Chuyện Tiền Thân · Jātaka

372. Chuyện Chú Nai Con (Tiền thân Migapotaka)

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Chuyện Tiền Thân

Kinh Trung Bộ · Bài 39

Chuyện Chú Nai Con (Tiền thân Migapotaka)#

Jātaka group 39

Chương

VI

Phẩm Sáu Bài Kệ

372. Chuyện Chú Nai Con (Tiền thân Migapotaka)

Sầu thương vật đ ã chết rồi.....,

Chuyện này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Jetavana (Kỳ Viên) về một

Trưởng lão nọ.

Chuyện kể rằng ông nhận một cậu thanh niên xuất gia vào Hội chúng, và

Sa-di này sau một thời gian phục vụ thầy rất nhiệt tình, dần dần lâm

bệnh và từ trần. Vị Trưởng lão tràn ngập ưu phiền vì cái chết của nam tử

kia nên cứ đi quanh quẩn than khóc k êu

gào. T ăng chúng không thể n ào an ủi

ông cho khuây khỏa được, liền đưa vấn đề ra

thảo luận tại Chánh pháp Ðường:

- Vị Trưởng lão kia có một Sa-di từ trần, cứ quanh quẩn than khóc

mãi. Do triền miên suy tư mãi về cái chết, chắc chắn vị ấy sẽ trở thành

kẻ bơ vơ lạc lỏng.

Khi bậc Ðạo Sư bước vào, Ngài hỏi T ăng

chúng hội họp để b àn luận đề t ài

gì, và khi biết được câu chuyện, Ng ài

bảo:

- Không phải chỉ bây giờ, mà cả ngày xưa, Trưởng lão ấy cũng

đi quanh quẩn than khóc khi thanh ni ên

này từ trần.

Nói xong Ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta (Phạm Thọ) trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát

được sinh l àm Sakka Thiên chủ (Ðế

Thích). Thời ấy có một người sống trong quốc

độ K àsi,

đi đến miền Him àlaya (Tuyết Sơn) và

sống đời khổ hạnh với các loại quả rừng.

Một hôm vị ấy thấy một chú nai con mất mẹ. Vị ấy

đem nó về thảo am, cho nó ăn v à yêu

quý nâng niu nó. Chú nai con lớn dần thành một con vật xinh

đẹp thanh tao, v à ẩn sĩ ch ăm

sóc nó, đối đ ãi với nó như con đẻ m ình

vậy.

Một ngày kia, con nai chết thình lình vi bội thực, không tiêu hóa hết

số cỏ quá nhiều. Vị khổ hạnh cứ lang thang gào khóc:

- Con ta chết rồi!

Lúc ấy Sakka Thiên chủ xem xét trần gian, nhìn thấy vị ấy, ngài nghĩ

cách khuyến giáo ông, liền hiện xuống đứng

giữa không trung v à ngâm vần kệ đầu:

Sầu thương vật đ ã chết rồi,

Hỡi người khổ hạnh sống đời độc cư.

Thoát dây tục lụy xuất gia,

Giờ đây phát bệnh tâm tư buồn phiền!

Vị khổ hạnh vừa nghe vậy liền ngâm vần kệ thứ hai:

Nếu người bầu bạn thú hiền,

Tâu ngài Ðế Thích ở trên cõi trời,

Buồn phiền vì mất bạn chơi,

Tuôn dòng nước mắt sẽ vơi nỗi sầu.

Thiên chủ Sakka lại ngâm hai vần kệ nữa:

Người đời lắm kẻ ước ao

Mỗi khi vật mất, k êu gào tiếc thương.

Thôi đừng khóc nữa, trí nhân,

Thánh hiền vẫn bảo ho ài công thôi mà.

Nếu nhờ nước mắt tuôn ra

Chúng ta có thể vượt qua tử thần,

Thì ta quyết phải hợp quần

Ðể mà cứu mọi vật thân nhất trần.

Trong lúc Thiên chủ Sakka nói vậy, vị khổ hạnh nhận ra rằng khóc than

cũng chẳng ích gì, liền ca ngợi tán thán Thiên chủ và ngâm ba vần kệ

nữa:

Ví như ngọn lửa nóng hừng

Ðổ thêm bơ sữa cháy bừng thật cao,

Ðược vòi nước lạnh tưới vào,

Ngài vừa dập tắt nỗi sầu của ta.

Lòng ta nhức nhối xót xa

Vì tên sầu não xuyên qua kinh hoàng.

Ngài đ ã chữa trị vết thương,

Và ngài hồi phục đời thường cho ta.

Mũi t ên vừa được nhổ ra,

L òng ta tràn ngập an hòa vui tươi,

Lắng nghe Ðế Thích nhủ lời,

Ta không còn phải chơi vơi khổ sầu.

Sau khi đ ã khuyến giáo vị khổ

hạnh như thế, Sakka Thiên chủ trở về cõi của ngài.

*

Ðến đây bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp

thoại và nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy, vị Trưởng lão là nhà khổ hạnh, Sa-di là con nai, và Ta

chính là Sakka Thiên chủ.

-ooOoo-

373. Chuyện Con Chuột (Tiền thân Mùsika)

Bọn chúng hỏi to: "Nó ở đâu?"....,

Câu chuyện này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Trúc Lâm về vua

Ajàtasattu (A-xà-thế).

Sự kiện đưa đến chuyện n ày

đ ã được

kể đầy đủ trong Tiền thân Thusa, số 338 .

Ở đây bậc Ðạo Sư cũng quan sát

nhà vua lúc ấy vừa chơi đ ùa với

vương tử, vừa nghe Pháp. Như Ngài đ ã

biết hiểm họa sẽ xảy đến cho vua v ì

vương tử này, Ngài nói:

- Thưa Ðại vương, vua chúa thời xưa đ ã

nghi ngờ những gì đáng nghi ngờ, n ên

đ ã giam giữ các vương tử lại một nơi

và bảo: "Hãy để cho các ho àng nhi

cai trị sau khi thân xác chúng ta đ ã

được hỏa táng".

Cùng với lời trên, Ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vị ở Ba-la-nại, Bồ-tát

được sinh v ào một gia

đ ình Bà-la-môn và trở thành một giáo

sư danh tiếng thế giới. Con vua Ba-la-nại tên là vương tử Yava (Lúa

mạch). Sau khi đ ã chuyên tâm học tập

đủ mọi ng ành học thuật với ngài,

chàng liền nóng lòng ra đi, v à

đến từ gi ã ngài. Vị giáo sư nhờ tài

tiên tri biết trước rằng hiểm họa sẽ xảy ra cho vương tử do chính con

trai vị ấy gây ra, liền suy xét cách thức làm thế nào diệt trừ mối hiểm

họa này cho vương tử, và bắt đầu nh ìn

quanh để t ìm một ví dụ chứng minh

cho thích hợp.

Lúc bấy giờ ngài có một con ngựa, trên chân ngựa xuất hiện một vết

thương đau nhức. Con ngựa được giữ trong

chuồng để ng ài ch ăm sóc vết thương

cẩn thận. Gần đó có một cái giếng. Thời ấy, một con chuột vẫn thường bạo

gan b ò ra khỏi lỗ để gặm chỗ vết

thương ở chân ngựa. Con ngựa không thể cản nó được v à một hôm,

không chịu nổi đau đớn, khi con chuột đến

cắn nó, nó liền lấy móng chân đập chết con chuột v à hất xác xuống

giếng. Bọn ch ăn ngựa không thấy con chuột

liền nói:

- Mọi ngày con chuột vẫn đến cắn vết

thương, nhưng bây giờ không c òn thấy nó nữa. Nó có chuyện gì vậy?

