Chuyện Tiền Thân · Jātaka

529. Chuyện Hiền giả Sonaka (Tiền thân Sonaka)

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Chuyện Tiền Thân

Kinh Trung Bộ · Bài 64

Chuyện Hiền giả Sonaka (Tiền thân Sonaka)#

Jātaka group 64

Chương XIX

Phẩm Sáu Mươi Bài Kệ

-ooOoo-

529. Chuyện Hiền giả Sonaka (Tiền thân Sonaka)

Một ngàn đồng trẫm tặng cho người ...,

Câu chuyện này bậc Ðạo Sư kể lại trong lúc Ngài ngụ tại Kỳ Viên, về Ðại

Sự Xuất thế viên mãn của Ngài.

Vào dịp này, bậc Chánh Giác ngồi ở Chánh pháp

đường giữa các Tỷ-kheo trong lúc Tăng chúng

đang tán thán công hạnh vi ên mãn của việc Ngài xuất thế, Ngài bảo:

- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ mà cả ngày xưa nữa, Như Lai

đ ã thật sự thoát tục và làm Ðại sự Xuất

thế.

Nói xong Ngài kể câu chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa vua Magadha (Ma-kiệt- đ à) cai

trị tại thành Rajàgaha (Vương Xá). Bồ-tát sinh làm con Chánh hậu, vào ngày

đặt t ên, hoàng gia gọi ngài là vương tử

Arindama. Chính ngày ngài ra đời, một cậu trai

khác cũng ra đời tại nh à vị quốc sư,

được cha mẹ đặt t ên là Sonaka.

Hai cậu bé lớn lên khi đến tuổi khôn lớn đều

cực kỳ xinh đẹp lạ thường, h ình dáng thật khó phân biệt nhau; họ cùng

đến Takkasil à, sau khi luyện tập xong

đủ các học thuật, họ ra đi với ý định học các

nghề thực dụng v à xem các tập tục địa

phương, dần dần đi du h ành đến tận

Ba-la-nại.

Tại đó họ cư ngụ trong ngự vi ên và

hôm sau đi v ào kinh thành; chính ngày

hôm ấy, một số người dự định cúng dường thực

phẩm cho các vị B à-la-môn, đem ra món

cháo v à sắp đặt ghế sẵn, khi trông thấy

hai vị nam tử n ày đến gần, liền mời họ v ào

nhà ngồi trên các ghế đ ã soạn ra. Trên

ghế dành cho Bồ-tát có trải tấm vải trắng, còn ghế dành cho Sonaka trải tấm

thảm len đỏ.

Khi thấy điềm ấy, Sonaka hiểu ngay l à

ngày hôm ấy Arindama, bạn chàng sẽ lên ngôi vua tại Ba-la-nại và phong cho

chàng chức đại tướng. Sau khi ăn xong, hai vị c ùng

trở về ngự viên. Lúc bấy giờ đ ã

đến ng ày thứ bảy từ khi vua Ba-la-nại b ăng

h à, hoàng gia không có người kế vị. Vì thế các quân sư cùng hoàng tộc

sau khi tắm rửa đầu m ình xong, tụ tập

nhau lại và bảo:

- Các người hãy đến nh à người xứng

đáng l ên ngôi vua.

Họ bắt đầu đánh xe hoa ra đi.

Khi rời thành, xe đi dần đến ngự vi ên

và dừng tại cổng ngự viên, sẵn sàng đợi một

người bước l ên xe. Bồ-tát đang nằm nghỉ

với y ngo ài đắp quanh đầu, tr ên

phiến đá d ành cho vua, trong khi nam tử

Sonaka ngồi bên cạnh. Khi nghe tiếng nhạc cụ, Sonaka nghĩ thầm: "Ðây là xe

hoa đến đón Arindama, hôm nay ng ài sẽ

lên ngôi vua và phong ta chức đại tướng. Song

thật ra ta không muốn trị dân; khi ng ài

đi rồi, ta sẽ rời thế tục v à làm ẩn sĩ khổ hạnh.

Thế rồi ngài đứng ẩn m ình sang một

bên. Vị quốc sư đi v ào ngự viên thấy bậc

Ðại Sĩ nằm đó, liền ra lệnh thổi k èn

lên. Bậc Ðại Sĩ thức dậy quay mình nằm thêm một lát rồi ngồi xếp chân trên

phiến đá. Lúc ấy vị quốc sư giơ tay ra cầu khẩn

ng ài:

- Tâu Ðại vương, quốc độ n ày thuộc

quyền ngài.

- Sao thế, không có kẻ thừa kế ngai vàng ư?

- Quả vậy, tâu Ðại vương.

- Thế thì được. Ng ài bảo.

Họ liền làm lễ quán đảnh (rảy nước thánh tr ên

đầu) cho ng ài lên ngôi vua ngay tại

đó. Rồi để ng ài lên xe hoa xong, họ rước

ngài vào thành cùng đám t ùy tùng rầm rộ.

Sau lễ rước ngài thật trọng thể quanh kinh thành, ngài

đi l ên hoàng cung, trong cảnh

đại huy ho àng vinh quang ấy, ngài quên

bẳn người bạn trẻ Sonaka.

Nhưng khi vua đi rồi, Sonaka trở lại ngồi tr ên

phiến đá, v à chính một ngọn lá úa của

cây Sà la lìa cành rơi trước mặt ngài, khiến ngài trông thấy, liền kêu lên:

- Thân ta rồi cũng bị hư hoại như chiếc lá này!

Và khi chứng đạt được Thắng trí nhờ Ng ài

quán sát tính vô thường của các pháp, Ngài đắc

quả vị Ðộc Giác Phật và ngay lúc ấy những

đặc tính của con người thế tục trong ng ài

biến mất đi, v à những dấu hiệu của một

bậc chân tu hiện rõ ra, Ngài bảo:

- Ta không còn tái sinh vào đời sau nữa.

Trong khi thốt lên ý nguyện này, Ngài khởi hành tiến về hang Nandamùla.

Còn bậc Ðại Sĩ, sau bốn mươi n ăm trôi qua,

chợt nhớ đến Sonaka v à nói:

- Sonaka nay ở đâu tr ên

đời n ày?

Dần dần mỗi khi nhớ lại thân bằng, vua không thấy ai báo cho ngài biết:

"Hạ thần có thấy vị ấy, hạ thần có nghe nói đến

vị ấy".

Khi lên ngồi xếp bằng trên ngai vàng đặt tr ên

chiếc bệ nguy nga có đám nhạc công v à vũ

nữ ca kịch vây quanh, tận hưởng cảnh vinh hoa phú quí ấy, vua bảo:

Bất kỳ ai nghe được có người nói Sonaka đang

ở nơi n ày nơi nọ và báo tin cho trẫm, trẫm hứa sẽ ban tặng một tr ăm

đồng tiền; c òn ai thấy chàng tận mắt và báo cho trẫm, trẫm hứa tặng

một ngàn đồng tiền.

