Kinh Tương Ưng Bộ · Saṃyutta Nikāya

[48] Chương IV — Tương Ưng Căn (b)

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Tương Ưng Bộ

Kinh Trung Bộ · Bài 5

[48] Chương IV — Tương Ưng Căn (b)#

Tập V - Thiên Ðại Phẩm

Tương Ưng Bộ -

Samyutta Nikaya

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Tập V - Thiên Ðại Phẩm

[48] Chương IV

Tương Ưng Căn (b)

-ooOoo-

V. Phẩm Về Già

41. I. Già (S.v,216)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Pubbàràma,

trong lâu đài của mẹ Migàra.

2) Lúc bấy giờ, Thế Tôn, vào buổi chiều, từ

chỗ độc cư đứng dậy, ngồi sưởi ấm lưng trong ánh nắng phương Tây.

3) Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi

đến, đảnh lễ Thế Tôn, với tay xoa bóp chân tay cho Thế Tôn, thưa

rằng:

-- Thật kinh hoàng thay, bạch Thế Tôn! Thật kỳ dị

thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, màu da Thế Tôn nay không còn

thanh tịnh, trong sáng, tay chân rã rời (sithilàni), nhăn nheo, thân được thấy

còm về phía trước, và các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn,

tỷ căn, thiệt căn, thân căn.

4) -- Sự thể là vậy, này Ananda, tánh già nằm trong

tuổi trẻ; tánh bệnh ở trong sức khỏe; tánh chết ở trong sự sống. Như

vậy, màu da không còn thanh tịnh, trong sáng, tay chân rã rời, nhăn nheo, thân

còm về phía trước, và các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn,

tỷ căn, thiệt căn, thân căn.

5) Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ nói

như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

-- Bất hạnh thay tuổi già! Ðáng sợ thay cuộc sống!

Tuổi già làm phai nhạt sắc diện của màu da. Hình bóng trước khả ý,

nay già đã phá tan! Ai sống được trăm tuổi, cuối cùng cũng phải chết,

không bỏ sót ai, tất cả bị phá sập.

42. II. Bà-La-Môn Unnàbha (S.v,217)

1) Ở Sàvatthi...

2) Rồi Bà-la-môn Unnàbha đi đến Thế Tôn; sau

khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi

nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.

Ngồi một bên, Bà-la-môn Unnàbha thưa Thế Tôn:

3) -- Có năm căn này, thưa Tôn giả Gotama, đối cảnh

khác nhau (nànavisayàni), hành cảnh khác nhau (nànà - gocaràni), chúng không

dung nạp (paccanubhoniti) hành cảnh đối cảnh của nhau. Thế nào là năm?

Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn. Thưa Tôn giả Goama,

năm căn này, đối cảnh khác nhau, hành cảnh khác nhau, chúng không dung nạp

hành cảnh đối cảnh của nhau, thời cái gì làm chỗ quy tựa cho chúng? Và

cái gì dung nạp hành cảnh đối cảnh của chúng?

4) -- Này Bà-la-môn, có năm căn này, đối cảnh khác

nhau, hành cảnh khác nhau, chúng không dung nạp hành cảnh đối cảnh của nhau.

Thế nào là năm? Nhãn căn... thân căn. Này Bà-la-môn, năm căn này, đối

cảnh khác nhau, hành cảnh khác nhau, chúng không dung nạp hành cảnh đối cảnh

của nhau, ý làm chỗ quy tựa cho chúng, ý dung nạp hành cảnh đối

cảnh của chúng.

5) -- Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cái gì làm chỗ quy

tựa cho ý?

-- Này Bà-la-môn, niệm là chỗ quy tựa cho ý.

6) -- Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cái gì làm chỗ quy

tựa cho niệm?

-- Này Bà-la-môn, giải thoát là chỗ quy tựa cho

niệm.

7) -- Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cái gì làm chỗ quy

tựa cho giải thoát?

-- Này Bà-la-môn, Niết-bàn là chỗ quy tựa cho

giải thoát.

8) -- Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cái gì là chỗ quy

tựa cho Niết-bàn?

-- Này Bà-la-môn, câu hỏi đi quá xa (ajjhaparam) không

thể nắm được chỗ tận cùng của câu hỏi. Này Bà-la-môn, Phạm hạnh

được sống để thể nhập Niết-bàn, Phạm hạnh lấy Niết-bàn làm

mục đích, lấy Niết-bàn làm cứu cánh.

9) Rồi Bà-la-môn Unnàbha hoan hỷ, tín thọ lời

Thế Tôn thuyết, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân

bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

10) Sau khi Bà-la-môn ra đi không bao lâu, Thế Tôn

bảo các Tỷ-kheo:

11) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái nhà có nóc

nhọn, hay một giảng đường có nóc nhọn, với cửa sổ hướng về

phía Ðông, khi mặt trời mọc và các tia nắng chiếu vào ngang qua cửa

sổ, chúng dựa vào chỗ nào?

-- Chúng dựa trên bức tường phía Tây, bạch Thế

Tôn.

12) -- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, lòng tin của

Bà-la-môn Unnàbha hướng về, căn cứ, được an trú trên Như Lai. Lòng tin

ấy kiên cố, không bị Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm thiên hay một ai ở

đời có thể chiếm đoạt. Nếu trong lúc này, này các Tỷ-kheo,

Bà-la-môn Unnàbha bị mệnh chung, không có một kiết sử nào có thể

cột để kéo Bà-la-môn Unnàbha trở lui về đời này.

