Chuyện Tiền Thân · Jātaka

JAT-062 · 521. Chuyện ba con chim (Tiền thân Tesakuna)

Jātaka group 62 · Bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu / Giáo sư Trần Phương Lan. Reader này gom dòng nguồn thành đoạn đọc tự nhiên, nhưng vẫn giữ dữ liệu nguồn để đối chiếu.

Mã kinhjat-062
Số MN62
NguồnBudsas.net
Đối chiếubudsas.net

Chương XVII#

Phẩm Bốn Mười Bài Kệ#

-ooOoo-

521. Chuyện ba con chim (Tiền thân Tesakuna)#

Điều n ày cha muốn hỏi Ves-san ...,
Bậc Đạo Sư kể chuyện n ày trong lúc
trú tại Kỳ Viên, về việc giáo giới vua Kosala.
Bấy giờ vị vua này đến nghe thuyết pháp v à
bậc Đạo Sư bảo vua như sau:
- Thưa Đại vương, một vị vua phải cai trị
vương quốc chân chánh, v ì bất cứ khi nào các quân vương bất chánh thì
quần thần cũng bất chánh theo.
Và khi giáo giới vua theo Chánh đạo như đ ã
kể trong Chương Bốn, Ngài nêu ra những khổ đau
li ên hệ đến việc theo ác đạo, hoặc hạnh
phúc li ên hệ đến việc từ bỏ ác đạo v à
trình bày đầy đủ chi tiết nỗi bất hạnh phát
sinh từ dục lạc, vừa so sánh dục lạc với cơn mộng hoặc đại loại như thế, Ng ài
vừa bảo:
- Trong trường hợp những người ở đời n ày:
Không bạc tiền mua chuộc được Tử thần,
Không từ tâm làm lắng dịu Ma quân,
Không ai thắng trong chiến trường Thần chết,
Vì tất cả đều có ng ày tiêu diệt.
Và khi bước sang thế giới bên kia, trừ các thiện nghiệp công
đức của ri êng mình, con người không có
một nương tựa vững chắc nào khác, vì vậy con người cần phải từ bỏ các mối
quan hệ hạ liệt, và vì thanh danh của mình, con người không
được buông lung phóng dật, m à phải tinh
cần thực hành giới luật chân chánh, giống như các vị vua ngày xưa, trước khi
Đức Phật ra đời, đ ã an trú vào lời dạy
của các bậc trí, cai trị đúng pháp v à
lúc từ trần đạt đến c õi thiên.
Và theo lời thỉnh cầu của vua, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại không có con kế vị, và
lời vua cầu xin vương tử hoặc công chúa đều
không được đáp ứng. Bấy giờ một hôm vua c ùng
đám quần thần hộ tống đông đảo đến ngự vi ên,
và sau khi du hí nữa ngày trong vùng ấy, ngài bảo trải sàng tọa cho ngài nằm
dưới gốc cây Sàla vương giả. Sau một giấc ngủ trưa ngắn, ngài thức dậy và
nhìn lên cây Sàla, ngài thấy một tổ chim trên
đó. Vừa chợt thấy nó, một ước muốn chiếm tổ chim kia nảy sinh trong l òng,
ngài truyền gọi một vị hầu cận đến bảo:
- Hãy trèo lên cây xem thử có gì trong tổ không?
Người ấy trèo lên, thấy có ba quả trứng trong
đó, liền tr ình vua. Ngài phán:
- Vậy khanh hãy cẩn thận đừng thổi hơi v ào
chúng. Ngài bảo.
Rồi trãi một ít vải trong một cái hộp, ngài dặn người ấy
đi xuống nhẹ nh àng, và
đặt trứng v ào trong
đó.
Khi trứng đ ã
được đưa xuống xong, ng ài cầm hộp
đến hỏi đám cận thần xem các trứng n ày
thuộc giống chim gì. Họ đáp:
- Chúng thần không biết, song đám thợ săn sẽ
biết.
Vua truyền gọi các thợ s ăn đến hỏi. Họ đáp:
- Tâu Đại vương, một trứng chim cú, một
trứng khác l à chim may nha và trứng thứ ba là chim anh vũ hét.
- Có ba loại trứng khác nhau trong một tổ chim ư?
- Tâu Đại vương, phải, khi không có g ì
đáng lo ngại th ì vật gì
được khéo sắp đặt sẽ không hư hoại được.
Vua đẹp ý bảo:
- Chúng nhất định sẽ l à các con trẫm.
Rồi giao ba quả trứng cho ba vị quan trong triều ch ăm
sóc, ng ài bảo:
- Đây sẽ l à các con trẫm. Các khanh
hãy cẩn thận ch ăm nom chúng v à khi nào
chim non nở ra khỏi vỏ, hãy báo tin cho trẫm.
Ba vị ch ăm sóc trứng rất chu đáo. Trước ti ên
trứng chim cú được ấp nở v à vị quan
đầu đi t ìm một người thợ s ăn
bảo:
- Hãy xem chim non này thuộc giống gì, nó là chim trống hay mái.
Khi kẻ ấy xem xét xong, tuyên bố đó l à
chim trống, vị quan đến tr ình vua:
- Tâu Đại vương, một vương nhi đ ã ra
đời.
Vua hài lòng, ban thưởng ông nhiều vàng bạc và bảo:
- Hãy ch ăm sóc các con trẫm cẩn thận v à
đặt t ên nó là Vessantara.
Rồi ngài bảo ông ra về. Ông làm những việc
được giao.
Sau đó v ài hôm, trứng chim Maynah
được ấp nở, vị quan thứ hai cũng vậy, sau khi
bảo một thợ săn xem xét nó v à nghe đó l à
chim mái, liền đi tâu tr ình vua một công
chúa ra đời. Vua đẹp ý ban thưởng nhiều v àng
bạc và bảo:
- Hãy ch ăm nom con gái trẫm thật cẩn thận v à
đặt t ên nó là Kundalini.
Ngài lại bảo ông ra về. Ông cũng làm những việc
được dặn.
Sau đó v ài hôm nữa, trứng chim anh vũ
được ấp nở v à vị quan thứ ba, sau khi
được người thợ săn xem xét kỹ, nói đó l à
chim trống, liền đi tâu vua một vương tử mới ra
đời. Vua hoan hỷ ban thưởng rộng r ãi và bảo:
- Hãy làm lễ tôn vinh vương tử của trẫm thật long trọng và
đặt t ên nó là Jambuka.
Rồi ngài bảo ông ra về. Ông làm theo lời dặn.
Ba con chim này lớn lên trong nhà ba vị quan ấy giữa mọi lễ nghi thích
hợp với hoàng gia. Vua thường gọi chúng là "con trai trẫm", "con gái trẫm".
Các triều thần thường nói đ ùa với
nhau:
- Hãy xem chúa thượng làm kia: ngài cứ đi
quanh nói chuyện về bầy chim như các con của ng ài vậy.
Vua suy nghĩ: "Quần thần nầy không biết mức
độ trí tuệ của các con ta. Ta muốn chứng tỏ việc nầy cho họ thấy."
Vì thế ngài truyền một vị cận thần đến bảo
Vessantara:
- Phụ vương muốn hỏi vương tử một câu. Vậy khi nào ngài có thể
đến hỏi được?
Vị ấy đến ch ào Vessantara và
đưa lời vua truyền. Vessatanra mời vị quan chăm
sóc m ình đến v à nói:
- Họ bảo phụ vương ta muốn hỏi ta một câu. Khi ngài
đến, chúng ta phải b ày tỏ tất cả lòng
tôn kính đối với ng ài.
Và chim hỏi thêm:
- Vậy khi nào phụ vương có thể đến?
Vị quan đáp:
- Xin mời Đại vương đến v ào ngày thứ
bảy kể từ hôm nay.
Vessatara nghe vậy liền bảo:
- Xin mời phụ vương đến v ào ngày thứ
bảy kể từ nay.
Cùng với những lời này, chim bảo ông ra về. Ông
đi đến tr ình vua. Vào ngày thứ bảy, vua
truyền đánh trống khắp kinh th ành và
đi đến nh à vương nhi của ngài
đang cư ngụ.
Vessatara tiếp đ ãi phụ vương vô cùng
cung kính và tỏ ra hết lòng quý trọng ngài cả
đám nô tỳ v à gia nhân. Sau khi vua ngự yến tiệc tại nhà Vessatara và
thọ hưởng mọi sự chiêu đ ãi trọng thể,
ngài ra về cung thất của ngài.
Sau đó ng ài truyền dựng một cái
đ ình lớn trong sân chầu và truyền
đánh trống khắp kinh th ành báo tin xong,
ngài ngự vào cái đ ình nguy nga lộng lẫy
được quần thần đông đảo vây quanh, rồi bảo một
vị quan đưa Vessatara đến yết kiến ng ài. Vị ấy
đặt Vessantara l ên một kim
đôn. Con chim đậu l ên lòng phụ vương và
chơi với ngài, xong bay qua đậu l ên kim
đôn ấy.
Rồi giữa đám quần thần, vua ngâm vần kệ đầu
hỏi chim về phận sự quân vương:
1. Điều nầy cha muốn hỏi Ves-san,
Cầu chúc cho con y êu được lạc an:
Với một vị vua mong trị nước,
Sống sao tốt đẹp nhất trần gian?
Vessantara không trả lời trực tiếp câu hỏi trên, mà khiển trách vua cha
về tính buông lung phóng dật, và ngâm vần kệ thứ hai:
2. Kam-sa, chúa tể xứ Kà-si,
Phóng dật buông lung đ ã lắm khi,
Thúc dục con, dù đầy nhiệt huyết,
Phải luôn tỏ nhiệt huyết tr àn trề.
Chim khiển trách vua qua vần kệ này và bảo:
- Tâu Đại vương, một vị vua phải cai trị đất
nước đúng Chánh pháp v à tuân thủ ba chân lý này.
Rồi chim ngâm các vần kệ nói về phận sự quân vương:
3. Trước hết vị vua phải vứt đi,
Mọi điều giả dối, giận, khinh khi,
Phải l àm những việc cần hành động,
Nếu chẳng l àm xong, sẽ lỗi thề.
4. Nếu trước kia đi lạc hướng t à,
Vì tham sân hướng dẫn đường vua,
R õ ràng phải sống ăn năn tội,
Luyện tập để đừng phạm lỗi xưa.
5. Khi vua trị nước quá buông lung,
Đối với thanh danh, chẳng thật chân,
Mọi sự phồn vinh đều biến mất,
Chỉ c òn ô nhục với hôn quân.
6. Thần nữ Cát tường với Vận may,
Khi con hỏi, đ ã
đáp như vầy:
"Chúng ta thích hạng người can đảm,
Nghị lực, thoát ly tật đố n ày".
7. Rủi ro luôn phá hoại phồn vinh,
Thích những người làm các ác hành,
Những kẻ nhẫn tâm đầy độc ác,
Trong tâm ganh tỵ cứ dần sinh.
8. Thân thiết mọi người, tấu Đại vương,
Để cho mọi sự được an to àn,
Tránh xa Vận rủi, song làm chỗ,
An trú Vận may thật vững vàng.
9. Con người tốt số lại can trường,
Ngự trị Kà-si, chính phụ vương,
Tiêu diệt địch quân từ gốc ngọn,
Hiển nhi ên sẽ đạt đại vinh quang.
10. Thi ên chủ Ska-ka mãi ngắm trông,
Tấm lòng can đảm ở ph àm nhân,
Vì ngài giữ vững lòng can đảm,
Nhận thức đó l à chính thiện lương.
11. Thác-bà, Thiên chúng lẫn loài người.
Ca ngợi minh quân ấy hết lời,
Các bậc thần linh đều ủng hộ
Tán dương nhiệt huyết lẫn anh t ài.
12. Nỗ lực làm bao việc chánh chân,
Dù ai phỉ báng, chẳng buông lung,
Chuyên tâm tinh tấn làm điều thiện,
Phóng dật chẳng mong đạt phước phần.
13. Đây l à phận sự của quân vương,
Dạy bảo phụ vương bước đúng đường,
Đủ đạt phước phần cho thiện hữu
Hoặc mang sầu n ão đến cừu nhân.
Như thế chim Vessantara đ ã khiển
trách vua phóng dật trong một vần kệ, rồi ngâm mười một vần kệ nữa
để trả lời câu hỏi của vua với vẻ kỳ diệu của
một vị Phật. Tâm quần chúng tr àn đầy
thích thú lẫn kinh ngạc chưa từng có v à vô số tiếng reo tán thán vang
dậy.
Vua xúc động với niềm hân hoan liền hỏi quần
thần phải l àm gì cho vương tử vì đ ã
nói như vậy. Họ đáp:
- Tâu Đại vương, vương tử phải được phong
chức đại tướng quân.
- Tốt lắm, trẫm ban cho vương tử chức đại
tướng. Ng ài phán.
Và Ngài bổ nhiệm Vessantara vào chức vụ còn trống ấy.
Từ đó về sau, ở địa vị, vương tử thực h ành
mọi ước của phụ vương. Đến đây chấm chuyện về
câu hỏi chim Vessantara.
