Chuyện Tiền Thân · Jātaka

JAT-042 · 396. Chuyện Ác Hạnh (Tiền thân Kukku)

Jātaka group 42 · Bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu / Giáo sư Trần Phương Lan. Reader này gom dòng nguồn thành đoạn đọc tự nhiên, nhưng vẫn giữ dữ liệu nguồn để đối chiếu.

Mã kinhjat-042
Số MN42
NguồnBudsas.net
Đối chiếubudsas.net

Chương VII#

Phẩm bảy bài kệ#

396. Chuyện Ác Hạnh (Tiền thân Kukku)#

Cái nóc nhà này cao thước rưỡi...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về việc giáo hóa một
quốc vương. Hoàn cảnh này sẽ xuất hiện trong tiền thân Tesakuna, số 521.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát là quốc sư về
thế sự cũng như thánh sự. Vua ấy đi theo t à
đạo, cai trị bất chánh v à thâu góp tài
sản bằng cách đ àn áp dân chúng. Bồ-tát
muốn khuyến giáo vua, liền đi quanh quẩn t ìm
một ví dụ.
Bấy giờ, nội thất trong cung làm chưa xong, nên mái nhà trên ấy chưa hoàn
chỉnh. Các cây rui chống đỡ nóc nhọn chỉ vừa
mới được đặt v ào đúng vị trí. Vua đ ã
du ngoạn trong ngự viên, khi trở về cung, vua nhìn lên và thấy nóc nhà hình
tròn, sợ nó sẽ rớt xuống, vua bước ra đứng b ên
ngoài, rồi lại nhìn lên và suy nghĩ: "Làm thế nào nóc nhà này
đứng y ên như vậy. Các rui này ra sao? Và
vua liền ngâm vần kệ đầu hỏi Bồ-tát:
1. Cái nóc nhà này cao thước rưỡi,
Tám cây kèo lớn đỡ quây quần
Gỗ sim-sa với s à-ra thẳng,
Bởi vậy nóc nhà đứng vững chăng?
Nghe vậy, Bồ-tát suy nghĩ: "Ta đ ã có
được một ví dụ để khuyến giáo nh à vua".
Ngài liền ngâm các vần kệ sau:
2. Ba mươi rui nhỏ gỗ sa-ra
Ðược xếp đều quanh dưới mái nh à,
Áp sát vào nhau nâng thật vững,
Cho nên nóc đứng thẳng ngay m à.
3. Vậy người có trí được quây quần
Với quốc sư hiền, bạn tận trung,
Sẽ chẳng sa cơ lúc mạt vận,
Như rui đỡ nóc mái thăng bằng.
Trong lúc Bồ-tát đang nói, vua xem xét kỹ h ành
vi xử thế của mình: "Nếu không có nóc nhà thì các cây rui không
đứng vững; nóc nh à cũng không
đứng vững nếu không được các cây rui nâng đỡ.
Nếu các cây rui g ãy thì nóc nhà sụp đổ.
Cũng vậy, một vị vua ác hạnh không tập hợp các thân bằng, đại thần, quân
đội, B à-la-môn và gia chủ lại với nhau, và nếu
đám quần thần tan r ã vua không
được nâng đỡ sẽ mất hết quyền lực, v ì
thế vua phải sống công chính".
Ngay lúc ấy, đám thị nữ đem dâng vua một quả
bưởi. Vua bảo Bồ-tát:
- Này Hiền hữu, hãy ăn bưởi n ày.
Bồ-tát cầm bưởi và thưa:
- Tâu Ðại vương, người nào không biết cách
ăn bưởi sẽ l àm cho nó đắng hoặc cay.
Song người có trí biết cách lấy chất đắng ra, v à không bỏ chất chua,
hoặc làm hỏng hương vị của bưởi khi ăn bưởi.
Rồi dùng thí dụ này, ngài trình bày cho vua biết cách tạo tài sản chân
chánh qua hai vần kệ:
4. Ăn bưởi luôn phần vỏ đắng cay,
Nếu không gọt vỏ với dao n ày,
Chỉ ăn phần ruột l à thơm ngọt,
Nếu thêm vỏ thì hết ngọt ngay.
5. Vậy người có trí chẳng hung tàn
Thâu góp thuế trong các xóm làng,
T ăng sản nghiệp nhưng không phạm tội.
Bước đường chân chánh tạo danh vang.
Vua vừa tham vấn Bồ-tát vừa đi đến hồ sen,
khi nh ìn một hoa sen đang nở có m àu
sáng đẹp như mặt trời mới mọc, không bị nước l àm
ô nhiễm, nhà vua bảo:
- Này Hiền hữu, hoa sen kia mọc thẳng lên không bị nước làm ô nhiễm sắc
hương.
Bồ-tát liền đáp lại:
- Tâu Ðại vương, một vị vua cũng phải như vậy.
Rồi Ngài ngâm các vần kệ này để khuyến giáo:
6. Như hoa sen nở ở trong hồ
Rễ trắng, nước trong bảo dưỡng cho,
Dưới ánh mặt trời hoa nở đẹp
Không hề bụi bặm chẳng b ùn nhơ.
7. Vậy người có đức hạnh đưa đường,
Khéo luyện ôn nhu, đủ thiện lương,
Như đóa sen trong hồ nước ấy,
B ùn nhơ chẳng cấu uế tâm can.
Vua nghe lời Bồ-tát khuyên giáo từ đó về sau
trị nước chân chính v à thực hành các thiện sự, bố thí cùng nhiều
phước nghiệp khác, nên được sinh l ên
thiên giới.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật và nhận diện
Tiền thân:
- Thời ấy, vua là Ànanda và vị quốc sư có trí chính là Ta.
-ooOoo-

397. Chuyện Sư Tử Manoja (Tiền thân Manoja)#

Cung nọ đ ã giương cong vút lên...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Trúc Lâm về một Tỷ-kheo thân
cận bạn ác.
Hoàn cảnh đ ã
được n êu
đầy đủ chi tiết trong tiền thân Mahil àmukhata, số 26. Bậc Ðạo Sư bảo:
- Này các Tỷ-kheo, không phải lần đầu kẻ n ày
thân cận bạn ác.
Rồi Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát là Sư tử sống với
Sư tử cái và hai con, một trai một gái. Sư tử con tên là Manoja. Khi lớn
lên, nó lấy một sư tử cái làm vợ. Như thế cả bầy có n ăm
sư tử.
Manoja thường giết trâu rừng và nhiều dã thú khác, nhờ
đó nó đem thịt sống về nuôi cha mẹ, em v à
vợ. Một hôm trong chỗ s ăn mồi, nó thấy một chó
rừng t ên Giriya không chạy được v à
đang nằm sấp. Nó hỏi:
- Này bạn, sao thế?
- Tâu Chúa công, tôi muốn phục vụ ngài.
- Thế thì tốt.
Sau đó, nó đem chó rừng về hang, Bồ-tát thấy
vậy bảo:
- Này con Manoja, chó rừng là loại độc ác
tham t àn, hay xúi giục điều xấu, đừng
đưa thứ chó n ày về ở gần con.
Song ngài không ng ăn cản được nó.
Thế rồi một hôm, chó rừng muốn ăn thịt ngựa,
liền nói với Manoja:
- Tâu Chúa công, trừ thịt ngựa ra, chúng ta không có gì
ăn cả. Vậy chúng ta h ãy
đi bắt ngựa.
- Song nơi đâu có ngựa thế, bạn?
- Tại Ba-la-nại, cạnh bờ sông.
Manoja nghe lời khuyên này và cùng đi với
chó đến nơi có bầy ngựa tắm dưới sông. Nó bắt một con ngựa, mang tr ên
lưng chạy nhanh về miệng hang. Sư tử cha ăn
thịt ngựa v à bảo:
- Này con, bầy ngựa là tài sản của vua, mà vua chúa thường có nhiều mưu
kế, lại nhiều người thiện xạ bắn cung. Sư tử ăn
thịt ngựa không sống lâu được đâu. Từ r ày con
đừng bắt ngựa nữa.
Sư tử con không theo lời cha khuyên nhủ, cứ tiếp tục bắt ngựa. Vua nghe
có con sư tử đến bắt ngựa, liền bảo l àm
một hồ nước cho ngựa ở trong kinh thành. Song sư tử vẫn
đến bắt ngựa. Vua truyền l àm chuồng ngựa
với máng thức ăn, nước uống đem đến tận nơi cho
chúng. Sư tử nhảy vượt bức tường v à bắt ngựa từ chuồng ra. Vua liền
truyền gọi một xạ thủ có tài bắn nhanh như chớp, hỏi anh ta có thể bắn sư tử
ch ăng. Anh ta tâu có thể, rồi l àm một
tháp canh gần bức tường, nơi sư tử thường đến v à
đợi tại đấy.
Sư tử đến, để chó rừng ở một nghĩa địa b ên
ngoài, còn nó nhảy vào thành bắt ngựa. Người xạ thủ suy nghĩ: "Tốc lực của
sư tử này quá nhanh khi nó đến". Cho n ên
anh ta chưa bắn nó, song khi nó trở về mang theo con ngựa, bị vướng víu vì
gánh nặng kia, người xạ thủ liền bắn một mũi tên nhọn vào phía
đ ùi sau của sư tử. Mũi tên
đâm xuy ên suốt ra phía
đ ùi trước và bay vút lên không. Sư tử
thét lên:
- Ta bị thương rồi!
Sau khi bắn sư tử xong, vị thiện xạ búng dây cung vang lên như sấm. Chó
rừng nghe tiếng sư tử gầm và tiếng cung vang rền, liền suy nghĩ: "Bạn ta
đ ã bị bắn, chắc hẳn phải chết, thôi
chẳng còn tình bạn gì với vật đ ã chết,
ta muốn đi về hang cũ trong rừng kia". Rồi nó
ngâm hai vần kệ:
l. Cung nọ đ ã giương cao vút lên,
Dây cung phát tiếng sấm vang rền,
Ma-no-ja, chúa sơn lâm ấy,
Thân hữu của ta, bị giết liền.
2. Than ôi, ta phải kiếm khu rừng,
Cố sức hết lòng, thật gắng công,
Ta phải tìm về nơi trú ẩn,
Bỗng dưng tình bạn hóa thành không.
Sư tử con chạy vụt về ném xác ngựa trước miệng hang, rồi ngã chết liền.
Thân quyến vội bước ra, thấy mình nó nhuộm đầy
máu từ vết thương chảy xiết, vừa nằm chết v ì
đ ã đi theo
bạn ác. Cha, mẹ, em v à vợ sư tử lần lượt ngâm bốn vần kệ:
Cha:
3. Số phận con ta chẳng thịnh hưng,
Say mê, kết hợp ác thân bằng,
Nhìn Ma-no ấy đang nằm đó
Do bởi lời khuy ên của chó rừng.
Mẹ:
4. Lòng mẹ chẳng vui khi thấy con
Kết giao với bọn ác thân bằng
Nhìn Ma-no ấy đang nằm đó
Máu chảy nhuộm đầy cả tấm thân.
Em:
5. Cũng vậy bước đi kẻ thấp h èn
Trong đời tăm tối phải nằm y ên,
Không hề nghe được lời khuy ên nhủ
Của bạn thật chân, bậc trí hiền.
Vợ:
6. Phần số tệ tàn hơn biết bao
Khi người ở địa vị tr ên cao
Lại tin tưởng bọn người hèn kém,
Nhìn chúa sơn lâm đ ã ngã nhào!
*
Và cuối cùng là vần kệ phát xuất từ Trí tuệ Tối thắng của
đức Phật:
7. Ai theo bọn hạ tầng
Chính nó bị bỏ ruồng;
Ai thân người đồng đẳng
Chẳng hề bị phụ ph àng;
Ai phục người tối thượng
Sẽ mau chóng thịnh hưng.
Vậy tìm người ưu việt
Ðể có chốn nương thân.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Lúc kết
thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo thân cận bạn ác đ ã
được an trú v ào Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, chó rừng là Ðề-bà- đạt-đa, Manoja
l à vị Tỷ-kheo thân cận bạn ác, em gái là Uppalavannà (Liên Hoa Sắc),
vợ của sư tử là Tỷ-kheo-ni Khemà (Thái Hòa), Sư tử mẹ là mẫu thân Ràhula và
Sư tử cha chính là Ta.
-ooOoo-