43. III. Sàketa (S.v,219)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàketa, tại rừng Anjana,

vườn Lộc Uyển.

2) Lúc bấy giờ, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

-- Này các Tỷ-kheo, có pháp môn nào, y theo pháp

môn ấy, năm căn tức là năm lực, và năm lực trở thành năm căn?

-- Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn

bản...

3) -- Này các Tỷ-kheo, có pháp môn, y theo pháp môn

ấy, năm căn tức là năm lực, và năm lực trở thành năm căn. Và này các

Tỷ-kheo, pháp môn ấy là gì, y theo pháp môn ấy, năm căn tức là năm lực,

và năm lực trở thành năm căn?

4) Cái gì là tín căn, này các Tỷ-kheo, cái ấy là

tín lực. Cái gì là tín lực, cái ấy là tín căn. Cái gì là tấn căn, cái

ấy là tấn lực. Cái gì là tấn lực, cái ấy là tấn căn... Cái gì là tuệ

căn, cái ấy là tuệ lực. Cái gì là tuệ lực, cái ấy là tuệ căn.

5) Ví như, này các Tỷ-kheo, một con sông thiên

về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông,

và giữa con sông có hòn đảo. Này các Tỷ-kheo, có pháp môn, y theo pháp

môn ấy, dòng con sông ấy được tính là một. Nhưng này các Tỷ-kheo, lại

có pháp môn, y theo pháp môn ấy, dòng con sông ấy được tính là hai.

6) Và này các Tỷ-kheo, pháp môn ấy là gì, y theo

pháp môn ấy, được tính là một? Này các Tỳ-kheo, nước cuối phía Ðông và

nước cuối phía Tây của hòn đảo ấy được tính là một dòng. Này các

Tỷ-kheo, đây là pháp môn, y theo pháp môn ấy, dòng con sông ấy được

tính là một.

7) Và này các Tỷ-kheo, pháp môn ấy là gì, y theo

pháp môn ấy, dòng con sông ấy được tính là hai? Này các Tỷ-kheo, nước

cuối phía Bắc và nước cuối phía Nam của hòn đảo ấy được tính là hai

dòng. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn, y theo pháp môn ấy, dòng sông

ấy được tính là hai.

8) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái gì là tín căn,

cái ấy là tín lực. Cái gì là tín lực, cái ấy là tín căn... Cái gì là

tuệ căn, cái ấy là tuệ lực. Cái gì là tuệ lực, cái ấy là

tuệ căn.

9) Này các Tỷ-kheo, do tu tập, do làm cho sung mãn

năm căn này, Tỷ-kheo đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại,

với thắng trí tự mình chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải

thoát, không có lậu hoặc.

44. IV. Pubbakotthaka (Ngôi nhà phía Ðông) (S.v,220)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Pubbakotthaka.

2) Tại đấy, Thế Tôn bảo Tôn giả Sàriputta:

3) -- Ông có tin không, này Sàriputta, tín căn được tu

tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục

đích, lấy bất tử làm cứu cánh...? Ông có tin không, này Sàriputta, tuệ

căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất

tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh?

4) -- Ở đây, bạch Thế Tôn, con không đi với

lòng tin của Thế Tôn, rằng tín căn được tu tập, được làm cho sung mãn,

thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu

cánh... tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào

bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh. Với những ai,

bạch Thế Tôn, không chứng trí, không thấy, không hiểu, không chứng

ngộ, không đạt tới với trí tuệ; họ cần đi với lòng tin của kẻ khác

(tin rằng) : "Tín căn... tuệ căn được tu tập, được làm cho sung

mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm

cứu cánh". Còn với những ai, bạch Thế Tôn, đã chứng tri, đã thấy,

đã hiểu, đã chứng ngộ, đã đạt tới với trí tuệ; những người ấy,

ở đây, không có nghi ngờ, không có phân vân (tin rằng): "Tín căn...

tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử,

lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh". Còn con, bạch

Thế Tôn, đã chứng tri, đã thấy, đã hiểu, đã chứng ngộ, đã đạt

tới với trí tuệ; con ở đây, không có nghi ngờ, không có phân vân (tin

rằng): "Tín căn... tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn,

thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu

cánh".

5) -- Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Với những ai,

này Sàriputta, không chứng tri, không thấy, không hiểu, không chứng ngộ,

không đạt tới với trí tuệ; ở đây, họ cần đi với lòng tin của kẻ

khác (tin rằng): "Tín căn... tuệ căn được tu tập, được làm cho sung

mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm

cứu cánh". Và còn với những ai, này Sàriputta, đã chứng tri, đã thấy,

đã hiểu, đã chứng ngộ, đã đạt tới với trí tuệ; những người ấy,

ở đây không có nghi ngờ, không có phân vân (tin rằng): "Tín căn...

tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử,

lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh".

45. V. Vườn Phía Ðông (1) (S.v, 222)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Ðông Viên, ở

lầu đài của mẹ Migàra.

2) Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

-- Bao nhiêu căn được tu tập, được làm cho sung mãn,

này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc có

thể trả lời với chánh trí rằng: "Sanh đã tận... không còn trở lui

trạng thái này nữa"?

-- Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn

bản...

3) -- Do tu tập, do làm cho sung mãn chỉ một căn, này

các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, có

thể trả lời với chánh trí rằng: "Sanh đã tận... không còn trở lui

trạng thái này nữa". Một căn ấy là căn gì?

