Kinh Tương Ưng Bộ · Saṃyutta Nikāya

[42] Chương VIII — Tương Ưng Thôn Trưởng

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Tương Ưng Bộ

Kinh Trung Bộ · Bài 4

[42] Chương VIII — Tương Ưng Thôn Trưởng#

Tập IV - Thiên Sáu Xứ

Tương Ưng Bộ -

Samyutta Nikaya

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Tập IV - Thiên Sáu Xứ

[42] Chương VIII

Tương Ưng Thôn Trưởng

-ooOoo-

I. Canda (Tàn bạo) (S.iv,305)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana

(Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).

2) Rồi thôn trưởng Canda bạch Thế Tôn:

-- Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì ở đây, có người

được gọi tên là tàn bạo? Do nhân gì, do duyên gì ở đây, có người

được gọi là hiền lành (sùrato)?

4) -- Ở đây, này Thôn trưởng, có người tham dục (ràyo)

chưa được đoạn tận. Do tham dục (ràga) chưa được đoạn tận, người ấy bị

người khác làm cho phẫn nộ. Do bị người khác làm phẫn nộ nên phẫn nộ

hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là tàn bạo. Sân chưa được

đoạn tận. Do sân chưa được đoạn tận, người ấy bị người khác làm cho

phẫn nộ. Do bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ hiện hành. Người

ấy do vậy được gọi là tàn bạo. Si chưa được đoạn tận. Do si chưa

được đoạn tận, người ấy bị người khác làm cho phẫn nộ. Do bị người

khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ hiện hành. Người ấy do vậy được

gọi là tàn bạo.

Này Thôn trưởng, đây là nhân, đây là duyên, ở đây, có

người được gọi tên là tàn bạo.

5) Nhưng ở đây, này Thôn trưởng, có người tham dục được

đoạn tận. Do tham dục được đoạn tận nên người ấy không bị người khác

làm cho phẫn nộ. Do không bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ không

hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là hiền lành. Sân được

đoạn tận. Do sân đã được đoạn tận nên người ấy không bị người khác

làm cho phẫn nộ. Do không bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ không

hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là hiền lành. Si đã được

đoạn tận. Do si đã đoạn tận nên người ấy không bị người khác làm cho

phẫn nộ. Do không bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ không hiện

hành. Người ấy do vậy được gọi là hiền lành.

Này Thôn trưởng, đây là nhân, đây là duyên, ở đây, có

người được gọi tên là hiền lành.

6) Ðược nghe nói vậy, thôn trưởng Canda bạch Thế Tôn:

-- Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu,

bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị

quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc

hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể

thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương

tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp

và chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay trở đi

cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!

II. Puta (S.iv,306)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Trúc

Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2) Rồi Talaputa, nhà vũ kịch sư (natagàmani), đi đến Thế

Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi một bên, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:

-- Con được nghe, bạch Thế Tôn, các vị Ðạo sư, Tổ sư

thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: "Ai là nhà vũ kịch,

trên sân khấu giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần

chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh

cọng trú với chư Thiên hay cười (pahàsadeve)". Ở đây, Thế

Tôn nói như thế nào?

-- Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có

hỏi Ta về điều này.

4) Lần thứ hai, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, con có nghe các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở

xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: "Ai là nhà vũ kịch, trên sân

khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng

vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cọng

trú với chư Thiên hay cười". Ở đây, Thế Tôn nói như thế

nào?

-- Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có

hỏi Ta về điều này.

5) Lần thứ ba, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, con có nghe các vị Ðạo sư, các vị Tổ sư

thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: "Ai là nhà vũ kịch,

trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm

quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ

sanh cộng trú với chư Thiên hay cười". Ở đây, Thế Tôn nói như

thế nào?

-- Thật sự, Ta đã không chấp nhận và nói rằng: "Thôi vừa

rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều

này". Tuy vậy, Ta sẽ trả lời cho Ông.

6) Này Thôn trưởng, đối với những loài hữu tình thuở trước

chưa đoạn trừ lòng tham, còn bị lòng tham trói buộc, nếu nhà vũ kịch

trên sân khấu hay trong kịch trường, tập trung những pháp hấp dẫn, thời

khiến lòng tham của họ càng tăng thịnh. Này Thôn trưởng, đối với

những loại hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng sân, còn bị lòng sân

trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường tập trung

những pháp liên hệ đến sân, thời khiến cho lòng sân của họ

càng tăng thịnh. Này Thôn trưởng, đối với loài hữu tình thuở trước chưa

đoạn trừ lòng si, còn bị lòng si trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân

khấu hay trong kịch trường tập trung những pháp liên hệ đến si, thời

khiến cho lòng si của họ càng tăng thịnh.

7) Người ấy tự mình đắm say, phóng dật, làm người khác đắm

say và phóng dật, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh trong địa ngục Hý

tiếu (Pahàso). Nếu người ấy có (tà) kiến như sau: "Người vũ

kịch nào, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự

thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng

chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười". Như vậy là tà kiến.

Ai rơi vào tà kiến, này Thôn trưởng, Ta nói rằng người ấy chỉ có một

trong hai sanh thú: một là địa ngục, hai là súc sanh.

8) Khi được nói vậy, vũ kịch sư Talaputa phát khóc và rơi

nước mắt.

-- Chính vì vậy, này Thôn trưởng, Ta đã không chấp nhận và

nói: "Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta

về điều này".

-- Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì Thế Tôn đã nói

như vậy. Nhưng, bạch Thế Tôn, vì con đã bị các Ðạo sư, các Tổ sư vũ

kịch thời trước đã lâu ngày lừa dối con, dối trá con, dắt dẫn lầm lạc con

rằng: "Người vũ kịch nào trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các

điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau

khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên hay cười".

9) Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu,

bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị

quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc

hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể

thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương

tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp

và chúng Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, được

thọ đại giới!

10) Vũ kịch sư Talaputa được xuất gia với Thế Tôn, được

thọ đại giới.

11) Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Talaputa... trở

thành một vị A-la-hán nữa.

III. Yodhàjivo (Kẻ chiến đấu) (S.vi,308)

1) ...

2) Rồi chiến đấu sư Yodhàjivo đi đến Thế Tôn; sau

khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi xuống một bên, chiến đấu sư bạch Thế Tôn:

-- Con được nghe, bạch Thế Tôn, các vị Ðạo sư, Tổ sư

thuở xưa nói về các chiến đấu viên, nói rằng: "Vị chiến

đấu viên nào trong chiến trường, hăng say, tinh tấn; do hăng hay tinh tấn

như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại; vị ấy, sau khi thân hoại mạng

chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità". Ở

đây, Thế Tôn nói như thế nào?

-- Thôi vừa rồi, này Chiến đấu sư. Hãy dừng ở đây. Chớ

có hỏi Ta về điều này.

4) Lần thứ hai...

5) Lần thứ ba, chiến đấu sư bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, con được nghe các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở

xưa nói về các chiến đấu viên, nói rằng: "Vị chiến đấu

viên nào trong chiến trường hăng say, tinh tấn; do hăng say, tinh tấn như

vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại, vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung,

được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità". Ở đây,

Thế Tôn nói như thế nào?

-- Thật sự, Ta đã không chấp nhận và nói rằng: "Thôi

vừa rồi, này Chiến đấu sư. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về

điều này". Tuy vậy, Ta sẽ trả lời.

6) Này Chiến đấu sư, đối với chiến đấu viên nào trong

chiến trường hăng say, tinh tấn, tâm của vị ấy trước đó phải có những

ý nghĩ thấp kém, ác ý, ác nguyện như sau: "Mong rằng các loài

hữu tình ấy bị giết, bị bắt, bị tàn sát, bị tàn hại!", hay:

"Mong họ chớ có tồn tại!" Do vị ấy hăng hái, tinh tấn như vậy,

nếu vị ấy bị người khác tàn sát, đánh bại, thời người ấy, sau khi

thân hoại mạng chung, bị sanh vào địa ngục tên là Saràjità. Nếu người

ấy có tà kiến như sau: "Vị chiến đấu viên nào giữa chiến

trường hăng say, tinh tấn; do hăng say, tinh tấn như vậy, bị người khác tàn

sát, đánh bại, vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú

với chư Thiên tên là Saràjità". Như vậy là tà kiến. Ai rơi vào tà

kiến này, này Chiến đấu sư, Ta nói rằng, người ấy chỉ có một trong

hai sanh thú: Một là địa ngục, hai là súc sanh.

7) Khi được nói vậy, vị chiến đấu sư phát khóc, rơi

nước mắt.

-- Chính vì vậy, này Chiến đấu sư, Ta không chấp nhận và nói:

"Thôi vừa rồi, này Chiến đấu sư. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta

về điều này".

-- Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì Thế Tôn đã nói

như vậy. Nhưng, bạch Thế Tôn, vì con đã bị các Ðạo sư, các Tổ sư,

các chiến đấu viên thuở trước đã lâu ngày lừa dối con, dối trá con,

dắt dẫn con lầm lạc, nói rằng: "Ai là người chiến đấu viên giữa

các chiến trường hăng say, tinh tấn; do hăng say, tinh tấn như vậy, bị

người khác tàn sát, đánh bại, vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được

sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità".

8) Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!... Từ nay cho đến

mệnh chung con trọn đời quy ngưỡng!

IV. Voi (S.iv,310)

1) ...

2-8) (Giống như kinh trước, chỉ khác đấy là vị tượng sư hay

người nài voi).

V. Ngựa (S.iv,310)

1-8) (Giống như kinh trước, chỉ khác đấy là vị mã sư hay

người huấn luyện ngựa).

VI. Người Ðất Phương Tây hay Người Ðã Chết (S.iv,311)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvàrikamba.

2) Rồi thôn trưởng Asibandhakaputta đi đến Thế Tôn; sau

khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế

Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn trú đất phương Tây,

mang theo bình nước, đeo vòng hoa huệ (sevàla), nhờ nước được thanh

tịnh. Những người thờ lửa, khi một người đã chết, đã mệnh chung,

họ nhắc bổng và mang vị ấy ra ngoài (uyyàpenti), kêu tên vị ấy lên, và

dẫn vị ấy vào Thiên giới. Còn Thế Tôn, bạch Thế Tôn, là bậc

A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Thế Tôn có thể làm như thế nào cho

toàn thể thế giới, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên

thiện thú, Thiên giới, cõi đời này?