Rồi để l àm cho lời cảm khái này

được linh động th êm thành một bài ca,

ngài ngâm kệ đầu:

Một ngàn đồng trẫm tặng cho người

Trông thấy thân bằng, bạn trẫm chơi,

Tặng một trăm đồng cho kẻ khác

Biết So-na ấy chút tăm hơi.

Lúc ấy một vũ nữ bắt được điệu hát từ miệng

vua, liền hát l ên khúc ca ấy rồi dần dần một người khác, rồi một

người nữa hát lên cho đến khi khắp cả hậu cung

cho rằng đó l à điệu hát được vua ưa

chuộng, n ên đồng hát l ên.

Dần dần dân chúng khắp thị thành đến thôn qu ê

đều hát b ài ấy và chính vua cũng thường

hát bài ấy. Sau n ăm mươi năm, vua đ ã

sinh hạ nhiều vương tử và công chúa, vị thái tử tên là Dighàvu.

Vào lúc ấy vị Độc Giác Phật nghĩ thầm: "Vua

Arindama rất nóng l òng gặp lại ta. Vậy ta muốn

đi giải thích cho ng ài hiểu nỗi khổ

đau của tham dục v à công

đức của việc xuất gia, ta sẽ chỉ cho ng ài

con đường tu h ành ẩn sĩ".

Rồi nhờ thần lực, Ngài đến đó ngay v à

an tọa trong ngự viên. Lúc bấy giờ một đứa bé l ên

bảy để tóc năm ch òm,

được mẹ sai đến đây vừa lượm củi khô vừa hát đi

hát lại b ài ấy. Ngài Sonaka gọi cậu bé lại và hỏi:

- Này con, sao con cứ hát mãi bài ấy mà chẳng hề hát bài nào khác, con

không biết bài nào khác hay sao?

- Thưa Tôn giả, con biết nhiều bài khác, nhưng bài này

đức vua y êu thích lắm, vì thế con cứ hát

hoài.

- Thế có ai hát điệp khúc của b ài này

không?

- Thưa Tôn giả, không.

- Vậy ta muốn dạy con một điệp khúc rồi con

đi về hát cho đức vua nghe.

- Thưa vâng.

Thế là Ngài dạy câu bé điệp khúc "Một ng àn

đồng" v à cả

đoạn sau, đến khi cậu bé hát thật thông thạo, Ng ài

để cậu bé về v à bảo:

- Này con, con hãy đi về hát điệp khúc n ày

trước đức vua, ng ài sẽ ban cho con nhiều

quyền thế. Con cần gì phải lượm củi khô nữa? Thôi hãy

đi về hết sức nhanh lên.

- Thế thì tốt lắm.

Cậu bé đáp sau khi đ ã thông thạo khúc

hát, liền từ tạ Tôn giả Sonaka:

- Thưa Tôn giả, xin Ngài ngồi lại đây cho

đến khi con thỉnh đức vua đến.

Nói xong, cậu vội vàng chạy thật nhanh về gặp mẹ và bảo:

- Mẹ hãy tắm rửa cho con và mặc áo quần vào thật

đẹp, hôm nay mẹ con ta sẽ thoát cảnh ngh èo

hèn.

Sau khi cậu đ ã tắm rửa,

ăn mặc lịch sự xong, cậu đến cửa cung bảo:

- Này ông lão canh cổng, xin hãy đi tr ình

Ðại vương biết: "Có một cậu bé đến đây, đang

đứng ở cửa, chuẩn bị ca một b ài dâng lên Thánh thượng".

Người giữ cổng vội phi báo với vua. Vua triệu cậu bé vào yết kiến và bảo:

- Này hiền hữu muốn hát đối c ùng trẫm

ch ăng?

- Tâu Ðại vương, đúng thế.

- Vậy thì hát đi.

- Tâu Ðại vương, con không muốn hát ở đây, m à

con muốn xin cho tiếng trống đánh l ên

khắp kinh thành báo hiệu dân chúng tụ tập tại

đây, con mong muốn hát trước mặt dân chúng.

Vua ra lệnh làm như vậy, rồi ngự giữa bảo tọa dưới một ngôi

đ ình thật lộng lẫy và dành một chỗ ngồi

xứng đáng cho cậu bé, ng ài bảo:

- Bây giờ hãy hát đi.

Cậu bé đáp:

- Tâu Ðại vương, xin Ðại vương hát trước rồi con sẽ xin hát

điệp khúc của b ài

đó.

Vua liền hát trước tiên vần kệ này:

1. Một ngàn đồng trẫm tặng cho người

Trông thấy thân bằng, bạn trẫm chơi,

Tặng một trăm đồng cho kẻ khác

Biết So-na ấy chút tăm hơi.

*

Lúc ấy bậc Ðạo Sư, muốn làm sáng tỏ việc cậu bé còn

để tóc năm ch òm này ca

điệp khúc do vua khởi xướng; v à với Trí

tuệ Tối thắng Ngài ngâm hai vần kệ:

2. Rồi cậu bé kia bỗng nói rằng:

- Trên đầu c òn

để tóc năm ch òm -

"Ngàn đồng xin tặng cho con thấy,

V à đ ã nghe xin tặng một tr ăm,

Con sẽ đưa tin Tôn giả ấy

Bạn thân ng ày trước của Minh quân .

*

Các vần kệ sau đây, được hiểu theo tương

quan diễn tiến của câu chuyện:

Ðức vua:

3. Thành thị, thôn quê, quốc độ g ì

Mà con lê mãi bước chân đi,

Thấy đâu hiền hữu So-na ấy,

Con h ãy vui lòng nói trẫm nghe?

Tiểu nhi:

4. Trong quốc độ n ày, chính ngự viên,

Nhiều Sà la lớn mọc đua chen

Xanh tươi c ành lá, thân cao vút,

Phong cảnh đẹp sao trước mắt nh ìn.

5. Cành lá giao nhau, kết thật dày,

Vươn lên trời tựa các vầng mây,

So-na nằm dưới gốc, thiền định,

Ly dục, tâm an, thanh tịnh đầy.

Bậc Ðạo Sư:

6 - 7 . Vua liền khởi sự quyết lên đ àng,

Rẽ lối tiến ngay, thực vội vàng

Ðến chốn So-na-ka trú ngụ,

Quẩn quanh vườn ngự rộng thênh thang,

Thân bằng, ngài thấy đ à ly dục,

Thánh hạnh an nhiên hỷ lạc tràn.

Vua không đảnh lễ ng ài, mà chỉ ngồi

xuống một bên, và bởi lẽ bản thân vua đ ã

đắm m ình vào ác dục, nên cứ tưởng vị cố

bằng hữu này là một kẻ khốn khổ bần hàn lắm, liền ngâm kệ bảo bạn:

8. Trọc đầu, mất cả mẹ c ùng cha,

Trẫm thấy người kia khoác áo dà,

Kẻ khó tu hành đang nhập định,

Trải m ình đây, dưới gốc S à-la.

9. Nghe thế, So-na-ka bảo rằng:

"Chẳng là khốn khổ, tấu Vương quân,

Kẻ nào biết rõ trong hành động

Luôn hướng về điều phải, lẽ chân".