Bồ-tát đ ã chứng kiến mọi việc và

tự nhủ: "Người khác không biết nên hỏi: Con chuột

đâu rồi? Nhưng chỉ ri êng mình ta

biết con chuột đ ã bị ngựa giết và

hất xuống giếng", và lấy ngay sự việc này làm ví dụ chứng minh. Ngài

sáng tác vần kệ đầu rồi nói cho vương tử

biết.

Trong khi nhìn quanh để t ìm một

ví dụ chứng minh khác, ngài lại thấy cũng con ngựa ấy, khi vết thương

đ ã lành, liền chạy ra thẳng

đến đồng lúa mạch để ăn lúa, rồi thọc đầu v ào

một lỗ trên hàng rào. Ngài lấy v dụ này làm vần kệ thứ hai và

đưa cho vương tử.

Sang vần kệ thứ ba, ngài sáng tác theo trí thông minh của riêng mình

và cũng đưa cho vương tử. Rồi ng ài

bảo:

- Này Hiền hữu, khi bạn đ ã an vị

trong vương quốc rồi, buổi tối bạn đi đến

bồn tắm, vừa ra phía trước cầu thang vừa ngâm vần kệ đầu. Rồi khi bạn

bước v ào cung thất mình cư ngự, hãy

đi đến chân cầu thang v à ngâm vần kệ thứ hai. Rồi sau

đó, bạn đi l ên

đầu cầu thang v à ngâm vần kệ thứ ba.

Cùng với các lời này, ngài bảo chàng ra

đi.

Vương tử trẻ tuổi ấy về kinh đô l àm

phó vương, và khi vua cha b ăng h à,

vị phó vương lên kế ngôi. Tân vương này chỉ có một con trai hoàng nam

duy nhất, đến năm mười sáu tuổi ch àng

đ ã nôn nóng muốn lên làm vua. Khi

đ ã có ý

định giết cha, vương tử báo với đám hầu cận:

- Phụ vương ta vẫn còn trẻ. Ðến khi ta nhìn thấy giàn hỏa táng của

ngài thì ta đ ã là già cả kiệt lực

rồi. Lúc ấy mới lên ngôi thì có ích lợi gì cho ta nữa chứ.

Bọn chúng thưa:

- Tâu Ðiện hạ, ngài không thể nào tính chuyện ra biên

địa l àm một loạn thần

được. Vậy ng ài phải tìm cách này hay

cách khác sát hại phụ vương và chiếm lấy quốc

độ.

Vương tử chấp thuận ngay, vào buổi tối cầm kiếm

đứng trong cung thất vua cha gần bồn tắm,

sẵn s àng giết cha mình.

Tối hôm ấy, vua sai một nữ tỳ tên là Mùsika (chuột)

đến v à bảo:

- Ngươi hãy đi ch ùi bồn tắm, trẫm

sắp đến tắm đấy.

Nữ tỳ đến đó v à trong lúc chùi

bồn tắm, nàng bắt gặp vương tử. Sợ âm mưu có thể bại lộ, vương tử lấy

kiếm chặt nàng làm đôi v à ném vào

bồn tắm. Vua vừa đến nơi, mọi người bảo

nhau:

- Hôm nay nữ tỳ Mùsika không trở về. Nó

đ ã đi đâu rồi nhỉ?

Vua bước đến cạnh bồn tắm v à ngâm

vần kệ đầu:

Bọn chúng hỏi to: Nó ở đâu?

Chuột ơi, m ày đ ã trốn nơi

nào?

Việc này chỉ một mình ta biết

Nó đ ã chết nằm trong giếng sâu.

Vương tử nghĩ thầm: "Vua cha đ ã

phát giác những việc ta làm", và vì quá kinh hãi, chàng chạy trốn về kể

mọi việc cho đám hầu cận. Sau khoảng bảy

tám ng ày, bọn chúng lại thưa với chàng:

- Tâu Ðiện hạ, nếu Ðại vương biết thì ngài

đ ã không giữ yên lặng. Những

điều ng ài nói chỉ có thể là lời

phỏng đoán m à thôi. Xin cứ hành

thích ngài đi.

Vì thế một hôm vương tử lại đứng cầm

kiếm trong tay ở cầu thang. Khi vua đến, ch àng cố tìm cơ hội

đâm ng ài. Ngài vưa bước vừa ngâm vần

kệ thứ hai:

Giống như con vật đẩy xe đi,

Ngươi cứ xoay qua lại trở về,

Ngươi đ ã giết xong con Chuột ấy,

Nay thèm ăn Lúa mạch, ta nghi.

Vương tử nghĩ thầm: "Phụ vương đ ã

thấy ta" và kinh hoảng chạy trốn.

Nhưng sau nửa tháng, chàng lại nghĩ: "Ta quyết giết phụ vương bằng

một nhát xẻng". Thế là chàng lấy một dụng cụ giống như cái muỗng có cán

dài và cầm nó sẵn sàng, đứng đợi. Rồi vua l ên

đến đầu cầu thang v à ngâm vần kệ thứ

ba:

Ngươi là thằng nhãi quá ngu ngơ

Như món đồ chơi với trẻ thơ,

Cầm vật cán d ài hình chiếc muỗng,

Thằng kia, ta quyết giết bây giờ.

Hôm ấy, không thể nào trốn thoát được

nữa, vương tử b ò lết đến dưới chân

phụ vương v à thưa:

- Xin phụ vương tha mạng cho con.

Sau khi xem xét vương tử, vua truyền trói chàng lại bằng dây xích và

thả vào ngục tối. Rồi trong lúc ngự trên vương tòa nguy nga lộng lẫy có

che lọng trắng, ngài phán:

- Bậc thầy Bà-la-môn lừng danh của ta đ ã

tiên đoán mối hiểm họa n ày xảy ra

cho ta nên đ ã ban tặng ta ba vần kệ

này.

Lòng tràn đầy hân hoan, trong lúc cảm

hứng khởi l ên cao độ, ng ài

ngâm nga luôn các vần kệ còn lại:

Ta chưa giải thoát tự do

Bằng đường lạc thú an cư c õi trời.

Hoặc nhờ hiếu hạnh sáng ngời;

Ðến khi con trẻ toan đ òi mạng ta,

Cứu nguy nhờ mấy vần thơ,

Vậy cần học hỏi suy tư mọi điều,

Xét xem ý nghĩa cao si êu,

Dẫu chưa dùng, cũng lợi nhiều ngày sau

Những lời nghe được đ ã lâu.

Về sau, khi vua b ăng h à, vương tử

được đưa l ên ngôi báu.

*

Ðến đây, bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp

thoại và nhận diện Tiền thân:

- Thời bấy giờ, vị giáo sư lừng danh chính là Ta.

-ooOoo-

374. Chuyện Chàng Tiểu Xạ Thủ (Tiền thân Culladhanuggaha)

Bờ kia chàng đ ã bước lên....,

Chuyện này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên, về sự cám dỗ một

vị Tỷ-kheo do người vợ cũ của thời chưa xuất gia tu tập.

Khi vị Tỷ-kheo thú nhận chính vì người vợ này mà vị ấy

đ ã từ bỏ Hội chúng và hối tiếc việc

xuất gia, bậc Ðạo Sư bảo:

- Này Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ nữ nhân này mới làm hại ông.

Ngày xưa cũng vậy, chính vì người này mà ông

đ ã bị chặt

đầu.

Rồi theo lời thỉnh cầu của chư T ăng, Ng ài

kể chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa, khi vua Brahamadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát

được sinh l àm Sakka Thiên chủ. Thuở

ấy, một thanh niên Bà-la-môn ở Ba-la-nại đ ã

học xong mọi môn học thuật ở Ðại học Takkasilà, và sau khi thiện xảo môn

bắn cung, chàng nổi danh là Tiểu xạ thủ thông minh. Lúc ấy vị giáo sư

nghĩ thầm: "Thanh niên này đ ã

đạt kỹ năng bằng ta", rồi đem gả con gái

cho ch àng. Chàng cưới vợ xong, lại muốn trở về Ba-la-nại, liền

khởi hành.