4) Với vị Thánh đệ tử có trí tuệ, này các

Tỷ-kheo, tất nhiên (tadanvayà) tín được an trú, tất nhiên tinh tấn được

an trú, tất nhiên niệm được an trú, tất nhiên định được an trú.

5) Do tu tập, do làm cho sung mãn chỉ một căn này, này

các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, có

thể trả lời với chánh trí rằng: "Sanh đã tận... không còn trở lui

trạng thái này nữa".

46. VI. Vườn Phía Ðông (2) (S.v, 222)

1) Nhân duyên như trên.

2) -- Bao nhiên căn được tu tập, được làm cho sung

mãn, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc

có thể trả lời với chánh trí rằng: "Sanh đã tận... không còn trở

lui trạng thái này nữa"?

-- Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn

bản...

3) -- Hai căn được tu tập, được làm cho sung mãn, này

các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, có

thể trả lời với chánh trí rằng: "Sanh đã tận... không còn trở lui

trạng thái này nữa". Thế nào là hai?

4) Thánh trí tuệ và Thánh giải thoát. Cái gì trong

vị ấy, này các Tỷ-kheo, là Thánh trí tuệ, cái ấy là tuệ căn.

Cái gì trong vị ấy, này các Tỷ-kheo, là Thánh giải thoát, cái ấy là

định căn.

5) Hai căn này được tu tập, được làm cho sung mãn,

này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, có

thể trả lời với chánh trí rằng: "Sanh đã tận... không còn trở lui

trạng thái này nữa".

47. VII. Vườn Phía Ðông (3). (S.v, 223)

1) Nhân duyên như trên.

2) -- Có bao nhiêu căn được tu tập, được làm cho sung

mãn, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc

có thể trả lời với chánh trí rằng: "Sanh đã tận... không còn trở

lui trạng thái này nữa"?

-- Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn

bản...

3-5) ... (như trên, chỉ khác là kinh này nói đến

bốn căn tức tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn...)

48. VIII. Vườn Phía Ðông (4) (S.iv,223)

... (như kinh trước, chỉ khác là đây chỉ năm căn tức

tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn) ...

49. IX. Pindolo (Kẻ tìm tòi các đống rác)

(S.iv,224)#

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, tại khu vườn

Ghosita.

2) Lúc bấy giờ, Tôn giả Pindolabhàradvàja tuyên bố với

chánh trí như sau: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên

làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa. Ta rõ biết như

vậy".

3) Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế

Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một

bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Tôn giả Pindolabhàradvàja đã tuyên bố với chánh

trí như sau: "Ta rõ biết rằng: Sanh đã tận... không còn trở lui trạng

thái này nữa". Do thấy lý do gì (althavasam), bạch Thế Tôn, Tôn

giả Pindolabhàradvàja lại tuyên bố với chánh trí rằng: "Ta rõ biết:

Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa"?

4) -- Do tu tập, do làm cho sung mãn ba căn, này các

Tỷ-kheo, khiến Tỷ-kheo Pindolabhàradvàja tuyên bố với chánh trí

rằng: "Ta rõ biết: Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này

nữa". Ba căn ấy là gì?

5) Niệm căn, định căn, tuệ căn.

6) Chính do tu tập, do làm cho sung mãn ba căn này, này

các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo Pindolabhàradvàja đã tuyên bố với

chánh trí rằng: "Ta rõ biết: Sanh đã tận... không còn trở lui trạng

thái này nữa".

7) Và này các Tỷ-kheo, ba căn này, chúng đi

đến tận cùng ở đâu? Tận cùng đi đến đoạn diệt. Ði đến

đoạn diệt cái gì? Ði đến đoạn diệt gì? -- Sanh già và chết.

Vì thấy sanh già và chết đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, nên

Tỷ-kheo Pindolabhàradvàja đã tuyên bố với chánh trí rằng: "Ta rõ

biết: Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm,

không còn trở lui trạng thái này nữa".

50. X. Tín, hay Ngôi Chợ (S.v,225)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Anga, tại

thị trấn của dân chúng Anga tên là Apana.

2) Tại đấy, Thế Tôn bảo Tôn giả Sàriputta:

-- Này Sàriputta, có vị Thánh đệ tử nào đi

đến nhứt tâm và hoàn toàn tin tưởng ở Như Lai; vị ấy có thể có

phân vân hay nghi ngờ đối với Như Lai, hay đối với lời giảng dạy của Như

Lai?

3) -- Vị Thánh đệ tử nào, bạch Thế Tôn, đi

đến nhứt tâm và hoàn toàn tin tưởng ở Như Lai; vị ấy không có thể

phân vân hay nghi ngờ đối với Như Lai, hay đối với lời giảng dạy của Như

Lai. Với vị Thánh đệ tử có lòng tin, được chờ đợi rằng: Vị ấy sẽ

trú tinh cần, tinh tấn để đoạn tận các pháp bất thiện, để làm

sanh khởi các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, tinh tấn, không có quăng

bỏ gánh nặng đối với thiện pháp.

4) Sự tinh tấn của vị ấy, bạch Thế Tôn, là tấn

căn của vị ấy. Với vị Thánh đệ tử có lòng tin và tinh cần, tinh tấn,

bạch Thế Tôn, được chờ đợi rằng: Vị ấy có niệm, thành tựu

niệm tuệ tối thắng, ức niệm, tùy niệm những điều làm đã

lâu, nói đã lâu ngày.