10. Khốn h èn là kẻ bỏ điều chân,

V à lại thực hành chuyện bất nhân,

Với kẻ ác kia, ngài phải biết,

Khổ đau mạt vận để d ành phần.

Ngài đ ã khiển trách Bồ-tát như vậy,

còn vua giả vờ không biết mình bị khiển trách, cứ làm vẻ thân hữu trò chuyện

cùng Ngài, nêu rõ danh tánh, gia tộc qua vần kệ:

11. Vua Kà-si nọ chính là ta,

Ta mệnh danh là A-rin-da,

Từ lúc đến đây, thưa Thánh giả,

Có điều chi đáng để phiền h à?

Vị Ðộc Giác Phật liền đáp:

- Không chỉ khi an trú nơi đây, m à

bất cứ ở nơi nào khác, ta cũng không gặp điều g ì

phiền phức cả.

Rồi Ngài bắt đầu ngâm kệ n êu lên các

niềm phước lạc của bậc tu hành:

12. Một kẻ xuất gia chẳng bạc tiền,

Ðược bao phước lạc, kể đầu ti ên,

Trong bình hay vựa, không tồn trừ,

Chỉ muốn vật thừa, sống thản nhiên.

13-14. Phước lạc tiếp theo, đáng tán đồng:

Vị n ày thọ thực chẳng sai lầm,

Thứ ba, hạnh phúc hằng ngày được

Thọ thực an vui, chẳng mếch l òng.

15-16. Phước lạc thứ tư, chốn đến đi,

Thong dong chẳng biết luyến lưu gì,

Thứ n ăm ví thử th ành kia cháy,

Người chẳng thiệt thòi, chẳng mất chi.

17. Thứ sáu là điều hạnh phúc đây,

Người tu tính để phận ri êng tây:

Ví dù quốc độ đi êu tàn cả,

Người ấy chẳng hề thiệt mảy may.

18. Thứ bảy là điều hạnh phúc kia:

V ì chưng nghèo khó chẳng còn gì,

Dù bầy cướp chận đường vây h ãm,

Cừu địch d ù bao kẻ hiểm nguy,

Bình bát, hoàng y, người Phạm hạnh

Bình an vẫn cứ bước chân đi.

19. C òn đây l à hạnh phúc sau

cùng:

Vị ấy lang thang khắp mọi vùng,

Không cửa không nhà, và khốn khó,

Lên đường chẳng luyến tiếc băn khoăn.

Như thế vị Ðộc Giác Phật Sonaka đ ã

nêu lên tám phước lạc của một tu sĩ, rồi hơn thế nữa, Ngài có thể kể cả tr ăm

cả ng àn vô lượng phước lạc, nhưng vì vua

đang tham đắm dục lạc n ên vội ngắt ngang lời Ngài, bảo:

- Trẫm không màng các phước lạc của đời tu h ành

kia.

Và để l àm sáng tỏ việc mình mê

đắm dục lạc ra sao, vua ngâm kệ:

20-21. Phước lạc ngài ca, trẫm chẳng màng,

Trẫm truy tầm lạc thú trần gian

Nhân, thiên lạc, trẫm đều y êu thích

Ðạt cả hai ngay, hãy chỉ đ àng.

Vị Ðộc Giác Phật liền đáp lời:

22. Ai cử tham lam muốn hưởng tràn

Biết bao dục lạc cõi trần gian,

Tạo nên ác nghiệp trong đời sống,

Sau phải tái sinh c õi khổ buồn.

23. Bỏ ái dục kia lại phía sau,

Suốt đời vô úy tiến l ên mau,

Tham thiền đạt đến tâm thanh tịnh

Chẳng phải luân hồi c õi khổ đau.

24. Ta nói Ðại vương ví dụ này,

A-rin-da hãy lắng nghe đây:

Những người hiền trí nhờ lời dụ,

Ý nghĩa cao si êu sẽ hiểu ngay.

25. Trên sông Hằng sóng thủy triều dâng

Kìa chú quạ ngu thấy cuốn ph ăng

Một xác vật g ì to quái lạ,

Tự nhủ thầm khi nó nổi gần:

26. "Vật kia tìm được lớn lao thay,

Ôi thật l à kho thực phẩm đầy

Ðể tận hưởng bao niềm khoái

Ðây ta sẽ ở suốt đ êm ngày".

27. Như thế thịt voi, quạ cứ ăn,

Uống th êm nước mát tự sông Hằng

Trong khi trôi nổi, không hề thấy

Rừng miếu thoáng qua giấc mộng vàng

28. Cứ vậy buông lung chú quạ trôi

Ðắm mình trên xác chết tanh hôi,

Sông Hằng cuốn chú lao đầu thẳng

V ào chốn hiểm nguy của biển khơi.

29. Song lúc thức ăn đ ã cạn

đi,

Ôi, chim tội nghiệp cố bay về,

Ðông Tây, Nam, Bắc nào đâu hướng,

Chẳng thấy đất đai, biển bốn bề!

30. Xa giũa tr ùng dương, đ ã mệt

phờ,

Trước khi chú quạ đến b ên bờ,

Giữa muôn vàn hiểm nguy trên biển,

Ngã xuống, không bay nữa bấy giờ.

31. Nơi chú chim kia khốn khổ rơi,

Cả đ àn sấu, thủy quái

đang bơi

Chung quanh, vội đến v à xâu xé,

Tan xác run run của quạ mồi.

32. Cũng vậy, Ðại vương với những người

Tham lam tìm lạc thú kia hoài,

Tưởng mình có trí như chim quạ,

Cho đến khi l ìa bỏ cuộc

đời.

33. Ví dụ ta b ày tỏ thật chân,

Ðại vương hãy thận trọng quan tâm,

Danh thơm có được hay danh xấu,

T ùy thuộc hành vi của Ðại quân.

*

Như vậy nhờ ví dụ kia, Ngài đ ã khuyến

giáo vua và để cho vua ghi nhớ m ãi

điều n ày, Ngài ngâm kệ:

34. Vì từ tâm nói một hai lần,

Nhắc nhở đôi lời để hộ thân,

Song chớ nhắc đi nhắc lại m ãi,

Giống gia nô trước chủ nhân ông!

35. Với trí vô biên, bậc Ðại nhân,

So-na Giác giả dạy vương quân

Vừa xong, Ngài thẳng đ àng bay biến

Trong khoảng không gian rộng mịt mùng.

Ðây là vần kệ phát xuất tứ Trí tuệ Tối thắng của

đức Phật.

*

Bồ-tát đứng ngắm Ng ài bay qua không

gian trong lúc còn nhìn thấy hình bóng Ngài, song khi Ngài

đ ã khuất dạng, Bồ-tát vô cùng xúc

động nghĩ thầm: "Người B à-la-môn này

thuộc dòng giống thấp kém thế, mà sau khi phủi bụi bặm trên bàn chân lên

đầu ta, một người xuất thân từ quý tộc được kế

tục từ đời n ày qua đời khác, đ ã

biến mất trong bầu trời; vậy hôm nay ta phải giã tứ thế gian và thành người

tu khổ hạnh ngay". Trong niềm ước mong làm ẩn sĩ, và rời quốc

độ, ng ài ngâm hai vần kệ:

36. Các quản xa nay được lệnh ban

Ði tìm đâu được đấng minh ho àng?

