Pháp Học Online

Chuyện Tiền Thân · Jātaka

526. Chuyện công chúa Nalinikà (Tiền thân Nalinikà)

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Chuyện Tiền Thân

Chuyện Tiền Thân · Bài 63

Chuyện công chúa Nalinikà (Tiền thân Nalinikà)#

Jātaka group 63

Chương XVIII Phẩm N ăm Mươi B ài Kệ

526. Chuyện công chúa Nalinikà (Tiền thân Nalinikà)

Nhìn kia! Mặt đất cháy khô cằn…,

Câu chuyện này bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Vi ên, về việc một Tỳ kheo bị người vợ của thời kỳ phóng dật cũ cám dỗ.

Khi kể chuyện này, Ngài hỏi vị Tỳ kheo vì ai ông đ ã lạc đường. Ông đáp:

- Vì người vợ cũ.

Bậc Đại Sư bảo:

- Quả vậy, này Tỳ kheo, nữ nhân ấy đ ã làm hại ông. Ngày xưa chính vì nàng ấy mà ông đ ã sa đọa mất hết Thiền lực v à bị sụp đổ ho àn toàn.

Nói xong, Ngài kể câu chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì Bà-la-nại, Bồ-tát tái sinh vào một gia đ ình Bà-la-môn giàu có ở phương Bắc. Khi ngài khôn lớn, và đ ã được huấn luyện đủ môn học thuật, ng ài xuất gia làm ẩn sĩ. Sau khi đạt được thần lực nhờ tu tập Thiền định, ng ài vào trú ẩn tại Tuyết Sơn.

Giống như câu chuyện được kể trong Tiền thân Alambus à (số 523), một con nai cái đ ã thụ thai vì ngài và hạ sinh một nam tử được đặt t ên là Isisinga. Khi cậu bé lớn khôn, cha cậu truyền giới cho cậu và dạy cậu đủ mọi pháp môn dẫn đến Thiền định.

Nhờ pháp môn này chẳng bao lâu chàng đạt được thần lực v à hưởng thú cực lạc trong miền Tuyết Sơn, rồi nhờ pháp khổ hạnh, chàng trở thành một bậc Hiền trí chuyên tu khổ hạnh đến độ cung của Sakka (Đế Thích) Thi ên chủ bị rúng động v ì đức độ của ch àng.

Thiên chủ suy xét, tìm ra nguyên nhân liền suy nghĩ: "Ta phải tìm cách phá tan công hạnh vị này". Trong khoảng ba n ăm liền, trời ngưng đổ mưa xuống quốc độ K àsi, xứ sở này thành khô cằn nứt nẻ, không một vụ mùa nào kết quả cả. Dân chúng bị nạn đói bức bách liền tụ tập trước sân chầu v à oán trách vua.

Đứng trước cửa sổ mở rộng vua hỏi họ có việc g ì. Dân chúng tâu:

- Tâu Thánh thượng, trong ba n ăm liền, mưa tr ên trời không rơi xuống, cả nước bị khô cháy, dân chúng vô cùng khổ sở, xin Thánh thượng hãy cầu trời mưa.

Vua thề nguyền giữ đức độ, h ành trì ngày trai giới, nhưng vẫn không có mưa xuống.

Rồi chính vào lúc nữa đ êm, Thiên chủ Đế Thích giáng hạ tại ho àng cung, chiều sáng lòa khắp vùng vừa đứng tr ên không. Vua thấy ngài liền hỏi:

- Ngài là ai?

Ngài đáp:

- Ta là Đế Thích Thi ên chủ.

- Tại sao ngài giáng thế?

- Này Đại vương, mưa có rơi tr ên quốc độ của ng ài ch ăng?

- Không có mưa rơi.

- Thế ngài có biết tại sao ch ăng?

- Trẫm không biết.

- Trên vùng Tuyết Sơn, này Đại vương, có một ẩn sĩ t ên là Isisinga, Vị này hành trì khổ hạnh hết sức khắc nghiệt, khi trời sắp mưa, ông giận dữ nhìn lên trời khiến mưa ngưng lại.

- Vậy phải làm sao đây?

- Nếu công hạnh vị này sụp đổ th ì mưa sẽ rơi xuống.

- Nhưng ai có thể chiến thắng đức độ của vị ấy?

- Này Đại vương, công chúa Nalinik à của ngài có thể làm được việc n ày. Xin hãy triệu nàng đến đây v à bảo nàng đến nơi đó phá tan công hạnh của vị ẩn sĩ kia.

Sau khi khuyên bảo vua như thế xong, Đế Thích Thi ên chủ trở về cõi của ngài. Ngày hôm sau, vua hội ý với quần thần và triệu công chúa đến bảo n àng qua vần kệ đầu:

1. Nhìn kia mặt đất cháy khô cằn, Quốc độ ch ìm trong cảnh lụi tàn, Con hỡi, Na-li, đi đến đó, Khiến La-môn nọ phải quy h àng.

Nghe lời này, nàng đáp vần kệ thứ hai:

2. Làm sao con chịu được gian nan, Khi giữa bầy voi lạc bước đ àng Trong chốn rừng xanh xa vắng ấy, Làm sao cất bước được b ình an?

Vua cha lại ngâm hai vần kệ:

3. Con hỡi, đi về mỹ lạc cung, Rồi từ đấy phải vội rời chân L ên xe gỗ được trang ho àng khéo, Ngự giá công nương tiến thẳng đường. 4. Chiến m ã tượng, cùng với bộ binh Chỉnh tề hàng ngũ hãy bao quanh, Với mê hồn sắc con cần kíp Khiến đạo nhân kia quy lụy m ình.

Như vậy, vì muốn bảo vể quốc độ, vua đ ã nói với công chúa những việc không nên nói bằng lời như trên. Còn nàng sẵn sàng tuân theo lệnh cha. Thế là sau khi cung cấp cho nàng đủ mọi thứ cần thiết, bảo n àng lên đường c ùng đám cận thần kia.

Họ đi đến gần bi ên giới và sau khi đóng trại ở đó, họ truyền đưa công chúa đi theo con đường do các sơn nhân chỉ dẫn. Rạng ng ày hôm sau, họ vào đến v ùng Tuyết Sơn, tiến sát vùng ẩn am ấy. Ngay lúc bấy giờ, Bồ-tát để con trai ở lại thảo am, c òn ngài đ ã vào rừng hái quả dại. Các sơn nhân đến gần v ùng thảo am, đứng ở nơi có thể nh ìn thấy rõ, vừa chỉ lều cho Nalinikà vừa ngâm kệ:

5. Nổi bật với hàng chuỗi lá xanh, Giữa Bhur-ja khóm lắm cây cành, Nhìn xem, lều của I-si đấy, Xinh đẹp hiện ra một mái tranh. 6. Chắc rằng lắm khói ở đằng kia Phát xuất từ trong lửa tỏa ra Được ấp ủ nhờ tay bậc trí Nổi danh thần lực thật cao xa.

Đúng lúc Bồ-tát đ ã đi v ào rừng, đám cận thần của vua đ ã vào bay vây vùng ẩn cư ấy và canh chừng kỹ, họ cho công chúa giả dạng một ẩn sĩ khỗ hạnh, khoát lên mình nàng đủ y trong y ngo ài bằng võ cây đẹp có tô điểm mọi thứ trang sức, rồi bảo n àng cầm một quả cầu được vẽ m àu, buột vào một sợi dây và đưa n àng vào vùng am tranh kia, còn chính họ đứng canh b ên ngoài. Thế là vừa chơi quả cầu, nàng vừa tiến vao am thất ấy.

Lúc bấy giờ, Isisinga đang ngồi tr ên trường kỷ đặt tại cửa lều, thoạt trông thấy n àng tiến đến, ch àng kinh hoảng đứng dậy chạy trốn v ào trong. Nàng cứ tiến gần cửa lều và tiếp tục chơi quả cầu.

Bậc Đại Sĩ ngâm ba vần kệ đễ l àm sáng tỏ việt này:

7. Tô điểm bảo châu, tiến lại gần, Một nàng kiều nữ sáng huy hoàng, I-si tội nghiệp liền kinh hoảng Vội bước vào am, chốn ẩn thân. 8. Lúc đứng trước thềm của đạo quân, Công nương đ ùa với quả cầu tròn, Thân hình diễm lệ nàng phô diển Lồ lộ hiện ra trước mắt chàng. 9. Chàng thấy nàng đ ùa thế thật hay, Tứ trong, chàng vội phóng ra ngay, Vụt nhanh từ túp lều tranh ấy Chàng thốt ra lời lẽ thế này: 10. "Quả cây gì đó,dám thưa ng ài? Dù có tung xa tít tận trời, Cũng sẽ quay về ngài như vậy, Chẳng bao giờ quả bặt t ăm hơi?

Nàng đáp vần kệ n ày, tả cho chàng biết về cây kia:

11. Đỉnh Hương sơn nọ, chính qu ê nhà, Vốn tự hào khoe chốn tệ gia Có thật nhiều cây sinh quả ấy, Dù tung cao vút tận trời xa Vẫn còn trở lại tay lần nữa, Chẳng có bao giờ lạc mất ta.

Nàng nối dối như vậy, nhưng chàng tin nàng ngay, Và cứ tưởng đấy l à một vị tu khổ hạnh, nên chàng ân cần chào đón n àng và nhâm vần kệ này:

12. Xin vào an tọa, hỡi hiền nhân, Nhận thức ăn v à nước rửa chân, An nghỉ đây, c ùng nhau thọ dụng Chùm dâu, khoai ấy sẵn lòng dâng.

Chàng trai trẻ thanh tân này chưa từng thấy nữ nhân bao giờ cả, nên chàng bị lung lạc liền tin ngay câu chuyện lạ thường nàng vừa kể cho chàng nghe; rồi công hạnh của chàng bị đánh bại v ì các trò quyến rũ của nàng và Thiền lực của chàng tiêu tan cả. Sau khi chơi đ ùa với nàng đến độ mệt mỏi, cuối c ùng chàng đứng xuống hồ tắm rửa v à khi đ ã hết cơn mệt, chàng trở vế ngồi trong lều, vẫn còn tưởng là một ẩn sĩ, một lần nữa chàng hỏi nàng ở nơi đâu v à ngâm kệ này:

13. Ngài đ ã đến đây bởi lối n ào? Hẳn ngài thích ở núi ngàn cao? Đói l òng ăn trái sim, khoai sắn, Song thú săn mồi tránh được sao?

Tiếp theo, Nalinikà đáp bốn vần kệ:

14. Hướng Bắc vùng đây, suối Thái H òa Chảy xuôi từ dãy Tuyết Sơn ra, Trên bờ, thắng cảnh ôi kỳ thú, Nhìn thấy ẩn am ấy của ta. 15. Đây xo ài, Ti-lak với sà la, Nở rộ hoa kèn với quế hoa, Khúc hát yên tỉnh v ăng vẳng lại, Thưa ng ài nơi ấy thấy nhà ta. 16. Ta đoán ch à là, củ sắn khoai, Nhìn đây đủ loại trái cây tươi, Một nơi vui, đẹp v à thơm ngát, Đ ã lọt phần ta chiếm hết rồi! 17. Mọi thứ mơ, dâu, đậu mọc tr àn , Ngọt ngào tươi đẹp ngát hương lan, Song ta sợ lũ cường gian đến Sẽ phá nh à ta, chốn lạc an.

Chàng ẩn sĩ nghe nói vậy, muốn cầm chân nàng lại cho tới khi thân phụ chàng về, liền ngâm kệ này:

18. Thân phụ đi t ìm quả thật xa, Mặt trời khuất bóng, sẽ về nhà, Khi người trở lại từ rừng ấy, Ta sẽ cùng đi viếng đại gia.

