Chuyện Tiền Thân · Jātaka

387. Chuyện Cây Kim (Tiền thân Sùci)

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Chuyện Tiền Thân

Kinh Trung Bộ · Bài 41

Chuyện Cây Kim (Tiền thân Sùci)#

Jātaka group 41

Chương

VI (tiếp theo)

387. Chuyện Cây Kim (Tiền thân Sùci)

Xâu nhanh, trơn láng, thẳng ngay...,

Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về sự thành tựu

Tối thắng Trí.

Hoàn cảnh câu chuyện sẽ đọc kể trong

Tiền thân Mahaummagga, số 546. Bậc Ðạo Sư bảo chúng T ăng:

Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu

ti ên Như Lai có trí tuệ và nhiều phương tiện thiện xảo.

Rồi ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát

được sinh ở quốc độ K àsi trong nhà

một thợ rèn và khi lớn lên, ngài rất tinh thông nghề này. Cha mẹ ngài

rất nghèo. Không xa làng này có một làng khác gồm một ngàn nhà. Người

trưởng nghiệp đo àn của cả ngàn thợ

rèn này là người được vua ân sủng, gi àu

tiền của và thế lực. Con gái vị này cực kỳ diễm lệ, chẳng khác nào một

Thiên nữ, đầy đủ mọi hảo tướng cát tường

của một mệnh phụ phu nhân. Nhiều người từ các l àng chung quanh

đến nhờ r èn dao kiếm, rìu búa, lưỡi

cày, gậy nhọn... đều trông thấy n àng.

Khi họ trở về làng, họ ca tụng sắc đẹp

của n àng ở những nơi có đ àn

ông tụ tập và nhiều nơi khác. Chỉ mới nghe nói về nàng thôi, Bồ-tát

đ ã cảm thấy say mê và nghĩ thầm: "Ta

sẽ lấy nàng làm vợ". Vì thế ngài lựa thứ sắt tốt nhất, làm một cây kim

thật cứng và mạnh có thể đâm thủng con súc

sắc v à nổi trên nước. Rồi ngài làm một cái bao bọc ngoài nó cùng

thứ sắt ấy và cũng đâm thủng con súc sắc

với bao kim kia.

Theo cách ấy, ngài làm bảy cái bao kim, phương pháp Ngài làm chúng ra

sao không được tiết lộ, v ì việc ấy

thành tựu nhờ trí tuệ hiểu biết vĩ đại của

ng ài. Sau đó ng ài

đặt kim v ào ống và

để ống v ào một cái hộp, ngài

đi v ào làng kia, hỏi

đường đến nh à trưởng phường thợ rèn.

Rồi đứng tại cửa nh à ấy, ngài hỏi:

- Ai muốn mua cây kim loại đặc biệt n ày

của tôi đổi lấy tiền chăng?

Và vừa đứng cạnh nh à ông trưởng

phường thợ rèn, ngài ngâm vần kệ miêu tả cây kim:

Xâu nhanh, trơn láng, thẳng ngay,

Ðược bôi bóng nhoáng bột mài xanh xanh,

Ðầu kim sắc nhọn, thanh thanh,

Kim đây, ai muốn mua m ình trao

tay?

Sau đó ng ài lại ca tụng cây kim

lần nữa qua vần kệ thứ hai:

Xâu nhanh, vững mạnh, thẳng ngay,

Thân kim khèo luyện tròn đầy đẹp sao!

Sắt kia cũng sẽ xuy ên vào,

Kim đây ai muốn mua n ào ai ơi!

Lúc ấy cô gái đang quạt cho cha bằng

chiếc quạt lá thốt nốt trong lúc ông nằm tr ên chõng tre

để được thoải mái sau buổi điểm tâm. Khi

nghe giọng ngọt ng ào của Bồ-tát, nàng

đ ã cảm thấy buồn nôn như thể nuốt

một miếng thịt sống, và phải làm cho sự khó chịu ấy tan biến bằng cả

ngàn ấm nước, nàng bảo:

- Người nào đây lại có thể rao bán kim

với giọng ngọt ng ào như thế trong một làng thợ rèn? Nguời ấy

đến đây v ì việc gì? Ta phải tìm xem

sự việc ra sao.

Vì thế nàng đặt cây quạt xuống v à

bước ra bên ngoài, đứng

ở h ành lang. Mục đích của chư Bồ-tát

luôn đạt th ành tựu: chính vì nàng mà ngài

đ ã đến

ngôi l àng này. Nàng bảo ngài:

- Này cậu, dân chúng trong nước đều đến

l àng này mua kim và các vật dụng tương tự. Còn cậu lại muốn bán

kim trong làng thợ rèn thật là đi ên

rồ! Dù cậu có ca tụng kim của cậu suốt ngày, cũng không ai mua hàng của

cậu đâu. Nếu cậu muốn được giá th ì

qua làng khác.

Thế rồi nàng ngâm hai vần kệ:

Móc câu ta đ ã bán rồi,

Làng trên xóm dưới ai người chẳng hay?

Thợ rèn ta ở thành này,

Còn ai bán được kim may nữa à?

Nghề rèn nổi tiếng chúng ta,

Việc làm khí cụ ai mà sánh ngang?

Thợ rèn ta ở trong làng,

Ai còn đem bán kim mang tới m ình?

Bồ-tát nghe lời nàng, vội đáp:

- Thưa cô nương, cô nói vậy là do không hiểu biết gì cả

đó.

Rồi ngài ngâm hai vần kệ:

Thợ rèn ta ở trong thành,

Nhưng người tài bán kim mình mới hay!

Tổ sư nghề sẵn trong tay,

Món hàng đệ nhất mua ngay kẻo ho ài!

Một khi nghiêm phụ biết rồi

Cây kim này đ ã do tôi tự làm,

Tôn ông chắc chắn sẽ ban

Gia tài sản nghiệp cùng nàng cho tôi!

Người trưởng phường rèn nghe toàn thể câu chuyện, liền gọi con gái

vào hỏi:

- Con đang nói chuyện với ai đó?

- Thưa cha, một cậu trai bán kim.

- Thế cho gọi cậu ấy vào đây.

Nàng ra gọi ngài vào. Bồ-tát kính chào vị trưởng phường rèn xong,

đứng sang một b ên. Ông hỏi:

- Cậu ở làng nào?

- Thưa Tôn ông, tôi ở làng nọ, là con trai gia

đ ình thợ rèn kia.

- Tại sao cậu đến đây?

- Thưa, để bán kim.

- Nào, đưa ta thử xem kim của cậu.

Bồ-tát mong muốn công bố mọi đặc tính

của ng ài giữa nhiều người, liền nói:

- Một vật được nhiều người xem lại chẳng

tốt hơn chỉ được một người xem hay sao?

- Này bạn, đúng lắm.

Vì thế vị phường trưởng tập hợp tất cả thợ rèn lại và

đứng giữa đám đông, ông bảo:

- Nào bạn, hãy lấy kim ra đây.

- Thưa Tôn ông, xin hãy bảo lấy một cái

đe v à một cái dĩa bằng đồng đựng đầy

nước ra đây.

Việc ấy được thực hiện ngay. Bồ-tát lấy

cây kim ra khỏi hộp đưa cho đám kia xem. Ông trưởng phường r èn

cầm lấy và hỏi:

- Ðây là cái kim ch ăng?

- Không, đó không phải l à cái

kim, mà là cái bao.

Ông phường trưởng quan sát kỹ cũng không thấy

đầu đuôi g ì cả. Bồ-tát lấy lại, dùng

móng tay rút cái bao ra và chỉ cho mọi người:

- Ðây là cây kim, đây l à cái bao.

Ngài đặt cây kim trong tay ông phường

trưởng v à cái bao dưới chân. Ông phường trưởng lại bảo:

- Ta chắc đây l à cây kim rồi.

Ngài đáp:

- Ðây cũng chỉ là cái bao kim.