4) -- Vậy, này Thôn trưởng, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông

kham nhẫn hãy trả lời.

5) Này Thôn trưởng, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, một

người sát sanh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo,

nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo

tà kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu

khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: "Mong người này,

sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi

đời này!" Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, người ấy do nhân cầu

khẩn của đại quần chúng ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi

cùng khắp, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sanh lên thiện

thú, Thiên giới, cõi đời này?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

6) -- Ví như, này Thôn trưởng, có người lấy một tảng đá lớn

ném xuống một hồ nước sâu. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ

họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng:

"Hãy đứng lên, tảng đá lớn! Hãy nổi lên, tảng đá lớn! Hãy trôi vào

bờ, này tảng đá lớn!" Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, tảng đá

lớn ấy do nhân cầu khẩn của đại quần chúng ấy, hay do nhân tán dương, hay

do nhân chấp tay đi cùng khắp, có thể trồi lên, hay nổi lên, hay trôi dạt

vào bờ không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Cũng vậy, này Thôn trưởng, người nào sát sanh, lấy của

không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời

độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo tà kiến. Rồi một

quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp

tay đi cùng khắp và nói rằng: "Mong người này, sau khi thân hoại mạng

chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này!" Nhưng

người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú,

đọa xứ, địa ngục.

7) Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Ở đây, có

người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong

các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ

bỏ nói lời phù phiếm, không có tham, không có sân hận, có chánh tri

kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn,

tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: "Mong người này, sau khi

thân hoại mạng chung, được sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa

ngục!" Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, người ấy do nhân cầu

khẩn của quần chúng đông đảo ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp

tay đi cùng khắp, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác

thú, đọa xứ, địa ngục không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

8) -- Ví như, này Thôn trưởng, có người nhận chìm một ghè

sữa đông (sappi) hay một ghè dầu vào trong một hồ nước sâu rồi đập bể

ghè ấy. Ở đây, ghè ấy trở thành từng miếng vụn, hay từng mảnh vụn

và chìm xuống nước. Còn sữa đông hay dầu thời nổi lên trên. Rồi một quần

chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi

cùng khắp và nói: "Hãy chìm xuống, này sữa đông và dầu! Hãy chìm sâu

xuống, này sữa đông và dầu. Hãy chìm xuống tận đáy, này sữa đông và

dầu!". Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, sữa đông ấy, dầu ấy, có

do nhân cầu khẩn của đám quần chúng đông đảo ấy, do nhân tán dương, do

nhân chấp tay đi cùng khắp của quần chúng đông đảo ấy nên bị chìm xuống,

hay chìm sâu xuống, hay đi xuống tận đáy không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Cũng vậy, này Thôn trưởng, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ

lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ

nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không

có tham, không có sân, theo chánh tri kiến. Rồi một quần chúng đông đảo,

tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói:

"Mong rằng người này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác

thú, đọa xứ, địa ngục!" Nhưng người ấy sau khi thân hoại mạng

chung, sẽ sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.

9) Khi nghe nói vậy, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế

Tôn:

-- Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi

diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những

gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị

lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có

thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều

phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y

Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ

nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!

VII. Thuyết Pháp (S.iv,314)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvàrikamba.

2) Rồi thôn trưởng Asibandhakaputta đi đến Thế Tôn; sau

khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế

Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn sống vì hạnh phúc, vì

lòng thương tưởng đối với tất cả chúng sanh và loài hữu tình?

-- Ðúng vậy, này Thôn trưởng, Như Lai sống vì hạnh phúc, vì

lòng thương tưởng đối với tất cả chúng sanh và loài hữu tình.

4) -- Nhưng vì sao, bạch Thế Tôn, đối với một số người,

Thế Tôn thuyết pháp một cách hoàn toàn trọn vẹn; đối với một số

người, Thế Tôn thuyết pháp không hoàn toàn trọn vẹn như vậy?

-- Vậy, này Thôn trưởng, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông, Ông kham nhẫn

như thế nào, hãy trả lời như vậy.

5) Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, ở đây, một người

cày ruộng có ba thửa ruộng, một loại tốt, một loại bậc trung, một loại xấu,

đất cứng, có chất muối, đất độc. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng?

Người cày ruộng ấy muốn gieo hột giống, thời gieo ở thuở ruộng nào trước,

ruộng tốt, hay ruộng bậc trung, hay ruộng loại xấu, đất cứng, có chất muối,

đất độc?

-- Bạch Thế Tôn, người gia chủ cày ruộng muốn gieo hột

giống, gieo vào thửa ruộng tốt; sau khi gieo ở đấy xong, lại gieo vào thửa

ruộng loại trung; sau khi gieo ở đấy xong, vị ấy có thể gieo hay không gieo

hạt giống vào thửa ruộng loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc. Vì

sao? Tối thiểu cũng có thể làm món ăn cho các trâu bò.

6) -- Ví như thửa ruộng tốt, này Thôn trưởng, là các

Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni của Ta. Ðối với họ, Ta thuyết pháp sơ

thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta nói lên cho

họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao?

Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang

ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.

7) Ví như thửa ruộng loại trung, này Thôn trưởng, là các vị

nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Ta. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung

thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta nói lên cho họ biết

đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng,

vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm

chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.

8) Ví như thửa ruộng xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc,

này Thôn trưởng, là các ngoại đạo Sa-môn, Bà-la-môn, du sĩ. Ta thuyết

pháp cho họ sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn,

trình bày cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh

tịnh. Vì sao? Vì rằng, nếu họ hiểu được chỉ một câu, như vậy

là họ được hạnh phúc, an lạc lâu dài.

9) Ví như, này Thôn trưởng, một người có ba bình nước, một

bình nước không nứt rạn, không chảy nước, không thấm nước; một bình nước

không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước; một bình nước nứt rạn, chảy

nước, thấm nước. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Nếu có người

muốn chứa nước, người ấy sẽ chứa nước ở đâu trước, người ấy chứa bình

nước không nứt rạn, không chảy nước, không thấm nước, hay bình nước không

nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước, hay bình nước nứt rạn, chảy nước

và thấm nước?

-- Bạch Thế Tôn, người ấy muốn chứa nước, người ấy sẽ

chứa vào bình nước không có nứt rạn, không có chảy nước, không có thấm

nước. Sau khi chứa nước vào đấy rồi, người ấy mới chứa nước vào bình

nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước. Sau khi chứa nước vào

đấy rồi, người ấy mới chứa nước hay không chứa nước vào bình nước bị

nứt rạn, bị chảy nước, bị thấm nước. Vì sao? Vì ít nhứt cũng có thể

dùng để rửa vật dụng.

10) -- Ví dụ với bình nước không nứt rạn, không chảy nước,

không thấm nước, này Thôn trưởng, là các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni của Ta.

Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có

nghĩa, có văn, trình bày đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh.

Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm

hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.

11) Ví dụ với cái bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước

và thấm nước, này Thôn trưởng, là các nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Ta. Ta

thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có

nghĩa có văn, trình bày đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn,thanh tịnh.

Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang

ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.

12) Ví dụ với cái bình nước bị nứt rạn, bị chảy nước, bị

thấm nước, này Thôn trưởng, là các ngoại đạo Sa-môn, Bà-la-môn, du sĩ. Ta

thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có

nghĩa có văn, trình bày cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn

viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Vì rằng, nếu họ chỉ hiểu được một

câu, như vậy là họ được hạnh phúc, an lạc lâu dài.

13) Khi được nghe nói vậy, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch

Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!... từ nay cho đến

mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

VIII. Vỏ Ốc (S.iv,317)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvàrikamba.

2) Rồi Thôn trưởng Asibandhakaputta, đệ tử của phái

Ni-kiền-tử đi đến Thế Tôn...

3) Thế Tôn nói với thôn trưởng Asiband-hakaputta đang ngồi

một bên:

-- Này Thôn trưởng, Nigantha Nàtaputta thuyết pháp như

thế nào cho chúng đệ tử?

4) -- Bạch Thế Tôn, Nigantha Nàtaputta thuyết pháp cho

chúng đệ tử như sau: "Ai sát hại sanh mạng, tất cả phải sanh vào

đọa xứ, địa ngục. Ai lấy của không cho, tất cả phải sanh vào đọa

xứ, địa ngục. Ai sống tà hạnh trong các dục, tất cả phải sanh vào đọa

xứ, địa ngục. Ai nói láo, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Phàm

sống tối đa, tối đa như thế nào, chiều hướng ấy sanh thú của họ

sẽ như vậy". Như vậy, bạch Thế Tôn, Nigantha Nàtaputta thuyết pháp

cho các đệ tử.

-- Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào, này Thôn trưởng,

chiều hướng ấy sanh thú của họ sẽ như vậy. Nếu sự thật là vậy,

thời sẽ không có ai phải sanh vào đọa xứ, địa ngục như lời của Nigantha

Nàtaputta.

5) Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Có người sát hại

sanh mạng, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời nào là nhiều

hơn, thời vị ấy sát hại sanh mạng, hay thời vị ấy không sát hại sanh mạng?

-- Bạch Thế Tôn, có người sát hại sanh mạng, ban đêm hay

ban ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời này là ít hơn, là thời vị ấy sát hại

sanh mạng. Và thời kia là nhiều hơn, thời vị ấy không sát hại sanh mạng.

-- Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào, này Thôn trưởng,

chiều hướng ấy sanh thú của vị ấy sẽ như vậy. Nếu sự thật là vậy,

thời sẽ không có ai phải sanh vào đọa xứ, địa ngục như lời của Nigantha

Nàtaputta.

6) Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Có người lấy của

không cho, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời nào là nhiều

hơn, thời vị ấy lấy của không cho hay thời vị ấy không lấy của không cho?

-- Bạch Thế Tôn, có người lấy của không cho, ban đêm hay

ban ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời này là ít hơn, thời vị ấy lấy của

không cho. Và thời kia là nhiều hơn, thời vị ấy không lấy của không cho.

-- Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào, này Thôn trưởng,

chiều hướng ấy sanh thú của vị ấy sẽ như vậy. Nếu sự thật là vậy,

thời sẽ không có ai sanh vào đọa xứ, địa ngục như lời của Nigantha

Nàtaputta.

7) Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Có người sống theo

tà hạnh trong các dục, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời nào

là nhiều hơn, thời vị ấy sống theo tà hạnh trong các dục, hay thời vị ấy

không sống theo tà hạnh trong các dục?

-- Bạch Thế Tôn, có người sống theo tà hạnh trong các dục,

ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời này là ít hơn, thời vị ấy

sống theo tà hạnh trong các dục. Và thời kia là nhiều hơn, thời vị ấy

không sống theo tà hạnh trong các dục.

-- Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào, này Thôn trưởng,

chiều hướng ấy sanh thú của vị ấy sẽ như vậy. Nếu sự thật là vậy,

thời không có ai sẽ sanh vào đọa xứ, địa ngục như lời của Nigantha

Nàtaputta.

8) Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Có người sống nói

láo, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng nói. Thời nào là nhiều hơn,

thời vị ấy nói láo, hay thời vị ấy không nói láo?

-- Bạch Thế Tôn, có người nói láo, ban đêm hay ban ngày,

hay thỉnh thoảng nói. Thời này là ít hơn, thời vị ấy nói láo. Và thời kia

là nhiều hơn, thời vị ấy không nói láo.

-- Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào, này Thôn trưởng,

chiều hướng ấy sanh thú của vị ấy sẽ như vậy. Nếu sự thật là vậy,

thời không ai sẽ sanh vào đọa xứ, địa ngục như lời của Nigantha

Nàtaputta.

9) Ở đây, này Thôn trưởng, có vị Ðạo sư nói như sau,

thấy như sau: "Ai sát hại sanh mạng, tất cả phải sanh vào đọa xứ,

địa ngục. Ai lấy của không cho, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục.

Ai sống theo tà hạnh trong các dục, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa

ngục. Ai nói láo, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục". Này Thôn

trưởng, người đệ tử đặt lòng tin tưởng vào vị Ðạo sư ấy.

10) Vị ấy suy nghĩ: "Thầy ta nói như sau, thấy như sau: 'Ai

sát hại sanh mạng tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục'. Nay ta có sát hại

một sanh mạng. Như vậy, ta phải sanh vào đọa xứ, địa ngục". Vị ấy chấp trước

tà kiến ấy. Này Thôn trưởng, không đoạn tận lời ấy, không đoạn tận tâm ấy,

không từ bỏ kiến ấy, vị ấy chắc chắn sẽ rơi vào địa ngục như vậy. " Thầy ta

nói như sau, thấy như sau: 'Ai lấy của không cho, tất cả phải sanh vào đọa

xứ, địa ngục'. Nay ta có lấy của không cho. Như vậy, ta phải sanh vào đọa

xứ, địa ngục." Vị ấy chấp trước tà kiến ấy. Này Thôn trưởng, không đoạn tận

lời ấy, không đoạn tận tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, vị ấy chắc chắn rơi vào

đọa xứ, địa ngục như vậy. "Thầy ta nói như sau, thấy như sau: 'Ai sống theo

tà hạnh trong các dục, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục'. Nay ta sống

theo tà hạnh trong các dục. Như vậy, ta phải sanh vào đọa xứ, địa ngục". Vị

ấy chấp trước tà kiến ấy. Này Thôn trưởng, không đoạn tận lời ấy, không đoạn

tận tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, vị ấy chắc chắn rơi vào đọa xứ, địa ngục

như vậy. "Thầy ta nói như sau, thấy như sau: 'Ai nói láo, tất cả phải sanh

vào đọa xứ, địa ngục'. Nay ta nói láo. Như vậy, ta phải sanh vào đọa xứ, địa

ngục". Vị ấy chấp trước tà kiến ấy. Này Thôn trưởng, không đoạn tận lời ấy,

không đoạn tận tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, vị ấy chắc chắn rơi vào đọa xứ,

địa ngục như vậy.

11) Ở đây, này Thôn trưởng, Như Lai sanh ra ở đời, bậc

Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian

Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế

Tôn; Như Lai dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích sát sanh và

nói: "Chớ có sát sanh"; chỉ trích, công kích lấy của không cho và

nói: "Chớ có lấy của không cho"; chỉ trích, công kích sống theo tà

hạnh trong các dục và nói: "Chớ có sống theo tà hạnh trong các dục";

chỉ trích, công kích nói láo và nói: "Chớ có nói láo". Này Thôn

trưởng, người đệ tử đặt lòng tin tưởng vào vị Ðạo Sư ấy. Vị ấy suy

tư như sau:

12) "Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích,

công kích sát sanh và nói: 'Chớ có sát sanh". Nay ta có sát hại như

thế này, hay như thế kia. Như vậy là không nên (sutthu), như vậy là

không tốt. Và do duyên ấy ta có thể hối hận: 'Ác nghiệp ta làm, nay

sẽ không làm nữa'". Người ấy do suy tư như vậy, liền từ bỏ sát

sanh. Và trong tương lai, người ấy đình chỉ sát sanh. Như vậy, ác nghiệp

ấy được vượt qua.

13) "Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích,

công kích lấy của không cho và nói: 'Chớ có lấy của không cho". Nay ta

có lấy của không cho như thế này, hay như thế kia. Như vậy là không

nên, như vậy là không tốt. Và do duyên ấy, ta có thể hối hận: 'Ác

nghiệp ta làm, nay sẽ không làm nữa'. Người ấy do suy tư như vậy,

liền từ bỏ lấy của không cho. Và trong tương lai, người ấy đình chỉ

lấy của không cho. Như vậy, ác nghiệp ấy được vượt qua.

14) "Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích,

công kích sống theo tà hạnh trong các dục.."..

15) "Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích,

công kích nói láo.."..

16) Do đoạn tận sát sanh, người ấy trở thành người không sát

sanh. Do đoạn tận lấy của không cho, người ấy trở thành người không lấy

của không cho. Do đoạn tận sống theo tà hạnh trong các dục, người ấy trở

thành người không sống theo tà hạnh trong các dục. Do đoạn tận nói láo,

người ấy trở thành người từ bỏ nói láo. Do đoạn tận nói hai lưỡi, người

ấy trở thành người từ bỏ nói hai lưỡi. Do đoạn tận nói lời độc ác,

người ấy trở thành người từ bỏ nói lời độc ác. Do đoạn tận lời nói phù

phiếm, người ấy trở thành người từ bỏ nói lời phù phiếm. Ðoạn tận

tham, không có tham lam, đoạn tận sân, không có sân tâm, đoạn tận tà

kiến, người ấy trở thành người theo chánh kiến. Này Thôn trưởng, vị

Thánh đệ tử ấy từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ si, chánh niệm, tỉnh

giác, với tâm câu hữu với từ, sống biến mãn một phương. Như vậy,

phương thứ hai. Như vậy, phương thứ ba. Như vậy, phương thứ tư. Như vậy,

cùng khắp thế giới, trên dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ,

cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ,

quảng đại vô biên, không hận, không sân.

17) Ví như, này Thôn trưởng, một người lực sĩ thổi tù và

(bằng con ốc), với ít mệt nhọc làm cho bốn phương được biết.

Cũng vậy, này Thôn trưởng, tu tập từ tâm giải thoát như vậy, làm cho tăng

trưởng như vậy, phàm nghiệp làm có hạn lượng, ở đây, sẽ không còn dư

tàn; ở đây, sẽ không còn tồn tại. Này Thôn trưởng, vị Thánh đệ tử

ấy, như vậy từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ si, chánh niệm, tỉnh giác, với

tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... với tâm câu hữu với

xả, sống biến mãn một phương. Như vậy, phương thứ hai. Như vậy, phương

thứ ba. Như vậy, phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới trên dưới

bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới vị ấy an trú

biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không

sân.

18) Ví như, này Thôn trưởng, một người lực sĩ thổi tù và,

với ít mệt nhọc làm cho bốn phương được biết. Cũng vậy, này

Thôn trưởng, tu tập xả tâm giải thoát như vậy, làm cho tăng trưởng như

vậy, phàm nghiệp làm có hạn lượng, ở đây, sẽ không còn dư tàn; ở

đây, sẽ không còn tồn tại.

19) Khi được nghe nói vậy, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch

Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!... từ nay cho đến

mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

IX. Gia Tộc (S.iv,322)

1) Một thời Thế Tôn du hành ở giữa dân tộc Kosala cùng với

đại chúng Tỷ-kheo và đi đến Nàlandà. Tại đây, Thế Tôn trú ở

Nàlandà, tại rừng Pàvarikamba.

2) Lúc bấy giờ, Nàlandà đang bị đói kém, khó để lo

miệng sống (dviihitikà), xương trắng đầy tràn, lúa chỉ còn cọng rạ

(sàlàkàvuttà).

3) Lúc bấy giờ Nigantha Nàtaputta sống ở Nàlandà với đại chúng

Nigantha.

4) Rồi Thôn trưởng Asibandhakaputta, đệ tử của Nigantha

Nàtaputta, đi đến Nigantha Nàtaputta; sau khi đến đảnh lễ Nigantha

Nàtaputta rồi ngồi xuống một bên.

5) Nigantha Nàtaputtta nói với thôn trưởng Asibandhakaputta đang

ngồi một bên:

-- Hãy đến, này Thôn trưởng, hãy đến cật vấn Sa-môn

Gotama. Như vậy, tiếng đồn tốt đẹp sẽ được lan khắp về Ông:

"Sa-môn Gotama, một vị có thần lực như vậy, có uy lực như vậy, đã bị

thôn trưởng Asibandhakaputta cật vấn!"

-- Thưa Tôn giả, làm thế nào con có thể cật vấn Sa-môn

Gotama, một vị có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy?

6) -- Hãy đến, này Thôn trưởng, hãy đến Sa-môn Gotama;

sau khi đến, nói với Sa-môn Gotama như sau:

"-- Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn dùng nhiều

phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán bảo vệ

các gia đình, tán thán từ mẫn với các gia đình"?

Này Thôn trưởng, được hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả

lời như sau:

"-- Ðúng như vậy, này Thôn trưởng, Như Lai dùng nhiều

phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán sự bảo

vệ, tán thán lòng từ mẫn".

Thời ông hỏi Sa-môn Gotama:

"-- Vậy vì sao, bạch Thế Tôn, Thế Tôn cùng đại

chúng Tỷ-kheo lại du hành tại Nàlandà đói kém, khó để lo miệng

sống, xương trắng đầy tràn, lúa chỉ còn cọng rạ? Như vậy, Thế Tôn

thực hành tàn phá các gia đình, thực hành sự bất hạnh cho các gia đình,

thực hành sự tổn hại cho các gia đình".