398. Chuyện Hiếu Tử Sutana (Tiền thân Sutana)#

Vua đ ã gửi ngươi một bát cơm...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo phụng
dưỡng cha mẹ mình. Hoàn cảnh sẽ xuất hiện trong Tiền thân Sàma, số 540.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát
được sinh v ào một gia
đ ình nghèo, cha mẹ
đặt t ên ngài là Sutana. Khi lớn khôn,
ngài làm việc kiếm tiền nuôi cha mẹ, đến thời
cha ng ài qua đời, ng ài phụng
dưỡng mẹ mình.
Thời ấy, vua Ba-la-nại thích s ăn bắn. Một
hôm vua c ùng quần thần đông đảo đi v ào
một khu rừng rộng khoảng một hai đặm, v à
truyền lệnh cho tất cả mọi người:
- Nếu có con nai nào chạy thoát ở điểm canh
giữ của người n ào thì người ấy bị phạt số tiền bằng giá con nai.
Sau khi dựng một túp lều được dấu kín b ên
vệ đường, quần thần dâng nó cho vua d ùng.
Bầy nai bị chấn động v ì tiếng la hét của
đám người bao vây nơi trú ẩn của chúng, rồi một
con nai chạy về địa điểm vua canh giữ. Vua nghĩ thầm "Ta muốn bắn nó" rồi
giương cung l ên. Con vật biết mưu kế
đánh lừa, thấy mũi t ên sắp đến gần sườn
liền ng ã l ăn tr òn như thể trúng
mũi tên. Vua nghĩ: "Ta đ ã bắn trúng nó
và chạy lại bắt nai."
Nhưng con nai vùng lên lao vụt nhanh như gió. Quần thần và mọi người kia
đều cười nhạo vua. Ông liền đuổi theo con nai
cho đến khi nó mệt nho ài thì rút kiếm chặt nó làm
đôi. Rồi kéo con nai l ên một khúc gỗ,
ông khiêng nó lên như cái đ òn gánh, vừa
đi vừa nói: "Ta muốn nghỉ ngơi một lát", ông
đến gần cây đa b ên vệ đường v à
nằm xuống ngủ say.
Một quỷ Dạ-xoa (Yakkha) tên là Makhadeva tái sinh ở cây
đa n ày,
được Thi ên vương Vessavana (Tỳ-sa-môn) cho phép bắt mọi sinh vật nào
đến gần nó để ăn thịt. Khi vua n ày thức
dậy, Dạ-xoa bảo:
- Cứ ở lại đây, ngươi l à món mồi của
ta.
Rồi nó cầm lấy tay vua.
- Ngài là ai? Vua hỏi.
- Ta là Quỷ Dạ-xoa, sinh ra tại đây. Ta bắt
mọi người đến nơi đây để ăn thịt.
Vua lấy hết can đảm hỏi:
- Thế ngài chỉ ăn thịt hôm nay hay ăn m ãi?
- Ta sẽ còn ăn m ãi mọi vật ta bắt
được.
- Thế thì hãy ăn con nai n ày hôm nay
và để ta đi về. Từ ng ày mai ta sẽ gửi
cho ngài một người cùng với một đĩa cơm mỗi ng ày.
- Vậy hãy cẩn thận đấy. Hễ ng ày nào
không gởi ai đến th ì ta sẽ
ăn thịt ngươi.
- Ta là quốc vương ở Ba-la-nại, chẳng có việc gì ta không làm
được cả.
Quỷ Dạ-xoa nhận lời hứa rồi để vua ra về.
Khi vua đến kinh th ành, ông đem chuyện
ấy kể cho vị cận thần nghe v à hỏi những gì cần phải làm.
- Tâu Ðại vương, có hạn kỳ nhất định n ào
không?
- Không.
- Thế thì Ðại vương đ ã tính việc sai
rồi đấy. Nhưng không sao cả. Có rất nhiều t ù
nhân trong ngục.
- Vậy khanh cố sắp đặt việc n ày
để cứu mạng ta.
Vị cận thần đồng ý, mỗi ng ày bắt một
tù nhân từ trong ngục gửi ra cho quỷ Dạ-xoa cùng với một dĩa cơm mà không
nói gì với kẻ ấy cả. Quỷ Dạ-xoa ăn hết cả cơm
lẫn người. Sau một thời gian các ngục thất đều trống vắng. Vua t ìm
không ra người đi đưa cơm, l òng run rẩy
sợ chết. Vị cận thần an ủi ông và bảo:
- Tâu Ðại vương, lòng tham tài sản còn mạnh hơn lòng tham sống. Ta hãy
gói một ngàn đồng tiền đặt tr ên lưng
voi, rồi lấy trống truyền lệnh: "Ai muốn đem
cơm cho quỷ Dạ-xoa v à lãnh số tiền bạc này?".
Vua nghe lời làm theo như vậy. Bồ-tát suy nghĩ: "Ta chỉ làm công
được một xu rưởi mỗi ng ày khó lòng phụng
dưỡng mẹ. Nay ta muốn lấy số tiền kia trao cho mẹ rồi
đi gặp quỷ Dạ-xoa. Nếu ta thắng nó th ì
tốt, còn nếu không thì mẹ ta cũng sống an nhàn sung túc". Vì thế ngài nói
chuyện với mẹ, song bà bảo:
- Mẹ vừa đủ rồi, mẹ không cần tiền bạc.
Rồi bà ng ăn cản ng ài hai lần, nhưng
lần thứ ba, ngài không xin phép mẹ nữa, mà đến
gặp quan quân nói:
- Thưa các quan, hãy đưa ng àn
đồng tiền, tôi nhận mang cơm đ i.
Rồi đưa cho mẹ ng àn
đồng tiền, ng ài bảo:
- Mẹ thân yêu, đừng lo buồn, con sẽ thắng
quỷ Dạ-xoa v à đem hạnh phúc cho mọi
người. Con sẽ trở về nh à khiến cho mẹ
đang khóc than phải cười to l ên đấy.
Rồi chào mẹ xong, ngài cùng quan quân đi yết
kiến vua, rồi kính lễ vua v à đứng tại
đó. Vua hỏi:
- Này, thiện nam tử, cậu muốn đem cơm
à?
- Tâu Ðại vương, phải.
- Thế cậu cần mang theo vật gì bên mình?
- Tâu Ðại vương, đôi h ài bằng vàng
của ngài.
- Tại sao thế?
- Tâu Ðại vương, quỷ Dạ-xoa kia chỉ ăn thịt
kẻ n ào đứng tr ên mặt
đất dưới gốc cây của nó, c òn tiểu tử sẽ
đứng tr ên
đôi h ài, chứ không phải trên mặt đất.
- Thế còn vật gì nữa?
- Tâu Ðại vương, chiếc lọng của ngài.
- Tại sao thế?
- Tâu Ðại vương, quỷ Dạ-xoa kia chỉ ăn thịt
kẻ n ào đứng dưới bóng cây của nó, c òn
tiểu tử đứng dưới bóng chiếc lọng, chứ không
phải bóng cây.
- Thế còn vật gì nữa?
- Tâu Ðại vương, thanh kiếm của ngài.
- Ðể làm gì?
- Tâu Ðại vương, ngay loài quỷ cũng sợ những người mang khí giới trong
tay.
- Thế còn gì nữa ch ăng?
- Tâu Ðại vương, cái bát vàng của ngài, đựng
đầy ngự thiện dâng l ên ngài.
- Này thiện nam tử, tại sao vậy?
- Một người có trí khôn như tiểu tử mà phải
ăn cơm gạo thô trong dĩa đất th ì không thích hợp chút nào.
Vua chấp thuận và sai các quan đem đủ mọi
thứ ng ài đ ã yêu cầu. Bồ-tát thưa:
- Tâu Ðại vương, đừng sợ g ì cả, tiểu
tử nguyện sẽ trở về hôm nay sau khi chiến thắng quỷ Dạ-xoa và
đem lại an lạc cho ng ài.
Thế rồi ngài cầm mọi thứ cần dùng và đi đến
nới ấy, ng ài sắp đặt mọi người đứng
không xa nơi ấy rồi mang đôi h ài vàng vào chân,
đeo thanh kiếm v ào
đai, che chiếc lọng tr ên
đầu v à cầm bát cơm bằng vàng
đến gặp Dạ-xoa.
Quỷ Dạ-xoa nhìn ra đường thấy ng ài
liền suy nghĩ: "Người này đến đây không giống
bọn người đ ã đến trước kia, v ì
duyên cớ gì vậy?".
Bồ-tát đứng gần cây, lấy mũi kiếm đẩy dĩa
cơm v ào dưới bóng cây rồi đứng gần bóng
cây, ngâm vần kệ đầu:
1. Vua đ ã gửi ngài một bát cơm,
Lại thêm thịt nấu thật ngon thơm,
Ma-kha có ở nhà không đấy,
Xin h ãy bước ra nhận để ăn!
Nghe vậy, quỷ Dạ-xoa suy nghĩ: "Ta muốn đánh
lừa nó, rồi sẽ ăn thịt nó khi nó bước v ào bóng cây". Con quỷ liền
ngâm vần kệ thứ hai:
2. Hãy bước vào trong, hỡi cậu trai,
Với cao lương mỹ vị trên tay,
Cả cơm cùng với thân người nữa,
Này cậu, ta xơi tuyệt lắm thay!
Tiếp theo, Bồ-tát đáp hai vần kệ:
3. Dạ-xoa sẽ mất vật to hơn
Ðổi lấy vật này bé con con.
Tất cả mọi người đều sợ chết,
Chẳng c òn ai đến biếu cao lương!
4. Vậy ng ài sẽ được cấp lương cao
Tinh sạch n êm gia vị ngọt ngon.
Song nếu ăn ta, th ì khó kiếm
Một người nào khác đến đem cơm.
Quỷ Dạ-xoa suy nghĩ: "Cậu trai này nói có lý", rồi
đầy thiện ý, nó ngâm hai vần kệ:
5. Su-ta-na, quả thật đúng thay
Mối lợi ta như cậu tỏ b ày,
Hãy trở lại th ăm hiền mẫu nhé,
Ta cho phép cậu bước đi ngay.
6. Lấy gươm, lọng, bát, cậu thanh niên,
Hãy nhắm đường đi, cất bước liền,
Thăm mẹ hiền trong niềm phấn khởi,
Cho b à sống hạnh phúc bình yên.
Nghe lời Dạ-xoa, Bồ-tát hoan hỷ, ngài nghĩ thầm: "Bổn phận ta
đ ã hoàn thành, quỷ Dạ-xoa
đ ã được
chinh phục, ta được hưởng t ài sản và lời hứa của vua
đ ã được
thực hiện". Ng ài liền ngâm vần kệ cuối cùng:
7. Dạ-xoa cùng với mọi thân nhân,
Mong ước toàn gia được phước ân,
Lệnh vua đ ã thực hành viên mãn,
Tài sản ta nay được hưởng phần.
Ngài khuyến giáo quỷ Dạ-xoa và bảo:
- Này bạn, xưa kia bạn đ ã tạo ác
nghiệp, bạn tham tàn độc ác, ăn thịt nhiều
người n ên tái sinh làm quỷ Dạ-xoa. Từ rày về sau
đừng giết hại sinh mạng như vậy nữa.
Thế là ngài nêu rõ mọi công đức nhờ giữ giới
hạnh v à các nỗi khổ đau v ì tạo ác
nghiệp. Rồi an trú quỷ Dạ-xoa vào Ngũ giới, ngài bảo:
- Này, tại sao bạn ở trong rừng? Mau lên, ta sẽ
để bạn cư ngụ cạnh cổng th ành và bảo
đem cao lương mỹ vị đến cho bạn.
Sau đó ng ài ra
đi c ùng quỷ Dạ-xoa, bảo nó cầm kiếm cùng
nhiều vật khác và đến th ành Ba-la-nại.
Quân sĩ báo tin Sutana đ ã trở về cùng
quỷ Dạ-xoa. Vua cùng triều thần đi ra đón
Bồ-tát v à làm chỗ cư trú cho quỷ Dạ-xoa tại cổng thành, rồi sai người
đem cao lương mỹ vị cho nó. Xong vua v ào
thành, lấy trống truyền lệnh hội họp toàn dân trong thành
để tuy ên dương công trạng của Bồ-tát và
phong ngài chức vụ thống lãnh quân đội. C òn
chính vua được an trú v ào lời dạy của
Bồ-tát, thực hành nhiều thiện sự, bố thí và các công
đức khác n ên về sau tái sinh cõi thiên.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Lúc kết
thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo phụng dưỡng mẹ đ ã
đạt Sơ quả (Dự Lưu ).
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, quỷ Dạ-xoa là Angulimàla (Người
đeo v òng ngón tay), vua là Ànanda và hiếu tử kia chính là Ta.
-ooOoo-