5) Sự niệm của vị ấy, bạch Thế Tôn, là

niệm căn của vị ấy. Với vị Thánh đệ tử có lòng tin, tinh cần, tinh

tấn, với niệm được an trú, bạch Thế Tôn, được chờ đợi rằng: Sau

khi từ bỏ pháp sở duyên, vị ấy sẽ được định, được nhứt tâm.

6) Ðịnh của vị ấy, bạch Thế Tôn, là định căn

của vị ấy. Với vị Thánh đệ tử có lòng tin, an trú chánh niệm, với

tâm Thiền định, bạch Thế Tôn, được chờ đợi như sau: Vị ấy rõ

biết rằng vô thỉ là luân hồi, khởi điểm đầu tiên không thể chỉ

rõ. Chúng sanh bị vô minh che lấp, bị khát ái trói buộc, lưu chuyển luân

hồi. Sự ly tham, đoạn diệt vô minh không có dư tàn, ổ nhóm u ám ấy, là

tịch tịnh của vị này, là thù thắng của vị này, tức là sự tịnh chỉ tất cả

hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn tận tham ái, ly tham, đoạn diệt,

Niết-bàn.

7) Trí tuệ của vị ấy, bạch Thế Tôn, là tuệ

căn của vị ấy. Vị Thánh đệ tử có lòng tin ấy, tinh tấn, tinh cần như

vậy; ức niệm, ức niệm như vậy; định tĩnh, định tĩnh như vậy; rõ

biết, rõ biết như vậy; lòng thâm tín như sau sanh khởi: "Những

pháp này mà trước kia ta từng được nghe, nay ta trú, tự thân chứng đạt

những pháp ấy. Nay với trí tuệ, ta thể nhập chúng, ta thấy chúng rõ

ràng".

8) Lòng tin của vị ấy, bạch Thế Tôn, là tín căn

của vị ấy.

9) -- Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Vị Thánh

đệ tử nào, này Sàriputta, đi đến nhứt tâm và hoàn toàn tin tưởng

ở Như Lai; vị ấy không có phân vân, không có nghi ngờ gì đối với Như Lai,

hay đối với lời dạy của Như Lai. Vị Thánh đệ tử nào có lòng tin, này

Sàriputta, được chờ đợi như sau: Vị ấy sẽ trú tinh cần, tinh tấn, để

đoạn tận các pháp bất thiện, để làm sanh khởi các thiện pháp,

nỗ lực, kiên trì tinh tấn, không quăng bỏ gánh nặng đối với thiện

pháp.

10-13) Sự tinh tấn của vị ấy, này Sàriputta, là tấn

căn của vị ấy. Với vị Thánh đệ tử có lòng tin và tinh cần, tinh tấn,

này Sàriputta... Vị Thánh đệ tử có lòng tin ấy, tinh cần, tinh tấn như

vậy; rõ biết, rõ biết như vậy; lòng thâm tín như sau sanh khởi:

"Những pháp này trước kia ta từng được nghe, nay ta trú, tự thân chứng

đạt những pháp ấy. Nay với trí tuệ, ta thể nhập chúng, ta thấy chúng

rõ ràng".

14) Lòng tin của vị ấy, này Sàriputta, tức là tín căn

của vị ấy.

VI. Phẩm Thứ Sáu

51. I. Sàlà (S.v,227)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kosala, tại

một làng Bà-la-môn tên Sàlà.

2) Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo...

3) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, trong các loài bàng

sanh, con sư tử, vua các loài thú, được xem là tối thượng, tức là về

sức mạnh, về tốc lực, về dõng mãnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,

trong các pháp thuộc phần giác ngộ, tuệ căn được xem là tối thượng,

tức là về giác ngộ. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp

thuộc phần giác ngộ?

4) Tín căn, này các Tỷ-kheo, là pháp thuộc phần

giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ. Tấn căn là pháp thuộc phần giác ngộ,

vì đưa đến giác ngộ. Niệm căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì

đưa đến giác ngộ. Ðịnh căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa

đến giác ngộ. Tuệ căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến

giác ngộ.

5) Ví như, này các Tỷ-kheo, trong các loài bàng

sanh, con sư tử, vua các loài thú, được xem là tối thượng, tức là về

sức mạnh, về tốc lực, về dõng mãnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,

trong các pháp thuộc phần giác ngộ, tuệ căn được xem là tối thượng,

tức là về giác ngộ.

52. II. Mallikà (Tạp 26,13, Ðại 2,183b) (S.v,228)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Mallikà,

tại một thị trấn của dân chúng Mallikà tên là Uruvelakappa.

2) Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo...

3) -- Cho đến khi nào Thánh trí chưa khởi lên nơi

vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, bốn căn chưa

được đẳng trú (santhiti), cho đến khi ấy, bốn căn chưa được an trú

(avatthiti). Và cho đến khi nào Thánh trí khởi lên nơi Thánh đệ tử,

này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, bốn căn được đẳng trú, cho

đến khi ấy, bốn căn được an trú.

4) Ví như, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào xà

ngang của một nhà có mái nhọn chưa được gác qua, cho đến khi ấy,

các kèo nhà chưa được đẳng trú, cho đến khi ấy, các kèo nhà chưa

được an trú. Và này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào xà ngang của một

nóc nhà có mái nhọn được gác qua, cho đến khi ấy, các kèo nhà

được đẳng trú, cho đến khi ấy, các kèo nhà được an trú. Cũng vậy,

này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào Thánh trí chưa khởi lên nơi vị

Thánh đệ tử, cho đến khi ấy, bốn căn chưa được đẳng trú, cho

đến khi ấy, bốn căn chưa được an trú. Và cho đến khi nào Thánh trí

khởi lên nơi vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy,

bốn căn được đẳng trú, cho đến khi ấy, bốn căn được an trú. Thế

nào là bốn? Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn.

