Chuyện#
Chính thân ngài đ ã bắt ngang cầu khỉ...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về các thiện nghiệp đối với thân quyến. Ho àn cảnh chuyện này sẽ xuất hiện trong tiền thân Bhaddasàla, số 444.
T ăng chúng bắt đầu b àn luận trong Chánh pháp đường, bảo nhau:
- Ðức Phật Toàn Giác đ ã làm nhiều thiện sự đối với thân quyến.
Khi Bậc Ðạo Sư hỏi T ăng chúng v à được tr ình bày đề t ài trên, Ngài đáp:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu Như Lai l àm thiện nghiệp đối với thân quyến.
Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát nhập mẫu thai loài khỉ. Khi lớn lên, ngài có vóc dáng oai nghi lực lưỡng và cường tráng, cùng sống với một đ àn tám mươi ngàn con khỉ ở Tuyết Sơn.
Gần bờ sông Hằng có một cây xoài (nhiều người khác bảo là cây đa) với nhánh chồi tỏa bóng mát v à lá rậm rạp như một đỉnh núi. Trái xo ài ngọt có mùi hương và vị tuyệt diệu, to bằng các bình nước. Trái từ một cành rơi xuống đất, từ một nhánh khác rơi xuống sông Hồng, từ hai nhánh khác rơi v ào gốc cây.
Trong lúc ăn xo ài cùng với loài khỉ, Bồ-tát nghĩ thầm: "Một ngày kia tai họa sẽ xảy đến cho ta do trái xo ài rơi xuống nước".
Vì thế không để lại trái xo ài nào trên cành cây mọc trên bờ sông, ngài bảo bọn chúng ăn hết hoặc ném bỏ hoa đúng m ùa ngay từ khi nụ hoa mới nhú bằng hột đậu.
Tuy thế, một xoài chín nằm kín trong một tổ kiến, nên cả tám mươi ngàn con khỉ không trông thấy, rớt xuống dòng sông và mắc vào cái lưới ở phía trên vua Ba-la-nại lúc ấy đang tắm sông vui đ ùa với một tấm lưới ở trên và một tấm ở dưới.
Khi vua đ ã vui đ ùa suốt ngày và sắp ra về lúc chiều tối, bọn người đánh cá đang kéo lưới l ên, trông thấy trái cây, nhưng không biết loại gì, liền đem dâng vua, vua hỏi:
- Trái gì thế?
- Tâu Ðại vương, chúng thần không biết.
- Thế ai biết?
- Tâu Ðại vương, các người kiểm lâm.
Vua truyền gọi bọn người kiểm lâm và khi nghe họ bảo đó l à trái xoài, vua lấy dao cắt nó ra, rồi trước hết bảo bọn kiểm lâm ăn xo ài, sau đó chính nh à vua cũng ăn xo ài. Hương vị xoài chín thấm nhuần khắp toàn thân vua. Do lòng ham muốn hương vị câu thúc, vua hỏi bọn kiểm lâm cây ấy ở đâu, v à khi nghe rằng cây ấy ở trên bờ sông về hướng Tuyết Sơn, vua truyền ráp các chiếc bè lại và chèo ngược lên thượng nguồn của sông theo lộ trình được đám kiểm lâm hướng dẫn. Số ng ày đi đường chính xác l à bao nhiêu không được n êu ra.
Theo thời gian, họ đến nơi ấy, v à bọn kiểm lâm trình vua:
- Tâu Ðại vương đó l à cây xoài.
Vua dừng bè lại và cùng đám quần thần đông đảo đi bộ đến nơi, rồi truyền trải s àng tọa ngay dưới gốc cây, vua nằm ngủ sau khi đ ã ăn xo ài và hưởng đủ mọi thứ hương vị tuyệt hảo. Khắp mọi phía quân lính canh gác cẩn thận v à nhóm lửa lên. Khi mọi người đ ã ngủ yên, Bồ-tát cùng bầy khỉ đến đó lúc nửa đ êm.
Tám mươi ngàn con khỉ chuyền từ cành nọ sang cành kia ăn xo ài. Vua tỉnh giấc thấy bầy khỉ, liền đánh thức quân hầu v à gọi đám xạ thủ đến bảo:
- Hãy bao vây loài khỉ đang ăn xo ài để chúng không thoát được, rồi bắn cả đi. Ng ày mai ta muốn ăn xo ài với thịt khỉ.
Ðám xạ thủ tuân lệnh, đồng đáp:
- Muôn tâu, được lắm.
Rồi họ bao vây cả cây với cung tên sẵn sàng.
Bầy khỉ thấy họ, sợ chết vì chúng không thể trốn được, liền nhảy đến Bồ-tát v à thưa:
- Tâu Ðại vương, các xạ thủ đang vây quanh cây v à bảo: "Ta sẽ bắn chết loài khỉ lang thang trộm cắp này". Chúng con phải làm gì bây giờ?
Chúng vừa đứng vừa run rẩy.
Bồ-tát bảo:
- Ðừng sợ, ta sẽ cứu mạng các con.
Vừa an ủi bầy khỉ như vậy xong, ngài leo lên một cành mọc thẳng đứng, rồi đi qua một c ành khác dài về phía sông Hằng, xong lại nhảy vọt về cuối cành ấy, vượt qua một tr ăm tầm cung v à hạ xuống một bụi cây trên bờ.
Khi xuống đến nơi, ng ài đánh dấu khoảng cách v à nói: "Ðó là khoảng cách ta đ ã vượt qua". Rồi cắt một đọt tre sát gốc, lột vỏ v à nói:
- Phần này sẽ được buộc v ào cây ấy, và phần kia sẽ ở trên không.
Khi tính hai chiều dài như vậy, ngài quên phần buộc vào thắt lưng mình. Ngài cầm đọt tre buộc một đầu v ào thân cây trên bờ sông Hằng và phần kia vào thắt lưng, sau đó nhảy vọt qua khoảng cách một trăm tầm cung ấy với tốc độ của mây bay theo gió cuốn.
Do không tính phần tre buộc vào thân mình, ngài không tới tận cây ấy. Vì vậy ngài lấy hai tay nắm chặt cành cây và ra hiệu cho cả đ àn khỉ:
- Cầu chúc các con may mắn, qua nhanh lên, bước trên lưng ta mà đi dọc theo cây tre.
Cả tám mươi ngàn con khỉ trốn thoát được theo cách ấy, sau khi cung kính đảnh lễ Bồ-tát, xin phép ng ài ra đi.
Thời ấy Devadatta (Ðề-bà- đạt-đa) l à một con khỉ trong đ àn kia tự nhủ: "Ðây là cơ hội để ta thanh toán kẻ th ù".
Vì thế vừa trèo lên cây, nó nhảy vọt và ngã trên lưng Bồ-tát. Tim Bồ-tát như muốn vỡ nát, vô cùng đau đớn. Sau khi gây ra nỗi đau khổ thống thiết cho ng ài như vậy, nó liền bỏ đi, chỉ c òn Bồ-tát một mình.
Lúc ấy vua tỉnh giấc thấy rõ mọi việc bầy khỉ đ ã làm cùng Bồ-tát, vua lại nằm xuống suy nghĩ: "Con vật này không kể đến tính mạng m ình, đ ã cứu thoát cho cả đ àn bình an".
Khi trời sáng, vua hoan hỷ về Bồ-tát, lại suy nghĩ: "Giết hại chúa khỉ này thật không phải đạo, ta muốn đem nó xuống v à s ăn sóc nó". V ì vậy vua quay bè xuống sông Hằng và dựng một cầu cao ở đó để Bồ-tát nhảy xuống nhẹ nh àng, truyền đem tấm y v àng phủ trên lưng ngài và tắm rửa ngài trên sông, cho ngài uống nước đường, lau thân thể ng ài thật sạch và tẩm dầu thơm đ ã lọc kỹ cả ngàn lần, sau đó trải một tấm da đ ã được thoa dầu l ên sàng tọa và đặt ng ài nằm ở đó, c òn vua ngồi ở một chỗ thấp hơn.
Và vua ngâm vần kệ đầu:
1. Chính thân ngài đ ã bắt ngang cầu khỉ Cho cả đ àn trốn thoát được b ình an, Này khỉ kia, ngài với chúng họ hàng, Hay bọn chúng là gì ngài đó vậy?
Nghe lời này, Bồ-tát ngâm các vần kệ khuyến giáo vua:
2. Tâu Ðại vương, tôi trông nom bọn ấy, Là Hầu vương, tôi làm chủ cả đ àn, Khi bọn kia đầy rẫy nỗi kinh ho àng Vì các vị, lòng lo buồn đau đớn. 3. Tôi nhảy qua một trăm tầm cung lớn Ðược trải dài trên vị trí nằm ngang, Rồi khi tôi đ ã buộc khúc tre non Thật vững chắc ở quanh sườn tôi đó, 4. Muốn đến cây như vầng mây b ão tố Ðược cuồng phong thổi bạt cực kỳ nhanh, Song mất đ à, tôi chỉ đến đầu c ành, Cầm lấy nó, bàn tay tôi thật vững. 5. Khi tôi nằm trên cây treo lơ lửng Buộc chặt vào cành với khúc tre non, Bầy khỉ kia đ ã bước cả lưng còm, Giờ đây chúng được an to àn thoát nạn. 6. Tôi không sợ nỗi đau v ì thiệt mạng, Dẫu giam cầm tôi cũng chẳng đau buồn. Khi b ình an hạnh phúc với cả đ àn, Xưa bọn chúng, tôi đ ã từng cai trị. 7. Một ví dụ dành cho ngài, Ðại đế, Nếu ng ài mong học Ðạo lý Chánh chân: Niềm an vui hạnh phúc của toàn dân, Cùng quân đội, v à kinh thành, chiến mã, Ðối với ngài đều thiết thân tất cả, Nếu ng ài mong trị nước thật an bình.
Bồ-tát giáo huấn vua như thế xong liền từ trần. Vua gọi các đại thần đến truyền lệnh cho Hầu vương được thọ hưởng tang lễ như một quốc vương. Rồi vua truyền bảo đám phi tần:
- Các nàng hãy đưa Hầu vương ra tận nghĩa địa với tư cách l à đo àn tùy tùng của Hầu vương, mặc y đỏ, x õa tóc xuống và cầm đuốc trong tay.
Các đại thần l àm dàn hỏa táng với một tr ăm xe củi.
Sau khi đ ã chuẩn bị tang lễ của Bồ-tát theo nghi thức vua chúa, họ đem xương sọ của ng ài đến tr ình vua. Vua truyền xây một đền thờ ở tại địa điểm hỏa táng Bồ-tát, l àm lễ đốt đuốc v à dâng hương hoa cúng dường. Vua lại truyền khảm vàng vào xương sọ, nâng nó lên cao trên đầu ngọn giáo v à đặt tại cổng th ành rồi cúng dường hương hoa khi vua đến Ba-la-nại. Sau đó truyền lệnh cho cả kinh th ành trang hoàng thật trang nghiêm, nhà vua làm lễ suy tôn-xá lợi suốt bảy ngày.
Khi đ ã nhận phần xá-lợi và dựng đền thờ trong th ành, vua đến đó cúng dường hương hoa suốt đời. Ðược an trú vào lời dạy của Bồ-tát, vua chuyên tâm bố thí cùng làm nhiều thiện sự khác và cai trị chân chánh nên về sau tái sinh thiên giới.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự thật và nhận diện tiền thân:
- Thời ấy vua là Ànanda, đ àn khỉ là Hội chúng này và Hầu vương chính là Ta.
408. Chuyện Người Thợ Gốm (Tiền thân Kumbhakàra)
Cây xoài ta thấy ở rừng xanh...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về việc khiển trách lỗi lầm. Hoàn cảnh câu chuyện xuất hiện trong tiền thân Pàniya, số 459.
Thời ấy tại Xá-vệ có n ăm trăm người bạn c ùng xuất gia tụ tập, an trú tại Tinh xá trên con Ðường Lát Vàng (tức Kỳ Viên), lại khởi lên dục tưởng lúc nửa đ êm. Bậc Ðạo Sư quan sát các đệ tử ba lần ban đ êm và ba lần ban ngày, tức sáu lần suốt ngày đ êm, như chim dẻ cùi ấp trứng, như bò yak gìn giữ cái đuôi, như b à mẹ ch ăm sóc đứa con y êu quý, như người chột canh chừng con mắt còn lại. Vì vậy Ngài khiển trách ngay khi lỗi lầm vừa sinh khởi. Nửa đ êm hôm ấy Ngài quan sát Kỳ Viên và biết tâm tư của chúng T ăng, Ng ài suy nghĩ: "Nếu lỗi lầm này t ăng trưởng giữa Tăng chúng, nó sẽ hủy hoại đời Phạm hạnh đưa đến Thánh quả. Ta muốn khiển trách lỗi lầm n ày ngay bây giờ và nêu rõ đời Phạm hạnh".
