Kinh Tương Ưng Bộ · Saṃyutta Nikāya

[16] Chương V — Tương Ưng Kassapa

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Tương Ưng Bộ

Kinh Trung Bộ · Bài 2

[16] Chương V — Tương Ưng Kassapa#

Tập II - Thiên Nhân Duyên

Tương Ưng Bộ -

Samyutta Nikaya

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Tập II - Thiên Nhân Duyên

[16] Chương V

Tương Ưng Kassapa

(Ca-diếp)#

-ooOoo-

I. Tri Túc (S.ii,194)

1) ... Trú ở Sàvatthi.

2) -- Tri túc, này các Tỷ-kheo, là Kassapa này, với

bất cứ loại y nào, và tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại y nào; không

vì y làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được y, vị này không

có dao động. Và nếu được y, vị này dùng y không tham lam, không say

đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.

3) Tri túc, này các Tỷ-kheo, là Kasssapa này, với

bất cứ đồ ăn khất thực nào, tán thán hạnh tri túc với bất cứ đồ ăn khất

thực nào; không vì đồ ăn khất thực, làm điều bất chánh, bất xứng.

Nếu không được đồ ăn khất thực, vị này không có dao động. Và nếu

được đồ ăn khất thực, vị này dùng đồ ăn khất thực ấy, không tham lam,

không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.

4) Tri túc, này các Tỷ-kheo, là Kassapa này, với bất

cứ loại sàng tọa nào, và tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại sàng

tọa nào; và không vì sàng tọa, làm điều bất chánh, bất xứng.

Nếu không được sàng tọa, vị này không có dao động. Và nếu

được sàng tọa, vị này dùng sàng tọa ấy, không tham lam, không say

đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.

5) Tri túc, này các Tỷ-kheo, là Kassapa này, với bất

cứ thuốc men trị bệnh nào. Và vị này tán thán hạnh tri túc với bất cứ

loại thuốc men trị bệnh nào; và không vì duyên với thuốc men trị

bệnh, làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được thuốc men

trị bệnh, vị này không có dao động. Và nếu được thuốc men trị

bệnh, vị này dùng thuốc men trị bệnh ấy, không tham lam, không say

đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.

6) Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau:

"Chúng tôi sẽ tri túc với bất cứ loại y nào, và chúng tôi sẽ là người

tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại y nào. Và không vì y, chúng tôi sẽ

làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được y, chúng tôi sẽ không

dao động. Và nếu được y, chúng tôi sẽ dùng y ấy, không tham lam, không

say đắm, không phạm tội, thấy sự nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.

Chúng tôi sẽ tri túc với bất cứ loại đồ ăn khất thực nào... với bất cứ

loại sàng tọa nào... với bất cứ loại thuốc men trị bệnh nào, và

chúng tôi sẽ là người tán thán sự tri túc với bất cứ loại thuốc men trị

bệnh nào. Và không vì thuốc men trị bệnh, chúng tôi sẽ làm điều

bất chánh, bất xứng. Nếu không được thuốc men trị bệnh, chúng tôi

sẽ không dao động. Và nếu được thuốc men trị bệnh, chúng tôi sẽ

dùng thuốc men trị bệnh ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội,

thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo,

các ông cần phải học tập".

7) Với Kassapa, này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giáo giới các

Ông; hay với người như Kassapa. Và được giáo giới, các Ông cần phải thực

hành như vậy.

II. Không Biết Sợ (S.ii,195)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Tôn giả Mahà Kassapa (Ðại Ca-diếp), và

Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) trú ở Barànasi (Ba-la-nại), chỗ Isipatana

(chư Tiên đọa xứ), tại Migadàya (Lộc Uyển).

2) Rồi Tôn giả Sàriputta vào buổi chiều, từ

Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa; sau khi

đến, nói lên với Tôn giả Mahà Kassapa những lời chào đón hỏi thăm; sau

khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một

bên.

3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn

giả Mahà Kassapa:

4) -- Này Hiền giả Kassapa, được nói rằng không có

nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể

có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ

ách; và có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có

thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các

khổ ách.

5) Như thế nào, này Hiền giả, là không có

nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể

có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ

ách? Và như thế nào là có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có

giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an

ổn khỏi các khổ ách?

I

6) -- Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo suy

nghĩ: "Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng

khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi", vị ấy không khởi

nhiệt tâm. "Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng

không bị đoạn diệt, chúng có thể đưa đến bất lợi", vị ấy không

khởi nhiệt tâm. "Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu

không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy không khởi

nhiệt tâm. "Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị

đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy không khởi

nhiệt tâm.

Như vậy, này Hiền giả, là không có nhiệt tâm.

II

7) Và này Hiền giả, như thế nào là không

biết sợ?

Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo suy nghĩ:

"Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi

lên, chúng có thể đưa đến bất lợi", vị ấy không có biết

sợ. "Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị

đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy không biết

sợ. "Các thiện pháp không khởi lên ta. Nếu chúng không khởi lên,

có thể đưa đến bất lợi", vị ấy không biết sợ. "Các

thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể

đưa đến bất lợi", vị ấy không biết sợ.

Như vậy, này Hiền giả, là không biết sợ.

8) Như vậy, này Hiền giả, không có nhiệt tâm,

không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có

Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.

III

9) Và này Hiền giả, thế nào là có nhiệt tâm?

Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo suy nghĩ:

"Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi

lên, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy khởi nhiệt tâm.

"Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn

diệt, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy khởi nhiệt tâm.

"Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng không khởi lên,

có thể đưa đến bất lợi", vị ấy khởi nhiệt tâm. "Các

thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể

đưa đến bất lợi", vị ấy khởi nhiệt tâm. "Các thiện

pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa

đến bất lợi", vị ấy khởi lên nhiệt tâm.

Như vậy, này Hiền giả, là có nhiệt tâm.

IV

10) Và này Hiền giả, như thế nào là có

biết sợ?

Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo suy nghĩ:

"Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi

lên, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy có biết sợ. "Các

ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt,

có thể đưa đến bất lợi", vị ấy có biết sợ. "Các

thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng không khởi lên, có

thể đưa đến bất lợi", vị ấy có biết sợ. "Các thiện

pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa

đến bất lợi", vị ấy có biết sợ.

Như vậy, này Hiền giả, là có biết sợ.

11) Như vậy, này Hiền giả, là có nhiệt tâm, có

biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể

đưa đến chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.

III. Ví Dụ Với Trăng (Tạp 41.18.

Nguyệt Dụ, Ðại 2, 199a. Nguyệt Dụ Kinh, Ðại 2, 544b, Biệt Tạp 6.5,

Ðại 2, 444a) (S.v,197)

1) ... Trú ở Sàvatthi...

2) -- Hãy giống như mặt trăng, này các Tỷ-kheo, khi

đi đến các gia đình, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt, luôn luôn là

người mới giữa các gia đình, chớ có đường đột xông xáo (appagabbha).

3) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người nhìn một

cái giếng cũ, hay sườn núi dốc, hay thác nước, thân phải dè dặt, tâm

phải dè dặt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, hãy giống như mặt trăng khi đi

đến các gia đình, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt, luôn luôn là

người mới giữa các gia đình, không có đường đột xông xáo.

Kassapa, này các Tỷ-kheo, giống như mặt trăng, khi

đi đến các gia đình, thân dè dặt và tâm dè dặt, luôn luôn là người

mới giữa các gia đình, không có đường đột xông xáo.

4) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo? Như

thế nào một Tỷ-kheo xứng đáng đi đến các gia đình?

5) -- Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp

lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn

làm chỗ sở y. Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nói lên ý

nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ

trì.

6) Rồi Thế Tôn vẫy bàn tay giữa hư không:

-- Ví như, này các Tỷ-kheo, bàn tay này giữa hư

không, không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc. Cũng vậy,

này các Tỷ-kheo, là vị Tỷ-kheo đi đến các gia đình, tâm không

bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc, nghĩ rằng: "Những ai

muốn được lợi, hãy được lợi! Những ai muốn công đức, hãy làm các công

đức!".

7) Như mình hoan hỷ, thỏa mãn khi mình được lợi;

hãy hoan hỷ, thỏa mãn khi người khác được lợi! Này các Tỷ-kheo, vị

Tỷ-kheo như vậy xứng đáng đi đến các gia đình. Này các Tỷ-kheo,

Kassapa khi đi đến các gia đình, đối với các gia đình, tâm không bị

dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc, nghĩ rằng: "Những ai

muốn được lợi hãy được lợi! Những ai muốn công đức hãy làm các công

đức!".

8) Như mình hoan hỷ, thỏa mãn khi mình được lợi;

hãy hoan hỷ, thỏa mãn, khi người khác được lợi!

9) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy xứng đáng

đi đến các gia đình.

10) Các Ông nghĩ như thế nào, này các Tỷ-kheo?

Tỷ-kheo như thế nào, thuyết pháp không thanh tịnh? Tỷ-kheo như

thế nào, thuyết pháp được thanh tịnh?

11) -- Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp

lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn

làm chỗ y chỉ. Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nói lên ý

nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ

trì.

12) -- Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo tác

ý, Ta sẽ nói.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn

nói như sau:

13) -- Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào với tâm như

thế này thuyết pháp cho các người khác: "Ôi, mong họ được

nghe pháp ta giảng. Và sau khi nghe pháp, mong họ được hoan hỷ. Ðược

hoan hỷ, mong họ làm cho ta hoan hỷ", này các Tỷ-kheo, vị

Tỷ-kheo như vậy thuyết pháp không thanh tịnh.

14) -- Và này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào với tâm

như thế này thuyết pháp cho các người khác: "Pháp được Thế

Tôn khéo giảng, pháp ấy liên hệ đến hiện tại, có hiệu quả

tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người

có trí tự mình giác hiểu. Ôi, mong họ được nghe pháp ta giảng. Và

sau khi nghe pháp, mong họ được hiểu rõ pháp. Và sau khi hiểu rõ

pháp, mong họ như vậy thực hành; duyên pháp thiện pháp tánh

(dhammasudhammata) thuyết pháp cho các người khác. Duyên lòng từ bi, duyên

lòng từ mẫn, khởi lòng lân mẫn thuyết pháp cho các người khác", này

các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy là Tỷ-kheo thanh tịnh thuyết pháp.

15) Này các Tỷ-kheo, Kassapa với tâm như thế này

thuyết pháp cho các người khác : "Pháp được Thế Tôn khéo giảng,

pháp ấy liên hệ đến hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến

để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình

giác hiểu. Ôi, mong họ được nghe pháp ta giảng. Và sau khi nghe pháp,

mong họ được hiểu rõ pháp. Và sau khi được hiểu rõ pháp, mong

họ như vậy thực hành; duyên pháp thiện pháp tánh, duyên từ bi, duyên

lòng từ mẫn, khởi lòng lân mẫn thuyết pháp cho các người khác".

16) Với Kassapa, này các Tỷ-kheo, Ta đã giáo giới

các Ông, hay với ai giống như Kassapa! Ðược giáo giới, các Ông phải như

thật thực hành.

IV. Ði Ðến Các Gia Ðình (Tạp

41.19 Thí Dụ. Ðại 2, 300a) ( Biệt Tạp 6.6, Ðại 2, 414c). (S.ii,200)

1) ... Trú tại Sàvatthi.

2) -- Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo,

Tỷ-kheo như thế nào xứng đáng là người đi đến các gia đình?

Tỷ-kheo như thế nào không xứng đáng là người đi đến các gia

đình?

3) -- Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp

lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo...

Thế Tôn nói như sau:

4) -- Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với tâm như

thế này đi đến các gia đình: "Mong họ hãy cho ta, chớ có

không cho. Mong họ cho ta nhiều, chớ có cho ít. Mong họ cho ta đồ

tốt, chớ có cho đồ xấu. Mong họ cho ta mau, chớ có cho chậm. Mong họ

kính trọng cho ta, chớ có không kính trọng".

5) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào với tâm như vậy

đi đến các gia đình, nếu không được cho, Tỷ-kheo ấy bực

phiền. Do nhân duyên ấy, Tỷ-kheo ấy cảm thọ khổ ưu... cho ít,

không cho nhiều... cho đồ xấu không cho đồ tốt... cho chậm, không cho mau.

Do vậy Tỷ-kheo ấy bực phiền. Do nhân duyên ấy, Tỷ-kheo ấy cảm

thọ khổ ưu... cho bất kính, không có kính trọng. Do vậy, Tỷ-kheo

ấy bực phiền. Do nhân duyên ấy, Tỷ-kheo ấy cảm thọ khổ ưu. Này

các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo như vậy không xứng đáng là người đi

đến các gia đình.

6) Và này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào với tâm như

thế này đi đến các gia đình (nghĩ rằng): "Ðối với các gia

đình người khác, làm sao có thể mong: ‘Mong họ hãy cho ta, chớ có

không cho. Mong họ cho ta nhiều, chớ có cho ít. Mong họ cho ta đồ

tốt, chớ có cho đồ xấu. Mong họ cho ta mau, chớ có cho chậm. Mong họ

kính trọng ta, chớ có không kính trọng’?".

7) Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo với tâm như

vậy, khi đi đến các gia đình không được cho, Tỷ-kheo không vì vậy

mà bị bực phiền, không do nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ

cho ít, không cho nhiều... họ cho đồ xấu, không cho đồ tốt, cho chậm,

không cho mau... cho bất kính, không phải kính trọng, Tỷ-kheo không vì

vậy mà bị bực phiền, không do nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu.

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy xứng đáng đi

đến các gia đình.

8) Này các Tỷ-kheo, Kassapa với tâm như vậy đi

đến các gia đình (nghĩ rằng): "Ðối với các gia đình người khác,

làm sao có thể mong: "Mong họ hãy cho ta, chớ có không cho. Mong

họ cho ta nhiều, chớ có cho ít. Mong họ cho ta đồ tốt, chớ có cho

đồ xấu. Mong họ cho ta mau, chớ có cho chậm. Mong họ kính trọng cho

ta, chớ có bất kính"?"

9) Này các Tỷ-kheo, Kassapa với tâm như vậy đi

đến các gia đình, nếu không được cho, Kassapa không vì vậy mà bị

bực phiền, không vì nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho ít,

không cho nhiều, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không vì nhân

duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho đồ xấu, không cho đồ tốt,

Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không vì nhân duyên ấy mà cảm

thọ khổ ưu. Họ cho chậm, không cho mau, Kassapa không vì vậy mà bị bực

phiền, không do nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho bất kính,

không cho có kính trọng, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không

do nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu.