Lúc ấy nàng suy nghĩ: "Chàng trai này sinh trưởng trong rừng nên không biết ta là nữ nhân, chứ cha chàng sẽ biết ngay điều đó khi vừa thấy ta, v à sẽ hỏi ta có việc gì mà đến đây, ng ài sẽ đánh vỡ đầu ta với cái đ òn gánh của ngài. Thôi, chắc ta phải chạy trốn trước khi ngài trở về, vì mục đích ta đến đây đ ã hoàn thành". Rồi dặn chàng cách tìm đường đi đến nh à nàng, nàng ngâm thêm một vần kệ nữa:

19. Ôi! Ta ngại chẳng ở lâu hơn, Song tại nơi này, lắm Thánh nhân, Xin hỏi một ngài đưa đúng lối, Hân hoan ng ài hướng dẫn lên đường.

Khi nàng nghĩ ra một kế để thoát thân như vậy, n àng liền rời vùng thảo am, và bảo chàng cứ ở lại nơi này, trong lúc chàng khao khát nhìn theo, nàng trở về gặp các triều thần theo đúng con đường n àng đ ã đến trước kia, rồi họ đưa n àng về trại và vượt quan nhiều trạm đường, họ đ ã đến th ành Bà-la-nại.

Ngay hôm ấy, Đế Thích Thi ên chủ đẹp ý đến độ ng ài làm mưa rơi xuống trên khắp quốc độ n ày.

Nhưng cũng ngay khi nàng từ giã ẩn sĩ Isisinga, chàng bỗng dưng nổi cơn sốt khắp toàn thân và chàng run rẩy bước vào trong lều đắp th êm y ngoài bằng vỏ cây, rồi nằm xuống rên rĩ.

Buổi chiều thân phụ chàng về, không thấy chàng, liền tự hỏi: "Con ta đi đâu rồi?". ng ài vội đặt đ òn gánh, bước vào trong am và khi thấy chàng nằm đó liền hỏi:

- Này con thân, con đau g ì vậy?

Và vừa xoa bóp lưng con, ngài vừa ngâm các vần kệ:

20. Bổ củi không, nước chẳng gánh về, Lửa không đốt sáng, nói ta nghe, N ày con sao trẻ người non dạ, Mơ mộng suốt ngày mãi thế kia? 21. Củi rừng vẫn chẻ tự xưa nay, Lửa đốt, đem nồi nấu đặt ngay, Sắp sẵn tọa s àng rồi lấy nước, Con làm bổn phận thật vui vầy. 22. Nay củi không, mà nước cũng không, Lửa không; thức nấu kiếm hoài công, Sao con chẳng đón mừng cha nữa, Con mất g ì? Sao phải nhọc lòng?

Nghe cha hỏi, chàng liền ngâm các vần kệ giải đáp việc n ày:

23. Cha hỡi, hôm nay một thiếu niên, Xinh trai, sang trọng, dáng ưa nhìn, Chàng không thấp quá, không cao quá, Làn tóc đen sao tựa hạt huyền! 24. Ch àng trẻ không râu, má mịn màng, Sáng ngời trên cổ, ngọc trang hoàng, Đôi g ò bồng đảo phô kiều diễm Sáng tựa kim cầu rực ánh quang. 25. Mặt ch àng tuyệt đẹp, mỗi b ên tai Có một vành khuyên lủng lẳng cài, Chiếc mạng trên đầu ch àng tỏa sáng Hào quang, khi chuyển nhẹ đôi h ài. 26. Chàng trẻ còn mang đủ bội ho àn Đỏ, xanh tr ên áo, tóc tai chàng, Chàng đi mỗi buớc đều rung nhạc, Ríu rít như chim gặp nước tr àn. 27. Chẳng áo vỏ cây, dáng đạo nhân, Chẳng dây đai cỏ, thắt v ào thân, Lung linh xiêm áo ôm đ ùi sát, Như chớp sáng lòe giữa khoảng không. 28. Quả cây gì buộc cạnh sườn ai Mềm mại, không nhành, chẳng có gai Bên áo kết vào, buông lủng lẳng Chạm vào nhau lách tách rung hoài. 29. Tóc đầu ch àng kết đẹp phi thường Cuộn tóc h àng tr ăm, tỏa ngát hương, Đôi mái tóc n ày chàng rẽ giữa, Tóc con cũng ước chải như chàng! 30. Tình cờ chàng thả tóc buông dây, Bao vẻ yêu kiều giữ gió bay, Sực nức lều ta miền thảo dã Như mùi sen thoảng gió lung lay! 31. Người của chàng xinh, ngắm mỏi mòn, Thân chàng cao thật khác thân con, Bay mùi thoang thoảng cùng nơi chốn Như khóm hoa hè nở ngát hương. 32. Trái chàng sáng đẹp có nhiều m àu, Trên đất, d ù chàng ném thật cao, Nó cũng về nơi chàng đứng m ãi, Trái gì, con muốn hỏi cha nào. 33. R ăng ch àng đều đặn, trắng trong ngần, Mọi vẻ y êu kiều sánh bảo trân, Chàng hé đôi môi: ôi quyến rũ! Thức ch àng ăn khác củ, rau rừng! 34. Tiếng nói ch àng êm dịu, rõ, trong, Vào tai âm, hưởng tận trong lòng Xuyên vào tim, thật du dương điệu, Giai khúc sơn ca chẳng sánh bằng! 35. Giọng kia dịu xuống, lắng thâm trầm, Con chắc d ành ngâm tụng chú thần, Tuy thế chàng ân cần quyến luyến, Cùng chàng, con ước kết thân bằng. 36. Cánh tay chàng ấm, sáng kim ngân Như chớp bao lần cuộn lấy thân, Được phủ lông tơ mềm, các ngón Như san hô đỏ ửng, tr òn dần. 37. Tứ chi mềm dịu, tóc buông lơi, Các móng tay tô đỏ, thật d ài, Với cánh tay mềm ôm siết chặt, Trai xinh tạo khoái lạc cho đời! 38. Tay ng à như lụa chiếu huỳnh quang Như tấm gương vàng phản ánh dương, Chạm nhẹ làm con bừng rúng động Ch àng đi, l òng đốt nóng như rang. 39. Tọa s àng bằng lá kết, giày vò Chứng kiến đ ùa vui, trẻ lắm trò, Rồi đến hồ kia con tắm mát, Xong th èm nghỉ mệt ở trong nhà. 41. Thánh kinh, con chẳng đọc nay mai, Chẳng đốt lửa thi êng tế lễ đ ài, Con sẽ nhịn ăn dâu, củ, đậu, Đến khi con gặp lại ch àng trai! 42. Phụ thân, cho biết, hẳn am tường, Nơi chốn đạo nhân ỡ c õi trần, Con muốn phi thân ngay đến đó, Bằng không, con chết tại tiền đường! 43. Nghe rừng ch àng nói rực tươi hoa, Nhộn suốt ngày chim ríu rít ca, Con muốn phi thân nhanh đến đó, Bằng không, con chết ngay tại đây m à!

Bậc Đại Sĩ nghe ch àng trai nói lảm nhảm như vậy, thì hiểu ngay chàng đ ã đánh mất công hạnh v ì một nữ nhân nào đó, n ên ngài ngâm sáu vần kệ để giáo huấn con m ình:

44. Ngôi nhà xưa của các hiền nhân Ở giữa rừng này ngập ánh quang, Nơi ẩn của chư Thần, Thánh nữ, Chẳng hề cảm thấy mất an toàn. 45. Tình bạn phát sinh, sẽ diệt vong; Mọi người yêu mến đám thân nhân, Song kẻ đáng thương n ào có biết Nhờ ai, có gốc rễ, tình thân. 46-47. Tình bạn kết nhờ gặp gỡ luôn, Đoạn giao, t ình bạn phải tiêu vong. Nếu con nhìn lại chàng trai ấy Như trước, cùng trò chuyện thiết thân, Như lụt cuốn trôi thóc lúa chín, Công n ăng đức hạnh bại vong dần. 48. Ma quỷ thường đi khắp thế gian, Thi ên hình giả dạng! Hãy coi chừng! Hiền nhân chẳng kết giao cùng chúng, Công hạnh tan hoang nếu chúng gần!

Nghe những lời cha dạy, chàng trai suy nghĩ: "Cha ta bảo nàng ấy là một con quỷ cái!". Sau đó ch àng xin cha tha lỗi và nói:

- Thưa thân phụ, xin hãy tha tội cho con, con sẽ không rời nơi này đâu.

Cha chàng liền an ủi chàng, ngài bảo:

- Này con thân, con hãy tu tập Từ, Bi, Hỷ, Xả.

Và ngài thuyết giảng cho chàng pháp môn chứng đắc Tứ Vô lượng tâm n ày.

Từ đó ch àng trai thực hành theo lời dạy bảo trên và tu tập Thiền định như trước.

*

Khi đ ã chấm dứt Pháp thoại, bậc Đạo Sư thuyết giảng các Thánh đế, v à nhận diện Tiền thân: - Vào lúc kết thúc các Thánh đế, vị Tỷ-kheo thối thất đ ã được an trú v ào Sơ quả Dự lưu:

- Thời ấy, người vợ trong những ngày phóng dật cũ của kẻ này là Nalinikà, Tỷ kheo thối thất là Isisinga và Ta chính là người cha.

527. Chuyện kỹ nữ Ummadantì (Tiền thân Ummadantì)

Kia nhà ai đó, hỡi Su-nan?…,

Câu chuyện này bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại Jetavana (Kỳ Vi ên) về một Tỷ-kheo thối thất.

Chuyện rằng, một ngày kia, trong khi đi quanh th ành Savatthi (Xá-vệ) để khất thực, ông chợt trông thấy một nữ nhân tuyệt sắc, với xi êm y diễm lệ, liền sinh lòng mê mẫn nàng ấy. Khi trở về Tịnh xá, ông không thể nào xua tan hình bóng nàng khỏi tâm tư. Từ lúc ấy, như thể trúng mũi tên độc của dục t ình, ông mắc bệnh tương tư, gầy gò như chú nai rừng, gân xanh nổi khắp mình mẩy và mong manh như cành liễu rũ.

Ông không tìm thấy an lạc trong bất cứ pháp nào của tứ oai nghi, cũng không ham thích trầm tư, nhưng một khi xao lãng phận sự đối với vị Giáo thọ, ông xao l ãng luôn cả việc học hỏi, suy tư và tham thiền nhập định. Các bạn đồng Phạm hạnh bảo:

- Này Hiền giả, trước đây bạn an tịnh v à tự tại trong tứ oai nghi, sao giờ đây không như vậy nữa. V ì cớ gì?

Ông đáp:

- Này các Hiền giả, ta chẳng còn ham thích gì nữa.

T ăng chúng khuy ên ông giữ an lạc và bảo:

- Sinh ra làm Đức Phật thật khó lắm thay; được nghe Chánh pháp v à làm người là chuyện cũng khó vậy. Song trước đây Hiền giả đ ã được điều n ày, và vì mong ước đoạn trừ phiền n ão, bạn đ ã mặc thân nhân khóc lóc, và trở thành người tu hành sống đời sống ẩn sĩ. Tai sao nay Hiền giả lại rơi v ào vòng tham dục? Những tham dục xấu xa này rất thông thường đối với mọi chúng sinh si ám, từ lo ài sâu bọ trở lên, những tham dục này có gốc ở sắc pháp hữu vi, vì thế chúng rất đáng nh àm chán, tham dục đầy phiền n ão, khổ ưu ở đây lại tăng trưởng nhiều hơn nữa. Tham dục giống như xương khô, như miếng thịt. Tham dục như bó đuốc l àm bằng cỏ khô hay lửa than hồng. Tham dục tan biến như cơn mơ hay của nợ, hoặc như trái cây. Tham dục làm đau đớn như mũi giáo nhọn hay chiếc đầu rắn. Thế m à Hiền giả thật vậy, sau khi đ ã thọ trì Giáo pháp sáng ngời như thế này và xuất gia tu tập, giờ đây lại rơi v ào vòng tham dục tai hại kia.