Rồi ngài lấy móc tay đánh bật nó ra v à

cứ thế ngài đặt sáu cái bao li ên

tiếp dưới chân vị phường trưởng và nói:

- Ðây là cây kim, và đặt kim v ào

tay vị kia.

Cà ngàn người thợ rèn búng ngón tay một cách thích thú và bắt

đầu vẫy khăn tung hô. Sau đó vị trưởng

phường hỏi:

- Này bạn, thế cây kim này có sức mạnh thế nào?

- Thưa Tôn ông, hãy bảo một người lực lưỡng nâng nghiêng cái

đe n ày lên và

đặt chậu nước dưới cái đe. Sau đó đâm thẳng

cây kim v ào cái đe.

Ông bảo làm đúng như vậy v à

đâm đầu nhọn của kim v ào cái

đe. Cây kim xuy ên thủng cái

đe v à nằm ngang mặt nước không nhếch

lên hay lệch xuống tý nào dù chỉ bằng một sợi tóc.

Mọi người thợ rèn đồng thanh bảo:

- Chúng ta chưa từng bao giờ nghe thậm chí qua lời

đồn đại hiện có những người thợ r èn

tài giỏi như thế này.

Như thế họ lại búng ngón tay và tung vẫy cả ngàn chiếc kh ăn.

Ông phường trưởng gọi cô con gái v ào, và

đứng giữa đám đông ông bảo:

- Ðây là cô gái xứng đôi với cậu.

Ông liền rót nước giao kết trên tay hai vị và trao nàng cho ngài

đem đi. Về sau khi vị trưởng phường qua

đời, Bồ-tát trở th ành trưởng phường rèn trong làng ấy.

*

Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật và nhận

diện Tiền thân:

- Thời ấy, con gái người trưởng phường rèn là mẫu thân của Ràhula

(La-hầu-la), và chàng thợ rèn thông minh chính là Ta.

-ooOoo-

388. Chuyện Con Heo Mõm Dài (Tiền thân Tundila)

Em lo chuyện lạ hôm nay...,

Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo sợ

chết.

Vị ấy là một thiện gia nam tử ở thành Sàvatthi (Xá vệ) và

được thọ giới trong Ðạo pháp, song

ông sợ chết và thậm chí nghe một bụi cây hơi lay

động, tiếng c ành khô rơi hay tiếng

chim, tiếng thú, ông cũng hoảng kinh vì sợ chết rồi bỏ chạy, run rẩy

toàn thân như con thỏ bị thương ở bụng. T ăng

chúng trong Chánh pháp đường bắt đầu b àn luận, bảo nhau:

- Này, các Hiền giả, vị Tỷ-kheo kia sợ chết, cứ run rẩy bỏ chạy khi

nghe chỉ một tiếng động nhỏ. Giờ đây đối

với mọi lo ài trên thế giới, chết là việc tất nhiên,

đời sống không có g ì vững bền cả,

điều n ày lại chẳng nên sáng suốt ghi

nhớ trong tâm trí hay sao?

Bậc Ðạo Sư bước vào thấy đây l à

đề t ài của chư vị, và vị Tỷ-kheo kia

công nhận mình hay sợ chết, Ngài bảo:

- Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần

đầu vị ấy sợ chết đâu.

Và ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát nhập thai

một heo rừng. Khi đến kỳ, heo mẹ sinh hai

con heo đực. Một hôm heo mẹ đem hai con v ào nằm trong cái hố. Một

bà già ở trong làng tại cổng thành Ba-la-nại

đi về nh à với một thúng

đầy bông vải hái ngo ài

đồng v à gõ cây gậy xuống

đất k êu lóc cóc.

Heo cái nghe tiếng động, sợ chết liền bỏ

hai con chạy trốn. B à già thấy hai heo con cảm thấy thương yêu

như thể con đẻ m ình, liền bỏ chúng

vào thúng và mang về nhà. Sau đó b à

đặt t ên heo lớn là Mahàtundila (Heo

lớn mõm dài) và heo nhỏ là Cullatundila (Heo bé mõm dài), rồi nuôi nấng

chúng như con đẻ.

Theo thời gian, chúng lớn dần và mập mạp. Khi bà già

được ai hỏi bán heo để lấy tiền, b à

đáp:

- Chúng là con tôi đấy.

Và bà không muốn bán.

Vào một ngày hội có đám đ àn ông

thô tục đang uống rượu nồng, v à khi

thịt đ ã hết, họ tìm xem nơi nào có

thể mua thịt. Khi thấy có heo trong nhà bà già, họ

đem tiền tới nói:

- Mẹ ơi, lấy tiền này rồi cho chúng con một con heo

đi.

- Thôi vừa rồi các chú, có ai lại muốn bán con mình cho người

ăn thịt chăng? B à

đáp rồi từ chối bọn họ.

- Mẹ ơi, heo làm sao thành con của người

được? Xin mẹ cho chúng con đi n ào.

Họ nói thế nhưng cũng không mua heo

được, d ù cứ hỏi đi hỏi lại m ãi.

Sau đó họ cho b à già uống rượu

mạnh, đến khi b à

đ ã say, họ nói:

- Này mẹ, mẹ định l àm gì với

đám heo n ày? Lấy tiền

đi m à tiêu xài chứ.

Họ dúi số tiền vào tay bà già. Bà nhận tiền và bảo:

- Ta không thể cho các cậu con heo Lớn, hãy bắt Heo nhỏ

đi.

- Nó đâu rồi?

- Nó nằm trong bụi cây kia.

- Gọi nó đi.

- Ta không có thức ăn để gọi nó.

Họ liền bảo đi mua một chảo cơm đem tới

ngay. B à già cầm chảo cơm, đổ đầy v ào

máng cạnh cửa lớn và đứng đợi gần đó. Ba

mươi người đứng gần đó với th òng lọng trong tay. Bà già gọi:

- Này đến đây, Heo bé m õm dài,

đến đây.

Heo lớn nghe thế, thầm nghĩ: "Lâu nay mẹ chưa hề gọi Heo bé như thế,

bao giờ mẹ cũng gọi ta trước. Chắc chắn có gì nguy hiểm xảy ra cho chúng

ta hôm nay". Heo lớn bảo em:

- Này em, mẹ đang gọi em, h ãy ra

tìm xem.

Heo bé đi ra, thấy đám người đang đứng

cạnh máng ăn, liền nghĩ: "Hôm nay chắc ta chết mất". Thế rồi v ì

sợ chết, nó run rẩy quay lại với anh, và khi

đ ã trở về chỗ cũ, nó cũng không kiềm

chế được m ình nên cứ quay cuồng run

rẩy mãi. Heo lớn thấy vậy bảo:

- Này em, hôm nay em run rẩy quay cuồng nhìn chằm chằm về phía cổng.

Tại sao em làm vậy?

Heo bé ngâm vần kệ đầu giải thích sự

việc nó đ ã thấy:

Em lo chuyện lạ hôm nay,

Mẹ mình đứng cạnh máng đầy thức ăn,

Người cầm th òng lọng đứng gần,

Ðến ăn chắc hẳn hại thân m ình

rồi.

Bồ-tát nghe thế bảo:

- Này em Heo bé, mục đích mẹ ta nuôi heo

bấy lâu nay đến giờ đ ã thành tựu, thôi

đừng buồn khổ nữa.

Rồi với giọng ngọt ngào và vẻ bình thản của một vị Phật, ngài thuyết

Pháp qua đôi vần kệ:

Hãi kinh, cầu cứu, run hoài,

Không ai cứu giúp em đ òi trốn

đâu?

Ăn đi, Heo bé chớ sầu,

Mẹ nuôi ta béo v ì cầu thịt heo!

Nhào vô ao nước trong veo,

Mồ hôi cấu uế thật nhiều, rửa đi!

Rồi em sẽ thấy diệu kỳ,

Dầu thơm mát dịu không hề biến suy.

