ã giáo hóa kẻ ăn thịt người kia v à phục hồi vương vị cho y.
Còn dân chúng thành Indapatta dâng sớ cầu xin vua trở về. Bậc Ðại Sĩ ở lại đó đúng một tháng v à thuyết giáo vua kia:
- Này Hiền hữu, chúng ta sắp ra đi, h ãy ch ăm lo tinh cần l àm thiện pháp và truyền xây n ăm bố thí đường ở các cổng th ành và tại cung vua, tuân hành Thập vương pháp (mười đức tính của vua hiền) v à tránh xa ác đạo.
Rồi tứ một tr ăm lẻ một kinh th ành, các đạo quân đông đảo tụ tập lại, c ùng với đo àn hộ tống này, ngài lên đường về Ba-la-nại. Vị vua ăn thịt người cũng tiễn đưa ng ài đến nửa đường th ì dừng lại. Bậc Ðại Sĩ tặng ngựa cho những ai không có ngựa để cỡi rồi cho phép tất cả ra đi. Họ trao đổi những lời từ gi ã thân tình với ngài và sau các nghi lễ ôm nhau thắm thiết, họ trở về xứ sở riêng của mỗi người.
Bậc Ðại Sĩ cũng đến th ành Indapatta trong cảnh uy nghi trọng thể, kinh thành ấy được dân chúng trang ho àng giống như kinh thành của chư Thiên. Sau khi cung kính đảnh lễ song thân, v à bày tỏ nỗi hân hoan được gặp lại cha mẹ, ng ài đi l ên thượng lầu của hoàng cung.
Trong thời gian thực hành nền cai trị chân chánh tại vương quốc, tư tưởng này chợt nảy ra trong trí ngài: "Vị thần cây thật ích lợi cho ta; ta muốn vị ấy được cúng dường lễ vật".
Vì thế ngài truyền xây một hồ nước rộng ở gần cây đa v à di chuyển nhiều gia đ ình đến đó dựng một ngôi l àng. Chẳng bao lâu nó trở thành một vùng rộng lớn có được tám mươi ng àn tiệm buôn.
Và bắt đầu từ mút xa nhất của các c ành cây, ngài bảo san bằng mặt đất quanh gốc cây v à xây một hành lang bao bọc có các cửa vòng cung và cổng ra vào thế là thần cây được lợi lộc.
Chính nhờ việc thiết lập ngôi làng trên địa điểm quỷ ăn thịt người được giáo hóa, v ùng ấy trở thành thị trấn với tên là Kammàsadamma (Kiềm-ma-sắc- đ àm: Nơi có quỷ ăn thịt người).
Còn các vị vua kia tuân theo lời giáo huấn của bậc Ðại Sĩ, thực hành các thiện sự như bố thí và nhiều việc khác, nên về sau được l ên thiên giới.
*
Ðến đây, bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại và nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ Ta mới cải hóa Angulimàla, mà ngày xưa nữa, vị ấy cũng được ta cải hóa.
Và Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy vị vua ăn thịt người l à Angulimàla (Người đeo v òng ngón tay), đại tướng K àlahatthi là Sàriputta (Xá-lợi-phất), Bà-la-môn Nanda là Ànanda (A-nan), thần cây là Kassapa (Ca-diếp), Sakka Thiên chủ là Anuruddha (A-na-luật- đ à), quần thần của các vua là hội chúng của đức Phật, song thân của vua l à các vị trong hoàng gia của Ðại vương, và vua Sutasoma trong chuyện chính là Ta.