Như vậy, này Thôn trưởng, bị ông hỏi với câu hỏi có hai đầu

nhọn, Sa-môn Gotama không có thể nhổ ra, cũng như không có thể

nuốt xuống.

7) -- Thưa vâng, Tôn giả.

Thôn trưởng Asibandhakaputta vâng đáp Nigantha Nàtaputta, từ

chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Nigantha Nàtaputta, thân phía hữu hướng

về người rồi đi đến Thế Tôn; sau khi đến, thôn trưởng đảnh

lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

8) Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Asiband-hakaputta bạch Thế

Tôn:

-- Có phải, bạch Thế Tôn, Thế Tôn dùng nhiều phương

tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán sự bảo vệ, tán

thán lòng từ mẫn?

-- Ðúng vậy, này Thôn trưởng, Như Lai dùng nhiều phương

tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán sự bảo vệ, tán

thán lòng từ mẫn.

-- Vậy vì sao, bạch Thế Tôn, Thế Tôn cùng đại chúng

Tỷ-kheo lại du hành tại Nàlandà đói kém, khó để lo miệng sống,

xương trắng đầy tràn, lúa chỉ còn cọng rạ? Như vậy, Thế Tôn thực

hành tàn phá các gia đình, thực hành bất hạnh cho các gia đình, thực hành

tổn hại cho các gia đình.

9) -- Này Thôn trưởng, Ta nhớ từ chín mươi mốt kiếp về

trước, Ta không hề biết đã có làm hại một gia đình cho đến một

bữa cơm nấu cúng dường. Các gia đình ấy đều rất giàu, tiền của

nhiều, tài sản nhiều, vàng bạc nhiều, vật dụng nhiều, ngũ cốc

nhiều. Tất cả tài sản ấy được thâu hoạch do bố thí, được thâu hoạch

một cách chân thật, được thâu hoạch một cách tự chế.

10) Này Thôn trưởng, có tám nhân, có tám duyên làm tổn hại

các gia đình. Do quốc vương, các gia đình đi đến tổn hại. Hay do trộm

cướp, các gia đình đi đến tổn hại. Hay do lửa, các gia đình đi

đến tổn hại. Hay do nước, các gia đình đi đến tổn hại. Hay họ

tìm không được tiền của dấu cất. Hay do biếng nhác, họ bỏ bê

công việc. Hay trong gia đình khởi lên kẻ phá hoại gia đình, người ấy

phân tán, phá hoại, làm tổn hại (vikirati vidhamati viddhamseti). Và vô thường

là thứ tám. Này Thôn trưởng, chính tám nhân, tám duyên này làm tổn hại

các gia đình.

11) Này Thôn trưởng, vì rằng tám nhân này, tám duyên này có

mặt, có hiện hữu, nếu ai nói về Ta như sau: "Thế Tôn thực

hành tàn phá các gia đình, thực hành bất hạnh cho các gia đình, thực hành

tổn hại cho các gia đình; thời này Thôn trưởng, nếu người ấy không bỏ

lời nói ấy, không bỏ tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, chắc chắn

(yathàhatam) người ấy sẽ bị ném vào địa ngục như vậy.

12) Khi được nói vậy, thôn trưởng Asiband-hakaputta bạch Thế

Tôn:

-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!... từ nay cho đến

mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

X. Manicùlam (Châu báu trên đỉnh đầu) (S.iv,325)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana

(Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2) Lúc bấy giờ trong cung vua, quần thần nhà vua đang ngồi tụ

họp, câu chuyện sau đây được khởi lên: "Các Sa-môn thuộc dòng

Thích tử được phép dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử được giữ vàng

bạc. Các Sa-môn Thích tử được nhận lấy vàng bạc".

3) Lúc bấy giờ, thôn trưởng Manicùlaka đang ngồi trong hội

chúng ấy.

4) Rồi thôn trưởng Manicùlaka thưa với hội chúng ấy: "Các

Tôn giả chớ có nói như vậy. Các Sa-môn Thích tử không được phép dùng

vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được giữ vàng bạc. Các Sa-môn Thích

tử không được nhận lấy vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử từ bỏ châu báu và vàng

bạc.

Họ đã ly khai vàng và bạc". Nhưng thôn trưởng Manicùlaka không có

thể làm cho hội chúng ấy chấp nhận.

5) Rồi thôn trưởng Manicùlaka đi đến Thế Tôn; sau khi

đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

6) Ngồi một bên, thôn trưởng Manicùlaka bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, trong cung vua, một số quần thần

nhà vua đang ngồi tụ họp, và câu chuyện sau đây được khởi lên:

"Các Sa-môn Thích tử được phép dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử

được giữ vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử được nhận lấy vàng bạc". Khi

được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với hội chúng ấy: "Các Tôn

giả chớ có nói như vậy. Các Sa-môn Thích tử không được phép dùng vàng

bạc. Các Sa-môn Thích tử không được giữ vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử

không được nhận lấy vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử từ bỏ châu báu và

vàng bạc. Họ đã ly khai vàng và bạc". Nhưng bạch Thế Tôn, con không

có thể làm cho hội chúng ấy chấp nhận.

7) Trả lời như vậy, bạch Thế Tôn, không biết con có nói

đúng lời Thế Tôn? Con không xuyên tạc Thế Tôn với điều không

thật? Con đã trả lời thuận pháp, đúng pháp và không một ai nói lời tương

ứng đúng pháp có lý do để chỉ trích?

-- Trả lời như vậy, này Thôn trưởng, Ông nói đúng lời của

Ta. Ông không xuyên tạc Ta với điều không thật. Ông đã trả lời thuận

pháp, đúng pháp và không một ai nói lời tương ứng đúng pháp có lý do

để chỉ trích.

8) Này Thôn trưởng, các Sa-môn Thích tử không được phép dùng

vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được giữ vàng bạc. Các Sa-môn Thích

tử không được nhận lấy vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử đã từ bỏ châu báu

và vàng bạc. Họ đã ly khai vàng và bạc. Ðối với ai được dùng vàng

bạc, người ấy cũng được phép dùng năm dục trưởng dưỡng. Ðối với ai được

phép dùng năm dục trưởng dưỡng, người ấy hoàn toàn thọ trì phi Sa-môn

pháp, phi Thích tử pháp. Này Thôn trưởng, Ta nói như sau: Cỏ được đi tìm

cầu bởi ai cần đến cỏ. Củi được đi tìm cầu bởi ai cần đến củi.

Cỗ xe được đi tìm cầu bởi ai cần đến cỗ xe. Người được đi

tìm cầu bởi ai cần đến người. Nhưng này Thôn trưởng, không bất cứ một

lý do gì Ta nói rằng vàng, bạc được chấp nhận, được tìm cầu.

XI. Bhadra (Hiền) hay Bhagandha-Hat- Thaha (S.iv,327)

1) Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Malla tại

Uruvelakappa, một thị trấn của dân chúng Malla.

2) Rồi thôn trưởng Bhadraka đi đến Thế Tôn; sau khi

đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Bhadraka bạch Thế Tôn:

-- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết cho con

về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ!

-- Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời quá khứ, Ta

thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng:

"Như vậy đã xảy ra trong thời quá khứ"; ở đây, Ông sẽ phân vân,

sẽ có nghi ngờ. Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời vị lai, Ta thuyết

cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: "Như vậy

sẽ xảy ra trong thời tương lai"; ở đây, Ông sẽ có phân vân, sẽ có nghi

ngờ. Nhưng nay Ta ngồi chính ở đây, này Thôn trưởng, với Ông cũng ngồi ở

đây, Ta sẽ thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ.

Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Thôn trưởng Bhadraka vâng đáp Thế Tôn.

4) Thế Tôn nói như sau:

-- Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, ở tại Uruvelakappa có

những người, nếu họ bị giết, hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay

bị chỉ trích, Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn. Ở tại Uruvelakappa có những

người, nếu họ bị giết hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ

trích, thì con có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

5) -- Này Thôn trưởng, ở tại Uruvelakappa này có những người,

nếu họ bị giết, hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích,

nhưng Ông không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn, ở tại Uruvelakappa có những

người, nếu họ bị giết, hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị

chỉ trích, nhưng con không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

-- Do nhân gì, do duyên gì, này Thôn trưởng, đối với một số

người ở tại Uruvelakappa, nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị

thiệt hại, hay bị chỉ trích, thì Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não?

Do nhân gì, do duyên gì, này Thôn trưởng, đối với một số người ở

Uruvelakappa, nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay

bị chỉ trích nhưng Ông không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não?

-- Ðối với một số người ở tại Uruvelakappa, bạch Thế Tôn,

nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ

trích, con có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não, là vì con có dục và tham đối

với họ. Nhưng đối với một số người ở tại Uruvelakappa, bạch Thế

Tôn, nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ

trích, nhưng con không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não, là vì con không có

dục và tham đối với họ.

-- Ông nói: "Con có lòng dục tham đối với họ. Con không

có lòng dục tham đối với họ". Này Thôn trưởng, có phải được

thấy, được biết, được đạt tới tức thời, được thể nhập nhờ pháp

này, Ông uốn nắn phương pháp (naya) theo phương pháp ấy đối với quá khứ,

vị lai? Nếu có khổ nào khởi lên trong quá khứ, tất cả khổ ấy khởi lên

lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ. Phàm

có khổ nào khởi lên trong tương lai, tất cả khổ ấy khởi lên lấy dục làm

căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ.

-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch

Thế Tôn! Thật là khéo nói, lời nói này của Thế Tôn: "Phàm có

khổ gì khởi lên, tất cả khổ ấy khởi lên đều lấy dục làm căn bản, lấy

dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ!"

7) Bạch Thế Tôn, con có người con trai tên là Ciravàsii,

sống xa ở đây. Khi giờ nó dậy, bạch Thế Tôn, con cử người đi và nói:

"Này Ông, hãy đi và hỏi thăm đứa trẻ Ciravàsii". Cho đến khi

người ấy trở về, bạch Thế Tôn, con ở trong tình trạng bồn chồn hồi

hộp: "Không biết đứa trẻ Ciravàsii có bệnh tật gì không?"

