[35] Chương I — Tương Ưng Sáu Xứ (e)#
Tương Ưng Bộ -
Samyutta Nikaya
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Tập IV - Thiên Sáu Xứ
[35] Chương I
Tương Ưng Sáu Xứ (e)
-ooOoo-
IV. Phẩm Devadaha
134. I. Sát Na Ở Devadaha (S.iv,124)
1) Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka, tại
một thị trấn của dân chúng Sakka, tên là Devadaha.
2) Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
-- Này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố rằng đối
với tất cả Tỷ-kheo cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu
xúc xứ. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta cũng không tuyên bố rằng đối với tất
cả Tỷ-kheo không cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc
xứ.
3) Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào là bậc
A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã thành tựu Phạm hạnh, đã
làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục
đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, đã được giải thoát nhờ chánh
trí; thời này các Tỷ-kheo, đối với những Tỷ-kheo ấy, Ta tuyên bố rằng
không cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ. Vì sao?
4) Vì các vị ấy đã hành trì không phóng dật,
đến nỗi họ không thể trở thành phóng dật.
5) Này các Tỷ-kheo, còn những Tỷ-kheo nào còn
là hữu học, sở nguyện chưa thành đạt, đang sống cần cầu vô thượng
an ổn khỏi các khổ ách; thời này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo
ấy, Ta tuyên bố rằng họ cần phải cố gắng không phóng dật đối với
sáu xúc xứ. Vì sao?
6) Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận
thức khả ái và không khả ái. Dầu chúng xúc chạm tâm nhiều lần, chúng
không chi phối được tâm và tồn tại. Do tâm không bị chi phối, tinh cần,
tinh tấn khởi lên, không có biếng nhác; niệm được an trú, không có thất
thoát; thân được khinh an, không có cuồng nhiệt; tâm được định tĩnh,
nhứt tâm. Này các Tỷ-kheo, thấy được quả không phóng dật này, đối với
những Tỷ-kheo ấy. Ta tuyên bố rằng, cần phải cố gắng không phóng dật
đối với sáu xúc xứ.
7-10) Này các Tỷ-kheo, có những tiếng do tai nhận
thức... có những hương do mũi nhận thức... có những vị do lưỡi nhận
thức... có những xúc do thân nhận thức...
11) Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức
khả ái và không khả ái. Dầu chúng xúc chạm tâm nhiều lần, chúng không
chi phối được tâm và tồn tại. Do tâm không bị chi phối, tinh cần, tinh
tấn khởi lên, không có biếng nhác; niệm được an trú, không có thất
thoát; thân được khinh an, không cuồng nhiệt; tâm được định tĩnh, nhứt
tâm. Này các Tỷ-kheo, thấy được quả không phóng dật này, đối với những
Tỷ-kheo ấy, Ta tuyên bố rằng, cần phải cố gắng không phóng dật đối
với sáu xúc xứ.
135. II. Thâu Nhiếp (S.iv, 126)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, các Ông được lợi đắc.
Này các Tỷ-kheo, các Ông được khéo lợi đắc. Các Ông đã nắm được
cơ hội (khana) để sống Phạm hạnh.
3) Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các địa ngục
gọi là sáu xúc xứ địa ngục. Ở đấy, phàm mắt thấy sắc gì, thấy sắc
không khả lạc, không phải sắc khả lạc; thấy sắc không khả hỷ,
không phải sắc khả hỷ; thấy sắc không khả ý, không phải sắc khả
ý. Phàm tai nghe tiếng gì... Phàm mũi ngửi hương gì... Phàm lưỡi nếm vị
gì... Phàm thân cảm xúc gì... Phàm ý nhận thức pháp gì, nhận thức pháp
không khả lạc, không phải pháp khả lạc; nhận thức không phải khả hỷ,
không phải pháp khả hỷ; nhận thức pháp không khả ý, không phải pháp
khả ý.
Này các Tỷ-kheo, các Ông được lợi đắc. Này
các Tỷ-kheo, các Ông được khéo lợi đắc. Các Ông đã nắm được cơ hội
để sống Phạm hạnh.
4) Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các Thiên giới
gọi là sáu xúc xứ Thiên giới. Tại đấy, phàm mắt thấy sắc gì, thấy
sắc khả lạc, không phải sắc không lạc; thấy sắc khả hỷ, không phải
sắc không khả hỷ; thấy sắc khả ý, không phải sắc không khả ý. Phàm
tai nghe tiếng gì... Phàm mũi ngửi hương gì... Phàm lưỡi nếm vị gì...
Phàm thân cảm xúc gì... Phàm ý nhận thức pháp gì, nhận thức pháp khả
lạc, không phải không khả lạc; nhận thức pháp khả hỷ, không phải
không khả hỷ; nhận thức pháp khả ý, không phải pháp không khả ý.
Này các Tỷ-kheo, các Ông được lợi đắc. Này
các Tỷ-kheo, các Ông được khéo lợi đắc. Các Ông đã nắm được cơ hội
để sống Phạm hạnh.
136. III. Không Thâu Nhiếp (2) (S.iv 126)
1) ...
2) Này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời thích
thú sắc, bị sắc kích thích. Khi sắc biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này
các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời sống đau khổ... thích thú tiếng...
thích thú hương... thích thú vị... thích thú xúc... Này các Tỷ-kheo, chư
Thiên và Người đời thích thú pháp, bị pháp kích thích. Khi pháp biến hoại,
ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời sống đau
khổ.
3) Này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh
Ðẳng Giác, sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị
ngọt, sự nguy hiểm và xuất ly của sắc, không có thích thú sắc, không
có ưa thích sắc, không bị sắc kích thích. Khi sắc biến hoại, ly tham,
đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống an lạc... không thích thú tiếng...
không thích thú hương... không thích thú vị... không thích thú xúc...
Sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn
diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của pháp, Như Lai không
thích thú pháp, không ưa thích pháp, không bị pháp kích thích. Khi pháp biến
hoại, ly tham, đoạn diệt, Như Lai sống an lạc.
4) Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói vậy
xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
1) Sắc, thanh, hương, vị, xúc,
Và toàn thể các pháp,
Khả lạc, hỷ, khả ý,
Như vậy, chúng được gọi.
2) Chư Thiên và Người đời,
Xem chúng là khả lạc,
Chỗ nào chúng đoạn diệt,
Thiên, Nhân thấy đau khổ.
3) Bậc Thánh thấy an lạc,
Khi thân kiến đoạn diệt,
Bậc Thánh xem trái ngược,
Mọi quan điểm của đời.
4) Ðiều người gọi là lạc,
Bậc Thánh gọi là khổ.
Ðiều người gọi là khổ,
Thánh nhân biết là lạc.
5) Thấy pháp khó nhận biết,
Kẻ vô trí mê loạn,
Tối tăm đối vô minh,
Mù lòa đối không thấy.
6) Thiện nhân mắt rộng mở,
Thấy rõ ràng ánh sáng,
Sống gần, biết rõ ràng,
Thuần thục trong pháp lớn.
7) Bị tham sanh chinh phục,
Bị dòng hữu cuốn trôi,
Bị Ác ma chi phối,
Không giác ngộ pháp này.
8) Ngoài Thánh không có ai,
Giác ngộ con đường này,
Con đường đạt Niết-bàn,
Chánh trí thoát lậu hoặc.
5) Này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời thích
thú sắc, bị sắc kích thích. Khi sắc biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này
các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời sống đau khổ... thích thú tiếng...
thích thú hương... thích thú vị... thích thú xúc... Này các Tỷ-kheo, chư
Thiên và Người đời thích thú pháp, bị pháp kích thích. Khi pháp biến hoại,
ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời sống đau
khổ.
