Chuyện Tiền Thân · Jātaka

379. Chuyện Núi Neru (Tiền thân Neru)

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Chuyện Tiền Thân

Kinh Trung Bộ · Bài 40

Chuyện Núi Neru (Tiền thân Neru)#

Jātaka group 40

Chương

VI (tiếp theo)

379. Chuyện Núi Neru (Tiền thân Neru)

Hai chúng ta là loài chim ưu tú..

Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một vị Tỷ-kheo.

Chuyện kể rằng vị ấy học được các phương

thức h ành thiền của bậc Ðạo Sư xong, liền ra một làng ở biên

địa. Tại đó dân chúng h ài lòng với

phong cách của ông, nên cúng dường thực phẩm, dựng một thảo am ở trong

rừng và yêu cầu ông ở lại đó rồi b ày

tỏ lòng tôn kính trọng vọng ông. Nhưng sau

đó họ lại rời bỏ ông, để đi theo các đạo sư thuộc phái Thường kiến, rồi

lại bỏ các vị n ày để theo giáo phái

Ðoạn kiến, xong lại bỏ phái này để

theo phái khổ hạnh l õa thể, vì đạo

sư các phái n ày cứ lần lượt xuất hiện. Do thế vị Tỷ-kheo này rất

phiền lòng khi sống chung với những người không phân biệt thiện ác kia.

Sau thời an cư mùa mưa và lễ Tự tứ (Pavàranà), vị ấy trở về hầu bậc

Ðạo Sư và khi Ngài hỏi, ông kể lại những nơi ông

đ ã cư trú trong mùa mưa vừa qua và

ông đ ã phải phiền lòng ra sao vì

những người không biết thiện ác. Bậc Ðạo Sư bảo:

- Các bậc trí ngày xưa, ngay khi còn là loài vật, cũng không sống

chung một ngày với những kẻ không biết thiện ác, tại sao ông lại làm như

vậy?

Và Ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát

được sinh l àm một chim Thiên nga màu

vàng óng. Ngài sống cùng em trai trên đỉnh

núi Cittakuta v à ăn lúa dại tr ên

vùng Tuyết Sơn. Một hôm bay về Cittakuta,

đôi chim thấy ngọn núi Neru m àu vàng rực rỡ liền

đến ở tr ên

đỉnh. Chung quanh núi có nhiều lo ài

chim và dã thú cùng sống để kiếm ăn tr ên

bãi. Từ lúc bọn chúng đến đây, tất cả đều

nhuộm m àu vàng do ánh sáng từ núi chiếu ra. Chim em của Bồ-tát

thấy vậy, song không hiểu lý do liền hỏi:

- Vì cớ sao ở đây lại như vậy?

Và chim cất tiếng ngâm hai vần kệ đầu

nói chuyện c ùng anh:

Hai chúng ta là loài chim ưu tú

Trên núi này bên đám quạ, diều hâu,

Cả mọi lo ài cùng chỉ có một màu:

Chó hạ liệt đua tranh c ùng loài

hổ,

Và với chúa sơn lâm: đ àn sư tử

Vậy núi này có tên gọi là sao?

Bồ-tát ngâm vần kệ thứ ba đáp lại:

Ne-ru là tên gọi Núi tối cao,

Ở nơi đây muôn lo ài

đều v àng óng.

Chim em nghe lời này liền ngâm ba vần kệ tiếp còn lại:

Hễ nơi nào thiện nhân không được

trọng,

Hoặc ít hơn người khác, h ãy đi

liền,

Dẫu hiền ngu, can đảm hoặc ươn h èn,

Ðều nhất loạt được tôn s ùng bình

đẳng,

Thiện nhân chẳng thể c ùng ngươi chung sống,

Hỡi Núi cao không phán đoán phân minh!

Dầu tối ưu, hạ liệt, hoặc trung b ình,

Ne-ru cũng chẳng thể nào suy xét,

Vậy, hỡi ôi! Chúng ta đ ành từ biệt

Núi Ne-ru không biết lẽ biệt phân.

Cùng với lời này cả đôi chim bay về núi

Cittak ùta.

*

Khi chấm dứt Pháp thoại, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo kia

đ ã được

an trú v ào Sơ quả (Dự Lưu). Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy, Thiên nga em là Ànanda, và Thiên nga anh chính là Ta.

-ooOoo-

380. Chuyện Thiên Nữ Àsankà (Tiền thân Àsankà)

À-sà-ti mọc trên vườn thiên giới..

Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về sự cám dỗ một

Tỷ-kheo do người vợ cũ gây ra.

Hoàn cảnh này sẽ xuất hiện trong Tiền thân Indriya, số 423.

Bậc Ðạo Sư nhận thấy vị Tỷ-kheo này thối thất do mơ tưởng

đến người vợ cũ, v ì thế Ngài bảo:

- Này Tỷ-kheo, nữ nhân này đang l àm

hại ông, ngày xưa cũng vì kẻ ấy mà ông đ ã

hy sinh cả bốn đạo quân v à sống ba n ăm

liền ở v ùng Tuyết Sơn trong cảnh đầy

gian khổ.

Nói xong Ngài kể một chuyện đời xưa.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát

được sinh v ào một gia

đ ình Bà-la-môn tại một làng trong

xứ. Khi ngài lớn lên, ngài học các nghệ thuật ở Ðại học Takkasilà, sau

đó trở th ành một vị khổ hạnh

đạt được các Thắng trí v à các Thiền

chứng, sống bằng củ quả ở rừng Tuyết Sơn. Vào thời ấy có một thiếu nữ

đức hạnh vẹn to àn từ cõi trời Ba

mươi ba giáng trần, đầu thai l àm một

thiếu nữ trong đóa hoa sen tr ên hồ

nước. Trong khi các hoa khác già cỗi héo tàn, rơi rụng thì hoa ấy lớn

dần và đứng thẳng tr ên cành.

Vị khổ hạnh đến tắm trong hồ nhận thấy

thế, nghĩ thầm: "Các hoa khác rơi rụng, song hoa n ày cứ lớn dần

ra và thẳng đứng, sao lạ thế n ày?"

Ngài liền mặc áo tắm và lội đến đó, mở đóa

sen ra, ng ài trông thấy cô bé gái. Ngài cảm thấy thương yêu nàng

như con mình, liền đem cô bé về thảo am,

chăm sóc nuôi nấng. N àng lớn dần đến

năm mười sáu tuổi trở th ành rất xinh

đẹp, dung sắc n àng vượt hẳn dung sắc loài người, nhưng chưa

đạt đến dung sắc chư Thi ên.

Một hôm Thiên chủ Sakka hiện xuống hội kiến Bồ-tát. Thiên chủ thấy

thiếu nữ này liền hỏi chuyện và được biết n àng

ở đâu ra. Ng ài hỏi:

- Nàng cần những thứ gì, thưa Tôn giả?

- Một chỗ cư trú, y phục nữ trang và thực phẩm, này Thiên chủ.

Ngài liền hóa hiện một cung bằng pha lê cho nàng ở, cùng với bảo tọa,

y phục, nữ trang, thực phẩm thần và tiên tửu. Thiên cung này bay xuống

trần gian và dừng lại ở nơi nàng đang sống.

Khi n àng bước vào trong cung, nó lại bay lên

đến giữa không trung. N àng chuẩn bị

đủ mọi thứ phụng dưỡng Bồ-tát trong khi n àng

sống trong cung này.

Một người kiểm lâm thấy nàng liền hỏi ngài:

- Thưa Tôn giả, nàng ấy là gì của ngài?

- Con gái ta đấy.

Người ấy liền đi về Ba-la-nại tr ình

vua:

- Tâu Ðại vương, tiểu thần vừa thấy trong vùng Tuyết Sơn cô con gái

của một vị khổ hạnh có dung sắc tuyệt thế.

Vua bị cám dỗ khi nghe chuyện này vội bảo người kiểm lâm làm hướng

đạo c ùng

đi với vua v à bốn

đạo binh về hướng ấy. Cắm lều trại xong,

vua đem người kiểm lâm v à đám cận

thần đến thảo am. Vua kính ch ào Bồ-tát và bảo:

- Thưa Tôn giả, nữ nhân là thứ bất tịnh

đối với đời tu h ành, vậy để trẫm

chăm sóc tiểu thư.