8) -- Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, nếu đứa trẻ

Ciravàsii của Ông bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ

trích, Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

-- Bạch Thế Tôn, nếu đứa con trai Ciravàsii của con bị

giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, hay sinh mạng bị

đổi khác, thời làm sao con không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não được?

-- Với pháp môn này, này Thôn trưởng, cần phải hiểu như

sau: Phàm có khổ nào khởi lên, tất cả khổ ấy đều lấy dục làm căn bản,

lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ.

9) Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, nếu Ông không

thấy, không nghe mẹ của Ciravàsi, Ông có lòng dục, lòng tham hay lòng ái đối

với mẹ của Ciravàsii không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Nhưng này Thôn trưởng, khi Ông thấy được, này Thôn

trưởng, khi Ông nghe được, thời Ông có lòng dục, hay lòng tham, hay lòng ái

đối với mẹ của Ciravàsi không?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

10) -- Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, nếu mẹ của

Ciravàsii bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích,

thời Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

-- Bạch Thế Tôn, nếu mẹ của Ciravàsii bị giết, hay

bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, hay mạng sống bị đổi khác,

thời làm sao con không khởi sầu, bi, khổ, ưu, não được?

-- Với pháp môn này, này Thôn trưởng, cần phải hiểu

biết như sau: Phàm có khổ gì khởi lên, tất cả khổ ấy đều lấy dục

làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của đau khổ.

XII. Ràsiya (S.iv,330)

1) ...

2) Một thời thôn trưởng Ràsiya đi đến Thế Tôn; sau khi

đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi một bên, thôn trưởng Ràsiya bạch Thế Tôn:

-- Con có nghe rằng Sa-môn Gotama chỉ trích tất cả khổ hạnh, bài

bác, chống báng hoàn toàn mọi người sống khổ hạnh, mọi lối sống

khắc khổ. Những người nói như vậy, bạch Thế Tôn, không biết có nói

đúng với lời Thế Tôn, không xuyên tạc Thế Tôn với điều không

thực, trả lời thuận pháp, đúng pháp, và không một ai nói lời tương ứng

đúng pháp có lý do để chỉ trích?

-- Này Thôn trưởng, những ai đã nói như sau: "Sa-môn Gotama

chỉ trích tất cả khổ hạnh, bài bác, chống báng hoàn toàn mọi lối sống

khắc khổ"; họ nói không đúng lời Ta nói, họ xuyên tạc Ta với

điều không thật, với điều không chơn chánh.

I

4) Có hai cực đoan mà người xuất gia không nên thực hành: Một

là say đắm dục lạc đối với các dục vọng hạ liệt, đê tiện,

phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích. Hai là

hành hạ tự thân, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến

mục đích. Từ bỏ hai cực đoan này là con đường trung đạo, đã được Như

Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí,

giác ngộ, Niết-bàn.

5) Thế nào là con đường trung đạo ấy, này Thôn trưởng,

đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an

tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Ðây là con đường Thánh đạo Tám

ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp,

chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ðây là con đường

trung đạo, này Thôn trưởng, được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác

thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

II

6) Này Thôn trưởng, có ba hạng người hưởng thọ vật dục

có mặt ở trong đời. Thế nào là ba?

II.(i)

7) Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật

dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi

pháp và dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ,

không san sẻ, không làm các công đức.

II.(ii)

8) Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật

dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi

pháp và dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, không san

sẻ, không làm các công đức.

II.(iii)

9) Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ

vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản

phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ

và làm các công đức.

II.(iv)

10) Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật

dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức

mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không

dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, không

san sẻ, không làm các công đức.

II.(v)

11) Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật

dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức

mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không

dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, không san sẻ, không

làm các công đức.

II.(vi)

12) Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật

dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức

mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không

dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ, làm các

công đức.

II.(vii)

13) Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật

dục, tìm cầu tài sản hợp pháp, không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản

hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không

hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.

II.(viii)

14) Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật

dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài

sản một cách hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng,

hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.

II.(ix)

15) Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật

dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài

sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan

hỷ, san sẻ, và làm các công đức. Nhưng người ấy hưởng thọ với tâm

tham trước, đắm say, phạm tội, không thấy sự nguy hiểm, không với trí

tuệ xuất ly.

II.(x)

16) Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật

dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài

sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan

hỷ, san sẻ và làm các công đức. Nhưng người ấy hưởng thọ với tâm

không tham trước, không say đắm, không phạm tội, thấy sự nguy hiểm và

với trí huệ xuất ly.

III

III.(i)

17) Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật

dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi

pháp và dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ,

không san sẻ, không làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này,

này Thôn trưởng, về ba phương diện bị chỉ trích. Về ba phương

diện nào bị chỉ trích? Người ấy tìm cầu tài sản phi pháp và dùng

sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích.

Người ấy không vui sướng, không hoan hỷ, về phương diện thứ hai

này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không san sẻ, không làm các công

đức, về phương diện thứ ba này, người ấy bị chỉ trích.

Này Thôn trưởng, người hưởng thọ vật dục này về ba

phương diện bị chỉ trích.

III.(ii)

18) Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật

dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi

pháp và dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, nhưng không

san sẻ, không làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn

trưởng, về hai phương diện bị chỉ trích, về một phương diện

được tán thán. Về hai phương diện gì bị chỉ trích? Người ấy tìm

cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này,

người ấy bị chỉ trích. Người ấy không san sẻ, không làm các công đức,

về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích. Về một

phương diện gì người ấy được tán thán? Người ấy tự mình vui sướng,

hoan hỷ, về phương diện này, người ấy được tán thán.

Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai

phương diện bị chỉ trích, về một phương diện được tán thán.

III.(iii)

19) Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật

dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi

pháp và dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui vẻ, hoan hỷ, san sẻ và làm

các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về

một phương diện bị chỉ trích, về hai phương diện được tán

thán. Về một phương diện gì người ấy bị chỉ trích? Người ấy tìm

cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về phương diện này, người

ấy bị chỉ trích. Về phương diện gì người ấy được tán thán?

Người ấy tự mình vui vẻ, hoan hỷ, về phương diện thứ nhất này,

người ấy được tán thán. Người ấy san sẻ và làm các công đức, về

phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán.

Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một

phương diện bị chỉ trích, về hai phương diện được tán thán.

III.(iv)

20) Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật

dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức

mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không

dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, không

san sẻ, không làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn

trưởng, về một phương diện được tán thán, về ba phương

diện bị chỉ trích. Một phương diện gì được tán thán? Người ấy

tìm cầu tài sản một cách hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương

diện này, người ấy được tán thán. Về ba phương diện nào người

ấy bị chỉ trích? Người ấy tìm cầu tài sản một cách phi pháp và dùng sức

mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người

ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, về phương diện thứ hai

này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không san sẻ, không làm các công

đức, về phương diện thứ ba này, người ấy bị chỉ trích.

Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một

phương diện được tán thán, về ba phương diện bị chỉ trích.

III.(v)

21) Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật

dục, tìm cầu tài sản một cách hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không

dùng sức mạnh, tự mình vui sướng, hoan hỷ, nhưng không san sẻ, không làm

các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về

hai phương diện được tán thán, về hai phương diện bị chỉ trích.

Về hai phương diện nào người ấy được tán thán? Người ấy tìm cầu

tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất

này, người ấy được tán thán. Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ,

về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán. Về hai

phương diện nào người ấy bị chỉ trích? Người ấy tìm cầu tài sản phi

pháp và dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị

chỉ trích. Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương

diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích.

Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai

phương diện được tán thán, về hai phương diện bị chỉ trích.

III.(vi)

22) Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật

dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức

mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không

dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ và làm các

công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về ba

phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích.

Về ba phương diện nào được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản

hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này,

người ấy được tán thán. Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về

phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán. Người ấy san sẻ và

làm các công đức, về phương diện thứ ba này, người ấy được tán

thán. Thế nào là một phương diện người ấy bị chỉ trích? Người ấy

tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về một phương diện này,

người ấy bị chỉ trích.

Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về ba

phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích.

III.(vii)

23) Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, này Thôn

trưởng, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu

tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui

sướng, hoan hỷ, không san sẻ và không làm các công đức. Người hưởng

thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một phương diện được tán

thán, về hai phương diện bị chỉ trích. Về một phương diện

nào được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức

mạnh, về phương diện này, người ấy được tán thán. Về hai

phương diện nào người ấy bị chỉ trích? Người ấy không tự mình vui

sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ

trích. Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương

diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích.

Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một

phương diện được tán thán, về hai phương diện bị chỉ trích.

III.(viii)

24) Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, này Thôn

trưởng, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu

tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan

hỷ, không san sẻ, không làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục

này, này Thôn trưởng, về hai phương diện được tán thán, về một

phương diện bị chỉ trích. Về hai phương diện nào người ấy

được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức

mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người

ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người

ấy được tán thán. Về một phương diện nào người ấy bị chỉ trích?

Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện này,

người ấy bị chỉ trích.

Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai

phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích.

III.(xi)

25) Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật

dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài

sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan

hỷ, san sẻ và làm các công đức. Người ấy hưởng thọ các tài sản một

cách tham trước, say đắm, phạm tội, không thấy sự nguy hiểm, với trí

tuệ không xuất ly. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng,

về ba phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ

trích. Về ba phương diện nào người ấy được tán thán? Người ấy

tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện

thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người ấy tự mình vui sướng, hoan

hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán. Người

ấy san sẻ và làm các công đức, về phương diện thứ ba này, người

ấy được tán thán. Về một phương diện nào người ấy bị chỉ trích?

Người ấy hưởng thọ các tài sản ấy với tâm tham trước, say đắm, phạm tội,

không thấy sự nguy hiểm, với trí tuệ không xuất ly, về phương

diện này, người ấy bị chỉ trích.

Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về ba

phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích.

III.(x)

26) Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật

dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài

sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan

hỷ, san sẻ và làm các công đức. Người ấy hưởng thọ các tài sản

ấy, không có tham trước, không có say đắm, không có phạm tội, thấy sự nguy

hiểm và với trí tuệ xuất ly. Người hưởng thọ vật dục này, này

Thôn trưởng, về bốn phương diện được tán thán. Về bốn phương

diện nào được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không

dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán

thán. Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ

hai này, người ấy được tán thán. Người ấy san sẻ và làm các công đức,

về phương diện thứ ba này, người ấy được tán thán. Người ấy

hưởng thọ tài sản ấy không có tham trước, không có say đắm, không có

phạm tội, thấy sự nguy hiểm và với trí tuệ xuất ly, về phương diện thứ tư này, người ấy được tán thán.

Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về bốn

phương diện được tán thán.

IV

IV.(i)

27) Này Thôn trưởng, có ba hạng người tu khổ hạnh, sống khắc

khổ, có mặt hiện sống ở đời.

28) Này Thôn trưởng, có hạng người tu khổ hạnh, sống khắc

khổ, do lòng tin đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy

nghĩ rằng: "Mong rằng ta chứng được thiện pháp; mong rằng ta chứng

ngộ các Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh!".

Vị ấy tự mình hành xác, hành khổ, nhưng không chứng được thiện pháp

nào; không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc

Thánh nào.

IV.(ii)

29) Ở đây, này Thôn trưởng, có người tu khổ hạnh, sống

khắc khổ, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nghĩ

rằng: "Mong rằng ta chứng được thiện pháp ; mong rằng ta chứng ngộ

các Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh!".

Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, chứng được thiện pháp; nhưng

không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc

Thánh.

IV.(iii)

30) Ở đây, này Thôn trưởng, có người tu khổ hạnh, sống

khắc khổ, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nghĩ

rằng: "Mong rằng ta chứng được thiện pháp ; mong rằng ta chứng ngộ

các Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh!"

Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, chứng được thiện pháp; chứng ngộ

Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh.

V

V.(i)

31) Ở đây, này Thôn trưởng, có người tu khổ hạnh, sống

khắc khổ, tự mình hành xác, hành khổ, không chứng được thiện pháp;

không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc

Thánh. Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về ba

phương diện bị chỉ trích. Thế nào là về ba phương diện bị

chỉ trích? Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, về phương diện thứ

nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không chứng đắc thiện pháp,

về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không

chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh,

về phương diện thứ ba này, người ấy bị chỉ trích.

Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về

ba phương diện này bị chỉ trích.

V.(ii)

32) Ở đây, này Thôn trưởng, có người tu khổ hạnh, sống

khắc khổ, tự mình hành xác, hành khổ, chứng được thiện pháp, nhưng

không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc

Thánh. Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về hai

phương diện bị chỉ trích, về một phương diện được tán thán.

Thế nào là về hai phương diện người ấy bị chỉ trích? Người ấy

tự mình hành xác, hành khổ, về phương diện thứ nhất này, người ấy

bị chỉ trích. Người ấy không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù

thắng xứng đáng bậc Thánh, về phương diện thứ hai này, người ấy bị

chỉ trích. Thế nào là về một phương diện người ấy được tán

thán? Người ấy chứng được thiện pháp, về phương diện này,

người ấy được tán thán.

Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về

hai phương diện bị chỉ trích, về một phương diện được tán

thán.

V.(iii)

33) Ở đây, này Thôn trưởng, có người tu khổ hạnh, sống

khắc khổ, tự mình hành xác, hành khổ, chứng được thiện pháp, và chứng

ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Người tu

khổ hạnh, sống khắc khổ này về một phương diện bị chỉ trích, về

hai phương diện được tán thán. Về một phương diện nào bị chỉ

trích? Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, về phương diện này,

người ấy bị chỉ trích. Về hai phương diện nào người ấy được tán

thán? Người ấy chứng được thiện pháp, về phương diện thứ nhất

này, người ấy được tán thán. Người ấy chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri

kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, về phương diện thứ hai này,

người ấy được tán thán.

Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về

một phương diện bị chỉ trích, về hai phương diện được tán

thán.

VI

34) Này Thôn trưởng, có ba pháp thiết thực hiện tại,

không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có

khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu. Thế

nào là ba?

VI.(i)

35) Phàm người tham dục (ràga), do nhân tham dục, nghĩ đến

tự hại, nghĩ đến hại người khác, nghĩ đến hại cả hai. Khi tham dục

được đoạn tận, người ấy không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến

hại người khác, không nghĩ đến hại cả hai. Như vậy, những pháp này

thiết thực hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời,

đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí

tự mình giác hiểu.

VI.(ii)

36) Phàm người sân hận, do nhân sân hận, nghĩ đến tự hại,

nghĩ đến hại người khác, nghĩ đến hại cả hai. Khi sân hận được

đoạn tận, người ấy không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại

người khác, không nghĩ đến hại cả hai. Như vậy, những pháp này

thiết thực hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời,

đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí

tự mình giác hiểu.

VI.(iii)

37) Phàm người si mê, do nhân si mê, nghĩ đến tự hại, nghĩ

đến hại người khác, nghĩ đến hại cả hai. Khi si mê được đoạn

tận, vị ấy không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người khác,

không nghĩ đến hại cả hai. Như vậy, những pháp này thiết thực

hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để

mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác

hiểu.

Ba pháp này, này Thôn trưởng, thiết thực hiện tại,

không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có

khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

38) Khi được nghe nói vậy, thôn trưởng Ràsiya bạch Thế

Tôn:

-- Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn!... từ nay cho đến

mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!

XIII. Pàtali (Khả ý) (S.iv,340)

1) Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Koliya, tại thị

trấn của dân chúng Koliya tên là Uttara.

2) Rồi thôn trưởng Pàtaliya đi đến Thế Tôn; sau khi

đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi một bên, thôn trưởng Pàtaliya bạch Thế Tôn:

-- Con được nghe rằng, bạch Thế Tôn, Sa-môn Gotama biết

huyễn thuật. Bạch Thế Tôn, những ai nói rằng Sa-môn Gotama biết huyễn

thuật; những người ấy, bạch Thế Tôn, có nói đúng với lời Thế Tôn

hay không? Họ không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, họ

trả lời đúng pháp, tùy pháp? Và những ai nói lời tương ứng đúng pháp

không có lý do gì để chỉ trích. Bạch Thế Tôn, chúng con không

muốn chống báng Thế Tôn (abbhakkhàti).

3) -- Những ai nói rằng, này Thôn trưởng, Sa-môn Gotama biết

huyễn thuật, những người ấy nói đúng lời nói của Ta. Họ không xuyên

tạc Ta với điều không thật. Họ nói lời đúng pháp, tùy pháp. Và

những ai nói lời tương ứng đúng pháp không có lý do để chỉ trích.

4) -- Như vậy là đúng sự thật, bạch Thế Tôn tuy rằng con

không tin các vị Sa-môn, Bà-La-Môn ấy, nói rằng Sa-môn Gotama biết huyễn

thuật. Như vậy, bạch Thế Tôn, cuối cùng Sa-môn Gotama là người sống theo

huyễn thuật.

-- Ai nói rằng: "Như Lai biết huyễn thuật", người

ấy có nói rằng Như Lai là người sống theo huyễn thuật, nói rằng như vậy là

Thế Tôn, như vậy là Thiện Thệ? Vậy này Thôn trưởng, về vấn

đề này Ta sẽ hỏi Ông. Nếu có thể kham nhẫn, Ông có thể trả

lời.

I

I.(i)

5)-- Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Ông có biết,

này Thôn trưởng, các người làm thuê của dân chúng Kosala có búi tóc thòng

xuống?

-- Con có biết, bạch Thế Tôn, các người làm thuê của

dân chúng Kosala có búi tóc thòng xuống.

6) -- Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Dùng vào mục

đích gì mà những người làm thuê của dân chúng Kosala có búi tóc thòng

xuống?

-- Những người làm thuê có búi tóc thòng xuống của dân chúng

Kosala được dùng để chế ngự các người ăn trộm và để mang đi

các tin tức cho dân chúng Kosala. Ðược dùng vào mục đích ấy, bạch Thế

Tôn, là những người làm thuê có búi tóc thòng xuống của dân chúng Kosala.

7) -- Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Ông có biết

những người làm thuê có búi tóc thòng xuống của dân chúng Kosala là những

người trì giới hay là những người ác giới?

-- Con được biết, bạch Thế Tôn, những người làm thuê

có búi tóc thòng xuống của dân chúng Kosala là những người ác giới, theo ác

pháp. Nếu có những người theo ác giới, theo ác pháp ở đời, chính là

những người làm thuê có búi tóc thòng xuống của dân chúng Kosala, không có

ai khác.

8) -- Này Thôn trưởng, nếu có ai nói rằng: "Thôn

trưởng Pàlaliya biết được các người làm thuê có búi tóc thòng xuống

của dân chúng Kosala là người ác giới, theo ác pháp, thời thôn trưởng

Pàtaliya cũng là người theo ác giới, theo ác pháp", người nói như vậy

có nói một cách chân chánh không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn. Những người làm thuê có búi

tóc thòng xuống của các dân chúng Kosala là khác. Còn con là khác. Tự tánh

của những người làm thuê có búi tóc thòng xuống của dân chúng Kosala là

khác. Tự tánh của con là khác.

9) -- Này Thôn trưởng, Ông sẽ được tiếng như sau:

"Thôn trưởng Pataliya biết rằng, các người làm thuê có búi tóc

thòng xuống của dân chúng Kosala là những người ác giới, theo ác pháp. Nhưng

thôn trưởng Pataliya không phải là người có ác giới, theo ác pháp". Như

vậy, tại sao Như Lai lại không được tiếng rằng Như Lai là người

biết huyễn thuật, nhưng Như Lai không phải là người sống theo huyễn

thuật? Này Thôn trưởng, Ta rõ biết huyễn thuật và quả dị thục của huyễn

thuật. Và thực hành như thế nào mà một người làm huyễn thuật, sau khi

thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Ta rõ biết như vậy.

II.(ii)

10) Này Thôn trưởng, Ta rõ biết sát sanh và quả dị thục

của sát sanh. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào mà một

người sát sanh, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú,

đọa xứ, địa ngục.

11) Này Thôn trưởng, Ta rõ biết lấy của không cho và quả

dị thục của lấy của không cho. Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế

nào mà một người lấy của không cho, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh

vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

12) Này Thôn trưởng, Ta rõ biết sự sống tà hạnh trong các

dục và quả dị thục của sự sống theo tà hạnh trong các dục. Và Ta cũng rõ

biết sự thực hành như thế nào mà một người sống tà hạnh trong các

dục, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ,

địa ngục.

13) Này Thôn trưởng, Ta rõ biết nói láo và quả dị thục

của nói láo. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào mà một

người nói láo, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú,

đọa xứ, địa ngục.