10) Với Kassapa, này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giáo giới

các Ông hay với ai giống như Kassapa. Và được giáo giới, các Ông hãy như

vậy thọ trì.

V. Trở Về Già (Tạp 41.23, Lực Lão,

Ðại 2, 301c Tăng 41.5, Ðại 2, 746a Biệt Tạp 6.10, Ðại 2, 416b) (S.ii,202)

1) Như vầy tôi nghe.

Tại Ràjagaha, Veluvana...

2) Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đi đến Thế Tôn; sau

khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3) Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi

một bên:

-- Này Kassapa, Ông đã già rồi. Ðã cũ nát là những

vải gai thô phấn tảo này của Ông đáng được quăng bỏ. Vậy này Kassapa, hãy

mang những y áo do các gia chủ cúng, thọ dụng các món ăn được mời và ở

gần bên Ta.

4) -- Bạch Thế Tôn, con là người đã lâu ngày sống

ở rừng, và tán thán hạnh ở rừng; con là người đi khất thực và tán thán

hạnh khất thực; con là người mang y phấn tảo và tán thán hạnh mang y phấn

tảo; con là người mang ba y và tán thán hạnh mang ba y; con là người thiểu

dục và tán thán hạnh thiểu dục; con là người tri túc và tán thán hạnh

tri túc; con là người sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly; con là người

sống không giao thiệp và tán thán hạnh không giao thiệp; con là người

tinh cần và tán thán hạnh tinh cần.

5) -- Này Kassapa, Ông thấy có lợi ích gì mà ông đã

lâu ngày sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng... đi khất thực.. mang y

phấn tảo... mang ba y... thiểu dục... tri túc... sống viễn ly... sống không

giao thiệp... tinh cần và tán thán hạnh tinh cần?

6) -- Bạch Thế Tôn, con thấy có hai lợi ích nên đã

lâu ngày con sống ở rừng và tán thán hạnh ở rừng... con đi khất thực... con

mang y phấn tảo... con mang ba y... con thiểu dục... con tri túc... con sống

viễn ly... con sống không giao thiệp... con sống tinh cần và tán thán hạnh

sống tinh cần.

7) Con thấy tự mình được hiện tại an lạc trú và

vì lòng từ mẫn đối với chúng sanh sắp đến, mong rằng các chúng sanh sắp

đến sẽ bắt chước (ditthanugatim): "Ðối với các đệ tử Phật và

tùy Phật (Buddhànubuddhasàvakà), mong họ trong một thời gian dài trở thành

những vị sống ở rừng và tán thán hạnh ở rừng... những vị đi khất thực...

những vị mang y phấn tảo... những vị mang ba y... những vị thiểu dục...

những vị tri túc... những vị viễn ly... những vị không giao thiệp... những

vị tinh cần và tán thán hạnh tinh cần... họ sẽ thực hành như vậy, và

như vậy trong một thời gian dài họ sống hạnh phúc an lạc".

8) Bạch Thế Tôn, thấy được hai lợi ích này, con

sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng... con đi khất thực và tán thán

hạnh khất thực... mang y phấn tảo... mang ba y... thiểu dục... tri túc...

viễn ly... không giao thiệp... sống tinh cần và tán thán hạnh tinh cần.

9) -- Lành thay, lành thay, Kassapa! Thật vì hạnh phúc cho

quần sanh, này Kassapa, Ông đã thực hành như vậy, vì an lạc cho quần sanh,

vì lòng từ mẫn với đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên

và loài Người.

10) Do vậy, này Kassapa, hãy mang vải gai thô, phấn tảo

đáng được quăng bỏ. Hãy sống khất thực và trú ở trong rừng!

VI. Giáo Giới (Tạp 41.30, Phụ Thắng,

Ðại 2, 300b. Tăng 31.11 Vô Trách Tụng, Ðại 2, 673b Biệt Tạp 6.7, Ðại 2,

415a). (S.ii,203).

1) ... Tại Ràjagaha, Veluvana...

2) Tôn giả Kassapa đi đến Thế Tôn...

3) Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi

một bên:

-- Này Kassapa, hãy giáo giới Tỷ-kheo! Này Kassapa,

hãy nói pháp thoại cho các Tỷ-kheo! Này Kassapa, Ta hoặc Ông phải giáo

giới các Tỷ-kheo! Ông hoặc Ta phải nói pháp thoại cho các Tỷ-kheo!

4) -- Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỷ-kheo

hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham

nhẫn. Họ không kính trọng lời giáo giới. Bạch Thế Tôn, ở đây,

con thấy Tỷ-kheo Bhanda, đệ tử của Ananda, và Tỷ-kheo Abhinjika,

đệ tử của Anuruddha, hai vị ấy nói với nhau: "Hãy đến, này

Tỷ-kheo, ai sẽ nói nhiều hơn? Ai sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ nói dài

hơn?".

5) Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo:

-- Hãy đến, này Tỷ-kheo! Hãy nhân danh Ta nói

với Tỷ-kheo Bhanda, đệ tử của Ananda, và Tỷ-kheo Abhinjika, đệ

tử của Anuruddha: "Bậc Ðạo Sư gọi chư Tôn giả".

6) -- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến các

Tỷ-kheo kia; sau khi đến, nói với họ:

-- Bậc Ðạo Sư gọi chư Tôn giả.

7) -- Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo kia vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi

đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một

bên.

8) Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy đang ngồi

một bên:

-- Có thật chăng, này các Tỷ-kheo, các Ông nói với

nhau như sau: "Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai là người sẽ nói nhiều

hơn? Ai là người sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai là người sẽ nói dài hơn?"

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

9) -- Này các Tỷ-kheo, các Ông có biết là Ta

đã thuyết pháp như vầy: "Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy cùng

nhau nói như sau: 'Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai là người sẽ nói nhiều

hơn?. Ai là người sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai là người sẽ nói dài hơn?'

chăng?"

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

10) -- Này các Tỷ-kheo, nếu các Ông được

biết là Ta không có giảng như vậy, thời vì sao, này các Người ngu kia, do

biết cái gì, thấy cái gì, các Ông đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo

giảng này, các Ông lại nói với nhau: "Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai

sẽ là người nói nhiều hơn? Ai sẽ là người nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là

người nói dài hơn?" như vậy ?

11) Rồi các Tỷ-kheo ấy cúi đầu đảnh lễ chân

Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, chúng con đã phạm tội, ngu đần

như vậy, si mê như vậy, bất thiện như vậy; vì rằng chúng con đã xuất

gia trong Pháp và Luật khéo nói như vậy, chúng con lại nói với nhau: "Hãy

đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ là người nói nhiều hơn? Ai sẽ là người

nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài hơn?". Bạch Thế Tôn, mong

Thế Tôn chấp nhận tội lỗi ấy của chúng con là tội lỗi, để

chúng con ngăn ngừa trong tương lai.

12) -- Thật sự, này các Tỷ-kheo, các Ông đã phạm

tội, ngu đần như vậy, si mê như vậy, bất thiện như vậy! Vì rằng các

Ông đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo nói này, các Ông đã nói với nhau:

"Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ là người nói nhiều hơn? Ai sẽ

là người nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài hơn?". Và vì rằng,

này các Tỷ-kheo, các Ông đã thấy tội lỗi là tội lỗi, như pháp

sám hối, Ta chấp nhận tội lỗi ấy cho các Ông!