Thế rồi Ngài rời Hương Phòng và gọi Tôn giả Àanda, truyền Tôn giả triệu tập chư T ăng tại đó đến họp lại v à Ngài ngồi xuống sàng tọa đ ã soạn sẵn cho đức Phật. Ng ài bảo:
- Này các Tỷ-kheo, sống dưới sức chi phối của các dục tưởng là không chân chánh; nếu tham dục t ăng trưởng sẽ gây họa lớn như một địch thủ. Mỗi Tỷ-kheo phải khiển trách một lỗi lầm d ù nhỏ nhặt. Các trí nhân ngày xưa thấy rõ ngay cả mọi duyên cớ thật nhỏ, nên đ ã khiển trách mọi dục tưởng khi vừa mới khởi sinh, do vậy đ ã đắc quả Ðộc Giác Phật.
Nói xong, ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát được sinh v ào một gia đ ình thợ gốm ở ngoại ô Ba-la-nại. Khi lớn lên, ngài thành gia chủ có một con trai, một con gái và nuôi dưỡng vợ con với nghề gốm của ngài.
Thời ấy tại vương quốc Kalinga, trong kinh thành Dantapura, quốc vương mệnh danh Karandu đang dạo chơi với quần thần đông đảo trong ngự vi ên, chợt thấy ở cổng vườn một cây xoài nặng trĩu quả ngọt.
Từ trên lưng voi, vua đưa tay ra hái một ch ùm xoài, sau đó v ào ngự viên ngồi trên bảo tọa ăn xo ài và ban vài trái cho những kẻ được ân sủng. Từ khi vua hái xo ài, đám triều thần, B à-la-môn, gia chủ nghĩ rằng người khác cũng nên làm như thế, họ hái xoài xuống và ăn trái cây ấy. Sau đó họ đến nhiều lần tr èo cây lấy gậy đập v ào làm gãy cành lá tả tơi, họ ăn xo ài và cũng không chừa lại những trái chưa chín.
Vua vui chơi trong ngự viên suốt ngày mãi tận chiều, đi ngang qua tr ên vương tượng, ngài bước xuống khi thấy cây xoài và đến gốc cây nh ìn lên, suy nghĩ: "Sáng này cây tươi đẹp với c ành nặng trĩu quả, nhưng đám người ngắm cảnh không thỏa m ãn; nay, nó đứng kia không c òn tươi đẹp nữa v ì trái cây đ ã bị phá nát và rớt xuống hết rồi".
Vua lại nhìn sang một cây kia không có trái và suy nghĩ: "Cây xoài này tươi tốt vì không sinh trái khác nào núi trọc chứa đầy châu báu. Cây kia v ì sinh trái nên đ ã gặp tai họa: Ðời sống tại gia cũng giống như cây có trái, đời xuất gia giống như cây không trái, người gi àu tiền hay sợ hãi, người nghèo khó chẳng sợ gì. Ta cũng chỉ muốn như cây không trái kia".
Như vậy lấy cây sinh trái làm chủ đề, ng ài đứng dưới gốc cây, quan sát Ba đặc tính: Vô thường, Khổ, Vô ng ã và đạt Tuệ giác; ng ài đắc quả Ðộc Giác Phật, liền suy nghĩ: "Từ nay thai tạng đ ã xa rời ta, tái sinh trong Ba cõi đ ã đoạn tận, các cấu uế của v òng luân hồi sinh tử đ ã được thanh tịnh, biển nước mắt đ ã khô cạn, thành xương khô đ ã sụp đổ, ta không c òn tái sinh nữa". Ngài đứng uy nghi như thể được trang điểm mọi thứ ngọc v àng.
Sau đó các đại thần bảo:
- Tâu Ðại vương, ngài đứng đ ã quá lâu.
- Ta không phải Ðại vương, ta là Ðộc Giác Phật.
- Tâu Ðại vương, các Ðộc Giác Phật không giống ngài.
- Thế thì các vị ấy ra sao?
- Râu tóc các ngài được cạo sạch, các Ng ài khoác y vàng, không còn lưu luyến gia đ ình bộ tộc, các ngài như mây trôi theo gió cuốn hay mặt tr ăng thoát khỏi thần R àhu, và các Ngài an trú trên Tuyết Sơn, ở động Nandam ùla. Tâu Ðại vương, các Ngài Ðộc Giác Phật là như vậy.
Ngay lúc ấy vua đưa tay l ên sờ đầu lập tức các dấu hiệu của một gia chủ biến mất, v à các dấu hiệu của một Sa-môn xuất hiện:
Bộ ba y, bình bát, với kim may, Lưỡi dao cạo, đồ lọc nước, dây đai L à tám món một Sa-môn cần có.
Tám món cần thiết của một Sa-môn như chúng vẫn thường được gọi, đ ã dính chặt vào thân Ngài. Ðương trên không, Ngài thuyết Pháp cho quần thần rồi bay qua bầu trời đến sơn động Nandam ùla trên miền thượng Tuyết Sơn.
Trong quốc độ Candahar ở kinh th ành Takkasilà, vị vua mệnh danh Naggaji ngự trên thượng lầu, giữa vương sàng, thấy một nữ nhân đeo v òng ngọc trên một tay, đang xay hương liệu gần đó, vua suy nghĩ: "Các v òng ngọc này không cọ xát hoặc kêu leng keng khi rời nhau", và cứ ngắm nghía nàng ấy mãi. Sau đó, n àng ấy đặt chiếc v òng từ tay phải sang tay trái và dùng tay phải thu góp hương liệu rồi bắt đầu xay tiếp. Chiếc v òng trên tay trái chạm vào chiếc vòng kia gây tiếng động.
Vua quan sát hai chiếc vòng cọ xát vào nhau, gây âm thanh, liền suy nghĩ: "Vòng ấy khi để ri êng không chạm vào vật gì cả, nay đụng v ào vòng thứ hai gây tiếng động, khi hai ba chiếc v òng chạm nhau tạo thành tiếng ồn lớn. Nay ta trị thần dân ở hai quốc độ Cashmere v à Candahar, ta cũng cần phải ở riêng như chiếc vòng độc nhất để tự trị chứ không trị kẻ khác nữa". Như vậy lấy việc cọ xát hai chiếc v òng làm chủ đề, trong lúc ngồi đó, vua nhận thức Ba đặc tính tr ên và đạt Tuệ giác, đắc quả Ðộc Giác Phật. Phần cuối câu chuyện cũng như trên.
Trong quốc độ Videha, tại th ành Mithilà, quốc vương mệnh danh Nimi, sau buổi điểm tâm, được các triều thần chầu quanh m ình, đứng nh ìn xuống đường phố qua cửa sổ ho àng cung mở rộng. Một con diều hâu sau khi chụp được miếng thịt từ chợ, đang bay vụt tr ên không. Một vài con kên kên và các thứ chim khác, vây lấy diều hâu mọi phía, liên tiếp lấy mỏ mổ vào, lấy cánh đập v à lấy chân đạp con kia để d ành miếng thịt. Không chịu để cho chúng giết, diều hâu đ ành thả miếng thịt, một chim khác chụp ngay lấy, và bọn chúng lại mổ con kia như trước. Vua thấy bầy chim, suy nghĩ: "Ai lấy miếng thịt, khổ đau đến với kẻ ấy; ai bỏ miếng thịt, hạnh phúc đến với kẻ ấy. Ai hưởng năm dục lạc, khổ đau đến với kẻ ấy; ai bỏ năm dục lạc, hạnh phúc đến với kẻ ấy. Nay ta có mười sáu ng àn cung nữ, ta cần phải sống trong hạnh phúc sau khi từ bỏ n ăm dục lạc như diều hâu bỏ miếng thịt".
Quan sát việc này với trí tuệ, ngay khi đứng tại đó, vua nhận thức ba đặc tính tr ên, chứng đắc Tuệ giác v à thành đạt vi ên trí của quả Ðộc Giác Phật. Phần cuối cũng như trên.
Trong vương quốc Uttarapãncàla, tại kinh thành Kampilla, vị vua mệnh danh Dummukha, sau buổi điểm tâm, được trang điểm các món châu báu v à quần thần vây quanh, đứng nh ìn xuống sân chầu qua cửa sổ. Vào lúc ấy, có người mở cửa chuồng bò. Các bò đực từ trong chuồng đang chạy theo một con b ò cái, một con bò đực lớn với cái sừng nhọn chợt thấy một con đực khác chạy đến, liền ghen tức lấy sừng nhọn đâm v ào hông con kia. Do bị húc quá mạnh, nó đổ ruột ra ngo ài chết ngay tại chỗ. Vua thấy cảnh này, suy nghĩ: "Mọi loài từ súc vật trở lên đều chịu khổ đau v ì lòng dục, con bò này vì lòng dục phải chịu chết. Mọi loài khác đều bị tham dục gây phiền lụy. Ta cần bỏ hết mọi tham dục l àm phiền lụy mọi loài".
Như vậy trong lúc đang đứng, vua nhận thức Ba đặc tính tr ên, chứng đắc Tuệ giác v à thành đạt Vi ên trí của quả Ðộc Giác Phật. Phần cuối cũng như trên.
Sau đó, một hôm, bốn vị Ðộc Giác Phật, xét thấy đến thời đi khất thực liền rời động Nandam ùla, sau khi chùi sạch r ăng bằng cách nhai cau tại hồ Anotatta, v à sau khi đ ã hoàn tất mọi nhu cầu vệ sinh xong, các vị mang y bát dùng thần thông bay lên không, lướt qua các đám mây ngũ sắc, rồi hạ xuống không xa một ngoại ô của Ba-la-nại.
Tại một địa điểm tiện lợi, các vị khoác y, cầm b ình bát đi v ào vùng ngoại ô khất thực cho đến khi dừng lại trước cửa nh à Bồ-tát. Bồ-tát thấy các vị lòng hoan hỷ mời vào nhà ngồi trên chỗ đ ã soạn sẵn, ngài rót nước cung nghênh và đ ãi các món thượng vị đủ loại cứng v à mềm. Sau đó ngồi một b ên, ngài kính chào vị trưởng thượng và nói:
- Thưa Tôn giả, đời tu h ành của ngài quả thật tốt đẹp, các căn của Ng ài thật an tịnh, làn da của Ngài thật trong sáng. Chủ đề suy tư g ì đ ã khiến Ngài khởi đầu đời sống tu h ành và xuất gia?
Cả bốn vị liền đáp:
- Tôi trước kia có tên như vậy, làm vua ở tại kinh thành nọ trong quốc độ kia...
Ðại khái như thế và theo cách này mỗi vị lần lượt ngâm vần kệ nêu nguyên nhân giã từ thế tục của mình:
1. Cây xoài ta thấy ở rừng xanh, Ðen rậm, cao to, trái trĩu cành, Vì trái, con người đ à phá gãy, Lòng ta chính thế muốn cầm bình. 2. Vòng sáng nhờ tay thợ nổi danh, Người đeo một chiếc chẳng âm thanh, Chiếc kia va chạm gây huy ên náo, Vì thế lòng ta muốn chiếc bình. 3. Ðàn chim xâu xé vật cô thân, Ðơn độc mang theo miếng thịt ăn, Chim bị đánh đau v ì miếng thịt, Lòng ta chính thế muốn ly trần. 4. Bò đực ki êu c ăng giữa đám b ò Vươn lưng, khỏe đẹp, bước chân ra, Chết v ì lòng dục: sườn đâm mạnh, Do vậy l òng ta muốn xuất gia.
Bồ-tát nghe mỗi vần kệ đều nói:
- Tốt lành thay, thưa Tôn giả, chủ đề của Ng ài thật thích hợp.
Và như vậy ngài tán thán mỗi vị Ðộc Giác Phật. Sau khi nghe các vị thuyết Pháp, ngài trở nên chán ngán đời sống tại gia.