*
Sau vài ngày nữa, cũng như trước kia, vua gởi thông
điệp đến Kundalin ì, và vào ngày thứ bảy,
ngài ngự đến thăm chim con rồi trở về cung, ngự
giữa ngôi đ ình và truyền đưa Kundalin ì
đến yết kiến ng ài. Khi chim này
đ ã đậu tr ên
kim đôn, ng ài ngâm vần kệ hỏi chim về
phận sự quân vương:
14. Kun-da-li, ái điểu ho àng gia,
Con hãy đáp câu hỏi của cha:
Kẻ muốn l ên ngôi vua trị nước,
Sống sao tốt nhất cõi người ta?
Khi vua cha hỏi chim về phận sự của một quốc vương như thế, chim con
đáp.
- Tâu phụ vương, con chắc phụ vương muốn thử con vì nghĩ rằng: "Nữ nhi có
thể bảo ta việc gì nào?". Vậy con xin đáp lời
phụ vương bằng cách đặt mọi phận sự quân vương v ào
đúng hai phương châm.
Và chim ngâm các vần kệ sau:
15. Vấn đề được đặt, hỡi thân bằng,
Trong cặp phương châm thật r õ ràng:
Gìn giữ những gì ta phải đạt,
Tránh xa những việc chẳng n ên làm.
16. Quốc sư hãy chọn các hiền nhân,
Thấy lợi ích vua thật rõ ràng,
Không phóng đ ãng và không phí phạm,
Thoát ly cờ bạc, rượu say nồng.
17. Người vậy hộ phòng vua chánh chân,
Nhiệt tình bảo vệ các kho tàng,
Như người điều ngự vương xa ấy,
L èo lái giang sơn đến phú cường.
18. Luôn trị thần dân thật khéo khôn,
Giữ g ìn đúng đắn các kho lương,
Đừng giao kẻ khác cho vay mượn,
Phải tự m ình làm đúng kỷ cương.
19. Những ích lợi hay việc hại m ình,
Đại vương phải biết thật phân minh,
Phải ch ê trách kẻ mang lầm lỗi,
Khen thưởng những người thật xứng danh.
20. Và chính bản thân, tấu Đại vương,
Dạy thần dân mọi nẻo hiền lương,
Kẻo e quốc độ c ùng tài sản,
Phải hóa mồi quan lại ác gian.
21. Canh phòng hành động của vua quan,
Cẩn thận, đừng n ên quá vội vàng,
Vì kẻ ngu làm không nghĩ ngợi,
Về sau chắc chắn sống ăn năn.
22. Ta chẳng bao giờ được hận sân,
V ì chưng sân hận vỡ tràn lan,
Liền đem nguy hại cho vua chúa,
Đánh bại người ki êu mạn nhất trần.
23. Phải biết chắc rằng bậc Đại vương,
Đừng đưa dân chúng bước sai đường,
E rằng tất cả người nam nữ,
Sa đọa v ào trong biển khổ buồn.
24. Khi vua dứt bỏ mọi lo toan,
Dục lạc là nguồn sống bản thân,
Tài sản, kho tàng đều mất hết,
Chỉ c òn ô nhục với hôn quân.
25. Đây l à nhiệm vụ của quân vương
Chỉ dạy phụ vương bước đúng đường,
Thực hiện chuy ên tâm toàn thiện nghiệp,
Chống điều quá độ, thói hoang to àng,
Hộ phòng giới hạnh, vì lầm lỗi
Luôn dẫn đến đau khổ đoạn trường.
Như vậy Kundalinì cũng dạy phận sự quân vương trong mười một vần kệ. Vua
thích thú hỏi quần thần:
- Phải ban thưởng gì cho ái nữ của trẫm vì đ ã
nói như vậy?
- Tâu Đại vương, ban chức thủ ngân khố.
Và ngài chỉ định Kundalin ì vào
địa vị c òn trống ấy. Từ
đó chim n ày giữ chức vụ trên và làm việc
cho vua.
Đến đây chấm dứt chuyện về câu hỏi chim Kundalin ì.
*
Sau chừng vài ngày, cũng như trước kia, vua truyền sứ giả
đến gặp bậc trí điểu Jambuka, rồi khi ng ài
đến viếng nh à con vào ngày thứ bảy và
đ ã được chi êu
đ ãi trọng thể tại
đó, ng ài trở về cung và cũng như trên,
ngài ngự vào bảo tọa giữa đ ình. Một vị
triều thần đặt bậc trí điểu Jambuka tr ên
một kim đôn rồi đến mang kim đôn l ên
đầu m ình.
Chim anh vũ thông thái ngồi trong lòng phụ vương, chơi với ngài rồi sau
cùng đậu tr ên kim
đôn ấy. Khi đó vua ngâm vần kệ hỏi chim:
26. Chúng ta đ ã hỏi
đủ ho àng huynh,
Công chúa Kun-da-li đẹp xinh,
Đến lượt Jam-bu-ka h ãy nói,
Cho cha biết lực tối cao minh.
Như vậy vua, trong lúc đặt vấn đề với bậc
Đại Sĩ, đ ã không hỏi theo cách vua đ ã
hỏi hai chim kia, mà hỏi theo một cách đặc
biệt. Lúc ấy con chim thông thái bảo ng ài:
- Tốt lắm, tâu phụ vương, xin hãy lắng nghe kỹ, con sẽ trình phụ vương
tất cả.
Rồi giống như một người đặt chiếc túi đựng
một ng àn đồng tiền v ào một bàn
tay mở rộng, chim bắt đầu thuyết giảng phận sự
của quân vương:
27. Giữa bao người vĩ đại tr ên trần,
N ăm lực n ày, ta thấy rõ ràng:
Sức mạnh tứ chi là thấp nhất,
Kế là quyền lực của kim ngân.
28. Thứ ba là lực của lời khuyên,
Giai cấp hiển nhiên đệ tứ quyền,
Tất cả điều n ày, người có trí,
Sẽ đều công bố thật đương nhi ên.
29. Lực tối ưu trong các lực này,
Khả n ăng trí tuệ chính l à
đây,
Nhờ v ào uy lực này, người trí,
Thành tựu phần mình tốt đẹp thay.
30. Ví thử quốc gia đại phú cường,
Rơi v ào tay của một ngu nhân,
Một người khác sẽ dùng cường bạo,
Chiếm nước, gây bao nỗi oán hờn.
31. Dù quân vương quý tộc cao sang,
Phận sự chính là ngự trị dân,
Vua ấy quả là rất khó sống,
Nếu vua chứng tỏ trí ngu đần.
32. Trí tuệ xét xem các việc l àm,
Làm cho danh vọng mãi t ăng dần,
Người n ào trí tuệ đầy thông thái,
Vẫn thấy vui d ù gặp khổ buồn.
33. Không ai sống phóng dật buông lung,
Lại có thể nào đạt trí thông,
Nhưng phải theo lời khuy ên bậc trí,
Nếu không, sẽ mãi mãi ngu đần.
34. Ai dậy sớm, luôn giữ đúng thời,
Chuy ên tâm không mỏi mệt, vui tươi,
Làm bao phận sự đang mời gọi,
Chắc chắn th ành công ở giữa đời.
35. Ai hướng tâm v ào việc tổn thương,
Hoặc hành động với trí buông lung,
Việc g ì kẻ ấy hòng theo đuổi,
Cũng chẳng thể n ào đạt ước mong.
36. Song ai không mỏi mệt, chuy ên cần,
Theo đuổi đường đời thật chánh chân,
Chắc chắn sẽ đạt th ành trọn vẹn,
Bất kỳ công việc họ đang l àm.
37-38. Hộ phòng bảo vệ các kho tàng,
Là tạo nguồn tài lợi lớn dần,
Đây chính những điều con ước muốn,
Phụ vương h ãy tạc dạ ghi lòng;
Vì do ác nghiệp, người ngu trí,
Cũng giống như nhà lau sậy rỗng không,
Sụp đổ tan t ành trong chốc lát,
Đằng sau để lại cảnh ti êu vong.
Như vậy qua các vấn đề n ày, Bồ-tát ca
ngợi n ăm uy lực, vừa tán dương uy lực của trí
tuệ, như người d ùng lời nói gõ vào mặt tr ăng,
ng ài khuyến giáo vua trong mười một vần kệ.
39. Với song thân, hỡi đấng Anh quân,
Phận sự thi h ành thật chánh chân,
Như vậy, sống theo đời chánh trực,
Đại vương sẽ đến c õi thiên đường.
Sau khi ngâm các vần kệ về nếp sống chân chánh, Bồ-tát lại ngâm vần kệ
kết thúc để khuyến giáo vua th êm nữa:
40. Đây l à phận sự của quân vương,
Dạy bảo phụ vương bước đúng đường,
Theo trí tuệ v à luôn hạnh phúc,
Hiểu điều chân lý thật ho àn toàn.
Như vậy bậc Đại Sĩ đ ã thuyết Pháp với
tất cả vẻ kỳ diệu của một vị Phật, chẳng khác nào
đem dải Thi ên hà từ trời xuống. Quần
thần tỏ ra vô cùng kính trọng ngài và vô số tiếng hò reo tán thán vang dậy.
Vua hân hoan hỏi đám quốc sư:
- Làm sao để vương tử của trẫm, bậc trí điểu
Jambuka với chiếc mỏ như quả hồng đ ào tươi mát,
được phần thưởng v ì
đ ã nói như thế?
- Tâu Đại vương, xin ban chức thống soái.
- Thế thì trẫm sẽ ban cho con trẫm chức vụ ấy.
Vua phán rồi chỉ định vương nhi v ào
chức vụ còn trống ấy. Từ đó về sau, ở địa vị
thống soái, ng ài thi hành các mệnh lệnh của phụ vương.
Cả ba chim con đều được tôn vinh trọng thể v à
cả ba đ ã khuyến giáo các vấn
đề thế sự cũng như thánh sự. Vua an trú v ào
lời giáo giới của bậc Đại Sĩ, chuy ên bố
thí làm các thiện sự khác, nên được sinh l àm
thiên giới.
Sau khi cử hành tang lễ của vua, quần thần nói với ba con chim con:
- Tâu Chúa công Jambu, tiên vương đ ã
ra lệnh giương chiếc lọng hoàng gia lên che Chúa công.
Bậc Đại Sĩ đáp:
- Ta không cần vương quốc, các vị hãy chuyên tâm tỉnh giác lo việc trị
nước.
Sau khi an trú quốc dân vào giới đức, ng ài
bảo:
- Hãy thực hành công lý.
Rồi ngài truyền đem cách xử án công bằng
khắc v ào một tấm bảng vàng, và biến mất vào rừng.
Lời giáo huấn của ngài đ ã tiếp tục có
hiệu lực trong bốn mươi ngàn n ăm.
*
Bậc Đạo Sư giảng Pháp thoại n ày làm
phương tiện giáo giới vua và nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy, vua là Ànanda (A-nan), Kundalinì là Uppalavannà (Liên Hoa
Sắc), Vessantara là Sàriputta (Xá Lợi Phất) và chim Jambuka chính là Ta.
-ooOoo-

522. Chuyện đại nhân#

thiện xạ Sarabhanga (Tiền thân Sarabhanga)
Vòng vàng, xiêm áo thật cao sang …,
Câu chuyện này bậc Đạo Sư trong lúc trú tại
Trúc Lâm về sự diệt độ của Tôn giả Trưởng l ão Mahàmoggallàna ( Đại
Mục Kiền Li ên).
Còn về phần Tôn giả Sàriputta (Xá Lợi Phất), sau khi
được Đức Như Lai chấp thuận trong thời Ng ài
trú tại tịnh xá Kỳ Viên, Tôn giả liền đi đến l àng
Nàla và nhập diệt tại đó, ngay chính trong ph òng
xưa kia Tôn giả sinh ra đời. Bậc Đạo Sư nghe
tin Tôn giả n ày nhập diệt liền đến th ành
Ràjagaha (Vương Xá), trú tại Veluvana (Trúc Lâm). Lúc ấy có một Trưởng lão
trú ở đó, ngay tr ên sườn núi Isigili
(chư Thánh sơn) tại Hắc Thạch động. Tôn giả n ày
khi đắc Thánh quả, nhờ thần thông có thể l ên
trời hay xuống địa ngục.
Trên thiên giới, Tôn giả này thấy một vị đệ
tử của đức Phật thọ hưởng đại quyền lực; c òn trong hạ giới, Tôn giả
lại thấy đệ tử của đám ngoại đạo t à giáo
chịu đau khổ kinh hồn, n ên khi trở về
cõi nhân gian, Tôn giả kể cho mọi người nghe chuyện trên một cõi thiên kia,
có một Tỷ kheo này hay Tỷ kheo ni nọ được tái
sinh thọ hưởng vinh quang cao trọng, c òn trong những kẻ theo ngoại
đạo t à giáo lại có người thác sinh vào
địa ngục hay các đọa xứ đầy đau khổ khác.
Dân chúng hoan hỷ lời dạy của Tôn giả này, bác bỏ lời tà thuyết ngoại
đạo. Họ b ày tỏ sự tôn kính trọng
đại đối với các đệ tử của đức Phật, c òn
lòng kính trọng đối với các ngoại đạo sư giảm
dần. Bọn ấy sinh l òng c ăm hận vị Trưởng
l ão này, bảo nhau:
- Bao lâu lão này còn sống, là còn nhiều chia rẽ giữa
đám tín đồ của ta. L òng tôn trọng
đối với ta mất dần. Vậy ta phải giết l ão
đi mới được.