399. Chuyện Chim Thứu (Tiền thân Gijjha)#

Làm sao thân lão biết tìm mồi...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo phụng
dưỡng mẹ mình.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát
được sinh l àm chim Thứu (kên kên). Khi
lớn lên, ngài đưa cha mẹ đ ã già và mù
mắt vào ở trong hang thứu và đem thịt quạ c ùng
nhiều loại khác về nuôi hai vị. Thời ấy có một thợ s ăn
đặt bẫy bắt chim thứu quanh nghĩa địa Ba-la-nại.
Một hôm Bồ-tát đi kiếm thịt đến gần nghĩa
địa v à sa chân vào bẫy. Ngài không nghĩ
đến m ình, mà chỉ nhớ đến cha mẹ gi à:
"Giờ đây l àm sao cha mẹ sống
được? Ta chắc hai vị sẽ chết v ì không
biết ta mắc bẫy, sẽ bơ vơ khốn khổ và héo mòn dần trong hang núi ấy". Do vậy
ngài ngâm vần kệ đầu than khóc:
1. Làm sao thân lão biết tìm mồi
Trong chốn hang sâu của núi đồi?
Ta bị buộc chân v ào chiếc bẫy,
Làm nô lệ của Ni-la thôi.
Con trai người thợ s ăn, nghe ng ài
than khóc, liền ngâm vần kệ thứ hai, chim Thứu ngâm vần kệ thứ ba và cứ liên
tiếp xen kẽ như vậy:
Con của thợ s ăn:
2. Chim Thứu, sao chim khóc ỉ ôi,
Tiếng chim đưa đến tận b ên tai,
Ta chưa từng thấy hay nghe được
Chim biết thốt ra tiếng giống người.
Chim Thứu:
3. Ta nuôi phụ mẫu đ ã già rồi
Ở trong hang nọ dưới chân đồi,
L àm sao thân lão tìm mồi được
Khi thứu trở th ành nô lệ người?
Con của thợ s ăn:
4. Kên kên nhìn xác chết đằng xa
Hơn cả một trăm dặm vượt qua,
V ì cớ sao chim không thấy rõ
Lưới kia bẫy nọ thật gần mà?
Chim Thứu:
5. Khi đời sắp đến vận suy t àn,
Thần chết đang đ òi hỏi số phần,
Dù có đứng gần b ên chiếc bẫy,
Cũng không thấy bẫy đặt dây giăng!
Con của thợ s ăn:
6. Thôi hãy về đi với l ão thân
Ở trong hang núi, hãy ch ăm nom,
Về thăm cha mẹ trong an lạc,
Chim được ta cho thỏa ước mong.
Chim Thứu:
7. Hỡi thợ s ăn c ùng cả họ hàng,
Cầu mong hạnh phúc đến nh à chàng!
Ta về với mẹ cha già yếu,
Ch ăm sóc hai thân ở dưới hang.
Sau đó Bồ-tát được giải thoát khỏi nỗi sợ
chết, vui mừng tạ ơn vừa ngâm vần kệ cuối c ùng, vừa ngậm
đầy thịt trong mỏ v à bay về
đưa mồi cho cha mẹ.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo
được an trú v ào Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, người thợ s ăn l à Channa
(Xa-nặc), cha mẹ ta là thân quyến trong hoàng gia và Thứu vương là Ta.
-ooOoo-

400. Chuyện Hoa Cỏ Kusa (Biệt hiệu của Chó rừng - Tiền thân Dabbhapuppha)#

Này bạn A-nu, chạy tới ngay...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về Upananda, một người
của bộ tộc Thích-ca (sakya).
Vị ấy xuất gia theo Giáo-pháp, nhưng lại từ bỏ các hạnh tri túc và những
đức hạnh khác n ên trở thành tham lam.
Ðầu mùa mưa, ông đến ở thử hai ba tinh xá, để
lại một cái d ù hay chiếc hài ở một tinh xá, và một chiếc gậy hay bình
nước ở một tinh xá khác, rồi chính ông đến an
cư ở một tinh xá khác nữa. Ông bắt đầu trú mưa tại một tinh xá ở thôn qu ê
và bảo:
- Chư Tỷ-kheo phải sống tri túc.
Rồi cố ra vẻ như đang l àm cho mặt tr ăng
xuất hiện tr ên trời, ông giải thích pháp môn
đưa đến hạnh tri túc, tán thán đời sống tri túc
với các nhu cầu tối thiểu. Nghe lời ông, Tăng chúng ném bỏ mọi y bát tốt
đẹp, mang bát đất phấn tảo y (y bằng giẻ rách), ông liền đem các thứ kia về
tư thất của m ình. Khi mùa mưa và lễ Tự tứ (Pavàranà)
đ ã xong, ông chất
đầy một xe chở đến Kỳ Vi ên.
Trên đường đi, dừng lại phía sau một tinh xá
trong rừng, ông lấy dây leo quấn hai chân v à nói:
- Chắc chắn có thể kiếm được v ài thứ
ở đây.
Rồi ông đi v ào tinh xá. Có hai
Tỷ-kheo già đ ã an cư mùa mưa ở
đó, họ kiếm được hai tấm y vải thô v à
một chiếc mền lông mịn, rồi chẳng biết phải chia chúng ra sao, họ hoan hỷ
khi thấy ông đến, nghĩ thầm: "Trưởng l ão
này sẽ chia các vật dụng cho hai ta", liền nói:
- Này Hiền giả, chúng tôi không thể chia các y phục dùng cho mùa mưa này
được, chúng tôi có b àn cãi về việc này,
xin Hiền giả chia dùm chúng tôi.
Vị ấy bằng lòng, chia hai tấm y vải thô cho họ, còn ông lấy cái mền, và
bảo họ:
- Vật này dành cho tôi là người biết Giới luật.
Rồi ông bỏ đi. Hai Trưởng l ão này
thích chiếc mền, liền cùng đi với ông đến Kỳ Vi ên
và kể câu chuyện với chư T ăng hiểu biết luật,
rồi hỏi:
- Có đúng l à những vị biết Giới luật
lại cướp bóc tài sản như vậy ch ăng?
T ăng chúng thấy đống y bát do Tỷ-kheo
Upananda đem đến, liền hỏi:
- Này Hiền giả, Hiền giả thật có đại phước
đức, Hiền giả đ ã tạo được nhiều thực
phẩm v à y phục thế kia!
Ông đáp:
- Này các Hiền giả, tôi có phước đức g ì
đâu? Tôi chỉ lấy được các thứ n ày theo
cách như vầy như vầy.
Rồi ông đem mọi chuyện kể ra hết cho mọi
người nghe.
Tại Chánh pháp đường, Tăng chúng n êu
vấn đề thảo luận, bảo nhau:
- Này các Hiền giả, Tỷ-kheo Upananda thuộc bộ tộc Thích-ca, rất tham lam
tài vật.
Bậc Ðạo Sư thấy đề t ài của các vị,
liền bảo:
- Này các Tỷ-kheo, hành vi của Upannanda không phù hợp
để tinh tấn. Khi một Tỷ-kheo giảng giải hạnh
tinh tấn cho người khác th ì trước tiên thì tự mình phải cho phù hợp
rồi mới giáo giới người khác.
Giữ mình đúng mực trước ti ên,
Rồi sau thuyết giảng, bậc hiền vị tha.
Bằng cách ngâm vần kệ Pháp cú này, Ngài giải bày Giáo pháp và nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải Upananda chỉ tham lam lần
đầu, m à xưa kia kẻ ấy cũng
đ ã cướp bóc tài vật của loài khác nữa.
Rồi ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa. khi vua Brahamdatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát làm một Thần
cây bên bờ sông. Một con chó rừng tên Màyàvì, đ ã
có vợ và sống một nơi gần bờ sông. Một ngày kia, vợ nó bảo chồng:
- Này chàng, thiếp có một niềm ao ước, thiếp muốn
ăn cá hồng rohita tươi.
Chó rừng đáp:
- Cứ yên lòng, ta sẽ đem cá tươi về cho n àng.
Rồi nó ra phía con sông, quấn chân bằng dây leo
đi dọc theo bờ. Lúc ấy có hai con rái cá t ên
Gambhìracàri và Anutìracàri đang đứng tr ên
bờ rình bắt cá. Gambhìracàri chợt thấy một con cá hồng rohita lớn, liền nhảy
xuống nước chụp lấy đuôi cá. Con cá quá mạnh v ùng
ra được lôi theo rái cá. Nó liền gọi bạn:
- Con cá này to lắm, vừa đủ cho hai ta.
Rồi nó ngâm vần kệ đầu:
1. Này bạn A-nu, chạy tới ngay,
Ta cầu khẩn bạn giúp ta đây,
Ta vừa bắt cá n ày to lớn,
Song nó kéo ta mạnh thế này!
Nghe vầy, con kia ngâm vần kệ thứ hai:
2. Gam-bhi, bạn tốt số dường nào!
Móng vuốt bạn cầm vững mạnh sao!
Chẳng khác đại b àng câu rắn nước,
Ta câu cá nọ nhấc lên cao!
Sau đó cả hai rái cá kéo con cá hồng rohita
đặt xuống đất v à cắn nó chết xong, lại bảo nhau:
- Bạn chia cá ra nào.
Rồi chúng cãi nhau nhưng không chia cá được
phải ngồi xuống, v à để cá nằm đó. Lúc ấy
chó rừng vừa bước tới chỗ ấy. Thấy chó, cả hai đều ch ào rất lễ phép
và nói:
- Thưa Tôn ông có lông màu cỏ xám, con cá này do hai chúng tôi bắt
được, rồi sinh chuyện c ãi nhau vì chúng
tôi không biết cách chia cá. Xin Tôn ông chia cá
đều hai phần d ùm cho.
Rồi chúng ngâm vần kệ thứ ba:
3. Một cuộc tranh giành giữa chúng tôi
Tôn ông mang áo xám kia ôi!
Xin ông ổn định d ùm tranh chấp
Cho thật công bằng giữa cả đôi.
Chó rừng nghe vậy, liền tự xưng anh hùng qua vần kệ:
4. Ta đ ã giải phân lắm cạnh tranh
Làm xong sứ mạng thật hòa bình,
Chư Tôn hãy để điều tranh chấp
Tại hạ công b ình ổn định nhanh.
Ngâm vần kệ xong, chó chia cá và ngâm thêm vần kệ này:
5. A-nu, hãy lãnh phần đuôi,
C òn chú Gam-bhì, thủ cấp rồi,
Phần giữa dành cho ta xử kiện,
Trả công xứng đáng thế n ày thôi!
Như vậy, sau khi chia cá xong, chó rừng bảo:
- Các ông ăn đầu đuôi cá chứ đừng c ãi
nhau nữa.
Rồi ngậm khúc giữa vào mồm, nó chạy bay trước mắt cặp rái cá. Chúng ngồi
ủ rũ, như thể vừa mất cả ngàn đồng tiền, rồi
ngâm vần kệ thứ sáu:
6. Nếu không tranh cãi chuyện vừa rồi,
Chắc chắn là vừa đủ cá thôi,
Nay bị chó rừng mang hết thịt,
Chỉ c òn để lại khúc đầu đuôi!
Chó rừng rất hài lòng, nghĩ thầm: "Nay ta
đem cá hồng rohita về cho vợ ta", rồi nó đi t ìm vợ. Chó cái thấy nó
đến, liền đon đả ch ào mừng và ngâm vần
kệ:
7. Như vua mãn nguyện được cầm quyền
Thâu gọn giang sơn trị nước y ên,
Mãn nguyện ta nhìn chàng trở lại,
Ngậm đầy trong mỏ cá tươi nguy ên!
Rồi nó hỏi chó rừng cách nào kiếm được mồi
ngon qua vần kệ:
8. Chàng vốn sinh ra ở đất bằng,
L àm sao bắt cá giữa dòng sông?
Phu quân, chàng lập kỳ công ấy,
Cho biết vì sao, thiếp ước mong.
Chó rừng ngâm vần kệ giải thích phương cách ấy cho vợ nghe:
9. Vì cạnh tranh nên chúng yếu dần,
Cạnh tranh làm chúng phải suy tàn,
Cạnh tranh, rái cá mất phần hưởng,
Vì vậy Mà-yà được miếng ngon.
*
Và một vần kệ khác nữa xuất phát từ Trí tuệ Tối thắng của
đức Phật:
10. Cũng vậy, tranh giành giữa thế nhân,
Tìm người xử kiện: nó chia phần,
Gia tài của chúng suy tàn hết,
Công khố nhà vua được thịnh hưng.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các sự thật và nhận diện
tiền thân:
- Thời ấy, chó rừng là Upananda, hai con rái cá là hai người kia, và Thần
cây chứng kiến câu chuyện chính là Ta.
-ooOoo-