Khi các vị ra đi, sau buổi điểm tâm, ng ài ngồi thư thái, gọi vợ lại bảo:
- Này hiền thê, bốn vị Ðộc Giác Phật rời bỏ vương quốc trở thành Sa-môn nay sống không lỗi lầm, không chướng ngại, hưởng niềm cực lạc của đời tu h ành. Trong lúc ấy ta phải tìm kế sinh nhai qua ngày. Ta còn phải làm gì với đời gia chủ nữa? Xin n àng nuôi các con và ở lại nhà.
Rồi ngài ngâm hai vần kệ:
5. Vua Ka-ran-du xứ Ka-lin-ga, Vua Nag-gà-ji xứ Gan-dhà-ra, Vua Dum-mu-kha xứ Pan-cà-la, Ðại đế Ni-mi xứ Vi-de-ha, Tất cả các ng ài rời bảo tọa, Sống không lầm lỗi, giã từ nhà. 6. Các ngài trông dáng tựa Thiên thần, Chẳng khác nào vầng lửa sáng bừng, Ta cũng muốn ra đi tiến bước Xa l ìa mọi vật thế nhân mong.
Nghe lời ngài, bà vợ đáp:
- Này phu quân, từ khi thiếp nghe Giáo pháp của các vị Ðộc Giác Phật, thiếp cũng không muốn ở trong nhà nữa.
Và bà ngâm kệ:
7. Thời cơ thiếp biết chính là đây, Chẳng có Ðạo Sư hơn các ngài, Chàng hỡi, thiếp mong xuất thế nữa, Như con chim được thoát b àn tay.
Bồ-tát nghe lời bà nói liền yên lặng, Bà vợ nôn nóng xuất gia tu hành trước ngài, và đang muốn đánh lừa ng ài, liền giả vờ nói:
- Này phu quân, thiếp sắp ra hồ nước, chàng hãy ch ăm nom các con.
Rồi bà cầm chiếc bình như thể đi đến đó v à bà đi thẳng đến các vị ẩn sĩ ngoại th ành xin truyền giới xuất gia. Bồ-tát không thấy bà trở về, đ ành phải tự tay ch ăm sóc các con.
Về sau chúng lớn khôn hơn một chút và tự chúng có thể hiểu biết đôi chút, ng ài muốn dạy chúng nấu cơm, nên ngài thường nấu một ngày cơm hơi cứng và sống, một ngày cơm hơi sống, một ngày cơm chín, một ngày cơm nhão, một ngày không có muối, một ngày quá nhiều muối. Bầy trẻ nói:
- Cha ơi, hôm nay cơm chưa chín, hôm nay cơm nhão, hôm nay không có muối, hôm nay quá nhiều muối.
Bồ-tát đáp:
- Ðúng vậy, các con thân yêu.
Rồi Ngài suy nghĩ: "Các con nay đ ã biết cơm nào sống, cơm nào chín, cơm nào có muối, cơm nào không: thế là chúng có thể sống riêng đời chúng rồi. Ta cần phải xuất gia". Sau đó, ng ài đưa chúng đến gặp đám thân quyến xong, ng ài liền xuất gia tu hành, cư trú ở ngoại thành. Một hôm vị nữ tu khổ hạnh đi khất thực ở Ba-la-nại thấy ng ài, liền kính chào và nói:
- Thưa Tôn giả, tôi chắc tôn giả đ ã giết bầy trẻ rồi.
Bồ-tát đáp:
- Ta không giết bầy trẻ, khi chúng có thể tự mình biết việc, ta mới xuất gia. Còn bà đ ã không quan tâm đến chúng v à vui lòng với việc xuất gia trước ta.
Rồi ngài ngâm vần kệ cuối cùng:
8. Thấy con biết mặn, nhạt khi ăn, Cơm sống, chín, ta đ ã bước chân, Nay để y ên ta, người một nẻo, Ta cùng theo Giáo pháp chân nhân.
Khuyến giáo vị nữ tu khổ hạnh như vậy xong, ngài từ giã bà. Bà nhận lời khuyến giáo ấy, kính bái Bồ-tát và đi đến một nơi vừa ý.
Sau ngày ấy, hai vị không bao giờ gặp lại nhau. Bồ-tát chứng đắc Thắng trí được tái sinh l ên Phạm thiên giới.
*
Sau Pháp thoại, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự thật. Khi các Sự thật kết thúc, n ăm trăm Tỷ-kheo đắc Thánh quả (A-la-hán.
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời ấy con gái là Uppalavannà (Liên Hoa Sắc), con trai là Ràhula (La-hầu-la), nữ tu sĩ là mẫu thân Rahula và nhà khổ hạnh ấy chính là Ta.
409. Chuyện Vua Dalhadhamma (Tiền thân Dalhadhamma)
Chính con khuân vác tự ngày xanh...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại rừng Ghosita (Cù-sư-la) gần Kosambi (Kiều-thưởng-di) về Bhaddavatika, con voi cái của vua Udena.
Bấy giờ cách con voi này được trang điểm v àng ngọc và dòng họ vua Udena sẽ xuất hiện trong tiền thân Màtanga, số 497. Một hôm con voi này ra ngoại thành sáng sớm gặp đức Phật được Thánh chúng vây quanh, trong vẻ oai nghi tối thượng của một bậc Giác Ngộ, đang v ào thành khất thực, nó quỳ xuống chân đức Như Lai, than khóc v à cầu khẩn Ngài:
- Bạch Thế Tôn, bậc toàn tri kiến, vị cứu khổ toàn thế giới, khi con còn trẻ và có khả n ăng l àm việc, vua Udena, một vị minh quân đ ã thương yêu con và bảo: "Ðời sống của ta cùng vương quốc và Hoàng hậu đều nhờ nó tất cả". Rồi ng ài ban cho con đại vinh hiển bằng cách trang điểm mọi thứ v àng ngọc, ngài truyền trát chuồng voi với đất trộn hương liệu, treo các đồ vật có m àu sắc rực rỡ chung quanh, thắp đ èn với dầu thơm, đặt dĩa trầm xông tại đó, ng ài lại truyền đặt một chậu bằng v àng tại chỗ con đại tiện, cho con đứng tr ên thảm màu và cho con ăn to àn cao lương thượng vị của vua. Nay con đ ã già và không làm việc được nữa, n ên ngài tước bỏ mọi đặc ân ấy, con sống bơ vơ khốn khổ không ai bảo vệ chăm sóc, chỉ ăn to àn quả ketaka trong rừng, con chẳng có nơi nương tựa nào nữa. Xin Thế Tôn nói cho vua Udena nghĩ lại các công đức của con v à phục hồi mọi vinh quang cũ cho con".
Bậc Ðạo Sư bảo:
- Con hãy đi về, rồi ta sẽ nói với vua phục hồi mọi vinh quang cũ cho con.
Sau đó ng ài đi đến cửa ho àng cung.
Vua mời đức Phật v ào, thiết đ ãi trọng thể tất cả hội chúng theo hầu đức Phật.
Khi buổi thọ thực đ ã xong, Bậc Ðạo Sư nói lời tùy hỷ công đức v à hỏi:
- Thưa Ðại vương, con voi Bhaddavatikà đâu rồi?
- Bạch Thế Tôn, trẫm không biết.
- Thưa Ðại vương, sau khi ban vinh hiển cho đám nô tỳ, ng ài tước bỏ mọi ân huệ lúc chúng già là không phải đạo, vậy cần tỏ l òng biết ân chúng. Bhaddavatikà nay đ ã già, mòn mỏi vì tuổi tác và không được ai bảo vệ, chỉ sống bằng trái cây ketaka trong rừng. Ðại vương để cho nó bơ vơ như vậy lúc gi à yếu là không hợp lý.
Rồi kể các công đức của con voi Bhaddavatik à, Ngài bảo:
- Ðại vương hãy phục hồi mọi vinh quang cũ của nó.
Xong Ngài ra đi. Vua l àm theo lời Ngài. Cả kinh thành truyền tin rằng vinh quang cũ của con voi đ ã được phục hồi nhờ đức Phật kể lại mọi công đức của nó.
Việc này được Tăng chúng biết v à chư vị bàn luận trong lúc hội họp. Bậc Ðạo Sư bước vào và khi nghe đây l à đề t ài của các vị, Ngài bảo:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu Như Lai l àm cho nó được phục hồi mọi vinh quang cũ bằng cách kể các công đức của nó.
Rồi Ngài kể câu chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa có một vị vua mệnh danh Dalhadhamma cai trị tại Ba-la-nại. Thời ấy Bồ-tát thọ sanh vào gia đ ình một đại thần, khi lớn l ên, ngài phục vụ nhà vua.
Ngài được vua ban nhiều vinh hiển v à đứng địa vị một đại thần quan trọng nhất trong triều. Vua có một con voi cái rất dũng m ãnh lực lưỡng. Nó đi một trăm dặm một ng ày, làm mọi phận sự sứ thần của vua, khi ra trận nó chiến đấu oanh liệt, dẫm nát quân th ù. Vua bảo:
- Con voi này thật hữu ích đối với ta.
Rồi vua ban cho nó mọi thứ trang điểm v à vinh quang giống như vua Udena ban cho Bhaddavatikà ngày nay. Sau đó khi nó gi à yếu, vua tước hết mọi đặc ân tr ên.
Từ đó nó không được ai bảo vệ v à chỉ sống bằng các thứ cỏ lá trong rừng. Một hôm các loại đồ gốm sứ trong cung vua không đủ d ùng, vua truyền thợ gốm lại và phán:
- Ðồ gốm không đủ d ùng.
- Tâu Ðại vương, tiểu thần không có bò kéo xe để mang phân b ò về nung đất sét.
Vua nghe chuyện, liền phán:
- Con voi cái của ta đâu rồi?
- Tâu Ðại vương, nó đang phi êu bạt tùy ý.
Vua bảo đem nó cho người thợ gốm:
- Từ nay ngươi buộc nó vào xe rồi đưa đi chở phân.
Người thợ gốm đáp:
- Tâu Ðại vương, tốt quá.
Rồi gã làm theo lời dặn. Một hôm ra ngoại thành, voi cái chợt thấy Bồ-tát đi đến, liền quỳ xuống chân ng ài vừa than khóc vừa nói:
- Thưa Tể tướng, thời con còn trẻ, đức vua xem con rất hữu dụng v à ban con đại vinh hiển, nay con gi à yếu, ngài tước bỏ mọi đặc ân v à không còn nghĩ đến con nữa, con không được ai bảo vệ v à chỉ sống bằng cỏ lá trong rừng, gặp cảnh khốn cùng thế này ngài lại đem con cho người thợ gốm buộc v ào xe chở phân; trừ Tể tướng ra, con không còn nơi nương tựa nào cả, chính Tể tướng đ ã biết mọi công lao con phục vụ đức vua, xin ng ài cho con được phục hồi mọi vinh hiển đ ã mất.
Rồi voi cái ngâm ba vần kệ:
1. Chính con khuân vác tự ngày xanh, Như vậy đức vua đ ã thỏa tình? Vũ khí con mang đầy trước ngực Xông pha chiến trận, bước h ùng anh. 2. Con đ ã lập nên lắm chiến công, Ðức vua giờ hẳn có quên ch ăng Bao lần phục vụ nhiều công trạng Như đ ã định cho các sứ thần? 3. Nay con cô độc, quá bơ vơ, Chắc chắn mạng chung đ ã đến giờ, Phục vụ cho nh à người thợ gốm, Con đ ành làm vật kéo phân dơ!
Bồ-tát nghe chuyện, liền an ủi nó và bảo:
- Thôi đừng buồn khổ nữa, ta sẽ đi tr ình đức vua v à phục hồi vinh dự cho con.
Vì thế khi vào thành, ngài đi đến chầu vua sau buổi điểm tâm v à bắt đầu câu chuyện, ng ài bảo:
- Tâu Ðại vương, có phải con voi cái mang tên kia đ ã ra trận chiến tại những nơi nọ với các vũ khí buộc đầy ngực; rồi ng ày khác nó lại mang quốc thư ở cổ đi cả trăm dặm l àm sứ giả cho Ðại vương, và Ðại vương ban cho nó nhiều vinh hiển ch ăng, nay nó đâu rồi?
- Trẫm đ ã giao nó cho người thợ gốm chở phân bò.