Nửa đường có con voi t àn phá một

vùng nọ, nên không ai dám đi l ên chỗ

ấy. Chàng Tiểu xạ thủ thông minh kia cứ đem

vợ c ùng trèo lên đường v ào

rừng, mặc dù mọi người cố cản ng ăn. Khi ch àng

đến giữa rừng, con voi xuất hiện tấn công

ch àng. Xạ thủ bắn một mũi tên vào trán voi xuyên thủng ra phía

sau đầu nó, con voi ng ã xuống chết

ngay tại chỗ.

Sau khi làm cho nơi ấy bình an, chàng lại lên

đường qua cánh rừng khác. Tại đó năm mươi t ên

cướp đang phá hoại xa lộ. Cũng tr ên

nơi này, mặc dù nhiều người cố ng ăn cản, ch àng

cứ trèo lên cho đến khi t ìm thấy một

nơi bằng phẳng, bọn cướp đ ã giết nai

đem nướng v à

ăn thịt sát b ên xa lộ. Bọn cướp thấy

chàng đi đến với cô vợ phục sức sang trọng

rực rỡ, liền cố hết sức bắt lấy ch àng.

Tên tướng cướp có tài đoán được tính t ình

người khác, chỉ vừa liếc nhìn chàng, đ ã

nhận ra chàng là một anh hùng lỗi lạc, nên không chịu

để cho bọn chúng nổi dậy chống lại ch àng,

dù chàng chỉ đơn thân độc kiếm. C òn

chàng Xạ thủ thông minh bảo vợ đi đến bọn

cướp v à dặn:

- Nàng hãy đến bảo với bọn chúng cho ta

một miếng thịt v à đem về cho ta.

Thế là nàng đi đến v à bảo:

- Cho tôi một miếng thịt.

Tướng cướp nói:

- Ông ấy là người quý tộc đấy.

Và y bảo bọn cướp cho nàng một miếng thịt. Bọn kia

đáp:

- Sao? Nó lại đ òi

ăn thịt nướng của ta ư?

Rồi bọn chúng cho nàng một miếng thịt sống.

Chàng Xạ thủ vốn tự cao về mình, liền nổi giận vì bọn cướp cho chàng

thịt sống. Bọn chúng bảo:

- Sao nữa? Chỉ mình nó là nam nhi, còn chúng ta là nữ nhi ư?

Thế là vừa h ăm dọa ch àng, chúng

vừa vùng lên chống phá chàng. Chàng Xạ thủ bắn trọng thương ngã xuống

đất bốn mươi chín t ên cướp, trừ một

tên, vì chàng không còn mũi tên nào để bắn

tướng cướp kia. Trước đó trong bao t ên của chàng chỉ có n ăm

mươi mũi t ên. Chàng đ ã dùng

một mũi tên bắn chết con voi, nay chỉ còn số tên

đủ để bắn cả bọn trừ một người.

Vì thế chàng đá tướng cướp xuống đất

ngồi tr ên ngực y và bảo vợ mang kiếm

đến để chặt đầu y. Ngay lúc ấy, n àng bỗng

đem l òng say mê tướng cướp, liền

đặt chuôi kiếm v ào tay y và vỏ kiếm

vào tay chồng nàng. Tướng cướp chụp chuôi kiếm,

đưa kiếm ra v à chặt

đầu ch àng Xạ thủ.

Sau khi giết chồng nàng xong, tướng cướp chiếm lấy người vợ và trong

khi cả hai cùng lên đường, tướng cướp hỏi

nguồn gốc, n àng bảo:

- Em là con gái của một giáo sư danh tiếng lẫy lừng thế gian ở Ðại

học Takkasilà.

- Bằng cách nào hắn lấy nàng làm vợ

được? Y hỏi.

- Cha em rất hài lòng vì hắn đ ã

học được mọi nghệ thuật như bậc thầy n ên

đem em gả cho hắn. V à vì em yêu

chàng nên em để ch àng giết chồng hợp

pháp của mình. Nàng đáp lại.

Tướng cướp suy nghĩ: "Nữ nhân này giờ

đây đ ã giết chồng hợp pháp của nó. Vậy khi thấy một

đ àn ông khác, nó cũng sẽ

đối xử với ta như vậy. Ta phải từ bỏ nó mới

được".

Khi lên đường, tướng cướp thấy con đường

bị chận ngang bởi con suối nhỏ thường ng ày, nay lại ngập nước, y

bảo:

- Này ái nương, có con cá sấu hung dữ trong suối này. Ta phải làm sao

bây giờ?

- Tướng quân ôi - nàng đáp - xin lấy hết

nữ trang em đang đeo buộc th ành một bó trong áo chàng,

đem sang b ên kia bờ suối rồi trở lại

đây đưa em qua.

- Tốt lắm. Y đáp lại.

Rồi cầm hết nữ trang của nàng, lội xuống dòng suối như thể một kẻ hết

sức vội vàng, y đ ã lên bờ bên kia,

bỏ rơi nàng và chạy trốn.

Thấy vậy nàng kêu to:

- Lang quân ơi, chàng đi như thể ch àng

sắp bỏ em vậy. Sao chàng lại làm thế? Hãy trở lại

đem em c ùng

đi.

Và nàng ngâm vần kệ đầu bảo:

Bờ kia chàng đ ã bước lên

Với bao tài sản của em góp thành.

Mau mau quay trở lại nhanh

Mang em qua với bạn tình, chàng ơi!

Tướng cướp nghe nàng nói trong lúc y

đứng ở bờ b ên kia, liền ngâm vần kệ thứ hai:

Ý nàng dời đổi nhất thời

Từ l òng chung thủy luyện tôi bao lần

Ðến màn tình ái lông bông,

Chóng chầy nàng cũng thay lòng phản ta,

Nếu ta không kịp chạy xa

Từ đây n àng hỡi,

đôi ta chia l ìa.

Nhưng khi tướng cướp bảo:

- Ta quyết đi đây, n àng cứ ở lại

nơi này.

Thì nàng kêu gào than khóc, còn y chạy trốn với tài sản tư trang của

nàng. Ðó là số phận dành cho kẻ dại khờ tội nghiệp vì quá si mê tình ái.

Bỗng nhiên lâm cảnh bơ vơ khốn đốn như

thế, n àng đ ành

đến gần một bụi cây quế v à ngồi

khóc. Lúc ấy, Sakka Thiên chủ nhìn xuống trần gian, thấy nàng

đắm say dục vọng giờ đây than khóc v ì

mất cả phu quân lẫn tình lang. Nghĩ rằng ngài sẽ

đi khiển trách n àng và khiến cho

nàng biết hổ thẹn, ngài đem M àtali,

thần lái thiên xa, và Pancasikha, một nhạc thần, cùng

đến b ên bờ suối và bảo:

- Này, Màtali, thần sẽ biến thành con cá, Pancasikha sẽ biến thành

con chim và ta sẽ biến thành chó rừng (Sigala). Rồi ngậm một miếng thịt,

ta sẽ đi đến trước nữ nhân kia v à

khi thần Màtali thấy ta ở đó th ì

phải nhảy ra khỏi nước, rớt ngay trước mặt ta, ta sẽ nhả miếng thịt

đ ã ngậm trong miệng và nhảy lên chụp

con cá. Vừa lúc ấy, thần Pancasikha phải nhào

đến chụp miếng thịt v à bay lên

không, còn thần Màtali lặn ngay xuống nước.

Thiên chủ Sakka dạy bảo các vị thần như thế, vị

đáp:

- Tốt lành thay, tâu Thiên chủ.