401. Chuyện Người Nuốt Lưỡi Kiếm (Tiền thân Dasanaka)#

Bảo kiếm Da-san thích máu hồng...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về âm mưu quyến rủ một
Tỷ-kheo do người vợ cũ gây ra.
Tỷ-kheo ấy thú nhận đ ã thối thất vì
lý do này. Bậc Ðạo Sư bảo:
- Nữ nhân ấy đ ã làm hại ông. Thời xưa
ông cũng đ ã suýt chết vì tương tư kẻ ấy.
Về sau nhờ các bậc trí ông được cứu sống lại.
Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi Ðại vương Maddava trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát
được sinh l àm con một gia
đ ình Bà-la-môn. Cha mẹ
đặt t ên ngài là nam tử Senaka. Khi lớn
lên, ngài đi học mọi nghệ thuật tại Takkasil à,
và khi về Ba-la-nại Ngài trở thành quốc sư của vua Maddava về thế sự cũng
như thánh sự. Ngài được danh hiệu bậc Hiền trí
Senaka v à được cả kinh th ành sùng
kính như mặt tr ăng, mặt trời.
Thời ấy con trai của vị tế sư hoàng gia đến
yết kiến vua, thấy b à chánh hậu trang
điểm ngọc v àng cực kỳ diễm lệ, đâm ra si
t ình, khi về nhà chẳng chịu ăn uống g ì
cả, cứ nằm dài ra. Bạn hữu liền hỏi th ăm v à
chàng trai kể hết mọi chuyện. Vua hỏi:
- Con trai của vị tế sư hoàng gia không đến,
việc n ày là thế nào?
Khi nghe duyên cớ, vua cho gọi chàng trai vào và bảo:
- Trẫm trao hoàng hậu cho cậu trong bảy ngày, cứ ở nhà cậu bảy ngày ấy
xong, qua ngày thứ tám, cậu trả lại nàng cho ta.
- Thế thì tốt lắm, tâu Ðại vương.
Chàng trai đáp rồi đem ho àng hậu về
nhà thọ hưởng lạc thú với nàng. Hai người đâm
ra say m ê nhau, và bí mật trốn khỏi nhà chạy sang một xứ khác, không
ai biết họ đi đâu v à
đường đi của họ chẳng khác n ào
đường của con t àu trên biển cả.
Vua truyền đánh trống thông báo khắp kinh th ành,
nhưng dù đ ã tìm mọi nơi, họ vẫn không
thấy nàng đ ã
đến đâu cả. Sau đó nỗi đau buồn khủng khiếp v ì
thiếu nàng xâm chiếm trọn tâm can vua. Tim ông bừng nóng rực và trào máu ra
ngoài! Tiếp theo đó, máu từ ruột gan chảy ra
khiến bệnh trầm trọng th êm. Các ngự y tài danh
đều không thể chữa trị được đ ành bó tay.
Bồ-tát suy nghĩ: "Bệnh này không phải do nội thân vua, mà do vua mắc tương
tư vì không thấy hoàng hậu. Ta thử dùng vài phương cách chữa trị xem sao.
"Ngài liền gọi hai quốc sư hiền trí của vua là Àyura và Pukkusa vào bảo:
- Ðức vua không có bệnh gì, ngoại trừ tâm bệnh chỉ vì ngài không thấy
hoàng hậu đó thôi. Giờ đây ng ài là bậc
cứu hộ cao cả đối với thần dân. Ta quyết t ìm
mọi cách trị bệnh ngài. Ta muốn triệu tập một
đám quần chúng v ào sân chầu và bảo một người biết xảo thuật nuốt lưỡi
kiếm sắc biểu diễn việc này. Ta sẽ đưa Ho àng
thượng ra cửa sổ nhìn xuống đám đông. Ng ài
sẽ nhìn người nuốt lưỡi kiếm và hỏi: "Có việc gì khó hơn thế ch ăng?".
Lúc ấy, n ày Tôn giả Àyura, xin hãy đáp:
"Nói: Ta sẽ từ bỏ vật n ày vật kia, còn khó hơn nữa". Sau
đó ng ài sẽ hỏi Tôn giả Pukkusa, và Tôn
giả cần phải trả lời: Tâu Ðại vương, nếu một người nói: "Ta từ bỏ vật này
vật kia", rồi lại không bỏ nó được, th ì
lời nói đó sẽ vô ích thôi. Không ai sống hay
uống ăn bằng những lời như vậy, nhưng người n ào hành
động theo lời nói v à
đem cho một vật đúng theo lời hứa th ì
chính họ làm được một việc khó hơn việc kia nữa
đấy". Sau đó ta sẽ t ìm cách tiến hành mọi sự tiếp theo.
Thế là ngài bảo tập họp một đám đông. Rồi ba
bậc trí nhân ấy v ào trình vua:
- Tâu Ðại vương, có đám đông trong sân chầu.
Nếu ai nh ìn xuống đó đổi sầu l àm
vui. Vậy xin Ðại vương hãy cùng chúng thần đến
đó xem sao.
Ba vị rước vua đến hé mở cửa sổ cho vua nh ìn
thấy đám đông. Nhiều người lần lượt biểu diễn
các xảo thuật m à mình biết. Sau cùng có một người nuốt lưỡi kiếm sắc
cạnh dài ba mươi ba phân (33 phân Anh: khoảng 80 cm).
Vua thấy vậy suy nghĩ: "Người này đang nuốt
lưỡi kiếm, ta muốn hỏi các bậc trí nhân n ày xem có việc gì khó hơn
không?"
Rồi vua ngâm vần kệ đầu hỏi Àyura:
1. Bảo kiếm Da-san thích máu hồng,
Cạnh đều sắc nhọn thật ho àn toàn,
Giữa đông người, nó ăn thanh kiếm,
Chẳng có việc n ào khó nữa ch ăng?
Ta hỏi có g ì đem sánh được
Nhờ khanh giải đáp, hởi hiền nhân.
Àyura ngâm vần kệ thứ hai đáp lời:
2. L òng tham dụ kẻ nuốt thanh gươm,
Cho dẫu lưỡi gươm bén thập toàn,
Song nói: "Ta cho, lòng tự nguyện"
Là điều khó thực hiện vô c ùng,
Mọi điều g ì khác
đều không khó,
Ðại đế Kiệt-đ à, tôi giải phân.
Khi vua nghe lời Àyura, ông liền suy nghĩ: "Thế thì bảo: "Ta cho vật này"
còn khó hơn nuốt thanh kiếm. Vậy ta đ ã
nói: "Ta ban hoàng hậu cho con trai tế sư", tức là ta
đ ã làm một việc rất khó". Nhờ thế nỗi
đau buồn trong tâm vua lắng dịu được một chút.
Rồi suy nghĩ: "Có g ì khó hơn nói: "Ta cho người khác vật này" ch ăng?",
ông lại ngâm vần kệ thứ ba nói chuyện với Trí giả Pukkusa:
3. Ày-ra đ ã giải
đáp lời ta,
Trí tuệ cao si êu quả thật là,
Ta hỏi giờ đây câu nữa nhé:
C òn gì khó nữa hỡi, Pusk-sa,
Nếu đem so sánh điều tr ên ấy,
Hiền giả, xin mời giải đáp ta.
Trí giả Pukkusa ngâm vần kệ thứ tư đáp lại:
4. Người ta không sống được bằng lời,
Lời nói thốt ra uổng phí thôi,
Song nếu đem cho không tiếc nuối,
Việc n ày còn khó bội hơn rồi.
Mọi điều g ì khác
đều không khó,
Ðại đế, đây lời đáp của tôi.
Vua nghe vầy, suy nghĩ: "Trước tiên ta nói: "Ta sẽ
đem ho àng hậu ban cho con trai tế sư",
rồi ta đ ã làm theo lời hứa và
đem cho n àng. Hiển nhiên ta
đ ã làm một việc rất khó". Do vậy, nỗi
sầu của vua giảm bớt phần nào. Rồi ông chợt nghĩ: "Không có ai thông thái
hơn Trí giả Senaka. Ta muốn hỏi vị ấy câu này".
Ông liền ngâm vần kệ thứ n ăm hỏi ng ài:
5. Puk-sa đ ã giải
đáp lời ta,
Trí tuệ cao si êu quả thật là.
Ta hỏi giờ đây câu nữa nhé:
C òn gì khó nữa, hỡi Sen-ka,
Nếu đem so sánh điều tr ên ấy,
Hiền giả xin mời giải đáp ta.
Senaka ngâm vần kệ thứ sáu đáp lời vua:
6. Nếu người có của đ ã
đem cho
Bất luận l à gì, dẫu nhỏ to,
Ðừng tiếc nuối sau khi bố thí,
Việc này quả thật khó hơn mà,
Mọi điều g ì khác
đều không khó,
Xin đáp Ðại vương Ma-kiệt- đ à.
Vua nghe lời Bồ-tát, lại suy nghĩ: "Ta đ ã
đem ho àng hậu ban cho con trai tế sư do
ta tự nguyện, nay ta lại không kiềm nỗi ưu tư, ta sinh phiền não, héo mòn:
thật không xứng đáng với ta. Nếu n àng
thương yêu ta thì nàng đ ã không bỏ vương
quốc mà chạy trốn như vậy. Ta còn phải liên hệ gì với nàng
đ ã không yêu thương ta và bỏ trốn
đi?".
Trong lúc vua suy nghĩ như vậy, mọi sầu não
đều rơi rụng hết như giọt nước đổ tr ên lá sen, lập tức tâm vua
được b ình an. Ông hồi phục sức khỏe và
an lạc ngâm vần kệ cuối cùng tán thán Bồ-tát:
7. Ày-ra giải đáp lời ta,
Thế rồi Hiền giả Puk-sa cũng vầy,
Lời Sen-ka quả thật hay,
Trong ba lời giải lời n ày tối ưu.
Sau khi tán thán, vua hoan hỷ ban thưởng ngài nhiều vàng bạc châu báu.
*
Khi pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các sự thật. Khi các sự thật kết thúc, vị Tỷ-kheo thối thất
đ ã được an
trú v ào Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, hoàng hậu là người vợ cũ, vua là là Tỷ-kheo thối thất, Àyura
là Moggallàna, Pukkusa là Sàriputta và Hiền giả Senaka chính là Ta.
-ooOoo-