Trong khi ngài xem xét Thập hạnh viên mãn (Ba-la-mật), ngài

đặt Từ hạnh vi ên mãn ra trước mặt

làm kim chỉ nam và ngâm hai vần kệ đầu,

giọng ng ài lan xa tận Ba-la-nại khắp cả mười hai dặm. Ngay lúc

nghe giọng ấy, toàn dân Ba-la-nại từ quốc vương, phó quốc vương trở

xuống đều đi đến đây, c ùng những ai

không đến đều đứng nghe trong nh à

họ.

Quân sĩ nhà vua chặt hết bụi cây, san bằng mặt

đất v à rải cát lên. Ðám người thô

tục đ ã tỉnh cơn say rượu, liền qu ăng

bỏ th òng lọng và đứng nghe Pháp, b à

già nọ cũng tỉnh rượu luôn. Bồ-tát bắt đầu

thuyết Pháp cho Heo bé giữa đám quần chúng.

Heo bé nghe ngài, nghĩ thầm: "Anh ta bảo như vậy với ta, nhưng chúng

ta chưa bao giờ có thói quen nhảy vào ao nước, rồi nhờ cách tắm rửa mồ

hôi cho sạch thân thể và sau khi tẩy cấu uế cũ, liền tẩm dầu thơm mới

vào: tại sao anh ta lại bảo vậy với ta?". Do

đó Heo bé ngâm vần kệ thứ tư:

Gì là ao nước pha lê,

Mồ hôi cấu uế nói về điều chi?

Dầu xoa kỳ diệu là gì?

Mùi hương ngào ngạt chẳng khi nào tàn?

Bồ-tát nghe vậy liền bảo:

- Hãy lắng tai nghe đây.

Và ngài ngâm các vần kệ thuyết Pháp với dáng an tịnh của một vị Phật:

Pháp là ao nước trong ngần,

Mồ hôi cấu uế lỗi lầm mê si,

Dầu thơm đức hạnh tẩm đi,

M ùi hương mãi mãi chẳng hề tàn phai.

Người không sinh mạng là vui,

Người còn sinh mạng bời bời lo toan.

Con người phải chết, chớ buồn,

Hãy vui như hội tr ăng tr òn quanh n ăm.

Như vậy bậc Ðại Sĩ thuyết Pháp bằng giọng ngọt ngào với vẻ kỳ diệu

của một vị Phật. Ðám đông h àng ngàn

người búng ngón tay, vẫy kh ăn tung hô v à

bầu không khí vang dậy tiếng reo:

- Tốt lành thay, tốt lành thay!

Vua Ba-la-nại tôn kính mời Bồ-tát lên vương tọa, và làm cho bà già

vinh hiển bằng cách truyền tắm hai chú Heo với nước tẩm hương, mặc lễ

phục, trang điểm v àng ngọc trên cổ

và ban cho địa vị các vương tử trong kinh

th ành. Vì thế vua bảo vệ hai chú Heo với một

đo àn quân hộ tống

đông đảo.

Bồ-tát dạy Ngũ giới cho vua và tất cả dân chúng ở Ba-la-nại cùng Kàsi

đều giữ Ngũ giới. Bồ-tát thuyết Pháp cho

dân chúng v ào các ngày trai giới (mồng tám và rằm) và ngồi xử án.

Trong thời gian còn tại thế, không có người nào chịu bản án bất công cả.

Sau đó vua băng h à, Bồ-tát cử hành

tang lễ của vua, rồi ngài truyền viết một sách ghi

đủ các phán quyết v à bảo:

- Các vị phải theo sách này để xử án.

Sau khi thuyết Pháp cho quần chúng với nhiệt tâm, Ngài cùng chú Heo

bé đi v ào rừng trong lúc quần chúng

than khóc kêu gào. Lời thuyết giảng của Bồ-tát lưu truyền suốt sáu mươi

ngàn n ăm sau.

*

Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo sợ chết

đ ã được

an trú v ào Sơ quả (Dự Lưu). Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:

- Thời ấy, vua là Ànanda, Cullatundila là Tỷ-kheo sợ chết, quần chúng

là Giáo hội và Ta chính là Mahàtundila.

-ooOoo-

389. Chuyện Con Cua Vàng (Tiền thân Suvannakakkata)

Một chú càng vàng với mắt lồi...,

Bậc Ðạo Sư kể chuyện này lúc trú tại Trúc Lâm về việc Tỷ-kheo Ànanda

hy sinh tính mạng vì Ngài.

Hoàn cảnh này đ ã

được kể trong Tiền thân Khandah àla

về việc thuê đám xạ thủ v à trong

Tiền thân Cullahamsa, số 533 về tiếng rống của con voi Dhanapàla (Tài

Hộ). Khi T ăng chúng bắt đầu thảo luận trong

Chánh Pháp Ðường:

- Này các Tôn giả, có phải Trưởng lão Ànanda, vị Thủ kho Chánh Pháp

đ ã đắc

trí tuệ của một vị hữu học, đ ành hy sinh tính mạng vì

đức Phật tối thắng khi con voi Dhanap àla

xông đến?

Bậc Ðạo Sư bước vào và được kể lại đề t ài

thảo luận, Ngài bảo:

- Này các Tỷ-kheo, ngày xưa Ànanda cũng

đ ã từng hy sinh tính mạng vì ta.

Rồi Ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa, có một làng Bà-la-môn tên là Sàlindiya ở phía

đông th ành Ràjagaha (Vương Xá).

Bồ-tát được sinh ở ngôi l àng ấy

trong một gia đ ình Bà-la-môn làm

ruộng. Khi lớn lên ngài lập nghiệp và canh tác trang trại khoảng một

ngàn harisa (khoảng 8000 mẫu) trong một huyện ở nước Magadha (Ma-kiệt- đ à)

về phía Ðông Bắc làng ấy.

Ngày kia ngài cùng gia nhân ra đồng bảo

họ c ày cấy xong, ngài đi đến một ao

lớn cuối cánh đồng để rửa mặt. Trong ao ấy có một con Cua m àu

vàng óng ả, xinh đẹp, khả ái.

Bồ-tát bước xuống ao sau khi xỉa r ăng.

Khi ng ài rửa miệng, con Cua đến gần,

ng ài liền nhấc con Cua lên và đặt nó

nằm trong áo khoác ngo ài. Sau khi làm việc

đồng áng xong, ng ài

đặt con Cua xuống ao như cũ v à

đi về nh à. Từ

đó hễ mỗi lần ra đồng, ng ài thường

đến ao ấy trước ti ên,

đặt Cua l ên áo ngoài rồi ra

đi l àm việc. Vì thế một tình cảm tin

cậy thắm thiết nảy sinh giữa người và vật. Ngày ngày Bồ-tát vẫn

đi l àm ruộng

đều đặn.

Bấy giờ trong mắt ngài có n ăm vẻ đẹp v à

ba vòng tròn trong vắt. Một con Quạ cái trên cây thốt nốt ở góc cánh

đồng trông thấy mắt ng ài, muốn

ăn chúng, b èn bảo Quạ Ðực:

- Này chàng, em có một điều ước.

- Nàng ước chuyện gì?

- Em ước được ăn đôi mắt của một vị B à-la-môn.

- Ðiều ước của nàng thật chẳng hay ho tí nào. Ai có thể lấy

đôi mắt ấy cho n àng chứ?

- Em biết chàng không thể lấy được, song

ở tổ kiến gần cây n ày có một con Rắn hổ

đen, ch àng hãy

đến hầu hạ nó, rồi nó sẽ cắn vị B à-la-môn

để giết ông, sau đó ch àng mổ mắt ông

ra và mang về cho em.

Quạ đực đồng ý, sau đó nó đến hầu hạ con

Rắn hổ. Con Cua cũng to lớn dần v ào thời hạt giống do Bồ-tát gieo

đ ã nẩy mầm.