Màtali liền biến thành con cá, Pancasikha biến thành con chim và

Sakka biến thành chó rừng. Vừa ngậm miếng thịt trong mồm, ngài

đi đến ngay trước nữ nhân. Con cá nhảy l ên

khỏi nước rơi mình xuống trước chó rừng. Chó thả miếng thịt

đang ngậm trong mồm, v ùng lên bắt

cá. Con cá nhảy nữa và rơi xuống nước, còn con chim chụp lấy miếng thịt

bay vụt lên không. Như vậy, chó rừng mất cả thịt lẫn cá và ngồi ủ rủ

nhìn về phía bụi quế. Nữ nhân thấy thế liền bảo:

- Vì quá tham lam nên chó mất cả thịt lẫn cá.

Và như thể nàng đ ã thấy rõ ý

nghĩa trò đời trớ tr êu này, nàng bật

cười dòn dã.

Chó rừng nghe thế, liền ngâm vần kệ thứ ba:

Ai làm bụi quế ngân nga

Tiếng cười, dù chẳng múa ca tiệc tùng,

Vỗ tay thích thú? Hồng nhan,

Ðừng cười, khi phải khóc than buồn phiền.

Nghe vậy, nàng ngâm vần kệ thứ tư:

Chó ngu, mày phải ước nguyền

Giá đừng mất cá, thịt liền một khi.

Ðồ ngu, phải biết sầu bi

Những gì xảy đến, ngu si do m ày!

Chó rừng liền đáp vần kệ thứ năm:

Lỗi người dễ thấy lắm thay,

Chắc là khó thấy: "Lỗi này của tôi".

Nàng nên tính giá thiệt thòi

Khi nàng mất hết cả đôi bạn đời.

Nghe thế, nàng lại đáp vần kệ n ày:

Cẩu vương, quá đúng như lời,

N ên ta quyết chí vội dời chân nhanh

Ðể tìm thêm bạn chung tình,

Cố làm người vợ trung thành khó chi!

Khi ấy Sakka Thiên chủ nghe những lời nói của nữ nhân bạc ác vô hạnh

kia, liền ngâm vần kệ cuối cùng:

Kẻ nào ăm trộm cái gh è

Sẽ còn ăn trộm mai kia nồi đồng,

Người gây tai họa cho chồng

Vẫn t àn tệ vậy, hoặc còn tệ hơn!

Lời Sakka Thiên chủ làm cho nàng phải hổ thẹn và hốn hận

ăn năn, rồi sau đó ng ài trở về cõi

của ngài.

*

Ðến đây bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp

thoại, rồi tuyên thuyết các Sự Thật. Vào lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo thối thất

đ ã đắc

Sơ quá Dự Lưu.

Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:

- Thời ấy, Tỷ-kheo thối thất này là chàng xạ thủ, người vợ mà vị ấy

đ ã rời bỏ là nữ nhân kia, và Ta chính

là Sakka Thiên chủ.

-ooOoo-

375. Chuyện Chim Bồ Câu (Tiền thân Kapota)

Ta đây mạnh khỏe, dạ an vui....,

Chuyện này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo

tham lam.

Chuyện vị Tỷ-kheo tham lam này đ ã

được kể đầy đủ theo nhiều cách. Ở đây bậc

Ðạo Sư hỏi có thật ông tham lam ch ăng,

v à khi ông thú nhận quá đúng thế, Ng ài

bảo:

- Này Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ mà ngày xưa nữa, ông cũng tham

lam và đ ã chết vì lòng tham ấy.

Nói xong Ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát

được sinh l àm Bồ câu con và sống

trong lồng kết bằng liễu gai ở nhà bếp của một phú thương thành

Ba-la-nại.

Bấy giờ một con Quạ thèm ăn cá thịt lại

l àm bạn với Bồ câu này, và sống cùng chỗ ấy. Một hôm nó chợt thấy

nhiều cá thịt liền nghĩ: "Ta sẽ ăn đám cá

thịt n ày". Rồi nằm xuống rên rỉ trong lồng. Khi Bồ cầu

đến bảo:

- Này bạn, ta cùng bay nhanh ra tìm mồi.

Quạ từ chối đáp:

- Tôi đang bị ốm liệt v ì cơn

đau bụng do bội thực, bạn đi đi.

Khi Bồ câu khuất dạng, Quạ tự nhủ: "Kẻ thù hay quấy phá ta

đ ã đi

rồi. Bây giờ ta muốn ăn thịt cá t ùy thích". Nghĩ vậy, Quạ ngâm

vần kệ đầu:

Ta đây khỏe mạnh, dạ an vui,

V ì chú Bồ câu đ ã biến rồi,

Ta muốn làm cơn thèm dịu xuống

Rau thơm cùng thịt khỏe thêm người!

Vì thế khi người đầu bếp chi ên cá

thịt xong, vừa bước ra khỏi bếp, vừa chùi mồ hồi chảy dòng dòng, con Quạ

nhảy ra khỏi tổ và dấu mình trong chậu gia vị. Chậu ấy phát ra tiếng

"cạch" khiến người đầu bếp vội quay lại,

tóm lấy con Quạ vặt hết lông. Rồi xay một ít gừng tươi v à hạt cải

trắng, chú giả chung với chà là thối, bôi lên khắp mình con Quạ, vừa xát

mạnh thân nó với một mảnh sành làm cho nó bị thương nặng. Sau

đó chú lấy sợi dây treo mảnh s ành

lên cổ nó rồi lại ném vào thúng và bỏ đi.

Khi Bồ câu trở về thấy Quạ, liền bảo:

- Ông Hạc nào đây lại nằm trong thúng

của bạn thân ta đó k ìa? Bạn ta tính tình nóng nảy sẽ về giết chim

lạ mặt này ngay.

Nói đ ùa thế xong, bồ câu ngâm vần

kệ thứ hai:

Con Mây này với chiếc mào cao,

Ngài chiếm chỗ chim bạn tớ sao?

Ông Hạc, đến đây, thân hữu Quạ

Tính t ình nóng nảy, biết không nào?

Quạ nghe vậy liền ngâm vần kệ thứ ba:

Bạn cứ cười to trước cảnh này,

Ta lâm hoạn nạn đáng thương thay!

Hỏa đầu quân vặt lông trần trụi,

Gia vị, ch à là thối tẩm đầy.

Bồ câu vẫn còn muốn đ ùa, liền

ngâm vần kệ thứ tư:

Tắm sạch, dầu thơm xát ngạt ngào,

No say ăn uống thỏa dường bao!

Cổ ông sáng chói đồ trang sức,

Ông đến Ba-la-nại đó sao?

Quạ ngâm tiếp vần kệ thứ n ăm:

Bạn thiết hay cừu địch của ta

Chớ đi Ba-la-nại bây giờ!

M ình trần chúng vặt, còn trêu ghẹo

Buộc mảnh sành trên ngực ấy mà!

Bồ câu nghe vậy, ngâm vần kệ cuối cùng:

Bỏ các thói hư tật xấu kia

Tính tình như Quạ khó làm ghê!

Chim nên thận trọng bay xa lánh

Thực phẩm loài người ăn thỏa thu ê.

Sau khi khiển trách Quạ xong, Bồ câu không ở lại

đó nữa m à giương

đôi cánh bay đi nơi khác. Nhưng Quạ chết

ngay tại chỗ.

*

Ðến đây bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp

thoại và tuyên thuyết các Sự Thật. Vào lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo tham lam

đ ã đắc

Nhị quả (Nhất Lai).

R ồi Ngài nhận diện Tiền thân:

- Thuở ấy, con Quạ l à Tỷ-kheo tham lam này và

Bồ câu chính là Ta vậy.

-ooOoo-

376. Chuyện Người Lái

Đ ò

(Tiền thân Avàriya)#

Ðừng bao giờ giận, hỡi Minh quân....,

Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một người lái

đ ò.