402. Chuyện Túi Da#

Đựng Bánh (Tiền thân Sattubhasta)
Tâm tư lão rối loạn, ưu phiền...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về sự Viên mãn của Trí
tuệ Tối thắng. Hoàn cảnh chuyện này sẽ xuất hiện trong tiền thân
Mahà-Ummagga, số 546.
*
Ngày xưa có vị vua tên là Janaka trị vì ở Ba-la-nại. Thời ấy Bồ-tát
được sinh v ào một gia
đ ình Bà-la-môn, cha mẹ
đặt t ên ngài là nam tử Senaka. Khi lớn
lên, ngài theo học các nghệ thuật tại Takkasilà rồi trở về Ba-la-nại yết
kiến vua. Vua phong cho ngài chức vụ đại thần v à
ban cho ngài đại vinh hiển.
Ngài dạy vua về thế sự lẫn thánh sự. Là người thuyết Pháp khả ái, ngài an
trú vua vào Ngũ giới, bố thí và hành trì trai giới và Thập thiện
đạo, như vậy tức l à an trú vua vào chánh
hạnh. Toàn quốc độ được ở cảnh như thời có chư
Phật xuất hiện. V ào các ngày trai giới nửa tháng một lần, nhà vua,
các phó vương, cận thần đều tụ tập v à
trang hoàng phòng họp.
Bồ-tát thuyết Pháp trong một giảng đường tôn
nghi êm trên bảo tọa bọc da nai, với uy lực của một vị Phật, lời ngài
dạy chẳng khác gì lời dạy của chư Phật.
Thời ấy có một Bà-la-môn già nua, xin tiền bố thí
được một ng àn
đồng, để d ành trong một gia
đ ình Bà-la-môn, rồi lại làm hành khất
thêm nữa. Khi ông ra đi, gia đ ình nọ
tiêu hết cả tiền. Sau đó ông trở lại đ òi
số tiền. Vì gia chủ không có tiền trả, nên gả con gái cho ông làm vợ. Vị
Bà-la-môn già đem n àng về cư ngụ trong
một làng Bà-la-môn không xa Ba-la-nại. Vì cô vợ còn trẻ nên không thỏa mãn-
tham dục và phạm tà hạnh với một Bà-la-môn trẻ.
Ở đời có mười sáu việc không thể n ào
thỏa mãn. Ðó là mười sáu việc gì? - Biển không thỏa mãn với các dòng sông,
lửa không thỏa mãn với nhiên liệu, vua không thỏa mãn với quốc
độ, kẻ ngu không thỏa m ãn với ác nghiệp,
nữ nhân không thỏa mãn với ba việc ân ái, nữ trang và sinh con, Bà-la-môn
không thỏa mãn với thánh kinh, bậc trí không thỏa mãn với Thiền
định, bậc hữu học không thỏa m ãn với
danh vọng, người ly tham không thỏa mãn với khổ hạnh, người tinh tấn không
thỏa mãn với nỗ lực, người hay nói không thỏa mãn với chuyện trò, nhà chính
trị không thỏa mãn với hội nghị, người mộ đạo
không thỏa m ãn với việc phục vụ Giáo hội, người thích bố thí không
thỏa mãn với việc bố thí, người đa văn không
thỏa m ãn với việc nghe Pháp, tứ chúng không thỏa mãn với việc yết
kiến đức Phật.
Vì thế nữ nhân Bà-la-môn này không thỏa mãn việc ân ái, muốn
đẩy chồng đi xa v à phạm tà dục một cách
táo bạo. Một ngày kia, cô ả nằm dài theo gian kế
đ ã dự trù. Khi ông chồng hỏi:
- Nàng ơi, nàng làm sao thế?
Cô ả đáp:
- Chàng Bà-la-môn ơi, thiếp không thể làm việc nhà chàng
được nữa, phải kiếm một nữ tỳ.
- Nàng ơi, ta không có tiền, vậy ta sẽ lấy gì
để mua nữ tỳ chứ?
- Chàng hãy làm hành khất kiếm tiền mà thuê nữ tỳ.
- Thế nàng hãy sắp đặt v ài vật
để ta l ên
đường.
Cô ả đặt v ào túi da
đủ các thứ bột bánh đ ã nướng và chưa
nướng xong trao cho lão. Lão Bà-la-môn đi qua
mọi thôn l àng thành thị, kiếm được bảy
trăm đồng, nghĩ thầm: "Số tiền n ày đủ để
mua gia nô nữ tỳ rồi", l ão liền trở về làng.
Ðến một địa điểm thuận tiện, để uống nước, l ão
mở túi xách ăn một ít bánh nướng, rồi đi uống
nước m à không buộc miệng túi. Lúc ấy một con rắn hổ trong thân cây
rỗng, ngửi mùi bánh bò vào túi nằm cuộn tròn ăn
bánh. L ão trở lại, không nhìn vào túi, cứ buộc túi lại và vác lên vai
ra đi.
Lúc ấy một vị Thần cây ngồi trên bộng thân cây ấy
đến bảo cho l ão biết trên
đường đi:
- Này Bà-la-môn, nếu lão dừng lại trên
đường, l ão sẽ chết; còn nếu lão về nhà thì vợ lão sẽ chết
đấy.
Xong vị thần biến mất. Lão nhìn quanh, không thấy vị thần nên lòng kinh
hoảng vì sợ chết, vừa đi đến cổng th ành
Ba-la-nại vừa khóc than.
Hôm ấy vào ngày rằm trai giới, ngày Bồ-tát thuyết Pháp,
đang ngồi tr ên bảo tọa trang nghiêm và
một đám đông đem hương hoa đủ loại đến từng đo àn
nghe thuyết Pháp. Lão Bà-la-môn hỏi:
- Các người đi đâu thế?
Họ đáp:
- Này lão Bà-la-môn, hôm nay bậc Trí giả Senaka thuyết Pháp với giọng êm
dịu và oai lực của một vị Phật. Lão không biết ư?
Lão suy nghĩ: "Họ bảo ngài là một bậc thuyết Pháp hiền trí, còn ta
đang lo âu sợ chết, các bậc trí có khả năng
diệt trừ các đại phiền n ão, vậy ta nên
đến đó nghe Pháp".
Vì thế lão cùng đi với họ; khi quần chúng v à
vua đ ã ngồi chung quanh Bồ-tát, lão
đứng b ên ngoài, không xa pháp tọa, với
túi thức ăn tr ên vai và lòng sợ chết.
Bồ-tát thuyết giảng chẳng khác nào ngài đang
đưa cả dải thi ên hà xuống trần giới hay
đổ trận mưa đầy thực phẩm thi ên giới cho
đời.
Quần chúng vô cùng hoan hỷ tán thưởng, lắng tai nghe Pháp. Các bậc trí
thường nhìn xa thấy rộng. Vào lúc ấy Bồ-tát mở
đôi mắt có đủ năm vẻ đẹp nh ìn khắp Hội chúng, thấy vị Bà-la-môn, liền
nghĩ: "Cả Hội chúng đông đảo n ày tràn
ngập hân hoan nghe Pháp và tán thưởng, chỉ trừ một Bà-la-môn ủ rũ khóc lóc.
Chắc hẳn phải có nỗi sầu tư nào trong lòng khiến lão tuôn lệ. Cũng giống như
tẩy rỉ sét với chất chua, hay làm một giọt nước rơi khỏi lá sen, ta sẽ
thuyết Pháp cho lão giải sầu và an vui tâm trí". Vì thế ngài gọi lão:
- Này lão Bà-la-môn, ta là trí giả Senaka, nay ta muốn giải mối sầu cho
lão, hãy bạo dạn nói ra đi.
Ngài ngâm vần kệ đầu hỏi l ão:
1. Tâm tư lão rối loạn, ưu phiền,
Nước mắt chảy là cớ hiển nhiên,
Lão mất gì, vào đây muốn kiếm
Thứ g ì? Hãy nói rõ ngay liền.
Sau đó, B à-la-môn ngâm vần kệ bày tỏ
duyên cớ nỗi sầu:
2. Vợ chết, nếu tôi trở lại nhà,
Còn không, tôi sẽ hóa ra ma,
Ðiều này làm trái tim đau nhói,
Xin giải vấn đề, hỡi Sen-ka.
Nghe vị Bà-la-môn nói, Bồ-tát bủa gi ăng tấm
lưới tri kiến như ném lưới v ào biển cả, và suy nghĩ: "Có nhiều nguyên
nhân gây tử vong ở đời n ày: một số chết
chìm ngoài biển, hoặc bị loài cá dữ ăn thịt,
một số rơi xuống sông Hằng, hay bị cá sấu vồ, một số khác rơi từ cây xuống
hay bị gai nhọn đâm, một số bị khí giới loại đánh v ào người, một số
khác ăn nhằm chất độc, bị treo cổ hay rớt xuống
vực sâu, chết cóng v ì giá buốt, hay các loại bệnh tấn công. Nay giữa
mọi duyên cớ ấy, lão Bà-la-môn này phải chết vì cớ nào nếu lão ở nán lại
trên đường đi hôm nay, hoặc vợ l ão phải
chết nếu lão về nhà?".
Trong lúc suy xét, ngài thấy cái túi trên vai lão và nghĩ: "Chắc hẳn có
con rắn chui vào túi, có lẽ vì nó đ ã
nghe mùi bánh khi lão ăn sáng v à
đi uống nước m à quên buộc miệng túi
xách. Sau khi uống nước xong, lão Bà-la-môn trở lại và có lẽ
đ ã tiếp tục lên
đường sau khi buộc túi v à cầm túi lên mà
không thấy con rắn bò vào. Nếu lão ở nán lại trên
đường, đến tối l ão sẽ tự nhủ lúc dừng
chân: "Ta muốn ăn bánh". Rồi mở túi ra, l ão
sẽ đặt tay v ào, con rắn sẽ cắn tay lão
gây tử vong. Ðây chính là nguyên nhân lão sẽ chết nếu ở lại trên
đường. Nhưng nếu l ão về nhà, túi ấy sẽ
đến tay vợ l ão, bà ta sẽ nói: "Ta muốn
xem đồ đạc b ên trong", rồi bà ta mở túi
ra và đặt tay v ào, con rắn sẽ cắn bà ta
bỏ mạng. Ðây chính là nguyên nhân vợ lão chết nếu lão về nhà hôm nay". Ngài
biết được điều n ày do trí của ngài tinh
xảo về mọi phương tiện.
Lúc ấy ngài lại suy nghĩ: "Ðây chắc hẳn là con rắn hổ
đen, táo bạo, không hề biết sợ, n ên khi
cái túi da đập v ào sườn lão Bà-la-môn,
nó chẳng nhúc nhích hay run rẩy gì cả. Nó cũng không tỏ dấu hiệu là nó
đang có mặt tại Hội chúng đông đảo n ày,
do đó nó phải l à con rắn hổ
đen bạo dạn, không biết sợ".
Từ tri kiến tinh xảo các phương tiện, ngài biết
điều n ày như thể ngài chứng kiến với
thiên nhãn. Như vậy Ngài chẳng khác nào một người
đứng gần đó nh ìn con rắn bò vào túi, rồi
quyết định sự việc bằng trí kiến tinh xảo của
ng ài. Bồ-tát ngâm vần kệ thứ ba đáp câu
hỏi của vị B à-la-môn ngay giữa hội chúng triều
đ ình:
3. Suy xét mọi nghi hoặc trước tiên,
Nay ta tuyên bố sự đương nhi ên:
La-môn, trong túi đồ ăn ấy
Ðã lẻn chui vào rắn hổ đen!
Nói vậy xong, Ngài hỏi:
- Này lão Bà-la-môn, có thứ bánh nào trong túi xách của lão ch ăng?
- Thưa Trí giả, có.
- Thế lão có ăn bánh lúc điểm tâm sáng nay
chăng?
- Thưa Trí giả, có.
- Thế lão đ ã ngồi
đâu?
- Ở trong rừng, dưới một gốc cây.
- Thế khi lão ăn bánh xong v à
đi uống nước, l ão có buộc miệng túi lại
hay không?
- Thưa Trí giả, tôi không buộc.
- Khi lão đ ã uống nước và trở về, lão
có buộc miệng túi sau khi nhìn vào trong không?
- Thưa Trí giả, tôi buộc miệng túi mà không nhìn vào trong.
- Này lão Bà-la-môn, khi lão đi uống nước,
ta chắc l à con rắn đ ã lẻn vào túi
do ngửi mùi bánh mà lão không biết: đấy l à
trường hợp này. Vậy lão mau đặt túi xuống, để
ngay giữa Hội chúng v à mở miệng túi ra. Lấy gậy
đập v ào túi, rồi lão sẽ thấy con rắn hổ
đen b ò ra với chiếc mào giương rộng và
rít lên. Lão sẽ hết hồ nghi. Ngài lại ngâm vần kệ thứ tư:
4. Cầm gậy đập l ên chiếc túi dày,
Im hơi, hai lưỡi chính con này,
Trí ông hết rối vì nghi hoặc,
Mở túi, rồi ông thấy rắn ngay!
Vị Bà-la-môn làm theo lời Bồ-tát bảo, mặc dù lão hết sức kinh hoàng chấn
động. Con rắn b ò ra khỏi túi khi
đầu nó bị chiếc gậy đánh trúng, v à nó
dừng lại nhìn mọi người.
*
Bậc Ðạo Sư ngâm vần kệ thứ n ăm giải thích
vấn đề:
5. Kinh hãi, lão ra giữa đám đông,
Mở dây chiếc túi đựng đồ ăn,
Một con rắn hổ b ò hung dữ,
Kiêu hãnh giương cao cả chiếc mồng!
Khi con rắn bò ra với chiếc mồng giương cao,
đó l à điềm báo hiệu Bồ-tát sẽ l à
vị Phật Chánh Ðẳng Giác. Ðám đông bắt đầu vẫy
khăn v à búng tay hàng ngàn người, bảy báu vật
được ném tung ra như thể mưa r ào, hàng
ngàn tiếng hô: "Tốt lành thay!" vang dậy, ồn ào như
đất lỡ.
Lời giải đáp một câu hỏi như vậy do uy lực
của một bậc Giác Ngộ chứ không phải nhờ nguồn gốc sinh trưởng, cũng không
phải uy lực của người gi àu sang danh vọng. Vậy
đó l à uy lực gì?- Chính là uy lực của
tri kiến. Người có tri kiến làm trí tuệ t ăng
trưởng, mở rộng cánh cửa đi v ào các Thánh
đạo, chứng đắc Niết-b àn bất tử tối
thượng và thành tựu viên mãn các quả vị Thanh v ăn,
Ðộc giác và Chánh Ðẳng Giác: Tri kiến là
điều tối thắng giữa các đức tính đưa đến Niết-b àn bất tử tối thượng.
Mọi thành phần khác đều l à phụ thuộc.
Do vậy có câu tục ngữ:
6. Người thiện bảo tri kiến tối ưu
Như tr ăng đi giữa các v ì sao,
Tiền tài, đức hạnh, l òng công chánh,
Là các nô tỳ bậc trí cao.
*
Khi câu hỏi đ ã
được Bồ-tát giải đáp xong, một người nhử rắn l àm
một chiếc kh ăn bịt miệng rắn rồi đến chụp lấy
nó v à đem thả v ào rừng.
Vị Bà-la-môn đi đến yết kiến vua, kính ch ào
xong, lại ngâm nửa vần kệ tán tụng vua:
7. Chúa thượng Jan-ka, lợi lạc thay,
Ðại vương có bậc trí nhân này.
Sau khi ca tụng vua, lão cầm bảy tr ăm đồng
tiền trong túi ra, vừa tán thán Bồ-tát, vừa ngâm một vần kệ rưởi b ày
tỏ ước muốn bố thí trong niềm hoan hỷ:
Trí ngài đáng sợ, hồ nghi biến,
Trước mắt ng ài nhìn thấu suốt ngay.
8. Này đây có cả bảy trăm đồng,
Xin nhận lấy ngay vật hiến dâng,
V ì chính nhờ ngài, tôi được sống
C ùng nguồn an lạc của thân nhân.
Nghe vầy, Bồ-tát ngâm vần kệ thứ chín:
9. Bậc trí không dùng vật cúng dâng
Chỉ vì các khúc kệ ca ngâm,
Tốt hơn, ta tặng luôn tiền ấy
Trước lúc lão về lại cố hương.
Nói vậy xong, Bồ-tát đưa trọn số tiền trả
lại vị B à-la-môn và hỏi:
- Ai bảo lão đi kiếm số tiền n ày?
- Thưa Trí giả, chính tiện nội.
- Thế hiền nội già hay trẻ?
- Thưa Trí giả, tiện nội còn trẻ.
- Thế thì cô ả đang phạm t à hạnh với
kẻ khác, nên đ ã bảo lão
đi xa v ì nghĩ cần phải hành
động như thế cho an to àn. Nếu lão
đem số tiền n ày về nhà, cô ả sẽ
đem cho t ình nhân số tiền do lão khổ
công kiếm được. Vậy l ão không nên về nhà
ngay, mà phải để số tiền ngo ài thành
phố, dưới gốc cây đâu đó.
Nói xong ngài bảo lão ra đi.
Khi lão đến gần l àng, lão chôn tiền
vào một gốc cây, và về đến nh à lúc chiều
tối. Lúc ấy vợ lão đang ngồi với t ình
nhân. Vị Bà-la-môn đứng ở cửa gọi to:
- Nàng ôi!.
Cô ả nhận ra tiếng lão, vội tắt đ èn
và ra mở cửa. Khi lão đ ã vào trong, cô ả
dẫn kẻ kia ra cửa, rồi trở vào nhà, chẳng thấy món gì trong túi, liền hỏi:
- Này chàng Bà-la-môn, chàng kiếm được của
bố thí g ì trên đường đi thế?
- Một ngàn đồng tiền.
- Thế tiền đâu rồi?
- Nó được chôn ở chốn nọ, nhưng đừng lo, ng ày
mai ta sẽ đi lấy nó.
Cô ả liền đi báo cho t ình nhân biết.
Hắn đến đó lấy tiền ngay như thể t ài sản
của hắn vậy. Hôm sau, vị Bà-la-môn đến nhưng
không thấy tiền đâu, liền đi t ìm Bồ-tát, ngài hỏi:
- Này lão Bà-la-môn, có việc gì thế?
- Thưa Trí giả, tôi không thấy tiền đâu cả.
- Thế lão có nói cho vợ biết ch ăng?
- Thưa Trí giả, có.
Biết là cô vợ đ ã báo cho tình nhân
rõ, Bồ-tát bảo:
- Này lão Bà-la-môn, thế có vị Bà-la-môn nào là bạn của vợ lão không?
- Thưa Trí giả, có.
Lúc ấy bậc Ðại Sĩ truyền người đem đến một
số tiền đủ chi phí trong bảy ng ày để cho
l ão và dặn:
- Hãy ra về, và hai vợ chồng lão hãy đ ãi
tiệc mời mười bốn vị Bà-la-môn đầu ti ên,
gồm bảy người bạn lão và bảy người bạn của vợ lão. Rồi từ
đó về sau cứ mỗi ng ày bớt một vị khách
cho đến ng ày thứ bảy, lão chỉ mời một
Bà-la-môn và vợ lão mời một. Khi ấy nếu lão thấy vị Bà-la-môn
được vợ l ão mời vào ngày thứ bảy ấy
đ ã đến các
lần trước, th ì hãy báo cho ta.
Lão Bà-la-môn làm theo lời ngài, rồi đến tr ình
Bồ-tát:
- Thưa Trí giả, tôi đ ã nhận thấy vị
Bà-la-môn luôn luôn đến l àm thực khách
của nhà tôi.
Bồ-tát sai người đi theo l ão,
đem vị B à-la-môn ấy
đến v à hỏi:
- Có phải anh lấy một ngàn đồng tiền của l ão
này dấu ở dưới gốc cây nọ ch ăng?
- Thưa Trí giả, tôi không lấy.
- Thế anh biết ta là Trí giả Senaka ư? Ta muốn bảo anh
đem số tiền ấy về đây.
Hắn sợ hãi thú nhận:
- Tôi đ ã lấy số tiền ấy.
- Thế anh đ ã làm gì?
- Thưa Trí giả, tôi cất ở chỗ nọ.
Bồ-tát lại hỏi vị Bà-la-môn già kia:
- Này lão Bà-la-môn, lão muốn giữ vợ lại hay lấy vợ khác?
- Thưa Trí giả, cho lão được phép giữ vợ
lại.
Bồ-tát sai người đi lấy số tiền v à
đem cô vợ l ão
đến, trao số tiền từ tay kẻ trộm ấy lại cho l ão
Bà-la-môn, rồi ngài trừng phạt kẻ trộm, đuổi
hắn ra khỏi tỉnh v à trừng phạt luôn cô vợ. Về sau ngài ban lão
Bà-la-môn đại vinh dự bằng cách cho phép l ão
sống ở gần ngài.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Lúc kết
thúc các Sự Thật, nhiều Tỷ-kheo đạt Sơ quả (Dự
Lưu).
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời ấy vị Bà-la-môn là Ànanda, vị Thần cây là Sàriputta, hội chúng là
T ăng chúng của đức Phật v à Trí giả
Senaka chính là Ta.
-ooOoo-