Bấy giờ Bồ-tát đ ã

đặt cho cô gái t ên Àsankà vì nàng

được ng ài

đem về nuôi nhờ ng ài lội qua hồ nước

do lòng nghi hoặc (Àsankà): "Cái gì ở trong hoa sen này?". Ngài không

nói thẳng với vua: "Hãy đem n àng

đi", m à lại bảo:

- Thưa Ðại vương, nếu ngài biết tên con gái ta thì hãy

đem n àng

đi.

- Thưa Tôn sư, nếu ngài nói ra thì trẫm sẽ biết..

- Ta sẽ không nói đâu, khi n ào

ngài biết tên ấy thì cứ đem n àng

đi.

Vua chấp thuận, từ đó cứ suy xét c ùng

với đám cận thần: "T ên nàng là gì

nhỉ?" và đưa ra đủ thứ t ên khó

đoán với Bồ-tát: "Những t ên nọ tên

kia là tên nàng". Song Bồ-tát bảo không phải và từ chối lời thỉnh cầu.

Vì vậy một n ăm trôi qua trong khi vua xem

xét t ên nàng.

Sư tử và nhiều dã thú đến vồ lấy mọi

người v à binh sĩ của vua, lại thêm nhiều hiểm họa vì rắn rết,

ruồi muỗi. Nhiều người khác chết vì lạnh. Vua bảo Bồ-tát:

- Trẫm cần gì nàng ấy nữa?

Và vua bỏ đi.

Thiếu nữ Àsankà hiện ra trên cửa sổ pha lê mở rộng. Vua thấy nàng

liền bảo:

- Chúng ta không tìm ra tên nàng nên chúng ta sẽ ra

đi, n àng cứ ở lại Tuyết Sơn này.

- Tâu Ðại vương, nếu ngài ra đi, ng ài

sẽ chẳng bao giờ tìm được một vương phi như

thiếp nữa. Tr ên cõi trời Ba mươi ba, tại vườn Cittalatà, có một

loài cây leo tên Àsàvatì. Trái của nó chứa một thứ tiên tửu, những ai

uống rượu ấy một lần là phải say suốt bốn tháng nằm yên trên thiên tọa.

Nó chỉ sinh trái một lần trong một ngàn n ăm,

cho n ên các Thiên tử, dù ham mê rượu nồng, vẫn chịu nhịn khát

để đón chờ ti ên tửu ấy. Họ bảo nhau:

"Ta sẽ hái quả cây này", rồi cứ liên tục

đến canh chừng cây ấy suốt cả ng àn n ăm

v à bảo nhau: "Cây mọc có tốt ch ăng?"

Còn Ðại vương, chỉ trong vòng một n ăm đ ã

sinh lòng bất mãn, hễ ai hái được kết quả

của niềm hy vọng l à đạt hạnh phúc.

Thiếp xin ng ài khoan bất mãn vội.

Do vậy, nàng ngâm ba vần kệ đầu:

À-sà-ti mọc trên vườn Thiên giới

Một ngàn n ăm chỉ sinh trái một lần,

Chư Thi ên hằng kham nhẫn mãi chờ trông.

Quá hy vọng, Ðại vương, đầy ngon ngọt,

Chim hy vọng không bao giờ tổn thất,

Nó đạt tr òn mong ước dẫu xa vời.

Tâu Ðại vương, quá hy vọng ngọt bùi!

Cứ hy vọng, Ðại vương, hy vọng mãi.

Vua lại mê say vì lời nàng, rồi triệu tập quần thần một lần nữa và cố

đoán t ên nàng, cứ mỗi lần

đoán mười t ên mãi

đến khi một năm nữa trôi qua. Song t ên

nàng vẫn không ở trong số mười lời phỏng

đoán kia, n ên Bồ-tát từ chối lời vua thỉnh cầu. Nàng lại hiện ra

trên khung cửa sổ và vua bảo:

- Thôi nàng ở lại đây, trẫm sắp ra đi.

- Tại sao ra đi, tâu Ðại vương?

- Vì trẫm không thể nào đoán ra t ên

nàng.

- Tâu Ðại vương, tại sao ngài không thể

đoán ra? Niềm hy vọng không phải l à không có thành công. Một con

hạc đậu tr ên

đỉnh đồi cũng đạt được mong ước, tại sao ng ài

không thể đạt được chứ? Tâu Ðại

vương, hãy kham nhẫn. Một chim hạc đ ã

tìm nơi ăn trong một hồ sen, song nó bay l ên

tận đỉnh đồi. Nó ở lại đó hôm ấy v à

hôm sau tự nhủ: "Ta sống thật an lạc tại

đỉnh đồi n ày. Nếu không cần xuống

đồi, ta cứ ở đây t ìm thức ăn nước

uống v à đậu tại đây hôm nay thật

thích thú biết bao".

Chính ngay hôm ấy, Sakka Thiên chủ đ ã

dẹp tan các thần Asura (A-tu-la) và làm chúa tể cõi trời Ba mươi ba, tự

nhủ: "Mọi mong ước của ta đ ã

đạt được đỉnh cao th ành tựu. Hôn nay

có ai trong rừng chưa đạt niềm mong ước

chăng?" Suy xét như vậy ng ài thấy con hạc và nghĩ: "Ta

sẽ làm cho

niềm mong ước của con hạc được th ành

tựu". Không xa con hạc đậu có một d òng

suối, Thiên chủ đưa con suối đầy thức ăn l ên

đỉnh đồi, như thế chim hạc không cần đi đâu

vẫn có cá ăn nước uống thỏa thích suốt ng ày ở nơi ấy. Sau

đó d òng suối

đổ xuống v à trôi

đi xa. Tâu Ðại vương, con hạc

đ ã đạt

kết quả niềm hy vọng của nó như vậy, tại sao Ðại vương sẽ không

đạt được kia chứ? Xin Ðại vương cứ

hy vọng nữa, hy vọng mãi.

Nàng nói và ngâm vần kệ còn lại.

Vua nghe chuyện nàng kể, lại say mê sắc

đẹp n àng, bị lời nàng lôi cuốn, nên ở thêm một n ăm

nữa để phỏng đoán cả trăm t ên nàng. Sau ba n ăm,

vua t ìm đến Bồ-tát v à hỏi:

- Thưa Tôn giả, tên nàng có nằm trong tr ăm

t ên này ch ăng?

- Thưa Ðại vương, ngài không biết tên ấy

đâu.

Vua vái chào Bồ-tát và bảo:

- Chúng tôi xin từ giã lên đường.

Và vua ra đi.

Thiếu nữ Àsankà lại đứng b ên cửa

sổ pha lê. Vua trông thấy nàng liền bảo:

- Thôi nàng ở lại, chúng ta sắp lên

đường.

- Tại sao thế, tâu Ðại vương?

- Nàng làm ta đẹp l òng vì lời nói

chứ không phải vì tình yêu của nàng. Ta say mê lời nói dịu ngọt của

nàng, nên đ ã ở

đây ba năm r òng, nay ta quyết ra

đi.

Rồi vua ngâm các vần kệ sau:

Lời nói nàng nghe quả thật dịu êm,

Song hành động không thỏa l òng

mong đợi.

Hoa hữu sắc vô hương l à cỏ dại,

Lời hứa kia dẫu đẹp chẳng thi h ành

Với bạn thân, ta phải ném cho nhanh,

Chẳng đem tặng, cứ để d ành mãi

mãi,

Tình bạn kia tất nhiên là suy thoái.

Ta chỉ nên hứa trước việc mình làm,

Ðừng hứa suông những việc chẳng đảm đang.

Nếu ta nói m à không làm phận sự,

Các trí nhân xét xem liền thấy rõ.

Ðạo quân ta hao tổn, cạn kho lương,

Ta hoài nghi đời sống đ ã suy tàn,

Ðã đến lúc ra đi, đ ành từ biệt.