Một hôm con Rắn bảo Quạ:

- Này bạn, bạn luôn phục vụ tôi, vậy tôi có thể làm gì cho bạn?

- Thưa Tôn ông, nữ tỳ của ngài đ ã

mang niềm ao ước có được đôi mắt của vị chủ

đám ruộng n ày. Tôi đến hầu hạ ng ài

chỉ cốt hy vọng nhờ ngài ban ân lấy cho

được đôi mắt ấy.

Rắn bảo:

- Ðược lắm, việc ấy không khó, bạn phải

được đôi mắt kia.

Con Rắn còn khích lệ con Quạ như thế.

Hôm sau, con Rắn nằm đợi vị B à-la-môn

đến, nó ẩn m ình dưới

đám cỏ, cạnh bờ ruộng ng ài sắp bước

tới. Bồ-tát xuống ao rửa miệng, cảm thấy mối thân ái với con Cua, nên ôm

lấy nó đặt v ào áo ngoài ra

đồng.

Con rắn thấy ngài đến liền lao tới cắn v ào

bắp vế ngài khiến ngài ngã xuống ngay tại chỗ, rồi nó trốn trong tổ

kiến. Sự kiện Bồ-tát ngã xuống đó, con cua

v àng nhảy ra khỏi áo và con Quạ sà xuống

đậu tr ên ngực Bồ-tát diễn ra liên

tiếp nhau.

Con Quạ vừa đậu xong, liền lấy mỏ chụp

đôi mắt Bồ-tát. Con Cua suy nghĩ: "Chính v ì con Quạ này mà

hiểm họa đ ã xảy

đến với vị thân hữu của ta. Nếu ta kẹp lấy

nó th ì con Rắn sẽ bò tới". Vì vậy con Cua kẹp ngay cổ Quạ với

chiếc càng xiết chặt như thể gọng kềm, khiến nó mệt phải nới lỏng ra

đôi chút. Con Quạ cầu cứu con Rắn:

- Này bạn, tại sao bỏ rơi tôi mà chạy trốn? Con Cua này phá hại tôi.

Hãy đến ngay trước khi tôi chết mất.

Rồi Quạ ngâm vần kệ đầu:

Một chú càng vàng với mắt lồi,

Ở hồ, trần trụi, bọc xương mai,

Chụp tôi, nghe tiếng tôi kêu thét

Sao bỏ bạn thân quý mến ngài?

Con Rắn nghe tiếng, giương mào rộng bò

đến an ủi con Quạ.

*

Bậc Ðạo Sư ngâm vần kệ nhì phát xuất từ Trí tuệ Tối thắng của ngài,

giải thích sự việc này:

Con Rắn bỗng nhào lên chú Cua,

Nó không muốn bỏ bạn bây giờ:

Rắn giương mào rộng vừa lao đến,

Cua tấn công ngay chú Rắn b ò.

*

Con Cua mệt mỏi nới lỏng quạ ra đôi

chút, con rắn suy nghĩ: "Lo ài cua chẳng hề

ăn thịt quạ hay Rắn, vậy v ì lý do gì

con Cua này chụp chúng ta?" Rồi nó ngâm vần kệ hỏi Cua:

Chẳng phải vì lo kiếm miếng mồi

Mà Cua bắt Rắn, Quạ trên trời,

Mắt lồi hãy nói cho tôi biết

Sao chú lại kềm kẹp chúng tôi?

Nghe vậy, Cua ngâm hai vần kệ giải thích lý do:

Ngài đem ta tự dưới ao kia,

B ày tỏ ân cần, quý mến ta,

Nếu chết, thời ta đây khổ n ão,

Ngài và ta, chỉ một thôi mà.

Thấy ta nay đ ã lớn lên dần,

Ai nấy đều mong giết hưởng phần:

Cua mập ngọt ngon đầy mỹ vị,

Nh ìn ta, Quạ muốn xé tan thân.

Nghe vậy Rắn suy nghĩ: "Ta phải dùng mưu kế lừa nó, rồi ta và Quạ

thoát thân". Vì thế nó ngâm vần kệ thứ sáu

để lừa Cua:

Nếu Cua kẹp Rắn, Quạ vì ngài,

Ta sẽ rút chất độc ấy thôi,

Ng ài tỉnh dậy, mau tha Rắn, Quạ,

Thấm sâu chất độc, ắt t àn

đời.

Nghe vậy, Cua suy nghĩ: "Con Rắn này muốn làm cho ta thả cả hai ra

bằng mưu kế lừa bịp rồi bỏ chạy, nó không biết tài n ăng

khôn khéo của ta. Nay ta muốn nới c àng

đôi chút để con Rắn có thể nhúc nhích,

nhưng ta không thả con Quạ đây". Rồi nó ngâm vần kệ thứ bảy:

Ta thả Rắn, không thả Quạ đây,

Con tin l à Quạ buộc nơi này,

Ta không thả nó đi nơi khác,

Cho đến khi an ổn với ng ài.

Nói xong Cua nới lỏng càng để cho Rắn b ò

đi tự do. Con Rắn thu hồi nọc độc v à

thân thể Bồ-tát thoát khỏi nọc Rắn. Ngài

đứng dậy vững v àng trong sắc thái tự nhiên.

Con Cua suy nghĩ: "Nếu hai con vật này bình an, chắc chắn bạn thân

của ta không được thịnh vượng. Ta muốn giết

cả bọn chúng", rồi lấy c àng chà nát

đầu chúng cho chết đi.

Con Quạ mái liền bay đi trốn mất khỏi

chỗ ấy. Bồ-tát lấy gậy đâm qua m ình Rắn ném vào bụi,

để Cua v àng bò xuống ao nước rồi tắm

rửa và trở về Sàlindiya. Từ đấy t ình

thân hữu càng thấm thiết hơn giữa ngài và con Cua ấy.

*

Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật và nhận

diện Tiền thân qua những vần kệ cuối cùng:

Con Rắn hổ là chính Ác ma,

Đề-bà- đạt, ấy Quạ đen kia,

A-nan thiện hạnh là Cua nọ,

Ðiền chủ La-môn ấy chính Ta.

Khi các Sự Thật kết thúc, nhiều vị đắc

Sơ quả (Dự Lưu) v à các đạo quả khác.

Con Quạ cái chính l à Cìncamànavikà, mặc dù

điều n ày không

được nhắc đến trong vần kệ cuối c ùng.

-ooOoo-

390. Chuyện Chim Mayhaka (Tiền thân Mayhaka)

Nếu hoan hỷ khi mong cầu bố thí...,

Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên, về một thương

nhân lạ thường.

Tại thành Xá-vệ, có một thương nhân lạ thường, giàu tiền của và

đầy thế lực. Song ông không thọ hưởng gi àu

sang cũng không cho ai cả. Nếu các món cao lương mỹ vị

được dọn l ên, ông cũng không muốn

dùng mà chỉ ăn cháo cám với tương chua. Nếu

y phục lụa tơ tẩm hương chi ên- đ àn

được mang đến, ông bảo đem cất đi v à

chỉ mặc loại áo quần vải thô bằng lông để

lọc đường. Nếu xe ngựa được trang ho àng ngọc vàng do giống ngựa

thuần chủng kéo đến mời, ông bảo đem cất đi

v à chỉ đi chiếc xe cũ kỹ ọp ẹp với

chiếc d ù lá cây che đầu. Suốt đời

ông không l àm bố thí hay công đức g ì

cả nên khi chết bị tái sinh vào ngục Roruva. Gia sản của ông không người

thừa kế, quan quân nhà vua liền chở vào cung suốt bảy ngày

đ êm. Khi của cải ấy

được chở v ào, vua

đi đến Kỳ Vi ên sau buổi

điểm tâm v à kính bái bậc Ðạo Sư. Khi

được hỏi tại sao không đến yết kiến đức

Phật đều đặn, vua đáp:

- Bạch Thế Tôn, một thương nhân thật lạ thường vừa qua

đời ở Xá-vệ. Suốt bảy ng ày liền tài

sản vị ấy được chở v ào hoàng cung vì

không người thừa kế. Tuy tài sản nhiều như vậy, trước kia ông không hề

hưởng thụ phú quý cũng không đem cho ai cả.