13) Này các Tỷ-kheo, như vậy luật của bậc Thánh

được tăng trưởng, khi nào có người sau khi thấy tội lỗi là tội

lỗi, như pháp sám hối để ngăn ngừa trong tương lai!

VII. Giáo Giới (Tạp 41.21 Vô Tín, Ðại

2, 300c. Biệt Tạp 6.8, Ðại 2, 415b) (S.ii,205)

1) ... Trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc

Lâm).

2) Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đi đến Thế Tôn...

3) Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi

một bên:

-- Này Kassapa hãy giáo giới các Tỷ-kheo! Hãy

thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo! Ta hay Ông hãy giáo giới các

Tỷ-kheo! Ông hay Ta hãy thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo!

4) -- Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỷ-kheo

hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham

nhẫn, họ không kính trọng lời giáo giới!

5) Bạch Thế Tôn, với ai không có lòng tin đối với

thiện pháp, không có biết thẹn đối với thiện pháp, không có

biết sợ đối với thiện pháp, không có tinh tấn đối với thiện

pháp, không có trí tuệ đối với thiện pháp; đối với người ấy, dầu

là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với các thiện pháp,

không phải là sự tăng trưởng!

6) Ví như mặt trăng, bạch Thế Tôn, trong thời kỳ

tối trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tổn giảm dần, hình tròn tổn

giảm dần, ánh sáng tổn giảm dần, đường quỹ đạo nó đi tổn giảm dần. Cũng

vậy, bạch Thế Tôn, đối với ai không có lòng tin đối vói thiện pháp,

không có biết thẹn đối với thiện pháp, không biết sợ đối với

thiện pháp, không có tinh tấn đối với thiện pháp, không có trí

tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ

đợi là sự tổn giảm đối với các thiện pháp, không phải là sự tăng

trưởng!

7) Người không có lòng tin, bạch Thế Tôn, tức có

nghĩa là tổn giảm. Người không biết thẹn, bạch Thế Tôn, tức có

nghĩa là tổn giảm. Người không biết sợ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa

là tổn giảm. Người lười biếng, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn

giảm. Người ác trí tuệ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm.

Người phẫn nộ... Người sân hận, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn

giảm. Nếu vị Tỷ-kheo không có giáo giới, bạch Thế Tôn, tức có

nghĩa là tổn giảm.

8) Với ai, bạch Thế Tôn, có lòng tin đối với

thiện pháp, có biết thẹn đối với thiện pháp, có biết sợ đối

với thiện pháp, có tinh tấn đối với thiện pháp, có trí tuệ đối

với thiện pháp; với vị ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi sự tăng

trưởng đối với thiện pháp, không phải sự tổn giảm.

9) Ví như mặt trăng, bạch Thế Tôn, trong thời kỳ

sáng trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tăng trưởng dần, hình tròn

tăng trưởng dần, ánh sáng tăng trưởng dần, quỹ đạo nó đi tăng trưởng

dần. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, với ai có lòng tin đối với thiện pháp,

có biết thẹn...có biết sợ... có tinh tấn... có trí tuệ đối với

thiện pháp; với vị ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tăng

trưởng đối với thiện pháp, không phải là tổn giảm.

10) Người có lòng tin, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa

là không tổn giảm. Người có biết thẹn, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa

là không tổn giảm. Người có biết sợ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là

không tổn giảm. Người tinh cần, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn

giảm. Người không phẫn nộ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn

giảm. Người không sân hận, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn

giảm. Có những Tỷ-kheo giáo giới, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là

không tổn giảm.

11) -- Lành thay, lành thay, này Kassapa! Với ai, này

Kassapa, không có lòng tin đối với thiện pháp... không có biết thẹn...

không có biết sợ... không có tinh tấn... không có trí tuệ đối với

thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn

giảm trong thiện pháp, không phải là tăng trưởng.

12) Ví như mặt trăng, này Kassapa, trong thời kỳ tối

trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tổn giảm dần, hình tròn tổn giảm

dần, ánh sáng tổn giảm dần, quỹ đạo nó đi tổn giảm dần. Cũng vậy, này

Kassapa, với ai không có lòng tin đối với thiện pháp, không có biết

thẹn... không có biết sợ... không có tinh tấn... không có trí tuệ

đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay ngày, chờ đợi là

sự tổn giảm đối với thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng.

13) Người không có lòng tin, này Kassapa, tức có nghĩa

là tổn giảm. Người không biết thẹn... Người không biết sợ... Người

biếng nhác... Người ác trí tuệ... Người phẫn nộ... Người sân hận,

này Kassapa, tức có nghĩa là tổn giảm. Không có Tỷ-kheo giáo giới, này

Kassapa, tức có nghĩa là tổn giảm.

14) Với ai, này Kassapa, có lòng tin đối với thiện

pháp... có biết thẹn... có biết sợ... có tinh tấn.. có trí tuệ

đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay ngày, chờ đợi là

sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải là tổn giảm.

15) Ví như mặt trăng, này Kassapa, trong thời kỳ sáng

trời, dầu là đêm hay ngày, hình sắc tăng trưởng dần, hình tròn tăng

trưởng dần, ánh sáng tăng trưởng dần, quỹ đạo nó đi tăng trưởng dần.

Cũng vậy, này Kassapa, ai có lòng tin đối với thiện pháp, có biết

thẹn... có biết sợ... có tinh tấn... có trí tuệ là sự tăng trưởng

đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay ngày, chờ đợi là

sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải là sự tổn giảm.

16) Người có lòng tin, này Kassapa, tức có nghĩa là

không tổn giảm. Người biết thẹn... Người biết sợ... Người tinh

tấn... Người có trí tuệ... Người không phẫn nộ... Người không sân hận,

này Kassapa, tức có nghĩa là không tổn giảm. Có Tỷ-kheo giáo giới, này

Kassapa, tức có nghĩa là không tổn giảm.

VIII. Giáo Giới (Tạp 41.22, Phật Vi Căn

Bổn, Ðại 2, 301a. Biệt Tạp 6.9, Ðại 2, 415c). (S.ii,208)

1) ... Trú ở Rajagaha (Vương Xá), tại chỗ nuôi

dưỡng các con sóc.

2) Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đi đến Thế Tôn...

3) Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi

một bên:

-- Hãy giáo giới Tỷ-kheo, này Kassapa! Hãy thuyết

pháp thoại cho các Tỷ-kheo, này Kassapa! Ta hay Ông, này Kassapa, phải giáo

giới các Tỷ-kheo! Ông hay Ta, này Kassapa, hãy thuyết pháp thoại cho các

Tỷ-kheo!

4) -- Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỷ-kheo

hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham

nhẫn, họ không kính trọng lời giáo giới.

5) -- Này Kassapa, thuở xưa các Trưởng lão Tỷ-kheo

là những vị ở rừng như vậy và tán thán ở rừng, là những vị đi khất thực

và tán thán hạnh khất thực, là những vị mang y phấn tảo và tán thán hạnh

mang y phấn tảo, là những vị mang ba y và tán thán hạnh mang ba y, là những vị

sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, là những vị sống tri túc và tán

thán hạnh tri túc, là những vị sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly, là những

vị sống không giao thiệp và tán thán hạnh không giao thiệp, là những vị sống tinh

cần và tán thán hạnh tinh cần.