Họ liền đưa một ng àn
đồng tiền cho t ên cướp thường canh giữ
các ẩn sĩ để giết vị n ày
đi, g ã liền quyết tâm giết vị Trưởng
lão, nên đi đến Hắc Thạch Sơn c ùng với
đồng bọn đông đảo, vị Trưởng l ão khi
thấy gã đến liền d ùng thần lực bay lên
không biến mất. Tên cướp không thấy vị Trưởng lão hôm ấy,
đ ành trở về nhà rồi lại
đến trong sáu ng ày liền, song vị Trưởng
lão vẫn dùng thần thông biến mất dạng như trước.
Vào ngày thứ bảy, một tiền nghiệp do Tôn giả gây ra trong một
đời trước, mang theo hậu quả lâu d ài ở
đời sau, giờ đây đang có cơ duy ên xuất
hiện để gây tai họa.
Chuyện kể rằng, một thưở xa xưa, vì nghe theo lời vợ mình xúi giục, vị
này tìm cách làm cho cha mẹ mình chết đi, đ ã
đem xe chở cha mẹ m ình vào rừng, giả vờ
như bị bọn cướp tấn công rồi đánh đập song
thân. Do tuổi gi à mắt kém không thấy mọi vật rõ ràng, hai vị không
nhận ra chính con mình, cứ tưởng có bọn cướp thật, liền kêu lên:
- Con ơi, bọn cướp đang giết mẹ cha, vậy con
h ãy trốn đi.
Rồi họ chỉ than khóc vì con mình thôi.
Vị này liền nghĩ: "Dù cha mẹ ta bị ta đánh
đập, hai vị chỉ v ì ta mà than khóc đó
thôi. Ta thật đ ã làm một việc đáng sĩ
nhục". V ì thế ông an ủi mẹ cha, giả vờ bảo bọn cướp
đ ã bị đánh
đuổi đi rồi, v à vỗ về tay chân cha mẹ, bảo:
- Xin song thân chớ sợ, bọn cướp trốn cả rồi.
Sau đó ông đem cha mẹ về nh à.
Hạnh nghiệp này mãi từ lâu không tìm được cơ
duy ên, nhưng vẫn đợi thời, như l òng
ngọn lửa ấp ủ dưới tro tàn, bùng dậy bắt lấy Tôn giả này khi tái sinh lần
cuối, nên vị Trưởng lão mang nghiệp quá đ ã
chín muồi ấy không thể nào bay lên không được
nữa. Thần thông của Tôn giả n ày ngày xưa
đ ã có lần nhiếp phục Nanda cùng Upananda hai Long vương và làm rung
chuyển cả tối thắng điện Vejayanta ở Thi ên
cung, giờ đây v ì chịu nghiệp quả phải
suy yếu đi. Thế l à tên cướp
đập nát xương Tôn giả ra, bắt chịu thứ cực h ình
gọi là "rơm và bột", rồi tưởng vị này đ ã
chết, nên cùng đồng bọn bỏ đi.
Nhưng khi Trưởng lão này tỉnh lại liền dùng
định lực bao phủ thân m ình như đắp y bay
l ên không trở về yết kiến bậc Đạo Sư,
đảnh lễ Ng ài và thưa:
- Bạch Thế Tôn! Thọ mạng của con đ ã
tận, con sắp tịch diệt.
Rồi được bậc Đạo Sư chấp thuận. Tôn giả nhập
diệt ngay tại chỗ. V ào lúc ấy, sáu cõi thiên giới cùng nổi lên chấn
động, chư thi ên
đồng nhau khóc:
- Đạo Sư của chúng ta đ ã tịch diệt!
Thiên chúng liền đem hương liệu, tr àng
hoa ngát mùi hương thiên giới cũng gỗ đủ loại
đến v à dàn hỏa táng được dựng l ên
bằng gỗ chiên đ àn cùng chín mươi chín
bảo vật.
Bậc Đạo Sư bảo Tăng chúng đặt kim thân Tôn
giả n ày vào địa điểm h ành lễ,
trong lúc Ngài đứng ngay cạnh đó, v à
suốt trong khoảng một dặm đường quanh d àn
hỏa táng, hoa trời rơi xuống như mưa sa, chư Thiên và loài người cũng
đứng chen lấn nhau, dự Thánh lễ suốt bảy ng ày.
Bậc Đạo Sư bảo lượm xá lợi đầy đủ, v à
dựng đền thờ trong ngôi nh à có gác nhọn
tại Trúc Lâm.
Vào lúc ấy trong Chánh pháp đường, Tăng
chúng đưa đề t ài chuyện ấy ra, bảo nhau:
- Thưa các Hiền hữu, Tôn giả Xá lợi phất vì không diệt
độ trong khi yết kiến Như Lai, n ên không
được hưởng lễ nghi trọng thể từ b àn tay
đức Phật, c òn Tôn giả Mục Kiền Liên, vì
diệt độ cạnh bậc Đạo Sư n ên
đ ã được
vinh dự cao cả như thế.
Bậc Đạo Sư đến nơi, hỏi các Tỷ kheo đang
ngồi đ àm luận vấn đề g ì, và khi
được biết, Ng ài bảo:
- Này các Tỷ kheo, không phải chỉ bây giờ, mà cả ngày xưa nữa Mục Kiền
Liên cũng nhận được đủ vinh dự từ b àn
tay Ta.
Nói xong Ngài kể câu chuyện quá khứ.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát nhập mẫu thai phu
nhân, vị quốc sư của hoàng gia. Sau mười tháng, Ngài sinh ra
đời một sáng sớm kia. Lúc ấy một loạt đủ loại
binh khí ở kinh th ành Ba-la-nại sáng rực trong khoảng mười hai dặm
đường. Vị quốc sư ấy, v ào hôm hài nhi ra
đời, bước ra khỏi cửa nh ìn lên trời
để ti ên
đoán số mạng của con v à biết rằng hài nhi sinh ra theo một sự kết hợp
các vì sao ở thiên giới, về sau chắc chắn sẽ làm thủ lạnh thiện xạ toàn cõi
Diêm-phủ - đề.
Vì thế ông vội đi thật sớm đến ho àng
cung vấn an vua. Khi vua phán:
- Này Đạo sư, l àm sao trẫm an khang
được, hôm nay một loạt vũ khí sáng rực l ên
trong cung.
Ông tâu:
- Xin Đại vương chớ sợ, không những chỉ
trong cung m à khắp kinh thành đều thấy
ánh sáng của binh khí. Đó l à do một hài nhi ra
đời trong nh à chúng thần.
- Này Đạo sư, việc ra đời của một h ài
nhi trong những cơ duyên như thế sẽ đem lại hậu
quả g ì?
- Tâu Đại vương, không hề g ì cả,
nhưng sau này hài nhi ấy là thủ lĩnh các thiện xạ trong cõi Diêm-phủ- đề.
- Tốt lành thay, này Đạo sư, h ãy khéo
ch ăm sóc h ài nhi và khi nó lớn lên, hãy
đem nó đến tr ình diện trẫm.
Nói xong, vua ra lệnh ban một ngàn đồng tiền
để nuôi dưỡng h ài nhi. Vị quốc sư nhận lãnh
đem về nh à.
Vào ngày đặt t ên hài nhi, ông gọi hài
nhi là Jotipàla (Hộ Minh) vì có ánh sáng của
đám binh khí trong lúc h ài nhi ra đời.
Hài nhi được nuôi dưỡng rất sang trọng v à
đến năm mười sáu tuổi, ch àng có dung sắc
tuyệt hảo. Thân phụ chàng thấy tướng mạo khác thường như vậy liền bảo:
- Này con, con hãy đi đến th ành
Takkàsilà, và thọ giáo mọi môn học từ một vị danh sư tiếng t ăm
lẫy lừng thế giới.
Chàng tuân lệnh, đem theo học phí, gi ã
từ song thân rồi lên đường đến đó. Ch àng
dâng lên một ngàn đồng tiền, l àm lễ nhập
học rồi bắt đầu thọ giáo, chỉ trong v òng
bảy ngày đ ã
đạt đến tuyệt đích.
Vị tôn sư kia hoan hỷ tặng chàng một bảo kiếm của mình, một chiếc cung
sừng dê, và một bao đựng t ên, cả hai
được buộc v ào nhau thật khéo, một áo
giáp của ông cùng một chiếc mão, rồi bảo chàng:
- Này con Jotipàla yêu quí, ta đ ã
già, vậy con hãy tập luyện đám môn đồ n ày.
Vị này lại trao cho chàng n ăm trăm môn đồ.
Bồ-tát nhận lãnh mọi vật xong, tạ từ sư phụ, trở về Ba-la-nại
để thăm viếng song thân. Thân phụ nh ìn
thấy chàng cung kính đứng trước mặt liền hỏi:
- Này con đ ã học xong chưa?
- Thưa cha, đ ã.
Nghe chàng trả lời thế, người cha liền vào cung, và trình vua:
- Tâu Đại vương, con trai của tiểu thần đ ã
học hành xong, bây giờ phải làm gì nữa?
- Đạo sư h ãy
đem ch àng vào chầu Thiên tử.
- Tâu Đại vương, xin ban bổng lộc thế n ào?
- Cứ ban cho chàng mỗi ngày một ngàn đồng
tiền.
Vị quốc sư tuân lệnh ngay trở về nhà gọi con trai ra bảo:
- Này con, con phải vào chầu đức vua.
Từ đó mỗi ng ày chàng hưởng một ngàn
đồng tiền, v à lo phụng sự nhà vua.
Các quan cận thần lộ vẻ bất mãn:
- Chúng ta không thấy Jotipàla làm gì cả, thế mà hưởng một ngàn
đồng tiền mỗi ng ày, ta muốn xem chàng có
biệt tài gì.
Vua nghe họ nói thế liền nói với quốc sư. Ông tâu:
- Tâu Đại vương, xin vâng lệnh.
Rồi ông trở về nhà nói chuyện với con trai.
- Thưa thân phụ, thế thì tốt quá, vào ngày thứ bảy kể từ nay, con sẽ xin
trình diễn tài nghệ, xin đức vua triệu tập tất
cả xạ thủ trong nước về đây.
Vị quốc sư đi v ào cung, tâu vua mọi
chuyện chàng nói. Vua truyền lệnh đánh trống
khắc kinh th ành triệu tập các xạ thủ, khi họ
đến đông đủ tính được tất cả l à sáu mươi
ngàn người. Vua nghe họ đ ã tề tựu, liền
phán:
- Dân chúng khắp kinh thành hãy đến chứng
kiến t ài nghệ của Jotipàla.
Sau khi cho trống truyền tin ra, ngài ban lệnh chuẩn bị sân chầu, rồi
được đám t ùy tùng
đông đảo theo hầu, ng ài ngự lên bảo tọa
nguy nga; vừa khi triệu tập mọi xạ thủ xong, ngài cho vời Jotipàla. Dưới lớp
y trong, chàng mang cung, bao tên, áo giáp và mão, những vật
đ ã được vị
sư phụ tặng ch àng trước kia. Chàng lại bảo mang thanh kiếm cho chàng
và đến yết kiến vua trong bộ thường phục của ch àng,
rồi cung kính đứng sang một b ên.
Các xạ thủ kia suy nghĩ: "Người ta đồn Jotip àla
đến đây cho chúng ta thấy biệt t ài của
chàng, nhưng chàng đến m à không mang
kiếm chứng tỏ chàng muốn nhận kiếm từ tay ta". Thế rồi họ lại thỏa thuận với
nhau sẽ không trao kiếm cho chàng. Vua bảo Jotipàla:
- Hãy cho ta thấy tài nghệ của khanh.
Thế là chàng tung ra một tấm màn giống túp lều quanh chàng, rồi
đứng v ào trong
đó, cởi áo khoác ra, nịt áo giáp trong, xong
mang áo giáp ngo ài và buộc mão lên đầu.
Sau đó, ch àng lại giương sợi dây màn san hô trên chiếc cung sừng dê,
buộc bao tên sau lưng và thanh kiếm bên sườn trái, chàng xoay tít mũi tên có
đầu nhọn đính kim cương tr ên móng tay
chàng, tung bức màn ra và xuất hiện như một vị Long vương vọt lên từ lòng
đất với trang phục huy ho àng rực rỡ và
đứng đ ãnh lễ vua.
Quần chúng thầy chàng liền nhảy lên reo hò vỗ tay vang dội. Vua bảo:
- Này Jotipàla, hãy trình diễn tài nghệ của khanh.
Chàng đáp:
- Tâu Đại vương, trong đám xạ thủ n ày
có những người bắn nhanh như chớp, chẻ được cả
sợi tóc hay bắn v ào một tiếng động m à
không cần nhìn thấy, hoặc làm gãy một mũi tên
đang rơi. Xin triệu bốn vị đó đến đây.
Vua liền triệu họ ngay.
Bậc Đại Sĩ dựng rạp tr ên một khoảng
đất vuông trong sân chầu bốn góc ch àng
để bốn xạ thủ ấy đứng, mỗi vị được phát cho ba
mươi ng àn mũi tên, bảo người đưa tận tay
mỗi vị, c òn chính chàng cầm mũi tên có gắn
đầu kim cương ấy, đứng giữa rạp nói lớn:
- Tâu Đại vương, xin cho bốn xạ thủ n ày
bắn tên đâm v ào tiểu thần. Tiểu thần sẽ
gạt hết tên bắn ấy ra ngoài.
