Kinh Tất cả lậu hoặc: bảy cách đoạn trừ phiền não

Trong bài này20 mục

Kinh Tất cả lậu hoặc là Trung Bộ Kinh số 2, một bài kinh rất thực tế cho người học Phật. Nếu Kinh Chánh tri kiến giúp đặt nền cái thấy đúng, Kinh Niệm xứ chỉ rõ cách quán thân-thọ-tâm-pháp, thì Kinh Tất cả lậu hoặc chỉ cho ta một điều rất cụ thể: phiền não không phải lúc nào cũng đoạn trừ bằng một cách giống nhau.

Có phiền não cần thấy đúng. Có phiền não cần phòng hộ. Có phiền não cần kham nhẫn. Có phiền não cần tránh né. Có phiền não cần dứt bỏ ngay khi vừa khởi lên. Có phiền não cần tu tập lâu dài để đoạn tận.

Đây là điểm rất đáng học, vì người mới thường dễ cực đoan: hoặc nghĩ chỉ cần hiểu giáo lý là đủ, hoặc nghĩ chỉ cần thiền là đủ, hoặc nghĩ cứ chịu đựng là tu. Bài kinh này cho thấy con đường thực hành linh hoạt và rất tỉnh táo.

Lậu hoặc là gì?

Trong phần toát yếu Budsas, lậu hoặc được giải thích là những ô nhiễm căn bản tiếp tục trói buộc con người vào vòng sinh tử. Bài kinh thường nói đến ba loại lậu hoặc:

  • dục lậu: ô nhiễm liên hệ đến khoái lạc giác quan;
  • hữu lậu: ô nhiễm liên hệ đến ham muốn hiện hữu, trở thành, bám vào quan điểm và đời sống;
  • vô minh lậu: ô nhiễm do không thấy đúng sự thật.

Nói đơn giản, lậu hoặc là những dòng ô nhiễm âm thầm chảy trong tâm. Chúng không chỉ xuất hiện khi ta nổi giận rõ ràng hay tham muốn rõ ràng. Chúng có thể nằm trong cách ta nhìn đời, cách ta phản ứng, cách ta sử dụng vật chất, cách ta chịu đựng, cách ta chọn môi trường sống và cách ta nuôi dưỡng tâm hằng ngày.

Như lý tác ý: chìa khóa mở đầu

Ngay đầu bài kinh, Đức Phật dạy rằng sự diệt tận các lậu hoặc là cho người biết, người thấy; không phải cho người không biết, không thấy. Điều cần biết ở đây là như lý tác ýkhông như lý tác ý.

Không như lý tác ý là đặt tâm sai hướng, khiến lậu hoặc chưa sinh được sinh khởi, lậu hoặc đã sinh được tăng trưởng. Bài kinh nêu ví dụ về những suy nghĩ quanh cái “ta”: ta có mặt trong quá khứ không, ta sẽ là gì trong tương lai, ta có tự ngã hay không có tự ngã… Khi bị kéo vào kiểu tác ý ấy, tà kiến và nghi hoặc có thể sinh khởi.

Như lý tác ý là đặt tâm đúng hướng: “đây là khổ”, “đây là nguyên nhân của khổ”, “đây là sự đoạn diệt khổ”, “đây là con đường đưa đến đoạn diệt khổ”.

Vì vậy, trước khi nói đến bảy cách đoạn trừ, bài kinh nhắc ta một nguyên tắc nền: muốn tu đúng, phải biết hướng tâm đúng.

Bảy cách đoạn trừ lậu hoặc

Kinh Tất cả lậu hoặc trình bày bảy cách đoạn trừ:

  1. đoạn trừ bằng tri kiến;
  2. đoạn trừ bằng phòng hộ;
  3. đoạn trừ bằng thọ dụng;
  4. đoạn trừ bằng kham nhẫn;
  5. đoạn trừ bằng tránh né;
  6. đoạn trừ bằng trừ diệt;
  7. đoạn trừ bằng tu tập.

Bảy cách này không phải bảy mẹo rời rạc, mà là một hệ thống tu học rất thực tế.

1. Đoạn trừ bằng tri kiến

Đoạn trừ bằng tri kiến là đoạn trừ nhờ thấy đúng. Bài kinh nhấn mạnh người không được học Pháp sẽ không biết pháp nào nên tác ý, pháp nào không nên tác ý. Vì vậy, họ tác ý điều không đáng tác ý và bỏ qua điều đáng tác ý.

Khi không như lý tác ý quanh tự ngã, con người dễ mắc vào các tà kiến như “ta có tự ngã”, “ta không có tự ngã”, “tự ngã của ta là thường trú”… Bài kinh gọi đó là kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược.

Ngược lại, vị Thánh đệ tử như lý tác ý về Tứ Thánh Đế. Nhờ vậy ba kiết sử được đoạn trừ: thân kiến, nghi và giới cấm thủ.