Khi nàng Àsankà nghe lời vua liền đáp:

- Tâu Ðại vương, ngài biết tên thiếp rồi, ngài vừa nói ra tên ấy. Xin

hãy nói cho phụ thân biết tên thiếp và đem

thiếp c ùng ra đi.

Nói vậy xong, nàng liền ngâm vần kệ:

Tâu Ðại vương, vừa nói ra tên thiếp,

Hãy đến ngay, cha thiếp nhận cầu hôn.

Vua đến gặp Bồ-tát v à nói:

- Thưa Tôn giả, tiểu thư tên là Àsankà.

- Thưa Ðại vương, ngài đ ã biết

tên nàng, vậy hãy đem n àng ra

đi.

Vua kính lễ Bồ-tát và đến cung pha lê bảo nàng:

- Này, quý cô nương, phụ thân nàng đ ã

gả nàng cho ta, vậy hãy đến đây ngay.

- Tâu Ðại vương, thiếp sẽ đi xin phép

phụ thân. N àng bảo.

Rồi từ cung pha lê, nàng bước xuống đảnh

lễ Bồ-tát, được ng ài ưng thuận và cho phép ra

đi c ùng nhà vua. Vua

đem n àng về Ba-la-nại, cùng nàng

sống hạnh phúc, sinh được th êm nhiều

hoàng tử và công chúa. Còn Bồ-tát tiếp tục hành Thiền

định v à tái sinh lên cõi Phạm thiên.

*

Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Vào lúc các Sự Thật kết thúc, vị Tỷ-kheo

được an trú v ào Sơ quả (Dự lưu). Rồi

Ngài nhận diện Tiền thân:

- Àsankà là người vợ cũ kia, vua là vị Tỷ-kheo bất mãn này và vị khổ

hạnh chính là Ta.

-ooOoo-

381. Chuyện Chim Thứu Migàlopa (Tiền thân Migàlopa)

Ðường con bay bổng, hỡi con thân...,

Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo bất

tuân Giới luật.

Bậc Ðạo Sư hỏi Tỷ-kheo:

- Có thật ông bất tuân Giới luật ch ăng?

Vị ấy đáp:

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Bậc đạo sư bảo:

- Không phải ông bất tuân Giới luật lần

đầu, m à xưa kia vì tính ngỗ nghịch không nghe lời khuyên của bậc

trí, ông phải mạng vong và gặp cuồng phong Verambla.

Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát

được sinh l àm chim Thứu (kên kên)

tên Aparanna, sống cùng đo àn chim

thứu tùy tùng ở núi Gijjhapabbata (Thứu Sơn). Con ngài tên Migàlopa

cường tráng dũng mãnh phi thường. Nó bay cao vượt mức

độ các chim thứu khác. Chúng liền kể cho

thứu vương nghe con ng ài bay quá cao. Ngài gọi Migàlopa

đến bảo:

- Này con, chúng bảo con bay quá cao. Nếu quả vậy, con tự gây tử vong

cho mình đấy.

Ngài lại ngâm ba vần kệ:

Ðường con bay bổng, hỡi con thân,

Cha thấy chúng sao thật bất an,

Con vụt lên cao xa quá mức,

Vượt vùng ta sống thật an toàn.

Khi đất chỉ l à một bãi vuông

Hiện ra phía trước mắt con trông,

Thì nên quay lại thôi con nhé,

Ðừng táo bạo bay vút giữa không.

Chim sải cánh bay tận cõi không,

Chúng thường gặp bão tố cuồng phong,

Khi đang nỗ lực l ên cao mãi,

Vì chúng kiêu c ăng phải mạng vong.

Khinh lời khuy ên nhủ thật khôn ngoan

Của đấng l ão thân, gặp Hắc Phong,

Tên gọi Ve-ram-bha Bão tố,

Vợ con, gia sản phải tan hoang.

Do vậy những ai chẳng chú tâm

Nghe lời huynh trưởng vẫn khuyên r ăng,

Như chim ki êu mạn bay đi lạc,

Bất phục lệnh tr ên, gặp tử thần.

*

Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy, Migàlopa là Tỷ-kheo bất tuân Giới luật và Thứu vương

Aparanna chính là Ta.

-ooOoo-

382. Chuyện Hai Thiên Nữ Siri Và Kàlakanni (Tiền thân Siri-Kàlakanni)

Ai đây xanh thẩm hóa đen huyền...,

Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về ông

Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).

Từ thời ông được an trú v ào quá

Dự Lưu, ông hành trì Ngũ giới trọn vẹn. Tất cả vợ con gia nhân của ông

đều l àm như vậy.

Một hôm tại Chánh pháp đường, Tăng chúng

bắt đầu thảo luận xem ông Cấp Cô Ðộc và gia quyến ông có giữ

Thánh đạo thanh tịnh chăng. Bậc Ðạo

Sư bước vào và được Hội chúng tr ình

bày đề t ài ấy, Ngài bảo:

- Này các Tỷ-kheo, các bậc trí thời xưa cũng

đ ã giữ cho toàn gia quyến

được thanh tịnh.

Và Ngài kể một chuyện đời xưa.

*

Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát làm một

thương nhân, bố thí, trì giới và toàn thể con cháu, gia nhân trong nhà

cũng làm như vậy. Cho nên ngài được gọi l à

thương nhân Suciparivàra (Toàn gia Thanh tịnh). Ngài suy nghĩ: "Nếu có

vị nào giữ đức giới thanh tịnh hơn ta đến

đây, v à ta mời vị ấy ngồi trên ghế của ta hay nằm trên giường của

ta thì không thích hợp, mà ta phải mời ngồi trên bảo tọa thanh tịnh chưa

ai dùng". Như thế ngài dặn gia nhân chuẩn bị một bảo tọa và một bảo sàng

mới nguyên đặt v ào một bên khách

sảnh đặc biệt của ng ài.

Vào thời ấy trên cõi trời Thiên vương có hai nàng tiên: Kàlakanni

(Bất Hạnh), ái nữ của Virùpakkha (Quảng Mục Thiên vương) và Siri (Hạnh

Phúc), ái nữ của Dhatarattha (Trì Quốc Thiên vương) cùng

đem nhiều v òng hoa và hương liệu

đi đến hồ Anotatta để vui chơi tại đó.

Bấy giờ tại hồ đó có nhiều chỗ tắm. Chư

Phật có chỗ tắm ri êng, các Ðộc Giác Phật có chỗ riêng, các

Tỷ-kheo có chỗ riêng, các Thiên tử sáu tầng Dục giới (trong

đó có Tứ Thi ên vương an trú ở tầng

thứ nhất) có chỗ riêng và các Thiên nữ có chỗ riêng.

Hai Thiên nữ này đến đấy v à bắt

đầu tranh c ãi xem ai

được tắm trước. K àlakanni nói:

- Ta ngự trì cõi trần, ta tắm trước mới hợp lý.

- Ta cai quản con đường giới hạnh đem

lại địa vị tối cao của nhân loại. Ta tắm trước mới hợp lý. Siri đáp.

Sau đó cả hai đều nói:

- Tứ Thiên vương sẽ biết giữa hai ta ai sẽ phải tắm trước.

Thế là hai nàng đi hỏi các Thi ên

vương rằng ai giữa hai nàng xứng đáng tắm

trước tại hồ Anotatta. Hai Thi ên vương Dhatarattha và Virupakkha

đáp:

- Chúng ta không thể quyết định được.

Và hai vị giao phận sự ấy cho Virùlha (T ăng

Trưởng Thi ên vương) và Vesavana (Tỳ-sa-môn Thiên vương). Hai vị

này cũng bảo:

- Chúng ta không quyết định được, chúng

ta muốn đưa chuyện đến bệ kiến Thi ên chủ.