14) Này Thôn trưởng, Ta rõ biết nói hai lưỡi và quả dị

thục của nói hai lưỡi. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào

mà một người nói hai lưỡi sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi

dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

15) Này Thôn trưởng, Ta rõ biết nói lời độc ác và quả dị

thục của nói lời độc ác. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế

nào mà một người nói lời độc ác, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh

vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

16) Này Thôn trưởng, Ta rõ biết nói lời phù phiếm và

quả dị thục của nói lời phù phiếm. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành

như thế nào mà một người nói lời phù phiếm, sau khi thân hoại mạng

chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

17) Này Thôn trưởng, Ta rõ biết lòng tham dục và quả dị

thục của lòng tham dục. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào

mà một người có lòng tham dục, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào

cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

18) Này Thôn trưởng, Ta rõ biết lòng sân hận và quả dị

thục của lòng sân hận. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào

mà một người có lòng sân hận, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào

cõi dữ, ác thú, đọa xứ, đọa ngục.

19) Này Thôn trưởng, Ta rõ biết tà kiến và quả dị thục

của tà kiến. Và Ta cũng rõ biết một người có tà kiến, sau khi

thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

20) Này Thôn trưởng, có một số Sa-môn, Bà-la-môn nói như sau,

thấy như sau: "Ai sát hại sanh mạng; tất cả, ngay trong hiện tại, cảm

thọ khổ ưu. Ai lấy của không cho; tất cả, ngay trong hiện tại, cảm

thọ khổ ưu. Ai sống tà hạnh trong các dục; tất cả, ngay trong hiện

tại, cảm thọ khổ ưu. Ai nói láo; tất cả, ngay trong hiện tại, cảm

thọ khổ ưu".

II.(i)

21) Nhưng này Thôn trưởng, ở đây, chúng ta thấy có người đeo

vòng hoa, đeo bông tai, khéo tắm, khéo thoa dầu sáp, tóc râu chải chuốt,

được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua. Về người này,

họ hỏi:

-- "Này Bạn, người này đã làm gì mà được đeo vòng hoa,

đeo bông tai, được khéo tắm, tóc râu chải chuốt, được nữ nhân phục vụ

các dục chẳng khác vị vua?"

Các Ông trả lời về người ấy như sau:

-- "Này Bạn, người này đã đập tan kẻ thù nghịch của vua

và đoạt mạng sống của kẻ đó. Nhà vua hoan hỷ đối với người ấy, nên

đã thưởng cho người ấy. Do vậy, người này được đeo vòng hoa, được đeo

bông tai, được khéo tắm, râu tóc chải chuốt, được các nữ nhân phục vụ

các dục chẳng khác vị vua".

II.(ii)

22) Nhưng này Thôn trưởng, ở đây, chúng ta thấy có người hai

tay bị trói chặt ra đằng sau bởi một sợi dây thật chắc, đầu cạo trọc,

với tiếng trống chát tai, được dẫn đi từ đường này qua đường khác,

từ ngã tư đường này qua ngã tư đường khác, rồi được dắt ra khỏi cửa

thành phía Nam, và bị chặt đầu tại cửa thành phía Nam. Về người này,

họ hỏi:

"-- Này Bạn, người này đã làm gì mà hai tay bị trói chặt

ra đằng sau bởi một sợi dây thật chắc, đầu cạo trọc, với tiếng

trống chát tai, được dẫn đi từ đường này qua đường khác, từ ngã tư

đường này qua ngã tư đường khác, rồi được dắt ra khỏi cửa thành phía

Nam, và bị chặt đầu tại cửa thành phía Nam?"

Các Ông trả lời về người ấy như sau:

"-- Này Bạn, người này là kẻ thù của vua. Người này đã

đoạt mạng sống một người đàn bà hay một người đàn ông. Do vậy, người

của vua bắt người này và đối xử như vậy với người này".

23) Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Ông có bao giờ thấy

hay nghe một người như vậy chăng?

-- Bạch Thế Tôn, con từng thấy và nghe một người như vậy,

và sẽ được nghe trong tương lai.

24) -- Ở đây, này Thôn trưởng, những người Sa-môn hay

Bà-la-môn nào nói như sau: "Ai sát hại sanh mạng; tất cả, ngay trong

hiện tại, cảm thọ khổ ưu". Họ nói đúng sự thật hay nói láo?

-- Bạch Thế Tôn, họ nói láo.

-- Và những người nói lời hư ngụy, nói láo, họ là người

trì giới hay ác giới.

-- Là người ác giới, bạch Thế Tôn.

-- Những người ác giới, theo ác pháp là tà hạnh hay chánh

hạnh?

-- Là tà hạnh, bạch Thế Tôn.

-- Những người tà hạnh là những người có tà kiến hay có

chánh kiến?

-- Là những người có tà kiến, bạch Thế Tôn.

-- Và những người có tà kiến, có hợp lý chăng khi đặt

tin tưởng vào họ?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

II.(iii)

25) -- Nhưng này Thôn trưởng, ở đây, chúng ta thấy có người

đeo vòng hoa, đeo bông tai... được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác

vị vua. Về người này, họ hỏi:

"-- Người này đã làm gì mà được đeo vòng hoa, đeo bông

tai... được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua?"

Các Ông trả lời về người ấy như sau:

"--Này Bạn, người này đã đập tan kẻ thù nghịch của vua

và đem về châu báu. Nhà vua hoan hỷ với người ấy nên đã thưởng

người ấy. Do vậy, người này được đeo vòng hoa, được đeo bông tai...

được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua".

II.(iv)

26) Nhưng này Thôn trưởng, ở đây, chúng ta thấy có người hai

tay bị trói chặt ra đằng sau... và bị chặt đầu tại cửa thành phía Nam.

Về người này, họ hỏi:

"-- Này Bạn, người này đã làm gì mà hai tay bị trói chặt

ra đằng sau... tại cửa thành phía Nam?"

Các Ông trả lời về người ấy như sau:

"-- Này Bạn, người này đã từ làng hay từ ngôi rừng lấy

những vật không cho, được gọi là ăn trộm. Do vậy, những người của nhà

vua bắt người này và đối xử như vậy với người này".

27) Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Ông có bao giờ thấy

hay nghe một người như vậy chăng?

-- Bạch Thế Tôn, con từng thấy và nghe một người như vậy,

và sẽ được nghe trong tương lai.

28)-- Ở đây, này Thôn trưởng, những người Sa-môn, hay

Bà-la-môn nào nói như vậy, thấy như sau: "Ai lấy của không cho; tất cả,

ngay trong hiện tại, cảm thọ khổ ưu". Họ nói đúng sự thật hay

họ nói láo?... (như trên số 24)... Và những người có tà kiến, có

hợp lý chăng khi đặt tin tưởng vào họ?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

II.(v)

29) -- Nhưng này Thôn trưởng, ở đây, chúng ta thấy có người

đeo vòng hoa, đeo bông tai... được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác

vị vua. Về người này, họ nói:

-- "Người này đã làm gì mà được đeo vòng hoa, đeo bông

tai... được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua?"

Các Ông trả lời về người ấy như sau:

--"Này Bạn, người này có tà hạnh với những người vợ của

kẻ thù nghịch của vua. Nhà vua hoan hỷ với người ấy nên đã thưởng

người ấy. Do vậy, người ấy được đeo vòng hoa, được đeo bông tai...

được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua".

II.(vi)

30)-- Nhưng này Thôn trưởng, ở đây, chúng ta thấy có người

hai tay bị trói chặt... và bị chặt đầu tại cửa thành phía Nam. Về người

này, họ nói:

--"Này Bạn, người này đã làm gì mà hai tay bị trói chặt

ra đằng sau... tại cửa thành phía Nam?"

Các Ông trả lời về người ấy như sau:

--"Này Bạn, người ấy đã phạm tà hạnh với các phụ nữ và

các con gái các gia đình. Do vậy, các người của nhà vua bắt người ấy và

đối xử như vậy với người ấy".

31) Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Ông có bao giờ thấy

hay nghe một người như vậy chăng?

-- Bạch Thế Tôn, con từng thấy và nghe một người như vậy,

và sẽ được nghe trong tương lai.

32) -- Ở đây, này Thôn trưởng, những người Sa-môn,

Bà-la-môn nào nói như sau, thấy như sau: "Ai có tà hạnh trong các dục;

tất cả, ngay trong hiện tại, cảm thọ khổ ưu" Họ nói đúng sự

thật hay họ nói láo?... (như trên số 24)... Và những người có tà

kiến, có hợp lý chăng khi đặt tin tưởng vào họ?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

33) -- Nhưng ở đây, này Thôn trưởng, chúng ta thấy có người

đeo vòng hoa, đeo bông tai... được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác

vị vua. Về người ấy, họ nỏi:

--"Người này đã làm gì mà được đeo vòng hoa, đeo bông

tai... được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua?"

Các Ông trả lời về người ấy như sau:

--"Này Bạn, người này làm cho vua cười với lời nói láo.

Nhà vua hoan hỷ với người ấy nên đã thưởng người ấy. Do vậy, người

ấy được đeo vòng hoa, được đeo bông tai... được các nữ nhân phục vụ

các dục chẳng khác vị vua".

II.(viii)

34) -- Nhưng này Thôn trưởng, ở đây, chúng ta thấy có người

hai tay bị trói chặt... và bị chặt đầu tại cửa thành phía Nam. Về người

này, họ hỏi:

--"Này Bạn, người này đã làm gì mà hai tay bị trói chặt

ra đàng sau... tại cửa thành phía Nam?"

Các Ông trả lời về người ấy như sau:

--"Này Bạn, người ấy do nói láo, đã phá hại tài sản của

người gia chủ hay con của người gia chủ. Do vậy, các người của nhà vua bắt

người ấy và đối xử như vậy với người ấy".

35) Này Thôn trưởng, Ông nghĩ thế nào? Ông có bao giờ thấy

hay nghe một người như vậy chăng?

-- Bạch Thế Tôn, con từng thấy và nghe một người như vậy,

và sẽ được nghe trong tương lai.