Khi thấy những lời khuyến giáo của T ăng chúng không l àm ông hiểu được ý nghĩa, Tăng chúng đưa ông đến yết kiến Đức Thế Tôn tại Chánh pháp đường. Đức Thế Tôn hỏi:

- Này các Tỷ-kheo, tại sao các ông đem người n ày lại đây d ù người đó không muốn?

T ăng chúng đáp:

- Hội chúng bảo rằng vĩ Tỷ-kheo này thối thất.

Bậc Đạo Sư hỏi xem có đúng chăng, khi nghe ông thú nhận quả đúng, Ng ài bảo:

- Này Tỷ-kheo, các bậc trí nhân ngày xưa, dù đang trị v ì một quốc độ, vậy m à hễ khi nào tham dục khởi lên trong tâm cũng phải bị chi phối một thời gian, nhưng rồi đ ã cố điều phục nhưng tâm tư tán loạn ấy v à không còn phạm vào tà hạnh bất xứng nữa.

Nói xong Ngài kể một câu chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa trong kinh thành Aritthapura của quốc độ dân Sivi, có vị vua trị v ì mệnh danh là Sivi. Bồ-tát sinh ra làm con của Chánh hậu và được đặt t ên là vương tử Sivi. Vị đại tướng trong triều cũng sinh con trai đặt t ên là Ahipàraka. Hai thiếu nhi lớn lên trở thành thân hữu, khi được mười sáu tuổi, hai vị đến th ành Takkasilà học tập thành tài xong liền trở về nhà. Vua giao vương quốc cho vương tử, tân vương này phong bạn Ahipàraka làm đại tướng v à cai trị rất đúng pháp.

Trong kinh thành có một phú thương tên gọi Tiritavaccha, gia sản đến tám trăm triệu đồng, sinh được một con gái rất y êu kiều diễm lệ, thân nàng có đủ mọi tướng tốt của phúc phận mai sau, đến ng ày lễ đặt t ên, nàng được gọi l à Ummadantì (Người làm đi ên đảo say m ê). Khi đến mười sáu tuổi, n àng đẹp như ti ên nữ với một dung sắc siêu phàm.

Mọi phàm nhân chiêm ngưỡng nàng đều không thể n ào chế ngự được l òng mình, và đều say m ê nàng như thể say rượu nồng và mất hẳn tính tự chủ, vì thế thân phụ nàng đến yết kiến vua v à tâu:

- Tâu Thánh thượng, nhà hạ thần có một nữ báu thật xứng đáng tiến cung hầu hạ Thánh thượng, xin h ãy triệu các tiên tri vào, những vị này biết cách xem quý tướng trên thân người, để các vị ấy thử xét đoán n àng xong, xin Thánh thượng cứ tuyển dụng nàng tùy thích.

Vua chấp thận cho triệu các vị Bà-la-môn. Rồi họ đến nh à phú thương ấy, được tiếp đón rất trọng thể linh đ ình và dự tiệc bánh sữa. Vào lúc ấy Ummadantì ra tiếp kiến quan khách với xiêm y lộng lẫy. Thoạt trông thấy nàng, họ đều mất hết tự chủ, chẳng khác n ào bị say rượu mạnh, họ quên mất rằng đang ăn tiệc dở dang. Có người cầm chiếc bánh l ên, nghĩ mình sẽ ăn bánh, lại đặt bánh l ên đầu! Có người để rớt bánh tr ên hông, có người lại ném bánh vào tường. Mọi người đều như mất trí.

Nàng thấy bọn họ như vậy, liền bảo:

-Thế mà họ bảo ta rằng các người này đến đây để xem xét các đặc điểm của ta.

Nàng ra lệnh nắm gáy cả bọn ném ra ngoài đường. Họ rất bực tức trở về cung với l òng uất hận Ummadantì và trình:

-Tâu Thánh Thượng, nữ nhân này không xứng với Thánh Thượng, đó l à một tay phù thủy.

Vua nghĩ thầm: "Họ bảo ta nàng ấy là một phù thủy".

Vì thế vua không triệu nàng vào.

Nghe được việc ấy, n àng bảo:

-Ta không được vua tuyển v ào làm vương hậu vì họ bảo ta là phù thủy, như vậy bọn phù thủy đều giống ta. Được lắm, nếu ta có dịp v ào yết kiếm vua, ta sẽ biết cách hành động.

Nàng lại sinh lòng thù oán vua.

Sau đó cha n àng đem gả n àng cho Ahipàraka, và nàng rất được vị phu quân y êu quí say mê. Nguyên nhân gì khiến nàng thành diễm lệ như vậy? Đó l à nhờ một chiếc áo đỏ. Ng ày xưa đ ã có một đời n àng sinh ra trong một gia đ ình nghèo khổ ở Ba-la-nại. Vào một ngày lễ, nàng trông thấy một vài nữ nhân cao quý phục sức lộng lẫy trong những chiếc y rực rỡ nhuộm màu hoa cúc đỏ thắm đang vui đ ùa, nàng nói với cha mẹ là nàng cũng muốn mặc áo như vậy và chơi đ ùa.

Họ bèn bảo:

-Này con, nhà ta nghèo lắm, làm sao kiếm ra áo ấy cho con được?

Nàng đáp:

-Vậy thì cha mẹ hãy cho con đi l àm kiếm tiền ở một gia đ ình giàu có, khi nào họ biết đến công lao của con, họ sẽ thưởng con một chiếc áo.

- Được.

Cha mẹ chấp thuận. Nàng liền đến một gia chủ xin l àm việc phục dịch để lấy một chiếc áo đỏ, họ bảo:

-Sau khi làm việc cho ba n ăm, ta sẽ trả công cho n àng một chiếc áo.

Nàng bằng lòng ngay, bắt đầu l àm cho họ. Trước khi mãn hạn ba n ăm, họ đ ã thưởng công nàng một chiếc áo nhuộm màu hoa cúc đỏ thật d ày cùng với một chiếc xiêm khác và đưa n àng ra về, họ bảo:

-Hãy đi t ìm các bạn nàng và sau khi tắm gội xong, hãy mặc các xiêm y này.

Thế là nàng cùng đám bạn ra đi tắm dưới sông, để chiếc áo đỏ tr ên bờ. Lúc ấy, một vị đệ tử của Đức Phật Kassapa(Ca-diếp), vừa bị cướp mất y, đang mặc những mảnh lá cây d ùng làm y trong và y ngoài, đang đi đến chỗ n ày.

Thấy vị này, nàng nghĩ:

-Vị Thánh nhân này chắc bị cướp mất y. Ngày xưa ta cũng vậy, vì không có ai cho y nên thật khó kiếm ra một chiếc.

Nàng liền quyết định chia chiếc y l àm đôi, cho vị n ày một nửa, vì vậy nàng bước lên bờ mặc chiếc áo cũ vào xong bảo:

-Xin Thánh giả nán lại.

Nàng đảnh lễ vị Tỷ-kheo v à xé chiếc y làm đôi, tặng vị kia một nửa.

Sau đó vị n ày đứng nghi êng một bên trong một nơi kín đáo, ném chiếc y bằng lá cây ra, lấy một mảnh áo l àm y trong và mảnh kia làm y ngoài, rồi bước ra giữa khoảng không, cả người chói rực lên nhờ màu sắc huy hoàng của chiếc áo, như thể vầng dương mới xuất hiện.

Thấy vậy nàng suy nghĩ: "Vị Thánh nhân này trước đây trông chẳng sáng chói, thế m à bây giờ ngài rực rỡ như vầng dương mới xuất hiện. Thôi để ta cúng dường ng ài thêm cái này nữa".

Nàng liền cúng nửa áo kia và phát nguyện:

-Thưa Thánh giả, con xin nguyện kiếp sau sẽ được sắc đẹp tuyệt trần, hễ ai thấy con đều không tự chủ được, v à không nữ nhân nào đẹp hơn con cả.

Vị Tỷ-kheo cảm tạ nàng và ra đi, sau một kiếp luân hồi trong Thi ên giới, nàng tái sinh vào thành Aritthapura và diễm lệ như đ ã được tả tr ên đây.

Lúc bấy giờ trong kinh thành dân chúng mở hội Kattika,vào ngày rầm tr ăng tr òn tháng mười âm lịch, họ trang hoàng cả kinh thành.

Khi Ahipàraka ra đi đến trạm canh ph òng, chàng dặn dò nàng:

- Phu nhân Ummadantì, hôm nay là ngày hội Kattika, đức vua dự đám rước linh đ ình khắp kinh thành, trước tiên sẽ đến trước cửa nh à ta. Vậy phu nhân đừng lộ diện e ng ài thấy phu nhân, sẽ không chế ngự được tâm tư ng ài.

Trong lúc chàng từ giã nàng, nàng đáp:

- Thiếp xin lưu tâm việc ấy.

Vừa khi chàng đi khuất, n àng liền ra lệnh nữ tỳ phải báo cho nàng biết ngay khi vua tới cổng nhà nàng. Thế rồi vào lúc mặt trời lặn, mặt tr ăng hiện l ên, đ èn đuốc sáng rực khắp kinh th ành vừa được trang ho àng như thể một kinh thành của chư Thiên, đức vua phục sức vô c ùng lộng lẫy, ngự trên vương xa thật đẹp do các tuần m ã kéo, cùng đám quần thần theo hầu, đi v òng quanh kinh thành với vẻ uy nghi cao cả, trước tiên ngài đến thăm cửa nh à Ahipàraka.

Lúc bấy giờ ngôi dinh thự này đứng trong bức tường bao quanh m àu son đỏ thắm với các cổng cao v à tháp canh được trang ho àng rất sang trọng rực rỡ. Vừa khi ấy nữ tỳ đưa tin ho àng thượng giáng lâm, nàng Ummadantì ra lệnh đem đến một giỏ hoa, n àng lại đứng gần b ên cửa sổ ném hoa xuống khắp mình vua với tất cả dáng điệu m ê hồn của một Thiên thần.

Thoạt nhìn lên thấy nàng, vua như ngây ngất đi ên cuồng và không thể nào tự chủ được tâm trí, n ên ngài không còn nhận ra nơi đây l à tư thất của đại tướng quân Ahip àraka. Vì vậy ngài ngâm hai vần kệ hỏi người quản xa:

1. Kia, nhà ai đó, hỡi Su-nan, Bao bọc th ành cao tỏa ánh vàng? Bảo vật này như sao sáng rực, Hay thiều quang chiếu đỉnh cao san? 2. Chắc n àng con gái chốn khuê môn, Chính chủ nhà? Hay vợ cậu tôn? Chỉ một lời, mau cho trẫm biết, Có chồng, hay chửa được cầu hôn? Người quản xa đáp lời vua qua hai vần kệ:

3. Chuyện ấy, Đại vương hỏi hạ thần Đôi b ên cha mẹ, thảy am tường; Chồng nàng tận tụy ngày đ êm vẫn Phụng sự quân vương đủ mọi đường. 4. Đại thần n ày chính của Anh quân, Phú quý vinh hoa hưởng trọn phần, Mệnh phụ A-li lừng lẫy ấy, Lọt lòng được gọi Um-ma-dan.

Nghe vậy, vua ngâm kệ tán tụng tên nàng:

5. Trời hỡi! Tên kia thật bất tường, Song thân nàng đ ã đặt cho n àng, Um-ma, từ lúc nàng nhìn trẫm, Trẫm bỗng hóa ra kẻ dại cuồng!