Với người mới, phần này có thể hiểu thực tế: có những phiền não không thể hết bằng cách đè nén. Chúng cần được soi sáng bằng cái thấy đúng.

2. Đoạn trừ bằng phòng hộ

Đoạn trừ bằng phòng hộ là giữ gìn sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Khi các căn tiếp xúc với trần cảnh, nếu không có chánh niệm và tỉnh giác, tham, sân, si dễ sinh khởi.

Phòng hộ không có nghĩa là sợ đời hay trốn hết mọi tiếp xúc. Phòng hộ là biết rằng mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, ý gặp pháp đều có thể thành cửa cho lậu hoặc nếu tâm buông lung.

Trong đời sống hiện đại, phần này rất gần: mạng xã hội, tin tức, hình ảnh, lời nói, tranh luận… đều có thể làm tâm bị kéo đi. Người học Phật cần biết mình nên nhìn gì, nghe gì, đọc gì, và khi tiếp xúc thì tâm đang bị kéo theo hướng nào.

3. Đoạn trừ bằng thọ dụng

Thọ dụng là sử dụng các vật dụng cần thiết: y phục, thức ăn, chỗ ở, thuốc men. Bài kinh dạy thọ dụng không phải để vui đùa, đam mê, trang sức hay làm đẹp, mà để duy trì thân này, hỗ trợ phạm hạnh và giảm khổ thân.

Với người cư sĩ, tinh thần này rất quan trọng. Ta vẫn cần ăn mặc, nhà cửa, phương tiện, công nghệ, tiền bạc. Nhưng nếu dùng chúng để nuôi tham, khoe mình, chạy theo hưởng thụ, thì lậu hoặc tăng trưởng. Nếu dùng đúng mức, biết đủ, phục vụ đời sống lành mạnh và tu học, thì chúng trở thành phương tiện.

Đây là chỗ thực hành biết đủ rất cụ thể.

4. Đoạn trừ bằng kham nhẫn

Có những điều không thể tránh hoàn toàn: nóng lạnh, đói khát, bệnh đau, côn trùng, lời nói khó nghe, hiểu lầm, phỉ báng. Bài kinh gọi cách đối diện những điều ấy là kham nhẫn.

Kham nhẫn không phải là cam chịu mù quáng hay để người khác lạm dụng. Kham nhẫn là năng lực không để tâm bốc cháy trước những cảm thọ khó chịu và hoàn cảnh trái ý.

Nếu thiếu kham nhẫn, một lời nói cũng đủ làm sân hận tăng trưởng. Nếu có kham nhẫn, ta có khoảng trống để thấy: đây là cảm thọ khó chịu, đây là phản ứng sân, đây là chỗ cần giữ tâm.

5. Đoạn trừ bằng tránh né

Đây là điểm rất thực tế và dễ bị bỏ qua. Không phải hoàn cảnh nào cũng nên “đối diện”. Có những nơi, người, tình huống hoặc môi trường làm tăng phiền não, nguy hiểm hoặc tai tiếng; bài kinh dạy cần tránh né.

Tránh né không phải hèn nhát. Tránh né đúng là trí tuệ bảo hộ tâm.

Ví dụ: nếu biết một môi trường luôn kích động tham, sân, nghiện ngập, tranh cãi hoặc bất thiện, thì không nhất thiết phải lao vào để chứng tỏ mình mạnh. Có khi cách tu đúng là không đặt mình vào nơi dễ rơi.

6. Đoạn trừ bằng trừ diệt

Có những bất thiện tâm đã khởi lên thì cần được từ bỏ, trừ diệt, không cho tồn tại. Bài kinh nêu rõ dục niệm, sân niệm, hại niệm và các ác bất thiện pháp.

Điểm này giúp ta tránh một hiểu lầm khác: không phải cứ “quan sát” là đủ. Có những ý nghĩ bất thiện nếu tiếp tục nuôi, chúng sẽ mạnh lên. Người tu cần biết: ý nghĩ này không nên theo, không nên lặp lại, không nên cho nó thêm nhiên liệu.

Trừ diệt ở đây không phải ghét bỏ chính mình. Đó là sự tỉnh táo: thấy một dòng tâm bất thiện và không tiếp tục nuôi nó.

7. Đoạn trừ bằng tu tập

Cách thứ bảy là tu tập Bảy Giác chi: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả. Các giác chi này được tu tập dựa trên viễn ly, ly tham, đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

Đây là phần dài hạn. Có những lậu hoặc không thể hết chỉ bằng một quyết tâm ngắn. Cần nuôi dưỡng các yếu tố giác ngộ, cần thực hành đều, cần làm cho niệm lực, định lực và tuệ lực lớn lên.