Rồi hai vị đưa chuyện đến Sakka Thi ên

chủ (Ðế Thích). Thiên chủ nghe chuyện, thầm nghĩ: "Hai này này là ái nữ

của Thiên vương chư hầu của ta, ta không thể quyết

định được chuyện ấy", v à bảo hai

nàng:

- Tại thành Ba-la-nại có một thương nhân tên gọi Suciparivàra, trong

nhà vị ấy có đặt sẵn một bảo tọa v à

một bảo sàng mới nguyên, nàng nào có thể nằm ngồi ở chỗ ấy trước thì

xứng đáng l à người

được tắm trước.

Kàlakanni nghe vậy lập tức khoác y phục màu xanh, tẩm dầu thơm màu

xanh và tô điểm nữ trang m àu xanh

(Màu xanh tượng trưng điềm xấu). Rồi từ Thi ên

giới, nàng giáng trần trên một thạch bàn do chiếc cung thần bắn ra. Sau

canh giữa đ êm, nàng trụ trên không,

tỏa ra một làn ánh sáng xanh, không xa vị thương nhân

đang nằm tr ên một bảo tọa trong

khách sảnh đặc biệt của lâu đ ài. Vị

thương nhân nhìn lên thấy nàng, song đối

với ng ài, nàng không có vẻ nhân từ, khả ái. Ngài liền ngâm vần kệ

đầu nói chuyện với n àng:

Ai đây xanh thẩm hóa đen huyền,

Không khả ái đâu trước mắt nh ìn,

Con gái nhà ai, nàng ấy nhỉ,

Làm sao ta biết, hỡi cô tiên?

Nghe lời này, Kàlakanni ngâm vần kệ thứ hai:

Quảng Mục Thiên vương chính phụ thân,

Kà-li là Bất Hạnh, tai ương,

Xin ngài cho một phòng lưu trú

Kề cận ngài như dạ ước mong.

Sau đó Bồ-tát đáp vần kệ thứ ba:

Nàng vẫn sống theo giới hạnh gì?

Ðường nào nhân thế bước chân đi?

Ðây là câu hỏi xin nàng đáp,

Ta muốn chú tâm để lắng nghe.

Nàng lại ngâm vần kệ thứ tư, giải thích các

đặc tính của n àng:

Giả dối, buông lung, cáu kỉnh luôn,

Vong ân, tật đố, dạ xan tham,

Ác nhân, ta giúp th ành công để

Thắng lợi l àm cho chúng diệt vong.

Nàng còn ngâm thêm vần kệ thứ n ăm, thứ

sáu v à thứ bảy:

Sâu hận lại còn thân thiết hơn,

Giao tranh, phỉ báng, lẫn hung tàn,

Kẻ ngu không biết người lương thiện,

Oán ghét lời khuyên, lẫn thiện nhân.

Người nào hành động trí ngu si,

Bằng hữu thảy đều phải chán ch ê,

Kẻ ấy với ta là bạn đó,

Ta t ìm lạc thú ở người kia.

Lúc ấy, bậc Ðại Sĩ ngâm vần kệ thứ tám khiển trách nàng:

Kà-li, nàng hãy bước đi ngay,

Chẳng có g ì vui thú ở đây,

H ãy đến các kinh th ành xứ

khác,

Biến nhanh ra khỏi chốn này.

Kàlakanni nghe vậy, buồn rầu ngâm vần kệ

đáp lời:

Ta vẫn biết ngài rõ lắm thay,

Không gì vui thú ở nơi đây,

Những người ác tạo nhiều mưu kế,

Huynh đệ ta l àm biến mất ngay.

Khi nàng đ ã

đi rồi, Thi ên nữ Siri xuất hiện, với

y phục, dầu thơm, nữ trang toàn màu rực rỡ ngay trước cửa phòng khách,

vừa tỏa ra một làn ánh sáng toàn màu vàng, nàng

đứng tr ên

đất bằng hai chân vững chắc v à dáng

điệu kính cẩn. Bồ-tát thấy n àng liền

ngâm hai vần kệ đầu:

Ai đây m àu sáng chói Thiên thần

Trên đất b ình yên, dáng thật chân,

Con gái nhà ai, nàng ấy nhỉ,

Làm sao ta biết, hỡi tiên nương?

Siri nghe vậy liền đáp vần kệ thứ hai:

Trì Quốc Thiên vương chính phụ thân,

Ta là Hạnh Phúc, trí am tường,

Thế nhân tán tụng, xin an trú

Ðại sảnh cùng ngài dạ ước mong.

Sau đó ng ài hỏi:

Nàng vẫn sống theo giới hạnh gì?

Ðường nào nhân thế bước chân đi?

Ðây là câu hỏi xin nàng đáp,

Ta muốn chú tâm để lắng nghe.

Siri đáp lại:

Người nào dù nóng, lạnh, phong ba,

Ðói khát, ruồi gây bệnh, độc x à,

Phận sự ngày đ êm làm tròn vẹn,

Ta luôn quý mến sống cùng nhà.

Nhã nhặn, thiết thân, hạnh chánh chân,

Khoan dung, thẳng thắn, dạ bình an,

Tín thành, thiện cảm, đầy kham nhẫn,

Ta điểm tô th êm mọi phước phần,

Như sóng lan dần trên biển cả,

Một màu sáng chói ngập trùng dương.

Với bạn thân hay chẳng bạn thân,

Với người hơn, kém, hoặc ngang hàng,

Ác nhân hay cả cừu nhân nữa,

Dù tối trời hay giữa ánh quang,

Những kẻ nhân từ không ác ngữ

Tử sinh ta mãi kết thân bằng.

Song nếu kẻ ngu được mến thương

Lại sinh ngạo mạn với ki êu c ăng,

Con đường bất thiện đầy ngoan cố,

Ta tránh xa như một vũng b ùn.

Họa, phúc nghiệp riêng mỗi bản thân,

Chẳng ai tạo nghiệp của tha nhân,

Một người không thể gây tai họa,

Hạnh phúc cho ai ở cõi trần.

Ðó là lời giải đáp của Siri khi được vị

thương nhân hỏi. Bồ-tát hoan hỷ trước lời n àng, liền bảo:

- Ðây là sàng tọa thanh tịnh, xứng đáng

d ành cho nàng. Hãy nằm ngồi lên đó.

Nàng ở lại đến sáng hôm sau gi ã

từ về cõi trời Tứ Thiên vương và tắm trước tiên tại hồ Anotatta. Sàng

tọa được Siri d ùng tên là Sirisaya.

Ðó là nguồn gốc của từ Sirisayana (Bảo tọa, vương sàng) và vì lý do

đó, nó được gọi như vậy cho đến ng ày

nay.

*

Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy, Thiên nữ Siri là Uppalavannà (Liên Hoa Sắc) và thương

nhân Suciparivàra chính là Ta.

-ooOoo-

383. Chuyện Kê Vương (Tiền thân Kukkuta)

Chim có cánh hồng sáng rực sao...,

Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo mơ

tưởng đời thế tục,

Bậc Ðạo Sư hỏi:

- Tại sao ông mơ tưởng đời thế tục?

- Bạch Thế Tôn, chính vì tham dục, con đ ã

trông thấy một nữ nhân trang sức diễm lệ.

- Này Tỷ-kheo, nữ nhân cũng như mèo cái, thường dối lừa và tán tỉnh

để l àm hại kẻ nào

đ ã rơi vào uy lực của họ.

Rồi Ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát

được sinh l àm Gà trống sống trong

rừng với đo àn tùy tùng hàng tr ăm

g à trống khác. Không xa đó có một

con m èo cái. Nó đ ã dùng nhiều

mưu kế dụ dỗ nhiều gà trống để ăn thịt

ngoại trừ Bồ-tát, song Bồ-tát vẫn không rơi v ào mãnh lực của nó.

Mèo cái nghĩ thầm: "Con Gà trống này thật tinh khôn, song nó biết

đâu l à ta cũng tinh khôn và

đầy phương tiện tinh xảo. Nếu ta dụ dỗ nịnh

hót nó v à bảo: "Thiếp muốn làm vợ chàng", rồi sẽ

ăn thịt nó khi nó rơi v ào tay ta thì

tốt biết bao".

