[35] Chương I — Tương Ưng Sáu Xứ (g)#
Tương Ưng Bộ -
Samyutta Nikaya
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Tập IV - Thiên Sáu Xứ
[35] Chương I
Tương Ưng Sáu Xứ (g)
-ooOoo-
IV. Phẩm Rắn Ðộc
197. I. Rắn Ðộc (S.iv,172)
1-2) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi... gọi các
Tỷ-kheo... Thế Tôn nói như sau:
3) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, có bốn con rắn độc,
với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt. Rồi có người
đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ. Người ta nói
với người ấy: "Này Bạn, có bốn con rắn độc này, với sức nóng tột
độ, với nọc độc mãnh liệt. Thỉnh thoảng hãy thức chúng dậy, thỉnh
thoảng hãy tắm cho chúng, thỉnh thoảng hãy cho chúng ăn, thỉnh thoảng hãy cho
chúng vào huyệt (để ngủ). Này Bạn, nếu một trong bốn con rắn độc
này, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, tức giận, thời
này Bạn, Bạn sẽ đi đến chết, hay đau khổ gần như chết. Vậy này
Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ cần phải làm".
4) Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn
con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, chạy
trốn chỗ này, chỗ kia. Người ta nói với người ấy: "Này Bạn, có
năm kẻ sát nhân thù địch này, đang đi theo sau lưng Bạn. Chúng nói: 'Khi
nào chúng ta thấy nó, chúng ta sẽ giết nó'. Này Bạn, hãy làm những gì
Bạn nghĩ là phải làm".
5) Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn
con rắn độc ấy, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá
sợ hãi năm tên sát nhân thù địch ấy, chạy đi trốn chỗ này, chỗ
kia. Người ta nói với người ấy: "Này Bạn, có một tên thứ sáu cướp
nhà, giết người, với ngọn kiếm dơ lên, đang đi theo sau lưng Bạn.
Nó nói: 'Khi nào ta thấy nó, ta sẽ chém đầu nó'. Này Bạn, hãy làm những gì
Bạn nghĩ là phải làm".
6) Rồi, này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn
con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ
hãi năm tên sát nhân thù địch, quá sợ hãi tên thứ sáu cướp nhà, giết
người với ngọn kiếm dơ lên, chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia.
Rồi người ấy thấy một ngôi làng trống không. Nhà nào người ấy đi vào,
người ấy vào chỗ trống không, vào chỗ rỗng không, vào chỗ
tuyệt không. Người ấy sờ đến đồ dùng nào, người ấy sờ chỗ
trống không, người ấy sờ chỗ rỗng không, người ấy sờ chỗ
tuyệt không. Người ta nói với người ấy: "Này Bạn, bọn cướp phá
hoại làng, sẽ đánh cướp ngôi làng trống không này. Này Bạn, hãy làm những
gì Bạn nghĩ là phải làm".
7) Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn
con rắn độc với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ
hãi năm tên giết người thù địch, quá sợ hãi tên thứ sáu cướp nhà,
giết người với ngọn kiếm dơ lên, quá sợ hãi các tên cướp làng,
liền chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Rồi người ấy thấy một đầm
nước lớn, bờ bên này đầy những sợ hãi nguy hiểm, bờ bên kia được an
ổn, không có sợ hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua, không có
cầu để đi qua đi lại.
8) Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy suy nghĩ như sau:
"Ðây là vùng nước đọng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ
bên kia an ổn, không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua,
cũng không có cầu bắc qua từ bờ bên này đến bờ bên kia. Nay ta hãy thâu
góp cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, nhờ chiếc bè này, tinh
tấn dùng tay chân, ta có thể vượt qua bờ bên kia một cách an toàn".
9) Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy thâu góp cỏ cây,
nhành lá, cột lại thành chiếc bè, nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay
chân, người ấy vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Vị Bà-la-môn vượt qua
bờ bên kia, đứng trên đất liền.
10) Ví dụ này, này các Tỷ-kheo, Ta làm để giải
thích ý nghĩa. Và đây là ý nghĩa:
11) Bốn con rắn độc với sức nóng tột độ, với nọc
độc mãnh liệt, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bốn đại chủng:
địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại.
12) Năm tên giết người thù địch, này các
Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm thủ uẩn: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn,
tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
13) Tên thứ sáu cướp nhà, giết người với cây
kiếm giơ lên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với dục tham.
14) Ngôi làng trống không, này các Tỷ-kheo, là
đồng nghĩa với sáu nội xứ. Này các Tỷ-kheo, nếu một người hiền,
kinh nghiệm, có trí, tìm hiểu nó với con mắt; vị ấy thấy nó là trống
không, là rỗng không, là tuyệt không... Nếu tìm hiểu nó với
ý; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không.
15) Bọn cướp phá làng, này các Tỷ-kheo, là
đồng nghĩa với sáu ngoại xứ. Này các Tỷ-kheo, mắt bị tàn hại trong các
sắc khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, tai bị tàn hại trong các
tiếng khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, mũi bị tàn hại trong
các hương khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, lưỡi bị tàn hại
trong các vị khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, thân bị tàn hại
trong các xúc khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, ý bị tàn hại
trong các pháp khả ái và không khả ái.
16) Vùng nước lớn, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa
với bốn bộc lưu: dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu và vô minh bộc
lưu.
17) Bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, này các
Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân kiến này.
18) Bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, này các
Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Niết-bàn.
19) Cái bè, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với
Thánh đạo Tám ngành.
20) Tinh tấn dùng tay và dùng chân, này các Tỷ-kheo,
là đồng nghĩa với tinh tấn, tinh cần.
21) Vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia và đứng trên
đất liền, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bậc A-la-hán.
198. II. Hỷ Lạc (S.iv,175)
1-2) ...
3) -- Này các Tỷ-kheo, đầy đủ được ba pháp ấy,
một Tỷ-kheo ngay trong hiện tại, sống nhiều an lạc, hoan hỷ, và
tạo nguyên nhân bắt đầu đoạn tận các lậu hoặc. Thế nào là ba? Hộ trì
các căn, tiết độ trong ăn uống và chú tâm tỉnh giác.
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo
hộ trì các căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi mắt thấy sắc,
Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những
nguyên nhân gì khiến nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái,
ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự những
nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe
tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc.... ý
nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng
riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự,
khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự
chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành hộ trì ý
căn.
5) Ví như, này các Tỷ-kheo, trên đất bằng, tại
chỗ ngã tư, có chiếc xe đang đậu, thắng với ngựa hay, có roi ngựa
đặc biệt đang sẵn sàng. Có người mã thuật sư thiện xảo, người
đánh xe điều ngự các con ngựa đáng được điều ngự, leo lên xe ấy,
tay trái nắm lấy dây cương, tay mặt cầm lấy roi ngựa, có thể đánh xe
ngựa đi tới đi lui, như thế nào và tại chỗ nào theo ý mình muốn.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học hộ trì, học chế
ngự, học điều ngự, học tịnh chỉ sáu căn này. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo hộ trì các căn.
6) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo
tiết độ trong ăn uống?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chân chánh
giác sát thọ dụng món ăn không phải để vui đùa, không phải để
đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình,
mà chỉ để thân này được an trú, được bảo dưỡng, khỏi bị thương
hại, để hỗ trợ Phạm hạnh; vị ấy nghĩ rằng: "Như vậy, ta
diệt trừ các cảm thọ cũ, không cho khởi lên các cảm thọ mới, và
ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an lạc".
7) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người bôi thuốc
vào một vết thương để chữa lành vết thương ấy. Ví như một
người bôi dầu vào trục xe với mục đích để có thể chở đồ nặng.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chân chánh giác sát thọ dụng
món ăn không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải
để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân
này được an trú, được bảo dưỡng, khỏi bị thương hại, để hỗ trợ
Phạm hạnh; vị ấy nghĩ rằng: "Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ
cũ, không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm,
sống được an lạc".
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tiết
độ trong ăn uống.
8) Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là
Tỷ-kheo chú tâm tỉnh giác?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ban ngày
trong khi đi kinh hành hay ngồi, tâm trừ sạch các chướng ngại pháp. Ban đêm
canh một, khi đi kinh hành hay ngồi, tâm trừ sạch các chướng ngại pháp. Ban
đêm canh giữa, vị ấy nằm phía hông bên phải, trong dáng nằm con sư tử, hai
chân để trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến lúc thức
dậy. Ban đêm trong canh cuối cùng, vị ấy thức dậy và trong khi đi kinh hành
và ngồi, tâm trừ sạch các chướng ngại pháp.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chú tâm
tỉnh giác.
9) Này các Tỷ-kheo, đầy đủ ba pháp ấy, Tỷ-kheo
ngay trong hiện tại, sống nhiều an lạc, hoan hỷ, và tạo nguyên nhân
bắt đầu đoạn tận các lậu hoặc.
199. III. Con Rùa (S.iv,177)
1-2) ...
3) -- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có một con rùa,
vào buổi chiều, đang đi kiếm mồi dọc theo bờ sông. Một con giả
can, này các Tỷ-kheo, vào buổi chiều, cũng đi tìm mồi dọc theo bờ
sông.
4) Này các Tỷ-kheo, con rùa từ đàng xa trông thấy
con giả can đang đi tìm mồi, thấy vậy liền rụt bốn chân và thứ năm là
cổ vào trong mai rùa của mình và nằm bất động, im lặng.
5) Này các Tỷ-kheo, con giả can từ đàng xa trông
thấy con rùa, đi đến con rùa sau khi đến, đứng một bên và nghĩ
rằng: "Khi nào con rùa này thò ra thân phần nào và cổ là thứ năm, ngay
tại chỗ ấy, ta sẽ nắm lấy, bẻ gãy và ăn".
6) Nhưng, này các Tỷ-kheo, vì rằng con rùa không
thò ra một thân phần nào và cổ là thứ năm, nên con giả can nhàm chán con
rùa và bỏ đi, không nắm được cơ hội.
7) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ác ma thường xuyên
không gián đoạn, đứng trong tư thế rình mò các Ông với ý nghĩ:
"Rất có thể ta nắm được cơ hội để bắt gặp từ con mắt... từ
cái lưỡi... hay từ ý".
8) Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy sống hộ trì các
căn. Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng
riêng. Những nguyên nhân gì khiến nhãn căn không được chế ngự,
khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, hãy tự chế
ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành hộ trì nhãn căn. Khi
tai nghe tiếng... mũi ngửi mùi... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý
nhận thức các pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.
Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến
tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, hãy tự chế ngự những
nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành hộ trì ý căn. Này các
Tỷ-kheo, khi nào các Ông sống hộ trì các căn, thời Ác ma nhàm chán các
Ông và sẽ bỏ đi, không nắm giữ được cơ hội, như con giả can đối với con
rùa.
Như rùa dấu thân phần,
Trong mai rùa của nó.
Cũng vậy, vị Tỷ-kheo,
Thâu nhóm mọi tâm tư,
Không nương tựa một ai,
Không hại một người nào,
Hoàn toàn đạt tịch tịnh,
Không nói xấu một ai.
200. IV. Khúc Gỗ (1) (S.iv,179)
1) Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, trên bờ sông
Gangà.
2) Thế Tôn thấy một khúc gỗ lớn trôi theo dòng
nước sông Hằng, thấy vậy liền gọi các Tỷ-kheo:
-- Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy khúc gỗ to
lớn này đang trôi theo dòng nước sông Hằng không?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
3) -- Này các Tỷ-kheo, nếu khúc gỗ không
đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không
mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi
nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như
vậy, này các Tỷ-kheo, khúc gỗ ấy sẽ hướng về biển, sẽ xuôi
theo biển, sẽ nghiêng nhập vào biển. Vì sao? Vì rằng, này các
Tỷ-kheo, dòng sông Hằng hướng về biển, xuôi theo biển, nghiêng
trôi về biển. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu các Ông không
đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không
mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi
nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như
vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông sẽ hướng về Niết-bàn, sẽ xuôi theo
Niết-bàn, sẽ nghiêng nhập vào Niết-bàn. Vì sao? Vì rằng, này các
Tỷ-kheo, chánh kiến hướng về Niết-bàn, xuôi theo Niết-bàn,
nghiêng nhập vào Niết-bàn.
4) Khi được nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế
Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì? Bờ bên kia là
gì? Thế nào là chìm giữa dòng? Thế nào là mắc cạn trên miếng
đất nổi? Thế nào là bị loài Người nhặt lấy? Thế nào là bị phi
nhân nhặt lấy? Thế nào là bị mắc vào xoáy nước? Thế nào là bị mục
nát bên trong?
5) -- Bờ bên này, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với
sáu nội xứ này.
6) Bờ bên kia, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu
ngoại xứ.
7) Bị chìm giữa dòng, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa
với hỷ tham.
8) Bị mắc cạn trên miếng đất nổi, này Tỷ-kheo,
là đồng nghĩa với ngã mạn.
9) Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị người nhặt
lấy? Ở đây, Tỷ-kheo sống quá liên hệ với cư sĩ, chung vui, chung
buồn, an lạc khi họ an lạc, đau khổ khi họ bị đau khổ, tự trói buộc
mình trong các công việc phải làm được khởi lên của họ. Ðây
gọi là Tỷ-kheo bị loài Người nhặt lấy.
10) Và thế nào, này Tỷ-kheo, là bị phi nhân
nhặt lấy? Ở đây, Tỷ-kheo sống Phạm hạnh với ước nguyện được
sanh cộng trú với một hạng chư Thiên: "Mong rằng với giới luật này, với
cấm giới này, với khổ hạnh này, với Phạm hạnh này, ta sẽ trở thành Thiên
nhân hay một loài chư Thiên!" Ðây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị
phi nhân nhặt lấy.
11) Bị mắc vào xoáy nước, này Tỷ-kheo, là đồng
nghĩa với năm dục công đức.
12) Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị mục nát bên
trong? Ở đây, này Tỷ-kheo, có người thọ tà giới, theo ác pháp,
bất tịnh, có những hành vi đáng nghi ngờ, có những hành động che đậy,
không phải Sa-môn nhưng hiện tướng Sa-môn, không phải Phạm hạnh nhưng
hiện tướng Phạm hạnh, nội tâm bị hủ bại, đầy dục vọng, là một
đống rác bẩn. Ðây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị mục nát bên trong.
11) Lúc bấy giờ Nanda, người chăn bò, đứng không xa
Thế Tôn bao nhiêu.
12) Rồi người chăn bò Nanda bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, con không đâm vào bờ bên này, con
không đâm vào bờ bên kia, con không bị chìm giữa dòng, con không bị mắc cạn
trên miếng đất nổi, con không bị loài Người nhặt lấy, con không bị phi
nhân nhặt lấy, con không bị mắc vào xoáy nước, con không bị mục nát bên
trong. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế
Tôn, được thọ đại giới.