Trẫm không muốn ngự trên ngai nữa,

Trẫm giã từ ngay chiếc miện vàng.

37. Ta chết ngày mai, ai có hay

Trẫm mong thọ giới tự hôm nay,

Sợ rằng như quạ kia ngu dại,

Ác dục cuốn lôi, trẫm đọa đ ày.

Nghe vua muốn thoái vị như vậy, các quốc sư tâu:

38. Ðại vương có Thái tử Dì-ghà

Vương tử đẹp tươi quả thật l à,

Quán đảnh suy tôn l ên bảo tọa

Sẽ làm Ðại đế của triều ta.

Tiếp theo đây, khởi đầu bằng vần kệ do vua

ngâm, các câu sau tuần tự được hiểu theo diễn tiến câu chuyện:

39. Mau triệu Dì-ghà-vu đến đây,

Ho àng nhi này thật tốt tươi thay,

Sắc phong quán đảnh l ên vương vị,

Ấy chính là vua quốc độ n ày.

40. Khi quần thần dẫn đến Digha

Chúa tể tương lai của nước nh à,

Vương phụ bảo cùng hoàng thái tử,

Con yêu độc nhất quả ch àng là.

Phụ vương:

41. Thôn làng sáu vạn ấy ngày xưa

Trẫm đ ã phán rằng:"Chính của ta",

Hãy nhận chúng đi, n ày Thái tử,

Từ nay trẫm giã biệt sơn hà.

42. Ngày mai ta chết, có ai hay?

Trẫm muốn hôm nay thọ giới ngay,

Vì sợ ngu si như chú quạ

Ðắm mê ác dục, trẫm sa lầy.

43. Kìa xem! Vương tượng sáu mươi ngàn

Ðược điểm tô bao vẻ rỡ r àng,

Với đủ cân đai v àng chói lọi

Trang hoàng bảo vật sáng huy hoàng.

44. Quản tượng ngồi lên cỡi mỗi con,

Tay cầm giáo có móc câu tròn,

Nhận đi, Thái tử, cha ban tặng

Con, kẻ l ên ngôi trị nước non.

45. Ngày mai ta chết, có ai hay?

Trẫm muốn hôm nay thọ giới ngay,

Vì sợ ngu si như chú quạ

Ðắm mê ác dục, trẫm sa lầy.

46. Kìa xem, vương mã sáu mươi ngàn!

Tô điểm y ên cương sáng rỡ ràng,

Tuấn mã Sindh đều d òng giống quý,

Bộ binh hùng hậu cả quân đo àn.

47. Chúng đều mang quản m ã oai hùng

Ðầy đủ trong tay với kiếm, cung,

Thái tử nhận đi, cha tặng cả

Cho con, người ngự trị to àn dân.

48. Ngày mai ta chết, có ai hay?

Trẫm muốn hôm nay thọ giới

Vì sợ ngu si như chú quạ

Ðắm mê ác dục, trẫm sa lầy.

49. Vương xa sáu vạn đủ y ên cương,

Cờ xí tung bay ngập bốn phương

Da cọp, da beo bao phủ khắp,

Kìa xem quang cảnh thật huy hoàng!

50. Quản xa điều ngự, giáp b ào mang,

Cung tiễn cầm tay, thảy vũ trang,

Thái tử nhận đi, cha tặng cả

V ì con, người ngự trí giang san.

51. Ta chết ngày mai, ai có hay?

Trẫm mong thọ giới tự hôm nay,

Sợ rằng như quạ kia ngu dại,

Ác dục đắm m ê, trẫm

đọa đ ày.

52. Sáu vạn bò tơ sắc đỏ hồng,

C ùng đ àn bò

đực ở b ên lưng,

Nhận đi, Thái tử, cha ban tặng

V ì chính con cai trị quốc dân.

53. Ngày mai ta chết, có ai hay?

Trẫm muốn hôm nay thọ giới ngay,

Vì sợ ngu si như chú quạ

Ðắm mê ác dục, trẫm sa lầy.

54. Sáu vạn cung phi đẹp n õn nà

Ðứng kia xiêm áo thật xa hoa,

Ðầy tay vòng ngọc, hoa tai điểm,

Cha tặng con, người trị quốc gia.

55. Ta chết ng ày mai, ai có hay?

Trẫm mong thọ giới tự hôm nay,

Sợ rằng như quạ kia ngu dại,

Ác dục đắm m ê, trẫm

đọa đ ày.

Thái tử:

56. Chúng bảo con: "Vương mẫu mất rồi"

Ðáng thương ai tử nọ! Than ôi!

Làm sao con sống không vương phụ,

Con đ ã lìa sinh thú ở

đời.

57. Như ở sau lưng, sát với cha,

Voi con thường thấy kế voi gi à,

Xuyên đ èo, xuyên núi hay rừng rậm,

Bằng phẳng, gồ ghề, cũng vượt qua.

58. Bình bát trong tay, con bước sau,

Theo cha dẫn lối bất kỳ đâu,

Cha không thấy gánh con l àm nặng,

Hay phải nuôi con khó nhọc nào .

Phụ vương:

59. Như thương nhân, chủ các con tàu,

Kiếm lợi dù cho với giá nào,

Thường bị cuốn trôi vào vực xoáy,

Cả thuyền, thủy thủ, thảy tiêu hao.

60. Sợ rằng ta gặp bước gian nan,

Con trẻ gây phiền lụy cản đ àng,

Làm lễ phong vương trong bảo điện,

Cho con hưởng lạc thú trần gian.

61. Cả bầy cung nữ vuốt ve ch àng

Ngời chói đôi tay với ngọc v àng,

Như Ðế Thích cùng bầy thị nữ

Từ đây ch àng sẽ

được hân hoan.

62. Họ rước Di-gh à, Thái tử này

Vào cung điện, chốn lạc hoan đầy,

Vừa nh ìn vương tử, đo àn thanh nữ

Kiều diễm, liền thưa gửi giải bày:

63. -"Chàng là ai? Nhạc sĩ, Thiên thần,

Hay Ðế Thích danh tiếng lẫy lừng,

Bố thí của tiền khắp thị trấn,

Xin cho tiện thiếp biết danh xưng?.

64. "Ta không Nhạc sĩ, chẳng Thiên thần,

Chẳng Ðế Thích danh tiếng lẫy lừng,

Vua xứ Kà-si, ta kế vị,

Di-ghà Thái tử, ấy danh xưng,

Hãy yêu ta nhé và an lạc,

Ta sắc vương phi đủ mọi n àng!