Trông thấy vua dao động như thế, n àng vội đóng cửa sổ lại v à đi thẳng v ào khuê phòng. Còn vua, từ lúc trông thấy nàng, chẳng còn thiết gì đến việc đi dự đám rước linh đ ình quanh kinh thành nữa. Ngài bảo người quản xa:

- Này hiền hữu Sunanda, hãy dừng xe lại. Ðám hội này không hợp với ta nữa, nó chỉ hợp với Ahipàraka, đại tướng quân của ta thôi. Ngai v àng cũng xứng đáng với vị ấy hơn ta. V à khi vương xa dừng lại, ngài ngự lên hoàng cung vào nằm nghỉ trên long sàng và nói huyên thuyên mê mẩn:

6. Ngọc nữ mắt nai thật dịu hiền, Tr ăng rằm vằng vặc mới vừa l ên, Ngắm nàng trong áo bồ câu trắng, Ta tưởng đôi vầng nguyệt hiện tiền! 7. Thu ba gợn sóng mắt long lanh Quyến rũ hồn như sét ái t ình, Nào khác yêu tinh trên đỉnh núi, Dáng y êu kiều chiếm trọn tim mình! 8. Tố nga huyền bí, thật cao vời, Bảo ngọc lung linh dưới mỗi tai, Mình chỉ khoác xiêm y độc nhất, Rụt rè như vẻ một con nai. 9. Các móng tô son, cuốn tóc mây, Chiên- đ àn tỏa ngát, dịu đôi tay Búp măng duy ên dáng, ôi kiều nữ, Ðến thuở nào cười với trẫm đây 10. Bao giờ thục nữ có lưng thon, Trước ngực phô trương món bội hoàn, Ðôi cánh tay mềm ôm trẫm chặt Khác nào cát lũy bám cây rừng? 11. Nàng điểm chấm son sáng rực l ên, Ngực tròn, ngọc nữ trắng như sen, Bao giờ trao nụ hôn cho trẫm, Như rượu nồng đưa đến bợm ghiền! 12. N àng đứng kia, ta chợt thấy n àng Cực kỳ diễm lệ trước long nhan, Không còn tự chủ lòng ta nữa, Hồn vía quẳng đâu, trí biến tan! 13. Khi ta chiêm ngưỡng dáng Um-ma, Sáng rực đôi tai điểm ngọc hoa, Như kẻ bị đền tiền phạt nặng, Ng ày đ êm chẳng chợp mắt phần ta! 14. Nếu được trời ban, trẫm ước nguyền: Trẫm l àm đại tướng một hai đ êm, Hưởng đời c ùng với Um-ma ấy, Ðể tướng A-hi trị nước liền.

Sau đó các vị cận thần nói với tướng Ahip àraka:

- Thưa Chủ tướng, đức Thánh thượng đang lúc dự đám rước linh đ ình khắp kinh thành, đ ã đi đến cửa dinh ng ài rồi trở về cung ngay.

Ahipàraka liền về nhà hỏi Ummadanti xem nàng có xuất hiện trước mắt vua không.

Nàng bảo:

- Thưa phu quân, có một lão bụng bự, r ăng hô đứng tr ên vương xa đến đây. Tiện thiếp không biết l à đức vua hay vương tử, nhưng nghe bảo đó cũng l à một vị vương gia nào đó, n ên tiện thiếp đang lúc đứng tr ên cửa sổ liền ném hoa xuống người ấy. Sau đó người ấy liền quay xe bỏ đi mất.

Nghe nói vậy, chàng bảo:

- Thôi nàng đ ã hại ta tàn đời rồi!

Sáng sớm hôm sau lên đến cung vua, ch àng đứng trước cửa vương thất v à nghe vua đang nói huy ên thuyên về nàng Ummadantì, chàng suy nghĩ: "Ðức vua đang si t ình Ummadantì, nếu không chiếm được n àng, ngài sẽ chết mất, vậy bổn phận ta là phải cứu sống ngài, nếu ta làm việc ấy mà không gây tội lỗi cho ngài hoặc cho ta".

Thế là chàng trở về nhà, gọi một tên gia nô bạo gan đến v à bảo:

- Này hiền hữu, ở chốn kia có một gốc cây thân rỗng, trong ấy là đền thờ thần. Hiền hữu đừng cho ai biết cả, đợi lúc sẩm tối h ãy đến ngồi trong bộng cây ấy. Ta sẽ đến đó cúng lễ dâng thần thánh v à sẽ cầu nguyện như vầy: "Tâu Thiên vương, đức vua của chúng thần, trong lúc đám rước đang diễn h ành, ngài đ ã không dự vào lại về cung thất nằm nói lảm nhảm không đâu; chúng thần chẳng hiểu cớ g ì. Ðức vua đ ã từng làm đại ân nhân của chư thần, hằng năm đ ã chi tiêu vào việc cúng tế cả ngàn đồng tiền v àng. Xin Thiên vương cho biết tại sao đức vua lại nói nhảm như vậy v à xin ban cho chúng thần một điều ước để cứu mạng ng ài", ta sẽ khấn như vậy và hiền hữu hãy nhớ lập lại những lời này: "Này Ðại tướng, đức vua chẳng bệnh tật g ì cả, song ngài đang si t ình phu nhân Ummadanti đấy. Nếu ng ài chiếm được n àng, ngài sẽ sống, bằng không, e ngài phải chết. Nếu Ðại tướng muốn cho ngài sống, thì hãy dâng nàng Ummadanti cho ngài". Hiền hữu nhớ nói như vậy.

Sau khi dặn dò gã ấy xong, chàng bảo gã ra đi. Thế l à hôm sau, người gia nô đến ngồi trong bộng cây kia v à khi vị đại tướng đến nơi cầu khấn, g ã ấy đọc lại đủ điều đ ã đ ã học trên. Ðại tướng bảo:

- Tốt lắm.

Rồi đảnh lễ vị thần xong, đại tướng đến kể chuyện với các vị đại thần của vua; sau đó v ào cung, gõ cửa cung thất của vua.

Vua đ ã hồi tỉnh và hỏi ai đó.

- Tâu Thánh thượng, chính hạ thần là Ahipàraka.

Rồi chàng mở cửa cung thất, bước vào làm lễ triều kiến vua và ngâm vần kệ:

15. Quỳ trước đền thi êng, tấu Ðại vương, Thần nghe quỷ nói chuyện phi thường: - "Um-ma mê hoặc lòng kim thượng"- Mong chúa thỏa tâm nguyện tuyển nàng!

Vua liền hỏi:

- Này hiền hữu Ahipàraka, ngay các vị thần Dạ xoa cũng biết trẫm đang nói ngông cuồng v ì say mê nàng Ummadanti đấy ư?

- Tâu Thánh thượng, quả vậy.

Vua nghĩ thầm: "Việc hèn hạ xấu xa kia của trẫm đ ã bị khắp thế gian biết cả rồi". Và ngài cảm thấy hổ thẹn khôn cùng. Vừa khi lấy lại được l òng chân chính, vững vàng, ngài ngâm vần kệ sau:

16. Phước trời chẳng hưởng, trẫm đ ành sa, Thế giới đều hay đại tội ta, Phải biết, l òng khanh đầy khổ n ão, Nếu khanh chẳng gặp lại Um-ma .

Các vần kệ sau đây l à do hai vị đối đáp xen kẽ:

Ðại tướng:

17. Trừ Ðại vương cùng với hạ thần, Việc kia, ai biết giữa trần gian? Um-ma, tặng vật xin dâng chúa, Phỉ nguyện, rồi đem trả lại n àng.

Quân vương:

18. Kẻ ác nghĩ:?Không một thế nhân Hẳn từng chứng kiến tội ta làm?. Song toàn việc ấy, đều hay biết Bởi các Thánh nhân lẫn quỷ thần. 19. D ù khanh có bảo: "Chẳng yêu nàng?, Ðiều ấy, ai tin giữa thế gian? Phải biết, lòng khanh đầy khổ n ão, Nếu khanh ch ăng gặp lại phu nhâ n.

Ðại tướng:

20. Nàng quý yêu như mạng sống mình Thực là vợ thắm thiết bao tình, Song hoàng thượng đến Um-ma gấp, Như hổ, sư về thạch động nhanh.

Quân vương:

21. Bậc trí, dù đau khổ ngập tr àn Cũng không bỏ việc tạo bình an, Kẻ ngu dù đắm ch ìm hoan lạc Tội lỗi thế kia, chẳng dám làm!

Ðại tướng:

22. Tâu Ðại vương là dưỡng phụ thân, Là Thiên đế, chúa tể thần dân, Th ê nhi, xin hiến làm nô lệ, Thánh thượng Si-vi hãy đẹp l òng!

Quân vương:

23. Kẻ làm hại bạn chẳng ăn năn, Bảo: "Chính đây l à chúa vạn n ăng?, Chỉ nửa đời thôi, e khó sống, Thánh thần thấy vậy, chẳng bằng l òng.

Ðại tướng:

24. Nếu chánh nhân thâu nhận lễ dâng Do người tình nguyện, tấu Minh quân, Vậy người đem tặng c ùng người nhận Làm việc thành công, quả vạn toàn.

Quân vương:

25. Dù khanh có bảo: "Chẳng yêu nàng?, Ðiều ấy ai tin giữa thế gian? Phải biết, lòng khanh đầy khổ n ão, Ví khanh chẳng gặp lại phu nhân.

Ðại tướng:

26. Nàng thiết thân như mạng sống thần, Thật nàng là vợ quý vô ngần, Um-ma, tặng vật, xin dâng hiến, Thỏa nguyện, rồi đem trả lại n àng.

Quân vương:

27. Làm mình khỏi khổ, hại cho người, Kẻ khác mất vui, dạ vẫn tươi, Chẳng cảm niềm đau người khác khổ Như m ình, chẳng biết chánh chân rồi!

Ðại tướng:

28. Nàng quý như đời sống, Ðại vương, Thật nàng được ái luyến khôn lường, Thần dâng bảo vật, không ho ài của, Như vậy, người cho đ ã hưởng phần .

Quân vương:

29. Ta có thể làm hại bản thân Vì thèm dục lạc của phàm nhân, Song ta quyết ch ăng bao giờ dám L àm hại đi êu tàn bậc chánh chân.

Ðại tướng:

30. Ví thử Minh quân phải khước từ Chỉ vì nàng, vợ hạ thần ư? Từ nay giải phóng nàng, từ biệt, Xin triệu nô tỳ vời chiếu thư!

Quân vương:

31. Ví dù đại tướng hại thân m ình, Lìa bỏ phu nhân chẳng tội tình, E phải chịu bao lời khiển trách, Chẳng hề ai nói đúng công b ình.

Ðại tướng:

32. Mặc lời khiển trách, mặc than phiền, Ðể mặc lời bình phẩm, ngợi khen, Trút xuống hạ thần như ý muốn, Trước tiên ước chúa thỏa tâm nguyền!

Quân vương:

33. Kẻ không màng đến việc khen, ch ê, Chỉ trích, tuyên dương, chẳng sá gì, Tài sản, vinh quang đều biến mất, Như cơn lũ rút, đất khô đi.

Ðại tướng:

34. Bất cứ lạc hay khổ nảy sinh, Vượt qua ngay, hoặc não lòng mình, Thần xin đón nhận d ù ưu, hỷ, Như đất khoan dung cả dữ, l ành.

Quân vương:

35. Ta chẳng muốn người khác khổ đau, L àm càn, cho bạn phải ưu sầu, Gánh sầu mang nặng, mình riêng chịu, Chân chánh, không làm vướng bận nhau.

Ðại tướng:

36. Thiện hành dẫn dắt tới thiên đường, Xin chớ cản chân, tấu Ðại vương, Tặng vật Um-ma, thần cống hiến Như vua ban thưởng bậc Sa-môn.