6) Ở đây, vị Tỷ-kheo nào sống ở rừng và tán

thán hạnh ở rừng, đi khất thực và tán thán hạnh khất thực, mang y phấn tảo

và tán thán hạnh mang y phấn tảo, mang ba y và tán thán hạnh mang ba y, sống

thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, sống tri túc và tán thánh hạnh

tri túc, sống viễn ly và tán thán hạnh sống viễn ly, sống không giao thiệp

và tán thán hạnh không giao thiệp, sống tinh cần và tán thán hạnh tinh

cần; vị Tỷ-kheo ấy được các vị Trưởng lão Tỷ-kheo mời ngồi và

nói: "Hãy đến, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tên gì? Thật là

hiền thiện, vị Tỷ-kheo này! Thật là muốn học, vị Tỷ-kheo

này! Hãy đến Tỷ-kheo, hãy ngồi chỗ ngồi này!"

7) Ở đây, này Kassapa, các tân Tỷ-kheo suy nghĩ

như sau: "Tỷ-kheo nào sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng, đi

khất thực... mang y phấn tảo... mang ba y... thiểu dục... tri túc... sống

viễn ly... sống không giao thiệp... tinh cần và tán thán hạnh tinh cần;

Tỷ-kheo ấy được các Trưởng lão Tỷ-kheo mời ngồi và nói: "Hãy

đến, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tên gì? Thật là hiền thiện,

Tỷ-kheo này! Thật là muốn học, Tỷ-kheo này! Hãy đến

Tỷ-kheo, hãy ngồi chỗ ngồi này". Các vị ấy thực hành đúng như

vậy và như vậy các vị ấy được hạnh phúc, được an lạc trong một thời gian

dài.

8) Nhưng này, này Kassapa, các Trưởng lão Tỷ-kheo

không sống ở rừng và không tán thán hạnh sống ở rừng, không đi khất thực

và không tán thán hạnh khất thực, không mang y phấn tảo và không tán thán

hạnh mang y phấn tảo, không mang ba y và không tán thán hạnh mang ba y, không

thiểu dục và không tán thán hạnh thiểu dục, không tri túc và không

tán thán hạnh tri túc, không sống viễn ly và không tán thán hạnh viễn ly,

không sống không giao thiệp và không tán thán hạnh không giao thiệp,

không tinh cần và không tán thán hạnh tinh cần.

9) Ở đây, Tỷ-kheo nào được nhiều người

biết, có danh tiếng, nhận được các loại y áo, ẩm thực, sàng tọa,

dược phẩm trị bệnh, Tỷ-kheo ấy được các vị Trưởng lão Tỷ-kheo

mời ngồi và nói: "Hãy đến Tỷ-kheo. Tỷ-kheo này tên gì? Thật

là hiền thiện, Tỷ-kheo này! Thật là muốn sống Phạm hạnh,

Tỷ-kheo này! Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy ngồi chỗ ngồi

này!"

10) Ở đây, này Kassapa, các tân Tỷ-kheo suy nghĩ

như sau: "Tỷ-kheo nào được nhiều người biết, có danh

tiếng, nhận được các loại y áo, ẩm thực, sàng tọa, dược phẩm trị

bệnh; Tỷ-kheo ấy được các Trưởng lão Tỷ-kheo mời ngồi và nói:

‘Hãy đến Tỷ-kheo. Tỷ-kheo này tên gì? Thật là hiền

thiện, Tỷ-kheo này! Thật là muốn sống Phạm hạnh, Tỷ-kheo này! Hãy

đến, này Tỷ-kheo, hãy ngồi chỗ ngồi này!’". Các vị ấy

thực hành đúng như vậy và như vậy các vị ấy không được hạnh phúc, bị

khổ đau trong thời gian dài.

Này Kassapa, ai nói một cách chơn chánh như sau:

"Người sống Phạm hạnh phải chịu đựng những hiểm nạn của Phạm hạnh.

Người sống Phạm hạnh phải bị bức não bởi những áp bức của Phạm hạnh".

Nói như vậy, này Kassapa, là nói một cách chơn chánh. Người sống Phạm hạnh

phải chịu đựng những hiểm nạn của Phạm hạnh. Người sống Phạm hạnh phải

bị bức não bởi những áp bức của Phạm hạnh.

IX. Thiền Và Thắng Trí (Tạp 41.21,

Lực Lão, Ðại 2, 302a) (Biệt Tạp 6.11, Ðại 2, 416c) (S.ii,210)

1) ... Trú ở Sàvatthi.

2) -- Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo,

Ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng

thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng ly

dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một

trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.

3) Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta diệt

tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc

do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng

diệt tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái

hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm.

4) Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta ly hỷ,

trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh

gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng ly

hỷ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các

bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thiền thứ

ba.

5) Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta xả lạc,

xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng đạt và an trú

Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng xả

lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng đạt và an trú

Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

6) Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta vượt lên

mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý

đối với dị tưởng. Ta nghĩ rằng: "Hư không là vô biên", chứng đạt

và an trú Không vô biên xứ.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng

vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng...

chứng đạt và an trú Không vô biên xứ.

7) Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta vượt lên

mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: "Thức là vô biên", chứng đạt

và an trú Thức vô biên xứ.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng

vượt lên mọi Không vô biên xứ... chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ.

8) Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta vượt lên

mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: "Không có vật gì", chứng đạt

và an trú Vô sở hữu xứ.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng

vượt lên mọi Thức vô biên xứ... chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ.

9) Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta vượt lên

mọi Vô sở hữu xứ, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng...

chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

10) Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta vượt lên

mọi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú Diệt thọ

tưởng định.

Tùy theo mong muốn... Kassapa cũng... chứng đạt và an

trú Diệt thọ tưởng định.

11) Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta chứng

đạt các loại thần thông. Một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân

hiện ra một thân; hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách, qua

tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ, trồi lên, đi ngang qua đất

liền như ở trong nước, đi trên nước không chìm như trên đất liền;

ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim; với bàn tay, chạm và rờ mặt

trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, oai thần như vậy; có thể

tự thân bay đến cõi Phạm thiên.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng

chứng đạt được các loại thần thông... bay đến cõi Phạm thiên.

12) Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta với thiên

nhĩ thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng: chư Thiên và

loài Người, xa và gần.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng với

thiên nhĩ thanh tịnh... xa và gần.

13) Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, sau khi đi

sâu vào tâm của chúng sanh, của loài Người với tâm của mình, Ta có thể

biết như sau: "Tâm có tham biết là tâm có tham, tâm không tham

biết là tâm không tham, tâm có sân biết là tâm có sân, tâm không

sân biết là tâm không sân, tâm có si biết là tâm có si, tâm không si

biết là tâm không si, tâm chuyên chú biết là tâm chuyên chú, tâm

không chuyên chú biết là tâm không chuyên chú, đại hành tâm biết là

đại hành tâm, không phải đại hành tâm biết là không phải đại hành

tâm, tâm chưa vô thượng biết là tâm chưa vô thượng, tâm vô thượng

biết là tâm vô thượng, tâm Thiền định biết là tâm Thiền

định, tâm không Thiền định biết là tâm không Thiền định, tâm

giải thoát biết là tâm giải thoát, tâm không giải thoát biết là tâm

không giải thoát".