65. Rồi với Di-ghà, vị chúa công,

Các nàng kiều nữ lại thưa rằng:

"Thượng hoàng tìm chỗ nào an trú,

Và kể tử nay sẽ ẩn thân?".

Thái tử:

66. - "Phụ vương đ ã tránh chốn bùn

nhơ,

Ngài đ ã bình an ở

đất khô,

Thoát khỏi chông gai rừng rậm rạp,

Cuối c ùng ngài đ ã thấy

đường to.

67. C òn ta mới cất bước lên đường

Dẫn đến nơi đầy rẫy khổ buồn,

Qua đám chông gai, rừng rậm rạp

Tiến l ên tìm số phận kinh hoàng".

Cung phi:

68.- "Cung nghênh Thánh thượng đến ho àng

cung,

Như hổ tìm con ở động hang,

Thánh thượng từ đây l ên ngự trị,

Chánh chân thừa kế chiếc ngai vàng".

*

Nói xong cả đo àn cung nữ cùng

đánh nhạc cụ vang lừng v à biểu diễn

đủ loại ca múa, cảnh vinh quang huy ho àng

tuyệt diệu đến độ Thái tử say m ê quên

hết mọi sự về phụ vương.

Nhưng sau đó ch àng cai trị

đúng Chánh pháp, rồi đi theo nghiệp của m ình.

Còn Bồ-tát tu tập Thiền định l àm phát

khởi Thắng trí và khi mạng chung, ngài sinh lên cõi Phạm thiên.

*

Bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại và bảo:

- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ mà ngay cả ngày xưa nữa, Như

Lai cũng đ ã làm Ðại sự Xuất thế.

Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:

Vào thời ấy, vị Ðộc Giác Phật chứng đắc Niết

B àn, vương tử là Ràhula (La-hầu-la) và vua Arindama chính là Ta.

-ooOoo-

530. Chuyện hiền giả Samkicca (Tiền thân Samkicca)

Vừa thấy Brahmà, bậc Ðế vương...,

Câu chuyện này bậc Ðạo Sư kể lại trong khi trú vườn xoài của Jivaka, về

việc mưu sát phụ vương vua Ajàtasattu (A-xà-thế). Theo sự xúi giục của

Devadatta (Ðề-bà- đạt-đa), vua ấy đ ã nhờ

vị này sát hại phụ vương.

Nhưng khi bệnh tật tràn lan trong đám giáo

hội ly khai tiếp theo sau sự chia rẽ trong Tăng chúng, Ðề-bà- đạt-đa

quyết đính ra đi v à xin đức Như Lai thứ

tội trong lúc đi đường đến S àvatthi (Xá-vệ), trên một chiếc cáng, vị

này bị nuốt vào lòng đất ngay tại cổng Kỳ Vi ên.

Khi được tin tr ên, vua A-xà-thế suy

nghĩ: "Vì Ðề bà- đạt-đa th ù nghịch với

đức Thế Tôn n ên phải bị mất xác vào lòng

đất v à đọa

v ào địa ngục Av ìci (A-tỳ). Vì lão

ấy mà ta đ ã can tội giết hại phụ vương

thánh thiện, vị vua của công lý, chắc chắn ta cũng sẽ bị nuốt vào lòng

đất".

Vì thế vua kinh hoàng đến độ không c òn

hứng thú an hưởng cảnh vương giả trong triều đ ình

và trong khi tưởng rằng chỉ nằm nghỉ ngơi chốc lát, vua

đ ã ngủ thiếp dần, rồi thấy mình dường

như rơi vào một cảnh giới toàn bằng sắt dày chín dặm, bị

đâm bằng cọc sắt nhọn v à bầy chó xâu xé,

chúng cứ nhe r ăng dọa nạt ông, l àm ông

kêu lớn và giựt mình tỉnh dậy.

Vì vậy vào ngày lễ hội Rằm tr ăng tr òn

tháng Mười, khi được đám đông quần thần vây

quanh, ông nghĩ đến cảnh vinh quang của m ình, lại thấy cảnh vinh

quang của phụ vương còn vượt xa hơn mình nữa, mà chỉ vì Ðề-bà- đạt-đa,

ông đ ã giết một vị vua chân chính như vậy, trong khi nghĩ

đến điều n ày, một cơn sốt nổi lên khắp

thân thể, mồ hôi đổ ra như tắm.

Rồi ông xem xét ai có thể xua tan nỗi sợ hãi này khỏi lòng mình, ông kết

luận là ngoại trừ đấng Thập Lực (danh hiệu của

đức Phật), không c òn ai nữa, ông suy nghĩ: "Ta

đ ã có tội lớn

đối với đức Như Lai, vậy ai có thể đem ta đến

yết kiến đức Thế Tôn?

Và xem ra không còn ai ngoài Jìvaka, ông tìm cách mời vị này cùng

đi đến yết kiến đức Phật.

Vua thốt ra một tiếng kêu vui mừng:

- Này Hiền khanh, đ êm nay tr ăng

sáng đẹp quá - Vua bảo - hôm nay ta muốn đi cúng dường đảnh lễ một vị Sa-môn

hay B à-la-môn nào, có nên ch ăng?

Khi nghe các công đức của Pur àna và

các vị Đạo Sư khác được các đệ tử của họ tán

thán, vua không quan tâm m à chỉ hỏi lại Jìvaka, và khi nghe vị này kể

các công đức của Như Lai c ùng kêu lên:

- Xin Thánh thượng, hãy đi đảnh lễ đấng Thế

Tôn.

Vua ra lệnh cho các tượng xa chuẩn bi đi đến

vườn xo ài của Jìvaka.

Khi đến gần đức Như Lai, vua đảnh lễ v à

được đức Phật thân ái đáp lễ lại, vua hỏi đức

Phật về công quả của việc tu h ành trong

đời n ày, và sau khi nghe được b ài

thuyết Pháp êm dịu về vấn đề n ày từ

đức Như Lai, cuối c ùng vua xin làm

đệ tử đức Phật, v à ra về sau khi

đ ã được h òa

hợp với đức Phật.

Từ đó thực h ành bố thí và trì giới,

vua thường kề cận đức Như Lai, nghe Ng ài

thuyết Pháp êm dịu và nhờ thân cận bậc thiện hữu tri thức, nỗi lo sợ giảm

bớt và cảm giác kinh hoàng của ông dần dần biến mất, ông

đ ã được an

tâm trở lại v à hân hoan tu tập Tứ Nhiếp pháp.

Một ngày kia, T ăng chúng bắt đầu b àn

luận tại Chánh pháp đường, bảo nhau:

- Này các Hiền giả, sau khi giết phụ vương, vua A-xà-thế quá kinh hoàng

không còn muốn hưởng cảnh vương giả nữa, cứ luôn luôn bị cảm giác khổ

đau trong mọi h ành

động. Sau đó vua t ìm

đến đức Như Lai, v à nhờ thân cận với bậc

thiện hữu, vua đ ã quên mất hết mọi nỗi

lo âu và an hưởng vinh hoa hạnh phúc của đời

vương giả.