Mèo cái liền đến dưới gốc cây nơi G à

trống đậu v à khẩn cầu Gà bằng giọng

lưỡi tán tụng vẻ đẹp của G à trống,

vừa ngâm vần kệ đầu:

Chim có cánh hồng sáng rực sao,

Mồng cao rũ xuống đẹp dường bao,

Thiếp nay ước muốn n ên chồng vợ,

Bỏ cây xuống với thiếp đây n ào!

Bồ-tát nghe vậy suy nghĩ: "Nó đ ã

ăn thịt tất cả họ h àng nhà ta, nay

nó lại muốn phỉnh nịnh ta để ăn ta luôn. Ta

quyết t ìm cách tống nó đi". V ì

thế ngài ngâm vần kệ thứ hai:

Cô nàng quyến rủ, đẹp xinh ôi!

N àng có bốn chân, tôi chỉ hai,

Chim, thú không bao giờ kết hợp,

Hãy tìm chàng khác thật cân đôi.

Mèo cái liền nghĩ: "Gà trống này tinh khôn khác thường, ta phải quyết

dùng mưu này kế nọ dụ nó và ăn thịt nó mới

được". V ì thế nó ngâm vần kệ thứ ba:

Thiếp dâng chàng sắc đẹp thanh xuân,

Lời nói dịu êm nhã nhặn luôn,

Làm vợ quý yêu hay thị nữ,

Tùy nghi đối xử hợp phu quân.

Sau đó Bồ-tát lại nghĩ: "Tốt nhất l à

phải mạ lỵ nó và tống cổ nó đi nơi khác",

ng ài liền ngâm vần kệ thứ tư:

Con Mèo hút máu họ nhà Gà,

Cướp giết bạo tàn thật xấu xa,

Vợ quý ư? Không hề quý trọng

Trong lòng Mèo lúc tán dương ta.

Mèo cái bị tống đi, từ đó không c òn

dám nhìn mặt Gà được nữa.

*

Vậy khi chúng thấy một anh hùng,

Cả bầy nhi nữ thật tinh khôn

Cố tìm cách để h òng lôi cuốn.

(Cứ xem Mèo cái với Kê vương).

Ai không đối phó trước nguy nan

Đ ành phải ngã dài ở dưới chân

Cúi mặt phục tùng ngay địch thủ,

Trong niềm uất hận lẫn đau buồn.

Người kịp thời xem xét sự t ình

Gian nguy xảy đến số phần m ình,

Như Gà trống lánh xa Mèo cái,

Cừu địch kia, cần tránh thật nhánh.

Ðây là các vần kệ phát xuất từ Trí tuệ Tối thắng của

đức Phật.

*

Khi Pháp thoại chấm dứt bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật và nhận

diện Tiền thân. Vào lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo thối thất

đ ã được

an trú v ào Sơ quả (Dự Lưu). Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:

- Thuở ấy, Ta chính là Gà trống ấy.

-ooOoo-

384. Chuyện Pháp Ấn (Tiền thân Dhammaddhaja)

Hành trì đức hạnh, hỡi chư huynh...,

Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo lừa

dối.

Ngài bảo:

- Này các Tỷ-kheo, kẻ này không chỉ lừa dối lần

đầu ti ên.

Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát

được sinh l àm một con chim. Khi lớn

lên ngài sống giữa bầy chim tùy tùng của ngài trên một

đảo giữa biển cả.

Một hôm có đo àn thương nhân

đem theo một con Quạ v à khởi hành ra

khơi, đến giữa biển, t àu bị chìm.

Con Quạ bay đến đảo n ày, nghĩ thầm:

"Ðây có cả đ àn chim lớn, nếu ta dùng

kế lừa gạt chúng rồi ăn thịt cả trứng lẫn

chim non th ì hay biết bao". Thế rồi nó bay xuống giữa bầy chim,

vừa há mỏ vừa đứng một chân tr ên mặt

đất. Bầy chim hỏi:

- Thưa Tôn giả, ngài là ai?

- Ta là một Thánh giả.

- Tại sao ngài chỉ đứng một chân?

- Nếu ta đặt chân kia xuống, quả đất

không thể chịu đựng nổi ta.

- Thế tại sao ngài vừa đứng vừa há mỏ?

- Ta không ăn thực phẩm g ì cả,

chỉ hút gió.

Cùng với lời này, Quạ gọi bầy chim lại bảo:

- Ta sẽ thuyết giáo cho các anh, hãy lắng nghe.

Rồi Quạ ngâm vần kệ đầu để giảng giáo

lý:

Hành trì đức hạnh, hỡi chư huynh,

Cầu chúc chư huynh đệ phước l ành!

Ta nói lại: hành trì đức hạnh

Ðời này, đời kế đạt an b ình.

Ðàn chim không biết Quạ nói thế với âm mưu lừa dối chúng

để ăn trứng chim, liền ca ngợi Quạ v à

ngâm vần kệ thứ hai:

Chim này chánh hạnh, phước ân tràn,

Thuyết giảng chỉ cần đứng một chân.

Bầy chim đầy tin tưởng con Quạ gian ác n ày,

liền bảo:

- Thưa Tôn giả, ngài không cần thực phẩm gì cả, chỉ cần hút gió mà

sống, vậy xin ngài canh chừng lứa trứng này và bầy chim non của chúng

tôi.

Như thế, chúng bay đi đến nơi ăn thường

lệ. Khi chúng đ ã đi xa, con Quạ độc

hại n ày ăn đầy một bụng cả trứng lẫn

chim non. Rồi khi bầy chim trở lại, nó liền đứng y ên lặng trên

một chân và há mỏ ra.

Ðàn chim không thấy lũ chim non khi bay về tổ liền kêu thét lên:

- Ai có thể ăn chúng rồi chứ?.

Song chúng lại bảo nhau:

- Ông Quạ này là một bậc Thánh mà!

Chúng không nghi ngờ gì con Quạ cả.

Sau đó, một hôm, Bồ-tát nghĩ thầm:

"Trước đây không có g ì nguy hiểm xảy ra, chỉ từ khi có con Quạ

này đến mới bắt đầu có tai họa, vậy tốt hơn

phải thử nó".

Vì thế ngài làm như thể sáp bay đi ăn c ùng

bầy chim kia, rồi ngài quay lại đậu một chỗ

kín đáo. Con Quạ tin tưởng bầy chim đ ã bay hết liền

đứng l ên,

đến ăn cả trứng lẫn chim non, xong lại đứng

tr ên một chân, há mỏ ra như cũ. Khi bầy chim bay về, Chim chúa tụ

tập chúng lại và bảo:

- Hôm nay ta đ ã quan sát mối hiểm

họa đến với đ àn con của chúng ta và

ta thấy con Quạ gian ác này đ ã

ăn thịt chúng, vậy ta quyết bắt nó.

Như thế ngài họp bầy chim vây quanh con Quạ và bảo:

- Nếu nó bay đi trốn, ta phải bắt lấy

nó.

Rồi ngài ngâm các vần kệ tiếp theo:

Các con không biết tính chim này

Khi tán các con, ngu dại thay!

"Ðức hạnh" nó rao, " đức hạnh" m ãi,

Rồi ăn cả trứng lẫn con bầy!

Những điều nó giảng, giọng thanh thanh,

Song bọn chúng không thể thực h ành,

"Ðức hạnh" nó ồn ào trống rỗng,

Chánh chân của nó chẳng chân thành.

Giả dối trong tâm, lưỡi phỉnh phờ,

Nó là rắn hổ lén bò vô:

Nó nhờ áo khoác ngoài lừa gạt

Dân chúng, vì chúng quá dại khờ.

Lấy mỏ, cánh lôi nó đánh ngay,

Xé tan nó với móng chim n ày!

Ðời tàn cho đáng, t ên hèn hạ

Phản bội niềm tin chính nghĩa đây.

Cùng với những lời này, chính Chim chúa vụt bay lên lấy mỏ

đánh v ào

đầu Quạ v à cả

đ àn chim cũng lấy mỏ và chân

đánh Quạ cho đến chết.

*

Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:

- Thời ấy con Quạ là Tỷ-kheo lừa dối này, và Chim chúa chính là Ta.