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, sau khi đi sâu

vào tâm của chúng sanh, của loài Người; với tâm của mình, Kassapa cũng

được biết như sau: "Tâm có tham biết là tâm có tham... tâm không

giải thoát biết là tâm không giải thoát".

14) Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta nhớ

đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời,

năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm

mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời;

nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại thành

kiếp. Ta nhớ rằng: "Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng

họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế

này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ

kia, Ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, Ta có tên như

thế này, dòng họ như thế này, tuổi thọ đến mức như

thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, Ta được sanh ra ở đây".

Như vậy, Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại

cương và các chi tiết.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng nhớ

đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời... và các chi

tiết.

15) Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta với thiên

nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy các chúng sanh. Ta biết rõ rằng chúng sanh,

người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn,

kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh ấy làm

những ác hạnh về thân, lời, ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà

kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân

hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn

những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý,

không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo

chánh kiến; những người này sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên

các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy, với thiên nhãn thuần

tịnh, siêu nhân, Ta thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta biết rõ chúng

sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may

mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng với

thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống chết các chúng sanh...

đều do hạnh nghiệp của họ.

16) Và Ta, này các Tỷ-kheo, với sự đoạn tận các

lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, Ta chứng ngộ vô lậu

tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chứng đạt và an trú.

Này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng với sự đoạn tận các

lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ vô lậu

tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chứng đạt và an trú.

X. Trú Xứ (Tạp 41.25, Thử Thời, Ðại

2. 302b. Biệt Tạp 6.12, Ðại 2, 417a) (S.ii,214)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Tôn giả Kassapa trú ở Sàvatthi (Xá-vệ),

Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).

I

2) Rồi Tôn giả Ananda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y

bát, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa.

3) Tôn giả Ananda thưa với Tôn giả Mahà Kassapa:

-- Thưa Tôn giả, chúng ta hãy đi đến trú xứ của

các Tỷ-kheo-ni.

-- Hãy đi, này Hiền giả Ananda. Hiền giả là

người có nhiều công việc, có nhiều trách nhiệm phải làm.

4) Lần thứ hai, Tôn giả Ananda thưa với Tôn giả Mahà

Kassapa:

-- Hãy đi, thưa Tôn giả, chúng ta đi đến trú xứ

của các Tỷ-kheo-ni.

-- Hãy đi, này Hiền giả Ananda. Hiền giả là

người có nhiều công việc, có nhiều trách nhiệm phải làm.

5) Lần thứ ba, Tôn giả Ananda thưa với Tôn giả Mahà

Kassapa:

-- Hãy đi, thưa Tôn giả, chúng ta hãy đi đến trú

xứ của các Tỷ-kheo-ni.

6) Rồi Tôn giả Mahà Kassapa, vào buổi sáng, đắp y, cầm

y bát cùng với Tôn giả Ananda, là Sa-môn tùy tùng, đi đến một trú xứ

của Tỷ-kheo-ni, sau khi đi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.

II

7) Rồi nhiều Tỷ-kheo-ni đi đến Tôn giả Mahà

Kassapa; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahà Kassapa, rồi ngồi xuống một

bên.

8) Tôn giả Mahà Kassapa với pháp thoại giảng cho các vị

Tỷ-kheo-ni đang ngồi một bên ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho

hoan hỷ.

9) Rồi Tôn giả Mahà Kassapa, sau khi với pháp thoại

giảng cho các Tỷ-kheo-ni ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan

hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi.

10) Rồi Tỷ-kheo-ni Thullatissà không hoan hỷ, nói

lên những lời không hoan hỷ: "Làm sao Tôn giả Mahà Kassapa trước mặt

Vedehamuni Ananda, lại nghĩ đến thuyết pháp; ví như một người bán kim

lại nghĩ, có thể bán kim cho người làm kim? Cũng vậy, Tôn giả Mahà

Kassapa, trước mặt Vedehamuni Ananda lại nghĩ đến thuyết pháp".

11) Tôn giả Mahà Kassapa nghe được lời nói này của

Tỷ-kheo-ni Thullatissà.

III

12) Rồi Tôn giả Mahà Kassapa nói với Tôn giả Ananda:

-- Thế nào, Hiền giả Ananda, ta là người bán

kim, Hiền giả là người làm kim, hay ta là người làm kim, Hiền giả là

người bán kim?

-- Hãy kham nhẫn, thưa Tôn giả Kassapa, ngu si là đàn

bà!

13) -- Hãy đến, Hiền giả Ananda, chớ để cho

chúng Tăng truy cứu thêm về Hiền giả. Hiền giả Ananda, Hiền giả

nghĩ thế nào?

14) Có phải trước mặt Thế Tôn, và giữa chúng

Tăng, Hiền giả được Thế Tôn đề cập như sau: "Tùy theo mong

muốn, này các Tỷ-kheo, Ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an

trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có

tứ. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ananda cũng ly dục, ly bất

thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái

hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ"?

-- Thưa Tôn giả, không phải vậy.

15) -- Này Hiền giả, có phải trước mặt Thế Tôn

và giữa chúng Tỷ-kheo Tăng, ta được Thế Tôn đề cập như sau:

"Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta ly dục, ly bất thiện pháp,

chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục

sanh, có tầm, có tứ. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng ly

dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một

trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ"?

16-29) (Chín thứ đệ định và năm trí giống như

trên.)

30) Hiền giả nghĩ thế nào? Này Hiền giả, có

phải, này Ananda, trước mặt Thế Tôn và giữa chúng Tỷ-kheo Tăng,

Hiền giả được Thế Tôn đề cập như sau: "Và Ta, này các

Tỷ-kheo, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình

với thắng trí, Ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát,

tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, Ananda cũng vậy, với sự đoạn tận

các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng

đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát"?

-- Thưa Tôn giả, không phải vậy.

31) -- Chính ta, này Hiền giả, trước mặt Thế

Tôn và giữa chúng Tỷ-kheo, được Thế Tôn đề cập như sau:

"Này các Tỷ-kheo, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện

tại tự mình với thắng trí, Ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm

giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng vậy, với sự

đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí chứng

ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát".

32) Này Hiền giả, ai nghĩ rằng có thể che đậy

sáu thắng trí của ta được, thời không khác gì họ nghĩ rằng có thể

lấy một lá cây ta-la mà che đậy một con voi lớn đến bảy hay tám

khuỷu tay rưởi bề cao.

IV

33) Nhưng Tỷ-kheo-ni Thullatissà đã từ bỏ đời sống

Phạm hạnh.

XI. Y Áo (Tạp 41.26, Chúng Giảm

Thiểu, Ðại 2, 302c Biệt Tạp 6,13, Ðại 2, 417c) (S.ii,217)

1) Một thời Tôn giả Mahà Kassapa trú ở Ràjagaha (Vương

Xá), Veluvana (Trúc Lâm) tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

I

2) Lúc bấy giờ, Tôn giả Ananda đang đi du hành ở

Dakhinàgiri (Nam Sơn), cùng với đại chúng Tỷ-kheo.

3) Lúc bấy giờ có khoảng ba mươi Tỷ-kheo đệ

tử của Tôn giả Ananda, phần lớn còn trẻ tuổi, từ bỏ sự tu học và hoàn

tục.