Quân vương:

37. Khanh đối c ùng ta thật chí thành Khanh và hiền nội, bạn chân tình; Ðạo nhân, thần thánh đều ch ê trách Nguyền rủa, ta mang mãi nặng mình.

Ðại tướng:

38. Thần chắc dân quê đến thị dân Chẳng hề than chúa thiếu công bằng, V ì Um-ma, chính thần dâng hiến, Thỏa nguyện, rồi đem trả lại thần.

Quân vương:

39. Khanh cùng trẫm quả thật ân cần, Khanh với phu nhân chính bạn vàng, Chánh nghiệp thiện nhân vang vọng khắp, Chánh hành khó vượt, tựa triều dâng.

Ðại tướng:

40. Tâu Chúa công, ban thưởng hạ thần Những gì thần ước, đại ân nhân, Xin ho àn gấp bảy quà thần tặng, Xin nhận Um-ma, của biếu không.

Quân vương:

41. Tri kỷ A-hi, quả thật tình, Theo đường chân chánh tự xuân xanh, Ðâu còn ai nữa trong nhân thế Nỗ lực cho ta được tốt l ành?

Ðại tướng:

42. Tấu Minh quân, hiển hách vô song, Thông hiểu chánh hành, đại trí nhân, Vạn tuế Pháp vương, đầy chánh hạnh, Tránh đường t à, dạy bảo cho thần.

Quân vương:

43. Ðến đây, Ðại tướng A-hi-pà, Hãy lắng nghe lời nói của ta, Ta sẽ dạy thanh toàn chánh đạo Thực h ành bởi các thiện nhân xưa: 44. Vua cầu Chánh pháp, được ân trời, Bậc trí tối ưu giữa mọi người, Không phản bạn l ành là thiện hảo, Tránh đường t à, cực lạc cao vời! 45. Dưới quyền đức độ của minh quân Như bóng cây che nắng trú thân, Tất cả thần dân đều lạc nghiệp, Hưởng đời phú quý m ãi gia t ăng. 46. Việc ác, n ào ta có tán đồng, D ù là vô ý vẫn sai lầm: Ngu si là tội ta khinh ghét, Nghe ví dụ này, khắc tận tâm. 47. Bò già đi lạc giữa d òng sông, Cả đám b ò con lạc bước luôn, Vậy nếu trưởng đo àn đi lạc lối, Mục ti êu hạ liệt lại đưa đường, Cả đo àn thấp kém, liền theo gót, Cả nước than thời loạn nhiễu nhương. 48. Song nếu bò cha lái đúng d òng, Ðoàn bò thẳng tiếp bước sau lưng; Vậy khi tướng lãnh theo chân chánh, Dân chúng sẽ cùng tránh bất công, Thanh tịnh an bình liền phát khởi Khắp miền cương thổ với non sông. 49. Ví dầu trẫm được cả trần gian Cũng chẳng l àm sao, hỡi Tướng quân, Trẫm chẳng thể nào gây ác nghiệp Mà mong đạt đến c õi thiên đ àng. 50. Nhũng gì quý giá giữa nhân gian, Nô lệ, bò trâu với bạc vàng, Thuấn mã, xiêm y, kho của cải, Ngọc châu sáng rực, gỗ chiên- đ àn, Mọi nơi nhật nguyệt ngày đ êm chiếu, Ðổi lấy bất công cũng chẳng màng, Trẫm vốn Si-vi dòng quý tộc, Người cai trị chính đáng công bằng! 51. L àm cha, lãnh đạo, giữ giang sơn, Trẫm bảo tồn quyền lợi nước non, Trẫm quyết trị dân theo Chánh đạo, Chẳng c òn ai lệ thuộc riêng phần.

*

Ðại tướng:

52. Luật pháp Ðại vương thật tốt lành! Mong ngài ngự trị hưởng trường sinh! Dẫn đường đưa nước nh à an lạc, Cường thịnh nhờ ngài đại trí minh! 53. Hân hoan tr àn ngập chúng thần dân, Vì Ðại vuơng chân chánh nhiệt tâm, Các bạo chúa nào quên Chánh đạo Từ nay ắt phải mất ngai v àng. 54. Với xuân huyên là đấng song thân, Xin thực h ành chân chánh, Ðại vương, Nhờ tiến bước lên theo Chánh đạo, Ðại vương sẽ đạt đến thi ên đường. 55. Với ho àng nam, chánh hậu, cung tần, Xin thực hành chân chánh Ðại vương, Nhờ tiến bước lên theo Chánh đạo, Ðại vương sẽ đạt đến thi ên đường. 56. Với bao bằng hữu, đám triều thần, Xin thực h ành chân chánh, Ðại vương, Nhờ tiến bước lên theo Chánh đạo, Ðại vương sẽ đạt đến thi ên đường. 57. Trong chinh chiến hoặc bước h ành trình, Xin Ðại vương chân chính thực hành, Nhờ tiến bước lên theo Chánh đạo Ðại vương sẽ đạt đến thi ên đ ình. 58. Nơi thôn dã hoặc chốn kinh thành, Xin Ðại vương chân chánh thực hành, Nhờ tiến bước lên theo Chánh đạo Ðại vương sẽ đạt đến thi ên đ ình. 59. Mọi miền quốc độ, khắp giang sơn, Xin thực h ành chân chánh, Ðại vương, Nhờ tiến bước lên theo Chánh đạo Ðại vương sẽ đạt đến thi ên đường. 60. Với La-môn, các bậc Sa-môn, Xin thực hành chân chánh, Ðại vương, Nhờ tiến bước lên theo Chánh đạo Ðại vương sẽ đạt đến thi ên đường. 61. Với lo ài súc vật, các chim muông, Xin thực hành chân chánh, Ðại vương, Nhờ tiến bước lên theo Chánh đạo, Ðại vương sẽ đạt đến thi ên dường. 62. Thực hành chân chánh, tấu quân vương, Do đấy, nguồn ân phước tưới tr àn, Nhờ tiến bước theo đời Chánh hạnh, Ðại vương sẽ đạt đến thi ên đ àng. 63. Chính nhờ tỉnh giác, tấu Quân vương, Thiện đạo tiến l ên vững bước luôn, Giáo sĩ, chư Thiên và Ðế Thích Từ xưa đ ã đạt đến thi ên đường.

Khi vua đ ã nghe đại tướng Ahip àraka của ngài thuyết giảng Chánh pháp như vậy xong, ngài đoạn trừ hết l òng tham đắm đối với n àng Ummadantì.

*

Sau khi chấm dứt Pháp thoại, bậc Ðạo Sư thuyết giảng các Thánh đế v à nhận diện Tiền thân: vào đoạn kết thúc các Thánh đế, vị Tỷ-kheo kia đ ã được an trú v ào Sơ quả Dự Lưu.

- Thời bấy giờ, Ànanda là người lái xe Sunanda, Sàriputta (Xá-lợi-phất) là tướng Ahipàraka, Uppalavannà (Liên Hoa Sắc) là nàng Ummadantì, các đệ tử của đức Phật l à đám triều thần v à Ta chính là vua Sivi.

528. Chuyện hiền giả đại Bồ đề (Tiền thân Mahà-Bodhi)

Ý nghĩa gì ch ăng những vật n ày ...,

Câu chuyện này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên, về sự Viên mãn của Trí tuệ Tối thắng.

Hoàn cảnh câu chuyện sẽ được kể trong Tiền thân số 546. Mah à Ummagga, Tập VII. Vào dịp này, bậc Ðạo Sư bảo:

- Không phải chỉ bây giờ mà cả xưa kia nữa, Như Lai cũng đ ã sáng suốt đánh bại mọi kẻ tranh chấp biện luận.

Cùng với các lời nói này, Ngài kể câu chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa trong triều vua Brahmadatta, Bồ-tát được sinh tại Ba-la-nại trong vương quốc K àsi vào một gia đ ình Bà-la-môn miền Bắc có thế lực, của cải lên đến tám trăm triệu, cha mẹ đặt t ên ngài Nam tử Bodhi (Ðại trí). Khi ngài lớn khôn, ngài được dạy đủ các môn học thuật tại Takkasil à, rồi trở về nhà ngài sống trong sự s ăn sóc nuông chiều của gia đ ình.

Dần dần ngài đoạn trừ mọi ác dục thế gian v à lui về sống ở vùng Tuyết Sơn, bắt đầu cuộc đời tu h ành của một du sĩ khất thực. Ngài ở đó một thời gian thật lâu, ăn to àn củ và trái rừng. Vào mùa mưa ngài hạ sơn đi khất thực dần dần đến gần th ành Ba-la-nại.

Tại đấy ng ài trú ngụ trong vườn ngự uyển, hôm sau ngài đi v ào kinh thành khất thực, vời tư cách của một vị khất sĩ, ngài đến gần ho àng môn. Vua đứng b ên cửa sổ trông thấy ngài, và rất hoan hỷ trước dáng điệu thanh thản của ng ài, liền mời ngài vào cung và ngồi trên vương tọa.

Sau một hồi đ àm đạo thân hữu, vua được nghe ng ài thuyết Pháp rồi tiếp đ ãi cúng dường ngài đủ thứ cao lương mỹ vị. Bậc Ðại Sĩ nhận vật thực và suy nghĩ: "Thật ra vương triều này đầy hận th ù và cừu địch. Ta không biết ai sẽ giải thoát cho ta khỏi nỗi lo sợ đang khởi l ên trong lòng ta".

Vừa nhìn thấy con chó s ăn m àu hung được vua cưng quý đang đứng gần đó, ng ài lấy một miếng thịt tỏ vẻ muốn cho con chó. Vua thấy thế liền truyền đem dĩa của con chó lại v à bảo ngài lấy thức ăn cho con chó. Bậc Ðại Sĩ tuân lệnh và cũng vừa chấm dứt buổi ăn.

Vua xin ngài chấp nhận việc xây một túp lều tranh cho ngài trong ngự viên của hoàng thành, truyền ban tặng ngài đủ vật dụng của một ẩn sĩ, v à mời ngài an trú tại đó. Mỗi ng ày hai ba lần, vua đến thăm, tỏ l òng cung kính đối với ng ài. Ðến giờ cơm, bậc Ðại Sĩ liên tục được ngồi v ào vương tọa thọ dụng các thức ngự thiện cùng với vua. Cứ thế mười hai n ăm liền trôi qua.

Lúc bấy giờ, vua có n ăm vị cố vấn đ ã dạy ngài các thế pháp cũng như thánh sự. Một vị trong số đó không chấp nhận thuyết Nghiệp nhân. Một vị khác tin rằng mọi việc đều do một Ðấng tối cao sắp đặt. Một vị thứ ba chủ trương thuyết Tiền nghiệp. Vị thứ tư tin v ào sự Ðoạn diệt sau khi chết. Vị thứ n ăm chủ trương thuyết Giai cấp Sát-đế-lỵ. Vị không chấp nhận Nghiệp nhân dạy dân chúng rằng con người trong thế gian n ày sẽ được thanh tịnh hóa nhờ luân hồi. Vị tin v ào hành động của Ðấng tối cao dạy rằng thế giới này do vị tối cao ấy sáng tạo. Vị tin vào kết quả của Tiền nghiệp dạy rằng mọi ưu lạc ở đời n ày là kết quả của một nghiệp quá khứ. Vị tin vào thuyết Ðoạn diệt dạy rằng không ai ở đời n ày tái sinh vào một thế giới khác, vì thế giới này sẽ bị đoạn diệt. Vị chủ trương thuyết Sát-đế-lỵ dạy rằng quyền lợi của cá nhân m ình phải được thỏa m ãn cho dù phải giết cả cha mẹ mình.