Bồ-tát liền đáp:
- Có hợp đạo lý chăng, tâu Ðại vương, khi giao nó cho người thợ gốm buộc vào xe chở phân?
Rồi để khuyến giáo, ng ài ngâm bốn vần kệ:
4. Do ích kỷ tham vọng cá nhân, Người ta ban phát mọi vinh quang, Như ngài đối với con voi nọ, Ném bỏ như nô lệ yếu t àn. 5. Khi người quên hết các huân công. Thiện sự ngày xưa hưởng trọn phần, Mọi việc mà lòng đang dự tính Ng ày sau chắc hẳn phải suy vong. 6. Khi người ghi nhớ các công ơn Thiện sự ngày xưa hưởng trọn phần, Mọi việc mà lòng đang dự tính Ng ày sau chắc hẳn sẽ thành công. 7. Ta nói điều chân lý trọn l ành, Cho thần dân tụ tập chung quanh: Phải luôn ghi nhớ công ơn cũ, Thiên giới dành phần sống hiển vinh.
Với lời khởi đầu n ày, Bồ-tát giáo hóa toàn thể dân chúng đang tụ tập ở đó. Nghe vậy vua ban cho con voi gi à mọi hiển vinh cũ, và về sau được an trú v ào lời dạy của Bồ-tát, vua bố thí cùng thực hành nhiều thiện sự khác nên được sinh l ên cõi thiên.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, voi cái là Bhaddavatikà, vua là Ànanda, vị đại thần chính l à Ta.
410. Chuyện Voi Con Somadatta (Tiền thân Somadatta)
Bước sâu vào tận trong rừng...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên, về một Trưởng lão già cả.
Chuyện kể rằng vị Trưởng lão này truyền giới cho một Sa-di làm đệ tử, phụng sự vị ấy nhưng chẳng bao lâu lâm bệnh nặng qua đời. Trưởng l ão đi quanh quẩn khóc than k êu gào vì cái chết của đệ tử.
Thấy vậy T ăng chúng bắt đầu b àn tán trong Chánh pháp đường:
- Này các Hiền giả, vị Trưởng lão già cả này cứ lang thang kêu khóc vì một Sa-di chết, chắc hẳn vị ấy đ ã quên pháp môn quán tưởng về mạng chung.
Bậc Ðạo Sư bước vào và khi nghe đề t ài câu chuyện, Ngài bảo:
- Náy các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu người n ày khóc người kia chết.
Rồi Ngài kể câu chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vị ở Ba-la-nại, Bồ-tát là Sakka Thiên chủ. Một Bà-la-môn giàu tiền của, trước sống ở Ba-la-nại, sau giã từ thế tục và trở thành ẩn sĩ khổ hạnh ở vùng Tuyết Sơn, nhặt củ quả rừng để ăn.
Một hôm đi t ìm quả rừng, ông thấy một chú voi con, liền đem về thảo am. Ông xem nó như thể con m ình gọi tên nó là Somadatta, nuôi nấng ch ăm sóc nó v à cho nó ăn cỏ lá. Con voi lớn dần trở th ành to lớn, song một hôm nó ăn quá nhiều n ên phát bệnh vì bội thực. Vị khổ hạnh đem nó v ào thảo am và đi t ìm quả rừng. Song trước khi ông trở về, con voi đ ã chết. Khi đem về mớ quả, vị khổ hạnh suy nghĩ: "Các ng ày khác con ta vẫn đón ta, sao không thấy hôm nay? Con ta bị việc g ì ch ăng?". Thế l à ông than khóc và ngâm vần kệ đầu:
1. Bước sâu vào tận trong rừng, Nó thường vẫn đến đón mừng ta ngay, Nhưng sao chẳng thấy hôm nay, Voi con đi lạc chẳng hay lối về?
Cùng với lời than khóc này, ông thấy con voi nằm cuối lối đi có mái che, liền ôm ngang cổ nó v à ngâm vần kệ thứ hai tiếc thương nó:
2. Chính voi vừa chết nằm kia Như búp m ăng bị cắt l ìa nát thân, Voi nằm dưới đất ng ã l ăn, Con voi ta đ ã lìa trần, than ôi!
Ngay lúc ấy Sakka Thiên chủ quan sát cõi trần, suy nghĩ: "Vị khổ hạnh này từ giã vợ con để tu h ành, nay lại than khóc con voi mà ông gọi là con, ta muốn đến thức tỉnh ông v à làm cho ông suy nghĩ lại".
Vì thế ngài xuất hiện trước thảo am, đứng tr ên không và ngâm vần kệ thứ ba:
3. Sầu thương vật đ ã chết rồi, Hỡi người khổ hạnh sống đời độc cư, Thoát dây tục lụy, xuất gia, Giờ đây phát bệnh tâm tư buồn phiền!
Nghe lời này, vị khổ hạnh ngâm vần kệ thứ tư:
4. Nếu người bầu bạn thú hiền, Thưa ngài Ðế Thích ở trên cõi trời, Buồn phiền vì mất bạn chơi, Tuôn dòng nước mắt sẽ vơi nỗi sầu!
Thiên chủ Sakka liền ngâm vần kệ khuyến giáo ông.
5. Người đời lắm kẻ ước ao Mỗi khi vật mất, k êu gào tiếc thương, Thôi đừng khóc nữa, trí nhân, Thánh hiền vẫn bảo ho ài công thôi mà.
6. Nếu nhờ nước mắt tuôn ra Chúng ta có thể vượt qua tử thần, Thì ta quyết phải hợp quần Ðể mà cứu mọi vật thân nhất đời!
Nghe lời Thiên chủ nói, vị khổ hạnh nghĩ lại và được an ủi, b èn lau nước mắt và ngâm các vần kệ cuối cùng tán thán Thiên chủ:
7. Ví như ngọn lửa sáng ngời Ðổ thêm bỏ sữa cháy hoài thật cao, Ðược vòi nước lạnh tưới vào, Ngài vừa dập tắt nỗi sầu của ta. 8. Lòng ta nhức nhối xót xa Vì tên sầu não xuyên qua kinh hoàng, Ngài đ à chữa trị vết thương, Và ngài hồi phục đời thường cho ta. 9. Mũi t ên vừa được nhổ ra, L òng ta tràn ngập an hòa vui tươi Lắng nghe Thiên chủ nhủ lời, Ta không còn phải chơi vơi khổ sầu.
Các vần kệ này đ ã được ngâm ở tiền thân Migapotaka, số 372.
Sau khi khuyến giáo vị khổ hạnh, Sakka trở lại cõi của ngài.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, voi con là Sa-di, vị khổ hạnh là Trưởng lão già cả này và Sakka Thiên chủ chính là Ta.
411. Chuyện Vua Susìma (Tiền thân Susìma)
Tóc ta đen nhánh từ ng ày xưa...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về Ðại sự Xuất thế.
T ăng chúng lúc ấy đang ngồi trong Chánh pháp đường tán thán Ðại sự Xuất thế của đức Phật. Khi thấy đây l à chủ đề của các vị, Ng ài bảo:
- Này các Tỷ-kheo, không lạ gì ngày nay ta lại làm Ðại sự Xuất thế và giã từ thế tục, khi Ta đ ã thực hành các công hạnh viên mãn (Ba-la-mật) trong hàng tr ăm ng àn kiếp, mà ngày xưa Ta cũng từ bỏ ngai vàng tại quốc độ K àsi rộng ba tr ăm dặm v à làm Ðại sự Xuất thế.
Và vì vậy Ngài kể câu chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát nhập mẫu thai của bà vợ vị tế sư hoàng gia. Trong ngày sinh ra ngài, hoàng hậu cũng sinh một con trai.
Vào ngày lễ đặt t ên, bậc Ðại Sĩ được gọi l à Nam tử Susìma, và hoàng nam được đặt t ên Vương tử Brahmadatta.
Vua thấy đôi trẻ c ùng sinh ra một ngày nên truyền đưa Bồ-tát giao cho nhũ mẫu c ùng nuôi chung với vương tử. Cả hai trẻ lớn lên tươi đẹp như các Thi ên tử trên trời.
Cả hai đều học đủ mọi ng ành nghệ thuật ở Takkasilà và trở về nhà. Vương tử trở thành phó vương, cùng ăn uống, sống chung với Bồ-tát. Lúc vua cha băng h à, hoàng tử lên làm vua, ban cho Bồ-tát mọi vinh hiển và phong chức tế sư hoàng gia.
Một hôm tân vương truyền trang hoàng cả kinh thành, rồi được tô điểm rực rỡ như Sakka Thi ên chủ, vua tham dự đám rước quanh kinh th ành, ngự trên vai vương tượng chẳng khác nào bảo tượng Eràvana của Thiên chủ, trong niềm tự hào cùng với Bồ-tát ngồi phía sau trên lưng voi. Mẫu hậu nhìn ra từ cửa sổ trông thấy hoàng nam và chợt thấy vị tế sư sau lưng vua khi ngài từ đám rước trở về. B à đâm ra si t ình ngài, liền đi v ào hậu cung nghĩ thầm: "Nếu ta không chiếm được ch àng, ta sẽ chết tại đây". V ì thế bà bỏ ăn uống v à cứ nằm tại đó.
Vua không thấy mẹ liền hỏi th ăm, khi nghe b à bị bệnh, vua đến hỏi thăm v à cung kính hỏi bà bị bệnh gì. Bà không nói vì hổ thẹn. Vua liền ngự lên ngai, truyền chánh cung hoàng hậu đi t ìm hiểu xem thái hậu bị bệnh gì.
Hoàng hậu đến, vừa hỏi thăm, vừa vuốt ve lưng mẫu hậu. Nữ nhân thường không dấu nhau các chuyện bí mật, v ì thế chuyện bí mật kia được tiết lộ. Ho àng hậu liền đi tr ình vua. Vua bảo:
- Ðược rồi, ái khanh đi an ủi mẫu hậu, ta sẽ tôn vị tế sư l ên làm vua và mẫu hậu lên làm chánh hậu của ngài.
Hoàng hậu liền đến an ủi thái hậu. Vua truyền mời vị tế sư đến kể lại vấn đề:
- Này Hiền hữu, hãy cứu mạng mẹ ta, khanh sẽ làm vua và mẹ ta sẽ lên làm chánh hậu, còn ta sẽ làm phó vương.
Vị tế sư đáp:
- Không thể được.
Song cứ bị khẩn cầu mãi, ngài bằng lòng và vua tôn ngài lên làm vua, mẫu hậu làm chánh hậu và chính mình làm phó vương. Tất cả mọi người đều sống h òa hợp, song Bồ-tát khô héo dần giữa cuộc sống tại gia. Ngài từ bỏ mọi dục lạc và hướng về đời tu h ành.
Chẳng còn màng các lạc thú trần gian, ngài đi đứng nằm ngồi như t ù nhân bị giam lỏng hay con gà trống trong lòng son. Chánh hậu suy nghĩ: "Hoàng thượng tránh mặt ta, ngài đi đứng nằm ngồi một m ình, giờ đây ng ài vẫn tươi trẻ, còn ta đ ã già và có tóc bạc. Giả sử ta kể cho ngài nghe chuyện ngài đ ã có tóc bạc, khiến cho ngài tin chuyện ấy và đến bầu bạn với ta chăng?"
Một hôm, làm như thể lau đầu vua, b à nói:
- Hoàng thượng sắp già rồi đấy, có sợi tóc bạc tr ên đầu ho àng thượng!
- Hãy nhổ nó ra và đặt v ào tay trẫm.
Hoàng hậu nhổ một sợi tóc, nhưng lại ném nó đi v à đặt v ào tay ngài một sợi tóc bạc của bà. Khi thấy nó, nỗi sợ chết khiến mồ hôi đổ ra chảy xuống trán ng ài, dù vầng trán bóng láng như một phiến vàng, ngài tự nhủ mình: "Này Susìma, ngươi đ ã già cỗi ngay tuổi thanh xuân, suốt bấy lâu nay ngươi chìm sâu vào vũng bùn dục lạc như thể con heo vùng quê lặn lội trong đầm lầy dơ bẩn, ngươi không thể xa rời b ùn nhơ được. H ãy rời bỏ tham dục, và sống đời khổ hạnh ở v ùng Tuyết Sơn. Nay đ ã đến thời xuất gia rồi". C ùng với ý tưởng này, ngài ngâm vần kệ đầu:
1. Tóc ta đen nhánh tự ng ày xưa Vẫn mọc quanh vần trán của ta, Bạc trắng giờ đây, lưu ý nhé: Ðến thời tu tập giã từ nhà.