Bậc Đạo Sư đi đến v à hỏi:

- Này các Tỷ-kheo, các ông đang b àn

luận vấn đề g ì?

Và khi nghe các vị ấy nói vấn đề kia, Ng ài

bảo:

- Không phải chỉ bây giờ mà cả ngày xưa nữa, người này sau khi giết cha

mình, đ ã nhờ ta mà phục hồi sự thanh

thản tâm trí.

Rồi Ngài kể câu chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa tại thành Ba-la-nại, vua Brahmadatta sinh

được một con trai, đó l à vương tử

Brahmadatta. Vào thời ấy Bồ-tát được sinh v ào

nhà của vị quốc sư. Ngày ngài ra đời, họ đặt t ên

ngài là cậu Samkicca. Hai hài nhi cùng lớn lên trong cung vua nên trở thành

đôi bạn chí thân. Khi hai vị đến tuổi khôn lớn,

v à sau khi đ ã hoàn tất mọi môn

học tại Takkasilà, liền trở về nhà, vua phong cho con làm phó vương và

Bồ-tát vẫn sống chung cùng bạn.

Một ngày kia khi vua cha du ngoạn tại lạc viên, phó vương nhìn thấy cảnh

đại vinh quang của ng ài, sinh lòng ao

ước và nghĩ thầm: "Phụ vương còn mạnh khoẻ hơn một vị vương huynh, nếu ta

đợi chờ vua cha chết th ì ta già nua khi

lên ngôi báu. Lúc ấy ta được giang sơn th ì

có lợi gì? Ta muốn giết cha và làm vua ngay".

Chàng liền nói với Bồ-tát về dự định sẽ l àm

gì, Bồ-tát phản đối dự tính đó, v à bảo:

- Này hiền hữu, giết cha là một tội trọng. Chuyện ấy sẽ

đưa đường đến địa ngục, xin ng ài

đừng l àm việc ấy, xin

đừng giết đức vua.

Song phó vương cứ nhắc đi nhắc lại chuyện

ấy, v à bị bạn thân phản đối đến lần thứ

ba. Phó vương liền vấn kế bọn hầu cận, bọn chúng đồng ý, v à lập mưu

giết vua cha. Nhưng Bồ-tát nghe tin này, nghĩ thầm: "Ta không muốn thân cận

với hạng người như thế". Rồi không kịp từ giã song thân, ngài trốn

đi bằng cửa hậu, v à sống cảnh ẩn dật

trong vùng Tuyết Sơn. Tại đó, ng ài theo

đời khổ hạnh v à chứng

đắc các Thắng trí phát xuất từ Thiền định, chỉ

nuôi thân bằng các thứ củ quả rừng.

Còn vương tử, khi bạn bỏ đi rồi, đ ã

mưu giết phụ vương và tận hưởng cảnh vinh quang.

Nghe tin nam tử Samkicca xuất gia tu hành, nhiều thiện gia nam tử cũng

rời bỏ thế tục và xin thọ giới với ngài để sống

đời khổ hạnh. Ng ài sống tại đó với hội

chúng đông đảo các vị khổ hạnh kia, v à tất cả

đều đạt các Thiền chứng.

Phần vua, sau khi giết cha và hưởng thọ dục lạc

đời đế vương một thời gian ngắn, lại thấy lo sợ

v à bất an như thể một người đ ã

thấy rõ hình phạt mình trong địa ngục.

Lúc ấy vua nhớ đến Bồ-tát, liền nghĩ: "Bạn

ta đ ã cố ng ăn cản ta, bảo rằng giết cha

l à một việc kinh hoàng, song đ ã

không thuyết phục được ta, n ên

đ ã bỏ đi để

khỏi vướng lụy; nếu trước kia có bạn ta ở đây, ắt hẳn đ ã không

để ta phạm tội giết cha v à

đ ã cứu ta thoát

được nỗi kinh ho àng này. Không biết bây

giờ bạn ta ở đâu? Nếu ta biết được ch àng

ở đâu, ta sẽ cho mời ch àng về. Ai có thể

cho ta biết nơi chàng ở ch ăng?".

Tứ đó ở trong hậu cung cũng như ngo ài

triều đ ình, vua vẫn thường tán dương

Bồ-tát. Một thời gian lâu sau đó, khi đ ã

sống ở Tuyết Sơn cả n ăm mươi năm, Bồ-tát nghĩ

thầm: "Vua đang nhớ đến ta. Ta phải đi t ìm bạn và thuyết Pháp

để bạn ta khỏi lo sợ".

Thế là được năm trăm vị khổ hạnh theo hầu,

ng ài bay qua không gian rồi hạ xuống hoa viên Dàyapassa, và ngài an

tọa trên phiến đá, với các hiền nhân vây quanh.

Người giữ vườn thấy ngài , liền hỏi:

- Thưa Thánh giả, vị nào là bậc Thượng thủ của hội chúng hiền nhân này?

Khi được biết đó l à Hiền giả

Samkicca, và lão cũng nhận ra ngài, liền thưa:

- Thưa Tôn giả, xin ngài ở nán lại đây cho

đến khi tôi đi thỉnh ho àng thượng đến.

Ho àng thượng đang nóng l òng gặp

ngài.

Đảnh lễ ng ài xong, lão vội đến cung

tâu tr ình về việc ngài trở về. Vua đến

thăm ng ài, và sau cung kính đảnh lễ theo

đúng phép x ã giao xong, liền đưa ra vấn

đề hỏi ng ài.

*

Bậc Đạo Sư ngâm kệ l àm sáng tỏ việc

này:

1. Vừa thấy Brah-ma-dat đại vương,

Ngôi cao chiếm chệ thật huy ho àng,

Lão tâu: "Chúa thượng, thân bằng cũ

Chúa thượng vẫn thường dạ luyến thương

2. Tôn giả Sam-ca đ ã

đến đây,

Giữa hiền nhân, nổi tiếng vai thầy

Đại vương, xin vội l ên đường sớm,

Chớ chậm t ìm th ăm bậc Thánh n ày.

3. Vua ngự lên xa giá vội vàng,

Sẵn sàng theo lệnh của vua ban,

Triều thần bạn hữu vây quanh đủ,

T ìm kiếm Thánh nhân, tiến thẳng đ àng.

4. Cả n ăm biểu tượng của vương gia

Ví chúa Kà-si vội bỏ ra,

Lọng, quạt đuôi trâu rừng, m ão niệm,

Đôi h ài, bảo kiếm cũng trao qua.

5. Rồi vua ngự xuống khỏi vương xa,

Cởi hết bào y rực sáng lòa,

Đi đến Da-ya-pa ngự uyển

Là nơi an tọa Thánh Sam-ca.

6. Và vua vội vã tiến lên gần,

Đảnh lễ trang nghi êm, lại hỏi th ăm

Nhắc lại h àn huyên câu chuyện cũ

Cùng nhau trao đổi đ ã bao lần.