-ooOoo-

385. Chuyện Lộc Vương Hoan Hỷ (Tiền thân Nandiyamiga)

Bà-la-môn, ngài có vào ngự uyển...,

Bậc Ðạo Sư kể chuyện này tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo phụng dưỡng mẹ

mình.

Ngài hỏi vị Tỷ-kheo:

- Có thật là ông phụng dưỡng người thế tục?

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn

- Họ là ai?

- Bạch Thế Tôn, đó l à cha mẹ con.

- Tốt lành thay, tốt lành thay, này Tỷ-kheo, ông duy trì Giới luật

của các trí nhân ngày xưa, vì các vị ấy ngay khi sinh làm súc vật cũng

hy sinh tính mạng vì cha mẹ.

Và Ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa, lúc vua nước Kosala ngự trị dân chúng tại Saketa (tức là

Oudh), Bồ-tát được sinh l àm con nai.

Khi lớn lên, ngài có tên là Nandiyamiga (Hỷ Lộc) với tính tình và

đức hạnh ưu thắng, ng ài phụng dưỡng

song thân mình.

Vua Kosala có ý thích s ăn bắn, hằng ng ày

đi v ào rừng cùng một

đo àn tùy tùng

đông đảo, v ì thế dân chúng không thể

làm nghề canh tác và nghề thương mãi của họ

được. Họ tụ tập nhau b àn luận:

- Này các ông, đức vua của chúng ta đang

hủy hoại nghề nghiệp của chúng ta, đời sống gia đ ình ta

đang t àn tạ, nên ch ăng

l à chúng ta phải rào lâm viên Anjanavana lại, làm một cổng lớn,

đ ào một hồ nước và gieo cỏ mọc lên,

rồi vào rừng cầm gậy trong tay, đập v ào

các bụi rậm, như thế đuổi được bầy nai ra v à

đưa chúng đi v ào lâm viên ở như bầy

bò trong chuồng? Sau đó chúng ta đóng cổng

lại, tr ình đức vua việc ấy v à

đi l àm công việc của chúng ta?

- Ðó là cách ta phải làm. Họ bảo nhau.

Và họ đồng ý chuẩn bị lâm vi ên

sẵn sàng, rồi vào rừng rào một khoảng rộng, mỗi bề một dặm. Lúc ấy

Nandiya đ ã

đem cha mẹ v ào một bụi cây nhỏ và

nằm xuống đất. Dân chúng cầm khi êng

mộc, vũ khí bao vây bụi rậm kề sát nhau, một vài người bước vào tìm. Nai

Nandiya thấy họ liền nghĩ: "Thật tốt là ta sẽ hy sinh tính mạng mình hôm

nay để cứu cha mẹ". Như thế, nai đứng dậy

ch ào cha mẹ và nói:

- Thưa cha mẹ, đám người n ày sẽ

trông thấy cả ba chúng ta nếu họ vào trong bụi, cha mẹ chỉ có thể sống

sót được bằng một cách duy nhất, v à

mạng sống cha mẹ là tối thượng: con sẽ hy sinh tính mạng của con vì cha

mẹ, bằng cách đứng b ên bờ bụi cây và

chạy ra ngay khi họ đập v ào bụi, sau

đó họ sẽ nghĩ rằng chỉ có một con nai nhỏ

trong bụi nhỏ n ày thôi, và sẽ không bước vào trong. Vậy cha mẹ

hãy cố hết sức thận trọng.

Thế là nai xin được phép đứng l ên

sẵn sàng chạy ra.

Ngay khi bụi cây bị đám người đứng b ên

ngoài bờ đập mạnh v à la hét, nai vụt

chạy ra nên họ nghĩ rằng chỉ có một con nai trong ấy và không bước vào

trong. Nandiya cùng đi với đám nai kia,

được đám người ấy xua v ào trong lâm viên, rồi họ

đóng cổng lại v à trình lên

đức vua xong xuôi, họ trở về nh à.

Từ đấy, bao giờ vua cũng tự m ình

đi bắn nai, rồi hoặc vua mang nai về, hoặc

truyền người đi t ìm nó mang về.

Bầy nai chuẩn bị chờ đến phi ên

mình, con nào đến phi ên phải

đứng sang một b ên, rồi họ mang nó

đi khi nó đ ã bị bắn chết. Nandiya cứ

uống nước trong hồ và ăn cỏ, nhưng chưa đến

phi ên mình. Nhiều ngày sau cha mẹ ngài mong muốn gặp con. Liền

nghĩ: "Con ta Nandiya là Lộc vương, mạnh khỏe như voi và hoàn toàn tráng

kiện. Nếu còn sống chắc chắn nó sẽ nhảy rào về th ăm

chúng ta rồi". V ì thế hai vị đứng b ên

vệ đường, vừa thấy một B à-la-môn,

liền hỏi bằng giọng người:

- Thưa Tôn giả, ngài đi đâu thế?

- Ði Sàketa. Vị ấy đáp.

Nghe vậy, hai vị muốn nhắn đôi lời cho

con b èn ngâm vần kệ đầu:

Bà-la-môn, ngài có vào ngự uyển,

Khi ngài đi qua xứ Oudh, kinh đô,

Xin t ìm Nan-di yêu dấu của ta

Và nhắn gửi một đôi lời chân thật:

Qua tháng năm cha mẹ gi à kiệt lực,

Lòng khát khao mong mỏi đợi con về.

Vị Bà-la-môn bảo:

- Ðược lắm.

Và ông nhận lời.

Ngày hôm sau ông đi đến S àketa,

vào vườn ngự uyển và hỏi lớn:

- Nai nào là Nandiya?

Nai chúa đến gần ông v à bảo:

- Ta đây.

Vị Bà-la-môn nói lại lời nhắn kia, Nandiya nghe vậy

đáp.:

- Này Bà-la-môn, ta có thể ra đi. Chắc

chắn ta có thể nhảy r ào trốn đi.

Song ta đ ã thọ hưởng thức ăn nước

uống đầy đủ của đức vua v à việc ấy

đối với ta như một món nợ. Ngo ài ra, ta

đ ã sống lâu nay với bầy nai này,

thật không hợp lý nếu ta ra đi m à

không làm ích lợi cho đức vua v à bầy

nai nữa, hoặc không chứng tỏ sức mạnh của ta. Vậy khi nào

đến phi ên ta, ta sẽ làm lợi ích cho

cả người lẫn vật rồi an vui trở về.

Ðể giải thích điều n ày, ngài ngâm

hai vần kệ:

Ta đội ơn vua, ăn uống tr àn

trề,

Chưa đi được, chờ khi l àm ích lợi.

Trước cung vua, ta sẽ giơ sườn đợi,

Rồi về thăm cha mẹ để thanh minh.

Vị Bà-la-môn nghe lời này liền bỏ đi.

Sau đó, v ào ngày

đến lượt nai chúa, vua c ùng

đo àn tùy tùng

đông đảo v ào vườn ngự uyển. Bồ-tát

đứng sang một b ên. Vua bảo:

- Ta sẽ bắn nai này.

Và vua lắp một mũi tên nhọn vào dây cung. Bồ-tát chẳng bỏ chạy như

các con nai khác khi sợ chết, mà lòng đầy

can đảm v à lấy từ ái làm kim chỉ nam. Ngài

đứng y ên phô bày bộ xương sườn thật

cường tráng.

Do động lực của từ tâm ấy, vua không thể

thả mũi t ên ra. Bồ-tát bảo:

- Tâu Ðại vương, tại sao Ðại vương không bắn? Xin hãy bắn

đi.

- Này Lộc vương, trẫm không thể bắn

được.

- Tâu Ðại vương, thế thì xin hãy xem các công

đức của người giữ giới hạnh.

Sau đó vua hoan hỷ với lời của Bồ-tát,

liền thả cung xuống v à bảo:

- Khúc gỗ vô tri giác này không biết đức

độ của Nai chúa, chứ trẫm l à người có tri giác lẽ nào không hiểu?

Hãy tha thứ cho trẫm, nay trẫm cho Nai chúa

được b ình an.