403. Chuyện Trí Giả Atthisena (Tiền thân Atthisena)#

At-thi, lắm kẻ đến mong cầu...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại
đền Agg àlava gần Àlavi, về các điều lệ
xây tịnh thất.
Hoàn cảnh đ ã
được n êu trong tiền thân Manikantha số
253. Bậc Ðạo Sư bảo T ăng chúng:
- Này các Tỷ-kheo, ngày xưa trước khi đức
Phật ra đời, các ẩn sĩ ngoại đạo d ù được
vua ban đặc ân, cũng không bao giờ cầu xin điều g ì cả, vì thấy rằng
cầu xin kẻ khác không đem lại an lạc thư thái.
Nói vậy xong Ngài kể câu chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát
được sinh v ào một gia
đ ình Bà-la-môn và
được đặt t ên là Nam tử Atthisena. Khi
lớn lên, ngài học các nghệ thuật ở Takkasilà, và về sau, nhận thấy nỗi
đau khổ của tham dục, ng ài xuất gia tu
tập và thành đạt các Thắng trí c ùng các
Thiền chứng, ngài sống ở vùng Tuyết Sơn. Sau đó
xuống v ùng dân cư tìm muối và dấm, ngài
đến Ba-la-nại. Sau khi ở trong một lâm vi ên, hôm sau ngài
đi khất thực tại cung đ ình.
Vua hài lòng trước phong cách oai nghi của ngài, liền cho người mời ngài
vào, đặt ng ài ngồi lên sàng tọa trên sân
thượng và cúng dường thực phẩm. Khi ngài nói lời tùy hỷ công
đức, vua rất hân hoan, v à nhận
được lời ng ài hứa hẹn cư ngụ trong ngự
viên, vua đến tham kiến Bồ-tát mỗi ng ày
hai ba lần. Một hôm vua hoan hỷ nghe ngài thuyết Pháp xong, liền ban cho
ngài một điều ước:
- Xin ngài hãy nói cho trẫm biết bất cứ điều
g ì ngài ước nguyện, từ quốc độ của trẫm
trở xuống.
Bồ-tát không đáp: "H ãy cho ta vật này
vật nọ", nhiều kẻ khác đ òi hỏi những vật
nào họ mong ước, thường bảo: "Cho tôi vật này", và vua ban vật
đó, nếu không ham thích nó nữa.
Một hôm vua suy nghĩ: "Nhiều người mong cầu
đặc ân hoặc các khất sĩ thường xin ta vật n ày vật nọ, nhưng Hiền giả
Atthisena cao quý này, từ khi ta ban điều ước,
vẫn không xin g ì cả. Ngài thật là bậc có trí tuệ và thiện xảo các
phương tiện. Ta muốn hỏi ngài".
Thế rồi, một hôm sau buổi điểm tâm, nh à
vua ngồi một bên, hỏi ngài lý do vì sao nhiều người khác cầu xin ân huệ còn
ngài thì không, và vua ngâm vần kệ đầu:
1. At-thi, lắm kẻ đến mong cầu,
Cho dẫu họ xa lạ biết bao,
Lũ lượt xin ta ban thỉnh nguyện,
C òn ngài, không ước vọng, vì sao?
Nghe vầy, Bồ-tát ngâm vần kệ thứ hai:
2. Hai kẻ cầu ân, hoặc chối từ,
Thảy đều không đẹp ý bao giờ,
Ðấy là duyên cớ, xin đừng giận,
Khiến tiểu thần không thỉnh nguyện vua.
Nghe lời ngài, vua ngâm tiếp ba vần kệ nữa:
3. Người nào kiếm sống khẩn cầu hoài,
Chẳng đến cầu ân lúc hợp thời,
L àm kẻ khác suy tàn đức độ,
Chính m ình chẳng có kế sinh nhai.
4. Người nào kiếm sống, khẩn cầu hoài,
Thường đến cầu ân lúc hợp thời,
L àm kẻ khác t ăng dần đức độ,
Chính m ình cũng được kế sinh nhai.
5. Bậc có trí không thấy hận sân,
Khi người lũ lượt đến cầu ân,
Nói đi, Thánh giả l à thân hữu,
Ðiều ước ngài không thể lỗi lầm.
Như vậy, dù được ban tặng cả vương quốc,
Bồ-tát cũng không cầu mong g ì. Khi nguyện vọng của nhà vua
đ ã được
phát biểu như vậy, Bồ-tát liền b ày tỏ
đường lối của ẩn sĩ:
- Thưa Ðại vương, người thế tục và gia chủ thường thích thỉnh nguyện, chứ
không phải người xuất thế, vì từ khi phát nguyện xuất gia, ẩn sĩ phải sống
đời thanh tịnh khác với gia chủ. Rồi ng ài
ngâm vần kệ thứ sáu bày tỏ nếp sống ẩn sĩ:
6. Bậc trí không hề thỉnh nguyện đâu,
Thế nhân phải biết r õ như sau:
Trí nhân thỉnh nguyện ngồi im lặng,
Như thế là người trí thỉnh cầu.
Vua nghe lời Bồ-tát liền nói:
- Bạch Tôn giả, nếu một người phục vụ có trí tự nguyện cống hiến thân hữu
mình những gì cần được cống hiến, th ì
trẫm xin tặng Tôn giả những vật như vầy:
7. Ngàn bò trẫm tặng Bà-la-môn,
Bó đỏ, th êm người hướng dẫn
đường,
Nghe các nghiệp ng ài đầy thánh thiện,
Trẫm nay phát khởi nghiệp hiền lương.
Khi vua nói vậy, Bồ-tát từ chối, bảo:
- Thưa Ðại vương, ta đ ã sống
đời tu tập xa l ìa cấu uế, ta không cần
đ àn bò.
Vua tuân thủ lời khuyến giáo của ngài, chuyên tâm bố thí và làm nhiều
thiện sự khác nên được sinh l ên thiên
giới.
Còn Bồ-tát không hề gián đoạn Thiền định, n ên
tái sinh lên cõi Phạm thiên.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Lúc kết thúc các
Sự Thật, nhiều Tỷ-kheo
được an trú v ào Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, vua là Ánanda và Atthisena chính là Ta.
-ooOoo-