T ài sản ấy như thể một hồ sen được

ác quỷ canh giữ. Một hôm ông lăn đ ùng ra chết sau khi

đ ã từ chối hưởng thụ cao lương mỹ vị

suốt đời. Tại sao một người ích kỷ v à

đáng ch ê trách như vậy lại tạo

được nhiều t ài sản thế kia và duyên

cớ gì ông không hề nghĩ đến việc thụ hưởng

phú quý?

Ðấy là câu hỏi mà vua nêu lên với bậc Ðạo Sư.

- Thưa Ðại vương, lý do tại sao vị ấy tạo

được t ài sản, tuy thế lại không

hưởng thụ nó, chính là đây.

Rồi theo lời thỉnh cầu của vua, bậc Ðạo Sư kể một chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa, khi vị vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, có một thương

nhân ích kỷ, không mộ đạo ở kinh th ành.

Ông không hề bố thí hay cung cấp vật gì cho ai. Một hôm

đang đi chầu vua, ông thấy một vị

Ðộc Giác Phật (Pacceka Buddha) tên là Tagarasikhi

đang khất thực, liền đảnh lễ v à hỏi:

- Thưa Tôn giả, ngài đ ã khất thực

chưa?

- Này thương nhân, ta chưa khất thực. Vị Ðộc Giác Phật

đáp.

Vị thương nhân ra lệnh cho người nhà:

- Này, đưa ng ài về nhà ta, mời

lên sàng tọa của ta và dâng một chén cơm

đầy thức ăn d ành cho ta.

Kẻ gia nhân đem ng ài về nhà, mời

ngồi xong, trình báo bà vợ thương nhân. Bà ấy dâng ngài một chén cơm

đầy cao lương mỹ vị. Ng ài cầm thức

ăn rời khỏi nh à kia và ra

đi.

Vị thương nhân từ triều đ ình trở

về nhà, gặp ngài lại vái chào và hỏi th ăm

ng ài đ ã nhận

được thực phẩm chưa.

- Này thương nhân, ta đ ã nhận

rồi.

Vị thương nhân nhìn vào bát và không thể nào

đồng ý việc ấy, lại suy nghĩ: "Giá như gia

nô của ta ăn bát cơm n ày, chúng sẽ làm cho ta biết bao nhiêu việc

nặng nhọc, ôi! Ðấy thật là thiệt thòi cho ta!" và ông không thể nào làm

cho tư tưởng sau khi bố thí được hoan hỷ

trọn vẹn. Vậy bố thí cúng dường chỉ sinh kết quả phong phú với kẻ n ào

biết làm cho tư tưởng sau khi bố thí được

hoan hỷ trọn vẹn.

Nếu hoan hỷ khi mong cầu bố thí

Thì hãy đem bố thí, dạ an vui,

Ðừng tiếc chi khi ta sống ở đời,

Ðàn con cháu chẳng bao giờ vong mạng.

Trước khi cho, niềm vui đầy tâm trạng,

Từ đó về sau tư tưởng hân hoan,

Bố thí kia đem phước đức vẹn to àn.

Như vậy thương nhân kỳ dị này được nhiều

t ài sản do đ ã cúng dường Ðộc

Giác Phật Tagarasikhi, song lại không thể hưởng thọ phú quý vì

đ ã không làm cho tư tưởng

được thanh tịnh sau khi bố thí.

- Bạch Thế Tôn, tại sao vị ấy không có con cái?

Bậc Ðạo Sư đáp:

- Thưa Ðại vương, đây l à duyên cớ

vị ấy không có con.

Và theo lời thỉnh cầu của vua, Ngài kể một câu chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát

được sinh v ào một gia

đ ình thương nhân giàu có

đến tám trăm triệu đồng tiền. Khi trưởng th ành,

cha mẹ qua đời, ng ài cung cấp tài

sản cho em ngài và điều h ành việc

nhà. Ngài lập một bố thí đường tại cổng nh à

và làm gia chủ chuyên tâm bố thí. Khi con ngài biết

đi chập chững, ng ài nhận thấy nỗi

khổ của tham dục và phước đức của đời xuất

gia, liền giao hết t ài sản cùng vợ con cho người em trai, khuyến

khích em tiếp tục bố thí tinh cần. Rồi ngài trở thành vị khổ hạnh,

đạt được các Thắng trí v à các thiền

chứng và sống ở vùng Tuyết Sơn.

Em trai ngài nhận nuôi đứa cháu duy nhất

ấy, song thấy nó lớn khôn, ông nghĩ: "Nếu con của anh ta sống, t ài

sản sẽ bị chia hai, ta muốn giết con anh ta". Vì thế một hôm, ông dìm

cháu xuống sông cho chết. Sau khi tắm xong về nhà, chị dâu hỏi:

- Con trai tôi đâu?

- Nó chơi đ ùa dưới sông. Tôi tìm

mãi nhưng không thể thấy nó đâu cả.

Bà chị chỉ khóc nhưng không nói gì cả. Bồ-tát biết việc này liền suy

nghĩ: "Ta sẽ công bố chuyện này". Rồi du hành qua không gian, hạ xuống

thành Ba-la-nại trong thượng y và hạ y chỉnh tề, ngài

đứng ngay tại cửa, không thấy bố thí đường,

ng ài suy nghĩ: "Kẻ độc ác kia đ ã

phá hủy bố thí đường".

Người em nghe tin ngài về, bước ra đảnh

lễ Bồ-tát v à mời ngài lên thượng lầu

đ ãi tiệc thịnh soạn. Khi cơm nước xong, ngồi nói chuyện thân mật,

ngài hỏi:

- Con trai ta không đến, nó đâu rồi?

- Thưa Tôn giả, nó chết rồi.

- Bằng cách nào?

- Tại một bến tắm, nhưng tiểu đệ không

biết r õ cách nào.

- Không biết à? Này kẻ độc ác kia, h ành

động của chú đ ã dược ta biết rõ: chú

đ ã không giết nó bằng cách ấy hay

sao? Thế chú có đủ sức g ìn giữ gia

sản khi bị vua chúa, đạo tặc hay nhiều

người khác đến phá hại chăng? Thế có g ì khác nhau giữa chú và con

chim Mayha đâu?

Như vậy Bồ-tát ngâm vần kệ này thuyết Pháp với vẻ an tịnh của một vị

Phật:

Có con chim được gọi May-ha,

Nó sống trong hang dưới núi xa,

Trái chín tr ên cây sung cổ thụ,

"Của ta, ta nữa", nó kêu la.

Bầy chim kia lúc nó kêu vang,

Tụ tập chung quanh cả một đ àn,

Ăn trái thỏa l òng tuy thấy thế,

May-ha vẫn cất tiếng kêu than.

Cũng vậy, người kia lắm bạc vàng,

Nhưng không chia sẻ giữa thân bằng,

Cũng không thọ hưởng lần nào cả

Y phục và luôn các thức ăn,

Hương liệu c ùng vòng hoa rực rỡ,

Cũng không ân huệ với thân nhân.

"Của ta, ta mãi", kêu rền rĩ,

Nó giữ kho tàng thỏa dạ tham.

Vua chúa cường gian, các đứa con

Chỉ mong sao nó sớm từ trần,

Cướp t ài sản nó, trong khi ấy

Kẻ bủn xỉn kêu khóc tiếc than.

Người có trí khôn được bạc v àng

Thường đem giúp đỡ các thân bằng,

Do vầy danh vọng tr ên trần thế,

Thiên giới đ ời sau

được phước phần.