II

4) Rồi Tôn giả Ananda, sau khi du hành ở Nam Sơn, tùy

theo ý muốn, rồi đi đến Vương Xá, Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng

các con sóc, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa, sau khi đến, đảnh lễ Tôn

giả Mahà Kassapa rồi ngồi xuống một bên.

5) Tôn giả Mahà Kassapa nói với Tôn giả Ananda đang

ngồi xuống một bên:

-- Duyên bao nhiêu lợi ích, này Hiền giả Ananda,

Thế Tôn chế định điều luật "Chỉ ba người ăn" đối với

các gia chủ?

6) -- Duyên ba lợi ích, thưa Tôn giả Kassapa, nên

Thế Tôn chế định điều luật "Chỉ ba người ăn" đối với

các gia chủ, để ngăn chận các người ác giới, vì sự lạc trú của các

Tỷ-kheo chánh hạnh, chớ để cho ai dựa vào những ác đảng phá hoại

chúng Tăng, và vì lòng từ mẫn đối với các gia đình. Thưa Tôn giả Kassapa,

do duyên ba lợi ích này nên Thế Tôn chế định điều luật "Chỉ

ba người ăn" đối với các gia chủ.

7) -- Vậy thời vì sao, này Hiền giả Ananda, Hiền

giả lại cùng du hành với những tân Tỷ-kheo này, những người không hộ

trì các căn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm tỉnh giác? Ta

nghĩ Hiền giả hành động thật là kẻ dẫm đạp ngũ cốc! Ta nghĩ Hiền

giả hành động thật là kẻ phá hoại lương gia! Hội chúng của Hiền giả,

này Hiền giả Ananda, đang sụp đổ. Ðồ chúng niên thiếu của Hiền

giả, này Hiền giả, đang tan rã! Ðứa trẻ này không biết lượng sức

mình!

8) -- Thưa Tôn giả Kassapa, trên đầu tôi, tóc bạc đã

sanh, tuy vậy, hôm nay Tôn giả Mahà Kassapa gọi tôi là đứa trẻ, tôi không

có phật lòng.

9) -- Thật vậy, này Hiền giả Ananda, Hiền giả du

hành với những tân Tỷ-kheo này, những người không hộ trì các căn, không

tiết độ trong ăn uống, không chú tâm tỉnh giác. Ta nghĩ Hiền giả

hành động thật là kẻ dẫm đạp ngũ cốc! Ta nghĩ Hiền giả hành động

thật là kẻ phá hoại lương gia! Hội chúng của Hiền giả, này Hiền giả

Ananda, đang sụp đổ. Ðồ chúng niên thiếu của Hiền giả, này Hiền

giả, đang tiêu diệt. Ðứa trẻ này không biết lượng sức mình.

III

10) Tỷ-kheo-ni Thullatissà được nghe Tôn giả Ananda,

bậc Thánh Vedeha lại bị Tôn giả Mahà Kassapa không hài lòng và gọi là

"đứa trẻ".

11) Rồi Tỷ-kheo-ni Thullatissà không hoan hỷ và

thốt ra những lời không hoan hỷ: "Sao Tôn giả Mahà Kassapa, trước kia

là người theo ngoại đạo, lại nghĩ có thể không hài lòng và gọi Tôn

giả Ananda, bậc Thánh Vedeha là đứa trẻ?"

12) Tôn giả Mahà Kassapa được nghe những lời của

Tỷ-kheo-ni Thullatissà nói như vậy.

13) Rồi Tôn giả Mahà Kassapa nói với Tôn giả Ananda:

-- Này Hiền giả Ananda, lời nói của Tỷ-kheo-ni

Thullatissà thật là đường đột, không đắn đo suy nghĩ! Này Hiền giả,

vì rằng ta là người cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia

đình, sống không gia đình, ta không chấp nhận một Ðạo Sư nào khác ngoài

Thế Tôn, bậc ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác.

14) Này Hiền giả, trong khi ta còn là gia chủ, ý

nghĩ sau đây được khởi lên: "Chật hẹp thay đời sống tại gia, đầy

những bụi đời! Còn xuất gia như đời sống ngoài trời. Thật không dễ dàng ở

trong gia đình có thể sống Phạm hạnh, hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh

tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất

gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình".

15) Rồi này Hiền giả, sau một thời gian ta lấy vải

cắt làm áo Tăng-già-lê, và theo thông lệ các vị Ứng Cúng ở đời, cạo bỏ

râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

16) Xuất gia như vậy, ta đang đi trên đường, thấy

Thế Tôn ngồi tại ngôi đền Bahaputta giữa Ràjagaha và Nàlandà. Thấy

vậy, ta suy nghĩ như sau: "Ôi thật thế chăng, ta có thể thấy bậc

Ðạo Sư, tức là có thể thấy bậc Thế Tôn! Ôi thật thế chăng, ta

có thể thấy bậc Thiện Thệ, tức là có thể thấy bậc Thế

Tôn! Ôi thật thế chăng, ta có thể thấy bậc Chánh Ðẳng Giác, tức là

có thể thấy bậc Thế Tôn?"

17) Và này Hiền giả, ngay tại chỗ ấy, ta cúi

đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

"-- Bạch Thế Tôn, Ðạo Sư của con là Thế

Tôn. Con là đệ tử".

18) Khi nghe nói vậy, này Hiền giả, Thế Tôn nói

với ta:

-- Này Kassapa, những ai với tâm trọn vẹn đầy đủ,

không biết một đệ tử mà nói rằng tôi biết, không thấy mà nói

rằng tôi thấy, đầu người ấy sẽ vỡ tan. Còn Ta, này Kassapa, Ta biết thời

Ta nói Ta biết, Ta thấy thời Ta nói Ta thấy.

19) Do vậy, này Kassapa, Ông phải học tập như sau:

'Một tâm quý thật sắc sảo sẽ phải được thiết lập giữa các vị

Trưởng lão, niên thiếu và trung niên'. Này Kassapa, Ông phải học tập

như vậy.

20) Do vậy, này Kassapa, Ông phải học tập như sau:

'Phàm pháp gì tôi nghe, liên hệ đến thiện, sau khi đặc biệt

chú ý, tác ý, tập trung tất cả tâm (lực), tất cả pháp ấy tôi

đều lóng tai nghe'. Này Kassapa, Ông phải học tập như vậy.

21) Do vậy, này Kassapa, Ông phải học tập như sau:

'Phàm niệm gì thuộc về thân hành, câu hữu với hỷ, ta sẽ không bỏ

niệm ấy'. Này Kassapa, Ông phải học tập như vậy".

22) Rồi này Hiền giả, Thế Tôn sau khi giáo giới

ta với lời giáo giới ấy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

23) Trong bảy ngày, này Hiền giả, đang còn phiền

não, ta ăn món ăn của quốc độ, đến ngày thứ tám, chánh trí khởi lên.

24) Rồi này Hiền giả, Thế Tôn từ trên đường

bước xuống và đi đến một gốc cây.

25) Rồi này Hiền giả, ta xấp tư tấm y Tăng-già-lê

làm bằng vải cắt, rồi bạch Thế Tôn:

"-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ngồi xuống ở

đây, để con được hạnh phúc an lạc lâu dài".

26) Này Hiền giả, Thế Tôn ngồi xuống trên

chỗ đã soạn sẵn.