6) Này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh
Ðẳng Giác, sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị
ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc, không thích thú sắc, không
ưa thích sắc, không bị sắc kích thích. Khi sắc biến hoại, ly tham, đoạn
diệt, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống an lạc... không thích thú tiếng...
không thích thú hương... không thích thú vị... không thích thú xúc... Sau
khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy
hiểm và sự xuất ly của các pháp, Như Lai không thích thú pháp, không ưa
thích pháp, không bị các pháp kích thích. Khi các pháp biến hoại, ly tham,
đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống an lạc.
137. V. Các Lậu (1) (S.iv,128)
1) ...
2) Này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các
Ông, hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ chúng sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho
các Ông. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông?
3-8) Mắt, này các Tỷ-kheo, không phải của các
Ông, hãy từ bỏ mắt. Từ bỏ mắt sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho
các Ông... Tai... Mũi... Lưỡi... Thân... Ý, này các Tỷ-kheo, không phải của
các Ông, hãy từ bỏ ý. Từ bỏ ý sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho các
Ông.
9) Ví như, này các Tỷ-kheo, trong rừng Jeta này,
có người mang đi, hoặc đem đốt, hoặc tùy duyên làm một việc gì đối
với cỏ, củi, cành và lá, thời các Ông có vì vậy mà nghĩ rằng người
ấy mang các Ông đi, đốt các Ông, hay tùy duyên làm một việc gì với
các Ông?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Vì sao?
-- Bạch Thế Tôn, vì cái ấy không phải tự
ngã, không thuộc tự ngã.
10) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo. Mắt không phải
của các Ông, hãy từ bỏ mắt. Từ bỏ mắt sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc
cho các Ông. Tai... Mũi... Lưỡi... Thân... Ý, này các Tỷ-kheo, không phải của
các Ông, hãy từ bỏ ý. Từ bỏ ý, sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho
các Ông.
138. V. Các Lậu (2) (S.iv,129)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của
các Ông, hãy từ bỏ chúng... (Như kinh trước, chỉ khác là thế vào các sắc,
các tiếng, các hương, các vị, các xúc, và các pháp).
139. VI. Nội Căn Do Nhân (1) (S.iv,129)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, mắt là vô thường. Do nhân
gì, do duyên gì khiến mắt khởi lên, cái ấy cũng vô thường. Này các Tỷ-kheo,
mắt do nhân vô thường khởi lên, từ đâu sẽ thường còn được?
4-7) ... tai... mũi... lưỡi... thân...
8) Này các Tỷ-kheo, ý là vô thường. Do nhân
gì, do duyên gì khiến ý khởi lên, cái ấy cũng vô thường. Này các Tỷ-kheo,
ý do nhân vô thường khởi lên, từ đâu có thể thường được?
9) Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh
đệ tử nhàm chán đối với mắt... đối với ý. Do nhàm chán, vị ấy ly
tham... "... không còn trở lui trạng thái này nữa".
140. VII. Nội Căn Do Nhân (2) (S.iv,130)
(Như kinh trên, chỉ khác khổ thế cho vô thường)#
...
141. VIII. Nội Căn Do Nhân (3) (S.iv,130)
(Như kinh trên, chỉ khác vô ngã thế cho vô thường)#
...
142 - 144. IX - X. Ngoại Căn Do Nhân (1)
(2)(3)(S.iv,131)
(Như các kinh trước, chỉ thế vào các sắc, các tiếng,
các hương, các vị, các xúc, các pháp)...
V. Mới Và Cũ
145. I. Nghiệp (S.iv,132)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết về các nghiệp
mới và cũ, sự đoạn diệt các nghiệp, con đường đưa đến sự đoạn
diệt các nghiệp. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.
3) Này các Tỷ-kheo, thế nào là nghiệp cũ?
Mắt, này các Tỷ-kheo, cần phải quán là nghiệp
cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ. Tai... Mũi... Lưỡi...
Thân... Ý cần phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm,
được cảm thọ.
Các Tỷ-kheo, đây được gọi là nghiệp cũ.
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là nghiệp mới?
Này các Tỷ-kheo, hiện tại phàm làm việc gì với thân, với lời nói, hay
với ý. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là nghiệp mới.
5) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là nghiệp đoạn
diệt? Sự đoạn diệt thân nghiệp, ngữ nghiệp, ý nghiệp, nhờ vậy cảm
thấy giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là nghiệp đoạn diệt.
6) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường
đưa đến nghiệp đoạn diệt? Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức
là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng,
chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là con
đường đưa đến nghiệp đoạn diệt.
7) Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta đã giảng cho
các Ông nghiệp cũ, đã giảng nghiệp mới, đã giảng nghiệp đoạn diệt,
đã giảng con đường đưa đến nghiệp đoạn diệt.
8) Này các Tỷ-kheo, phàm những gì bậc Ðạo Sư
cần phải làm vì hạnh phúc, vì lòng thương đệ tử, những việc ấy Ta
đã làm cho các Ông, vì lòng thương tưởng các Ông.
9) Này các Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây
là những căn nhà trống. Hãy Thiền tư, chớ có phóng dật, chớ có hối hận
về sau. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
146. II. Thích ứng (1) (S.iv,133)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông
con đường thích ứng với Niết-bàn. Hãy lắng nghe... Và này các Tỷ-kheo,
thế nào là con đường thích ứng với Niết-bàn?
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấy mắt
là vô thường, thấy các sắc là vô thường, thấy nhãn thức là vô thường,
thấy nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì,
lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là vô thường.
4-5) ... tai... mũi...
6-7) ... lưỡi... thân...
8) .. thấy ý là vô thường, thấy các pháp là
vô thường, thấy ý thức là vô thường, thấy ý xúc là vô thường. Phàm
duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm
thọ ấy là vô thường.
9) Và này các Tỷ-kheo, đây là con đường thích
ứng với Niết-bàn.
147-148. III-IV. Thích ứng (2) (3) (S.iv,134)
(Như kinh trên, chỉ khác là thế vào khổ và vô
ngã)
149. V. Thích ứng (4) (S.iv,135)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về
con đường thích ứng với Niết-bàn. Hãy lắng nghe... Và này các Tỷ-kheo,
thế nào là con đường thích ứng với Niết-bàn?
3) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, mắt
là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại,
có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này
là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn...
(Như kinh 32)#
150. VI. Ðệ Tử Nội Trú (S.iv,136)
1-2) ...
3) -- Này các Tỷ-kheo, không có các đệ tử nội
trú, không có Ðạo Sư. Phạm hạnh này được sống.
4) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống có đệ tử nội
trú, có Ðạo sư là sống đau khổ, không có thoải mái. Này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo sống không có đệ tử nội trú, không có Ðạo sư là sống an lạc,
thoải mái.
5) Và thế nào, này các Tỷ-kheo, sống có đệ tử
nội trú, có Ðạo sư là sống đau khổ, không có thoải mái?
6) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy
sắc, các ác bất thiện pháp, các ức niệm, ước vọng bị khởi lên
trói buộc, chúng trú ở trong vị ấy; các ác bất thiện pháp nội trú
trong vị ấy. Do vậy, được gọi là có đệ tử nội trú. Chúng theo sát
(Samudàcaranti) vị ấy; các ác bất thiện pháp theo sát vị ấy. Do vậy,
được gọi là Ðạo sư.
7-10) ... khi tai nghe tiếng... khi mũi ngửi
hương... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc...
11) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi ý biết
pháp, các ác bất thiện pháp, các ức niệm, ước vọng bị trói buộc khởi
lên, chúng trú ở trong vị ấy; các ác bất thiện pháp nội trú ở trong vị
ấy. Do vậy, được gọi là có đệ tử nội trú. Chúng theo sát vị ấy;
các ác bất thiện pháp theo sát vị ấy. Do vậy, được gọi là có Ðạo
sư.
12) Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo sống
có đệ tử nội trú, có Ðạo sư, là sống đau khổ, không có thoải mái.
13) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống
không có đệ tử nội trú, không có Ðạo sư, là sống an lạc thoải mái?
14) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy
sắc, các ác bất thiện pháp, các ức niệm, ước vọng bị trói buộc
không khởi lên, chúng không trú ở trong vị ấy; các ác bất thiện pháp
không nội trú trong vị ấy. Cho nên, vị ấy được gọi là sống không
có đệ tử nội trú. Chúng không theo sát vị ấy; các ác bất thiện pháp
không theo sát vị ấy. Do vậy, vị ấy được gọi là không có Ðạo sư.
15-18) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi tai
nghe tiếng... khi mũi ngửi hương... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm
xúc...
19) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi ý biết
pháp, các ác bất thiện pháp, các ức niệm, ước vọng không khởi lên,
chúng không trú ở trong vị ấy; các ác bất thiện pháp không nội trú ở
trong vị ấy. Do vậy, được gọi là sống không có đệ tử nội trú.
Chúng không theo sát vị ấy; các ác bất thiện pháp không theo sát vị ấy.
Do vậy, vị ấy được gọi là không có Ðạo sư.
20) Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo sống
không có đệ tử nội trú, không có Ðạo sư.
Ðây, này các Tỷ-kheo, được gọi là Phạm hạnh
không có đệ tử nội trú, không có Ðạo sư.
21) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống có đệ tử nội
trú, có Ðạo sư là sống đau khổ, không có thoải mái. Này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo sống không có đệ tử nội trú, không có Ðạo sư, là sống an lạc,
thoải mái.
151. VII. Với Mục Ðích Gì? (S.iv,138)
1-2) ...
3) -- Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo
hỏi các Ông như sau: "Có cái gì, này chư Hiền, Phạm hạnh được sống
dưới Sa-môn Gotama?"; được hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần
phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau:
4) "Này chư Hiền, vì liễu tri đau khổ nên
Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn".
5) Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi
các Ông như sau: "Thế nào, này chư Hiền, là vì liễu tri đau khổ nên
Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama?"; được hỏi vậy, này
các Tỷ-kheo, các Ông cần phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy
như sau:
6-11) "Mắt, này chư Hiền, là khổ. Vì liễu
tri nó nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. Nhãn xúc là khổ. Vì
liễu tri nó nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. Phàm duyên nhãn
xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ
ấy là khổ. Vì liễu tri cảm thọ ấy nên Phạm hạnh được sống dưới
Thế Tôn... Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ
bất lạc; cảm thọ ấy là khổ. Vì liễu tri cảm thọ ấy nên Phạm hạnh
được sống dưới Thế Tôn.
12) Ðây là khổ, này chư Hiền, vì liễu tri khổ
nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn".
13) Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần
phải trả lời như vậy cho những du sĩ ngoại đạo ấy.
152. VIII. Có Pháp Môn Nào? (S.iv,138)
1-2) ...
3) -- Có pháp môn nào, do pháp môn ấy, Tỷ-kheo
ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về phương pháp
(àkàra-paritakkà), ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận (ditthini
shànakhanti), có thể xác chứng chánh trí; vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận,
Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng
thái này nữa"?
4) -- Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, Pháp lấy
Thế Tôn làm căn bản...
5) -- Có một pháp môn, này các Tỷ-kheo, do pháp
môn ấy, Tỷ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài
kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng chánh trí; vị ấy biết
rõ: "Sanh đã tận... trạng thái này nữa".
6) Pháp môn ấy là gì, do pháp môn ấy...
"...không còn trở lui trạng thái này nữa"?
7) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy
sắc, hoặc nội tâm có tham, sân, si, biết rõ: "Nội tâm ta có tham,
sân, si"; hoặc nội tâm không có tham, sân, si, biết rõ: "Nội tâm
ta không có tham, sân, si". Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc,
hoặc nội tâm có tham, sân, si biết rõ: "Nội tâm ta có tham, sân,
si"; hoặc nội tâm không có tham, sân, si biết rõ: "Nội tâm ta
không có tham, sân, si". Này các Tỷ-kheo, biết rõ chúng có mặt hay
không có mặt trong tâm vị ấy, có phải chúng là những pháp do lòng tin
được hiểu biết, hay do ưa thích được hiểu biết, hay do lắng nghe được
hiểu biết, hay do suy tư về phương pháp được hiểu biết, hay do kham nhẫn,
thích thú biện luận được hiểu biết?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Có phải các pháp này, do thấy chúng với trí
tuệ nên được hiểu biết?