36) Ở đây, này Thôn trưởng, những Sa-môn, Bà-la-môn nào

nói như sau, thấy như sau: "Ai nói láo; tất cả, ngay trong hiện tại,

cảm thọ khổ ưu". Họ nói đúng sự thật hay nói láo... (như trên

số 24)... Và những người có tà kiến, có hợp lý chăng khi đặt tin

tưởng vào họ?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

III

37) Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là hy hữu, bạch

Thế Tôn! Con có một ngôi nhà nghỉ mát, tại đấy có những giường, có

những chỗ ngồi, có những đèn dầu. Có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào

đến trú ngụ tại đấy, tùy theo khả năng, tùy theo sức lực, con chia sẻ

với các vị ấy. Thuở trước, bạch Thế Tôn, có bốn vị Ðạo sư có quan

điểm khác nhau, có kham nhẫn khác nhau, có sở thích khác nhau đến

trú ngụ tại ngôi nhà nghĩ mát ấy.

III.(i)

38) Một vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: "Không có bố

thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các

nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có cha,

không có mẹ, không có loại hóa sanh ; ở đời, không có những vị Sa-môn,

những vị Bà-la-môn chánh hướng chánh hạnh, đã tự mình chứng tri, chứng ngộ

đời này đời khác, và truyền dạy lại".

III.(ii)

39) Một vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: "Có bố thí,

có lễ hy sinh, có tế tự, có quả dị thục các nghiệp thiện ác, có

đời này, có đời sau, có cha, có mẹ, có loại hóa sanh ; ở đời, có những

vị Sa-môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng tri, chứng

ngộ đời này đời khác, và truyền dạy lại".

III.(iii)

40) Một vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: "Tự làm, hay

khiến người làm, chém giết, hay tự mình chém giết, đốt nấu, hay

khiến người đốt nấu, gây phiền muộn, hay khiến người gây

phiền muộn, gây ảo não, hay khiến người gây ảo não, tự mình gây sợ

hãi, hay khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa

nhà mà vào, cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt,

tư thông vợ người, nói láo. Do duyên như vậy, không có tội ác, không có

đi đến tội ác. Nếu lấy một bánh xe sắc bén, giết hại tất cả

chúng sanh trên cõi đất thành một đống thịt, thành một chồng thịt; do duyên

ấy, cũng không có tội ác, không đi đến tội ác. Nếu có người đi

trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến

người chém giết, đốt nấu, khiến người đốt nấu; do duyên ấy cũng

không có tội ác, không đi đến tội ác. Nếu có người đi trên bờ

phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến

người tế lễ; do duyên ấy, không có công đức, không đi đến công

đức".

III.(iv)

41) Một vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: "Tự mình làm

hay khiến người làm, chém giết, hay tự mình chém giết, đốt nấu,

hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn, hay khiến người gây

phiền muộn, gây ảo não, hay khiến người gây ảo não, tự mình gây sợ

hãi, hay khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa

nhà mà vào, cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt,

tư thông vợ người, nói láo. Hành động như vậy có tội ác, có đi đến

tội ác. Nếu lấy một bánh xe sắc bén, giết hại tất cả chúng sanh trên

cõi đất thành một đống thịt, thành một chồng thịt; vì vậy có tội ác, có

đi đến tội ác. Nếu có người đi đến bờ phía Nam sông Hằng

giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt

nấu, khiến người đốt nấu, có tội ác; do duyên như vậy, có đi đến

tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến

người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ; do duyên như vậy, có

công đức, có đi đến công đức".

III.(v)

42) -- Về vấn đề này, bạch Thế Tôn, con có phân

vân, con có nghi ngờ. Giữa những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn này ; ai là người

nói sự thật, ai là người nói láo?

-- Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng, là sự phân vân của Ông.

Thôi vừa rồi, là sự nghi ngờ của Ông. Chính do ở điểm phân vân mà nghi

ngờ khởi lên.

-- Bạch Thế Tôn, nhưng con có lòng tín thành như vậy đối

với Thế Tôn. Thế Tôn có thể thuyết pháp cho con để sự

phân vân này có thể đoạn diệt.

IV

43)-- Này Thôn trưởng, có pháp Thiền định (Dhammasamàdhi).

Ở đây, nếu Ông chứng được tâm định (cittasamàdhi), thời Ông có

thể đoạn diệt sự phân vân này của Ông. Và này Thôn trưởng, thế

nào là pháp Thiền định?

IV.(i)

44) Ở đây, này Thôn trưởng, vị Thánh đệ tử sau khi

đoạn tận sát sanh, sống từ bỏ sát sanh. Sau khi đoạn tận lấy của không cho,

vị ấy sống từ bỏ lấy của không cho. Sau khi đoạn tận tà hạnh trong các dục,

vị ấy sống từ bỏ tà hạnh trong các dục. Sau khi đoạn tận nói láo, vị ấy

sống từ bỏ nói láo. Sau khi đoạn tận nói hai lưỡi, vị ấy sống từ bỏ nói

hai lưỡi. Sau khi đoạn tận nói lời độc ác, vị ấy sống từ bỏ nói lời độc

ác. Sau khi đoạn tận nói lời phù phiếm, vị ấy sống từ bỏ nói lời phù

phiếm. Sau khi đoạn tận tham dục, vị ấy sống từ bỏ lòng tham. Sau khi

đoạn tận lòng sân, vị ấy sống từ bỏ lòng sân. Sau khi từ bỏ tà kiến,

vị ấy sống theo chánh kiến.

Vị Thánh đệ tử ấy, này Thôn trưởng, với lòng tham từ bỏ

như vậy, với lòng sân từ bỏ như vậy, không có lòng si, tỉnh giác, chánh

niệm, sống biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy,

phương từ hai; cũng vậy, phương thứ ba; cũng vậy, phương thứ tư; như vậy,

cùng khắp thế giới, trên dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ cùng

khắp vô biên giới. Vị ấy an trú với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô

biên, không hận, không sân. Vị ấy suy tư như sau: "Vị Ðạo sư nói như

sau, thấy như sau: 'Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự,

không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không

có đời sau, không có cha, không có mẹ, không có loại hóa sanh. Ở đời

không có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình

chứng tri, chứng ngộ đời này, đời khác, và truyền dạy lại". Nếu

vị Tôn giả Ðạo sư này nói đúng sự thật, ta cũng không có tội lỗi gì.

Vì ta không có hại một ai, kẻ yếu hay kẻ mạnh, ở đây cả hai phương

diện, ta là kẻ gieo quẻ gặp may. Thân ta được hộ trì, lời nói được hộ

trì, ý được hộ trì. Và sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ được sanh

thiện thú, Thiên giới, cõi đời này". Với vị ấy, hân hoan sanh khởi;

do hân hoan, hỷ sanh khởi; do hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an,

lạc thọ được cảm giác; với người cảm giác lạc thọ, tâm được

định tĩnh. Này Thôn trưởng, đây là pháp Thiền định. Ở đây,

nếu Ông được tâm định như vậy, sự phân vân của Ông được đoạn

diệt.

IV.(ii)

45) Vị Thánh đệ tử ấy, này Thôn trưởng, với lòng tham

được từ bỏ như vậy, với lòng sân được từ bỏ như vậy, không có lòng si,

sống tỉnh giác, chánh niệm, biến mãn một phương với tâm câu hữu với

từ; cũng vậy, phương thứ hai; cũng vậy, phương thứ ba; cũng vậy, phương

thứ tư; như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết

thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới. Vị ấy an trú biến mãn với tâm

câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Vị ấy suy tư như

sau: "Vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: 'Có bố thí, có lễ hy sinh,

có tế tự, có quả dị thục các nghiệp thiện ác, có đời này, có

đời sau, có cha, có mẹ, có các loại hóa sanh. Ở đời, có những vị

Sa-môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng tri, chứng ngộ

đời này, đời khác và truyền dạy lại". Nếu vị Tôn giả Ðạo sư

này nói đúng sự thật, ta cũng không có tội lỗi gì, vì ta không hại một

ai, kẻ yếu hay kẻ mạnh. Ở đây, cả hai phương diện, ta là kẻ gieo

quẻ gặp may. Thân ta được hộ trì. Lời nói ta được hộ trì. Ý ta được hộ

trì. Và sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ được sanh thiện thú, Thiên

giới, cõi đời này". Với vị ấy hân hoan sanh khởi... (như trên, số 44)...

như vậy, sự phân vân của Ông được đoạn diệt.

IV.(iii)

46) Vị Thánh đệ tử, này Thôn trưởng, với lòng tham được

từ bỏ như vậy... biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ... không

hận, không sân. Vị ấy suy tư như sau: "Vị Ðạo sư nói như sau, thấy như

sau: 'Tự làm hay khiến người làm... (như trên, số 40)... hành động như

vậy không có tội ác gì'. Nếu vị Tôn giả Ðạo sư này nói đúng sự

thật, ta cũng không có tội lỗi gì..". (như trên, số 44)... như vậy,

sự phân vân của Ông được đoạn diệt.

IV.(iv)

47) Vị Thánh đệ tử, này Thôn trưởng, với lòng tham được

từ bỏ như vậy... biến mãn một phương tâm câu hữu với từ... không hận,

không sân. Vị ấy suy tư như sau: "Vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau:

'Tự làm hay khiến người khác làm... (như trên, số 41)... do duyên ấy, có

tội ác, có đi đến tội ác... do nhân duyên ấy, có công đức, có đi

đến công đức". Nếu Tôn giả Ðạo sư này nói đúng sự thật, ta

cũng không có tội lỗi gì..". (như trên, số 44)... như vậy, sự phân

vân của Ông được đoạn diệt.

V

V.(i)

48) Vị Thánh đệ tử, này Thôn trưởng... (hoàn toàn giống

như đoạn (i) số 44, chỉ khác, trước là tâm câu hữu với từ, nay là tâm câu

hữu với bi. .. tâm câu hữu với hỷ. .. tâm câu hữu với xả).

V.(ii)

49)... (giống như đoạn (ii) số 45, chỉ khác, đây với tâm câu

hữu với bi. .. tâm câu hữu với hỷ... tâm câu hữu với xả).

V.(iii)

50)... (giống như đoạn (iii) số 46, chỉ khác, đây với tâm câu

hữu với bi... tâm câu hữu với hỷ... tâm câu hữu với xả).

V.(iv)

51)... (giống như đoạn (iv) số 47, chỉ khác, ở đây với tâm

câu hữu với bi... tâm câu hữu với hỷ... tâm câu hữu với xả).

52) Khi được nói vậy, thôn trưởng Pàtaliya bạch Thế Tôn:

-- Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn, thật là vi diệu,

bạch Thế Tôn!... Từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy

ngưỡng.