N ăm vị n ày được vua chỉ định ngồi xử án trong triều v à vì tham muốn của hối lộ, họ đ ã tước đoạt t ài sản của những người chủ nhân chính đáng. Một ng ày kia, có một kẻ bị sạp nghiệp vì một vụ xử án sai lầm, thấy bậc Ðại Sĩ đi v ào cung khất thực liền đảnh lễ v à than thở vào tai ngài:

Thưa Tôn giả, tại sao ngài thọ thực trong cung điện, m à lại thờ ơ trước những việc do những vị phán quan cầm cân nẩy mực của Thánh thượng đang l àm tan gia bại sản mọi người vì muốn ăn hối lộ? Ngay bây giờ đây năm vị kia nhận của hối lộ từ tay một người vu cáo n ên đ ã tước đoạt hết t ài sản của tôi một cách vô lý.

Nghe vậy, bậc Ðại Sĩ động l òng thương hại, đi v ào triều xử bản án lại cho đúng v à trả quyền tài sản cho người kia. Dân chúng đồng t ình hoan nghênh ngài nhiệt liệt.

Vua nghe tiếng ồn ào liền hỏi có việc gì, khi nghe nói vậy, vừa lúc bậc Ðại Sĩ dùng cơm xong, đến ngồi cạnh ng ài và hỏi:

- Này Tôn giả, có thực là ngài vừa xử án như dân chúng đồn chăng?

- Tâu Ðại vương, quả vậy.

Vua bảo:

- Nếu ngài xử án, ngài sẽ đem lợi lạc cho dân chúng, vậy từ nay ng ài cần phải xử án.

Ngài đáp:

- Chúng thần là những kẻ tu khổ hạnh, việc này không phải là việc của chúng thần.

- Này Tôn giả, ngài phải làm việc đó v ì từ tâm đối với dân, ng ài không cần xử án suốt ngày, mà chỉ khi nào ngài từ vườn ngự uyển đến đây th ì hãy đến công đường từ sáng tinh sương để xử bốn vụ án; rồi trở về ngự vi ên, sau khi thọ dụng thức ăn xong, lại xử bốn vụ nữa, như vậy dân chúng sẽ được lợi lạc.

Sau khi nghe nài nỉ nhiều lần, ngài nhận lời và từ đó xử án như vậy.

Những kẻ lừa đảo không c òn cơ hội làm ăn nữa, các vị cố vấn kia không nhận hối lộ được, lâm v ào cảnh khốn đốn, nghĩ thầm: "Từ khi có g ã khất thực Bodhi bắt đầu xử án, chúng ta chẳng được g ì cả". Bọn họ gọi ngài là thù địch của vua v à bảo nhau:

- Này, chúng ta phải vu cáo nó và làm cho nó chết đi.

Họ liền đến yết kiến vua v à tâu:

- Tâu Ðại vương, gã khất thực Bodhi muốn làm hại Ðại vương.

Vua không tin họ và phán:

- Không đâu, ng ài là bậc thiện nhân uyên bác, ngài không làm thế được.

Họ lại bảo:

- Tâu Ðại vương, dân chúng đều l à người của gã cả, chỉ có n ăm chúng thần l à không ở trong tay gã thôi. Nếu Ðại vương không tin chúng thần, thì lần sau khi gã đến đây, xin Ðại vương để ý đến đám t ùy tùng của gã.

Vua ưng thuận, khi đứng b ên cửa sổ nhìn ngài đi đến, vua thấy đám người thưa kiện theo sau ẩn sĩ Bodhi m à ngài không biết, vua tưởng đó l à tùy tùng của ngài, liền có thành kiến với ngài ngay, nên triệu tập đám quốc sư v ào hỏi:

- Ta phải làm sao đây?

Chúng đáp:

- Xin Ðại vương ra lệnh bắt gã lại.

Vua đáp:

- Nếu ta không thấy gã vi phạm lỗi lầm nào hiển nhiên, làm sao ta bắt gã được?

- Vậy thì xin Đại vương giảm bớt ân huệ thường d ành cho gã, khi gã thấy vinh dự sa sút, là một khất sĩ khôn ngoan, gã sẽ tự ý bỏ đi không hé răng điều g ì với ai đâu.

Vua chấp thuận lời đề nghị ấy v à dần dần giảm bớt mọi sự tôn trọng đối với ng ài. Ngày đầu ti ên sau đó bọn họ mời ng ài ngồi trên một tọa sàng không có nệm. Ngài nhận thấy thế hiểu ngay là đám kia đ ã vu cáo ngài với vua, nên khi trở về ngự viên, ngài định ra đi ngay hôm đó, song ng ài lại suy nghĩ: "Khi nào biết chắc chắn ta sẽ ra đi", n ên ngài không bỏ đi.

Ngày hôm sau khi ngài ngồi vào tọa sàng không nệm lót, quân hầu dâng ngự thiện dành cho vua cùng nhiều thực phẩm khác, và đem cho ng ài thực phẩm trộn lẫn cả hai thứ trên.

Ngày thứ ba quân hầu không để ng ài đến gần bệ rồng m à đặt ng ài ngồi ở đầu bệ, rồi chúng đem đến ng ài các thức ăn trộn chung lại. Ng ài nhận lấy và trở về ngự viên tự làm thức ăn cho m ình tại đó.

Ngày thứ tư họ đặt ng ài trên hiên nhà phía dưới và đem cho ng ài cháo bột gạo, ngài cũng đem về ngự vi ên tự dọn thức ăn lấy. Vua bảo:

- Mặc dù mọi vinh quang dành cho gã đ ã giảm sút, khất sĩ đại trí vẫn không bỏ đi. Vậy ta phải l àm sao đây?

- Tâu Ðại vương - Họ bảo - không phải gã đến đây để khất thực m à vì gã muốn tranh quyền bá chủ. Nếu gã đến đây để khất thực th ì gã đ ã bỏ đi ngay hôm đầu ti ên gã bị coi khinh.

- Vậy ta phải làm gì đây?

- Xin Ðại vương truyền lệnh giết gã ngày mai.

Vua đáp:

- Ðược lắm.

Vua trao kiếm vào tay các vị kia, vừa bảo:

- Ngày mai khi gã đến đứng trong cửa, h ãy chặt đầu g ã và phanh thây gã ra, chẳng cần nói gì với ai cả, cứ ném xác gã vào đống phân, rồi tắm rửa v à trở về đây.

Bọn họ sẵn sàng tuân lệnh ngay và tâu:

- Ngày mai chúng thần xin đến l àm như thế.

Sau khi sắp đặt công việc với nhau, họ trở về tư thất. C òn vua sau buổi ăn tối nằm tr ên vương tọa nhớ lại mọi công đức của bậc Ðại Sĩ, nỗi ưu phiền đột nhi ên kéo đến trong tâm, mồ hôi đổ ra khắp thân thể v à không thể nào nằm yên trên giường, vua cứ trằn trọc mãi.

Lúc bấy giờ chánh hậu nằm bên cạnh vua, song vua chẳng thốt ra một lời nào với bà. Vì vậy bà hỏi vua:

- Tâu Thánh thượng, tại sao Thánh thượng không nói gì với thần thiếp? Thần thiếp có làm điều g ì xúc phạm đến Thánh thượng chăng?

Không đâu ái hậu - Vua bảo - nhưng chúng bảo khất sĩ Bodhi trở th ành kẻ thù địch của ta rồi, n ên ta đ ã ra lệnh cho n ăm vị cố vấn ng ày mai phải giết gã đi, giết xong phải phanh thây g ã mà vứt vào đống phân. Nhưng trong suốt mười năm trường g ã đ ã giảng dạy ta biết bao chân lý. Trước đây ta không hề thấy g ã có một điều xúc phạm mảy may n ào mà chỉ vì do sự xúi giục của kẻ khác, ta đ ã ra lệnh giết gã đi, v ì thế ta rất ưu phiền.

Lúc ấy bà vội an ủi vua:

- Tâu Thánh thượng, nếu gã là kẻ thù của ta, tại sao Thánh thượng lại buồn rầu khi giết gã? Phải giữ gìn thánh thể an khang, dù cho kẻ thù phải giết đi chính l à vương tử của Thánh thượng. Xin Thánh thượng đừng bận tâm l àm gì.

Lời bà khiến vua an tâm và ngủ thiếp đi. V ào lúc ấy con chó s ăn m àu hung được cưng quý kia nghe được câu chuyện nghĩ thầm: "Ng ày mai ta phải dùng sức mạnh của ta để cứu người n ày".

Thế là sáng sớm hôm sau, con chó từ hiên nhà đi xuống cửa lớn đặt đầu tr ên bực thềm, canh chừng con đường từ đó bậc Ðại Sĩ đi đến. Nhưng năm vị quốc sư cầm kiếm trong tay đ ã đến từ tảng sáng v à đứng b ên trong cửa lớn.

Ẩn sĩ Bodhi thấy đúng giờ, từ ngự vi ên đi đến cửa cung. Lúc ấy, con chó thấy ng ài liền há miệng nhe bốn r ăng thật lớn ra v à suy nghĩ: "Thưa Tôn giả, tại sao Tôn giả không đi khất thực nơi khác ở c õi Diêm-phù- đề? Ðức vua đ ã sắp đặt cho năm quốc sư cầm kiếm đứng b ên trong cửa chực giết ngài. Xin đừng đến cam phận chịu chết, m à phải nhanh chân tẩu thoát". Rồi nó sủa lớn tiếng.

Nhờ biết rõ ý nghĩa mọi thứ âm thanh nên ẩn sĩ Bodhi hiểu có chuyện chẳng lành, liền trở về ngự viên thu dọn mọi vật cần thiết để l ên đường.

Nhưng vua đứng b ên cửa sổ, thấy ngài không đến, liền nghĩ: "Nếu người n ày là kẻ thù của ta thì gã sẽ trở về ngự viên thu thập mọi lực lượng để sẵn s àng hành động. C òn nếu không, chắc chắn gã sẽ lấy mọi thứ cần dùng và chuẩn bị ra đi. Ta muốn đi xem g ã sắp làm gì".

Khi đến ngự vi ên, vua thấy bậc Ðại Sĩ bước ra khỏi am tranh cùng mọi vật dụng cần thiết đặt ở cuối lối đi trong am thất, sắp sửa l ên đường, vua đảnh lễ ng ài rồi đứng qua một b ên và ngâm vần kệ đầu ti ên:

1. Có nghĩa gì ch ăng các vật n ày, Lọng, giầy, y, gậy lại cầm tay? Thượng y, bình bát, cùng dao quắm, Ta muốn hiểu ra cớ sự vầy, Ðến xứ sở nào xa cách lắm, Sao ngài nóng vội bỏ đi ngay?

Nghe vậy, bậc Ðại Sĩ suy nghĩ: "Ta chắc vua không hiểu mình đ ã làm gì. Ta muốn cho vua biết". Ngài liền ngâm hai vần kệ này:

2. Tâu Ðại vương, hơn một thập niên, Hạ thần an trú chốn hoa viên, Từ nay về trước, chưa hề thấy Con chó này cất tiếng sủa lên. 3. Hôm nay chó nọ lại nhe r ăng Trắng nhởn, ki êu c ăng thật dữ dằn, V ì đ ã nghe ngài cùng chánh hậu, Báo cho thần biết, sủa vang rần!

Lúc ấy vua đ ành nhận tội, và ngâm vần kệ thứ tư xin ngài tha thứ:

4. Tội ấy của ta thật đúng phần, Ðích ta đ à nhắm giết Tôn nhân, Song nay ân huệ ban lần nữa, Mong ước Tôn nhân hãy nán chân.

Nghe lời trên, bậc Ðại Sĩ đáp:

- Tâu Ðại vương, các bậc trí không ở cùng với một người chẳng nhìn thấy sự việc chính mắt mình, mà lại nghe theo lời chỉ dẫn của kẻ khác.