Vua ra lệnh cho họ làm như vậy. Họ đáp:
- Tâu Đại vương, chúng thần bắn t ên
nhanh như chớp, lại chẻ được cả sợi tóc hay bắn
v ào tiếng nói mà không cần nhìn thấy, hoặc bắn gãy mũi tên
đang rơi, c òn Jotipàla chỉ là chàng trai
mới lớn, chúng thần không muốn bắn chàng.
Bậc Đại Sĩ bảo:
- Nếu các Ngài bắn được ta th ì cứ
bắn.
- Đồng ý.
Họ bảo và đồng loạt bắn t ên.
Bậc Đại Sĩ gạt chúng tới tấp bằng mũi t ên
sắt của chàng, bằng đủ cách l àm chúng
rớt xuống đất, rồi xoay một v òng quanh
chúng, chàng chất chúng lên thành một kho đầy t ên
xếp ăn khớp với nhau, cán khớp với cán, chuôi
với chuôi, lông chim với lông chim, cho đến mọi mũi t ên của
đám xạ thủ được d ùng hết cả, chàng thấy
vậy mà không muốn đụng v ào kho tên kia,
chàng liền nhảy lên không đến trước vua.
Dân chúng reo hò vang dậy, la hét nhảy múa vỗ tay, ném cả áo quần
đồ trang sức th ành một
đống của cải châu báu có một trăm mười tám
triệu đồng. Lúc ấy vua hỏi:
-Này Jotibàla, khanh gọi xảo thuật này là gì?
-Tâu Đại vương, đó l à cách
đỡ t ên.
-Có nhiều người biết cách ấy ch ăng?
-Tâu Đại vương, không có ai ngo ài
tiểu thần trong toàn cõi Diêm-phù- đề.
-Khanh hãy biểu diễn xảo thuật khác đi.
-Tâu Đại vương, bốn xạ thủ kia đứng bốn góc
không đâm trúng tiểu thần được. Song nếu họ cứ đứng bốn góc ấy, thần sẽ đâm
trúng cả bọn họ chỉ bằng một mũi t ên thôi.
Bốn xạ thủ kia không dám đứng đó nữa, v ì
thế bậc Đại Sĩ dụng bốn cây chuối ở bốn góc,
buộc mỗi sợi chỉ đó tía tr ên phần gắn lông chim của mũi tên rồi chàng
bắn mũi tên, nhắm vào một cây chuối. Mủi tên
đâm v ào cây chuối xong qua đến cây thứ
hai, cây thứ ba, thứ tư rồi trở lại cây đầu ti ên mà nó
đ ã xuyên thủng lần trước xong, trở về
trong tay vị xạ thủ; đồng thời các cây chuối
đứng v òng quanh theo sợi chỉ đỏ. Dân
chúng lại vang h ò reo dậy.
Vua hỏi:
-Xảo thuật này gọi là gì, Jotibàta hiền hữu?
-Tâu Đại vương, đó v òng tròn bị xuyên
thủng.
-Thế khanh trổ thêm tài nghệ nữa đi.
Bậc Đại Sĩ liền tr ình diễn các kiểu
bắn tên hình gậy, hình dây thừng, hình bện tóc, và biểu diễn các xảo thuật
khác gọi là: bắn tên hình cái đ ài cao,
tên hình ngôi đ ình, tên hình bức tường,
tên hình cầu thang, tên hình hồ nước, và bắn tên hình hoa sen nở khiến chúng
rơi rào rào như mưa sa.
Như vậy, chàng biểu diễn mười hai tài nghệ vô song và làm gãy bảy vật lớn
vô địch. Ch àng
đâm thủng một tấm ván gỗ sung d ày hai
tấc, một tấm gỗ asana dày một tấc, một dĩa đồng
d ày n ăm phân, một dĩa sắt d ày hai
phân, và sau khi đâm thủng một trăm tấm ván
ghép v ào nhau, lần lượt chàng bắn mũi tên vào phía trước vào các toa
xe đựng đầy rơm, cát v à ván gỗ, rồi làm
cho tên xuyên qua ngã sau; rồi lại bắn phía sau các toa xe, và làm cho tên
xuyên qua phía trước.
Chàng bắn mũi tên xuyên qua một khoảng độ
hai trăm mét dưới nước v à hơn bốn tr ăm
mét tr ên đất liền, ch àng lại chẽ
sợi tóc ở cách khoảng một tr ăm mét, ngay dấu
hiệu đầu ti ên nó vừa lay động theo gió.
Khi ch àng biểu diễn mọi kỳ công về tài nghệ này xong, mặt trời vừa
lặn.
Lúc ấy, vua hứa ban cho chàng chức tổng lãnh binh và bảo:
- Này Jotipàla, nay đ ã tối rồi, ngày
mai khanh sẽ nhận vinh dự làm đại tướng quân. H ãy
đi trang điểm râu ria lại v à tắm gội.
Cùng ngày ấy, vua ban cho chàng một tr ăm ng àn
đồng tiền để chi ti êu. Bậc
Đại Sĩ đáp:
- Tâu Đại vương, tiểu thần không cần tiền.
Rồi chàng ban một tr ăm tám mươi triệu đồng
tiền ấy cho các vị l ãnh chúa và các tùy tùng
đi tắm, sau khi đ ã tô
điểm râu tóc, v à mặc xiêm y với
đủ loại trang sức, ch àng thưởng thức cao
lương mỹ vị xong, chàng đến nằm nghỉ tr ên
vương tọa, ngủ được hai canh, đến canh cuối c ùng
chàng thức giấc ngối xếp bằng trên vương tọa, suy nghĩ
đến phần khởi đầu, phần giữa v à phần
cuối việc phô diễn kỳ công về tài nghệ của chàng.
Chàng nghĩ thầm: "Tài nghệ của ta hiển nhiên khởi
đầu l à chết chóc, phần giữa là thọ hưởng
ái dục và cuối cùng là tái sinh vào địa ngục; v ì
hủy diệt mạng sống và buông lung phóng dật trong việc thọ hưởng dục lạc tội
lỗi sẽ đưa đến tái sinh v ào
địa ngục. Vua ban ta chức đại tướng quân, v à
uy quyền cao trọng sẽ về tay ta. Ta sẽ có vợ con; nhưng nếu các dục lạc cứ t ăng
m ãi thì thật khó thoát được dục tham. Ta
muốn một m ình xuất thế đi v ào
rừng, ta sống đời tu h ành khổ hạnh là
đúng lắm rồi".
Bậc Đại Sĩ đứng l ên khỏi vương tọa,
và không cho ai biết cả, ngài bước xuống từ thượng lầu, ra
đường bằng cửa hậu v ào rừng một mình,
đến một nơi tr ên bờ sông Godhàvari, gần
rừng Kavittha, rộng chừng ba dặm.
Sakka ( Đế Thích) Thi ên chủ nghe tin
ngài xuất gia liền triệu sứ thần Vissakamma đến
v à bảo:
- Này Hiền hữu, Jotipàla đ ã xuất gia,
và một hội chúng đông đảo sẽ hầu ng ài.
Vậy hãy dựng am ẩn sĩ bên bờ sông Godhàvari, trong rừng Kavittha và cung cấp
đủ vật dụng cần thiết cho đời sống tu h ành.
Thiên sứ Vissa kamma tuân lệnh.
Còn bậc Đại Sĩ khi đến nơi, thấy con đường
vừa cho một người đi bộ, nghĩ thầm: "Chắc đây l à nơi dành cho các vị
khổ hạnh trú thân", rồi đi theo con đường đó,
ng ài không gặp ai, liền bước vào lều cỏ, chợt thấy vật dụng dành cho
đời ẩn sĩ, ng ài tự bảo: "Chắc
Đế Thích Thi ên chủ biết ta
đ ã xuất gia", rồi cỡi áo khoác, ngài
đắp thượng y v à hạ y bằng vỏ dà, khoác
tấm da hươu lên một bên vai. Ngài buộc các cuộn tóc, khoác lên vai ba giạ
thóc, cầm gậy khất sĩ, bước ra khỏi am, leo lên thềm
đi đi lại lại.
Như vậy, ngài đ ã làm vinh quang ngôi
rừng bằng vẻ cao đẹp của đời khổ hạnh v à
sau khi thực hành pháp môn thiền định K àsina
xong, vào ngày thứ bảy kể từ khi xuất gia, ngài chuyên tâm tu tập tám Thiền
chứng và n ăm Thắng trí theo hạnh độc cư, chỉ d ùng
các thức ăn g ì ngài kiếm
được v à củ quả rừng.
Cha mẹ, thân bằng, bà con quyến thuộc ngài không thấy ngài
đâu, đi t ìm khắp nơi, lòng buồn phiền
thất vọng. Sau đó một sơn nhân đ ã từng
gặp và nhận ra bậc Đại Sĩ trong v ùng am
thất Kavittha kia, liền đi báo với song thân ng ài
và họ tâu trình vua. Vua phán:
- Này ta đi thăm ch àng ngay.
Rồi cùng với song thân chàng và một đám t ùy
tùng theo hầu, vua đến bờ sông Gogh àvarì
theo con đường m à sơn nhân ấy
đ ã chỉ dẫn.
Bồ-tát đến bờ sông, ngồi tr ên không
thuyết Pháp cho hội chúng nghe, sau đó dẫn hội
chúng về am, ng ài cũng ngồi trên không, giảng rõ cho họ nỗi
đau khổ v ì tham
đắm dục lạc, rồi dạy họ Chánh pháp. Tất cả c ùng
với vua xuất gia tu hành.
Bồ-tát vẫn tiếp tục sống ở đó c ùng
hội chúng tu hành chung quanh ngài. Tin ngài ẩn cư tại
đó lan rộng khắp c õi Diêm-phù- đề.
Vua chúa c ùng đám quần thần đến đó sẵn s àng
theo lệnh ngài và hội chúng dần dần lên đến h àng
người. Hễ ai nghĩ đến tham dục, hay muốn hại
người khác, bậc Đại Sĩ liền đi đến, ngồi tr ên không và thuyết pháp
cho người ấy cùng dạy Pháp môn thiền Kàsina.
Bảy đại đệ tử của ng ài là Sàlissara,
Mendissara, Pabbata, Kàladevala, Kisavaccha, Anusissa va Nàrada. Các vị này
nhờ tuân hành lời thuyết giáo của ngài, đều đạt
Thiền chứng v à đắc Thắng trí vi ên
mãn. Dần dần vùng thảo am Kavittha trở nên đông
đúc, không c òn chỗ cho các vị ẩn sĩ sống nữa. Bậc
Đạo Sĩ liền bảo S àlissara:
- Này Sàlissara, nơi này không đủ cho các ẩn
sĩ ở. Vậy hiền hữu đi c ùng hội chúng này
đến ẩn cư gần thị trấn Lambac ùlaka thuộc thành trì của vua
Candapajjota.
Vị này tuân lệnh ấy, đem theo hội chúng h àng
ngàn người đến cư trú ở đó. Nhưng nhiều người
vẫn đến gia nhập hội chúng khổ hạnh kia, n ên thảo am lại
đông dần như trước. Bồ-tát nói với Mendissara:
- Trên biên giới xứ Suratha có dòng sông Satodikà, bạn hãy
đem chúng ẩn sĩ n ày
đến cư trú tr ên bờ sông ấy.
Và ngài bảo vị ấy ra đi. Cũng cách ấy, lần
thứ ba, ng ài gọi Pabbata đến bảo:
- Trong đại lâm có núi
A n jana ,
bạn hãy đến an trú tại đó.
Lần thứ tư, ngài gọi Kàladevala đến bảo:
- Phía nam quốc độ Avanti l à núi
Ghanasela, bạn hãy đến an trú gần đó.
Dần dần thảo am tại Kavittha lại đông đảo d ù
đ ã có n ăm
hội chúng ẩn sĩ đi đến cư trú năm v ùng khác nhau, tính
được mấy ng àn người. Rồi Kisavaccha xin
phép bậc Đại Sĩ đến cư trú trong ngự vi ên
gần vị tổng tướng quân, tại kinh thành Kimbhavatì, trong quốc
độ của vua Dandaki, ẩn sĩ Narada cư trú trong
địa phận chính của d ãy núi Aranjara, còn Anusissa ở lại cùng bậc
Đạo Sĩ.
Vào thời ấy, vua Dandaki thất sủng một cung phi mà trước kia vua rất quý
trọng, nên trong lúc buồn phiền, nàng đi ngao
du đến ngự vi ên kia, khi thấy ẩn sĩ Kisavaccha, nàng liền nghĩ: "Chắc
hẳn đây l à kẻ mang vận xui. Ta phải vứt
bỏ tội lỗi của ta trên người của kẻ này rồi đi
tắm rửa". Trước hết n àng cầm chiếc t ăm
xỉa răng rồi nhổ ra một đống nước bọt ngay tr ên nắm tóc bện lại của
vị ẩn sĩ kia, nàng còn ném que t ăm tr ên
đầu vị n ày, rồi
đi tắm.