404. Chuyện Hầu Vương (Tiền thân Kapi)#

Người trí không nên ở chốn nào...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về việc Devadatta
(Ðề-bà- đạt-đa) bị quả đất nuốt sống.
Thấy T ăng chúng đang b àn luận việc
này tại Chánh pháp đường. Ng ài bảo:
- Ðây không phải lần đầu Devadatta v à
hội chúng của kẻ ấy bị tiêu diệt, mà xưa kia cũng vậy.
Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát nhập thai vào loài
khỉ sống trong ngự viên cùng cả đ àn tùy
tùng n ăm trăm con khỉ. Devadatta cũng được sinh
l àm khỉ, cùng sống tại đó với một bầy
năm trăm khỉ khác.
Một hôm vị tế sư của nhà vua đi ra vườn tắm
rửa, trang ho àng thân thể xong, một con khỉ tinh nghịch leo lên ngồi
trên cổng vòng cung của ngự viên, thả cục phân rơi trên
đầu vị ấy lúc ông đi qua cổng. Khi tế sư nh ìn
lên, nó lại thả thêm một cục phân vào miệng ông. Vị tế sư quay lại, h ăm
dọa bầy khỉ:
- Ðược lắm, ta sẽ biết cách trừng trị bây.
Rồi ông lại tắm rửa và ra về.
Bầy khỉ trình lại với Bồ-tát rằng vị tế sư giận và h ăm
dọa chúng như vậy.
Ngài thông báo cho cả bầy ngàn con khỉ:
- Ở gần nơi cư trú của kẻ sân hận là không an toàn, vậy cả
đ àn khỉ nên chạy trốn
đi nơi khác.
Một con khỉ không vâng lệnh, giữ bầy khỉ của nó lại, không chạy trốn và
bảo:
- Ta sẽ xét lại việc ấy sau.
Bồ-tát đem bầy khỉ đi v ào rừng.
Một hôm, có một nữ tỳ giã gạo và phơi nắng một ít gạo, một con dê
đến ăn gạo đ ã bị một cây
đuốc đập v ào mình, nó chạy trốn, mình
cháy đỏ rực, vội ch à mình vào vách lều
cỏ gần chuồng voi. Ngọn lửa bắt vào lều cỏ lan qua chuồng voi, làm các lưng
voi bị phỏng, các thú y được mời đến chăm sóc
bầy voi.
Vị tế sư hoàng gia vẫn luôn tìm cơ hội bắt bầy khỉ. Lúc vị tế sư
đang ngồi chầu nh à vua, nhà vua bảo:
- Này tế sư, nhiều con voi của ta bị thương và các thú y chuyên về voi
lại không biết cách chữa trị, vậy khanh có biết chữa không?
- Tâu Ðại vương, thần biết.
- Cách gì thế?
- Tâu Ðại vương, mỡ khỉ.
- Làm sao có được thứ ấy?
- Có rất nhiều khỉ trong ngự viên.
Vua phán:
- Giết bầy khỉ để lấy mỡ.
Các xạ thủ đem cung t ên
đi giết cả năm trăm con khỉ. Một con khỉ gi à
trốn thoát được d ù nó bị thương do mũi
tên, và chưa ngã ngay tại chỗ, nó chỉ ngã xuống khi
đến nơi ở của Bồ-tát. Bầy khỉ bảo nhau:
- Nó đ ã chết khi vừa
đến chỗ ở của ta.
Và chúng kể lại với Bồ-tát rằng con khỉ kia chết do vết thương ấy. Ngài
bước ra ngồi giữa bầy khỉ, ngâm các vần kệ này
để khuyến giáo chúng với lời khuy ên của bậc trí,
đó l à: "Người nào ở gần kẻ thù
đều phải chết như vậy".
1. Người trí không nên ở chốn nào
Cừu nhân cư trú, dẫu dài lâu,
Hay chỉ một, hai đ êm cũng vậy,
Ðến gần sẽ gặp nỗi sầu đau.
2. Kẻ ngu l à địch thủ cho ai
Vẫn trót tin lời nó nói sai:
Con khỉ ngu si đem đại họa
Cho bầy của nó thế m à thôi.
3. Một kẻ ngu si đứng trưởng đo àn,
Vì kiêu c ăng muốn tỏ khôn ngoan,
Sẽ không khác khỉ n ày gây họa,
Mãi mãi đưa đường đến bại vong.
4. Kẻ mạnh ngu si chẳng tốt l ành,
Lãnh phần bảo vệ cả đ àn mình,
Nó là tai họa cho đồng loại,
Chẳng khác chim mồi đáng h ãi kinh.
5. Trưởng đo àn hùng dũng trí khôn
ngoan
Làm tốt để canh giữ cả đo àn,
Chẳng khác Ind-ra bên Hội chúng,
Là phần thưởng của các thân bằng.
6. Người nào đủ giới hạnh ho àn toàn,
Trí tuệ tinh thông, học tập luôn,
Hành động người n ày
đem phước lạc
Cho m ình cùng với các tha nhân.
7. Vậy thì giới hạnh lẫn đa văn,
Tri kiến học h ành, luyện bản thân,
Như thể vị hiền nhân độc trú,
Hoặc lo bảo vệ đám thân bằng.
Như vậy Bồ-tát trở thành Hầu vương, và giảng giải
đường lối học tập Giới luật.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư nhận diện tiền thân:
- Thời ấy con khỉ không tuân lệnh là Devadatta, bầy khỉ của nó là Hội
chúng của Devadatta, và Hầu vương có trí là Ta.
-ooOoo-

405. Chuyện Phạm Thiên Baka (Tiền thân Bakabrahma)#

Chúng tôi tất cả bảy mươi hai...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này khi trú tại Kỳ Viên về Phạm thiên Baka.
Một tà kiến sinh khởi trong tâm vị Phạm thiên này,
đó l à: "Cõi sinh hữu này là trường tồn,
thường hằng, vĩnh cửu, bất biến; ngoài nơi này ra không có sự cứu
độ hay giải thoát g ì nữa...".
Trong một đời trước, vị Phạm thi ên
này đ ã thực hành Thiền
định, v ì thế
được tái sinh v ào cõi trời Quảng Quả
(Vehapphala). Sau khi đ ã trải qua
đời sống ở đó trong năm trăm kiếp (Kappa), vị
ấy tái sinh v ào cõi trời Biến Tịnh (Subhakinna). Sau khi
đ ã trải qua sáu mươi bốn kiếp tại
đó, vị ấy mạng chung v à tái sinh vào cõi
trời Quang Âm (Àbhassara), nơi đời sống kéo d ài
trong tám kiếp. Và chính tại đó, t à kiến
này khởi lên trong tâm vị ấy.
Vị Phạm thiên này quên rằng mình đ ã
từng sống ở các cõi Phạm thiên giới cao hơn và
đ ã tái sinh vào cảnh giới này. Do nhận thức các
điều tr ên, vị ấy chấp thủ tà kiến. Bậc
Ðạo Sư thấu hiểu các tư tưởng của vị ấy và thật dễ dàng như một lực sĩ duỗi
cánh tay cho thẳng ra hay cong cánh tay trở lại, Ngài biến mất ở Kỳ Viên và
xuất hiện ở Phạm thiên giới ấy. Vị Phạm thiên thấy ngài liền thưa:
- Thiện lai Thế Tôn, xin Thế Tôn đến đây.
Bạch Thế Tôn, thế giới n ày là trường tồn, thường hằng, vĩnh cửu,
tuyệt đối, bất biến; thế giới n ày không
sinh, không già, không chết, không biến hoại, không tái sinh. Ngoài thế giới
này, không có sự cứu độ n ào cao hơn nữa.
Khi lời này được vị Phạm thi ên Baka
nói ra, Thế Tôn bảo:
- Phạm thiên Baka đ ã si mê,
đ ã lầm lạc khi nói rằng một vật không
thường hằng là thường hằng, một vật không vĩnh cửu là vĩnh cửu, cùng những
điều tương tự, như ngo ài thế giới này
không có sự cứu độ n ào cao hơn nữa trong
khi vẫn có sự cứu độ khác.
Nghe lời này, vị Phạm thiên suy nghĩ: "Thế Tôn
đang khuyến giáo ta khi nhận ra chính xác những
lời ta nói".
Rồi như một kẻ trộm rụt rè sau khi bị đấm v ài
cái, vị ấy đáp:
- Ðệ tử đâu phải l à tên trộm duy
nhất? Còn nhiều vị này vị nọ cũng đều l à
các tên trộm khác nữa.
Rồi vị ấy nêu tên các vị Thiên cùng một hội chúng; như vậy vị Phạm thiên
lo sợ đức Phật chất vấn, n ên
đ ã ngâm vần kệ
đầu ti ên nói lên các vị Thiên cùng hội
chúng của mình:
1. Chúng tôi tất cả bảy mươi hai,
Chân chánh và cao cả tuyệt vời,
Sanh, lão chúng tôi đ à giải thoát,
Cõi này là trí tuệ nhà trời,
Không Thiên giới khác cao hơn nữa,
Nhiều kẻ tán đồng quan điểm tôi.
Nghe lời này, Bậc Ðạo Sư ngâm vần kệ thứ hai:
2. Ðời ngài ngắn ngủi ở thiên đ àng,
Tưởng đời trường thọ quả sai lầm,
Một trăm ng àn kiếp trôi qua mất,
Ta biết đời ng ài quá rõ ràng.
Nghe vầy, Baka ngâm vần kệ thứ ba:
3. Thế Tôn, trí tuệ tử vô cùng,
Sanh, lão, sầu nằm ở dưới chân:
Xưa đ ã tạo nên bao thiện nghiệp,
Thế Tôn cho đệ tử hay chăng?
Sau đó đức Thế Tôn ngâm bốn vần kệ kể cho vị
ấy nghe những chuyện quá khứ:
4. Xưa lấy nước ban phát những người
Lúc đang cơn khát sắp t àn hơi,
Dưới trời hạn hán như thiêu đốt,
Thiện nghiệp ng ài qua đ ã mấy
đời,
Ta biết l à ta đều nhớ r õ,
Như vừa tỉnh giấc mộng mà thôi.
5. Sông E-ni, thuở nọ bên bờ,
Ngài thả nhiều người được tự do,
Trong lúc bị giam cầm chặt chẽ,
Việc l ành ngài tạo dẫu xa xưa,
Song ta biết rõ ta còn nhớ
Như thể mới vừa tỉnh giấc mơ.
6. Ngày xưa trên bến nước sông Hằng,
Ngài cứu thuyền người nọ thoát thân,
Khi bị ác xà kia chụp lấy
Vì thèm thịt sống, khỏi tai ương,
Việc lành ngài tạo dầu xa lắc,
Ta nhớ rõ như tỉnh giấc nồng.
7. Ta chính Kap-pa, đệ tử ng ài,
Trí đức ng ài, ta biết rõ mười,
Thiện nghiệp ngài làm, ta nhớ kỹ.
Như là mới tỉnh giấc mơ thôi.
Khi nghe các nghiệp quá khứ của mình do Bậc Ðạo Sư thuyết giảng, Baka cảm
tạ và ngâm vần kệ cuối cùng:
8. Thế Tôn biết mọi kiếp xưa xa,
Tuệ giác toàn tri quả Phật- đ à,
Uy lực hào quang vinh hiển thực,
Sáng ngời khắp cõi Phạm thiên ta.
*
Như vậy Bậc Ðạo Sư vừa tỏ bày uy lực của một
đức Phật, vừa thuyết Pháp khai thị các Sự thật. Lúc kết thúc Pháp thoại, tâm
của mười ng àn vị Phạm thiên được giải
thoát khỏi các ô nhiễm cấu uế. Do đó, đức Thế Tôn trở th ành nơi an
trú của các vị Phạm thiên, rồi trở về Kỳ Viên từ cõi Phạm thiên, Ngài thuyết
Pháp như trên và nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy Phạm thiên Baka là nhà khổ hạnh Kesava và
đệ tử Kappa chính l à Ta.
-ooOoo-