- Tâu Ðại vương, ngài cho ta được b ình

an, song còn cả đ àn nai trong ngự

viên này thì sao?

- Trẫm cũug sẽ cho chúng bình an nữa.

Như vậy sau khi tạo được b ình an

cho tất cả bầy nai trong lâm viên, chim muông trên trời và bầy cá dưới

nước, theo cách được mi êu tả trong

Tiền thân Nigrodhamiga (số 12), Bồ-tát làm vua an trú vào Ngũ giới và

bảo:

- Tâu Ðại vương, tốt lành thay cho một

đức vua cai trị quốc độ bằng cách từ bỏ mọi ác đạo, không xâm phạm Thập

vương pháp (Mười đức tính của vị vua) v à hành

động chân chánh:

Bố thí, nhân từ, đức hạnh, công b ình,

Thân ái, nhu mì, ôn hòa, nhẫn nhục,

Ăn năn, bi mẫn, l à mười giới

đức

Ta thấy luôn vững chắc ở trong tâm.

Từ đó khởi sinh cả một từ ân

Thật ho àn thiện và nội thân an lạc.

Cùng với những lời này, ngài nêu rõ mọi

đức tính của một vị vua hiền qua h ình thức một lời kệ.

Sau vài ngày ở lại cùng nhà vua, ngài ra lệnh truyền một chiếc trống

bằng vàng đi khắp kinh th ành, công

bố lời hứa bình an cho mọi loài. Sau đó ng ài

bảo:

- Xin Ðại vương hãy cẩn trọng hộ phòng.

Rồi ngài ra về th ăm cha mẹ.

*

Xưa ta chính Lộc vương trong xứ Oudh,

Tánh và danh là Hoan hỷ, Nan-di

Muốn giết ta trong ngự uyển, ngày kia

Ðức vua đến, t ên nằm trên dây sẵn.

Ta phơi sườn trước tên vua đ òi

bắn,

Rồi về th ăm cha mẹ để thanh minh.

Ðây là những vần kệ phát sinh từ Trí tuệ Tối thắng (của

đức Phật).

*

Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Vào lúc các Sự Thật kết thúc, vị Tỷ-kheo

được an trú v ào Sơ quả (Dự lưu). Rồi

Ngài nhận diện Tiền thân:

- Thời ấy, song thân là phụ vương và mẫu hậu trong hoàng gia, vị

Bà-la-môn là Sàriputta, vua là Ànanda và ta chính là Lộc vương.

-ooOoo-

386.Chuyện Con Lừa (Tiền thân Kharaputta)

Bậc trí bảo Dê quả thật ngu...,

Bậc Ðạo Sư kể chuyện này tại Kỳ Viên về sự cám dỗ của người vợ cũ

đối với một Tỷ-kheo.

Khi Tỷ-kheo ấy thú nhận rằng mình đang

mơ tưởng đời thế tục, bậc Ðạo Sư bảo:

- Này Tỷ-kheo, nữ nhân này đang l àm

hại ông, ngày xưa ông cũng đ ã nhảy

vào lửa vì kẻ ấy, và đ ã

được các trí nhân cứu mạng.

Rồi Ngài kể câu chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa, khi vị vua mệnh danh Senaka trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát là

Sakka Thiên chủ, vua Sekana kết thân với một vua loài Nàga (Rắn thần).

Tương truyền vị vua rắn Nàga này thường rời thế giới Nàga

đi quanh quẩn tr ên cõi

đất kiếm mồi. Bọn trai l àng thấy vậy

bảo nhau:

- Ðây là con rắn.

Rồi chúng lấy đất đá đập rắn. Nhân lúc

vua đang du ngoạn trong ngự vi ên thấy chúng và nghe chúng

đang đánh một con rắn, liền bảo:

- Ðừng cho chúng đánh rắn, đuổi chúng

đi.

Và lệnh này được thi h ành ngay.

Do đó vua N àga

được cứu mạng, khi trở về thế giới N àga,

vị ấy lấy nhiều châu báu, rồi nửa đ êm

đi đến cung thất vua dâng các tặng vật v à

thưa:

- Tiểu thần được ng ài cứu mạng.

Từ đó vị ấy kết giao với vua n ên

cứ lui tới yết kiến ngài.

Vua rắn Nàga truyền lệnh cho một cung nữ Nàga, vốn tham

đắm dục lạc vô độ, đến hầu cận vua v à

bảo vệ ngài. Vua rắn còn cho ngài một câu chú thần và bảo:

- Hễ khi nào ngài không thấy nàng ấy, xin cứ

đọc chú thần n ày.

Một hôm vua vào ngự viên cùng với cung nữ Nàga và vui

đ ùa trên hồ sen.

Cung nữ Nàga nhìn thấy một con rắn nước, liền bỏ lốt người và tình tự

với rắn nước. Vua không thấy cô gái, liền hỏi:

- Nàng đi đâu rồi?

Và vua đọc thần chú. Ngay lúc đó vua

thấy t à hạnh của nàng nên lấy gậy tre

đánh n àng. Nàng tức giận bỏ về thế

giới Nàga và khi được hỏi:

- Tại sao nàng trở về?

- Thân hữu của ngài đánh thiếp tr ên

lưng vì thiếp không tuân lệnh.

Nàng đáp v à chỉ vết thương.

Vua Nàga không biết sự thật, liền gọi bốn thanh niên Nàga ra lệnh cho

họ vào vương thất vua Senaka và dùng hơi

độc thoát ra từ lỗ mũi để giết vua tan như trấu. Họ v ào cung thất

đúng giờ đi ngủ. Khi họ vừa đến, vua nói

với ho àng hậu:

- Này ái hậu, nàng có thấy cô gái Nàga

đâu không?

- Tâu Ðại vương, thiếp không thấy.

- Hôm nay lúc chúng ta đang tắm trong

hồ, n àng Nàga ấy bỏ lốt người và ân ái với một con rắn nước. Ta

bảo đừng l àm vậy, rồi

đánh cho nó một gậy tre để trừng trị nó,

nay ta sợ nó đ ã có thể trở về cõi rắn Nàga và nói dối trá với

thân hữu ta, tiêu hủy luôn thiện chí của vị ấy

đối với ta.

Các thanh niên Nàga nghe vậy liền quay về cõi rắn Nàga lập tức và tâu

trình vua rắn. Vị ấy xúc động liền đến ngay

vương thất kể lại mọi chuyện v à được

vua tha thứ. Sau đó vị ấy nói:

- Xin cho tôi chuộc lỗi và đền b ù

bằng cách này.

Rồi trao cho vua một thần chú biết được

mọi thứ âm thanh:

- Tâu Ðại vương, đây l à một thần

chú vô giá, nếu ngài cho ai thần chú này, lập tức ngài sẽ nhảy vào lửa

mà chết.

- Quý báu thay. Vua đáp v à nhận

thần chú.

Từ đó vua hiểu được mọi tiếng nói, thậm

chí cả tiếng lo ài kiến. Một hôm ngài ngự trên bảo tọa

ăn các thứ bánh cứng với mật ong v à

mật mía. Rồi một giọt mật ong, một giọt mật mía và một miếng bánh rơi

xuống đất. Một con kiến thấy vậy liền k êu

lên:

- Bình mật ong của vua bị vỡ trên bảo tọa rồi, xe mật mía và xe bánh

đổ rồi. Mau mau đến ăn mật ong, mật mía v à

bánh ngọt, các cậu ơi.

Vua nghe tiếng kêu ấy bật cười lớn. Hoàng hậu ngồi gần nghĩ thầm

"Chúa thượng thấy gì khiến ngài cười to vậy?"

Khi vua đ ã

ăn phần thực phẩm cứng ấy, đ ã tắm

mát xong, lại ngồi xếp bằng, một con ruồi bảo vợ nó:

- Này nàng ơi, chúng ta hãy ân ái cùng nhau.