5) Với vị Thánh đệ tử có trí tuệ, này các

Tỷ-kheo, tất nhiên lòng tin được đẳng trú, tất nhiên tinh tấn được

đẳng trú, tất nhiên niệm được đẳng trú, tất nhiên định được đẳng

trú.

53. III. Hữu Học (S.v,229)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, tại khu vườn

Ghosita.

2) Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

-- Có pháp môn nào, này các Tỷ-kheo, y cứ pháp môn

ấy, Tỷ-kheo hữu học đứng trên hữu học địa có thể rõ

biết: "Tôi là bậc hữu học", Tỷ-kheo vô học (asekha)

đứng trên vô học địa có thể rõ biết: "Tôi là bậc vô

học"?

-- Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn

bản...

3) -- Có pháp môn, này các Tỷ-kheo, y cứ pháp môn

ấy, Tỷ-kheo hữu học đứng trên hữu học địa có thể rõ

biết: "Tôi là bậc hữu học", Tỷ-kheo vô học đứng trên

vô học địa, có thể rõ biết: "Tôi là bậc vô học".

4) Và này các Tỷ-kheo, pháp môn ấy là gì, y cứ

pháp môn ấy, Tỷ-kheo hữu học trú trên hữu học địa rõ biết:

"Tôi là bậc hữu học". Ở đây, này các Tỷ-kheo,

Tỷ-kheo hữu học như thật rõ biết: "Ðây là khổ", như

thật rõ biết : "Ðây là khổ tập khởi", như thật rõ biết:

"Ðây là khổ đoạn diệt", như thật rõ biết: "Ðây là con

đường đưa đến khổ đoạn diệt". Ðây là pháp môn, y cứ pháp

môn ấy, Tỷ-kheo hữu học đứng trên hữu học địa rõ biết:

"Tôi là bậc hữu học".

5) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hữu học

suy nghĩ như sau: "Ngoài Tăng chúng này, có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào

khác có thể thuyết pháp thực như vậy, chân như vậy, như thị như

vậy, như Thế Tôn hay không?". Và vị ấy rõ biết như sau:

"Ngoài Tăng chúng này, không có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác có

thể thuyết pháp thực như vậy, chân như vậy, như thị như vậy, như

Thế Tôn". Ðây là pháp môn, này các Tỷ-kheo, y cứ pháp môn ấy,

Tỷ-kheo hữu học đứng trên hữu học địa rõ biết: "Tôi là

bậc hữu học".

6) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hữu học

rõ biết năm căn: tín căn... tuệ căn. Nhưng về sanh thú, về

tối thắng, về quả, về mục đích của chúng, vị ấy không có thể

trú, tự thân thông đạt được, và không thể với trí tuệ, thông suốt

chúng và thấy chúng rõ ràng. Ðây là pháp môn, này các Tỷ-kheo... rõ

biết: "Tôi là bậc hữu học".

7) Và này các Tỷ-kheo, pháp môn ấy là gì, y cứ

pháp môn ấy, Tỷ-kheo vô học đứng trên vô học địa rõ biết:

"Ta là bậc vô học"? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo

vô học rõ biết năm căn: tín căn... tuệ căn với sanh thú của

chúng, với tối thắng của chúng, với quả của chúng, với mục đích của chúng.

Và vị ấy trú, với tự thân thông đạt được, và với trí tuệ thông suốt

chúng và thấy chúng rõ ràng. Ðây là pháp môn, này các Tỷ-kheo, y cứ

pháp môn ấy, Tỷ-kheo vô học đứng trên vô học địa rõ biết:

"Tôi là bậc vô học".

8) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vô học

rõ biết sáu căn: nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn,

ý căn. Vị ấy rõ biết: "Sáu căn này được đoạn diệt, không

có dư tàn, toàn bộ và toàn diện. Và sẽ không có sáu căn khác khởi

lên, tại một chỗ nào và như thế nào". Vị ấy rõ biết như

vậy. Ðây là pháp môn, này các Tỷ-kheo, do pháp môn ấy, Tỷ-kheo vô

học đứng trên vô học địa, rõ biết: "Tôi là bậc vô

học".

54. IV. Vết Chân (S.v,234)

1) ...

2)-- Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có các bàn chân

của loài hữu tình bộ hành (jangalànam pànànam), tất cả bàn chân ấy nằm

gọn trong bàn chân con voi. Bàn chân con voi được xem là tối thượng, trong

các loại bàn chân, tức là về to lớn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong

tất cả bàn chân nào (padàni) đưa đến giác ngộ, tuệ căn được xem

là tối thượng về phương diện giác ngộ.

3) Và này các Tỷ-kheo, những bàn chân nào đưa

đến giác ngộ? Tín căn, này các Tỷ-kheo, là bàn chân đưa đến

giác ngộ. Tấn căn... niệm căn... định căn... tuệ căn là bàn chân

đưa đến giác ngộ.

4) Ví như, này các Tỷ-kheo, trong bất cứ loại chân

nào của những loài bộ hành, tất cả loại chân đều nằm gọn trong bàn

chân của con voi. Bàn chân con voi được xem là tối thượng trong các loại bàn

chân, tức là về to lớn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có bàn chân

nào đưa đến giác ngộ, tuệ căn được xem là tối thượng trong tất

cả bàn chân, tức là về giác ngộ.