13) -- Này Nanda, hãy đem trả các con bò cho người chủ.
-- Bạch Thế Tôn, chúng sẽ đi trở về. Các bò
mẹ đang trông mong gặp lại các con bê của chúng.
-- Tuy vậy, này Nanda, Ông hãy trả lui các con bò cho
những người chủ.
14) Rồi Nanda, người chăn bò, sau khi trả lui các con bò
cho những người chủ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, bạch Thế
Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, các con bò đã được trả lui cho
những người chủ. Bạch Thế Tôn, xin hãy cho con được xuất gia với Thế
Tôn. Hãy cho con thọ đại giới.
15) Nanda, người chăn bò được xuất gia với Thế
Tôn, được thọ đại giới. Sau khi thọ đại giới không bao lâu, Tôn
giả Nanda sống một mình, an tịnh...
16) Tôn giả Nanda trở thành một vị A-la-hán nữa.
201. V. Khúc Gỗ (2) (S.iv,181)
1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở tại Kimbilà, trên bờ sông
Hằng.
2) Thế Tôn thấy một khúc gỗ trôi theo dòng
nước sông Hằng, thấy vậy, liền gọi các Tỷ-kheo:
-- Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy khúc gỗ
lớn này bị trôi theo dòng nước sông Hằng?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
3) (Như kinh trước cho đến: Nghiêng nhập vào
Niết-bàn ).
4) Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Kimbilà bạch Thế
Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì?... (như trên)
...
12) -- Và này Kimbilà, thế nào là bị mục nát bên
trong? Ở đây, này Kimbilà, Tỷ-kheo phạm một giới tội (àpatti), một
giới tội không thể giải trừ. Này Kimbilà, đây gọi là mục nát bên
trong.
202. VI. Dục Lậu (S.iv,182)
1) Một thời Thế Tôn sống giữa dân chúng Sakka, tại
Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), trong vườn Nigrodha.
2) Lúc bấy giờ có một hội đường mới của những
người Sakka ở Kapilavatthu được làm không bao lâu, chưa được một Sa-môn,
hay Bà-la-môn, hay một người nào đến ở.
3) Rồi một số người Sakka ở Kapilavatthu đi đến
Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
4) Ngồi xuống một bên, các người Sakka ở Kapilavatthu
bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, có hội đường mới
của những người Sakka ở Kapilavatthu được làm không bao lâu, chưa được một
Sa-môn, hay Bà-la-môn, hay một người nào đến ở. Bạch Thế Tôn, mong
Thế Tôn hãy sử dụng ngôi nhà ấy đầu tiên, rồi sau các người Sakka ở
Kapilavatthu sẽ sử dụng. Như vậy, sẽ đưa đến hạnh phúc và an lạc lâu
dài cho những người Sakka ở Kapilivatthu.
Thế Tôn im lặng nhận lời.
5) Những người Sakka ở Kapilavatthu sau khi biết
Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn,
thân phía hữu hướng về Ngài rồi đi đến hội đường mới ấy. Sau khi
đến, họ cho trải toàn bộ hội đường với những tấm đệm, cho
bày biện các chỗ ngồi, cho sắp đặt ghè nước, cho treo đèn dầu, rồi
đi đến Thế Tôn; sau khi đến, bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, toàn bộ hội đường đã được
trải đệm. Các chỗ ngồi đã được bày biện. Một ghè nước đã
được đặt sẵn. Ngọn đèn dầu đã được treo lên. Nay Thế Tôn hãy
làm gì Ngài nghĩ là phải thời.
6) Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát, cùng với chúng
Tỷ-kheo đi đến hội đường mới; sau khi đến, rửa chân, đi vào
hội đường và ngồi dựa vào cây cột ở giữa, mặt hướng về phía Ðông.
Chúng Tỷ-kheo, sau khi rửa chân, bước vào hội đường, và ngồi dựa vào
bức tường phía Tây, mặt hướng về phía Ðông, với Thế Tôn trước
mặt. Các người Sakka ở Kapilavatthu, sau khi rửa chân, bước vào hội đường,
ngồi dựa vào bức tường phía Ðông, hướng mặt về phía Tây, với Thế
Tôn phía trước mặt.
7) Rồi Thế Tôn, phần lớn của đêm, với pháp thoại
thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các
người Sakka ở Kapilavatthu. Rồi Thế Tôn giải tán họ với câu:
-- Này các Sakka, đêm đã quá khuya, nay các Ông hãy
làm những gì các Ông nghĩ là hợp thời.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các người Sakka ở Kapilavatthu vâng đáp Thế Tôn,
từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân hữu hướng về Ngài
rồi ra đi.
8) Rồi Thế Tôn, sau khi các người Sakka ở
Kapilavatthu ra đi không bao lâu, liền gọi Tôn giả Mahà Moggalàna:
-- Này Moggalàna, chúng Tỷ-kheo đã đoạn trừ được
buồn ngủ. Này Moggalàna, hãy thuyết pháp thoại cho chúng Tỷ-kheo. Ta nay
bị đau lưng, Ta muốn nằm xuống.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Mahà Moggalàna vâng đáp Thế Tôn.
9) Rồi Thế Tôn cho xếp y Sanghàti (Tăng-già-lê)
gấp bốn lại, và nằm xuống phía hông bên phải, trong dáng nằm con sư tử, hai
chân gác trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến lúc thức
dậy.
10) Ở đây, Tôn giả Mahà Moggalàna gọi các
Tỷ-kheo:
-- Này chư Hiền.
-- Thưa Hiền giả.
Các Tỷ-kheo vâng đáp Tôn giả Mahà Moggalàna. Tôn
giả Mahà Moggalàna nói như sau:
-- Này chư Hiền, tôi sẽ giảng cho chư Hiền
về pháp môn nhiễm dục lậu, và pháp môn không nhiễm dục lậu. Hãy lắng nghe
và suy nghiệm kỹ. Tôi sẽ giảng.
-- Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahà Moggalàna.
Tôn giả Mahà Moggalàna nói như sau:
11) -- Và này chư Hiền, thế nào là nhiễm dục
lậu? Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, thiên chấp
sắc khả ái, ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với thân niệm không an
trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật rõ biết tâm giải thoát,
tuệ giải thoát. Chính ở đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên
không được trừ diệt không có dư tàn... Khi lưỡi nếm vị... Khi ý
biết các pháp, thiên chấp pháp khả ái, ghét bỏ pháp không khả ái, sống
với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật rõ
biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy. Chính ở đây, các ác bất
thiện pháp ấy khởi lên không được trừ diệt không có dư tàn.
12) Này chư Hiền, đây gọi là Tỷ-kheo bị
nhiễm dục lậu đối với các sắc do mắt nhận thức... đối với các vị do lưỡi
nhận thức... đối với các pháp do ý nhận thức. Tỷ-kheo sống như vậy,
này chư Hiền, nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua mắt, Màra nắm
được cơ hội, Màra nắm được đối tượng... Nếu Màra có đến vị
ấy, ngang qua lưỡi, Màra nắm được cơ hội, Màra nắm được đối tượng....
Nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua ý, Màra nắm được cơ hội, Màra
nắm được đối tượng.