Nói đơn giản: nếu sáu cách trước giống như biết cách xử lý từng tình huống, thì cách thứ bảy là xây dựng nội lực tu học để tâm ngày càng ít bị lậu hoặc chi phối.

Bảy cách này liên hệ Giới, Định, Tuệ ra sao?

Trong phần trích giảng Budsas, bảy cách đoạn trừ được nhìn trong khung Giới, Định, Tuệ.

  • Nhóm ngăn ngừa phiền não do ngoại cảnh: phòng hộ, thọ dụng, kham nhẫn, tránh né – gần với Giới học và sự bảo hộ đời sống.
  • Nhóm xử lý phiền não từ tâm: trừ diệt – gần với Định học, theo dõi và chế ngự các bất thiện tâm.
  • Nhóm thấy đúng và tuệ quán: tri kiến và tu tập – đưa về Tuệ học, như lý tác ý, Bảy Giác chi và con đường đoạn tận lậu hoặc.

Nhìn như vậy, ta thấy bài kinh không dạy một kỹ thuật đơn lẻ. Bài kinh trình bày một lối sống tu học toàn diện.

Ứng dụng cho người mới học Phật

Người mới có thể thực hành bài kinh này bằng một bảng tự kiểm rất đơn giản:

  • Tri kiến: việc này mình đang nhìn bằng Tứ Thánh Đế hay bằng cái tôi bị tổn thương?
  • Phòng hộ: mình có đang để mắt, tai, ý bị kéo đi quá nhiều không?
  • Thọ dụng: mình dùng vật này vì cần thiết hay vì khoe, tham, nghiện?
  • Kham nhẫn: cảm thọ khó chịu này có cần phản ứng ngay không?
  • Tránh né: môi trường này có đang nuôi bất thiện pháp không?
  • Trừ diệt: ý nghĩ này có phải dục niệm, sân niệm, hại niệm không?
  • Tu tập: hôm nay mình có nuôi dưỡng niệm, trạch pháp, tinh tấn, định, xả không?

Chỉ cần dùng bảy câu hỏi này trong đời sống, bài kinh đã bắt đầu trở nên sống động.

Kết luận

Kinh Tất cả lậu hoặc là một bài kinh rất thực tế vì chỉ rõ phiền não cần được xử lý bằng nhiều phương cách khác nhau. Có cái cần thấy đúng, có cái cần phòng hộ, có cái cần dùng đúng, có cái cần nhẫn, có cái cần tránh, có cái cần dứt bỏ, có cái cần tu tập lâu dài.

Người mới học Phật có thể đọc bài này để hiểu rằng tu không phải chỉ là biết giáo lý, cũng không phải chỉ là ngồi thiền, mà là học cách bảo hộ và chuyển hóa toàn bộ đời sống.

Bài đọc tiếp theo: Kinh Thừa tự Pháp: học Phật để thừa hưởng điều gì?

Nguồn học Budsas đã đối chiếu

  • Budsas: “Kinh Tất cả các lậu hoặc”, Trung Bộ Kinh số 2, HT Thích Minh Châu dịch Việt: https://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung02.htm.
  • Budsas: “Toát yếu Kinh Trung Bộ”, phần kinh số 2, Ni sư Thích Nữ Trí Hải tóm tắt và chú giải: https://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-01.htm.
  • Budsas: “Trung Bộ giảng giải – Kinh số 2”, HT Thích Chơn Thiện: https://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-002.htm.

Câu hỏi thường gặp

Kinh Tất cả lậu hoặc là kinh số mấy?

Kinh Tất cả lậu hoặc là Trung Bộ Kinh số 2, thuộc Tập I của Trung Bộ Kinh.

Lậu hoặc nghĩa là gì?

Lậu hoặc là các ô nhiễm sâu trong tâm, như dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, tiếp tục trói buộc con người trong khổ đau và sinh tử.

Bảy cách đoạn trừ lậu hoặc là gì?

Bảy cách là: tri kiến, phòng hộ, thọ dụng, kham nhẫn, tránh né, trừ diệt và tu tập.

Như lý tác ý là gì?

Như lý tác ý là hướng tâm đúng theo sự thật đưa đến đoạn trừ lậu hoặc, đặc biệt là tác ý theo Tứ Thánh Đế: khổ, nguyên nhân của khổ, sự đoạn diệt khổ và con đường đoạn khổ.

Người cư sĩ có áp dụng bài kinh này được không?

Có. Người cư sĩ có thể áp dụng qua việc giữ gìn sáu căn, dùng vật chất đúng mức, kham nhẫn trước nghịch cảnh, tránh môi trường bất thiện, không nuôi dưỡng ý nghĩ xấu và tu tập chánh niệm, trí tuệ.

Đối chiếu kinh văn

Kinh tạng Pāli

Mở thư viện Kinh tạng để đọc nguyên văn, tra mục lục và nối sang Tăng Chi.

Đi tiếp →Pháp thoại Tăng Chi