- Này phu quân, xin hãy thứ lỗi cho thiếp, một lát nữa, nô tỳ

đang đem hương liệu đến dâng đức vua, trong

khi ng ài xoa thân thể, một vài bụi phấn sẽ rơi xuống chân, thiếp

sẽ đậu ở đó cho thơm tho rồi chúng ta sẽ ân

ái c ùng nhau trên lưng ngài. Vợ nó

đáp.

Vua nghe tiếng ruồi liền bật cười lần nữa. Hoàng hậu lại nghĩ: "Ngài

đ ã trông thấy gì khiến ngài cười lớn

vậy?".

Lần khác, khi vua đang d ùng bữa

tối, một cục cơm rớt xuống đất, bầy kiến k êu

to:

- Một xe cơm đ ã

đổ trong cung vua, thế m à chẳng có

ai ăn hết.

Vua nghe vậy lại cười lớn, hoàng hậu cầm chiếc muỗng vàng dâng thức

ăn cho vua, suy nghĩ: "Có phải v ì

thấy ta mà Chúa thượng cười ta ch ăng?". B à

về hậu cung với nhà vua và đến giờ ngủ, b à

hỏi:

- Tâu Ðại vương, tại sao Ðại vương cười lớn ban nãy?

- Nàng có liên hệ gì đến việc ta cười ư?

Song cứ nghe hỏi đi hỏi lại m ãi,

vua đ ành kể chuyện cho bà. Sau

đó b à bảo:

- Cho thiếp thần chú hiểu biết âm thanh

đó đi.

- Không thể được. Ng ài

đáp.

Song dù bị từ chối nhiều lần, bà vẫn thúc giục vua. Vua

đáp:

- Nếu ta cho nàng thần chú này, ta sẽ chết mất.

- Dù Ðại vương có từ trần đi nữa, cũng

cứ cho thiếp thần chú ấy đi m à.

Vua bị mãnh lực nữ nhân thôi thúc, đ ành

chấp nhận bảo:

- Thôi được.

Rồi vua ngự lên vương xa, đi v ào

ngự viên và nói:

- Ta sẽ nhảy vào lửa sau khi cho thần chú này.

Ngay lúc ấy, Sakka Thiên chủ nhìn xuống cõi

đất v à thấy việc này, ngài bảo:

- Hôn quân si ám này biết mình sắp nhảy vào lửa do áp lực nữ nhân,

hiện đang ra đi, vậy ta h ãy cứu mạng

vua ấy.

Vì thế ngài đem theo Suj à, ái nữ

của vua loài Asura (A-tu-la) cùng xuống thành Ba-la-nại. Ngài biến thành

Dê đực, c òn Sujà biến thành Dê cái,

rồi quyết định tránh cho dân chúng khỏi

thấy hai vị, ng ài đứng ngay trước

vương xa. Vua v à các con Lừa Sindh trông thấy ngài, ngoài ra

không ai thấy được. Ðể khởi

đầu câu chuyện, ng ài làm như thể

ngài đang t ình tự với con Dê cái.

Một con Lừa Sindh kéo xe bảo:

- Này bạn Dê, trước kia chúng ta từng nghe chứ chưa từng thấy, rằng

loài dê thật ngu xuẩn và vô liêm sỉ. Còn nay bạn

đang l àm việc ấy ngay trước mắt

chúng ta nhìn, cái việc phải làm nơi kín

đáo, ri êng tư và không phải xấu hổ vì nó. Những gì chúng ta

đ ã nghe trước kia thật phù hợp với

điều chúng ta đang thấy.

Và vì thế, Lừa liền ngâm vần kệ đầu:

Bậc trí bảo dê quả thật ngu,

Những lời chân thật tự bao giờ,

Dê này không biết mình phô diễn

Những việc phải làm kín đáo ư?

Dê nghe vậy, đáp lại hai vần kệ:

Này ông Lừa hỡi, nghĩ xem nào,

Rồi thấy là ông ngốc biết bao,

Ông bị buộc dây thừng trói chặt,

Hàm ông tréo, mắt chẳng nhìn cao.

Khi được thả ra chẳng chạy ngay,

V ì ông quen thói thật ngu thay,

Vua Se-nak ấy ông chuyên chở

Còn thật ngu hơn cả chú mày!

Vua nghe hiểu câu chuyện giữa hai con vật, liền bảo xe chạy thật

nhanh. Con Lừa nghe Dê nói chuyện liền ngâm vần kệ thứ tư:

Vậy này Dê chúa, dám thưa ngài,

Tôi đại ngu, ng ài hiểu quá rồi,

Còn chuyện vua Se-nak xuẩn ngốc,

Làm ơn giải thích rõ cho tôi.

Dê ngâm vần kệ thứ n ăm giải thích việc n ày:

Vua có một kho báu hiển linh,

Lại vì hoàng hậu ném cho nhanh,

Không khuyên hoàng hậu trung thành được,

Ðành phải hy sinh tính mạng mình.

Vua nghe lời ấy, liền bảo:

- Này Dê chúa, chắc chắn ngài sẽ làm ích lợi cho ta, vậy hãy cho ta

biết phải làm gì bây giờ?

Dê đáp:

- Tâu Ðại vương, đối với mọi lo ài

hữu tình, không ai thân thiết hơn bản thân mình. Hủy hoại mình và hy

sinh danh dự mình đ ã tạo

được v ì một vật thân thiết nào

đó điều không ích lợi g ì cả.

Rồi Dê lại ngâm vần kệ thứ sáu:

Như ngài ở địa vị vương quân

Có thể mang nhiều nỗi ước mong,

Song phải bỏ ngay niềm ước vọng,

Nếu thân ng ài phải chịu thương vong.

Ðời người quả thật là quan trọng

Còn kiếm gì cao hơn bản thân?

Nếu tính mạng duy trì trọn vẹn,

Thì không cần ước vọng cầu mong!

Bồ-tát khuyến giáo vua như vậy. Vua hoan hỷ, hỏi:

- Này Dê chúa, ngài từ đâu đến đây?

- Thưa Ðại vương, ta là Sakka Thiên chủ,

đến cứu ng ài khỏi chết vì thương tưởng ngài

đó.

- Tâu Thiên chủ, trẫm đ ã hứa cho

hoàng hậu thần chú. Vậy nay trẫm phải làm gì?

- Không cần phải làm gì tổn hại đến hai

vị. Chỉ cần ng ài bảo: "Ðây là cách

được thần chú", rồi sai người đánh b à ấy vài roi, nhờ cách này,

bà ấy sẽ không đ òi nó nữa.

- Tốt lắm! Vua bảo và đồng ý ngay.

Sau khi khuyến cáo vua xong, Bồ-tát trở về cõi trời. Còn vua vào ngự

viên, triệu hoàng hậu đến chầu v à

bảo:

- Này Hoàng hậu, nàng muốn có thần chú ch ăng?

- Tâu Chúa thượng, vâng.

- Vậy thì hãy theo thông lệ này.

- Thông lệ nào thế?

- Một tr ăm roi tr ên lưng nhưng

không được k êu la.

Bà hoàng đồng ý v ì quá ham mê

thần chú. Vua bảo các nữ tỳ lấy roi đánh

hai b ên hông bà. Bà chỉ chịu được

hai ba roi rồi k êu lớn:

- Thiếp không muốn thần chú nữa!

- Nàng đ ã có thể giết ta chỉ vì

muốn có thần chú ấy. Vua bảo.

Rồi vua tự tay đánh trầy da lưng ho àng

hậu và đuổi đi. Từ đó về sau b à

chẳng dám nói đến chuyện ấy nữa.

*

Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Vào lúc các Sự Thật kết thúc, vị Tỷ-kheo

được an trú v ào Sơ quả (Dự lưu). Rồi

Ngài nhận diện Tiền thân:

- Thời ấy, vua là vị Tỷ-kheo bất mãn, hoàng hậu là vợ cũ vị ấy, con

lừa là Sàriputta và Sakka Thiên chủ chính là Ta.

-ooOoo-

Đầu

trang | Mục

lục | 01 | 02 | 03

| 04 | 05 | 06

| 07 | 08 | 09

| 10 | 11 | 12

| 13 | 14