13) Cũng vậy, này chư Hiền, như một cái nhà lợp
bằng cây lau hay cỏ, héo khô, không có nhựa, xưa đến ba bốn năm. Nếu
từ phương Ðông có người đến, với bó đuốc cháy đỏ, ngọn lửa sẽ
nắm được cơ hội, sẽ nắm được đối tượng. Nếu một người từ phương
Tây đến... Nếu một người từ phương Bắc đến... Nếu một
người từ phương Nam đến... Nếu một người từ phương dưới
đến... Nếu một người từ phương trên đến, hay một người bất cứ
từ ở đâu đến, với bó đuốc cháy đỏ, ngọn lửa nắm được cơ hội,
ngọn lửa nắm được đối tượng. Cũng vậy, này chư Hiền, nếu
Tỷ-kheo sống như vậy. Nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua mắt, Màra
nắm được cơ hội, Màra nắm được đối tượng... Nếu Màra có đến
vị ấy, ngang qua lưỡi... Nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua ý, Màra
nắm được cơ hội, Màra nắm được đối tượng.
14) Này chư Hiền, sống như vậy, các sắc chinh phục
vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các sắc. Các tiếng
chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các tiếng.
Các hương chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các
hương. Các vị chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục
các vị. Các xúc chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh
phục các xúc. Các pháp chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo
chinh phục các pháp. Này chư Hiền, đây được gọi là Tỷ-kheo bị
sắc chinh phục, bị tiếng chinh phục, bị hương chinh phục, bị vị chinh
phục, bị xúc chinh phục, bị pháp chinh phục, không phải không bị chinh phục.
Chinh phục vị ấy là các ác bất thiện pháp bị nhiễm ô, đưa đến tái
sanh, đầy sợ hãi (sadarà), đưa đến quả khổ dị thục, tương lai là già
chết. Như vậy, này chư Hiền, là nhiễm dục lậu.
15) Và này chư Hiền, thế nào là không nhiễm
dục lậu? Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không
thiên chấp sắc khả ái, không ghét bỏ sắc không khả ái, sống an trú thân
niệm, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát,
tuệ giải thoát. Chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp khởi lên
được đoạn diệt không có dư tàn... Khi lưỡi nếm vị... Khi ý
biết các pháp, vị ấy không thiên chấp các pháp khả ái, không ghét bỏ
các pháp không khả ái, sống an trú thân niệm, với tâm vô lượng. Vị ấy
như thật biết rõ tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở nơi đây,
các ác bất thiện pháp khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn.
Này chư Hiền, đây gọi là vị Tỷ-kheo không bị nhiễm dục lậu đối
với các sắc do mắt nhận thức... đối với các vị do lưỡi nhận thức... đối
với các pháp do ý nhận thức... Tỷ-kheo sống như vậy, này chư
Hiền, nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua mắt, Màra không nắm được
cơ hội, Màra không nắm được đối tượng... Nếu Màra có đến vị ấy,
ngang qua lưỡi, Màra không nắm được cơ hội, Màra không nắm được đối
tượng... Nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua ý, Màra không nắm
được cơ hội, Màra không nắm được đối tượng.
16) Ví như, này chư Hiền, một cái nhà có nóc
nhọn hay một giảng đường có nóc nhọn xây bằng đất dày, vừa mới xoa
trét, nếu có người từ phương Ðông lại với ngọn đuốc cháy đỏ,
ngọn lửa không nắm được cơ hội, không nắm được đối tượng... từ
phương Tây đến... từ phương Bắc đến... từ phương Nam đến...
từ phương dưới đến... từ phương trên đến hay từ bất cứ phương
nào đến, với ngọn đuốc cháy đỏ, ngọn lửa không nắm được cơ
hội, không nắm được đối tượng.
17) Sống như vậy, này chư Hiền, Tỷ-kheo chinh
phục các sắc, không phải các sắc chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục
các tiếng, không phải các tiếng chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh
phục các hương, không phải các hương chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh
phục các vị, không phải các vị chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục
các xúc, không phải các xúc chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các
pháp, không phải các pháp chinh phục Tỷ-kheo. Này chư Hiền, đây
gọi là Tỷ-kheo chinh phục các sắc, chinh phục các tiếng, chinh phục
các hương, chinh phục các vị, chinh phục các xúc, chinh phục các pháp, không
phải bị chinh phục. Chính vị ấy chinh phục các ác bất thiện pháp bị
nhiễm ô, đưa đến tái sanh, đầy sợ hãi, đưa đến quả khổ dị thục
tương lai là già chết. Như vậy, này chư Hiền, là không nhiễm dục
lậu.
18) Rồi Thế Tôn ngồi dậy và gọi Tôn giả Màha
Moggalàna:
-- Lành thay, lành thay, này Moggalàna! Lành thay, này
Moggalàna! Ông đã thuyết cho các Tỷ-kheo về pháp môn nhiễm dục
lậu và pháp môn không nhiễm dục lậu.
19) Tôn giả Mahà Moggalàna thuyết như vậy. Bậc Ðạo
Sư chấp nhận. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Mahà
Moggalàna thuyết.
203. VII. Khổ Pháp (S,iv,188)
1-2) ...
3) -- Này các Tỷ-kheo, khi nào một Tỷ-kheo như
thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt của tất cả khổ pháp, khi ấy, các
dục được thấy. Khi vị ấy thấy dục (kàmà), thời dục (kàmachanda), dục ái,
dục mê, dục nhiệt não đối với các dục không có tùy miên nơi vị ấy.
Như vậy, sở hành và sở trú của vị ấy được giác tri. Vì rằng, do sở hành
như vậy, các tham ái, ưu, bi, các ác bất thiện pháp không có tồn chỉ.
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo
như thật rõ biết sự tập khởi, và sự chấm dứt tất cả khổ pháp? Ðây là
sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ,
đây là thọ tập khởi, đây là thọ đoạn diệt. Ðây là tưởng...
Ðây là các hành... Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức
đoạn diệt. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật rõ biết
sự tập khởi và sự đoạn diệt của tất cả khổ pháp.
5) Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là
Tỷ-kheo thấy được các dục? Khi các dục được thấy, thời dục, dục ái,
dục mê, dục nhiệt não đối với các dục không có tùy miên. Ví như, này
các Tỷ-kheo, có một hố than sâu hơn thân người, đầy vun than hừng, không
có ngọn, không có khói. Rồi có người đi đến, muốn sống, không muốn
chết, muốn lạc, ghét bỏ khổ. Rồi hai người lực sĩ đến, kẹp người
ấy vào trong các cánh tay, và kéo người ấy đến hố than hừng. Người ấy
vật vã thân bên này, bên kia. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người ấy được
biết rằng: "Ta sẽ rơi vào trong hố than hừng này. Do nhân này, ta sẽ
đi đến chết hay đau khổ gần như chết". Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấy các dục như hố than hừng và ai thấy được các
dục, thời dục, dục ái, dục mê, dục nhiệt não đối với các dục không có
tùy miên.
6) Thế nào, này các Tỷ-kheo, là sở hành và sở
trú của Tỷ-kheo được giác tri? Vì rằng, do sở hành như vậy, các tham
ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp không có tồn chỉ. Ví như, này các
Tỷ-kheo, một người đi vào một khu rừng đầy những gai góc, trước mặt
người ấy là gai, phía Tây... phía Bắc... phía Nam... người ấy là gai, phía
dưới người ấy là gai, phía trên người ấy là gai. Chỗ nào người ấy đi
tới hay chỗ nào người ấy đi lui, người ấy nghĩ: "Mong sao tôi chớ
có bị vướng gai". Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với sự vật gì
khả ái, khả lạc, sự vật ấy được gọi là gai trong giới luật của bậc
Thánh.
7) Sau khi biết vậy, này các Tỷ-kheo, hộ trì và
không hộ trì cần phải được hiểu.
8) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không hộ
trì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, thiên chấp
các sắc khả ái, ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với thân niệm không
an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật rõ biết tâm giải thoát,
tuệ giải thoát. Chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên
không được đoạn diệt không có dư tàn. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
là không hộ trì.
9) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là được hộ
trì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không
thiên chấp các sắc khả ái, không ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với
thân niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm
giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp
ấy khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn... khi lưỡi nếm vị...
khi ý biết pháp, không thiên chấp các pháp khả ái, không ghét bỏ các
pháp không khả ái, sống với thân niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy
như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở đây, các
ác bất thiện pháp ấy khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là có hộ trì.
10) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sở hành như vậy,
sở trú như vậy, đôi lúc và đôi khi niệm bị thất thoát, khởi lên các
ác bất thiện pháp, các ức niệm, ước vọng liên hệ đến
kiết sử. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, là niệm được khởi lên. Mau
lẹ, vị ấy từ bỏ (trạng thái ấy), gột sạch, chấm dứt, không cho hiện
hữu. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người làm rơi hai hay ba giọt nước
trên một nồi sắt được hơ nóng cả ngày. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, là
sự rơi xuống của các giọt nước. Mau chóng, chúng đi đến đoạn
diệt, hoại diệt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy
sở hành như vậy, sở trú như vậy, đôi lúc và đôi khi niệm bị thất
thoát, khởi lên các ác bất thiện pháp, các ức niệm, ước vọng
liên hệ đến kiết sử. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, là niệm
được khởi lên. Mau lẹ, vị ấy từ bỏ (trạng thái ấy), gột sạch, chấm dứt,
không cho hiện hữu.
11) Như vậy, này các Tỷ-kheo, sở hành như vậy, sở
trú như vậy của Tỷ-kheo được giác tri. Do sở hành, sở trú như vậy, các
tham ái, ưu, bi, các ác bất thiện pháp không có tồn chỉ. Này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy với sở hành như vậy, sở trú như vậy, nếu có
quốc vương hay đại thần của vua, bạn bè, thân hữu hay bà con huyết thống
đến dâng cúng tài sản và nói: "Hãy đến đây, này Bạn! Sao lại
để những y vàng ấy hành hạ Bạn? Sao lại sống với đầu trọc và bình
bát? Hãy hoàn tục, thọ hưởng tài sản và làm các công đức". Này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy có sở hành như vậy, có sở trú như vậy, sẽ
từ bỏ học pháp và hoàn tục; sự việc như vậy không xảy ra.
12) Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng hướng
về phía Ðông, xuôi về phía Ðông, nghiêng nhập vào phía Ðông. Rồi
một đám dân chúng đông người đến với xuổng, cuốc, giỏ và nói:
"Chúng ta hãy làm cho sông Hằng này hướng về phía Tây, xuôi về
phía Tây, nghiêng nhập vào phía Tây". Các Ông nghĩ thế nào, này các
Tỷ-kheo, đám dân chúng đông người ấy có thể làm cho sông Hằng
hướng về phía Tây, xuôi về phía Tây và nghiêng nhập vào phía Tây
không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Vì sao?
-- Vì sông Hằng này, bạch Thế Tôn, hướng về
phía Ðông, xuôi về phía Ðông, nghiêng nhập vào phía Ðông; không có dễ
gì làm cho hướng về phía Tây, xuôi về phía Tây, nghiêng nhập vào
phía Tây được. Chỉ có đám dân chúng đông người ấy chuốc lấy mệt
mỏi và thất vọng thôi.
13) -- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy với
sở hành như vậy, sở trú như vậy, nếu có quốc vương hay đại thần của
vua, bạn bè, thân hữu, hay bà con huyết thống đến dâng cúng tài sản
và nói: "Hãy đến đây, này Bạn. Sao lại để những y vàng ấy
hành hạ Bạn? Sao lại sống với đầu trọc và bình bát? Hãy hoàn tục,
thọ hưởng tài sản và làm các công đức". Này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo ấy có sở hành như vậy, có sở trú như vậy, sẽ từ bỏ học
pháp và hoàn tục; sự việc như vậy không xảy ra. Vì sao? Này các
Tỷ-kheo, vì tâm của vị ấy đã lâu ngày hướng về viễn ly, xuôi
về viễn ly, nghiêng nhập vào viễn ly; do vậy sự hoàn tục không xảy ra.
204. VIII. Phải Gọi Là Gì (Kimsukà) (S.iv,191)
1) ...
2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến một Tỷ-kheo khác,
sau khi đến, nói với Tỷ-kheo ấy:
-- Cho đến như thế nào, này Hiền giả, sự
thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?
-- Này Hiền giả, Tỷ-kheo khi nào như thật rõ
biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của sáu xúc xứ; cho đến như
vậy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.
3) Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời câu
hỏi của Tỷ-kheo kia, liền đi đến một Tỷ-kheo khác và nói:
-- Này Hiền giả, cho đến như thế nào, sự
thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?
-- Này Hiền giả, khi nào Tỷ-kheo như thật rõ
biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của năm thủ uẩn; khi ấy, này
Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.
4) Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời của
Tỷ-kheo kia, liền đi đến một Tỷ-kheo khác nữa và nói:
-- Này Hiền giả, cho đến như thế nào, sự
thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?
-- Này Hiền giả, khi nào Tỷ-kheo như thật
tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của bốn đại chủng; khi ấy, này
Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.
5) Rồi Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn...
-- Này Hiền giả, khi nào Tỷ-kheo như thật rõ
biết rằng, phàm pháp gì được khởi lên, tất cả pháp ấy đều phải
đoạn diệt; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh
tịnh.
6) Rồi Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời
câu hỏi của Tỷ-kheo kia, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến,
đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo
ấy bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, con đi đến một
Tỷ-kheo và nói với Tỷ-kheo ấy: "Cho đến như thế nào, này
Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?" Khi được nói
vậy, Tỷ-kheo ấy nói với con: "Khi nào như thật tuệ tri sự tập
khởi và sự chấm dứt của sáu xúc xứ; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của
Tỷ-kheo khéo thanh tịnh". Bạch Thế Tôn, con không thỏa mãn câu trả
lời của Tỷ-kheo kia nên đi đến một Tỷ-kheo khác; sau khi đến,
con nói với Tỷ-kheo ấy: "Cho đến như thế nào, này Hiền
giả, sự thấy của một Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?" Khi được nói vậy,
bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo ấy nói với con: "Khi nào, này Hiền giả,
Tỷ-kheo như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của năm thủ
uẩn... như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của bốn đại
chủng... như thật tuệ tri rằng, phàm có pháp gì được tập khởi, tất cả
pháp ấy bị đoạn diệt, cho đến như vậy, này Hiền giả, sự thấy
của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh". Bạch Thế Tôn, con không thỏa mãn câu
trả lời câu hỏi của Tỷ-kheo kia nên con đi đến Thế Tôn và bạch
Thế Tôn: "Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, sự thấy
của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?"