Người ta bảo kẻ này là phàm phu vô trí: y không biết

được các đức tính của Tam Bảo v à các

bậc hiền nhân. Y nóng vội, thô lỗ và hung bạo. Một Tỷ-kheo ở vùng quê nọ

muốn đi yết kiến đức Phật, v ào buổi

chiều đến bến đ ò trên sông Aciravatì

và bảo người lái đ ò:

- Này chú, tôi muốn qua sông, chú cho tôi lên

đ ò đi.

- Thưa Tôn giả, trời tối rồi, hãy ở lại

đây.

- Này chú, ta không thể ở lại đây, cho

ta qua sông.

Người lái đ ò bực tức nói:

- Vậy thì ngài Sa-môn hãy mau lên đi.

Rồi đưa vị Tỷ-kheo l ên

đ ò, nhưng y lái

đ ò thật vụng về khiến nước v ăng

v ào mạn đ ò làm ướt y của vị

Tỷ-kheo, và đến khi trời tối mới đưa được

ông qua bờ kia.

Khi vị Tỷ-kheo đến tinh xá, ông không

thể kịp yết kiến đức Phật ngay hôm ấy.

Hôm sau, ông đi đảnh lễ bậc Ðạo

Sư và ngồi xuống một bên. Bậc Ðạo Sư đáp lễ

v à hỏi ông đến khi n ào:

- Thưa hôm qua.

- Thế sao mãi hôm nay ông mới đến thăm

ta?

Khi nghe rõ lý do, bậc Ðạo Sư bảo:

- Không phải chỉ bây giờ, mà cả ngày xưa, kẻ ấy cũng thô lỗ, y làm

phiền các trí nhân ngày xưa giống như đ ã

làm phiền ông.

Rồi theo lời thỉnh cầu, Ngài kể một chuyện

đời xưa.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát

được sanh v ào một gia

đ ình Bà-la-môn. Khi lớn lên, ngài

học tập đủ mọi môn nghệ thuật tại Takkasil à,

rồi trở thành một vị khổ hạnh. Sau một thời gian dài sống toàn củ, quả

rừng ở vùng Tuyết Sơn, ngài đi đến

Ba-la-nại để t ìm muối và dấm. Ngài ở trong vườn ngự uyển và hôm

sau vào kinh thành khất thực. Từ sân thượng hoàng cung, vua thấy ngài và

hài lòng trước tướng mạo oai nghi của ngài nên cho người triệu ngài vào

cung và cúng dường thực phẩm. Vua hứa mời ngài an trú trong ngự uyển và

hàng ngày vua đến tham kiến ng ài.

Bồ-tát bảo:

- Thưa Ðại vương, một vị vua phải trị nước công bình, tránh xa Bốn ác

đạo, đầy nhiệt tâm tinh cần, kham nhẫn, từ

ái, lân mẫn to àn dân.

Với lời khuyến giáo thông thường như thế, ngài ngâm hai vần kệ

đầu:

Ðừng bao giờ giận, hỡi Minh quân,

Chúa tể trần gian, chớ hận sân,

Ðừng lấy lòng sân bù mối hận

Quân vương như vậy đáng suy tôn.

D ù ở rừng xanh hoặc ở làng,

Ở trên bờ biển, giữa trùng dương,

Chớ bao giờ giận, ta khuyên nhủ

Mãi mãi từ nay, hỡi Ðại vương.

Như vậy, Bồ-tát ngâm đôi vần kệ ấy h àng

ngày cho vua nghe. Vua hoan hỷ ban tặng ngài một ngôi làng có số lợi tức

là một tr ăm ng àn

đồng v àng, song ngài từ chối. Bồ-tát

sống theo cách này suốt mười hai n ăm liền.

Sau đó ng ài nghĩ: "Ta đ ã ở

đây quá lâu, nay ta muốn du h ành qua

quốc độ rồi trở về".

Thế là không báo với vua, ngài chỉ nói riêng với người giữ vườn:

- Này Hiền hữu, ta thấy chán, ta muốn du hành trong nước rồi trở về,

nhờ bạn trình với đức vua.

Ngài đi ngay ra bến đ ò ở sông

Hằng. Ở đó có g ã chèo

đ ò ngu ngốc tên là Avàriyapità, y

không hiểu đạo hạnh của bậc hiền nhân, cũng

chẳng biết luôn cả việc ích lợi hay thiệt hại của ri êng mình. Khi

dân chúng muốn qua sông Hằng, trước tiên y

đưa họ qua rồi sau đó đ òi tiền đ ò.

Có khi họ không trả tiền, y liền gây sự với họ, rồi chỉ nhận

được lời mạ lỵ v à

đấm đá chứ rất ít tiền bạc, y thật ngu dại

m ù quáng đến thế.

Về gã này, bậc Ðạo Sư ngâm vần kệ thứ ba phát xuất từ Trí tuệ Tối

thắng của Ngài:

Chú A-và-ri-ya,

Thuyền lướt sóng Hằng Hà,

Trước tiên đưa du khách,

Rồi mới hỏi tiền ph à,

Do vậy ăn đ òn mãi,

Thật xui xẻo, dại khờ!

Bồ-tát đến gặp g ã lái

đ ò này và bảo:

- Hiền hữu, hãy đưa ta qua bờ kia.

- Này Sa-môn, ngài sẽ trả tiền cho tôi chứ? Y

đáp.

- Này Hiền hữu, ta sẽ chỉ cho chú biết cách làm t ăng

trưởng t ài lợi, an lạc và đức hạnh.

Gã lái đ ò nghĩ thầm: "Chắc chắn

vị này sẽ cho ta một cái gì đó".

Rồi y đưa ng ài sang sông và nói:

- Xin cho tôi tiền đ ò.

Bồ-tát bảo:

- Ðược rồi, này Hiền hữu.

Và thế là muốn dạy cho y biết trước tiên phải làm cách nào

để tăng th êm của cải, ngài ngâm vần

kệ này:

Hỏi tiền trước lúc chở qua sông,

Chớ đến bờ kia hỏi nhọc công,

Chú chở bá nhơn n ên bá tánh,

Tánh tình thay đổi trước sau luôn.

Gã lái đ ò nghĩ thầm: "Ðây chỉ là

lời vị ấy khuyên ta, nay phải cho ta thêm cái gì chứ". Song Bồ-tát bảo:

- Này Hiền hữu, chú đ ã có cách

làm ra tiền rồi đấy, nay h ãy nghe

cách làm t ăng an lạc c ùng

đức hạnh.

Rồi ngài lại ngâm vần kệ khuyến giáo:

Dù ở rừng xanh hoặc ở làng,

Ở trên bờ biển, giữa trùng dương,

Chớ bao giờ giận, ta khuyên chú

Mãi mãi từ nay, hỡi thiện nhân.

Như thế, sau khi đ ã dạy cách làm

t ăng trưởng an lạc v à

đức hạnh, ng ài bảo:

- Vậy là chú có cách làm t ăng an lạc v à

đức hạnh.

Nhưng gã ngu si kia không xem lời khuyến giáo của ngài ra gì cả, lại

đáp:

- Này Sa-môn, đây l à các thứ ngài

cho tôi thế tiền phà đấy à?

- Ðúng vậy, Hiền hữu.

- Tôi không cần thứ ấy, cho tôi thứ khác kia.

- Này Hiền hữu, ngoài thứ ấy ta không có gì khác.

- Thế tại sao ngài lại đi tr ên

thuyền tôi?

Y đáp, v à ném vị khổ hạnh lên bờ,

ngồi lên ngực ngài và đấm v ào mồm

ngài.