Như thế bậc Ðại Sĩ thuyết Pháp khiến cho người em tiếp tục thực hành

việc bố thí, rồi ngài trở về Tuyết Sơn tu tập Thiền

định không ngừng v à

đời sau sinh l ên cõi Phạm thiên.

*

Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư bảo:

- Như vậy, thưa Ðại vương, thương nhân kỳ dị kia không có con trai

con gái gì cả vì người ấy đ ã giết

con của anh mình.

Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:

- Người em là thương nhân kỳ dị và người anh chính là Ta.

-ooOoo-

391. Chuyện Vị Tà Thuật Sư (Tiền thân Dhajavihetha)

Dung mạo thanh cao, lại cúi đầu ...,

Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về việc Ngài xuất

gia vì lợi lạc của quần sinh.

Hoàn cảnh của câu chuyện sẽ xuất hiện trong Tiền thân Mahàkanha, số

469. Lúc ấy, bậc Ðạo Sư bảo:

- Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần

đầu Như Lai xuất gia v ì ích lợi cho cả cõi

đời.

Và Ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát

được sinh l àm Sakka Thiên chủ. Thời

ấy có một tà thuật sư dùng thần lực nửa đ êm

xâm phạm tiết hạnh của chánh cung hoàng hậu ở Ba-la-nại. Các cung nữ của

bà đều biết chuyện n ày. Chính hoàng

hậu đến yết kiến vua v à trình:

- Tâu Chúa thượng, có kẻ lạ mặt đột nhập

cung thất v à xúc phạm thần thiếp.

- Thế hoàng hậu có thể làm một dấu hiệu nào

đó l ên kẻ ấy ch ăng?

- Tâu vâng, thiếp có thể.

Do đó b à bảo lấy chén son

đỏ thắm, khi kẻ ấy đến nửa đ êm và ra

đi sau cuộc truy hoan, b à hoàng liền

in n ăm dấu ngón tay b à vào lưng y và

sáng hôm sau trình vua. Ngài ra lệnh đám vệ

sĩ đi t ìm khắp nơi mang về kẻ nào có dấu son

đỏ tr ên lưng.

Bấy giờ, sau khi phạm tà hạnh ban đ êm,

tà thuật sư đứng giữa ban ng ày ở

nghĩa địa thờ phụng mặt trời, quân nh à

vua thấy được, bao vây y, song y tưởng rằng

h ành động của y đ ã bị mọi

người phát giác, liền dùng tà thuật bay lên không. Vua hỏi

đám vệ sĩ sau khi chứng kiến việc ấy trở

về:

- Các ngươi thấy y ch ăng?

- Tâu Chúa thượng, chúng thần có thấy.

- Y là ai?

- Tâu Chúa thượng, một đạo sĩ.

Sau khi phạm tà hạnh ban đ êm, y

giả dạng làm đạo sĩ ban ng ày. Vua

nghĩ thầm: "Những kẻ này ban ngày đi quanh

quẩn trong chiếc y khổ hạnh, c òn ban

đ êm lại phạm tà dục".

Do đó vua đâm ra phẫn nộ với các đạo sĩ

v à chấp thủ tà kiến liền truyền công bố khắp kinh thành bằng

trống lệnh rằng mọi đạo sĩ đều phải rời

vương quốc, v à sẽ bị quân sĩ trừng phạt nếu bị bắt gặp bất kỳ ở

đâu.

Mọi đạo sĩ khổ hạnh đều chạy trốn khỏi

vương quốc K àsi rộng ba tr ăm dặm v à

đến trú ở các kinh th ành khác. Do

đó không có Sa-môn hay B à-la-môn

chân chánh nào thuyết Pháp cho dân chúng Kàsi, và vì không nghe

được Chánh Pháp, họ trở n ên tàn bạo,

ghét bỏ bố thí và trì giới, phần lớn phải tái sinh vào

đọa xứ lúc mạng chung v à không

được sinh thi ên.

Sakka Thiên chủ không thấy một vị Thiên tử mới nào xuất hiện, liền

xem xét lý do gì và thấy chính vì việc tống xuất các Sa-môn, Bà-la-môn

ra khỏi vương quốc do vua Ba-la-nại chấp thủ tà kiến trong lúc phẫn nộ

vị tà sư. Sau đó ng ài suy nghĩ: "Trừ

ta không ai có thể phá hủy tà kiến này của vua. Ta muốn cứu giúp vua và

thần dân của nước này".

Vì vậy ngài đến gặp các Ðộc Giác

Phật tại động Nandam ùla và bảo:

- Này các Tôn giả, hãy cho ta một vị Ðộc Giác Phật Trưởng lão, ta

muốn đi cảm hóa quốc độ K àsi vào

đạo.

Ngài mời một vị Trưởng lão trong các vị ấy ra

đi. Khi ng ài

đ ã cầm y bát của vị ấy, Thiên chủ

Sakka mời vị ấy đi trước, ng ài theo

sau với dáng điệu cung kính đảnh lễ vị

Ðộc Giáo Phật, ngài biến mình thành một Sa-môn trẻ tuổi, tươi

đẹp đi ba v òng quanh thành phố từ

đầu đến cuối, rồi đến trước cổng ho àng

cung, ngài đứng tr ên không. Quân

canh đến tr ình với vua:

- Tâu Hoàng thượng, có một Sa-môn trẻ

đầy hảo tướng c ùng với một Sa-môn

đang đứng tr ên không trung tại hoàng môn.

Vua từ bảo tọa đi ra v à

đứng ở lầu thượng hỏi:

- Này đạo sĩ trẻ, tại sao ông tuấn tú

như vậy lại cung kính cầm y bát cho một Sa-môn dị tướng thế kia?

Rồi vua ngâm vần kệ đầu nói chuyện với

ng ài:

Dung mạo thanh cao, lại cúi đầu,

Sau người dị tướng, bước theo hầu,

Người n ày hơn, kém, hay bình đẳng,

Xin nói tánh danh, trẫm thỉnh cầu.

Thiên chủ đáp:

- Tâu Ðại vương, các Sa-môn ở địa vị của

bậc Ðạo Sư, vậy nếu ta nêu danh tánh ngài thì thất lễ, nhưng ta

sẽ nói cho Ðại vương biết tên ta.

Rồi ngài ngâm vần kệ thứ hai:

Chư Thiên không nói họ cùng tên

Của thiện nhân toàn hảo, Thánh hiền,

Riêng chỉ phần ta nêu tước hiệu

Sak-ka Thiên chủ của chư Thiên.

Vua nghe vậy, liền ngâm vần kệ thứ ba hỏi phước

đức g ì trong sự tôn sùng Ðạo Sư:

Người kính yêu hiền Thánh vẹn toàn

Sau ngài, tiến bước dáng nghiêm trang,

Phần gì thừa hưởng, này Thiên chủ,

Phước đức đời sau sẽ phát ban?

Thiên chủ đáp lại vần kệ thứ tư:

Người kính yêu hiền Thánh vẹn toàn,

Sau ngài, cất bước dáng nghiêm trang,

Tiếng khen trần thế nay thừa hưởng,

Thiên giới đời sau lúc mạng chung.

Vua nghe lòi Thiên chủ liền dứt bỏ mọi tà kiến và hoan hỷ ngâm vần kệ

thứ n ăm:

Mặt trời số phận chiếu hôm nay,

Mắt trẫm nhìn Thiên chủ hiển bày

Bậc Thánh xuất trần, này Ðế Thích,

Trẫm làm thiện sự kể từ rày.

Sakka Thiên chủ nghe vua tán thán vị Ðạo sĩ của ngài, liền ngâm vần

kệ thứ sáu:

Chân chánh thay sùng bái Thánh nhân,

Tâm tư hướng đến trí cao thâm,

Giờ đây long nh ãn đ ã chiêm

ngưỡng

Thiên chủ Sak-ka với Thánh nhân,

Mong ước từ nay nhiều phước nghiệp

Sẽ là phận sự của minh quân.