Còn vua nhớ đến n àng, lại cho nàng
phục chức như củ. Trong lúc lòng say sưa cuồng nhiệt, nàng kết luận rằng
nàng phục hồi vinh dự ấy là do vứt bỏ được tội
lỗi của m ình trên con người xui xẻo kia. Không lâu sau
đó, vua lại cách chức của vị tế sư ho àng
gia, lão này cũng đi hỏi n àng cung phi
kia, nhờ cách gì nàng được phục chức. N àng
kể lại đó l à nhờ nàng vứt bỏ tội lỗi
trên con người xui xẻo ở trong ngự viên.
Lão quốc sư cũng đi vứt bỏ tội lỗi của m ình
theo cách ấy, và cũng được vua phục chức như
củ. Thời ấy dần dần có loạn ở bi ên giới, lão quốc sư
đem một đo àn quân
đi đánh trận. L ão quốc sư
đang cuồng nhiệt hân hoan kia tâu vua:
- Tâu Đại vương, Đại vương muốn thắng hay
bại?
Vua bảo:
- Thắng.
Lão liền nói:
- Thế thì có người xui xẻo đang trú ngụ
trong ngự vi ên, xin Đại vương đem tội
lỗi đến vứt l ên đầu g ã ấy.
Vua tán thành ý kiến ấy, phán:
- Đám binh sĩ c ùng
đi với trẫm đến ngự vi ên vứt bỏ tội lỗi
lên con người xui xẻo kia.
Khi đến nơi, trước ti ên vua ngậm
chiếc t ăm rồi nhổ nước bọt v à thả chiếc
t ăm rơi tr ên
đám tóc bện chặt của vị ẩn sĩ, sau đó c òn
làm được ướt đầu ng ài, cả
đám quân lính cũng l àm theo như vậy.
Khi vua đi rồi, vị tổng tướng quân đến, thấy
vị ẩn sĩ, liền lấy que tăm ra khỏi đám tóc v à tắm gội vị này thật
sạch sẽ, xong lại hỏi:
- Đức vua sau n ày sẽ ra sao?
- Thưa ngài, tâm ta không sân hận gì, nhưng chư Thần phẩn nộ nên vào ngày
thứ bảy kể từ ngày nay, quốc độ của ng ài
sẽ tan tành, ngài nên nhanh chân tẩu thoát đi
nơi khác.
Vị tướng quân vô cùng kinh hãi, về tâu ūa.
Vua kh ông tin, vì thế vị tướng quân đem
vợ con trốn sang quốc độ khác. Bậc Đạo sư Sarabhanga (tức Bồ-tát Jotip àla
ở đầu câu chuyện) nghe tin ấy, liền báo hai ẩn
sĩ trẽ tuối đến mang Kisavaccha tr ên chiếc cáng bay về trên không.
Còn vua đánh trận xong, đem đám phản loạn l àm
tù binh trở về thành.
Vào lúc vua trở về, trước hết chư thần làm mưa xuống, khi các xác chết
được cơn mưa lũ cuốn trôi đi hết, lại có trận
mưa hoa trời tr ên đỉnh cát trắng tinh
khiết, tr ên hoa trời có mưa tiền nhỏ rơi xuống, sau
đó có mưa tiền lớn, tiếp theo l à trận
mưa đầy châu báu c õi trời.
Dân chúng hân hoan lượm báu vật bằng vàng ròng. Sau
đó rơi xuống tr ên người trần một trận
mưa đủ loại binh khí, dân chúng bị phân thây
tan t ành. Kế đến l à trận mưa than
hồng nóng bỏng trên người họ, và trên các đám
lửa cao như núi ấy rơi xuống một trận mưa cát mịn tr àn ngập một
khoảng rộng chừng sáu mươi cubit (01 cubit = 45cm). Một phần quốc
độ rộng sáu mươi dặm bị t àn phá tan tành
và tin trận hủy diệt này loan ra khắp toàn cõi Diêm-phù- đề.
Các lãnh chúa trong các xứ chư hầu, ba vị vua Kalinga, Atthaka và
Bhìmaratha nghĩ thầm: "Ngày xưa, ở Ba-la-nại, vua xứ Kàsi là Kalàbu
đ ã phạm tội với ẩn sĩ Khantivàdì, truyện
kể rằng vua ấy bị nuốt vào lòng đất; cũng vậy
vua N àlikìra đem các ẩn sĩ cho chó ăn
thịt; vua Ajjuna có ng àn cánh tay đ ã
phạm tội với trị giá Angìrasa nên cũng chết cách như trên; nay vua Dandaki
phạm tội với trí giả Kisavaccha, nên tương truyền cũng bị tan tành quốc
độ, hủy diệt hết thảy. Chúng ta không biết các
vị vua ấy tái sinh c õi nào; không ai trừ ngài Sarabhanga.
Đạo sư của chúng ta có thể nói về điều n ày.
Vậy chúng ta hãy đi hỏi ng ài".
Rồi cả hai ba vị vua theo lễ nghi trọng thể ngự
đi hỏi chuyện n ày. Nhưng dù cả ba vị vua
đ ã nghe tin
đồn như vậy như kia, cũng không biết thực hư ra sao, mỗi vị cứ tưởng rằng
chỉ ri êng mình lên đường, n ên khi
không còn cách xa Goghàvari mấy, cả ba vị vua gặp nhau, cũng bước xuống các
vương xa và ngự lên một chiếc vương xa duy nhất
để c ùng lên đường đến bờ sông Godh àvari.
Vào lúc ấy, Đế Thích Thi ên chủ ngự
trên ngai hoàng cẩm thạch, xem xét bảy vấn đề v à
tự nhủ thầm: "Ngoại trừ ngài Sarabhanga, bậc
Đạo sư, không có ai tr ên trần thế hay thiên giới có thể giải
đáp các vấn đề tr ên. Vậy ta hãy
đi hỏi ng ài. Ba vị vua kia
đ ã đi đến
bờ sông Godh àvari để hỏi ng ài
Sarabhanga, bậc Đạo sư. Ta cũng sẽ đến hỏi ng ài
vấn đề ba vị kia hỏi.
Sau đó được chư thi ên của hai thiên
giới hộ tống, ngài giáng trần. Ngay hôm ấy, ẩn sĩ Kisavaccha từ trần, nên
lúc cử hành tang lễ, vô số hội chúng ẩn sĩ cư trú nhiều nơi khác nhau,
đến dựng d àn hỏa táng bằng gỗ thiên
đ àn để hỏa
thi êu ngài, và quanh chỗ hỏa thiêu khoảng chừng n ăm
dặm, hoa trời rơi xuống như mưa.
Bậc Đại Sĩ, sau khi xem xét việc cất giữ
phần di cốt của vị đệ tử xong, liền v ào am cùng các ẩn sĩ theo hầu,
và ngồi xuống. Khi các vua đến bờ sông, có
tiếng nhạc quân h ành trổi. Bậc Đại Sĩ
nghe vậy, bảo ẩn sĩ Anusissa:
- Ông hãy ra xem nhạc ấy có ý nghĩa gì?
Rồi cầm bình nước uống, ẩn sĩ đến đó, khi
thấy ba vị vua, ng ài ngâm vần kệ đầu để
thăm hỏi:
1. Vòng vàng, xiêm áo thật cao sang,
Chư vị đeo gươm nạm bảo trân,
Trân trọng kính ch ào chư đại tướng
Danh g ì, cho biết, giữa trần gian?
Nghe lời ngài, ba vị vua liền xuống xe đảnh
lễ ng ài. Trong ba vị, có vua Atthaka lên tiếng
đáp lời ng ài qua vần kệ thứ hai:
2. Bhi-ma, danh đế Ka-lin-ga,
C ùng trẫm, At-tha, chính hiệu ta,
Yết kiến chư hiền nhân khổ hạnh,
Đến đây tham vấn, đủ ba vua.
Nhà ẩn sĩ bảo ba vị vua:
- Thế thì tâu Đại vương, các ng ài
đ ã đến tận
nơi các ng ài muốn, sau khi tắm rửa, nghỉ ngơi, các ngài vào am,
đảnh lễ hội chúng ẩn sĩ rồi đem vấn đề ra hỏi
bậc Đạo sư.
Như vậy ngài chuyện trò thân mật cùng ba vị vua, rồi tung lên bình nước
và lau hết những giọt nước rớt ra ngoài, ngài nhìn lên thấy
Đế Thích Thi ên chủ,
được chư thi ên hộ tống
đông đảo, đang giáng trần ngự tr ên lưng
Thiên tượng Eravana, nhà ẩn sĩ liền đối thoại
với Thi ên chủ qua vần kệ thứ ba:
3. Ngài ngự trên cao, giữa cõi trời,
Như vầng tr ăng tỏa ánh v àng soi,
Đại Thi ên thần, dám xin ngài dạy,
Danh tiếng ngài sao ở cõi đời.
Nghe thế, Đế Thích Thi ên chủ
đáp vần kệ thứ tư:
4. Su-ja, danh tiếng ở trên trời
Tên gọi Ma-gha ở cõi đời,
Thi ên chủ hôm nay vừa giáng thế
Th ăm hiền nhân khổ hạnh bao người.
Lúc ấy ẩn sĩ Anusissa nói với ngài:
- Tâu Thiên chủ, xin ngài hãy theo chúng thần.
Rồi cầm bình nước, vị ẩn sĩ vào am, cất bình nước xong, liền
đến báo tin cho bậc Đại Sĩ biết có ba vị vua c ùng
Thiên chủ giang lâm để hỏi ng ài một số
vấn đề. Lúc ấy hội chúng ẩn sĩ vây quanh Đạo sư
Sarabhanga đang tọa giữa một khoảng rộng có r ào che. Ba vị vua
đến đảnh lễ chúng ẩn sĩ, rồi ng ài ngồi
xuống một bên. Còn Đế Thích Thi ên chủ
giáng hạ đến gần hội chúng chắp tay vái ch ào
và tán thán hội chúng này qua vần kệ thứ n ăm:
5. Chư hiền danh vọng đ ã lừng vang
Uy lực thần cao cả sẵn sàng,
Hoan hỷ ta chào mừng Thánh chúng
Trí tài siêu việt đám người ph àm.
Đế Thích Thi ên chủ chào hội chúng như vậy xong liền ngồi riêng ra
để tránh khỏi sáu cố tật lúc ngồi. Sau đó ẩn sĩ
thấy ng ài ngồi phía dưới hội chúng liền ngâm vần kệ thứ sáu:
6. Thân thể của ngài lão Thánh nhân
Bốc mùi hôi hám khắp không gian,
Sak-ka Thiên chủ liền lùi bước
Tránh các mùi chư Thánh nực nồng.
Nghe nói vậy Đế Thích Thi ên chủ
đáp vần kệ khác:
7. Dù các Thánh nhân tuổi đ ã già
Gây mùi xúc phạm mũi người ta,
Nhiễm ô luồng khí đưa hương ngát,
Ta vẫn y êu mùi Thánh bốc ra
Hơn các tràng hoa thơm rực rỡ;
Chư Thiên chẳng ghét chuyện kia mà.
Nói vậy xong, ngài thêm:
- Này Tôn giả Anusissa, ta gắng công đến đây
để hỏi một số vấn đề, xin h ãy cho phép ta làm việc ấy.
Nghe lời Đế Thích Thi ên chủ, ẩn sĩ
Anusissa liền đứng dậy cho phép ng ài
xong, vị ẩn sĩ này liền ngâm hai vần kệ với hội chúng ẩn sĩ:
8. Su-ja phu tướng. Ma-gha-va, (*)
Thí chủ lừng danh, chúa quỷ ma,
Dẹp lủ yêu tinh, Thiên đế ấy,
Ước ao được hỏi chuyện c ùng ta.
9. Ai đây trong các bậc hiền nhân
Giải đáp vấn đề thật khó khăn
Cho cả ba vua đang trị nước
V à Sak-ka, chúa tể Thiên thần?
(*) Sujampati và Maghava: danh hiệu của Sakka - Thiên chủ.
Nghe vậy cả hội chúng ẩn sĩ đều bảo:
- Này Hiền giả Anusissa, bạn nói chẳng khác nào bạn không thấy quả
đất bạn đang ở; ng òai trừ bậc
Đạo sư Sarabhanga của chúng ta, c òn ai
xứng đáng để trả lời các vấn đề kia nữa?
Nói xong, các vị ấy liền ngâm vần kệ khác:
10. Sa-ra-bha Thánh giả, chân hiền
Thanh tịnh, thoát ly mọi trược phiền,
Pháp tử, tinh thông trì giới luật,
Giải trừ nghi hoặc của nhân thiên.
Nói xong hội chúng bảo ẩn sĩ Anusissa:
- Thưa Hiền giả, xin Hiền giả nhân danh Thánh chúng
đến đảnh lễ bậc Đạo sư v à tìm cơ hội
thưa với ngài về vấn đề Đế Thích Thi ên
chủ đặt ra.
Vị này chấp thuận ngay rồi tìm được cơ hội,
liền ngâm vần kệ khác nữa:
11. Thánh chúng mong cầu bậc Đạo sư
Kon-dan-na, xóa sạch nghi ngờ:
Chủ đề n ày được nhiều người bảo
Đ è nặng các hiền trí lão gia.
Bậc Đại Sĩ liền chấp thuận v à ngâm
vần kệ sau:
12. Cho phép người đem hỏi chuyện g ì
Thực lòng người vẫn ước mong nghe,
Đời n ày,
đời kế, ta đều biết,
Trí chẳng nghi nan mọi vấn đề.