Như thế Bồ-tát ca tụng đời tu h ành, nhưng hoàng hậu thấy bà đ ã làm cho ngài rời bỏ bà chứ không phải yêu thương bà, nên lòng sợ hãi, bà muốn cản trở ngài sống đời xuất gia, bằng cách ngâm hai vần kệ ca tụng dung sắc ng ài:
2. Tóc bạc thiếp đây, chẳng phải ch àng, Từ trên đầu thiếp mới đưa sang, V ì chàng, thiếp nói điều hư vọng, Xin lượng thứ cho lỗi thiếp l àm. 3. Trông chàng tươi đẹp, dáng thanh tân Như một cây non trẻ giữa xuân, H ãy trị nước nhà, cười với thiếp, Ðừng tìm việc của tuổi thu đông!
Nhưng Bồ-tát đáp:
- Này hoàng hậu, bà đang nói đến những việc phải xảy đến: Khi tuổi tác chín muồi, tóc đen n ày phải ngã màu bạc như vôi, ta thấy sự biến hoại của xác thân theo n ăm tháng lúc đến tuổi l ão thành, từ công nương cho đến mọi người khác, d ù có dịu mềm như tràng hoa sen xanh, sáng đẹp như v àng ròng, và say sưa với niềm kiêu hãnh về tuổi xuân rực rỡ của mình. Này hoàng hậu, đó l à kết thúc đáng sợ của mọi lo ài hữu tình.
Hơn nữa, muốn trình bày chân lý với oai lực của một vị Phật, ngài ngâm hai vần kệ:
4. Ta thường trông thiếu nữ xuân thì, Uyển chuyển như cành lả lướt kia, Kiêu mạn vì hình dung diễm lệ, Mọi người say ngắm bước chân đi. 5. Cũng chính n àng kia, ta ngắm trông (Trải qua đ ã tám, chín mươi n ăm) Run run chân bước, tay cầm gậy, Thân thể c òng như ngọn liễu rung.
Trong vần kệ này bậc Ðại Sĩ nêu rõ nỗi khổ đau của dung sắc v à giờ đây ng ài tuyên bố nỗi bất mãn của ngài với đời tại gia:
6. Những ý tưởng này ta xét luôn, Tư duy vẫn đến giữa đ êm đơn, Ðời người thế tục ta không chuộng, Ðúng lúc tu hành phải bước chân. 7. Dục lạc trong đời sống thế nhân L à nơi hèn yếu để nương thân, Trí nhân cắt đứt, theo đường khác, Bỏ dục lạc đầy đủ lực h ùng.
Như vậy trong khi tuyên bố các lạc thú lẫn khổ đau của tham dục, ng ài giảng bày chân lý với vẻ kỳ diệu của bậc Giác Ngộ, rồi ngài truyền đi mời thân hữu của ng ài đến nhận lại vương quốc: ng ài từ giã vinh quang và quyền lực giữa tiếng than khóc vang rền của thân bằng quyến thuộc, rồi trở thành bậc hiền nhân khổ hạnh ở vùng Tuyết Sơn, và về sau chứng đắc Thi ên định, ng ài được tái sinh l ên cõi Phạm thiên.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự thật và đem lại nguồn nước bất tử cho nhiều người, rồi Ng ài nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, chánh hậu là mẫu thân Ràhula, vua là Ánanda và vua Susìma chính là Ta.
412. Chuyện Thần Cây Bông Vải (Tiền thân Kotisimbalì)
Ta mang thân xác của xà vương...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về việc khiển trách lỗi lầm. Hoàn cảnh đưa đến chuyện n ày sẽ xuất hiện trong tiền thân Pannna (không tìm được).
Vào dịp này Bậc Ðạo Sư nhận thấy n ăm trăm Tỷ-kheo sống trong Tinh xá tr ên Con Ðường Lát Vàng (Kỳ Viên) đang bị dục tưởng chi phối, liền tập hợp Tăng chúng lại v à bảo:
- Này các Tỷ-kheo, cần phải hoài nghi nơi nào đáng ho ài nghi, lỗi lầm vây phủ con người như rễ cây đa hay những cây tương tự mọc quanh các cây khác. Cũng vậy, ng ày xưa một vị thần trú trên đỉnh cây bông vải thấy một con chim thả phân có các hột cây đa nằm giữa các c ành cây bông vải, sinh lòng lo sợ rằng nơi trú ẩn của mình sẽ bị tàn phá vì chúng.
Và do vậy Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát là Thần cây trú trên ngọn cây bông vải. Một chúa chim thần cánh vàng, Kim sí điểu vương, biến h ình dài một tr ăm năm mươi dặm, rồi rẽ nước đại dương bằng trận cuồng phong do đôi cánh đập mạnh, nó chụp lấy đuôi một vua rắn thần N àga dài một ngàn trượng, khiến cho xà vương phải nhả hết mọi vật đ ã ngậm trong miệng, xong nó liền bay lên theo các ngọn cây về phía cây bông vải.
Xà vương suy nghĩ: "Ta sẽ làm cho nó thả ta ra để ta đi". V ì vậy rắn thành dán sát đầu v ào cây đa v à quấn quanh cây thật chặt. Do sức mạnh của chú chim thần và thân xác khổng lồ của xà vương, cây đa bị bật gốc. Song x à vương vẫn không rời cây đa. Chúa chim thần mang cả x à vương lẫn cây đa đến cây bông vải kia, đặt rắn thần l ên thân cây, mổ bụng ra ăn thịt mỡ. Sau đó nó ném xác rắn xuống biển.
Bấy giờ trên cây đa có con chim nhỏ bay l ên khi cây đa bị ném bỏ, rồi đậu tr ên một cành cây cao gần cây bông vải. Thấy con chim, Thần cây liền run rẩy toàn thân vì sợ hãi, và suy nghĩ: "Con chim này sẽ thả phân nó rơi trên thân ta, rồi một cây đa hay cây sung sẽ mọc l ên và lan tràn khắp thân cây, thế là nơi trú ẩn của ta sẽ bị phá hoại". Lúc ấy cây bông vải rung chuyển tận gốc vì cơn kinh hãi của Thần cây. Kim sí điểu vương thấy cây rung chuyển như vầy, liền ngâm đôi vần kệ hỏi lý do:
1. Ta mang thân xác của xà vương Cùng với thân ta lớn dị thường, Thân rắn kia dài ngàn trượng chẵn, Song cây không chuyển động kinh ho àng. 2. Nay mang chim nhỏ bé ti ti So với ta đây chẳng sá chi, Cây lại run ho ài vì sợ hãi, Hỡi cây bông vải, lý do gì?
Sau đó Thần cây ngâm bốn vần kệ giải thích lý do:
3. Thịt mỡ ngài xơi, hỡi Ðiểu vương, Trái cây là thức của chim muông, Hạt đa, sung, với bồ-đề nữa, Nếu mọc, to àn thân ta chết luôn! 4. Hạt ấy về sau sẽ mọc cây, Rồi che phủ cả hết thân này, Ta không còn có cây nào nữa Vì bị chúng che kín phủ đầy. 5. Một khi cây đ ã lớn lên nhanh, Rễ mạnh quanh thân, rậm rạp cành, Chứng tỏ hạt do chim tích trữ Mang mầm hủy hoại đến cho m ình. 6. Loại cây mọc bám sẽ chôn thây Ngay cả cây rừng vĩ đại n ày, Vì vậy, Ðiểu vương, ta rúng động Khi ta lo sợ thấy như vầy.
Nghe lời thần cây, điểu vương ngâm vần kệ cuối c ùng:
7. Phải kinh hãi việc đáng kinh ho àng, Hiểm họa đến thân phải hộ ph òng, Bậc trí lặng nhìn hai thế giới, Nếu gây kinh hãi, phải rời chân.
Nói vậy xong, điểu vương d ùng sức mạnh đẩy con chim nhỏ ra khỏi cây ấy.
*
Sau Pháp thoại, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự thật bắt đầu bằng những lời: "Cần phải ho ài nghi nơi nào đáng ho ài nghi". Khi các Sự thật kết thúc, n ăm trăm vị Tỷ-kheo được an trú v ào Thánh quả (A-la-hán).
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, Sàriputta là Ðiểu vương và Ta chính là Thần cây.
413. Chuyện Người Ch ăn D ê Dhùmakàri (Tiền thân Dhùmakàri)
Một hôm minh đế Yu-dhi-la...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về đặc ân của Ðại vương Kosala đối với một người khách lạ.
Chuyện kể rằng có thời vua không dành đặc ân cho các v õ tướng cũ vẫn đến chầu vua như thường lệ, m à lại ban vinh dự và tỏ lòng hiếu khách đối với những người mới yết kiến lần đầu. Thời ấy vua đi chinh chiến ở một tỉnh bi ên địa bị quấy phá. Nhưng các v õ tướng cũ của vua không muốn giao chiến vì nghĩ rằng những võ tướng mới được hưởng đặc ân sẽ chiến đấu v à đám người mới n ày cũng không muốn chiến đấu v ì nghĩ rằng những vị tướng cũ sẽ làm việc ấy. Do vậy quân phiến loạn thắng trận.
Vua biết thất bại của mình là do sai lầm mình đ ã mắc phải khi ban ân huệ cho bọn người mới, liền trở về thành Xá-vệ. Vua quyết định hỏi đức Thế Tôn Ðại Trí xem mình có phải là ông vua duy nhất chịu thất bại vì lý do kia ch ăng. Bậc Ðạo Sư đáp:
- Thưa Ðại vương, Ðại vương không phải là trường hợp duy nhất, vua chúa ngày xưa cũng bị bại trận vì đ ã ban đặc ân cho đám người mới.
Rồi Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày xưa tại thành Indapattana, ở quốc độ Kuru, có vị vua ngự trị mệnh danh l à Dhananjaya, thuộc dòng họ Yudhithila. Bồ-tát được sinh v ào gia đ ình vị tế sư của vua. Khi lớn lên, ngài học tập mọi nghệ thuật ở Takkasilà. Sau ngài trở về Indapattana và khi thân phụ từ trần, ngài trở thành vị tế sư hoàng gia kiêm cố vấn của vua về thế sự cũng như thánh sự. Danh hiệu của ngài là bậc Trí nhân Vidhùra.
Vua Dhananjaya coi thường các võ tướng cũ của mình và ban đặc ân cho các người mới. Sau đó vua đi chinh chiến ở một tỉnh bi ên thùy có loạn; nhưng cả đám v õ tướng cũ lẫn võ tướng mới đều không muốn giao chiến, mỗi phe đều nghĩ rằng phe kia sẽ chăm lo việc ấy. Do đó vua bại trận.
Khi trở về Indàpattana, vua nhận xét rằng sự thất bại ấy là do đặc ân m à mình đ ã dành cho đám người mới. Một hôm vua suy nghĩ: "Có phải ta l à vị vua duy nhất từng bại trận vì ban ân huệ cho đám người mới, hay cũng có nhiều kẻ khác c ùng chung số phận này trước kia? Ta muốn hỏi bậc Trí nhân Vidhùra". Vì thế vua đưa lời chất vấn Trí nhân Vidh ùra khi ngài đến yết kiến vua tại triều đ ình.
Bậc Ðạo Sư ngâm kệ nêu rõ lý do lới chất vấn của vua:
1. Một hôm minh đế Yu-dhi-la, Hỏi bậc Trí nhân Vi-dh ù-ra: "Hiền hữu Bà-la-môn có biết Tim ai sầu thống thiết hơn ta?"
*
Nghe vậy, Bồ-tát đáp:
- Tâu Ðại vương, nỗi sầu của ngài chỉ là điều nhỏ nhặt. Ng ày xưa, một Bà-la-môn ch ăn d ê tên gọi Dhùmakàri nuôi một đ àn dê lớn, và làm chuồng cho chúng ở trong rừng. Vị ấy đốt lửa xông khói v à sống bằng sữa dê tại đó để chăm sóc đ àn dê.
Khi thấy một bầy nai da vàng óng ả chợt đến, ông lại sinh l òng thương mến chúng và xao lãng bầy dê, ông tỏ hết lòng quý trọng bầy nai. Vào mùa thu, bầy nai lại di chuyển về vùng Tuyết Sơn. Trong lúc bầy dê chết dần như thế, bầy nai cũng khuất dạng sau rặng núi. Do quá khổ não, ông mắc bệnh xanh xao võ vàng và từ trần. Ông đ ã bày tỏ đặc ân với đám nai mới v à phải chết vì chịu buồn khổ thống thiết hơn Ðại vương cả tr ăm ng àn lần.