Nghe vầy, vua ngâm vần kệ cuối cùng:

Tư tưởng mang đầy đủ phước ân,

Từ nay l òng dạ trẫm ly sân,

Lắng tai nghe ngoại nhân cầu thỉnh,

Trẫm nhận lời khuyên nhủ chánh chân,

Trẫm sẽ diệt tan lòng ngã mạn,

Phụng thờ Thiên chủ, dạ tôn sùng.

Sau khi nói xong, vua từ thượng lầu bước xuống,

đảnh lễ vị Ðộc Giáo Phật và

đứng một b ên. Vị Ðộc Giáo Phật ngồi

bắt chéo chân trên không và nói:

- Thưa Ðại vương, tà thuật sư không phải là

đạo sĩ. Từ r ày phải nhận thức người

đời không phải to àn giả dối, còn có

các Sa-môn Bà-la-môn chân thiện, do vậy hãy bố thí, tuân thủ Giới luật

và thành trì các ngày trai giới (Bố-tát).

Ngài thuyết Pháp cho vua như vậy, còn Sakka Thiên chủ cũng dùng thần

lực đứng tr ên không thuyết Pháp cho

quần chúng:

- Từ nay về sau, hãy nhiệt tâm tinh cần.

Ngài truyền ban hồi trống ra lệnh khắp kinh thành cho các Sa-môn, và

Bà-la-môn đ ã

đi trốn phải hồi hương. Sau đó cả hai vị

trở về c õi của mình. Còn vua tuân thủ lời khuyến giáo và thực

hành các phước nghiệp.

*

Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật và nhận

diện Tiền thân:

- Thời ấy, vị Ðộc Giáo Phật đắc Niết-b àn,

vua là Ànanda và Ta chính là Sakka Thiên chủ.

-ooOoo-

392. Chuyện Củ và Hoa Sen (Tiền thân Bhisapuppha)

Ngài không được phép ngửi hương hoa...,

Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo.

Chuyện kể rằng vị Tỷ-kheo ấy đ ã

rời Kỳ Viên và trú tại quốc độ Kosala gần

một khu rừng. Một hôm ông xuống hồ sen, khi thấy một hoa sen, ông đứng

tránh gió v à ngửi mùi hương sen. Vị nữ Thần ở trong khu rừng ấy

đe dọa ông:

- Này Tôn giả, ngài ngửi trộm hương, đây

l à một hình thức trộm cắp.

Ông hoảng sợ trở về Kỳ Viên, đến vái ch ào

bậc Ðạo Sư và ngồi xuống một bên.

- Này Tỷ-kheo, lâu nay ông ở đâu?

- Bạch Thế Tôn, ở trong rừng nọ, và vị nữ Thần

đe dọa con như vậy.

Bậc Ðạo Sư bảo:

- Ông không phải là người đầu ti ên

bị nữ Thần đe dọa khi ngửi hương hoa. Các

bậc trí ng ày xưa cũng đ ã từng

bị đe dọa như vậy.

Và theo lời thỉnh cầu của vị Tỷ-kheo, ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát

được sinh v ào một gia

đ ình Bà-la-môn ở Kàsi. Khi lớn lên,

ngài học các nghệ thuật ở Ðại học Takkasilà và sau

đó trở th ành nhà khổ hạnh sống gần

một ao sen. Một hôm ngài bước xuống ao và

đứng ngửi một đóa hoa đang nở, một nữ Thần ở trong hốc cây gần đó ngâm

vần kệ đầu đe dọa ng ài:

Ngài không được phép ngửi hương hoa,

D ù chỉ một hoa mới nở ra,

Ðó thật là hình thức đạo tặc,

Sa-môn, ng ài trộm ngửi hương hoa.

Bồ-tát liền ngâm vần kệ thứ hai:

Ta chẳng hái, không bẻ gãy hoa,

Mùi hương ta ngửi tự đằng xa,

Ta không thể bảo n ào duyên cớ

Nàng nói ta đang ngửi trộm hoa.

Cùng lúc ấy, có một người đang đ ào

bới ngó sen và củ sen, làm gãy nát thân cây sen. Bồ-tát thấy thế, liền

nói:

- Nàng gọi một người ngửi mùi hương từ đ àng

xa là ăn trộm. Sao n àng không nói

vậy với người kia?

Thế là ngài ngâm vần kệ thứ ba để nói

chuyện n ày:

Kẻ nọ đang đ ào bới củ sen,

Phá thân cây gãy, đó nh ìn xem,

Sao nàng không bảo cách hành động

Kẻ ấy l à bừa bãi, thấp hèn?

Nữ Thần liền ngâm vần kệ thứ n ăm v à

thứ sáu giải thích tại sao nàng không nói với kẻ kia:

Những người phóng túng sống buông lơi,

Như áo vú em, đáng chán rồi,

Ta chẳng nói năng g ì kẻ ấy,

Song ta chiếu cố nói ngài thôi.

Khi bỏ dục tham của thế nhân,

Và đi t ìm cách tịnh thân tâm,

Tội dù chỉ nhỏ như đầu tóc

Chẳng khác tr ên trời đám hắc vân!

Nghe nữ Thần cảnh báo như vậy, Bồ-tát xúc

động ngâm vần kệ thứ sáu:

Hiển nhiên Thần nữ hiểu tinh tường,

Nên với ta, nàng đ ã

đoái thương,

Nếu thấy ta r ày còn tái phạm,

Xin nàng nói nữa, khẩn cầu nàng.

Sau đó, nữ Thần ngâm vần kệ thứ bảy:

Ta chẳng sống đây phụng sự ng ài,

Chúng ta không ở mướn cho ai,

Xin ngài tự kiếm đường đi tới

Hạnh phúc tối cao giữa c õi đời.

Khích lệ ngài như thế xong, nữ Thần trở về nơi cư trú của nàng. Còn

Bồ-tát nhiệt tâm nhập đại định về sau tái

sinh l ên cõi Phạm thiên.

*

Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo

đ ã được

an trú v ào Sơ quả (Dự Lưu). Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:

- Thời ấy, nữ Thần là Uppalavannà (Liên Hoa Sắc) và vị khổ hạnh chính

là Ta.

-ooOoo-

393. Chuyện Món Tàn Thực (Tiền thân Vighàsa)

Hạnh phúc là ai sống giữa đời...,

Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Ðông Viên liên hệ

đến một số Tỷ-kheo thích lạc thú.

Trưởng lão Mahamoggallàna (Ðại Mục-kiền-liên)

đ ã làm rung chuyển cả trú xứ của họ

và cảnh báo họ. T ăng chúng bắt đầu b àn

luận về lỗi lầm này tại Chánh pháp đường.

Bậc Ðạo Sư được kể sự việc tr ên,

liền bảo:

- Ðây không phải là lần đầu ti ên

họ thích lạc thú.

Và Ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát là Sakka

Thiên chủ. Có bảy anh em trong một làng ở Kàsi nhận thấy tai hại của

lòng tham dục, liền rời bỏ thế tục và trở thành ẩn sĩ. Họ sống tại

Mejjhàrannã, nhưng vẫn ham thích các lạc thú, không chuyên tâm tu tập và

chỉ làm theo thói quen của vật chất.

Sakka Thiên chủ bảo:

- Ta muốn đi cảnh báo bọn n ày.

Do đó ng ài biến mình thành chim

Anh vũ (két) đến trú xứ của họ, vừa đậu tr ên

cây vừa ngâm vần kệ đầu cảnh báo họ:

Hạnh phúc là ai sống giữa đời

Bằng t àn dư bố thí mà thôi,

Ðược người tán thán trên trần thế,

Số phận đời sau: lạc c õi trời.

Khi ấy, một người trong bọn họ nghe tiếng chim Anh vũ, liền gọi

đám kia lại v à ngâm vần kệ thứ hai:

Bậc trí phải ch ăng n ên lắng tai

Khi Anh vũ nói giọng như người,

Hãy nghe, các bạn, chim ca tụng

Bọn chúng ta đây, r õ tuyệt vời!