55. V. Lõi Cây (S.v,231)

1) ...

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những lõi

hương nào, cây chiên-đàn đỏ được xem là tối thượng trong tất cả lõi

hương. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những pháp thuộc phần giác

ngộ, tuệ căn là pháp tối thượng trong tất cả pháp ấy, tức là về

phần giác ngộ.

3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp

thuộc phần giác ngộ? Tín căn, này các Tỷ-kheo, là pháp thuộc phần giác

ngộ, pháp ấy đưa đến giác ngộ... Tuệ căn là pháp thuộc phần giác

ngộ, pháp ấy đưa đến giác ngộ.

4) Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những lõi

hương nào, cây chiên-đàn đỏ được xem là tối thượng trong các lõi

hương. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, tuệ căn được xem là tối thượng

trong các pháp ấy, tức là về giác ngộ.

56. VI. Y Chỉ , An Trú (S.v,232)

1) Tại Sàvatthi...

2) -- Tỷ-kheo y chỉ một pháp, này các Tỷ-kheo,

năm căn được tu tập, được khéo tu tập. Một pháp ấy là gì? Là không

phóng dật.

3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp không

phóng dật? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hộ trì tâm đối với

các lậu hoặc và các pháp hữu lậu. Do vị ấy hộ trì tâm đối với các lậu

hoặc và các pháp hữu lậu, nên tín căn được tu tập đi đến viên mãn...

tuệ căn được tu tập đi đến viên mãn.

4) Tỷ-kheo y chỉ một pháp như vậy, này các

Tỷ-kheo, năm căn được tu tập, đi đến viên mãn.

57. VII. Phạm Thiên (S.v,232)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Uruvela, trên bờ sông

Neranjara, dưới cây bàng Ajapàla, khi vừa mới giác ngộ.

2) Rồi Thế Tôn trong khi độc cư Thiền định,

tâm tư suy tưởng sau đây được khởi lên: "Năm căn được tu tập,

được làm sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy

bất tử làm cứu cánh. Thế nào là năm? Tín căn được tu tập, được làm

cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử

làm cứu cánh. Tấn căn... Niệm căn... Ðịnh căn... Tuệ căn được tu

tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục

đích, lấy bất tử làm cứu cánh. Năm căn này được tu tập, được làm cho

sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử

làm cứu cánh".

3) Rồi Phạm thiên Sahampati với tâm của mình biết

được tâm tư suy tưởng của Thế Tôn, ví như người lực sĩ duỗi bàn

tay đang co lại, hay co lại bàn tay đang duỗi ra, cũng vậy, Phạm thiên

biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Thế Tôn.

4) Rồi Phạm thiên Sahampati, đắp thượng y vào một bên

vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

-- Thưa vậy là phải, bạch Thế Tôn. Thưa vậy là

phải, bạch Thiện Thệ. Năm căn được tu tập, được làm cho sung mãn,

thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu

cánh. Thế nào là năm? Tín căn được tu tập, được làm cho sung mãn,

thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu

cánh... Tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào

bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh.

5) Thuở xưa, bạch Thế Tôn, con sống Phạm hạnh trong

thời ngài Kassapa Chánh đẳng Chánh giác. Tại đấy mọi người biết con

là: "Tỷ-kheo Sahaka, Tỷ-kheo Sahaka". Và con, bạch Thế Tôn,

nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn năm căn này, sau khi từ bỏ dục tham đối với

các dục, sau khi thân hoại mạng chung, con được sanh lên thiện thú, Phạm

thiên giới. Tại đấy, họ gọi con là: "Phạm thiên Sahampati, Phạm

thiên Sahampati".

6) Như vậy là phải, bạch Thế Tôn. Như vậy là phải,

bạch Thiện Thệ. Con biết như sau, con thấy như sau: "Năm căn

này được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất

tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh".

58. VIII. Hang Con Gấu (S.v,233)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại

Gijjhakuuta (núi Linh Thứu) trong hang Con Gấu (suukarakhatà).

2) Tại đấy, Thế Tôn bảo Tôn giả Sàriputta:

-- Do thấy lý do gì, này Sàriputta, Tỷ-kheo đã

đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay

lời giảng dạy của Như Lai?

-- Vì thấy vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, bạch

Thế Tôn, nên Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối

thượng tôn kính đối với Như Lai, hay lời giảng dạy của Như Lai.

3) -- Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Do thấy vô

thượng an ổn, khỏi các khổ ách, này Sàriputta, nên Tỷ-kheo đã đoạn tận

các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay lời giảng

dạy của Như Lai.

4) Thế nào là vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách,

này Sàriputta, do thấy vậy, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự

tối thượng tôn kính đối với Như Lai hay lời giảng dạy của Như Lai?

5) -- Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã

đoạn tận các lậu hoặc tu tập tín căn, đưa đến an tịnh, đưa đến

giác ngộ... tấn căn... niệm căn... định căn... tu tập tuệ căn, đưa

đến an tịnh, đưa đến giác ngộ. Ðây là vô thượng an ổn, khỏi các

khổ ách, bạch Thế Tôn, do thấy vậy, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu

hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay lời giảng dạy của

Như Lai.