7. Cạnh bạn, vua an tọa một bên,

Đến khi dịp tốt bắt đầu l ên,

Hỏi câu liên hệ bao điều ác,

Vua vội n êu ra với bạn hiền:

8. "Sam-ca, bậc thượng thủ hiền nhân,

Đại trí nhân, nay trẫm vấn an

Tỉnh tọa D à-ya-pa ngự uyển

Bao điều trẫm muốn hỏi thân bằng.

9. Ra sao kẻ ác lúc tử trần,

Cảnh giới n ào đâu phải thọ thân ~

Trẫm đ ã đi sai đường chánh đạo,

Trẫm mong lời giải của hiền nhân.

Bậc Đạo Sư nói th êm

để l àm sáng tỏ việc này:

10. Như vậy Sam-ca bảo Đại vương

Trị Kà-si quốc độ giang sơn,

Tại Dà-ya ngự viên, an tọa,

" Đại đế, lắng nghe sẽ tỏ tường".

11.Ví thử ngài đưa lối chỉ đường

Cho người đi lạc bước vô phương,

Người kia theo đúng lời khuy ên nhủ,

Chẳng gặp chông gai cản bước chân.

12. Nếu kẻ kia đi lạc nẻo t à,

Nếu ngài dẫn dắt đúng đường ra,

Kẻ kia tuân thủ lời khuy ên nhủ,

Sẽ thoát ra bao cảnh khổ mà.

*

Ngài đ ã khuyến giáo vua như vậy, và

hơn nữa ngài còn dạy vua Pháp lành:

13-14. Đường cái khác n ào lẽ chánh

chân,

Còn đường tắt chỉ nẻo t à gian,

Chánh chân đưa lối l ên thiên giới,

Ác dẫn người vào địa ngục môn.

15. Kẻ nào phạm giới, hỡi quân vương,

Và sống đời bất chánh bất lương,

Số phận n ào chờ trong địa ngục

Mệnh chung, nghe r õ sẽ am tường:

16. Sañ-ji-va, Kà-la-sut-ta,

Ro-ru-va tiểu và đại,

San-gh à-ta, Đại A-vì-ci,

Ta-pa-na, Pa-tà-pa-na,

17. Tám địa ngục kia tiếng lẫy lừng

Khiến cho người thất đảm kinh ho àng,

Thoát thân từ đó đều vô vọng,

Các ngục U s-sa(l) được kể rằng:

Con số tăng hơn mười sáu nữa,

Đều l à ngục cỡ nhỏ từng phần.

18. Lửa cháy, hành hình các tội nhân

Thảy đều tạo ác nghiệp vô ngần,

Kinh hồn, hoảng hốt, đầy đau đớn,

Khổ n ão, hãi hùng ngập bốn phương.

19. Bốn phía đều xây cửa bốn tầng,

Chia từng khoảng cách thật cân phân,

Mái vòm bằng sắt trên che phủ,

Tường sắt lại còn bọc lấy thân.

20. Nền sắt này xây mới vững sao

Vì không lửa dữ đốt tan n ào,

Dù xa tr ăm dặm chung quanh đó,

Cũng thấy oai thần tỏa vút cao.

21. Ai làm thương tổn các hiền nhân,

Hoặc xúc phạm gì bậc thiện chân,

Rơi thẳng vào ngay miền địa ngục

Chẳng c òn cơ hội để vươn thân.

22. Thân thể tả tơi, cảnh h ãi hùng

Khác nào cá nướng, lửa đang nồng,

Cũng v ì ác nghiệp bao n ăm cũ

Đ ày xuống ngục kia phải nướng thân.

23. Thiêu hủy tứ chi lửa bỏng sôi,

Hành hình làm hoảng sợ con mồi,

Dù mong giải thoát ra ngoài ngục,

Cũng chẳng tìm đâu lối thoát rồi.

24. Chạy tới chạy lui kiếm lối đi,

Đông, Tây, Nam, Bắc chẳng mong g ì,

Vì chư thần đó ngăn đường lối,

Họ cố t ìm đường có ích chi.

25. H àng ngàn n ăm số phận đau thương,

Chúng sống trong miền địa ngục môn,

Với cánh tay d ài vương tới mãi

Khóc than nỗi khổ ngập tâm hồn.

26. Cũng như rắn độc giết con mồi

Nổi giận hung t àn nếu bị khơi,

Phải tránh tổn thương cho Thánh giả,

Những người nguyền khổ hạnh trong đời.

27. Tộc trưởng Ke-ka(2) Aj-ju-na,

Tan tành vì hại Go-ta-ma,

Dù ngàn tay, vóc người cường tráng

Thiện xạ lẫy lừng một thuở xưa.

28. Dan-da-ki phỉ báng Ki-sa(3),

Ngài chẳng tội tình, chẳng xấu xa,

Như chặt cọ dừa từ gốc rễ,

Hoàn toàn hủy diệt thế kia mà.

29. Mej-jha vì bậc trí Tan-ga(4)

Phải rớt từ trên bảo tọa kia,

Đất nước trở th ành hoang phế

địa,

Chúa tôi đều phải hóa ra ma.

30. Dân chúng Vish-nu tộc tấn công

Di-p à-ya(5) ấy Hắc hiền nhân

Cùng tộc An-dha(6) tìm địa ngục,

Giết nhau d ùng dáo trượng tranh hùng.

31. Bị mắc lời nguyền của trí nhân,

Cec-ca xưa bước giữa không trung,

Tương truyền bị nuối vào lòng đất

Biến mất v ào ngày đ ã

định phần.

32. Kẻ ngu bướng bỉnh chẳng khi nào

Được tán đồng từ bậc trí cao,

Song các thiện nhân đầy chánh nghĩa

Khó l òng nói chuyện dối gian nào.

33. Kẻ nào nằm sẵn để chờ mong

Bắt lấy hiền nhân với trí nhân,

Sẽ bị cuốn ch ìm vào địa ngục,

V ì mưu kế độc phải ăn năn.

34. Kẻ nào lòng phản bội hung tàn

Xông đến đ ành càn lão Thánh nhân,

Sẽ giống gốc cây dừa chết héo,

Chẳng con thừa kế, phải tàn dần.

35. Kẻ nào dám giết đại hiền nhân,

Hoặc bậc tu h ành sống chánh chân,

Sẽ đọa K à-la-sut

địa ngục

Cực h ình phải chịu lắm ngày ròng.

36. Còn nếu Ma-ga, một ác vương

Muốn làm đi ên

đảo cả giang sơn,

Mạng chung, vào ngục Ta-pa ấy

Phải chịu nhiều đau khổ đoạn trường.

37. Trăm ng àn n ăm sống đọa đ ày

thân

Như cách chư Thiên tính tháng n ăm,

Mặc áo l àm bằng cây lửa đỏ,

Giữa đau thương địa ngục muôn phần.

3 8. Lửa phun lên rực sáng nơi nơi,

Tung tóe từ thân thể tả tơi,

Chân cẳng, tóc râu cùng tất cả

Chỉ dùng nuôi ngọn lửa làm mồi.