Anh vũ liền ngâm vần kệ thứ ba phủ nhận

điều n ày:

Chẳng phải ta ca tụng các thầy,

Bọn ăn xác chết, h ãy nghe

đây:

Các thầy ăn món đồ thừa thải,

Chẳng phải t àn dư bố thí này.

Khi nghe chim nói, họ đồng thanh ngâm

vần kệ:

Xuất thế bảy n ăm, cạo tóc đen,

Nơi đây ta sống tháng ng ày liền,

Ăn đồ t àn thực, sao chim trách,

Vậy thế ai người thật đáng khen?

Bậc Ðại Sĩ ngâm vần kệ thứ n ăm khiển

trách để họ phải ăn năn hối cải:

Món thừa sư, hổ, thú s ăn mồi,

L à thứ cần dùng của các người,

Quả thật chúng là đồ phế thải

D ù người gọi "chỉ tàn dư thôi".

Nghe vậy, các vị ẩn sĩ lại hỏi:

- Nếu chúng ta không phải là người sống bằng tàn thực, thì xin cho

biết họ là những ai?

Ngài liền ngâm vần kệ thứ bảy nêu rõ ý nghĩa

đích thực của việc n ày:

Người nào bố thí các Sa-môn,

Ðể đáp ứng ngay mọi thứ cần,

Rồi thọ những g ì còn để lại,

Sống nhờ của bố thí dư t àn.

Như vậy Bồ-tát làm cho họ ăn năn hối lỗi

rồi trở về c õi của ngài.

*

Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật và nhận

diện Tiền thân:

- Thời ấy, bảy ẩn sĩ kia là các Tỷ-kheo thích lạc thú này và Sakka

Thiên chủ chính là Ta.

-ooOoo-

394. Chuyện Chim Cút (Tiền thân Vattaka)

Bơ, dầu đủ món cao lương...,

Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo

tham lam.

Khi thấy vị ấy tham lam, bậc Ðạo Sư bảo:

- Ðây không phải lần đầu ông tham lam,

ng ày xưa có lần do tham lam, ông không thỏa mãn với các xác voi,

bò ngựa và hy vọng kiếm được nhiều thức ăn

ngon hơn, ông đ ã vào rừng sâu.

Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát

được sinh l àm con chim Cút sống ở

rừng sâu bằng cỏ khô và hạt cây. Thời ấy tại Ba-la-nại có một con Quạ

tham ăn, không h ài lòng với các xác

chết của voi, ngựa và nhiều súc vật khác, liền vào rừng kia với hy vọng

tìm nhiều của ngon vật lạ hơn. Trong lúc ăn

trái rừng, nó chợt thấy Bồ-tát liền nghĩ thầm: "Con chim Cút n ày

rất mập, ta đoán nó ăn nhiều thức ngon

ngọt, ta muốn hỏi nó về món kia v à

ăn để ta cũng mập hơn".

Quạ đậu tr ên bụi cây cao hơn

Bồ-tát, dù nó không hỏi, Bồ-tát vẫn chào nó và ngâm vần kệ

đầu:

Bơ, dầu đủ món cao lương,

Chú ơi, thực phẩm chú to àn thơm ngon,

Cho tôi biết rõ nguồn cơn

Tại sao chú phải gầy mòn thế ư?

Nghe lời nầy, Quạ ngâm ba vần kệ đáp

lại:

Ta đang sống giữa kẻ th ù,

Lòng ta cứ phải ưu tư rã rời,

Hãi kinh đi kiếm miếng mồi,

Muốn th ành béo mập, Cút ơi, cách nào?

Suốt đời Quạ sống lo âu,

Trí luôn cảnh giác, đương đầu nguy nan,

Miếng mồi kiếm chẳng đủ ăn,

Cút ơi, v ì thế gầy mòn thân ta.

Cỏ khô, hạt thóc quả là

Thức ăn của Cút chẳng no béo g ì,

Vì sao Cút mập thế kia,

Lại ăn ít ỏi, nói đi, bạn v àng!

Bồ-tát nghe vậy, ngâm các vần kệ giải thích lý do béo mập của mình:

Ta mong vừa đủ an nh àn,

Thong dong bay lượn quãng đường ngắn kia,

Kiếm ăn bất cứ vật g ì,

Nên ta béo mập khó bì, Quạ ơi!

Tràn đầy hạnh phúc, an vui,

Trong l òng biết đủ, thảnh thơi

tháng ng ày,

Mục tiêu dễ đạt lắm thay,

Ðây phần ưu thắng đời n ày

ta theo.

*

Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo

đ ã được

an trú v ào Sơ quả (Dự Lưu). Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:

- Thời ấy, con Quạ là Tỷ-kheo tham lam này và chim Cút chính là Ta.

-ooOoo-

395. Chuyện Con Quạ (Tiền thân Kàka)

Ông bạn cũ ơi, hãy ngắm xem...,

Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo

tham lam. Hoàn cảnh này cũng giống như trên.

*

Ngày xưa, khi vua Brahamadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát là chim Bồ

câu sống trong cái thúng ở trong nhà bếp của một thương nhân Ba-la-nại.

Một chú Quạ đến kết thân với Bồ câu v à

cùng sống ở đó. Ðến

đây câu chuyện cần được tr ình bày

đầy đủ chi tiết hơn. Người đầu bếp nhặt hết

lông Quạ, rắc bột l ên rồi chọc thủng một vỏ ốc bóng loáng

đeo tr ên cổ Quạ và ném nó vào thúng.

Bồ-tát bay từ rừng về, thấy vậy, và ngâm vần kệ

đầu để tr êu ghẹo Quạ:

Ông bạn cũ ơi, hãy ngắm xem,

Nữ trang sáng rực rỡ đeo l ên,

Bộ râu tỉa gọn oai ra phết,

Trông bạn thật tươi trước mắt nhìn!

Quạ nghe lời nầy, liền đáp vần kệ thứ

hai:

Các lông, móng cứ mọc nhanh ghê,

Làm vương víu ta khắp mọi bề,

Thợ hớt tóc sau cùng bước tới,

Nên ta thoát lớp vỏ xù xì!

Sau đó Bồ-tát ngâm vần kệ thứ ba:

Dĩ nhiên Quạ được vặt lông đen,

Chú thợ cạo kia thật khéo khen!

Quanh cổ th ì sao, xin nói rõ,

Cái gì lúng lẳng tựa chuông reng?

Tiếp theo Quạ ngâm hai vần kệ nữa:

Những người thanh lịch vẫn đeo ho ài

Quanh cổ ngọc châu, thói ở đời,

Muốn bắt chước người, ta cũng vậy,

Bạn đừng tưởng đó chuyện đ ùa chơi!

Còn nếu bạn ganh tỵ bộ ria

Ðược khéo điểm tô chải chuốt kia,

Ta sẽ nhờ người n ày cạo giúp,

Rồi đeo ngọc, bạn cũng như ta.

Bồ-tát nghe vậy liền ngâm vần kệ thứ sáu:

Không, chính ông phù hợp nhất đ ời

Với râu và ngọc khéo ra oai,

Thấy ông hiện diện gây phiền toái,

Ta giã biệt ông, cất bước thôi!

Cùng với các lời này, Bồ câu bay đi nơi

khác, c òn Quạ chết ngay tại chỗ ấy.

*

Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo

đ ã được

an trú v ào Tam quá (Bất Lai). Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:

- Thời ấy, con Quạ là vị Tỷ-kheo tham lam này, còn Bồ câu chính là

Ta.

-ooOoo-

- Hết Tập VI, Tiểu Bộ Kinh -

-ooOoo-

Đầu

trang | Mục

lục | 01 | 02 | 03

| 04 | 05 | 06

| 07 | 08 | 09

| 10 | 11 | 12

| 13 | 14