7) -- Ví như, này Tỷ-kheo, một người chưa từng
thấy cây kimsuka, người ấy đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka
và nói: "Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?". Người ấy đáp như
sau: "Này Bạn, cây kimsuma màu đen, như một khúc cây bị cháy". Như
vậy, này Tỷ-kheo, trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là
giống như người kia đã thấy. Rồi, này Tỷ-kheo, người ấy không thỏa mãn
với câu trả lời của người kia, liền đi đến một người khác đã
thấy cây kimsuka, sau khi đến, hỏi người ấy: "Này Bạn, cây kimsuka là
thế nào?" Người kia trả lời: "Này Bạn, cây kimsuka màu đỏ,
giống như một đống thịt". Và này Tỷ-kheo, như vậy trong thời gian
ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Rồi, này
Tỷ-kheo, người ấy không thỏa mãn với câu trả lời của người kia, đi
đến một người khác đã thấy cây kimsuka, sau khi đến nói với người
ấy: "Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?" Người kia trả lời:
"Này Bạn, cây kimsuka bị lột vỏ, vỏ bị nứt nẻ ra như cây keo
(sirìso)". Này Tỷ-kheo, trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người
ấy là giống như người kia đã thấy. Rồi, này Tỷ-kheo, người ấy không
thỏa mãn với câu trả lời của người kia, liền đi đến một người
khác đã thấy cây kimsuka, sau khi đến, nói với người ấy: "Này Bạn,
cây kimsuka là thế nào?" Người kia nói như sau: "Này Bạn, cây
kimsuka có lá rậm rạp, bóng của nó dày và rậm, như cây bàng". Như vậy,
này Tỷ-kheo, trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống
như người kia đã thấy. Cũng vậy, này Tỷ-kheo, tùy theo sự thấy của Chân
nhân ấy khéo thanh tịnh, tùy thuộc theo đấy, họ đã trả lời.
8) Ví như, này Tỷ-kheo, có ngôi thành của vua ở
biên giới được xây dựng với pháo đài kiên cố, với tường và tháp canh
kiên cố và có đến sáu cửa thành. Tại đấy có người giữ cửa thành, là
bậc thông minh, có kinh nghiệm và có trí, ngăn chận những người không
quen biết, cho vào những người quen biết. Từ phương Ðông, hai người
sứ giả cấp tốc đi đến, và nói với người giữ cửa thành: "Này Bạn,
vị chủ thành trì này ở đâu?" Người giữa cửa thành ấy nói: "Thưa
các Tôn giả, vị ấy đang ngồi giữa ngã tư đường". Hai người sứ giả
ấy cấp tốc tuyên bố lời như thật ngữ cho vị chủ ngôi thành, rồi tiếp
tục đi theo con đường họ đến. Từ phương Tây, lại hai người sứ giả
cấp tốc đi đến... từ phương Bắc, lại hai người sứ giả cấp tốc đi
đến, và nói với người giữ cửa thành: "Này Bạn, vị chủ thành trì
này ở đâu?" Người giữ cửa thành ấy nói: "Thưa các Tôn giả, vị
ấy đang ngồi giữa ngã tư đường". Rồi hai người sứ giả ấy cấp tốc
tuyên bố lời như thật ngữ cho vị chủ ngôi thành, rồi tiếp tục theo con
đường họ đến.
9) Này Tỷ-kheo, Ta nói ví dụ để giải thích
ý nghĩa, và đây là ý nghĩa: Ngôi thành, này Tỷ-kheo, là đồng
nghĩa với thân do bốn đại chủng tạo thành này, do cha mẹ sanh, do cơm cháo
nuôi dưỡng, vô thường, tiêu mòn, tiêu hao, hủy hoại, hủy diệt. Sáu cửa,
này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Người giữ cửa, này
Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với niệm. Hai vị sứ giả cấp tốc, này
Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với chỉ và quán. Người chủ ngôi thành là đồng
nghĩa với thức. Ở giữa tại ngã tư đường là đồng nghĩa với bốn đại
chủng: địa giới, thủy giới, hỏa giới và phong giới. Lời như thật ngữ, này
Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Niết-bàn. Theo con đường họ đến
là đồng nghĩa với con đường Thánh đạo Tám ngành. Như chánh tri kiến...
chánh định.
205. IX. Ðờn Tỳ Bà (S.iv,195)
1-2) ...
3) --Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni
nào đối với các sắc do mắt nhận thức có khởi lên dục (chanda), tham, sân, si
hay hận tâm; hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy. Con đường này
là con đường đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc, đầy rừng rậm, con
đường ác, con đường tà, con đường đầy trộm cướp. Con đường này là con
đường do phi thiện nhân dùng, không phải con đường do thiện nhân
dùng. Như vậy, với ý nghĩ: "Ðây không phải con đường xứng đáng
cho ta". Hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy đối với các sắc
do mắt nhận thức... Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào đối
với các vị do lưỡi nhận thức... đối với các pháp do ý nhận thức, có
khởi lên dục, tham, sân, si hay hận tâm; hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên
như vậy. Con đường này là con đường đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai
góc, đầy rừng rậm, con đường ác, con đường tà, con đường đầy trộm
cướp. Con đường này là con đường do phi thiện nhân dùng, không phải con
đường do thiện nhân dùng. Như vậy với ý nghĩ: "Ðây không phải
con đường xứng đáng cho ta", hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như
vậy đối với các pháp do ý nhận thức.
4) Ví như, này các Tỷ-kheo, lúa mì đã chín và
một người giữ lúa mì phóng dật (lơ đãng). Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm
lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy và mê say ăn một cách thỏa thích. Cũng vậy,
này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không hộ trì đối với sáu xúc xứ,
mê say thọ dụng một cách thỏa thích đối với năm dục công đức.
5) Ví như, này các Tỷ-kheo, lúa mì đã chín và
một người giữ lúa mì không phóng dật. Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm
lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chắc cái lỗ mũi của con bò; sau khi
nắm chắc cái lỗ mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt
trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau
khi lấy gậy đánh cho một trận nên thân, người ấy thả con bò đi.
Lần thứ hai, này các Tỷ-kheo...
Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo, có con bò ăn lúa mì,
xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chặt cái mũi con bò; sau khi nắm
chắc cái mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái
trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy
đánh con bò một trận nên thân, người ấy thả con bò đi. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, con bò ăn lúa mì ấy đi vào làng, hay đi vào rừng, hay khi đứng,
hay ngồi, nó không xâm phạm lúa mì ấy, vì nó nhớ đến cảm xúc cái gậy
lần trước. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo có tâm chơn
trực, chánh trực đối với sáu xúc xứ, thời nội tâm được an trú, tịnh chỉ,
nhứt tâm, Thiền định.
6) Ví như, này các Tỷ-kheo, một vị vua hay đại
thần của vua từ trước chưa từng được nghe tiếng đàn tỳ bà, nay được
nghe tiếng đàn tỳ bà, vị ấy nói: "Này Bạn, tiếng ấy là
tiếng gì, khả ái như vậy, khả lạc như vậy, mê ly như vậy, say đắm như
vậy, hấp dẫn như vậy?" Họ nói với vị ấy: "Thưa Tôn giả, đây
là đàn tỳ bà, với tiếng khả ái như vậy, mê ly như vậy, khả lạc như
vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn như vậy". Vị ấy nói như sau: "Hãy
đi và đem đàn tỳ bà ấy về cho ta". Họ đem đàn tỳ bà về
cho vị ấy, và nói như sau: "Thưa Tôn giả, đàn tỳ bà này với tiếng
khả ái như vậy, khả lạc như vậy, mê ly như vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn
như vậy". Vị ấy bèn nói: "Thôi vừa rồi đối với ta về đàn tỳ
bà này. Hãy đem tiếng lại cho ta". Họ thưa với vị ấy: "Thưa
Tôn giả, cái này được gọi là đàn tỳ bà, gồm có nhiều thành phần,
gồm có số lớn thành phần. Nhờ nhiều thành phần này nên đàn phát âm.