27) Sau khi ngồi xuống, này Hiền giả, Thế Tôn

nói với ta:

"-- Thật là mềm dịu, này Kassapa, là tấm y

Tăng-già-lê này làm bằng vải cắt của Ông".

"-- Bạch Thế Tôn, mong rằng Thế Tôn nhận

lấy tấm y làm bằng vải cắt này từ nơi con, vì lòng từ mẫn đối với

con".

28) "-- Này Kassapa, Ông có dùng tấm y phấn tảo làm

bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ của Ta không?".

" -- Con sẽ dùng, bạch Thế Tôn, tấm y phấn tảo

làm bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ của Thế Tôn".

29) Như vậy, này Hiền giả, ta cúng cho Thế Tôn

tấm y Tăng-già-lê làm bằng vải cắt; còn ta thời dùng tấm y phấn tảo của

Thế Tôn, làm bằng vải gai thô đáng được quăng bỏ.

30) Và này Hiền giả, nếu ai có nói về ta

một cách chơn chánh, thời ta là con ruột Thế Tôn, sanh ra từ miệng, do

pháp sanh, do pháp hóa sanh, thừa tự Chánh pháp và đã nhận được tấm y phấn

tảo, làm bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ.

31) Này Hiền giả, tùy theo mong muốn, ta ly dục, ly

bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái

hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.

32-46) Và này Hiền giả, tùy theo mong muốn, ta...

(chín thứ đệ định và năm thắng trí)...

47) Và này Hiền giả, do đoạn tận các lậu hoặc,

ngay trong hiện tại ta tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt, và an

trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

48) Này Hiền giả, ai nghĩ rằng có thể che đậy

sáu thắng trí của ta được, thời không khác gì nghĩ rằng có thể lấy

một lá cây ta-la mà che đậy một con voi lớn đến bảy hay tám khuỷu tay

rưởi bề cao.

49) Nhưng Tỷ-kheo-ni Thullatissà đã từ bỏ đời sống

Phạm hạnh.

XII. Sau Khi Chết (Tạp 32.1, Ngoại

Ðạo, Ðại 2, 226a) (Biệt Tạp 6.14, Ðại 2, 419a) (S.ii.222).

1) Một thời Tôn giả Mahà Kassapa và Tôn giả Sàriputta

trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isipatana (chư Tiên đọa xứ), ở Migadaya

(Lộc Uyển).

2) Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi chiều từ chỗ

Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa; sau khi

đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời

chào đón hỏi thăm, liền ngồi xuống một bên.

3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn

giả Mahà Kassapa:

-- Này Hiền giả Kassapa, có phải Như Lai có tồn tại

sau khi chết không?

-- Này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố:

"Như Lai có tồn tại sau khi chết".

4) -- Như vậy, này Hiền giả, có phải Như Lai không

tồn tại sau khi chết?

-- Cũng vậy, này Hiền giả, Thế Tôn không có

tuyên bố: "Như Lai không tồn tại sau khi chết".

5) -- Như vậy, này Hiền giả, có phải Như Lai có

tồn tại, và không tồn tại sau khi chết?

-- Này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố:

"Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết".

6) -- Vậy này Hiền giả, có phải Như Lai không có

tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?

-- Cũng vậy, này Hiền giả, Thế Tôn không có

tuyên bố: "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi

chết".

7) Này Hiền giả, vì sao Thế Tôn không có tuyên

bố như vậy? Vì đây, này Hiền giả, không đưa đến lợi ích, không

đưa đến cứu cánh Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, an

tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Thế Tôn không có tuyên

bố như vậy.

8) Vậy này Hiền giả, Thế Tôn tuyên bố cái gì?

"Ðây là khổ", này Hiền giả, Thế Tôn

đã tuyên bố. "Ðây là khổ tập", Thế Tôn đã tuyên bố.

"Ðây là khổ diệt", Thế Tôn đã tuyên bố. "Ðây là con

đường đưa đến khổ diệt", Thế Tôn đã tuyên bố.

9) Vì sao, này Hiền giả, Thế Tôn đã tuyên bố

như vậy?

Vì đây, này Hiền giả, đưa đến lợi ích, đưa

đến cứu cánh Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, an tịnh, thắng

trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Thế Tôn đã tuyên bố như vậy.

XIII. Tượng Pháp (Tạp 32.2 Pháp Giảm

Diệt, Ðại 2, 226b (Biệt Tạp 6.15, Ðại 2, 419b) (S.ii,223)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, vườn

ông Anàthapindika.

2) Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đi đến Thế Tôn; sau

khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahà Kassapa bạch

Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, thuở

trước, học giới có ít hơn nhưng các Tỷ-kheo chứng đắc chánh trí

nhiều hơn? Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ngày nay học

giới có nhiều hơn, nhưng các Tỷ-kheo chứng đắc chánh trí ít hơn?.

4) -- Sự việc xảy ra như vậy, này Kassapa, trong thời

các chúng sanh suy giảm, trong thời diệu pháp biến mất, thời nhiều

hơn là các học giới, ít hơn là các Tỷ-kheo chứng đắc chánh trí.

5) Này Kassapa, diệu pháp không biến mất cho

đến khi nào tượng pháp không hiện ra ở đời. Và Kassapa khi nào

tượng pháp hiện ra ở đời, thời diệu pháp biến mất.

6) Ví như, này Kassapa, vàng (thật) không biến mất

khi nào vàng giả chưa hiện ra ở đời. Và này Kassapa, khi nào vàng giả

hiện ra ở đời, thời vàng (thật) biến mất.

7) Cũng vậy, này Kassapa, diệu pháp không biến

mất, khi nào tượng pháp chưa hiện ra ở đời. Và này Kassapa, khi nào

tượng pháp hiện ra ở đời, thời diệu pháp biến mất.

8-11) Này Kassapa, địa giới không làm diệu pháp

biến mất, thủy giới... hỏa giới... phong giới không làm diệu pháp

biến mất.

12) Ở đây, khi nào các người ngu có mặt, chính

họ làm diệu pháp biến mất.

13) Ví như, này Kassapa, chiếc thuyền bị chìm vì

chở quá nặng. Không phải vì vậy, này Kassapa, diệu pháp bị biến mất.

14) Này Kassapa, có năm thối pháp khiến cho diệu

pháp bị hỗn loạn và biến mất. Thế nào là năm?

15) Ở đây, này Kassapa, các Tỷ-kheo,

Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống không tôn kính, không tùy thuận bậc

Ðạo Sư, sống không tôn kính, không tùy thuận Chánh pháp, sống không tôn

kính, không tùy thuận chúng Tăng, sống không tôn kính, không tùy thuận

học giới, sống không tôn kính, không tùy thuận đối với Thiền định.

Này Kassapa, chính những thối pháp này đưa đến sự

hỗn loạn, sự biến mất của diệu pháp.

16) Và có năm pháp, này Kassapa, đưa đến sự an

trú, bền vững, không biến mất của diệu pháp. Thế nào là năm?

17) Ở đây, này Kassapa, các Tỷ-kheo,

Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống kính trọng, tùy thuận bậc Ðạo

Sư, sống kính trọng, tùy thuận Chánh pháp, sống kính trọng, tùy thuận

chúng Tăng, sống kính trọng, tùy thuận học giới, sống kính trọng

tùy thuận Thiền định.

18) Chính năm pháp này, này Kassapa, đưa đến sự an

trú, bền vững, không biến mất của diệu pháp.