Bậc Ðạo Sư bảo:

- Các vị thấy khi nhà khổ hạnh khuyến giáo vua, thì nhận

được ân tứ một ngôi l àng, còn khi

khuyến giáo như vậy với một gã lái đ ò

ngu ngốc thì được v ài cái

đấm v ào mồm. Cho nên khi khuyến giáo

phải lựa người thích hợp, chớ nói với người không thích hợp.

Rồi Ngài ngâm vần kệ xuất phát từ Trí tuệ Tối thắng trí của Ngài:

Vua nghe lời khuyến thiện, đ ã

ban

Lợi tức phần ta cả một làng,

Chú lái đ ò nghe lời khyyến thiện

Lại đánh người cho ng ã xuống

đ àng.

Trong khi gã kia đánh vị Sa-môn, vợ y

đem cơm lại cho y, thấy vậy liền bảo:

- Này chàng, đây l à vị khổ hạnh

trong triều vua, đừng đánh ng ài.

Y nổi giận đáp:

- Cô lại cấm ta đánh kẻ tu h ành

giả mạo này ư?

Rồi y nhảy lên đánh vợ ng ã xuống

đất. Ðĩa cơm

đổ hết vỡ tan, c òn vợ y phải trụy

thai.

Quần chúng vây y lại và la lớn:

- Quân khốn nạn giết người.

Họ trói y lại đưa đến nh à vua.

Ngài xử phạt y theo pháp luật.

Với Trí tuệ Tối thắng, bậc Ðạo Sư giải thích vấn

đề qua vần kệ cuối c ùng:

Cơm đổ, vợ y đánh tả tơi,

Thai nhi chết trước lúc ra đời,

Lời khuy ên cho kẻ này vô dụng

Như vàng ròng tặng thú hoang thôi.

*

Khi bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại, Ngài tuyên thuyết các Sự Thật.

Khi kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo đ ã

được an trú v ào Sơ quả (Dự Lưu):

- Vào thời ấy, gã lái đ ò là chú

lái ngày nay, vua là Ànanda và vị khổ hạnh chính là Ta.

-ooOoo-

377. Chuyện Bà La Môn Setakeku (Tiền thân Setaketu)

Hiền hữu, hận sân chẳng lợi gì....,

Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo lừa

dối.

Hoàn cảnh câu chuyện sẽ xuất hiện trong Tiền thân Uddàla, số 487.

-ooOoo-

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát là một giáo

sư danh tiếng lừng lẫy và dạy thánh kinh cho n ăm

trăm đồ đệ. Vị huynh trưởng trong bọn l à Setakeku, xuất thân từ

một gia đ ình Bà-la-môn miền Bắc, vốn

rất tự cao về giai cấp mình.

Một hôm chàng ra khỏi thành phố cùng bè bạn, lúc trở về, chàng thấy

một kẻ Chiên- đ à-la (Candàla):

- Anh là ai? Chàng hỏi.

- Tôi là một Chiên- đ à-la.

Vị ấy sợ ngọn gió sau khi chạm vào người kẻ Chiên- đ à-la

sẽ đụng v ào thân mình, nên thốt lên:

- Ðồ khốn kiếp, này tên Chiên- đ à-la

xui xẻo kia, hãy tránh gió mau.

Rồi chành chạy nhanh về phía gió. Song kẻ Chiên- đ à-la

cũng nhanh chân bắt kịp chàng và đứng trước

gió cản. Ch àng lại càng phỉ báng mạ lỵ kẻ kia nhiều hơn nữa. Kẻ

Chiên- đ à-la hỏi:

- Ông là ai?

- Ta là một thư sinh Bà-la-môn.

- Tốt lắm, nếu vậy thì ông có thể đáp

câu hỏi của tôi.

- Ðúng vậy.

- Còn nếu ông không đáp được, tôi sẽ kẹp

ông lại giữa hai chân tôi đấy.

Vị Bà-la-môn đầy tự tin, bảo:

- Cứ làm ngay đi.

Kẻ Chiên- đ à-la muốn làm cả hội

chúng hiểu chuyện này, liền hỏi:

- Này thanh niên Bà-la-môn, các phương hướng là gì?

- Ðó là bốn phương: Ðông, Tây, Nam, Bắc.

Kẻ Chiên- đ à-la bảo:

- Tôi không hỏi loại phương hướng đó, c òn

ông không biết ngay đến chuyện n ày,

mà lại ghê tởm luôn cả ngọn gió đụng v ào

người tôi!

Thế là kẻ ấy chụp lấy vai chàng đ è

xuống kẹp vào giữa hai chân mình.

Các học trò kia đem chuyện ấy kể với

thầy. Vị thầy bảo:

- Này cậu Setakeku, cậu đ ã bị kẹp

giữa hai chân một kẻ Chiên- đ à-la ấy

à?

- Thưa thầy, vâng, thằng oắt con của một tên nô lệ

đ ã kẹp

đệ tử giữa hai chân nó v à bảo: "Ông này không biết ngay các

phương hướng". Nhưng nay đệ tử đ ã

biết phải làm gì với nó rồi.

Và như vậy, chàng lại phỉ báng kẻ Chiên- đ à-la

một cách giận dữ. Vị thầy khuyên nhủ:

- Này cậu Setakeku, đừng giận nó, nó có

trí tuệ cao đấy. Nó đ ã hỏi cậu về một loại phương hướng khác, chứ

không phải loại này. Thứ mà cậu không thấy, không nghe, không hiểu, còn

cao xa hơn thứ mà cậu đ ã thấy và

nghe nữa.

Rồi ngài ngâm hai câu kệ để khuyến giáo:

Hiền hữu, hận sân chẳng lợi gì,

Trí cao vượt quá chuyện mình nghe:

"Một phương" phải hiểu là cha mẹ,

"Thầy giáo" được d ùng chí hướng

kia.

"Gia chủ" cho y phục, uống ăn,

Cửa thường rộng mở, chính l à "phương",

Còn "phương" trong nghĩa cao siêu nhất:

"Trạng thái vô ưu, lạc Niết-bàn".

Như vậy, Bồ-tát giảng giải bốn phương cho thanh niên Bà-la-môn này,

song chàng nghĩ: "Ta đ ã bị kẹp giữa

hai chân một kẻ Chiên-la- đ à", liền

rời nơi ấy và đến Takksil à học

đủ mọi môn nghệ thuật với một giáo sư danh

tiếng lẫy lừng. Sau đó, được thầy cho phép, ch àng rời Takkasilà,

vừa du hành đây đó, vừa học tập mọi nghề

thực tiễn.

Khi đến một l àng biên

địa, ch àng gặp n ăm

trăm nh à khổ hạnh sống gần đó v à

được thọ giới tu h ành. Chàng học hỏi

được mọi nghệ thuật, Kinh điển v à

các phương pháp thực hành, rồi tất cả cùng vị ấy

đi đến Ba-la-nại

Hôm sau chàng đi v ào cung

đ ình khất thực. Vua hoan hỷ trước

phong cách các vị khổ hạnh, liền cúng dường thực phẩm ngay tại cung vua,

và mời các vị ở lại ngự viên. Một hôm vua bảo trong lúc cúng dường thực

phẩm:

- Chiều tối nay trẫm sẽ đến đảnh lễ các

Tôn giả ngay tại ngự vi ên.

Setakeku liền đến ngự vi ên, triệu

tập các vị khổ hạnh và bảo:

- Các Tôn giả, hôm nay đức vua sẽ đến.

Chỉ cần một lần h òa hợp với vua chúa, người ta có thể sống sung

sướng suốt cả đời. Vậy bây giờ một số vị l àm

kiểu khổ hình bằng cách lắc mạnh người, một số vị nằm trên giường gai,

một số vị chịu đựng năm ngọn lửa, một số

thực h ành khổ hạnh bằng cách ngồi xổm, một số nhào lộn, một số

đọc kinh.