Ngài liền ngâm vần kệ nêu rõ trường hợp này:
2. Bà-la-môn có một bầy dê, Dòng họ Va-si sang trọng kia, Ðốt lửa ngày đ êm luôn bốc khói, Sống đời an lạc chốn sơn kh ê. 3. Ngửi mùi khói bốc, một bầy nai Do bị nhặng đeo quấy rối ho ài, Tìm chỗ trú khi mưa gió đến, Gần nh à mục tử Dhu-ma-kai. 4. Bầy nai giờ được mọi y êu thương, Dê chẳng được ai thiết ngó ng àng, Ði lại tự do không bảo hộ, Cho nên chúng phải bị suy tàn. 5. Song nay nhặng đ ã bỏ khu rừng, Thu đến, m ùa mưa chấm dứt luôn, Nai phải đi t ìm bao đỉnh núi, C ùng khe suối chảy ở trên nguồn. 6. Mục tử thấy nai đ ã bỏ đi, Cả bầy d ê cũng chết nằm kia, Bệnh sầu não đến l àm mòn mỏi Da dẻ ngày thêm một tái tê. 7. Vậy người nào bỏ mặc thân bằng, Lại gọi người xa lạ thân thiết Như lão Dhu-ma-kai mục tử, Một mình, dòng lệ đắng cay tuôn.
Ðấy là câu chuyện do bậc Ðại Sĩ kể lại để an ủi vua. Vua được an ủi, l òng rất hoan hỷ liền ban tặng ngài nhiều châu báu. Từ đó trở đi, vua b ày tỏ ân sủng đối với to àn dân, làm nhiều thiện sự công đức n ên được sinh l ên cõi Thiên.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, vua xứ Kuru là Ànanda, Bà-la-môn Dhùmakàri là vua Pasenadi (Ba-tư-nặc), nước Kosala, và bậc Trí nhân Vidhùra là Ta.
414. Chuyện Người Tỉnh Thức (Tiền thân Jàgara)
Ai thức tỉnh khi nhiều người đang ngủ...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một cư sĩ. Ðó là một đệ tử đ ã đắc Nhập lưu Ðạo.
Một hôm ông khởi hành từ Xá-vệ cùng với một đo àn xe đi theo đường rừng. Ðến một nơi có cảnh đẹp v à nước chảy, người trưởng đo àn buộc xe ngựa lại, sửa soạn thức ăn đủ loại cứng mềm v à tạm ở lại đó. Mọi người nằm xuống ngủ rải rác khắp nơi. C òn vị cư sĩ cứ đi v òng quanh gốc thân cây cạnh người trưởng đo àn. Lúc ấy n ăm trăm t ên cướp dự định cướp đo àn xe. Cầm đủ mọi khí giới trong tay, chúng bao vây đo àn xe và chờ đợi. Khi thấy người cư sĩ đang đi dạo, chúng đứng đợi để bắt đầu đánh phá lúc ông đi ngủ. Nhưng ông cứ đi lại suốt đ êm. Ðến tảng sáng, bọn cướp ném vũ khí cùng gậy đá chúng đ ã lượm, rồi bỏ đi v à bảo:
- Này ông trưởng đo àn lữ khách, ông làm chủ tài sản này vì ông đ ã được cứu mạng nhờ người kia tỉnh thức thật tinh chuy ên: Ông cần phải suy tôn ông ấy.
Mọi lữ khách thức dậy đúng giờ, thấy đám khí giới gậy đá do bọn cướp ném bỏ, liền b ày tỏ lòng cung kính, biết ơn vị cư sĩ vì hiểu rằng họ sống được l à nhờ ông.
Vị cư sĩ ấy đến nơi đ ã định, l àm công việc xong, trở về Xá-vệ và đến Kỳ Vi ên: tại đó ông đến yết kiến v à đảnh lễ đức Như Lai cung kính v à ngồi dưới chân Ngài, rồi do lời Ngài yêu cầu, ông kể mọi chuyện cũ. Bậc Ðạo Sư bảo:
- Này cư sĩ, không phải chỉ riêng ông tạo được công đức đặc biệt lớn nhờ tỉnh thức v à hộ phòng, mà các bậc trí ngày xưa cũng đ ã làm như vậy.
Và theo lời thỉnh cầu của vị cư sĩ. Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát được sinh v ào một gia đ ình Bà-la-môn . Khi lớn lên ngài học tập đủ mọi nghệ thuật ở Takkasil à và trở về nhà sống đời gia chủ.
Sau một thời gian, ngài rời bỏ nhà và trở thành ẩn sĩ. Chẳng bao lâu ngài đắc các Thiền chứng v à sống tại vùng Tuyết Sơn, ngài chuyên tâm đi v à đứng, ng ài chỉ kinh hành suốt đ êm chứ không ngủ.
Một vị Thần cây ở cuối lối đi của ng ài hoan hỷ nhìn thấy ngài như vậy và ngâm vần kệ đầu:
1. Ai thức tỉnh khi nhiều người đang ngủ? Ai ngủ khi bao người khác dậy rồi? Ai l à người hiểu câu đố của tôi? Ai có thể giải đáp tôi điều đó?
Bồ-tát nghe lời vị Thần cây, liền ngâm vần kệ này:
2. Ta thức tỉnh khi nhiều người đang ngủ, Ta ngủ khi bao người khác dậy rồi, Ta l à người hiểu câu đố của ng ài, Ta có thể giải đáp ng ài điều đó.
Vị Thần cây ngâm vần kệ hỏi lại câu này:
3. Sao ngài thức khi nhiều người đang ngủ? V à ngủ khi bao kẻ khác dậy rồi? Làm sao ngài hiểu câu đố của tôi? V à giải đáp điều n ày ngay lập tức?
Bồ-tát giải thích vấn đề n ày:
4. Có nhiều kẻ vẫn quên rằng giới đức Nằm ở trong sự tiết dục điều thân, Vậy bao người đang ngủ giấc mơ m àng, Còn ta thức, hỡi Thần cây cổ thụ. 5. Tham, sân, si của số người nào đó Ðã không còn hiện hữu ở trong lòng, Vậy các người kia đ ã tỉnh giấc nồng, Ta còn ngủ, hỡi Thần cây cổ thụ! 6. Vậy ta thức khi nhiều người đang ngủ, V à ngủ khi bao kẻ khác tỉnh rồi, Vậy là ta hiểu câu đố của ng ài, Và giải đáp lại lời ng ài rồi đó.
Khi Bậc Ðại Sĩ đ ã giải đáp lời n ày, vị Thần rất hoan hỷ và ngâm vần kệ tán thán:
7. Lành thay ngài tỉnh thức khi người ngủ, Và ngủ khi bao người khác tỉnh rồi! Lành thay ngài hiểu câu đố của tôi, Lời giải đáp của ng ài bao tốt đẹp!
Như vậy sau khi tán thán Bồ-tát, vị Thần cây trở vào nơi an trú của mình trên cây.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, vị thần cây là Uppalavannà (Liên Hoa Sắc) và nhà khổ hạnh chính là Ta.
415. Chuyện Phần Cháo Cúng Dường (Tiền thân Kummasàpinda)
Cúng dường chư Phật quý cao thay...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về Hoàng hậu Mallikà (Mạt-lợi).
Nàng nguyên là con gái của vị trưởng nghiệp đo àn bán vòng hoa, cực kỳ diễm lệ và hiền thục. Khi nàng được mười sáu tuổi, trong lúc đi đến vườn hoa c ùng các thiếu nữ khác, nàng mang theo ba phần cháo sữa chua trong giỏ hoa. Khi nàng rời thành phố, nàng trông thấy đức Thế Tôn v ào thành, tỏa hào quang rực rỡ và được Tăng chúng vây quanh, n àng đem cúng dường Ng ài ba phần cháo ấy.
Bậc Ðạo Sư đưa bát của ng ài ra nhận cháo. Nàng đảnh lễ chân đức Như Lai v à lấy niềm hoan hỷ ấy làm chủ đề Thiền quán, n àng đứng sang một b ên. Bậc Ðạo Sư mỉm cười, nhìn nàng. Tôn giả Ànanda tự hỏi tại sao đức Như Lai mỉm cười v à hỏi Ngài vấn đề n ày. Bậc Ðạo Sư nói lý do:
- Này Ànanda, cô gái này hôm nay sẽ trở thành chánh hậu của vua Kosala do phước báo ba phần cháo này.
Còn cô gái tiếp tục bước đến vườn hoa. Ngay chính hôm ấy vua Kosala giao chiến với vua Aj àtasattu (A-xà-thế) và thất bại phải đ ào tẩu. Trong khi đang đi ngựa, vua nghe tiếng n àng hát rất hấp dẫn liền thúc ngựa vào khu vườn. Công đức của cô gái đ ã đến thời chín muồi, v ì thế khi thấy vua, nàng không chạy trốn mà đi đến cầm lấy dây cương nơi mũi ngựa. Vua ngồi tr ên lưng ngựa hỏi nàng đ ã có chồng chưa. Khi nghe nàng đáp chưa, ông xuống ngựa v à đang mệt mỏi v ì nắng gió, ông nằm nghĩ chốc lát trên đ ùi nàng. Sau đó ông đưa n àng lên ngựa, cùng đạo quân h ùng hậu đi v ào thành, đưa n àng đến tận nh à riêng.
Chiều hôm ấy vua phái một vương xa trong cảnh vô cùng vinh quang lộng lẫy đến rước n àng từ nhà nàng về đặt l ên một bảo tọa đầy châu báu, l àm lễ quán đảnh (rảy nước thánh l ên đầu) cho n àng và phong nàng làm chánh hậu. Từ đó trở đi, n àng trở thành hoàng hậu thân thiết tận tụy được vua sủng ái, n àng có đầy đủ năm vẻ y êu kiều của nữ nhi, lại có đủ đám nô tỳ trung th ành và nàng lại là một tín nữ được nhiều hồng ân của chư Phật. Cả kinh th ành loan tin rằng nàng được mọi vinh hoa ấy l à vì nàng cúng dường Bậc Ðạo Sư ba phần cháo.
Một hôm T ăng chúng bắt đầu thảo luận trong Chánh pháp đường:
- Này các Hiền giả, Hoàng hậu Mallikà cúng dường đức Phật ba phần cháo, v à do phước báo này, ngay chính hôm ấy bà được l àm lễ quán đảnh phong ngôi ho àng hậu: Công đức chư Phật thật vĩ đại dường n ào.
Bậc Ðạo Sư bước vào, hỏi chuyện và khi được biết đề t ài thảo luận của T ăng chúng, Ng ài bảo:
- Này các Tỷ-kheo, không lạ gì nàng Mallikà trở thành chánh hậu của vua Kosala nhờ cúng dường đức Phật Chánh Ðẳng Giác ba phần cháo mà thôi, vì cớ sao? Ðó là nhờ đại hồng ân của chư Phật: Các trí nhân ng ày xưa cúng dường các vị Ðộc Giác Phật cháo không có muối hay dầu nữa, song nhờ thế trong đời sau đạt được vinh quang của đế vương tại K àsi rộng ba tr ăm dặm.
Rồi Ngài kể câu chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát được sinh v ào một nhà nghèo. Khi lớn lên ngài tìm kế sinh nhai bằng cách làm công cho một nhà giàu. Một hôm ngài mua bốn phần cháo ở cửa tiệm và suy nghĩ: "Cái này vừa đủ để ta ăn sáng". Rồi ng ài ra làm việc ngoài đồng. Khi thấy bốn vị Ðộc Giác Phật đang v ào Ba-la-nại khất thực, ngài suy nghĩ: "Ta có bốn phần cháo này, giả sử ta đem cúng dường các vị đang đến Ba-la-nại khất thực?". V ì thế ngài đi đến đảnh lễ các vị v à nói:
- Thưa các tôn giả, con hiện đang cầm bốn phần cháo, con xin cúng dường các vị, mong các vị nhận lấy để cho con được phước đức đem lại an lạc lâu d ài về sau.