6) -- Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Cái này là vô

thượng an ổn, khỏi các khổ ách, này Sàriputta, do thấy vậy, Tỷ-kheo đã

đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay

đối với lời giảng dạy của Như Lai.

7) Và này Sàriputta, thế nào là sự tối thượng tôn

kính mà Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn

kính đối với Như Lai hay đối với lời giảng dạy của Như Lai?

8) -- Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã

đoạn tận các lậu hoặc sống tôn trọng, cung kính bậc Ðạo Sư; sống tôn

trọng, cung kính Pháp; sống tôn trọng, cung kính chúng Tăng; sống tôn

trọng, cung kính học giới; sống tôn trọng, cung kính Thiền

định. Ðây là sự tối thượng tôn kính, bạch Thế Tôn, mà Tỷ-kheo đã

đoạn tận các lậu hoặc; bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai,

hay lời giảng dạy của Như Lai.

9) -- Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Cái này là

tối thượng tôn kính mà Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự

tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay đối với lời giảng dạy của Như

Lai.

59. IX Sanh (1) (S.v,235)

1) Tại Sàvatthi...

2) -- Năm căn này, này các Tỷ-kheo, được tu tập,

được làm cho sung mãn, nếu chưa sanh khởi, sẽ được sanh khởi, nhưng

không thể không có sự hiện hữu của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng

Giác.

3) Thế nào là năm? Tín căn, tấn căn, niệm căn,

định căn, tuệ căn. Năm căn này, này các Tỷ-kheo, được tu tập,

được làm cho sung mãn, nếu chưa sanh khởi, sẽ được sanh khởi, nhưng

không thể không có sự hiện hữu của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng

Giác.

60. X. Sanh (2) (S.v,235)

1-2) Tại Sàvatthi. Tại đấy, Thế Tôn nói như sau:

3-4) -- (Như kinh trên, chỉ khác, ở đây là không

thể không có sự hiện hữu giới luật của bậc Thiện Thệ) ...

VII. Phẩm Giác Phần

61. I. Kiết Sử (S.v,236)

1) Tại Sàvatthi...

2) -- Có năm căn này, này các Tỷ-kheo, được tu

tập, được làm cho sung mãn, đưa đến đoạn tận các kiết sử.

62. II. Tùy Miên (S.v,236)

1-2) ... đưa đến sự nhổ sạch các tùy miên.

63. III. Liễu Tri hay Con Ðường Ra Khỏi (S.v,236)

1-2) ... đưa đến liễu tri con đường ra khỏi.

64. IV. Ðoạn Diệt Các Lậu Hoặc (S.v,236)

1) ...

2) ... đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc.

3) -- Thế nào là năm? Tín căn... tuệ căn. Năm

căn này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa

đến đoạn tận các kiết sử, đưa đến nhổ sạch các tùy miên,

đưa đến liễu tri con đường ra khỏi, đưa đến đoạn diệt các

lậu hoặc.

65. V. Hai Quả (Tạp 27.23,27, Ðại 2,196b) (S.v,236)

1) ...

2) -- Có năm căn này, này các Tỷ-kheo. Thế nào

là năm? Tín căn... tuệ căn. Này các Tỷ-kheo, có năm căn này.

3) Do tu tập, làm cho sung mãn năm căn này, này các

Tỷ-kheo, một trong hai quả được chờ đợi như sau: Ngay trong hiện tại

được chánh trí; hay nếu có dư tàn, được quả Bất lai.

66. VI. Bảy Lợi Ích (S.v,237)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào

là năm? Tín căn... tuệ căn. Này các Tỷ-kheo, có năm căn này.

3) Do tu tập, làm cho sung mãn năm căn này, bảy quả,

bảy lợi ích được chờ đợi. Thế nào là bảy quả, bảy lợi ích?

4) Ngay trong hiện tại, lập tức (patihacca) thành tựu

chánh trí. Nếu ngay trong hiện tại không lập tức thành tựu chánh trí,

thời khi lâm chung, thành tựu được chánh trí. Nếu ngay trong hiện tại

không lập tức thành tựu chánh trí, thời sau khi đoạn diệt năm hạ phần

kiết sử, chứng được Trung gian Bát-niết-bàn, chứng được Tổn hại

Bát-niết-bàn (Upahacca), chứng được Vô hành Niết-bàn, chứng được

Hữu hành Niết-bàn, chứng được Thượng lưu, đạt được Sắc cứu cánh

thiên.

Do tu tập, làm cho sung mãn năm căn này, này các

Tỷ-kheo, được chờ đợi bảy quả này, bảy lợi ích này.

67. VII. Cây (1) (S.v,237)

1) ...

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, trong tất cả cây

sống ở Jambudipa (Diêm-phù-đề), cây Jambu (Diêm-phù) được xem là tối

thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những pháp thuộc phần giác

ngộ, tuệ căn được xem là tối thượng, tức là về giác ngộ.

3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp

thuộc phần giác ngộ? Tín căn, này các Tỷ-kheo, là pháp thuộc phần giác

ngộ, vì pháp ấy đưa đến giác ngộ... Tấn căn... Niệm căn... Ðịnh

căn... Tuệ căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì pháp ấy đưa đến

giác ngộ. Ví như, này các Tỷ-kheo, những cây sống trên cõi

Diêm-phù-đề, cây Jambu được xem là tối thượng. Cũng vậy, này các

Tỷ-kheo, phàm có những pháp thuộc phần giác ngộ, tuệ căn được xem

là tối thượng, tức là về giác ngộ.