Sau khi ra lệnh xong, chính vị ấy ngồi tại cửa am thất với gối dựa,

đặt quyển sách bao b ìa sáng loáng

trên một giá gỗ có sơn và giảng kinh cho

đám học tr ò thông minh chừng bốn n ăm

người. Vừa lúc ấy nh à vua đến, thấy

họ đang diễn tr ò khổ hạnh giả dối này lại rất hài lòng. Vua

đến gần Setakeku, kính vái ch àng,

rồi ngồi xuống một bên, sau đó ngâm vần kệ

thứ ba nói chuyện với vị tế sư của ho àng gia:

Hàm r ăng bẩn, áo da d ê, tóc

bện,

Miệng thì thầm kinh thánh, dáng bình an,

Chẳng từ nan mọi phương tiện hiền nhân,

Chắc đ ã

đạt Chân như v à Giải thoát.

Vị tế sư nghe vậy, liền đáp vần kệ thứ

tư:

Một trí nhân có thể làm ác hạnh,

Một trí nhân có thể chẳng chánh chân,

Ngàn câu Vệ- đ à chẳng tạo an toàn

Khi việc hỏng, hoặc cứu người lâm nạn.

Khi vua nghe lời này, liền lấy lại mọi ân sủng dành cho

đám khổ hạnh kia. Setakeku nghĩ thầm: "Nh à

vua ham thích đám khổ hạnh, song tế sư n ày

đ ã phá hoại như thể lấy rìu chặt

ngang sở thích của vua. Ta phải nói chuyện với tế sư mới

được". Do thế, ch àng ngâm vần kệ thứ

n ăm nói chuyện với tế sư:

Một trí nhân có thể làm ác hạnh,

Một trí nhân có thể chẳng chánh chân,

Ngài bảo Vệ- đ à là vật không cần,

Chỉ tu tập điều thân l à thiết yếu.

Vị tế sư nghe vậy, liền đáp vần kệ thứ

sáu:

Không, Vệ- đ à không hoàn toàn vô

dụng,

Dù điều thân tu tập: đạo chánh chân,

Học Vệ-đ à vẫn mang lại vinh quang,

Song ta đạt Tối an nhờ chánh hạnh.

Như vậy, vị tế sư bài bác giáo lý của Setakeku. Ngài khuyên cả

đám khổ hạnh ho àn tục, cho họ gươm,

giáo, mộc để l àm quan thị vệ cao cấp

hầu cận vua. Từ đó người ta bảo d òng

dõi quan thị vệ cao cấp xuất hiện.

*

Khi chấm dứt Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:

- Thời ấy, Setakeku là Tỷ-kheo lừa dối này, kẻ Chiên- đ à-la

là Sàriputta và tế sư của nhà vua chính là Ta.

-ooOoo-

378. Chuyện Bà La Môn Darìmukha (Tiền thân Darìmukha)

Dục lạc chỉ là đám b ùn dơ bẩn..,

Chuyện này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về Ðại sự Xuất

thế.

Sự tình dẫn đến chuyện n ày

đ ã được

kể trước kia.

*

Một thuở nọ, vua Magadha trị vì tại thành Rajagaha (Vương Xá). Bồ-tát

được sinh l àm con của chánh hậu,

được đặt t ên vương tử Brahmadatta.

Vào ngày ngài ra đời, vị tế sư của ho àng

gia cũng sinh một nam tử, diện mạo tuấn tú, vì thế

được đặt t ên là Darìmukha (Miệng

hang lớn). Cả hai cùng lớn lên trong cung đ ình

và trở thành bạn thân. N ăm mười sáu tuổi,

hai vị đến Takkasil à học đủ mọi môn

nghệ thuật. Sau đó muốn tạo được các kiến thức có công dụng thực tiễn v à

tìm hiểu phong tục trong nước, hai vị du hành qua nhiều thành phố, thôn

làng khắp mọi miền.

Vì vậy, hai vị đến Ba-la-nại trú ở trong

một ngôi đền v à hôm sau vào kinh thành khất thực. Có một nhà

trong kinh thành đ ã nấu xong cháo

gạo và chuẩn bị chỗ ngồi để cúng dường phần

thức ăn cho các B à-la-môn. Khi họ thấy hai nam tử này khất thực,

họ nghĩ: "Các Bà-la-môn đ ã

đến", liền mời v ào và trải một tấm

kh ăn trắng tr ên ghế của Bồ-tát và

một thảm đỏ dưới chân Dar ìmukkha.

Chàng quan sát điềm n ày và hiểu

ngay thân hữu chàng sẽ làm vua ở Ba-la-nại và chính chàng sẽ làm

đại tướng. Hai vị thọ thực xong phần m ình

rồi nói lời tùy hỷ công đức v à ra

đi về ngự vi ên. Bồ-tát nằm trên sàng

tọa bằng đá của vua, c òn Darìmukha

ngồi xoa chân ngài.

Thời ấy, vua Ba-la-nại đ ã b ăng

h à đ ã bảy ngày. Vị tế sư

hoàng gia làm lễ hỏa táng xong liền đưa

vương xa ra khỏi th ành suốt bảy ngày vì chưa có ai kế vị ngai

vàng. Lễ rước vương xa này sẽ được giải

thích trong Tiền thân Mah àjanaka, số 539. Vương xa rời kinh thành

và đến cổng ngự vi ên,

được bốn đạo quân xa pháo m ã tượng

hộ tống và âm nhạc của hàng tr ăm nhạc khí

trổi dậy vang lừng.

Darìmukha nghe tiếng nhạc, nghĩ thầm: "Vương xa

đến rước thân hữu ta đó, ng ài sẽ lên

ngôi vua hôm nay, và phong ta chức đại

tướng, song ta có n ên làm người thế tục ch ăng?

Ta muốn đi ngay l àm ẩn sĩ khổ hạnh". Vì thế không nói gì với

Bồ-tát, chàng chạy sang một bên đứng ẩn m ình.

Vị tế sư ngừng xe trước cổng ngự viên, vừa bước vào thấy Bồ-tát

đang nằm tr ên bảo tọa của hoàng gia.

Vừa quan sát các tướng tốt trên chân ngài, ông nghĩ: "Ngài có

đủ đức độ v à xứng

đáng l àm vua cả bốn

đại châu c ùng với hai ngàn hải

đảo vây quanh. Song l òng can

đảm của ng ài ra sao

đây?".

Vì thế ông ra lệnh mọi nhạc khí đồng

trổi dậy hết sức inh ỏi. Bồ-tát thức dậy, giở tấm khăn ra khỏi mặt v à

thấy đám đông. Rồi che mặt lại, ng ài

nằm xuống thêm chút nữa, xong trở dậy ngồi xếp bằng trên sàng tọa trong

lúc xe vừa dừng lại.

Vị tế sư quỳ xuống, thưa:

- Tâu Chúa thượng, quốc độ được nhường

cho Chúa thượng.

- Sao? Không ai kế vị à?

- Tâu Chúa thượng, không.

- Thế thì tốt lắm.

Vậy là ngài nhận lời thỉnh cầu và hội chúng làm lễ quán

đảnh rảy nước thánh l ên

đầu ng ài tại ngự viên. Trong giờ

phút đại vinh quang ấy, ng ài quên

bẵng Darìmukha, ngài ngự lên vương xa đi

giữa đám quần thần uy nghi diễu v òng quanh kinh thành. Sau

đó dừng lại trước cung môn, ng ài chỉ

định vị trí của các triều thần, xong bước l ên

lầu thượng.