Sau khi được bậc Đại Sĩ cho phép, Thi ên
chủ ra vấn đề ng ài chuẩn bị hỏi.
*
Bậc Đạo sư ngâm kệ l àm sáng tỏ sự
việc này:
13. Thiên chủ tìm Chân lý pháp trần,
Đến chư Hiền giả lượng khoan hồng,
Để ng ài học những điều mong biết,
V à bắt đầu tham vấn mọi phần.
14. Cái g ì ta phải diệt hoàn toàn
Mà chẳng bao giờ hối tiếc không,
Và cái gì ta cần vứt bỏ
Mà người hiền thiện thảy đồng l òng?
Lời ai ta phải cần kham nhẫn
Cho dẫu là thô lỗ tận cùng,
Đây chính l à
điều ta ước muốn
Kon-na Thánh giả nói cho thông.
*
Bậc Đại Sĩ ngâm kệ giải thích vấn đề:
15. Sân hận là tâm phải diệt trừ
Mà ta chẳng hối tiếc bao giờ,
Giả nhân, giả nghĩa cần qu ăng bỏ,
Được tán đồng ngay bởi bậc từ.
Ta phải nhịn lời từ mọi phía
D ù lời thô lỗ thật vô bờ,
Lòng kham nhẫn ấy, hiền nhân bảo,
Đệ nhất ngôi cao quả thật l à.
Thiên chủ:
16. Những lời thô ác của hai người
Ta phải kiên tâm chịu đựng ho ài:
Là bậc trên, người cùng đẳng cấp;
Song l àm sao nhẫn nhịn bao lời
Của người thấp kém hơn ta nữa,
Là việc ta mong học hỏi ngài.
Bậc Đại Sĩ:
17. Lời ác thô từ các bậc trên,
Ta thường kham nhẫn bởi lòng kiêng,
Hoặc không tranh cãi người đồng đẳng;
Song nhịn lời thô kẻ thấp h èn
Là chính viên lòng thành nhẫn nhục,
Như lời hiền Thánh vẫn thường khuyên.
Các vần kệ trên đây l à những lời
đối đáp giữa hai vị. Khi ng ài nói xong,
Đế Thích Thi ên chủ bảo bậc
Đại Sĩ:
- Thưa Thánh giả, trong phần đầu ng ài
bảo: "Nhẫn nhịn lời thô lỗ của mọi người, đó l à
lòng kiên nhẫn tối thượng", song nay ngài lại bảo: "Nhẫn nhịn lời thô lỗ của
kẻ dưới, người ta nói, đây mới l à lòng
kiên nhẫn tối thượng"; lời nói sau không ăn
khớp với lời nói đầu ti ên của ngài.
Lúc ấy bậc Đại Sĩ nói với Thi ên chủ:
- Thưa Thiên chủ, lời sau cùng này của ta dành cho một người nhẫn nhịn
lối nói thô lỗ của một kẻ mà người ấy biết là thấp kém hơn mình, còn lời nói
đầu ti ên của ta là do khi chỉ nhìn bề
ngoài, ta không thể biết chắc hoàn cảnh của người khác có thấp kém hơn ta
hay không.
Rồi để n êu rõ thật khó kh ăn
khi chỉ nh ìn bề ngoài mà phân biệt người thấp kém hay cao sang, trừ
phi là phải qua tiếp xúc thân mật, ngài liền ngâm kệ:
18. Khó nhìn hào nhoáng vẻ bề ngoài
Mà đoán hơn, thường hay giả dạng
Tồi t àn xuất hiện ở trong đời.
Vậy th ì, bạn hỡi, ta khuyên nhủ
Hãy nhịn lời thô của mọi người.
Khi nghe điều n ày,
Đế Thích Thi ên chủ
đầy l òng tín thành, cầu xin ngài:
- Thưa Tôn giả, xin Tôn giả thuyết giảng cho chúng ta biết lợi lạc của
lòng nhẫn nhục này.
Bậc Đại Sĩ liền ngâm kệ:
19. Sức mạnh quân vương đến bực n ào
Cũng không thắng lợi chốn binh đao
Bằng hiền nhân tạo nhờ kham nhẫn:
Đại nhẫn xóa tan mọi hận cừu.
Khi bậc Đại Sĩ đ ã thuyết giảng các
công đức do nhẫn nhục tạo n ên như vậy
xong, các vị vua suy nghĩ: Đế Thích Thi ên
chủ hỏi vấn đề của ri êng ngài, mà lại
không để cho chúng ta có cơ hội hỏi vấn đề của
chúng ta".
Biết được ước vọng của các vua ấy, Thi ên
chủ để ri êng bốn vấn
đề ng ài đ ã
chuẩn bị trước đây qua một b ên, và khi
đưa ra mối ho ài nghi của các vị vua kia,
Thiên chủ ngâm kệ này:
20. Lời ngài đang dạy thật êm tai,
Song muốn nghe thêm một chuyện này:
Xin hỏi phận Dan-da chúa tể
Cùng ba tòng phạm lỗi lầm gây,
Cõi nào phải tái sinh đ ày
đọa,
V ì phá Thánh hiền thế giới đây.
Bậc Đại Sĩ ngâm năm vần kệ giải đáp các vấn
đề tr ên:
21. Thưở nọ tan tành cả quốc gia,
Vì làm ô nhục Thánh Ki-sa
Dan-da ngã xuống Ku-ku địa
Tr àn ngập than hừng hóa bụi tro.
22. Nà-li đầy hoảng hốt rơi v ào
Địa ngục trong nanh vuốt chó ngao,
V ì nhạo báng hiền nhân, đạo sĩ,
Pháp sư chẳng phạm lỗi lầm n ào.
23. Cũng vậy Aj-ju-na giết ngay
Thánh nhân thanh tịnh, luyện tu dày,
An-gi, nên bị xô đầu xuống
H ành hạ thân trong chốn đọa đ ày.
24. Ka-là-bu cháy tại Diêm cung
Giữa khổ đau th ê thảm, hãi hùng,
Vì đ ã hại hiền nhân
đức hạnh
"Bậc thầy nhẫn nhục" tiếng vang lừng.
25. Người trí nghe xong các chuyện tr ên
Về miền địa ngục khổ triền mi ên,
Chẳng hề hại Đạo Sư hiền trí,
Nhờ Chánh nghiệp, sau đạt c õi thiên.
Khi bậc Đại Sĩ đ ã nêu rõ các cõi mà
bốn vị vua kia phải thác sinh về, ba vị vua này giải tỏa
được hết mối nghi ngờ. Rồi Đế Thích Thi ên
chủ ngâm vần kệ để n êu lên bốn vấn
đề của ng ài:
26. Lời ngài đáng quý trọng êm tai
Song muốn nghe thêm một chuyện này:
Ai được người đời xem "đức độ"?
Thế nhân gọi "trí giả" l à ai?
Người trần xem kẻ nào "thành tín",
Ai kẻ vận may chẳng bỏ rơi?
Bậc Đại Sĩ liền ngâm bốn vần kệ trả lời:
27. Khẩu, hành chứng tỏ tự điều thân,
Tư tưởng tránh xa mọi lỗi lầm,
Chẳng dối gian nhằm đích hạ liệt,
Được xem "đức độ" giữa nhân quần.
28. Giải đáp vấn đề, trí tuệ thâm,
Không l àm điều ác độc, vô lương,
Lời hay đúng lúc đem khuy ên nhủ,
Được mọi người xem đúng "trí nhân".
29. Biết ơn v ì đ ã nhận ân lành,
Làm nhẹ buồn đau với nhiệt t ình,
Chứng tỏ bạn hiền lòng vững chắc,
Mọi người ca ngợi "kẻ tâm thành".
30. Kẻ nào tài khéo đủ trong tay,
Chân thật, dịu d àng, rộng lượng thay,
Ái ngữ, ân cần, người cảm phục,
Vận may chẳng bỏ kẻ như vầy.
Bậc Đại Sĩ trả lời bốn vấn đề tr ên
như vậy, chẳng khác nào làm vầng tr ăng hiện l ên
bầu trời. Sau đó l à những câu hỏi
đáp khác nữa:
Thiên chủ:
31. Lời ngài đáng thán phục êm tai,
Ao ước nghe thêm một chuyện này
Đức hạnh, vận may, hiền trí thiện,
Cái n ào tối thắng giữa trần ai?
32. Người thiện xem hiền trí tối cao,
Như tr ăng che khuất các v ì sao,
Đức hạnh, hiền lương c ùng vận tốt,
Rõ ràng bậc trí phải theo mau.
33. Lời người thân ái thật êm tai,
Mong ước nghe thêm một chuyện này:
Muốn đạt th ành tâm minh trí tuệ,
Đường n ào hành
động phải theo ho ài?
Đâu l à trí
đạo xin cho biết
Nhờ việc n ào người có trí ngay?
Bậc Đại Sĩ:
34. Kết bạn người uyên bác lão thành,
Nhờ tham vấn, học trí thông minh,
Phải nghe theo các lời khuyên tốt,
Vì vậy con người trí tuệ sinh!
35. Bậc trí nhìn tham dục giác quan
Thấy đầy bệnh khổ, lắm vô thường,
Giữa tham, ưu n ão gây kinh hãi,
An tịnh, hiền nhân dạ chẳng màng.
36. Vậy điều phục ác nghiệp, ly tham,
Tu tập từ bi vô lượng tâm,
Với mọi hữu t ình đều quý mến,
Tâm thanh tịnh, đến Phạm thi ên cung.
Trong khi bậc Đại Sĩ thuyết giảng như vậy về
các tội lỗi do tham dục gây ra, ba vị vua c ùng với
đám quân sĩ đều đoạn trừ tham dục nhờ lấy đức
tính từ bi để đối trị. Bậc Đại Sĩ biết được việc n ày, liền ngâm kệ
tán thán cả ba vị vua:
37. Nhờ thần lực nên chúa Bhi-ma
Cùng với ngài, này chúa At-tha,
Đại đế Ka-lin-ga hiển hách,
Đến đây các vị đủ luôn ba,
Xưa l àm nô lệ cho tham dục,
Nay được tự do giải thoát ra.
Nghe vậy cả ba vị Đại vương ngâm kệ tán thán
bậc Đại Sĩ :
38. Chính ngài là bậc tha tâm thông,
Nhờ vậy, từ vua đến đạo quân
Giải thoát khỏi v òng vây dục vọng,
Xin ngài ban bố một hồng ân
Chúng ta quả thật đều mong ước
Đạt đến niềm an lạc Thánh nhân.
Sau đó bậc Đại Sĩ ngâm vần kệ khác để ban
cho các vị đặc ân n ày:
39 Ta ban điều các vị mong cầu
Để các vị xa ác dục mau,
Hoan hỷ vô bi ên, tâm thấm đượm,
Đạt th ành cực lạc ước về sau.
Nghe vậy các vị ngâm kệ tán đồng:
40. Mọi việc làm theo lệnh của ngài,
Những gì ngài nghĩ tối ưu thôi,
Để tâm thấm đượm vô bi ên hỷ
Đạt đến lạc an dạ ước ho ài.
Sau đó bậc Đại Sĩ ban lệnh truyền đại giới
cho đám quân sĩ của ba vị vua v à bảo hội chúng khổ hạnh ra về qua vần
kệ này:
41. Vinh dự thay Đ ã viếng Ki-sa,
Giờ đây chư vị h ãy về nhà,
Hỡi chư hiền Thánh danh lừng lẫy,
Hãy trú an trong tịnh lạc kia,
Niềm hỷ lạc trong đời Thánh hạnh
Chính l à Cực lạc tối cao xa.
Các Thánh nhân này tán đồng ý kiến của ng ài
bằng cách cung kính đảnh lễ ng ài, rồi
bay lên hư không trở về cư trú của mình. Còn Đế
Thích Thi ên chủ từ chổ ngồi chắp tay
đảnh lễ bậc Đại Sĩ chẳng khác n ào tôn kính vầng nhật, rồi cùng hội
chúng ra về.
*
Thấy vậy, bậc Đại Sĩ ngâm các vần kệ sau:
42. Nghe thuyết toàn Chân lý tối cao
Bởi hiền nhân giọng điệu thanh tao,
Chư Thi ên trở lại miền thiên giới,
An lạc, ân tình thắm thiết sao!
43. Lời lẽ Thánh hiền dạy lọt tai,
Mang đầy ý nghĩa, giọng thanh bai,
Ai tinh cần tập trung tâm trí
Tầm tứ chuy ên đề, sẽ thấy ngay:
Đường nhập tịnh theo từng cấp bực,
Thoát ly Thần Chết độc quyền oai.
Bậc Đạo Sư đ ã thuyết giáo như vậy
đưa đến quả A-la-hán tối thượng v à bảo:
- Không phải chỉ ngày nay, mà ngay cả ngày xưa nữa, cũng có trận mưa hoa
trời nhân dịp lễ hỏa táng Thánh thể của Mục-kiền-liên.
Rồi Ngài giảng bày các Thánh đế v à
nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy Salissara là Sàriputta (Xá-lợi-phất), Mendissara là kassapa
(Ca-diếp), Pabbata là Anuruddha (A-na-luật- đ à),
Devala là Kaccàyana (Ca-chiên-diên),Anussisa là ànanda, Kisavaccha là Kolita
(tức Mục-kiền-liên), Sarabhanga là Bồ-tát, các ông phải hiểu Tiền thân này
như vậy.