Như duyên cái bầu, duyên cái da, duyên cái cán, duyên cái đầu, duyên cái
dây, duyên cái cung, duyên nỗ lực thích nghi của người. Như vậy, thưa
Tôn giả, cái này gọi là đàn tỳ bà, gồm có nhiều thành phần, gồm
có số lớn thành phần. Nhờ gồm nhiều thành phần này nên đàn phát
âm". Rồi vua ấy đập đàn tỳ bà ấy ra thành 10 mảnh, 100 mảnh; sau khi
đập bể đàn tỳ bà ấy ra thành 10 mảnh, 100 mảnh, vị ấy chẻ thành từng
miếng nhỏ; sau khi chẻ thành từng miếng nhỏ, vị ấy lấy lửa đốt; sau
khi lấy lửa đốt, vị ấy vun lại thành đống tro; sau khi vun lại thành đống
tro, vị ấy đem quạt đống tro lớn ấy trước làn gió mạnh, hay để chúng
trôi theo dòng nước sông chảy mạnh. Rồi vị ấy nói: "Thật là hạ
liệt, cái gọi đàn tỳ bà này, dầu cho tỳ bà là cái gì. Ở đây,
đại chúng thường phóng dật, bị hướng dẫn sai lạc".
7) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát
sắc cho đến sở thú của sắc, quán sát thọ... quán sát tưởng... quán
sát các hành... quán sát thức cho đến sở thú của thức. Trong tất cả
quán sát này, không có cái gì là "Tôi", là "Của tôi", là
"Tôi là" cả.
206. X. Sáu Sanh Vật (S.iv,198)
1-2) ...
3) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, có người thân bị
thương tích, thân bị lở loét, đi vào một khu rừng đầy gai góc. Cỏ và gai
đâm thủng chân người ấy, và cào rách thân lở loét của người ấy. Như
vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy do nhân duyên ấy còn cảm thọ khổ ưu
nhiều hơn nữa. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có Tỷ-kheo đi
vào làng hay đi vào rừng gặp người chỉ trích Tỷ-kheo ấy, và người chỉ
trích nói rằng: "Tôn giả làm như vậy, sở hành như vậy là gai bất tịnh
trong làng". Biết rằng vị ấy là gai, sau khi biết như vậy, cả hai
(người Tỷ-kheo và người chỉ trích) cần phải hiểu là không hộ trì
và có hộ trì.
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không hộ
trì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, thiên chấp
sắc khả ái, ghét bỏ sắc không khả ái, sống với thân niệm không an trú,
với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ
giải thoát; chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên không
được đoạn diệt không có dư tàn... khi tai nghe tiếng... khi mũi ngửi
hương... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc... khi ý nhận biết
pháp, thiên chấp pháp khả ái, ghét bỏ pháp không khả ái, sống với thân
niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật tuệ tri tâm
giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi ấy, các ác, bất thiện pháp
ấy khởi lên không được đoạn diệt không có dư tàn...
5) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bắt được
sáu sinh vật, giới loại khác nhau, chỗ tìm món ăn khác nhau, và cột chúng
với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con rắn, người ấy cột với sợi
dây vững chắc. Sau khi bắt được con cá sấu, người ấy cột một sợi dây vững
chắc. Sau khi bắt được con chim, người ấy cột với sợi dây vững chắc... Sau
khi bắt được con chó, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt
được con giả can, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt
được con khỉ, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi cột chúng
với những sợi dây vững chắc, người ấy cột một cái gút ở chính giữa và
thả chúng đi. Này các Tỷ-kheo, sáu con sinh vật ấy, với giới loại sai
khác, với chỗ tìm món ăn sai khác, mỗi con sẽ lôi kéo tùy theo
chỗ tìm món ăn và giới loại sai biệt của mình. Con rắn lôi kéo, nghĩ
rằng: "Ta sẽ đi vào gò mối". Con cá sấu lôi kéo, nghĩ rằng: "Ta
sẽ đi vào trong nước". Con chim lôi kéo, nghĩ rằng: "Ta sẽ bay lên
trời".Con chó lôi kéo, nghĩ rằng: " Ta sẽ đi vào làng". Con giả
can lôi kéo, nghĩ rằng: "Ta sẽ đi vào nghĩa địa". Con khỉ lôi kéo,
nghĩ rằng: "Ta sẽ đi vào rừng". Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu con
sinh vật ấy trở thành mệt mỏi, khi ấy, con sinh vật nào mạnh hơn các sinh
vật còn lại, được chúng đi theo, chúng tuân theo, chúng phục tùng. Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo thân niệm không tu tập, không
làm cho sung mãn, con mắt sẽ lôi cuốn nó đối với các sắc khả ái và ghét
bỏ đối với các sắc không khả ái... Ý sẽ lôi cuốn nó đối với các pháp
khả ái và ghét bỏ đối với các pháp không khả ái.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không hộ trì.
6) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hộ trì?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt
thấy sắc, không thiên chấp các sắc khả ái, không ghét bỏ các sắc không khả
ái, sống với thân niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ
biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây, các ác bất
thiện pháp khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn... khi tai nghe
tiếng... khi mũi ngửi hương... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc...
khi ý biết các pháp, không thiên chấp các pháp khả ái, không ghét bỏ
các pháp không khả ái, an trú thân niệm, với tâm vô lượng. Vị ấy như
thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây các
ác bất thiện pháp ấy khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn.
7) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bắt được
sáu con sinh vật, giới loại khác nhau, chỗ tìm món ăn khác nhau, và cột
chúng với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con rắn, người ấy cột
với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con cá sấu... Sau khi bắt được
con chim... Sau khi bắt được con chó... Sau khi bắt được con giả can... Sau khi
bắt được con khỉ, người ấy cột với sợi dây vững chắc. Sau khi cột chúng
với sợi dây vững chắc, người ấy cột vào một cái cột hay cái trụ vững
chắc. Rồi, này các Tỷ-kheo, sáu con sinh vật ấy, với giới loại sai khác,
với chỗ tìm món ăn sai khác, mỗi con sẽ lôi kéo, tùy theo chỗ tìm
món ăn và giới loại sai biệt của mình. Con rắn lôi kéo, nghĩ rằng:
"Ta sẽ đi vào gò mối". Con cá sấu lôi kéo, nghĩ rằng: "Ta sẽ
đi vào trong nước". Con chim lôi kéo nghĩ rằng: "Ta sẽ bay lên
trời". Con chó lôi kéo, nghĩ rằng: "Ta sẽ đi vào làng". Con giả
can lôi kéo nghĩ rằng: "Ta sẽ đi đến nghĩa địa". Con khỉ lôi
kéo, nghĩ rằng: "Ta sẽ đi vào rừng". Này các Tỷ-kheo, khi nào
sáu con sinh vật ấy trở thành mệt mỏi, chúng sẽ đứng gần bên, ngồi gần
bên, nằm gần bên cái cột ấy hay cái trụ ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
khi nào Tỷ-kheo thân niệm được tu tập, được làm sung mãn, con mắt
không lôi kéo vị ấy theo các sắc khả ái, đối với các sắc không khả ái,
không ghét bỏ... lưỡi không lôi kéo vị ấy theo các vị khả ái, đối với vị
không khả ái, không có ghét bỏ... ý không lôi kéo vị ấy theo các pháp
khả ái, đối với pháp không khả ái, không có ghét bỏ.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hộ trì.