Cùng lúc ấy, Darìmukha thấy ngự viên đ ã

vắng người liền bước ra ngồi trên bảo tọa trong vườn. Một ngọn lá khô

rơi xuống trước mặt ngài. Thấy rõ các quy luật lão tử, ngài bừng ngộ Tam

pháp ấn (Khổ, vô thường, vô ngã) và chứng

đắc quả vị Ðộc Giác Phật (Paccekabodhi), liền reo mừng hoan hỷ

làm vang dậy cả cõi trần. Ngay lập tức các

đặc tính của một ph àm nhân biến mất khỏi thân Ngài, một bình bát

và một tấm y kỳ diệu từ cõi thiên rơi xuống khoác vào người và Ngài có

đủ tám món cần thiết c ùng tứ oai

nghi hoàn thiện của một Sa-môn cả tr ăm

tuổi, rồi nhờ thần lực, Ng ài bay qua không gian

đến tận đ ộng Nandamùla, nơi an trú

của các vị Ðộc Giác Phật tại miền Tuyết Sơn.

Phần Bồ-tát trị nước rất chân chánh. Song cảnh

đại vinh quang đ ã làm ngài say

đắm suốt bốn mươi năm r òng. Ngài

quên hẳn Darìmukha. Ðến n ăm thứ bốn mươi ấy

ng ài nhớ lại bạn và tự bảo: "Trẫm có thân hữu tên là Darìmukha,

nay vị ấy ở đâu?". Ng ài mong ước gặp

lại bạn. Từ đó về sau, ngay trong hậu cung

hay giữa quần thần, ng ài thường bảo:

- Thân hữu Darìmukha nay ở đâu? Trẫm sẽ

ban vinh hoa phú quý cho ai báo tin với trẫm về nơi bạn hiền cư trú".

Lại mười n ăm nữa trôi qua từ khi ng ài

thỉnh thoảng nhớ đến bạn. C òn Tôn

giả Darìmukha đ ã trở thành Ðộc Giác

Phật, sau n ăm mươi năm, suy xét lại v à

biết bạn cũng đang nhớ đến Ng ài,

liền nghĩ: "Nay bạn ta đ ã già và t ăng

th êm đ àn con cháu, ta muốn

đi thuyết Pháp v à truyền giáo cho

bạn".

Nhờ thần lực, Ngài bay qua không gian và hạ mình xuống vườn ngự uyển,

ngồi xuống bảo tọa như một bức tượng vàng ròng. Người giữ vườn thấy

Ngài, đi đến hỏi:

- Thưa Ngài, Ngài từ đâu đến?

- Từ động Nandam ùlaka.

- Thế Ngài là ai?

- Hiền giả, ta là Phật Ðộc Giác Darìmukha.

- Thưa Ngài, thế Ngài biết đức vua của

chúng tôi chăng?

- Ta biết. Ngài là thân hữu từ thời ta còn ở thế tục.

- Thưa Ngài, đức vua ước ao hội kiến Ng ài,

tôi xin đi tr ình báo

đức vua rằng Ng ài

đ ã đến.

- Hiền hữu cứ đi l àm như vậy.

Người làm vườn liền đi tr ình vua

rằng Tôn giả Darìmukha đ ã

đến v à hiện

đang ngồi tr ên thạch tọa. Vua phán:

- Thế là Hiền hữu của trẫm đ ã

đến, trẫm sẽ đi hội kiến ngay.

Vì vậy ngài ngự lên vương xa cùng đám t ùy

tùng hộ tống đông đảo đến ngự vi ên,

cung kính đảnh lễ vị Ðộc Giác Phật

và ngồi xuống một bên. Vị Ðộc Giác Phật bảo:

- Này Brahmadatta, Ðại vương nên trị nước chân chánh,

đừng bao giờ theo ác đạo hay đ àn áp

dân chúng vì tiền bạc. Hãy làm mọi thiện sự với lòng nhân từ.

Và sau đó khi ân cần đáp lễ, Ng ài

bảo thêm:

- Này Brahmadatta, nay Ðại vương đ ã

già đ ã

đến lúc Ðại vương nên từ giã dục lạc và xuất gia.

Như thế, Ngài thuyết Pháp và ngâm vần kệ

đầu:

Dục lạc chỉ là đám b ùn dơ bẩn

"Nỗi kinh hoàng ba gốc" được gọi l à,

Ta bảo rằng khói bụi với sương sa,

Hãy bỏ chúng, xuất gia lìa thế tục.

Nghe vầy, vua ngâm vần kệ giải thích ngài vẫn

đang bị tham dục r àng buộc:

Trẫm say đắm, lún sâu b ùn tham

dục,

Bà-la-môn, dục lạc đáng kinh thay,

Song y êu đời, trẫm không thể bỏ

ngay,

Trẫm xin nguyện suốt đời l àm thiện sự.

Sau đó, mặc d ù Bồ-tát bảo: "Ta

không muốn thọ giới xuất gia", Tôn giả Darìmukha cũng không bài bác vua

và khích lệ lần nữa:

Ai bác bỏ lời bạn hiền khuyên nhủ,

Thương xót và mong bạn tránh đọa đ ày,

Cứ tưởng rằng: "Cõi thế tốt lành thay",

Sẽ không dứt tái sinh đầu thai m ãi.

Nơi đ ày

đọa đáng kinh: phần kẻ ấy

Ðầy vật dơ, bị người thiện chê bai,

Kẻ tham kia dục vọng chẳng hề rời,

Thân xác chứa ngập đầy mầm nhục dục.

Như vậy, Ðộc Giác Phật Darìmukha nêu rõ sự khổ

đau do nhập thai v à vội vàng bày tỏ

nỗi khổ đau v ì sinh sản qua một vần

kệ nữa:

Ðầu máu mủ, vật hôi tanh thế tục,

Mọi hữu tình đều phải chịu tái sinh,

Những vật g ì xúc chạm suốt đời m ình,

Chỉ cốt để đem khổ đau trần giới.

Ta nói l ên những điều ta trông

thấy,

Chứ không lo người khác nói ta nghe,

Ta nhớ r ành các đời kiếp xưa kia.

Lúc bấy giờ với Trí tuệ Tối thắng, bậc Ðạo Sư bảo:

- Như thế vị Ðộc Giác Phật đ ã

dùng thiện ngôn cứu giúp nhà vua.

Và Ngài ngâm nửa vần kệ kết thúc:

Da-ri-muk đ ã rót vào tai bạn

Su-me-dha lắm vần kệ ngọt ngào,

Hiển bày ra cả trí tuệ tối cao.

Vị Ðộc Giác Phật bày tỏ mọi khổ đau của

tham dục v à làm vua hiểu lời Ngài dạy xong, liền nói:

- Thưa Ðại vương, dù Ðại vương có thọ giới xuất gia hay không, ta

cũng đ ã nói hết nỗi khốn cùng của

tham dục và hạnh phúc của đời xuất gia, xin

Ðại vương hãy tinh cần.

Rồi giống như một con kim nga vương, Ngài bay bổng lên không, lướt

mây về đến động Nandamulaka. C òn bậc

Ðại Sĩ đảnh lễ với mười ngón tay chắp v ào

nhau, và cúi đầu đứng y ên cho tới

khi Tôn giả Darìmukha khuất bóng. Sau đó

vua từ bỏ dục lạc, trong lúc quần chúng đông đảo than khóc k êu

gào, ngài đi đến v ùng Tuyết Sơn dựng

một lều lá và thọ giới làm ẩn sĩ. Chẳng bao lâu ngài thành

đạt các Thắng trí v à các Thiền

chứng, rồi lúc mạng chung, Ngài được sinh l ên

cõi Phạm thiên.

*

Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật, sau

đó nhiều Tỷ-kheo đắc sơ quả c ùng các

quả vị kia, và Ngài nhận diện Tiền thân:

- Thời ấy nhà vua chính là Ta.

-ooOoo-

Đầu

trang | Mục

lục | 01 | 02 | 03

| 04 | 05 | 06

| 07 | 08 | 09

| 10 | 11 | 12

| 13 | 14