-ooOoo-

523. Chuyện thiên nữ Alambusà (Tiền thân Alambusà)#

Thiên chủ In-dra, đấng vạn năng…,
Câu chuyện này bậc Đạo Sư kể trong lúc trú
tại Kỳ Vi ên về việc một Tỷ-kheo bị mê hoặc bởi người của thời kỳ
phóng dật trước kia.
Toàn thể đề t ài câu chuyện
được kể lại đầy đủ trong Tiền thân Indriya số
432. Lúc ấy giờ bậc Đại
Sư hỏi vị Tỷ-kheo:
- Này Tỷ-kheo, có thật ông sinh tâm bất mãn ch ăng?
- Thưa vâng. Bạch Thế Tôn, quả đúng vậy.
- Do ai gây nên?
- Bạch Thế Tôn, do người vợ cũ của con ngày trước.
-Này Tỷ-kheo, nữ nhân này đ ã làm hại
ông, chính vì kẻ đó m à trước kia ông
đ ã mất Thiền lực, và phải nằm liệt suốt
ba n ăm r òng trong trạng thái tán loạn
tâm trí, đến khi hồi tỉnh, ông đ ã than
khóc thảm thiết. Nói xong Ngài kể cho vị này câu chuyện quá khứ.
*
Ngày xưa dưới triều vua Brahmadatta ở Ba-la-nại, Bồ-tát tái sinh vào một
gia đ ình Bà-la-môn ở quốc
độ K àsi. Khi
đến tuổi trưởng th ành, ngài thông thạo
mọi môn học thuật và sau đó ng ài xuất
gia vào rừng sống bằng củ quả rừng. Lúc bấy giờ, một con nai cái sống trong
vùng thảo am của vị Bà La Môn này, ăn cỏ v à
uống nước suối có hòa lẫn tinh dịch của ngài, rồi lại sinh lòng say mê ngài
đến độ nó mang thai v à từ
đó đến trú luôn ở nơi gần nh à của ẩn sĩ.
Bậc Đại Sĩ xem xét kỹ vấn đề v à biết
được sự thật của trường hợp tr ên. Về
sau, nai cái sinh một nam nhi, và bậc Đại Sĩ
chăm sóc h ài nhi ấy với tình phụ tử. Hài nhi
được đặt t ên là Isisinga.
Khi chàng trai đến tuổi trưởng th ành,
ngài cho chàng thọ giới tu hành và khi ngài đ ã
già, ngài dẫn chàng đến rừng N àri và c ăn
dặn :
- Này con yêu quý, ngay trong vùng Tuyết Sơn này có nhiều nữ nhân tươi
đẹp như hoa, chúng thường đem tai họa t àn
khốc cho những ai rơi vào uy lực của chúng; vậy con
đừng để cho chúng chinh phục.
Chẳng bao lâu sau đó, ng ài tử trần và
sinh lên Phạm thiên giới. Còn ẩn sĩ Isisinga trong lúc tham thiền nhập
định, an trú tại v ùng Tuyết Sơn kia làm
một nhà đại khổ hạnh khắc nghiệt, h ành
hạ xác thân đủ mặt.V ì uy lực công
đức của ẩn sĩ n ày, cung của
Đế Thích Thi ên chủ xem xét tìm ra nguyên
nhân và suy nghĩ: "Người này sẽ hạ ta xuống khỏi ngôi vị Thiên chủ, vậy ta
quyết sai một Thiên nữ đi phá hoại công đức của
vị n ày".
Sau khi quan sát toàn thế giới chư Thiên, giữa
đám hai mươi lăm triệu n àng thị nữ cõi
trời, ngài thấy ngoại trừ Thiên nữ Alambusà, không có ai xứng hợp với công
việc này hơn cả. Ngài liền triệu nàng đến, v à
ban lệnh cho nàng phải đi phá hoại công đức của
Thánh nhân thanh tịnh kia.
*
Để giải thích vấn đề n ày, bác Đạo Sư
ngâm vần kệ đầu:
1. Thiên chủ In-dra (*), đấng vạn năng,
Xưa kia đ ã giết Va-tra thần,
Triệu nàng Thiên nữ vào cung điện
V ì biết nàng mưu chước lẫy lừng.
2. "Thiên nữ A-lam", Đế Thích truyền:
"Ở tr ên hội chúng của chư Thiên
Bảo nàng đến gặp I-si nọ
Quyến rũ ch àng say đắm mối duy ên".
(*) Indra và Vàsava: danh hiệu của Sakka
Đế Thích chủ phán bảo Alambus à:
- Nàng hãy tìm gặp Isisinga, dùng uy lực của nàng chinh phục chàng và phá
hủy công đức của ch àng.
Rồi ngài ngâm vần kệ:
3. Hãy theo cám dỗ sát bên chàng
Vì chính chàng là bậc Thánh nhân,
Trong lúc đi t ìm nguồn Cực lạc,
Lại còn chiến thắng cả Thiên hoàng.
Nghe nói vậy, nàng Alambusà đáp hai vần kệ:
4. Giữa bao Thiên nữ, tấu Thiên hoàng,
Sao chỉ riêng nhìn đến tiện nhan,
V à bảo phận hèn đi quyến rũ
Thánh nhân đe dọa chiếc ngai v àng?
5. Vườn Nan-da, cực lạc thần tiên,
Có biết bao Thiên nữ diệu huyền,
Đến lượt một n àng trong
đám ấy,
Xin giao việc đáng rủa nguyền tr ên.
Tiếp theo Đế Thích Thi ên chủ ngâm ba
vần kệ:
6. Nàng nói đúng thay, ở Lạc vi ên
Nan-da-na, trẫm biết vườn tiên
Nhiều Thiên nữ diễm kều dung sắc
Sánh kịp nàng, thường được ngắm xem.
7. Nhưng n ày, hỡi tuyệt thế tiên nương,
Chẳng có ai dùng kế mỹ nhơn
Đi êu luyện như nàng, hàng quyến rũ
Thánh nhân bằng mọi cách đi ên cuồng.
8. Vậy nàng quả thật đóa hoa khôi,
H ãy bước lên đường, tố nữ ôi,
D ùng lực thần kia là mỹ sắc
Buộc hiền nhân nọ phục oai trời.
Nghe lời này, nàng Alambusà ngâm hai vần kệ:
9. Phận hèn sẽ quyết, tấu Thiên hoàng,
Tiến bước lên đường phụng mệnh ban
Song vẫn lo âu phần thiếp dám
Liều m ình hại bậc Thánh nghiêm trang.
10. Bởi vì lắm kẻ đáng thương thay,
(Thiếp sợ run v ì ý nghĩ này:)
Làm hại Thánh hiền, nên phải đọa,
Ăn năn ngục tối khổ đau đầy.
11. Thi ên nữ A-lam nói vậy xong,
Khởi hành, nàng lướt tóc như phong,
Đi lôi cuốn tịnh nhân lừng lẫy
V ào các hạnh vi bất tịnh nhân.
12. Đến cánh rừng kia nữa dặm sâu,
Thắm tươi đỏ rực các ch ùm dâu,
I-si trú ẩn trong rừng ấy,
Nàng biến mình đi chẳng thấy đâu.
13. Tảng sáng tinh mơm chớm nắng đ ào,
Trước khi vầng nhật hiện lên cao,
Nàng Thiên nữ đến gần hiền giả,
Đang quét thảo am sạch biết bao!
Các vần kệ này phát xuất từ Trí tuệ Tối thắng.
Lúc ấy, vị khổ hạnh ngâm kệ hỏi nàng:
14. Ai đó như tia chớp sáng ngời,
R õ ràng như thể ánh sao mai,
Đôi tay đeo ngọc, hoa tai điểm,
Lấp lánh từ xa rực cả trời?
15. Như phấn chi ên- đ àn, tỏa ngát
hương,
Huy hoàng chẳng khác ánh chiêu dương,
Yêu kiều vóc liễu thanh thanh dáng.
Tuyệt sắc cho ai được ngắm n àng,
16. Dịu dàng, trong trắng với lưng thon,
Nhún nhẩy nhịp nhàng nhón gót son,
Yểu điệu thân n àng bao diễm lệ,
Làm ta say đắm cả tâm hồn!
17. Cặp đ ùi nàng giống chiếc vòi voi,
Dài thẳng thon dần thật mảnh mai,
Mông của nàng êm đềm xúc cảm
Tr òn như mặt gỗ để chơi b ài.
18. Rốn nàng để lộ đám lông mềm,
Ta tưởng chừng tơ các ngó sen
Từ phía xa xa nh ìn chỉ thấy
Tựa hồ đầy dược thủy đen huyền!
19. Đôi vú sữa như nửa quả bầu,
Căng phồng, khoe cả cặp h ình cầu,
S ăn d òn, cho dẫu không cây chống,
Chúng thật hoàn toàn chẳng dựa đâu!
20. Môi lưỡi n àng đều đỏ thắm tươi
Thật l à quý tướng hiếm hoi ôi!
Cổ dài như thể linh dương núi,
Lại vẽ thêm ba ngấn rạch ròi!
21. R ăng n àng dùng chút gỗ lau chùi.
Trong sạch, luôn luôn giữ sáng ngời,
Lấp lánh cả hàm trên lẫn dưới
Chiếu đầy tia sáng, trắng tinh khôi!
22. Đôi mắt n àng bầu dục dáng hình
Khi nhìn, bao vẻ đẹp đa t ình,
Khác nào đôi trái dâu đen láy,
Tô điểm m àu đo đỏ mép v ành.
23. Bím tóc mướt trơn, chẳng quá dài,
Kết thành từng cuốn, gọn nhất đời,
Điểm v àng đầu mút, m ùi thơm ngát
Dầu phấn đ àn hương quý tuyệt vời!
24. Giữa mọi người theo nghiệp bán mua,
Nuôi bầy gia súc hoặc cày bừa,
Giữa bao hiền thánh đầy uy lực,
Nguyện sống đời thanh tịnh ẩn cư.
25. Trong muôn lo ài giữa cõi trần gian,
Ta chẳng thấy ai sánh kịp nàng,
Thân phụ là ai, cùng quý tánh,
Ta mong nàng thổ lộ cho tường.
Trong lúc vị ẩn sĩ tán tụng nàng Alambusa từ bàn chân lên
đến đỉnh đầu, không sót đường tơ kẻ tóc n ào,
nàng vẫn giữ lời yên lặng và khi nghe chàng nói lời lẽ dài dòng như vậy,
nàng nhận thấy tâm trạng của chàng dao động
biết dường n ào, liền ngâm kệ này:
26. Vạn phúc trời ban đến bạn l ành,
Thời gian, Ca-diếp hỡi, trôi nhanh,
Sao chàng mãi hỏi chi vơ vẩn,
Chẳng phải đôi ta chỉ một m ình?
27. Hãy vào am thất, chốn tu hành,
Chụp lấy ngay cơ hội chứng minh
Ngàn thú giao hoan này khét tiếng
Giữa người sùng báo đạo si t ình.
Nói vậy xong, Thiên nữ Alambusà nghĩ thầm: "Nếu ta cứ
đứng y ên, chàng sẽ không
đến gần cho ta được dịp quyển rũ ch àng,
vậy ta phải làm như thế sắp bỏ chạy".
Rồi dùng mỹ nhân kế để l àm dao
động quyết tâm của vị ẩn sĩ, n àng bỏ
chạy về hướng ban nãy nàng đ ã xuất hiện
để đến gần ch àng.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ l àm sáng tỏ vấn
đề:
28. Nói xong Thiên nữ Lam-bu-sà
Vội vã tạ từ cất bước xa
Danh sĩ I-si, hòng quyến rũ
Thánh nhân vướng phải nghiệp dâm tà.
*
Vị ẩn sĩ thấy nàng bỏ đi, liền k êu
lên:
- Nàng đ ã
đi rồi.
Và chàng nhanh nhẹn chận lối nàng, trong khi nàng
đang chầm chậm bước ra, rồi lấy tay nắm tóc n àng
lại.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ l àm sáng tỏ vấn
đề:
29. Như gió, Thánh nhân lướt vội vàng
Cố ng ăn n àng chạy trốn xa chàng,
H ăng say đeo đuổi theo Thi ên nữ,
Chụp lấy đầu, lôi mái tóc n àng.
30. Chính tại nơi chàng đứng lặng y ên,
Hằng nga ôm chặt giữa tay tiên,
Tức thì công hạnh chàng tiêu hết
Trước lực thần mê hoặc đảo đi ên!
31. Tư niệm nàng bay đến Ngọc cung
Tại Nan-da Thượng uyển muôn tr ùng,
Ngọc hoàng hiểu rõ điều n àng ước,
Phái vội thiên xa lấp lánh vàng.
32. Trang hoàng gi ăng trải đủ y ên cương,
Tô điểm cân đai phủ mấy tầng,
Tại đó, Thánh nhân nằm khuất phục
Trong tay Thi ên nữ lắm ngày trường!
33. Ba n ăm r òng rã lướt qua
đầu
Chẳng khác n ào, giây lát bóng câu,
Cho đến phút sau c ùng, Thánh giả
Trở mình thức khỏi cánh tay mầu!
34. Cây xanh chàng thấy khắp nơi nơi,
Và chiếc bệ thờ cạnh đó thôi,
Thăm thẳm ng àn cây vang vọng mãi
Tiếng sơn ca lảnh lót ngân dài.