-- Thưa phải, bạch Thế Tôn.
-- Ðây là pháp môn, này các Tỷ-kheo, do pháp
môn này, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về
phương pháp, ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng với
chánh trí; vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận... không còn trở lui trạng
thái này nữa".
8-11) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi tai
nghe tiếng... khi mũi ngửi hương... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm
xúc...
12) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi ý biết pháp,
hoặc nội tâm có tham, sân, si, biết rõ: "Nội tâm ta có tham, sân,
si"; hoặc nội tâm không có tham, sân, si, biết rõ: "Nội tâm ta
không có tham, sân, si". Này các Tỷ-kheo, khi ý biết pháp, hoặc biết
rõ nội tâm có tham, sân, si: "Nội tâm ta có tham, sân, si", hoặc biết
rõ nội tâm không có tham, sân, si: "Nội tâm ta không có tham, sân,
si". Này các Tỷ-kheo, sự biết rõ chúng có mặt hay không có mặt trong
tâm vị ấy, có phải chúng là những pháp do lòng tin được hiểu biết,
hay do ưa thích được hiểu biết, hay do lắng nghe được hiểu biết, hay
do suy tư về phương pháp được hiểu biết, hay do kham nhẫn, thích thú biện luận được hiểu biết?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Có phải các pháp này, do thấy chúng với trí
tuệ nên được hiểu biết?
-- Thưa phải, bạch Thế Tôn.
13) -- Ðây là pháp môn, này các Tỷ-kheo, do pháp
môn ấy, Tỷ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư
về pháp môn, hay ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng
với chánh trí; vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành,
những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
153. IX. Căn (S.iv,140)
1) ...
2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn...
3) Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế
Tôn:
-- "Các căn được thành tựu", như vậy
được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, các căn được thành
tựu?
4) -- Nếu Tỷ-kheo quán sanh diệt trong nhãn căn,
vị ấy nhàm chán đối với nhãn căn... trong nhĩ căn... trong tỷ căn...
trong thiệt căn... trong thân căn... Nếu Tỷ-kheo quán sanh diệt trong ý căn,
vị ấy nhàm chán đối với ý căn. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham,
vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí biết rằng:
"Ta đã được giải thoát".Vị ấy biết rõ rằng: "Sanh đã tận,
Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng
thái này nữa".
5) Cho đến như vậy, Tỷ-kheo thành tựu các căn.
154. X. Vị Thuyết Pháp (S.iv,141)
1) ...
2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn...
3) Ngồi xuống một bên. Tỷ-kheo ấy bạch Thế
Tôn:
-- "Vị thuyết pháp, vị thuyết pháp", bạch
Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế
Tôn, là vị thuyết pháp?
4) -- Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp đưa đến nhàm
chán, ly tham, đoạn diệt mắt, như vậy là vừa đủ để được gọi là
Tỷ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỷ-kheo thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn
diệt đối với mắt, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo
thành tựu pháp và thuận pháp. Nếu Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt
đối với mắt, được giải thoát không có chấp thủ, như vậy là vừa
đủ để được gọi là Tỷ-kheo chứng được Niết-bàn ngay trong hiện tại.
5-8) ... tai... mũi... lưỡi... thân...
9) Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp đưa đến nhàm
chán, ly tham, đoạn diệt ý, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo
thuyết pháp. Nếu Tỷ-kheo thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối
với ý, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành pháp
và thuận pháp. Nếu Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với
ý, được giải thoát không có chấp thủ, như vậy là vừa đủ để được
gọi là Tỷ-kheo đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.