8) Cái cột hay cái trụ vững chắc, này các Tỷ-kheo,
là đồng nghĩa với thân niệm. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học
tập như sau: "Chúng ta sẽ tu tập thân niệm, làm cho sung mãn, làm cho
như thành cỗ xe, làm cho như thành cơ sở, an trú, tích tập, khéo nỗ
lực". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
207. XI. Bó Lúa (S.iv,201)
1-2) ...
3) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, một bó lúa quăng
tại ngã tư đường, rồi sáu người đến, tay cầm cái đập và họ đập
bó lúa ấy với sáu cái đập (vyàkggì)
Như vậy, này các Tỷ-kheo, bó lúa ấy được khéo
đập với sáu cái đập ấy. Rồi một người thứ bảy đến, tay cầm cái
đập, và người ấy đập bó lúa ấy với cái đập thứ bảy. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, bó lúa ấy lại càng được khéo đập với cái đập thứ bảy.
4) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu
bị đập trong con mắt bởi những sắc khả ái và không khả ái... bị đập trong
lưỡi bởi những vị khả ái và không khả ái... bị đập trong ý bởi những
pháp khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, nếu kẻ vô văn phàm
phu ấy lại nghĩ đến tái sanh trong tương lai, như vậy, này các
Tỷ-kheo, kẻ ngu si ấy lại càng bị khéo đập hơn nữa. Ví như, này các
Tỷ-kheo, bó lúa ấy lại được đập với cái đập thứ bảy nữa.
5) Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, cuộc chiến xảy ra
giữa chư Thiên và các A-tu-la rất là khốc liệt.
Này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua A-tu-la gọi các
A-tu-la: "Này Thân hữu, trong cuộc chiến đang khởi lên giữa chư Thiên
và loài A-tu-la rất là khốc liệt, nếu các A-tu-la thắng và chư Thiên
bại, hãy trói Thiên chủ Sakka hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và dắt vua
ấy đến trước mặt ta, trong thành của các A-tu-la". Còn Thiên chủ
Sakka gọi chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba: "Này Thân hữu, trong trận
chiến giữa chư Thiên và các loài A-tu-la, trận chiến rất là khốc
liệt, nếu chư Thiên thắng và các loài A-tu-la bại, hãy trói vua A-tu-la
Vepacitti, hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và dắt vua ấy đến trước
mặt ta, trong giảng đường Sudhamma (Thiện Pháp)".
6) Nhưng trận chiến ấy, chư Thiên thắng và các
loài A-tu-la bại. Rồi, này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba
trói vua A-tu-la Vepacitti, trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, rồi dẫn
đến trước mặt Thiên chủ Sakka trong giảng đường Sudhamma.
7) Tại đây, này các Tỷ-kheo, vua A-tu-la Vepacitti bị
trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ. Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua
A-tu-la Vepacitti suy nghĩ như sau: "Chư Thiên theo Chánh pháp, còn A-tu-la
theo phi pháp. Nay ta đi đến thành của chư Thiên", thời khi ấy vua
A-tu-la tự thấy mình được cởi trói hai chân, hai tay và thứ năm là cổ, và
được hưởng thọ, được thưởng thức đầy đủ năm dục công đức cõi
trời. Và này các Tỷ-kheo, khi vua A-tu-la suy nghĩ như sau: "Các A-tu-la
theo Chánh pháp, chư Thiên theo phi pháp. Ở đây, ta sẽ đi đến thành
của các A-tu-la", thời khi ấy vua A-tu-la tự thấy mình bị trói hai tay, hai
chân và thứ năm là cổ, và bị tước bỏ năm dục công đức cõi trời.
8) Như vậy, này các Tỷ-kheo, thật tế nhị là sự
trói buộc của Vepacitti, và còn tế nhị hơn là sự trói buộc của Màra. Ai
có tư tưởng (Mannamàna), người ấy bị Màra trói buộc. Ai không có tư
tưởng, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. "Tôi là", này các
Tỷ-kheo, là một tư tưởng. "Cái này là tôi", này các
Tỷ-kheo, là một tư tưởng. "Tôi sẽ là", này các Tỷ-kheo, là
một tư tưởng. "Tôi sẽ không là", là một tư tưởng. "Tôi sẽ
có sắc", là một tư tưởng. "Tôi sẽ không có sắc", là một tư
tưởng. "Tôi sẽ có tưởng", là một tư tưởng. "Tôi sẽ không có
tưởng", là một tư tưởng. "Tôi sẽ không có tưởng và không không
có tưởng", là một tư tưởng. Có tư tưởng, này các Tỷ-kheo, là
tham. Có tư tưởng là mụt nhọt. Có tư tưởng là mũi tên. Do vậy, này
các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: "Tôi sẽ sống với tâm
không có tư tưởng".
9) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải
hiểu: "Tôi là", này các Tỷ-kheo, là một động chuyển
(injitam). "Cái này là tôi", là một động chuyển. "Tôi sẽ
là", là một động chuyển. "Tôi sẽ không là", là một động
chuyển. "Tôi sẽ có sắc", là một động chuyển. "Tôi sẽ
có tưởng", là một động chuyển. "Tôi sẽ không có tưởng",
là một động chuyển. "Tôi sẽ không có tưởng và không không có
tưởng", là một động chuyển. Ðộng chuyển, này các Tỷ-kheo,
là tham. Ðộng chuyển là mụt nhọt. Ðộng chuyển là mũi tên. Do
vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: "Tôi sẽ sống
với tâm không có động chuyển".
10) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải
hiểu: "Tôi là", này các Tỷ-kheo, là một chấn động
(phanditam). "Cái này là tôi", là một chấn động. "Tôi sẽ
là", là một chấn động. "Tôi sẽ không là", là một chấn động.
"Tôi sẽ có sắc", là một chấn động. "Tôi sẽ không có
sắc", là một chấn động. "Tôi sẽ có tưởng", là một chấn
động. "Tôi sẽ không có tưởng", là một chấn động. "Tôi sẽ
không có tưởng và không không có tưởng", là một chấn động. Chấn
động, này các Tỷ-kheo, là tham. Chấn động là mụt nhọt. Chấn động
là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập:
"Tôi sẽ sống với tâm không chấn động".
11) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải
hiểu: "Tôi là", này các Tỷ-kheo, là một hý luận
(papancitam). "Cái này là tôi", là một hý luận. "Tôi sẽ
là", là một hý luận. "Tôi sẽ không là", là một hý
luận. "Tôi sẽ có sắc", là một hý luận. "Tôi sẽ không có
sắc", là một hý luận. "Tôi sẽ có tưởng", là một hý
luận. "Tôi sẽ không có tưởng", là một hý luận. "Tôi sẽ
không có tưởng và không không có tưởng", là một hý luận. Hý
luận, này các Tỷ-kheo, là tham. Hý luận là mụt nhọt. Hý luận
là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập:
"Tôi sẽ sống với tâm không có hý luận".
12) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải
hiểu: "Tôi là", này các Tỷ-kheo, là một ngã mạn. "Cái
này là tôi", là một ngã mạn. "Tôi sẽ là", là một ngã mạn.
"Tôi sẽ không là", là một ngã mạn. "Tôi sẽ có sắc", là
một ngã mạn. "Tôi sẽ không có sắc", là một ngã mạn. "Tôi sẽ
có tưởng", là một ngã mạn. "Tôi sẽ không có tưởng", là một
ngã mạn. "Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng", là một
ngã mạn. Ngã mạn, này các Tỷ-kheo, là tham. Ngã mạn là mụt nhọt. Ngã
mạn là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập:
"Tôi sẽ sống với tâm trừ bỏ ngã mạn". Như vậy, này các
Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.