39. Trong lúc thân kia cháy thật nhanh

Khổ đau h ành hạ

đến tan t ành,

Như voi bị quất bằng cây nhọn,

Kẻ khốn rống lên hết sức mình.

40. Có kẻ tham sân lại giết cha,

Ấy người hèn hạ, đại gian t à,

Chịu nhiều thống khổ trong hầm lửa

Ở ngục Kà-la-sut mãi mà.

41. Trong chảo sắt sôi đến lột da,

Bị đâm t ên sắt đến m ù lòa,

Ăn phân, kẻ giết nhằm thân phụ,

Nước muối ch ìm thân, chuộc tội xưa.

42. Quỷ sứ đặt trong miệng kẻ n ày

- Vì e nó ngậm chặt hàm ngay -

Một hòn sắt nóng nung cho đỏ,

Hoặc một lưỡi c ày với sợi dây,

Rồi buộc lấy mồm cho thật chặt,

Thả vào trong vũng nước bùn lầy.

43. Kên kên, diều quạ, cả đen, nâu,

Chim mỏ sắt kia thật đủ m àu,

Phanh lưỡi nó ra từng mảnh nhỏ,

Run run từng miếng, máu tuôn trào.

44. Bay đi, bầy quỷ lại bay về

Đánh đập kẻ đầy khốn khổ kia,

V ào ngực cháy, chân tay gãy nát,

Chúng hành người, độc ác say m ê.

45. Cả bầy quỷ sứ thật hân hoan,

Song nỗi khổ đau lại ngập tr àn

Những kẻ đọa đ ày trong ngục ấy,

Vì đời phạm tội giết nghi êm

đường.

46. C òn nếu kẻ nào giết mẫu thân

Đọa ngay v ào ngục Dạ- ma quân,

Để đền tội phạm h ành vi ác,

Nhận quả báo kia thật xứng phần.

47-48. Quỷ dữ nắm người giết mẫu thân

Dùng cày sắt rộng ủi mạnh vào lưng,

Tạo thành những luống cày sâu rộng,

Máu tựa đồng tan chảy cả d òng

Từ các vết thương, và chúng lấy

Làm nguôi cơn khát bỏng tù nhân.

49-50. Hồ máu đỏ kia nó ngập m ình,

Hít mùi xác chết hoặc bùn tanh,

Bầy sâu khủng khiếp dùng mồm sắt

Xuyên suốt da người chịu cực hình,

Xâu xé thịt kia nhai ngấu nghiến,

Hút ngay máu đỏ thật ngon l ành.

51-52. Ngục sâu tr ăm dặm, ngập ch ìm

thân,

Tr ăm dặm quanh đầy xác thối nồng,

Bởi chính m ùi hôi, ôi! Tội nghiệp,

Xưa dù mắt sáng, cũng mờ dần.

53. Vượt qua ngục thất Khu-ra-dhà(7),

Tù ngục tối t ăm, khó vượt qua,

Những kẻ phá thai, sao thoát được

D òng sông khủng khiếp Ve-ta-ra(8).

54. Cây vải có gai sắt thật dài,

Chừng vài ba tấc, miệng người đời

Tương truyền tr ên cả đôi bờ ấy

Lơ lững giường đen tối của ng ài.

55. Tất cả bọc trong khối lửa hồng

Vươn lên sừng sững tựa trời trồng

Cháy bùng rực rỡ như cây tháp

Cao cả dặm đường giữa c õi không

56-57. Trên lửa gai nung, ngục hiện ra:

Gian phu, dâm phụ, bọn gian tà

Roi da vụt xuống, đầu lăn lóc,

Hỗn loạn quay cuồng chạy trốn xa,

Tơi tả tứ chi nhừ nát cả,

Chúng nằm thức đợi suốt đ êm qua.

58-59. Tảng sáng, vào Nồi Sắt ẩn thân

To như núi, ngập nước bừng bừng,

Ngu si vây bọc như y quấn,

Bọn ác nhân kia sáng tối ròng,

Vì ác nghiệp gây từ kiếp trước,

Nay đền nợ cũ xứng cân phần.

60. Người vợ được mua với bạc v àng

Đem l òng coi rẻ

đức lang quân,

Hoặc nh ìn khinh bỉ người thân thích,

Lưỡi bị móc ra, thống khổ tràn.

61. Thấy lưỡi c ăng đầy đám bọ sâu,

K êu than chẳng thể được đâu n ào,

Âm thầm phải gánh bao hình phạt

Trong ngục Ta-pa chịu khổ đau.

62-63. Kẻ giết heo cừu, bọn thợ săn,

Ch ài ngư, trộm cướp, lũ tà nhân,

Xem hành vi thiện là hèn kém,

Bị đánh bằng d ùi sắt, kiếm cung,

Nhào xuống, cả bầy người khát máu

Bị tên, giáo đuổi, ng ã vào dòng.

64. Thợ rèn làm hại suốt ngày đ êm

Dùng gậy sắt kia để luyện r èn,

Chỉ sống bằng đồ ăn bẩn thỉu

Nhả ra bởi các kẻ đ ê hèn.

65. Diều quạ, kên kên, với chó rừng

Hàm nhe toàn sắt sẵn sàng luôn

Vồ ngay kẻ khốn đang lăn lộn,

Nuốt sống v ào mồm quá hám ăn!

66. Ai d ùng thú dữ giết hươu nai,

Hoặc giết chim bằng các bẫy mồi,

Tội lỗi đầy thân ch ìm

đọa xứ,

Ăn năn ng ày tháng khổ đau d ài.

Ghi chú: (1) Ussada; (2) Kekakà; (3) Kisavaccha; (4) Màtanga; (5)

Dipàyana; (6) Andhaka; (7) Khuradhàra; (8) Vetaranì

Như vậy, ngài đ ã miêu tả các

địa ngục tr ên và bây giờ vừa mở một chỗ

trên mặt đất, ng ài vừa chỉ vua thấy

thiên giới, vừa bảo:

67. Nhờ tích đức tr ên cõi thế gian

Từ xưa người thiện đến thi ên

đ àng,

Chư Thiên, Phạm chúng, kìa Thiên chủ,

Đạt quả công năng chín vẹn to àn.

68. Ta bảo ngài cai trị chánh chân

Suốt trong quốc độ, hỡi Quân vương,

Đạt th ành phước đức nhờ công chánh,

Hối tiếc về sau chẳng phải mang.

Nghe xong bài thuyết giáo của bậc Đại Sĩ,

vua bình tâm lại, còn Bồ-tát sau khi ở

đó một thời gian nữa, liền trở về nơi an trú của mình.

*

Đến đây, bậc Đạo Sư chấm dứt Pháp thoại v à bảo:

- Không chỉ bây giờ mà cả ngày xưa nữa, vua ấy cũng

đ ã được ta

l àm cho an tâm.

Và Ngài nhận diện Tiền thân:

- Vào thời bấy giờ, vua Ajàtasattu (A-xà-thế) là nhà vua kia, các

đệ tử đức Phật l à hội chúng của vị khổ

hạnh, và Ta chính là Hiền giả Samkicca.