406. Chuyện Quốc Vương Gandhàra (Tiền thân Gandhàra)#

Làng phố, vũ công mười sáu ngàn...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên, liên hệ giới
điều về việc "tích trữ dược liệu". Tuy nhi ên,
hoàn cảnh chuyện này đ ã xảy ra ở Vương
Xá.
Khi Tỷ-kheo Pilindiyavaccha đến cung vua để
giải thoát gia đ ình người giữ ngự viên, ông dùng thần thông lực biến
cung vua thành tòa nhà bằng vàng, quần chúng hoan hỷ
đến tặng ông năm thứ dược liệu. Ông đem phân
phát khắp Tăng chúng. Do đó Tăng chúng có nhiều dược liệu v à khi nhận
được các dược liệu, họ chứa đầy các chai, hủ, b ình,
túi... và cất để d ành. Dân chúng thấy
vậy thì thầm bảo nhau: "Các Tỷ-kheo tham lam kia
đang tích trữ đồ đạc trong tinh xá".
Bậc Ðạo Sư nghe vậy liền công bố giới điều:
- Bất cứ dược liệu trị bệnh nào khi nhận
được, phải được d ùng trong vòng bảy ngày.
Và bảo:
- Này các Tỷ-kheo, các bậc trí nhân thuở xưa, trước khi
đức Phật ra đời, dẫu xuất gia theo ngoại đạo v à
chỉ giữ Ngũ giới, cũng đ ã khiển trách
những ai tích trữ muối và đường cho ng ày
hôm sau; còn các ông ngày nay dẫu đ ã
được xuất gia theo Giáo pháp giải thoát, lại
tích trữ đồ đạc đến hai ba ng ày ư?
Rồi Ngài kể câu chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa Bồ-tát là vương tử của xứ Gandhàra. Khi vua cha b ăng
h à, ngài lên ngôi vua trị nước chân chánh. Ðồng thời ở vùng Trung
thổ, tại vương quốc Videha, có vị vua mệnh danh Videha cai trị. Hai quốc
vương này chưa hề gặp nhau, nhưng lại là thân hữu và tin cậy lẫn nhau.
Thời ấy, loài người trường thọ: đời sống d ài
ba mươi ngàn n ăm. Một hôm, v ào ngày trai
giới tr ăng tr òn, vua Gandhàra
đ ã phát nguyện giữ giới và ngự trên bảo
tọa giữa ngai vàng dành cho ngài, nhìn ra một cửa sổ rộng mở ở góc hướng
Ðông, ngài ngồi thuyết giảng cho quần thần về bản chất giáo lý. Lúc ấy, thần
Ràhu (La-hầu: Vua các Thần A-tu-la) đ ã
che hết mặt tr ăng tr òn
đầy đang tỏa sáng cả bầu trời. Ánh trăng biến
mất. Triều thần không thấy ánh trăng, liền tâu vua rằng thần R àhu
đ ã chụp lấy mặt tr ăng.
Vua quan sát mặt tr ăng, nghĩ thầm "Mặt trăng
đ ã mất ánh sáng vì bị một biến động b ên
ngoài làm hỏng. Nay triều thần chính là mối phiền lụy của ta. Ta không nên
để mất ánh sáng như mặt trăng bị thần R àhu
chụp lấy. Ta muốn rời quốc độ như mặt trăng
chiếu tr ên bầu trời trong sáng và trở thành ẩn sĩ. Tại sao ta lại
giáo giới người khác? Ta muốn ra đi, từ gi ã
thân quyến, thần dân và giáo giới bản thân ta mà thôi:
điều ấy mới thích hợp với ta". V ì vậy
ngài phán:
- Các khanh cứ làm gì tùy ý.
Rồi ngài trao quốc độ cho triều thần. Khi ng ài
đ ã từ bỏ vương quốc ở hai xứ Kashmir và
Gandhàra, ngài sống đời tu h ành. Khi
chứng đắc các Thắng trí, ng ài an cư mùa
mưa ở vùng Tuyết Sơn, chuyên tâm vào sự an lạc của Thiền
định.
Khi hỏi th ăm các thương nhân, vua Videha
bảo:
- Hiền hữu của ta có được khang an chăng?
Và được tin ng ài
đ ã ra đi
đời sống tu h ành, vua suy nghĩ: "Hiền hữu ta
đ ã xuất gia tu tập, ta còn phải làm gì
với quốc độ n ày?"
Vì thế ngài thoái vị ở kinh thành Mithilà dài bảy dặm, và vương quốc
Videha rộng ba tr ăm dặm gồm mười sáu ng àn
làng với các cửa hiệu đầy h àng hóa, mười
sáu ngàn nữ vũ công, rồi cũng không nghĩ đến
các ho àng tử và công chúa, vua lên vùng Tuyết Sơn sống
đời tu h ành. Tại
đó ng ài chỉ sống bằng quả rừng trong
đời độc cư thanh tịnh. Cả hai vị vua an tịnh
độc cư như vậy, sau đó gặp nhau; tuy thế hai vị vẫn sống c ùng nhau
trong cảnh đời an tịnh với t ình thân
hữu.
Ẩn sĩ xứ Videha phục vụ ẩn sĩ xứ Gandhàra. Vào một
đ êm đầy
trăng, trong lúc hai vị ngồi dưới gốc cây đ àm luận
đạo lý, thần R àhu che khuất mặt tr ăng
đang sáng tỏa khắp bầu trời.
Ẩn sĩ xứ Videha nhìn lên, hỏi:
- Tại sao ánh tr ăng bị mất?
Và khi thấy tr ăng bị thần R àhu chụp,
vị ấy hỏi:
- Bạch Tôn sư, tại sao nó che khuất mặt tr ăng
l àm cho tối t ăm vậy?
- Này đồ đệ, đó l à do duyên quấy
nhiễu mặt tr ăng t ên gọi là Ràhu, nó ng ăn
cản mặt trăng chiếu sáng. Chính ta khi thấy mặt trăng bị thần R àhu
che khuất, đ ã suy nghĩ: "Mặt tr ăng
sáng trở n ên tối vì bị quấy nhiễu từ bên ngoài. Nay quốc
độ l à mối phiến nhiễu
đối với ta, ta muốn theo đời tu h ành
để quốc độ không l àm ta
đen tối như thần R àhu làm tối mặt tr ăng
kia. Như vậy, lấy chuyện mặt trăng bị thần R àhu che khuất làm chủ
đề của ta, ta từ gi ã vương quốc và sống
đời tu h ành".
- Bạch Tôn sư, thế ngài là cựu vương nước Gandhàra ư?
- Chính phải.
- Bạch Tôn sư chính đệ tử l à cựu
vương Videha, trong quốc độ Videha v à
kinh thành Mithila, dù chúng ta chưa từng thấy nhau, chúng ta chẳng phải
đ ã làm bạn với nhau
đó sao?
- Thế chủ đề của Hiền hữu l à gì?
- Ðệ tử nghe Tôn sư đ ã xuất gia tu
tập nên suy nghĩ: "Chắc chắn ngài đ ã tìm
thấy lợi ích của nếp sống ấy, đệ tử xem ng ài
là chủ đề của m ình, nên từ giã quốc
độ v à xuất gia".
Từ đấy trở đi, hai vị trở n ên hết sức
thân thiết, quý mến nhau và chỉ sống bằng quả rừng. Sau một thời gian an trú
tại đó, hai vị từ Tuyết Sơn đi xuống t ìm
muối và dấm, dần dần đến một l àng ở biên
địa.
Dân chúng hoan hỷ vì phong cách hai vị, đ ã
cúng dường và khi nhận được lời hứa, họ dựng
thảo am để hai vị trú ban đ êm và ở cả trong rừng nữa, rồi mời hai vị
ở lại đó; b ên vệ
đường họ c òn dựng một phòng
ăn ở một nơi đẹp có nước chảy.
Sau khi đi khất thực từ l àng biên
địa, hai vị ngồi d ùng món
ăn trong thảo am kia rồi trở về chỗ cư trú của
m ình. Dân chúng cúng dường thực phẩm có hôm
để muối l ên một lá rồi
đem đến cho hai vị, hôm khác lại đem thức ăn
không có muối.
Một hôm họ cúng dường hai vị rất nhiều muối trong một cái rỗ bằng lá. Ẩn sĩ xứ Videha lấy muối đem vừa đủ phần
Bồ-tát lúc d ùng thức ăn, v à cũng
lấy phần vừa đủ cho m ình, sau
đó cất phần c òn lại trong rổ lá
đặt v ào một cuộn cỏ, tự nhủ: "Cái này sẽ
có ích cho ngày không có muối".
Rồi một hôm nhận được thức ăn không có muối,
ẩn sĩ xứ Videha đem món khất thực đến ẩn sĩ Gandh àra, lấy muối trong
cuộn cỏ ấy ra và bảo:
- Bạch Tôn sư, hãy lấy muối.
- Dân chúng hôm nay không cho ta muối, vậy
đồ đệ lấy đâu ra muối?
- Bạch Tôn sư, hôm kia dân chúng cho nhiều muối, nên
đệ tử cất phần dư v à bảo: "Cái này sẽ có
ích cho ngày không muối".
Bồ-tát liền quở trách vị này, bảo:
- Này kẻ ngu si kia, ông đ ã từ bỏ
vương quốc Videha rộng ba tr ăm dặm, đ ã
xuất gia tu hành và chứng đạt tâm ly dục, nay
ông lại khởi l òng ham thích muối và đườn g!
Khuyến giáo như vậy xong, ngài ngâm vần kệ
đầu:
1. Phố xá, thôn trang mười sáu ngàn,
Ông từ bỏ hết mọi giàu sang,
Kho tàng của cải nhiều vô tận,
Nay tích trữ gì đấy phải chăng?
Ẩn sĩ Videha bị khiển trách như vậy, không kham nhẫn lời khiển trách mà
trở nên lạnh lùng bảo:
- Bạch Tôn sư, ngài không thấy lỗi của ngài, mặc dù ngài thấy lỗi của
tôi. Ngài đ ã chẳng rời bỏ vương quốc và
xuất gia, tự bảo: "Tại sao ta phải khuyến giáo kẻ khác? Ta muốn khuyến giáo
bản thân ta mà thôi" ư? Thế sao nay ngài lại
đang khuyến giáo tôi đấy?
Rồi vị ấy ngâm vần kệ thứ hai:
2. Ngài bỏ Gan-dha, mọi phố phường,
Biết bao châu báu ở kho tàng,
Không còn ban lệnh cho ai nữa,
Nay lại truyền tôi lệnh ấy ch ăng?
Nghe vậy Bồ-tát ngâm vần kệ thứ ba:
3. Chính vì chân chánh, ta khuyên r ăn,
V ì ghét những gì chẳng chánh chân,
Khi nói cho ông điều chánh hạnh,
Lỗi lầm ta chẳng phạm v ào thân.
Ẩn sĩ xứ Videha nghe Bồ-tát nói, đáp lại:
- Bạch Tôn sư, thuyết giảng cho người khác sau khi
đ ã làm kẻ ấy
đau buồn giận dỗi l à
điều không thích hợp, dầu có thuyết giảng đúng
vấn đề đi nữa. Tôn sư đang nặng lời gay gắt với tôi như thể cạo đầu tôi với
con dao c ùn!
Rồi vị ấy ngâm vần kệ thứ tư:
4. Bất cứ lời nào, nếu nói ra,
Sẽ gây thương tổn đến người ta,
Trí nhân không nói ra lời ấy,
Cho dẫu tạo n ên quá lớn mà!
Bồ-tát liền đáp vần kệ thứ năm:
5. Người nghe ta rắc trấu hay không,
Hay dẫu người kia bị tổn thương,
Khi nói ra điều g ì chánh hạnh,
Lỗi lầm ta chẳng phạm vào thân.
Nói vậy xong, ngài tiếp tục bảo:
- Này Ànanda, ta không cư xử với ông như người thợ gốm cư xử với
đám nồi đất chưa nung đâu. Ta sẽ c òn
khiển trách nhiều lần nữa, vì "Cái gì là cốt lõi, cái ấy sẽ tồn tại".
Do vậy, ngài cương quyết giữ cách xử sự phù hợp với lời giáo huấn của
đức Thế Tôn. Ví như người thợ gốm giữa đám đồ
gốm, sau một thời gian thường xuy ên đập
g õ lên chúng, chỉ chọn cái nồi đ ã
nung kỹ, chứ không chọn cái nồi đất chưa nung,
ng ài cũng chọn người tốt như chiếc nồi
được nung kỹ kia bằng cách khuyến giáo v à khiển trách nhiều lần như
thế. Rồi muốn thuyết giảng để n êu rõ cho
vị ấy hiểu điều n ày, ngài ngâm vần kệ:
6. Nếu trí đức không được luyện r èn
Trong đời sống để m ãi t ăng
th êm,
Nhiều người phiêu bạt chân buông thả,
Như thể trâu mù cứ bước lên.
7. Song các trí nhân khéo luyện rèn
Ðể cho thiện hạnh mãi t ăng th êm,
Chính nhờ đạo hạnh n ày thuần thục
Nên các tha nhân bước tiếp liền.
Nghe lời này, ẩn sĩ xứ Videha nói:
- Bạch Tôn sư, từ nay về sau xin cứ giáo huấn
đệ tử . Ðệ tử trót lỡ nói lời bất nhã
với ngài, xin tha thứ cho đệ tử.
Rồi cúi đầu đảnh lễ cung kính, vị ấy được
Bồ-tát thứ lỗi.
Như vậy hai vị đ ã sống hòa hợp với
nhau và trở về Tuyết Sơn. Sau đó Bồ-tát dạy ẩn
sĩ xứ Videha cách chứng đắc Thiền định. Vị ấy tuân thủ v à thành tựu
các Thắng trí cùng các Thiền chứng. Hai vị không bao giờ gián
đoạn Thiền định n ên về sau tái sinh lên
cõi Phạm thiên.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư nhận diện tiền thân:
- Vào thời ấy ẩn sĩ xứ Videha là Ànanda và quốc vương Gandhàra chính là
Ta.