68. VIII. Cây (2) (S.v,238)

1) ...

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những cây

của chư Thiên cõi Ba mươi ba, cây Pàricchattaka được xem là tối thượng.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những pháp thuộc phần giác ngộ,

tuệ căn được xem là tối thượng, tức là về giác ngộ.

3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp

thuộc phần giác ngộ? Tín căn, này các Tỷ-kheo, là pháp thuộc phần giác

ngộ... Tuệ căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì pháp ấy đưa đến

giác ngộ. Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những cây gì của chư Thiên

cõi Ba mươi ba, cây Pàaricchattaka được xem là tối thượng. Cũng vậy, này

các Tỷ-kheo, phàm có những pháp thuộc phần giác ngộ, tuệ căn được

xem là tối thượng, tức là về giác ngộ.

69. IX. Cây (3) (S.v,238)

1-2-3) ... (như kinh 68, chỉ khác, ở đây là những cây

của các loài A-tu-la và cây Cittapàtali được xem là tối thượng, với những

thay đổi cần thiết).

70. X. Cây (4) (S.v,238)

1-2-3) ... (như kinh 68, chỉ khác, ở đây là những cây

của các Supannà (Kim xí điểu) và cây Kuutasimbali được xem là tối

thượng, với những thay đổi cần thiết) ...

VIII. Phẩm Sông

Hằng Rộng Thuyết

71. I. Viễn Ly (S.v,239)

1) ...

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng thiên

về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông.

Cũng vậy, Tỷ-kheo tu tập năm căn, thiên về Niết-bàn, hướng về

Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn. Và thế nào... xuôi về

Niết-bàn?

3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập

tín căn liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ

đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ... tấn căn... niệm căn...

định căn.... tuệ căn.... hướng đến từ bỏ.

4) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo... thiên

về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.

72-82 II-XII. (S.v,240)

... (giống như chương Ðạo Tương Ưng) ...

IX. Phẩm Không Phóng

Dật

83-92 I-X Viễn Ly (S.v,240)

Gồm các kinh:

Như Lai, Chân, Nóc Nhà, Gốc, Lõi, Hạ Sanh Hoa, Vua, Mặt

Trăng, Mặt Trời, Y; tất cả là mười. (Ðược thuyết rộng như các căn).

X. Phẩm Làm Việc

Cần Sức Mạnh

93-104. I-XII Viễn Ly (S.v,240)

Gồm các kinh:

Lực, Chủng Tử, Rồng, Cây, Ghè, Mặt Trời, Hư Không, hai

kinh Mây, Thuyền, Khách, Sông. (Ðược thuyết rộng như Căn Tương Ưng).

XI. Phẩm Tầm Cầu

105-117. I-XII. Viễn Ly (S.v,240)

Gồm các kinh:

Tầm Cầu, Mạn, Lậu Hoặc, Hữu, Khổ (ba kinh), Chướng

Ngại, Cấu Uế, Dao Ðộng, Thọ, Khát ái. (Ðược thuyết rộng như Căn

Tương Ưng)

XII. Phẩm Bộc Lưu

118-127. I-IX. Viễn Ly (S.v,241)

128. X. Thượng Phần (S.v,241)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có năm thượng phần kiết

sử này. Thế nào là năm? Sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử, vô minh.

Này các Tỷ-kheo, đây là năm thượng phần kiết sử. Ðể thắng tri,

để liễu tri, để đoạn diệt, để đoạn tận các thượng phần

kiết sử này, năm căn cần phải tu tập. Thế nào là năm?

3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập

tín căn liên hệ đến viễn ly... tu tập tuệ căn liên hệ

đến viễn ly... hướng đến từ bỏ. Này các Tỷ-kheo, để thắng

tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, năm

căn này cần phải tu tập.

(Rộng thuyết như Căn Tương Ưng, phẩm Bộc Lưu)#

XIII. Phẩm Sông Hằng

Rộng Thuyết

129. I Tham (S.v,241)

1) ...

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng...

3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập

tín căn với cứu cánh nhiếp phục tham, với cứu cánh nhiếp phục sân,

với cứu cánh nhiếp phục si... tu tập tuệ căn với cứu cánh... nhiếp

phục si. Cũng vậy, Tỷ-kheo... thiên về Niết-bàn, hướng về

Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.

130-140. II-XII. (S.v,242)

(Tóm tắt đề kinh : Sáu thiên về phía Ðông,

sáu thiên về biển, sông Hằng thành mười hai, phẩm được đặt tên

như vậy).

XIV. Phẩm Không Phóng

Dật

141-150. I-X. Tham (S.v,242)

XV. Phẩm Việc Làm

Cần Sức Mạnh

151-162. I-XII. Tham (S.v,212)

XVI. Phẩm Tầm Cầu

163-175. I-XII. Tham (S.v,242)

XVII. Phẩm Bộc Lưu

176-184. I-IX. Tham (S.v,242)

185. X. Thượng Phần Kiết Sử (S.v,242)

1) ...

2) -- Có năm thượng phần kiết sử này. Thế nào

là năm? Sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử, vô minh. Này các Tỷ-kheo,

đây là năm thượng phần kiết sử. Này các Tỷ-kheo, để thắng tri,

để liễu tri, để đoạn diệt, để đoạn tận năm thượng phần

kiết sử này, năm căn này cần phải tu tập.

(Phẩm Bộc Lưu được thuyết rộng theo Căn Tương

Ưng về nhiếp phục tham)