Thấy các vị nhận lời, ngài liền rải cát và sắp đặt bốn chỗ ngồi, đặt các c ành khô lên đó v à mời chư vị Ðộc Giác Phật ngồi theo thứ tự. Ngài lấy rổ lá đem nước đến, rót nước cúng dường, v à đặt bốn phần cháo v ào bốn bình bát vừa đảnh lễ cung kính vừa thưa:
- Thưa các tôn giả, ước mong nhờ phước báo này con sẽ không sinh vào nhà nghèo nữa, ước mong đây sẽ l àm nhân duyên cho con đắc quả vị Chánh Giác.
Các vị Ðộc Giác Phật dùng cháo xong, nói lời tùy hỷ công đức v à trở về động Nandam ùla. Khi kính chào các vị, Bồ-tát cảm thấy niềm hoan hỷ được tiếp xúc các Ðộc Giác Phật, và sau khi các vị đ ã khuất dạng, ngài đ ã đi l àm công việc, ngài vẫn nhớ các vị mãi cho đến lúc mạng chung. Nhờ phước báo n ày, ngài tái sinh vào mẫu thai của chánh hậu thành Ba-la-nại. Ngài được đặt t ên Vương tử Brahmadatta.
Từ lúc mới biết đi chập chững, nhờ năng lực nhớ lại những việc l àm trong đời trước, ng ài thấy rõ như thể soi bóng mình vào tấm gương sáng, rằng ngài tái sinh vào hoàn cảnh này do ngài đ ã cúng dường bốn phần cháo lên các vị Ðộc Giác Phật khi ngài là một tôi tớ đi l àm thuê tại chính kinh thành này. Khi lớn lên, ngài học tập mọi môn nghệ thuật ở Takkasilà. Khi ngài trở về nhà, vua cha vô cùng hoan hỷ về các thành tựu của ngài nên phong ngài làm phó vương. Sau đó khi vua cha băng h à, ngài lên ngự trị quốc độ. Rồi kết hôn với công chúa tuyệt sắc của vua Kosala v à phong nàng ngôi chánh hậu.
Vào ngày đại hội giương chiếc Lọng trắng che l ên ngài, quần thần trang hoàng kinh thành như thể một kinh thành thiên giới. Ngài dự đám rước quanh th ành phố rồi ngự lên thượng lầu được trang ho àng lộng lẫy, sau đó bước đến đ ài cao an tọa trên ngai vàng có lọng trắng giương phía trên.
Khi ngồi đó, ng ài nhìn xuống nhìn thần dân đang đứng chầu, một phía l à triều thần, phía kia là các Bà-la-môn và gia chủ sáng rực trong vẻ đẹp muôn m àu sắc, một phía khác nữa là quần chúng cầm tặng vật đủ loại trong tay, kế đến l à đo àn nữ nhạc vũ công gồm cả mười sáu ngàn nàng chẳng khác đo àn tiên tụ tập đông đủ tr ên Thiên đ ình.
Nhìn mọi vẻ huy hoàng làm say mê lòng người như thế, ngài nhớ lại đời trước của m ình và suy nghĩ: "Chiếc lọng trắng kết tràng hoa bằng vàng và chân trụ bằng vàng khối này, bằng ngàn con voi và cỗ xe này, và cả lãnh thổ rộng lớn của ta đầy ngọc v àng châu báu, tài sản, mễ cốc đủ loại, các nữ nhân như ti ên nữ trên trời, mọi cảnh vinh quang này đều thuộc ri êng về phần ta thôi, đó l à do công đức cúng dường bốn vị Ðộc Giác Phật bốn phần cháo: Ta hưởng được tất cả mọi sự n ày nhờ đó".
Như vậy trong khi nhớ lại hồng ân của chư Ðộc Giác Phật, rõ ràng ngài đ ã tuyên dương công đức của ng ài trong đời trước. Ý tưởng ấy l àm toàn thân ngài tràn ngập hoan lạc. Niềm hoan lạc thấm tận tâm can khiến ngài ngâm vang hai vần kệ đầy cảm hứng ngay giữa quần thần:
1. Cúng dường chư Phật quý cao thay, Người bảo đừng xem rẻ việc n ày, Ðem tặng cháo dù không có muối Cho ta phước báo lớn như vầy. 2. Ngựa, voi cùng với đám trâu b ò, Vàng, bạc, thóc ngô, cả nước nhà, Ðám mỹ nữ hình dung yểu điệu, Cúng dường đem quả đến tay ta.
Như vậy trong niềm hỷ lạc, Bồ-tát ngâm khúc hoan ca gồm hai vần kệ nhân ngày lễ giương chiếc Lọng trắng. Từ đó về sau, chúng được xem l à khúc ca được quốc vương ái mộ v à mọi người đều hát điệu ấy, từ các vũ nữ, vũ công, nhạc sĩ, cung nhân, thị vệ, cho đến dân chúng v à ngay cả đám quần thần trong triều.
Sau một thời gian, chánh hậu mong muốn biết ý nghĩa bài hát, song bà không dám hỏi bậc Ðại Sĩ. Một hôm nhà vua đẹp ý v ì một đức tính của b à, liền phán:
- Này ái hậu, ta muốn ban cho nàng một điều ước, h ãy nhận đặc ân ấy.
- Tâu hoàng thượng, tốt lành thay thiếp xin nhận đặc ân ấy.
- Ái hậu muốn ta ban gì, voi ngựa hay thứ nào khác?
- Tâu hoàng thượng, nhờ ân sủng của hoàng thượng, thiếp không thiếu gì cả, thiếp không cần các thứ ấy. Song nếu hoàng thương ban cho thiếp một đặc ân, xin h ãy nói cho thiếp biết ý nghĩa khúc ca của ngài.
- Này ái hậu, nàng cần gì đặc ân ấy? H ãy nhận thứ khác đi.
- Tâu hoàng thượng, thiếp không cần một thứ nào khác cả. Ðó là đặc ân thiếp muốn nhận.
- Ðược rồi, này ái hậu, ta sẽ nói điều ấy, nhưng không phải đó l à điều bí mật nói ri êng với nàng, mà ta muốn gióng tiếng trống khắp kinh thành Ba-la-nại rộng mười hai dặm này, ta muốn dựng ngôi đ ình bằng ngọc ngay tại cung môn và đặt một chiếc ngai bằng ngọc tại đó, rồi ta sẽ ngồi đó giữa quần thần, B à-la-môn, cùng mọi người khác gồm cả mười sáu ngàn nữ nhân, và kể chuyện ấy.
Bà tuân lệnh. Vua truyền làm mọi việc như trên, rồi ngự lên ngai giữa đại chúng như Sakka Thi ên chủ giữa chư Thiên. Hoàng hậu phục sức đủ mọi thứ nữ trang ngọc v àng, đặt một kim đôn, ngồi b ên cạnh ở một vị trí thích hợp, rồi đưa mắt nh ìn vua, bà thưa:
- Tâu hoàng thượng, xin hãy giảng giải cho thiếp biết ý nghĩa khúc hoan ca mà ngài thường hát trong niềm hỷ lạc, như thể làm cho mặt tr ăng xuất hiện tr ên bầu trời.
Rồi bà ngâm vần kệ thứ ba:
3. Hoàng thượng đầy vinh hiển, chánh chân, Khúc ca ng ài hát đ ã bao lần, Trong niềm hoan lạc đầy tâm trí, Cho thiếp đặc ân biết ngọn nguồn.
Bậc Ðại Sĩ ngâm bốn vần kệ nêu rõ ý nghĩa khúc ca:
4. Chính tại thành này, kiếp trước đây, Ở trong ho àn cảnh khác ngày nay, Ta là tôi tớ cho người khác, Làm mướn, song đức hạnh thẳng ngay. 5. Một hôm rời tỉnh để l àm công, Bốn Ðạo Sư kia, ta chợt trông Dáng điệu ly tham v à tĩnh lặng, Thiện toàn trong Giới luật tu thân. 6. Tư tưởng ta quy ngưỡng Phật- đ à, Khi chư vị nghỉ dưới cây già, Chấp tay đảnh lễ, ta đem đến Th ành kính cúng dường món cháo hoa. 7. Thiện nghiệp tạo nên phước đức d ày, Quả thành ta gặt được giờ đây: Vinh hoa phú quý đời vương giả, Quốc độ do ta cai trị n ày.
Khi hoàng hậu nghe bậc Ðại Sĩ giảng giải đầy đủ th ành quả của thiện nghiệp ngài, bà hân hoan đáp:
- Tâu Ðại vương, nếu ngài nhận thấy rõ các thành quả của bố thí như vậy, từ nay về sau xin ngài nhận một phần cơm và đừng ăn cho đến khi n ào chính ngài đ ã cúng dường thực phẩm lên các vị Sa-môn Bà-la-môn chân chánh.
Rồi hoàng hậu ngâm vần kệ tán thán Bồ-tát:
8. Hãy ăn, khi nhớ cúng dường rồi, Chuyển bánh xe chân chánh khắp nơi: Ho àng thượng tránh xa điều bất chánh, Cầm quyền chân chánh nước non ng ài.
Bậc Ðạo Sĩ ngâm vần kệ chấp nhận lời hoàng hậu:
9. Ta vẫn tạo riêng một lối đường, Bước theo đạo lộ chánh chân luôn, Nơi người hiền thiện thường đi đến, Ðẹp mắt ta nhìn các Thánh nhân.
Sau khi nói xong, ngài nhìn dung sắc Hoàng hậu và bảo:
- Này mỹ hậu, ta đ ã kẻ đủ mọi thiện nghiệp ta l àm đời trước, song giữa đám nữ nhân n ày không ai sánh kịp nàng về dung sắc và vẻ kiều diễm khả ái.
Rồi ngài ngâm vần kệ:
10. Ái hậu như tiên nữ cõi trời, Trông nàng rực rỡ vượt bao người, Vậy nhờ thiện nghiệp nào đưa đến Phước báo dung quang quá tuyệt vời?
Sau đó ho àng hậu ngâm vần kệ nêu phước nghiệp đ ã tạo trong kiếp quá khứ:
11. Thiếp vốn nô tỳ một quý nương Ở hoàng cung của Am-ba-vương, Thiếp chuyên tâm thực hành khiêm tốn, Ðức hạnh và tu tập thiện ngôn. 12. Rồi một ngày kia thiếp cúng dường Phần cơm vào bát một Sa-môn, Tâm tư thiếp ngập tràn từ ái, Nghiệp ấy quả này, tâu Ðại vương!
Theo đây, ho àng hậu cũng biết chính xác và kể lại đời trước của m ình.
Như vậy cả hai vị đ ã công bố các nghiệp quá khứ xong, từ ngày ấy hai vị truyền lệnh xây sáu bố thí đường tại bốn cổng th ành, giữa kinh thành và tại cung môn, rồi để khích lệ to àn cõi Diêm-phù- đề (Ấn Ðộ), hai vị thực hành đại bố thí, giữ các giáo đức v à các ngày trai giới, nên lúc mạng chung được tái sinh c õi thiên.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, hoàng hậu là mẫu thân Ràhula và vua chính là Ta.
416. Chuyện Cận Thần Parantapa (Tiền thân Parantapa)
Lo sợ kinh hoàng trong trí ta...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Trúc Lâm về âm mưu của Tỷ-kheo Devadatta định giết Ng ài.
T ăng chúng b àn luận tại Chánh pháp đường:
- Này các Hiền giả, Tỷ-kheo Devadatta dự định giết đức Như Lai, vị ấy đ ã thuê bọn xạ thủ, ném đá tr ên núi xuống, thả voi say Nàgàgiri và dùng nhiều phương tiện diệt đức Như Lai.
Bậc Ðạo Sư bước vào hỏi đề t ài thảo luận của các vị lúc ngồi đây. Khi các vị tr ình bày xong, Ngài bảo:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu các kẻ ấy dự định mưu sát ta. Song kẻ ấy không đủ khả năng thậm chí l àm ta lo sợ, mà chỉ tạo khổ đau cho bản thân m ình thôi.
Và do vậy Ngài kể câu chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát được sinh l àm vương tử của chánh hậu. Khi lớn lên, ngài học tập đủ mọi nghệ thuật ở Takkasil à và biết được thần chú hiểu tiếng k êu của súa vật. Sau khi lời thầy dạy đầy đủ, ng ài trở về Ba-la-nại. Phụ vương phong ngài chức phó vương, nhưng dù vua đ ã làm như vậy, vua lại mong mỏi giết hại ngài và thậm chí không muốn nhìn thấy ngài nữa.