Nói xong, ngài vạch rõ cách xử thế sai lầm của vua như sau:

5. Thực phẩm ngày xưa sạch, trắng ngần, Kế theo màu sắc tạp nham dần, Ðến nay đ ã hóa thành nâu sẫm, Chính lúc này ta phải rút chân. 6. Buổi đầu tọa thực ở tr ên ngai, Kế đó cầu thang, cuối bệ d ài, Trước lúc ta chờ dài cổ họng, Ta đ ành tử giã chốn này thôi. 7. Ngài chớ mến yêu bạn bất trung: Khác gì đâu cái giếng khô c ùn, Dù đ ào sâu đến bao nhi êu mẫu, Dòng nước tuôn ra cũng đục b ùn. 8. Phải lo kết nghĩa bạn trung can, Hãy tránh xa liền bạn bất nhân, Như kẻ khát đi t ìm suối nước, Bạn vàng trung tín phải theo gần. 9. Lưu luyến bạn thân luyến ái ngài, Ðem tình ngài đáp lại t ình ai, Kẻ ruồng bỏ bạn vàng trung tín Ðược kể là người đốn mạt thôi. 10. Kẻ chẳng luyến lưu bạn thủy chung, Chẳng đem t ình đáp lại t ình thân, Giữa đời l à kẻ đ ê hèn nhất, Ðịa vị không hơn lũ khỉ rừng. 11. Gặp gỡ quá nhiều cũng xấu xa, Khác nào chẳng gặp gỡ bao giờ. Hỏi xin ân huệ nào nhanh quá Cũng khiến tình thân hóa nhạt nhòa! 12. Viếng bạn, song đừng đến viếng luôn, Cũng không nấn ná bước dừng chân, Ðúng thời, ta mới cầu ân huệ, Nhờ thế tình thân chẳng lụi dần. 13. Ai cứ kéo dài cuộc trú chân, Thấy thường bằng hữu hóa cừu nhân; Trước khi ta mất tình bằng hữu, Xin giã biệt ngay, tiến bước đường.

Vua bảo:

14. Dù trẫm chắp tay khẩn thiết nài, Ngài không muốn để lọt v ào tai, Chẳng dành lời nói cho quần chúng Tha thiết cầu ân đức của ng ài, Trẫm khát khao ngài ban tối huệ Xin về đây viếng trẫm nay mai.

Bồ-tát đáp:

15. Nếu không gì gián đoạn d òng đời, Ví thử ng ài, ta, Ðại đế ôi! C òn sống, hỡi người-nuôi-quốc- độ, Ta bay về lại chốn n ày thôi, Rồi ta còn dịp lành tương kiến Trong lúc ngày đ êm lờ lững trôi.

Bậc Ðại Sĩ nói thế xong còn thuyết giáo cho vua, ngài bảo:

- Xin Ðại vương hãy luôn tỉnh giác.

Sau khi rời ngự viên và đi một v òng khất thực trong khu phố của ngài, ngài rời thành Ba-la-nại và dần dần đi đến một chỗ trong v ùng Tuyết Sơn, trú tại đó một thời gian rồi ng ài hạ sơn, đến trú trong một khu rừng gần một thôn l àng vùng biên địa.

Khi ngài vừa ra đi, các cố vấn lại ngồi xử án, bóc lột dân chúng v à suy nghĩ: "Nếu gã Ðại Bồ- đề khất sĩ trở lại đây, ta sẽ mất kế sinh sống, vậy ta phải l àm gì để ngăn cản g ã ấy trở lại?". Rồi họ nghĩ đến điều n ày: "Những người như vậy không thể rời vật mà họ lưu luyến; vậy vật gì làm gã lưu luyến đây?". Khi thấy chắc chắn đó phải l à bà chánh hậu của vua, họ suy nghĩ: "Ðây là lý do khiến gã ấy trở về đây. Ta phải nhanh tay với bọn họ v à khiến bà ta phải chết".

Họ liền nói lại điều n ày với vua:

- Tâu Ðại vương, hôm nay có một lời đồn đại lan khắp kinh th ành.

- Ðồn đại việc g ì?

- Khất sĩ Ðại Bồ- đề v à chánh hậu vẫn gửi tin tức cho nhau.

- Với mục đích g ì?

- Dân chúng bảo, vị ấy nhắn tin với Chánh hậu như vầy: "Lệnh bà có đủ khả năng giết đức vua v à trao chiếc long trắng cho ta ch ăng?". Chánh hậu nhắn lại vị kia: "Việc giết vua đúng l à trọng trách của ta, vậy ngài phải đến đây gấp".

Bọn họ cứ nói đi nói lại m ãi điều n ày cho đến khi vua tin đó l à sự thật liền hỏi:

- Vậy phải làm gì bây giờ?

Họ bảo:

- Ta phải giết chánh hậu đi.

Rồi không cần tìm hiểu sự thật của chuyện này ra sao, vua phán:

- Vậy thì giết chánh hậu đi, rồi phanh thây b à ném vào đống phân.

Họ tuân lệnh ngay, và tin hoàng hậu chết chấn động khắp kinh th ành.

Lúc ấy bốn vương tử bảo nhau:

- Mẫu hậu ta dù vô tội, đ ã bị hành hình do lệnh người này.

Và bọn họ trở thành cừu địch của vua. V à vua vô cùng kinh hãi. Bậc Ðại Sĩ lúc ấy đ ã hay tin sự việc xảy ra liền suy nghĩ: "Lúc này không có ai ngoài ta có thể làm dịu lòng các vương tử này và khuyên họ tha tội phụ vương, ta sẽ về cứu mạng vua và giải thoát các vương tử khỏi mục đích tội lỗi của họ".

Vì thế ngày hôm sau, ngài đi v ào ngôi làng ở biên địa, sau khi ăn thịt khỉ do dân l àng cúng dường, ngài xin miếng da khỉ đem về phơi khô trong am tranh cho đến khi hết m ùi hôi rồi làm thành y trong, y ngoài và khoác lên vai. Tại sao ngài làm thế, ngài có thể bảo:

- Nó rất hữu ích vào ta.

Khoác tấm da lên, ngài đi dần v ào thành Ba-la-nại, tiến lại gần các vương tử, và bảo họ:

- Giết phụ thân là một việc ác khủng khiếp, các vương tử không nên làm vậy; làm người không ai thoát khỏi mạng vong chết chóc. Ta phải đến đây để h òa giải các vị; khi ta nhắn tin, chư vị phải đến gặp ta.

Sau khi khích lệ các vương tử xong, ngài đi v ào ngự viên trong kinh thành, ngồi trên phiến đá trải miếng da khỉ l ên trên.

Khi người giữ vườn thấy thế, liền vội phi báo cho vua. Vua nghe xong lòng đầy hoan hỷ, bảo năm vị cố vấn c ùng đi với vua đến đảnh lễ bậc Ðại Sĩ, rồi ngồi xuống để chuyện tr ò vui vẻ cùng ngài.

Bậc Ðại Sĩ chẳng hề đáp lễ thân mật g ì cả, cứ tiếp tục vuốt tấm da khỉ. Vua hỏi:

- Này Tôn giả, tại sao không nói một lời nào với trẫm lại cứ vuốt tấm da, vậy nó ích lợi cho ngài hơn trẫm ch ăng?

- Tâu Ðại vương, chính thế, con khỉ này thật hữu dụng bậc nhất cho bần đạo, khi bần đạo đi đây đó, thường ngồi tr ên lưng nói. Nó mang bình nước cho bần đạo, nó quét sạch chỗ ở của bần đạo. Nó l àm đủ mọi việc lặt vặt cho bần đạo, v ì tính khờ khạo của nó, bần đạo đ ã ăn thịt nó, lấy da phơi khô rồi trải ra, nằm l ên trên; thật nó rất ích lợi cho bần đạo.

Ngài nói vậy để đánh tan luận điệu của đám t à đạo kia, gán mọi việc l àm của một con khỉ vào tấm da khỉ và với mục đích n ày, ngài đ ã nói như trên.

Từ việc khoác tấm da khỉ, ngài bảo:

- Khi bần đạo đi đây đó thường ngồi tr ên lưng khỉ.

Từ việc đắp da l ên vai và mang bình nước, ngài bảo:

- Nó mang bình nước.

Từ việc quét nhà bằng tấm da, ngài bảo:

- Nó quét nhà.

Khi ngài nằm, lưng ngài đụng v ào tấm da, khi ngài bước lên tấm da, bàn chân ngài đụng v ào nó, ngài bảo:

- Nó làm đủ mọi việc cho bần đạo.

Khi ngài đói l òng, ngài đ ã ăn thịt nó, nay ng ài bảo:

- Nó khờ khạo như thế nên bần đạo đ ã ăn thịt nói rồi.

Nghe vậy, các quốc sư suy nghĩ: "Người này mang tội sát sinh. Hãy xem hành vi của ẩn sĩ này; gã bảo gã giết con khỉ, ăn thịt nó rồi đi khắp nơi mang theo da khỉ", họ vỗ tay cười ch ê ngài.

Bậc Ðại Sĩ thấy họ làm như vậy tự bảo: "Bọn này không biết ta đến đây với tấm da n ày để đánh bại các t à thuyết của chúng. Ta không bảo cho chúng biết đâu". Khi nói chuyện với kẻ không chấp nhận nghiệp nhân, ng ài hỏi:

- Tại sao Tôn giả khiển trách ta?

- Vì ngài đ ã phạm tội phản bạn và sát sinh.

Lúc ấy bậc Ðại Sĩ bảo:

- Nếu người ta tin vào Tôn giả và giáo lý của, rồi hành động theo đó, th ì còn gây tội lỗi nào nữa?

Rồi để đánh bại t à thuyết của lão, ngài nói:

16. Nếu thuyết ngài cho "thiện, ác hành" Ðều do duyên cớ tự nhiên sinh, Thì trong các việc làm vô ý, Tội lỗi làm sao thấy chỗ mình? 17. Nếu lý thuyết này ngài chủ trương, Và đây l à Giáo pháp như chân, Thì hành vi của ta là đúng Khi giết khỉ kia để hưởng phần. 18. Song nếu ng ài trông thấy rõ ràng Ðây là lý thuyết thật sai lầm, Thì ngài sẽ chẳng bao giờ nữa Khiển trách việc ta với luận đ àm .

Bậc Ðại Sĩ đ ã chỉ trích lão như vậy khiến lão phải im lặng. Vua cảm thấy buồn bực ngồi xuống; còn bậc Ðại Sĩ, sau khi đánh bại t à thuyết của lão ấy, lại nói với kẻ tin rằng mọi việc đều do một Ðấng tối cao tạo ra, ngài bảo:

- Này Tôn giả, tại sao ngài khiển trách ta khi ngài thực sự tin vào lý thuyết cho rằng mọi vật đều do một Ðấng tối cao tạo nên?

Rồi ngài ngâm kệ:

19. Nếu có Chúa trời đủ vạn năng Cho người thiện, ác, lạc, ưu tr àn, Ðấng kia quả thật mang đầy tội, Người theo ý chúa, chỉ chuy ên làm. 20. Nếu lý thuyết này ngài chủ trương, Và đây l à Giáo pháp như chân, Thì hành vi của ta là đúng Khi giết khỉ kia để hưởng phần. 21. Song nếu ng ài trông thấy rõ ràng Ðây là lý thuyết thật sai lầm, Thì ngài sẽ chẳng bao giờ nữa Khiển trách việc ta với luận đ àm.

Như vậy, chẳng khác nào một người đánh ng ã cây xoài bằng chính cái gậy chặt ra từ cây xoài ấy, ngài đ ã đánh bại người tin v ào hành động của một Ðấng tối cao bằng chính lý thuyết của lão ta; rồi ngài lại nói với người tin vào các nghiệp quá khứ, ngài bảo:

- Này Tôn giả, tại sao ngài chê trách ta khi ngài tin vào lý thuyết cho rằng các nghiệp đ ã có sẵn trong quá khứ?