Thời ấy, một chó rừng cái đem hai chó con v ào kinh thành theo một đường cống ban đ êm, lúc mọi người đều nghỉ ngơi. Trong cung của Bồ Tát cạnh tư thất ng ài, có c ăn ph òng dành cho một người khách, kẻ ấy đ ã cởi giầy ra và đặt tr ên sàn nhà bên chân mình rồi nằm trên tấm ván, nhưng chưa ngủ.
Bầy chó con đói v à kêu khóc. Mẹ chúng bảo theo giọng chó rừng:
- Này các con đừng l àm ồn, có một người trong phòng kia, có một người trong phòng kia đ ã cởi giầy ra và đặt tr ên sàn nhà. Ông ta đang nằm tr ên tấm ván nhưng chưa ngủ. Khi ông ta ngủ rồi, mẹ sẽ đến lấy đôi giầy cho các con ăn.
Nhờ thần chú, Bồ-tát hiểu tiếng chó rừng và rời phòng mình, mở cửa sổ gọi:
- Ai ở trên đó?
- Tâu Ðiện hạ, thần là một lữ khách.
- Thế giày của ông đâu?
- Tâu, ở trên sàn.
- Hãy lấy giày treo lên.
Nghe lời này, chó mẹ nổi giận với Bồ-tát. Một hôm nó lại vào thành theo cách trên. Hôm ấy có kẻ say rượu bước xuống nước trong một hồ sen, rồi té vào đó chết ch ìm. Kẻ ấy có hai chiếc áo đang mặc tr ên người, một ngàn đồng tiền để ở áo trong v à một chiếc nhẫn trên ngón tay.
Bầy chó con lại kêu khóc đ òi ăn. Mẹ chúng bảo:
- Im đi các con, có một người chết trong hồ sen n ày, ông ta có nhiều của cải như vậy mà đang nằm trong hồ sen, mẹ sẽ cho các con ăn thịt ông ta.
Bồ-tát nghe tiếng chó, mở cửa sổ ra hỏi:
- Ai trong phòng kia?
Một người thức dậy thưa:
- Chính tiểu thần.
- Hãy đi lấy bộ áo, ng àn đồng tiền v à chiếc nhẫn trên người đang nằm chết ở hồ sen đằng kia v à làm cho xác chìm xuống để nó khỏi nổi l ên mặt nước.
Người kia tuân lệnh làm theo. Chó rừng liền tức giận ngài:
- Hôm trước ngài cản trở các con tôi ăn đôi gi ày, hôm nay ngài lại cản chúng tôi ăn xác chết. Ðược lắm, vào ngày thứ ba kể từ đây, một địch vương sẽ đến bao vây kinh th ành, phụ vương ngài sẽ truyền ngài ra trận, họ sẽ chặt đầu ng ài. Tôi sẽ uống máu từ cổ ngài cho hả giận: ngài tự biến mình thành kẻ thù của tôi, vậy tôi quyết chí trả thù.
Như vậy chó cái vừa sủa vừa nhục mạ Bồ-tát. Rồi nó đem các con đi.
Vào ngày thứ ba, vị địch vương đến bao vây kinh th ành. Vua bảo Bồ-tát:
- Này con thân yêu, hãy ra trận.
- Tâu phụ vương, con đ ã thấy trước một điềm báo hiệu. Con không thể đi v ì sợ rằng con sẽ mất mạng.
- Ngươi sống chết có nghĩa gì đối với ta? Ði ngay!
Bậc Ðại Sĩ tuân lệnh. Cùng đem đám gia nhân theo, ng ài tránh cổng thành nơi địch vương đang đón quân v à đi ra bằng một cổng khác ng ài đ ã mở sẵn. Khi ngài ra đi, cả kinh th ành như thể bị bỏ trống vì mọi người cùng theo ngài. Ngài đóng quân ở một khoảng đất rộng v à chờ đợi.
Vua suy nghĩ: "Phó vương của ta đ ã bỏ trống kinh thành và chạy trốn với tất cả quân sĩ của ta, còn kẻ thù đang nằm quanh kinh th ành. Ta chỉ là kẻ chết rồi".
Nghe vua cha đ ã đ ào tẩu, Bồ-tát vào thành, đánh bại địch vương v à chiếm lại quốc độ. Vua cha lúc ấy dựng lều lá b ên bờ sông, sống bằng củ quả rừng. Vua và tế sư thường đi t ìm trái cây. Còn cận thần Parantapa ở lại với hoàng hậu trong lều. Hoàng hậu lúc ấy đang có thai với vua, nhưng v ì thường sống chung với Parantapa nên bà phạm tà hạnh với y.
Một hôm bà bảo với y:
- Nếu đức vua biết, ch àng và thiếp đều không sống được đâu. Vậy h ãy giết ngài đi.
- Bằng cách nào chứ?
- Ngài thường bảo chàng mang kiếm và áo tắm lúc ngài đi tắm, vậy h ãy đem ng ài đi xa người hộ vệ tại nơi tắm, rồi chặt đầu ng ài và lấy kiếm chặt thân ngài thành nhiều khúc xong chôn xuống đất.
Y đồng ý. Một hôm vị tế sư đ ã đi ra t ìm quả rừng, ông đ ã trèo lên một cây to gần nơi vua tắm và đang hái trái. C òn vua muốn tắm nên ra bờ suối cùng Parantapa mang thanh kiếm và áo tắm của vua.
Lúc vua sắp tắm, Parantapa muốn giết vua nhân dịp vua không có người hộ vệ, liền nắm cổ vua và nhấc kiếm lên. Vua sợ chết thét lớn. Vị tế sư nghe tiếng kêu và từ trên cây ông thấy rõ Parantapa đang ám sát vua, nhưng ông cũng quá kinh ho àng vội từ cành cây trụt xuống ẩn mình vào bụi rậm.
Parantapa nghe tiếng sột soạt lúc ông trụt xuống, nên sau khi giết vua và chôn xác xong, y suy nghĩ: "Có tiếng gì sột soạt từ cành cây trụt xuống gần đây, kẻ n ào vậy?". Nhưng không thấy ai, y tắm rửa và ra về.
Sau đó vị tế sư bước ra khỏi chỗ ẩn. Nay biết vua đ ã bị chặt khúc và chôn trong cái hố, ông tắm rửa và vì lo cho sinh mạng của mình, ông giả mù khi trở về lều.
Parantapa thấy ông, liền hỏi việc gì đ ã xảy ra cho ông. Ông giả vờ không nhận biết y và nói:
- Tâu Ðại vương, tiểu thần trở về với đôi mắt đ ã mù. Tiểu nhân đ ã đứng cạnh một tổ kiến trong rừng đầy rắn v à hơi thở của một con rắn độc n ào đó đ ã xông vào người tiểu thần.
Parantapa nghĩ vị tế sư đang nói chuyện với y như thể nói với vua v ì ông không biết gì nữa, nên yên tâm bảo:
- Này vị Bà-la-môn, đừng lo, ta sẽ chăm sóc ng ài.
Rồi y vừa an ủi ông vừa cho ông nhiều quả rừng.
Từ đó chính Parantapa đi kiếm trái cây. Về sau ho àng hậu sinh được một ho àng tử. Khi hoàng tử lớn lên, một hôm bà nói chuyện với Parantapa vào lúc tảng sáng nhân dịp ngồi nhàn nhã:
- Có ai thấy chàng lúc giết vua ch ăng?
- Không ai thấy ta cả, nhưng ta nghe tiếng động của vật g ì trụt xuống từ bụi cây nọ, ta không biết đó l à người hay vật. Tuy thế, bất cứ lúc nào trong lòng ta nổi lên mối lo sợ cũng đều do duy ên cớ bụi cây sột soạt kia.
Rồi y ngâm vần kệ đầu nói chuyện với b à:
1. Lo sợ, kinh hoàng trong trí ta Phát sinh ngay cả chính bây giờ Ðều do thuở ấy người hay vật Lay động bụi cây ở chốn kia.
Hai người ấy tưởng vị tế sư đ ã ngủ, nhưng ông đang thức v à nghe họ nói chuyện.
Một hôm, khi Parantapa đ ã đi v ào rừng hái trái, vị tế sư nhớ đến b à vợ Bà-la-môn của mình, lại ngâm vần kệ thứ hai để than thân:
2. Nhà vợ thân yêu ở cạnh đây, Nhớ thương l àm dạ tái tê thay, Như Pa-ran hiện đang gầy ốm V ì sợ lá cành rung động cây.
Hoàng hậu hỏi ông đang nói g ì thế. Ông đáp:
- Thần chỉ suy nghĩ trong dạ mà thôi.
Nhưng một ngày khác, ông lại ngâm vần kệ thứ ba:
3. Nhà vợ ở Ba-la-nại thành, Thiếu nàng, ta héo hắt thân mình, Như Pa-ran hiện đang xanh tái V ì sợ bụi cây rúng rẩy cành.
Một ngày khác nữa ông lại ngâm vần kệ thứ tư:
4. Mắt nàng đen nhánh sáng long lanh, Giọng nói, nụ cười mỉm tuyệt xinh, Hồi tưởng l àm ta tê tái dạ Như Pa-ran sợ động cây c ành .
Theo thời gian, hoàng tử ấu thơ lớn dần đến mười sáu tuổi. Lúc ấy vị B à-la-môn làm một cây gậy, cùng đi với cậu đến chỗ tắm v à mở mắt ra nhìn. Hoàng tử hỏi:
- Này vị Bà-la-môn, ông không mù à?
- Ta không mù, nhưng nhờ cách này ta đ ã cứu mạng mình. Thế cậu có biết ai là thân phụ cậu không?
- Ta biết chứ.
- Người kia không phải là cha cậu đâu. Cha cậu l à vua ở Ba-la-nại, người kia chỉ là kẻ hầu cận của hoàng gia, y đ ã thông gian với mẹ cậu và giết cha cậu tại chỗ này, rồi chôn xác đây.
Nói vậy xong, ông kéo bộ xương lên chỉ cho hoàng tử thấy. Hoàng tử tức giận hỏi:
- Thế ta phải làm gì bây giờ?
- Cứ đối xử với kẻ kia như cách y đối xử với cha cậu.
Rồi ông trình bày mọi việc cho hoàng tử và trong vài ngày, dạy cho hoàng tử cách dùng kiếm. Sau đó, một hôm ho àng tử cầm kiếm và áo tắm, rồi bảo:
- Cha ơi, chúng ta đi tắm nhé.
Parantapa đồng ý ra đi với cậu. Khi y bước xuống nước, ho àng tử cầm chỏm tóc y bằng tay trái và kiếm trong tay phải, bảo:
- Ngay tại đây, ngươi đ ã nắm chỏm tóc cha ta và giết ngài trong lúc ngài thét lên. Vậy ta cũng sẽ làm thế với ngươi.
Parantapa sợ chết, gào thét lên và ngâm hai vần kệ:
5. Chắc tiếng động kia đến với ngươi Kể cho ngươi những chuyện xưa rồi: Chắc người thuở nọ rung c ành lá Ðã đến kể ngươi chuyện thiếu thời. 6. Ý tưởng đi ên rồ đến với ta Ðã cho ngươi biết chuyện bây giờ: Ngày xưa làm chứng, người hay vật, Ở đó v à rung cổ thụ mà. Kế tiếp, hoàng tử ngâm vần kệ cuối cùng: 7. Chính ngươi đ ã giết phụ vương thân Cùng với lời lừa phản dối gian, Ngươi dấu thây ngài trong bụi ấy, Giờ đây ngươi phải chịu kinh ho àng.
Nói vậy xong, cậu đâm y chết tại chỗ, v ùi thây vào đó v à lấy cành cây phủ lên. Sau đó rửa sạch kiếm v à tắm xong, cậu trở lại lều lá. Cậu kể cho vị tế sư nghe cách cậu đ ã giết Parantapa và khiển trách mẹ cậu xong, cậu lại hỏi khi cả ba trở về Ba-la-nại:
- Chúng ta sẽ phải làm gì bây giờ?
Bồ-tát phong hoàng đệ l àm phó vương, rồi thực hành bố thí và nhiều thiện sự khác, về sau mạng chung ngài tái sinh lên Thiên giới.
*
Khi pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo sư nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy, Devadatta là vua cha và Ta chính là vua con.