Rồi ngài ngâm kệ:

22. Lạc, ưu, khởi tự nghiệp duyên xưa, Khỉ ấy nay đền tội đ ã qua, Mỗi nghiệp ta làm đều trả nợ, Vậy th ì tội lỗi ở đâu ra? 23. Nếu lý thuyết này ngài chủ trương, Và đây l à Giáo pháp như chân, Thì hành vi của ta là đúng Khi giết khỉ kia để hưởng phần. 24. Song nếu ng ài trông thấy rõ ràng Ðây là lý thuyết thật sai lầm, Thì ngài sẽ chẳng bao giờ nữa Khiển trách việc ta với luận đ àm.

Sau khi bác bỏ tà thuyết của người này, ngài quay lại kẻ tin vào thuyết đoạn diệt v à bảo:

- Này Tôn giả, ngài chủ trương là không có thưởng phạt, mọi chúng sinh đều phải đoạn diệt ở đời n ày và không ai tái sinh vào đời sau. Vậy tại sao ng ài lại trách ta?

Và ngài ngâm kệ bác bỏ kẻ ấy:

25-26. Tứ đại họp th ành mỗi loại sinh, Mạng chung, mọi bộ phận tan tành, Mất đi, người chết c òn đâu nữa, Người sống vẫn theo cuộc sống m ình, Ví thử thế gian đều hủy diệt, Người ngu, bậc trí thảy đi nhanh, Chẳng ai tội lỗi đầy ô uế Giữa c õi trần gian đ ã hoại hình. 27. Nếu lý thuyết này ngài chủ trương, Và đây l à Giáo pháp như chân, Thì hành vi của ta là đúng Khi giết khỉ kia để hưởng phần. 28. Song nếu ng ài trông thấy rõ ràng Ðây là lý thuyết thật sai lầm, Thì ngài sẽ chẳng bao giờ nữa Khiển trách việc ta với luận đ àm.

Như thế ngài bác bỏ tà thuyết của kẻ này nữa và tiếp theo với kẻ chủ trương thuyết Sát- đế-lỵ, ng ài bảo:

- Này Tôn giả, ngài chủ trương là con người phải phục vụ quyền lợi riêng của mình dù phải giết cha mẹ mình đi nữa. Nếu ng ài đi truyền bá thuyết n ày, tại sao ngài còn trách ta?

Và ngài ngâm vần kệ này:

29. Sát- đế-lỵ kia vẫn bảo rằng: - Lũ ngu lại tưởng chúng khôn ngoan- Mẹ cha cũng giết, t ùy cơ hội, Anh chị, vợ con, nếu có cần.

Như vậy ngài đ ã chống lại quan điểm của kẻ kia v à nêu ra quan điểm của ng ài:

30. Bóng mát ta ngồi xuống nghỉ chân, Cành cây ta chặt đứt l ìa thân, Tội kia bội nghĩa vong ơn đấy, Bằng hữu dối gian, h ãy ghét c ăm. 31. Song nếu do cơ hội nảy sinh, Thì ta chặt gốc, rễ cây cành, Vì cần phục vụ nhu cầu đó, N ên giết khỉ kia cũng hợp tình. 32. Nếu lý thuyết này ngài chủ trương, Và đây l à Giáo pháp như chân, Thì hành vi của ta là đúng Khi giết khỉ kia để hưởng phần. 33. Song nếu ng ài trông thấy rõ ràng Ðây là lý thuyết thật sai lầm, Thì ngài sẽ chẳng bao giờ nữa Khiển trách việc ta với luận đ àm.

Như vậy ngài đ ã bác bỏ luận thuyết của người này nữa; lúc bấy giờ cả n ăm vị t à sư ngoại đạo kia đều câm lặng, bối rối. Ng ài lại bảo vua:

- Tâu Ðại vương, những kẻ mà Ðại vương đang thân cận đó l à những tên đại đạo tặc đang cướp bóc to àn quốc độ của Đại vương. Ôi! Đại vương thật ngu si quá, một người thân cận với những kẻ ác như thế kia sẽ phải gặp đại khổ n ão trong đời n ày lẫn đời sau.

Nói vậy xong, ngài dạy vua Chánh pháp :

34. Người này quả quyết:"Chẳng nguyên nhân". Kẻ khác:"Có trời, Đấng chí tôn". Kẻ nói:"Nghiệp này do nghiệp trước". Người thì:" Thế giới thảy tiêu vong". 35. Sát- đế-lỵ c ùng ngoại đạo sư, Tưởng m ình có trí, cả bầy ngu, Ác nhân gây tội, khuyên làm ác, Truyền bá ác hành, tạo khổ ưu.

Rồi ngài giảng rộng bài thuyết Pháp bằng các ví dụ chứng minh:

36. Sói đội lốt cừu một thuở xưa, Đến gần chuồng nọ chẳng ai ngờ Giết đ àn cừu hoảng hồn kinh vía, Xông tới đồng xanh chạy thẳng gi ò! 37. Cũng vậy, Sa-môn hoặc đạo nhân Thường d ùng chiếc áo gạt lương dân, Kẻ nằm trên đất, m ình dơ bẩn, Chồm hổm người ngồi, kẻ nhịn ăn. 38-39. Bọn th ì không uống, bọn thì ăn Theo luật, tạo ra vẻ thánh thần, Bọn chúng đều l à phường bất thiện, Người ngu lại tưởng chúng hiền nhân. Bọn này không những gây bao tội, Chúng lại khuyên người khác lỗi lầm. Truyền bá ác hành luôn tạo quả Khổ đau v à hoạn nạn muôn phần. 40. Bảo rằng: "Mọi vật chẳng nguồn c ăn", Chúng phủ nhận luôn mọi nghiệp nhân, Xem nhẹ nghiệp m ình cùng kẻ khác Như là huyễn hoặc, hỡi vương quân. 41. Bọn chúng đều l à lũ bất lương, Người ngu lại tưởng chúng hiền nhân, Chúng gây tội lỗi, còn khuyên ác, Truyền bá ác hành, tạo khổ thân. 42. Nếu chẳng nghiệp nhân ở chốn nào, Cũng không có thiện, ác hành, sao Vua thường tuyển thợ đầy t ài khéo Ðể hưởng lợi nhờ kỷ xảo cao? 43. Vậy cũng chính vì có nghiệp nhân Thiện hành, ác nghiệp có thông thường, Nên vua chúa tuyển người tài khéo Ðể hưởng lợi nhiều bởi kỹ n ăng. 44. Ví thử trăm năm chẳng có mưa, Tuyết sương chẳng rớt đúng theo m ùa Ở trong thế giới suy tàn cả Dân chúng diệt vong chẳng kẻ chừa. 45. Song có mưa rơi, với tuyết sương, Bốn mùa thay đổi luật thông thường L àm cho thóc lúa dần dần chín, Ðất nước trải bao thế kỷ trường. 46. Bò già đi lạc giữa d òng sông, Cả đám b ò con lạc hướng luôn, Vậy trưởng đo àn theo đường hiểm trở, Ðưa bầy thuộc hạ đến đường c ùng, Và toàn quốc độ đều ân hận, Thời đại buông lung phóng dật tr àn. 47. Kẻ hái trái còn quá nhỏ nhoi Trước khi trái ấy chín cho muồi, Chính là hủy hoại bao mầm hạt, Chẳng thể biết đâu quả ngọt b ùi. 48. Cũng vậy người nào tri quốc dân Bằng nền cai trị chẳng công bằng, Chẳng hề thưởng thức bao mùi ngọt Phát xuất từ đường lối chánh chân. 49. Nhưng kẻ n ào hay để trái tươi Tr ên cây, khi trái chín cho muồi, Là người giữ được bao mầm hạt, Biết hưởng trái ngon ngọt tuyệt vời. 50. Cũng vậy, người n ào trị quốc dân Bằng đường chân chánh giữ giang sơn, Trái cây công lý bao ngon ngọt, Có thể hưởng cho thật vẹn tr òn. 51. Quốc vương cai quản cả giang san Dùng bạo quyền trị nước bất công, Phải chịu mất đi nhiều thảo mộc D ù cho đất kết quả bao phần. 52. Nếu vua l àm hại đám thần dân, Có đủ t ài sinh lợi bán buôn, Khi lợi tức kia đ à giảm sút, Kho tàng vua cũng cạn vơi dần. 53. Nếu vua quấy nhiễu đám h ùng anh Có tài điều khiển việc đao binh, Ðội quân sẽ giã từ vua ấy Và tước của vua mọi bạo hành. 54. Nếu làm sai, với Thánh hiền nhân Vua ấy về sau hưởng xứng phần, Dù quý tộc mà gây tội lỗi, Cũng đều phải mất cảnh thi ên đ àng. 55. Nếu hôn quân giết một vương phi Dầu chẳng hề gây tội lỗi gì, Vua liền bị khổ đau xâu xé Bởi các con c ùng địa ngục kia. 56. H ãy xử công bằng với quốc dân, Ân cần tử tế với toàn quân, Với thê nhi hãy đầy thân ái, Ðể các hiền nhân an trú chân. 57. Vị vua như vậy, hỡi Vương quân, Giải thoát được bao nỗi hận sân, Chẳng khác In-dra, Thi ên chủ ấy, Tạo nên khiếp phục giữa quần thần.

Bậc Ðại Sĩ, sau khi giảng Chánh pháp cho vua xong, liền triệu bốn vương tử lại và dạy bảo họ, giải thích cho họ hiểu hành động của vua, rồi ng ài nói:

- Hãy xin vua cha tha tội.

Sau khi thuyết phục vua tha thứ cho họ, ngài bảo:

- Tâu Ðại vương, từ nay xin Ðại vương đừng nghe lời các kẻ vu cáo m à không cân nhắc thực hư, cũng đừng phạm các tội bạo h ành tương tự như thế nữa; còn các vương tử, xin đừng phản bội vua cha.

Như vậy, ngài đ ã thuyết giáo cho tất cả hoàng tộc. Lúc ấy, vua bảo:

- Thưa Tôn giả, chính vì những kẻ này mà trẫm phạm tội với ngài cùng hoàng hậu, chính vì nghe lời chúng mà trẫm gây tội ác, trẫm muốn xử tử chúng luôn cả n ăm t ên.

- Xin Ðại vương đừng l àm vậy.

- Thế thì trẫm sẽ ra lệnh chặt tay chân chúng đi.

- Xin cũng đừng l àm việc đó.

Vua ưng thuận bảo:

- Thôi cũng được.

Rồi vua tước bỏ mọi tài sản của họ và hạ nhục họ bằng nhiều cách như: buộc tóc họ thành n ăm ch òm, xiềng họ lại và rảy phân bò lên người họ rồi đuổi ra khỏi nước.

Còn Bồ-tát sau khi ở lại vài ngày nữa để thuyết giáo vua, khuy ên vua phải tỉnh giác đề ph òng xong lại ra đi l ên vùng Tuyết Sơn tu tập thần thông phát xuất từ Thiền định, v à suốt đời ng ài thực hành Tứ Vô lượng tâm nên được tái sinh v ào Phạm thiên giới.

*

Bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại và bảo:

- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ, mà cả ngày xưa nữa, Như Lai đ ã có đại trí đánh bại mọi kẻ tranh luận.

Rồi ngài nhân diện Tiền thân:

- Thời bấy giờ, n ăm vị t à sư đó l à: Puràna Kassapa, Makkhali Gosala, Pakudha Kaccàna, Ajita Kesa-kambali, Nigantha Nàthaputta, con chó màu hung là Ànanda, và khất sĩ Ðại Bồ- đề chính l à Ta.

↑