35. Nhìn quanh, chàng nức nở đau thương,
Nhỏ lệ đắng cay phận tủi hờn:
"Ta chẳng cầu kinh, dâng lễ vật
Nơi đây chẳng cúng tế đăng đ àn.
36.Ta trú rừng hoang vắng, độc thân,
N ào ai người cám dỗ mình ch ăng?
Ai d ùng tà hạnh làm tiêu tán
Tất cả lương tâm với trí n ăng,
Chẳng khác con thuyền đấy báu vật
Bị chìm đắm giữa chốn tr ùng dương?"
Nghe vậy, Alambusà nghĩ thầm: "Nếu ta không nói rõ, ắt chàng sẽ nguyền
rủa ta, vậy ta phải nói cho chàng hay". Rồi nàng hiện hình ra
đứng b ên cạnh chàng ngâm kệ:
37. Thiên chủ Sak-ka phải đến đây,
Nguyện l àm tỳ nữ phục tuân ngài;
Dù vô tình thiếp không hay biết,
Đ ã hại người trong cực lạc này.
Nghe nàng nói vậy, chàng liền nhớ lại lời cha dạy, rồi than khóc về việc
chàng đ ã bị phá tan hết công hạnh chỉ vì
bất tuân lời cha, và ngâm kệ:
38. Thân phụ ta, Ca-diếp Đại nhân,
Trí hiền khuy ên nhủ trẻ buông lung:
"Nữ nhân cũng giống hoa sen đẹp,
Thận trọng, thiện nam, trước lực thần!"
39. Đề ph òng nữ sắc mê hồn,
Hiểm họa đâu đây chực kế gần.
Do vậy, l òng nhân từ thúc đẩy
Nghi êm đường khuy ên nhủ trẻ phòng
thân.
40. Phóng dật, ta cam chịu bỏ qua
Những lời thông tuệ của cha già,
Than ôi, đơn độc, ta đau đớn,
Nay sống rừng hoang, dạ xót xa!
41. Đời cũ, ta nguyền rủa lắm thay,
Vâng lời cha dạy kể từ đây,
Th à đ ành vong mạng còn hơn phải
Trở lại đường xưa lối cũ n ày.
Sau đó, ch àng từ bỏ dục lạc, và tham
thiền nhập định. C òn Alambusà thấy rõ
công đức tu tập của ch àng biết rằng
chàng đ ã
đạt Thiền chứng, liền hoảng sợ cầu xin ch àng tha tội.
*
Bậc Đạo Sư ngâm hai vần kệ l àm sáng
tỏ vấn đề n ày:
42. Bỗng chốc A-lam hiểu rõ ràng
Lực chàng kiên định, thật can tr àng,
Vội quỳ đảnh lễ hiền nhân ấy,
Lập tức n àng ôm lấy gót chàng.
43. "Xin dẹp lôi đ ình,
đấng Thánh minh,
Thiếp đ ã gây một chuyện tày đ ình,
Khi chư Thiên cõi trời vinh hiển
Rúng động kinh ho àng nghe
đại danh".
*
Sau đó, ch àng
để Thi ên nữ ra
đi v à bảo:
- Này Thiên nữ, ta tha tội cho nàng, thôi nàng hãy
đi nơi n ào tùy ý.
Rồi chàng ngâm kệ:
44. Tam thập tam Thiên, hưởng phước lành
Cùng Và-sa (*), chúa tể quần sinh,
Và nàng Thiên nữ, xin từ giã,
Nàng được tự do thỏa nguyện m ình.
(*) Indra và Vàsava: danh hiệu của Sakka
Từ tạ chàng xong, nàng trở về thiên giới trong chiếc xe vàng ấy.
*
Bậc Đạo Sư ngâm ba vần kệ l àm sáng tỏ
vấn đề n ày:
45. Ôm lấy đôi chân bậc trí nhân
Đi về phía hữu, diễu quanh v òng,
Chắp tay, dáng điệu cầu tha tội,
N àng hiện hình đi khỏi mắt ch àng.
46. Nàng Thiên nữ lại cỡi xe vàng,
Lộng lẫy yên cương được điểm trang,
Mọi vẻ huy ho àng kh ăn ngọc phủ,
N àng phi nhanh đến c õi thiên
đ àng.
47. Như đuốc hồng hay chớp lóe ngang,
N àng du hành vượt thẳng trời quang,
Sak-ka Thiên chủ hân hoan phán:
"Chẳng ước nguyện nào trẫm chẳng ban".
Khi nhận được điều ước do ng ài ban,
nàng ngâm vần kệ kết thúc:
48. Ví dầu Đế Thích, chúa chư Thi ên
Ban thiếp điều tâm ước nguyện ri êng:
"Xin chẳng bao giờ còn cám dỗ
Thánh nhân nào phá bỏ lời nguyền".
*
Đến đây bậc Đạo Sư chấm dứt Pháp thọai d ành cho vị Tỷ kheo kia và
giảng giải cho các Thánh Đế c ùng nhận
diện Tiền thân: - Khi cac Thánh Đế kết thúc, vị
Tỷ kheo ấy đắc Sơ quả Dự lưu:
- Lúc bấy giờ Alambusà chính là người vợ trong những ngày phóng dật cũ,
Isisinga là vị Tỷ kheo thối thất này và bậc đại
Thánh, cha ch àng, chính là Ta.
-ooOoo-

524. Chuyện long vương Samkhapàla (Tiền thân Samkhapàla)#

Dáng điệu thanh tao, tướng đẹp xinh…,
Câu chuyện này được bậc Đạo Sư kể trong lúc
trú tại Kỳ Vi ên, liên quan đến các phận
sự trong những ng ày trai giới (Bố-tát giới).
Lúc bấy giờ, nhân dịp này bậc Đạo Sư tán
thán một số cư sĩ h ành trì trai giới và bảo:
- Các hiền nhân ngày xưa đ ã từ bỏ
cảnh giới huy hoàng của Long vương (Nàga) và hành trì trai giới.
Rồi theo lời thỉnh cầu của các Tỷ kheo, Ngài kể câu chuyện quá khứ.
*
Ngày xưa một vị vua xứ Magadha (Ma-kiệt- đ à)
cai trị thành Ràjagaha (Vương Xá). Thời bấy giờ, Bồ-tát sinh làm vương tử
của Chánh hậu, được đặt t ên là
Duyyodhana. khi đến tuổi trưởng th ành,
ngài thông đạt các môn học thuật tại Takkasil à
và trở về triều th ăm vua cha, phụ vương liền
truyền ngôi cho ng ài và xuất gia tu hành tại ngự viên.
Cứ ba lần trong ngày, Bồ-tát đến yến kiến
phụ vương thời bấy giờ được tôn kính v à cung phụng trọng thể. Việc
này gây trở ngại khiến vua cha không thể thực hành ngay cả những pháp môn
làm phát khởi Thiền định, n ên ngài suy
nghĩ: "Ta đang hưởng đầy lợi dưỡng c ùng
với sự tôn sùng tột bực, nếu ta còn ở đây th ì
không thể nào đoạn trừ tham dục được. Vậy ta
đừng nói g ì với hoàng nhi cả, cứ việc bỏ
đi nơi khác".
Thế là không nói gì với một ai, ngài rời ngự viên và vượt qua biên giới
của quốc độ Ma-kiệt-đ à, ngài dựng một
lều lá trong quốc độ Mahimsaka, gần núi
Candaka, b ên dòng sông Kannapenà uốn khúc, là nơi nó bắt nguồn từ hồ
Samkhapàla. Ngài an trú tại nơi đó đến khi th ành
tựu các pháp môn làm phát khởi Thiền định, ng ài
tu tập các Thắng trí, và chỉ thọ thực những gì ngài kiếm
được. Một vị Long vương lo ài Rồng Nàga,
có danh hiệu Samkhapàla, sinh trưởng từ dòng sông Kannapennà cùng hội chúng
đông đảo lo ài Rồng, thỉnh thoảng
đến yết kiến vị ẩn sĩ n ày, nên ngài
thuyết pháp cho Long vương.
Lúc bấy giờ vương tử nóng lòng gặp cha mà không biết hiện ngài ở
đâu, n ên thân hành
đi t ìm. Khi biết
được nơi ng ài
đang cư ngụ như thế, vua c ùng
đám t ùy tùng
đông đảo đến yết kiến ng ài.
Sau khi dừng lại ở một đoạn đường ngăn cách
nơi ấy, vua c ùng một số cận thần đi về
phía lều ẩn sĩ. Lúc ấy Long vương Samkhap àla
đang c ùng
đám t ùy tùng nghe thuyết pháp, nhưng khi thấy vua
đến gần, liền đứng dậy vái ch ào bậc trí
giả rồi từ tạ ra về.
Vua vái chào phụ vương và sau các nghi lễ thông thường của
đôi b ên trao
đổi xong, vua hỏi:
- Bạch Tôn giả, vị vua nào vừa yết kiến Tôn giả?
- Này vương nhi, đó l à Long vương
Samkhapàla.
Vương tử liền mong ước viếng th ăm cảnh giới
N àga vì vẻ huy hoàng vĩ đại ở đó. Khi ở
lại c ùng cha vài ngày, ngài cung cấp phụ vương
đủ thực phẩm như thường lệ rồi trở về th ành.
Nơi đó, ng ài
đ ã cho xây Bố thí
đường tại bốn cổng th ành, nhờ công
đức bố thí ấy, ng ài
đ ã gây chấn
động khắp c õi Diêm-phù- đề. V ì ước
nguyện lên cảnh giới Rồng Nàga, ngài luôn hành trì giới luật và giữ các phận
sự trong ngày trai giới nên khi mạng chung, ngài tái sinh vào cảnh giới Rồng
Nàga làm Long vương Samkhapàla.
Dần dần qua thời gian, ngài đâm chán cảnh
huy ho àng này, nên từ khi ước nguyện tái sinh làm người, ngài lại
hành trì các ngày trai giới; nhưng ở trong cảnh giới Rồng Nàga, việc hành
trì giới luật không có kết quả gì, giới đức của
ng ài lại bị hao tổn.
Từ đó, ng ài lìa bỏ cảnh giới Nàga và
đến một nơi không xa d òng sông
Kannapennà ấy, cuộn mình quanh tổ kiến giữa
đường cái v à đường m òn, ngài
quyết tâm giữa ngày trai giới và thực hành giới
đức. V à ngài bảo:
- Kẻ nào cần da thịt ta thì cứ lấy hết đi.
Và như vậy theo hạnh bố thí, ngài hy sinh thân mình, nằm trên tổ kiến, an
nghỉ tại đó trong các ng ày mười bốn và
rằm giữa tháng, cứ hai tuần ngài trở về cảnh giới Nàga.
Một ngày kia, khi ngài đang nằm đó, thực h ành
giới luật xong, có một đám mười sáu nam nhân từ
l àng bên cạnh, thèm ăn thịt n ên
lang thang vào rừng, cầm vũ khí trong tay. Khi trở về chẳng kiếm
được thú vật g ì, chúng thấy ngài nằm
trên tổ kiến liền nghĩ: "Hôm nay ta chẳng bắt
được một con tắc k è nhỏ nào nữa, vậy ta phải giết rắn chúa này mà
ăn thịt".
Nhưng vì sợ thân mình ngài quá to lớn, dù chúng có bắt
được ng ài, ngài cũng sẽ thoát ra, nên
chúng nghĩ rằng phải đâm ng ài bằng các
cây cọc ngay khi ngài đang nằm cuộn m ình
ở đó v à sau khi gây thương tích cho ngài
như vậy, chúng sẽ bắt ngài đi. Thế l à
chúng cầm cọc tiến đến gần ng ài.
Lúc bấy giờ Bồ-tát biến hình to lớn như chiếc thuyền rộng cực kỳ xinh
đẹp tựa v òng hoa lài
đặt tr ên mặt
đất, đôi mắt như quả Gunja, chiếc đầu như đóa
hoa Jayasumana.
Khi nghe tiếng chân của mười sáu người kia, ngài ngẩng
đầu l ên từ thân thể cuộn tròn, mở to
đôi mắt rực lửa nh ìn cả bọn
đi đến cầm cả cọc trong tay. Ng ài suy
nghĩ: "Hôm nay ước nguyện của ta sẽ thành tựu trong lúc ta nằm ở
đây, vậy ta phải nhất tâm cao độ v à hy
sinh thân mạng ta cho bọn chúng, khi chúng lấy dao
đâm ta, gây thương tích đầy m ình mẩy ta,
ta cũng không được mở mắt ra căm hận nh ìn
chúng". Rồi để giữ vững quyết tâm n ày vì
sợ phạm giới luật, ngài dấu đầu v ào giữa
đám m ào và nằm yên. Bọn người kia
đến gần ng ài nắm ấy
đuôi kéo l ê
đi tr ên mặt đất. Sau đó lại thả ng ài
xuống, chúng dùng cọc nhọn đâm v ào tám
chỗ trên thân ngài rồi lấy gậy tre màu đen, gai
nhọn đủ thứ đâm v ào các vết thương đang
nứt nẻ, xong lại tiến bước, lôi ng ài theo bằng dây thừng buộc vào tám
chỗ ấy.
Bậc Đại Sĩ từ lúc bị thương tích bởi cọc
nhọn kia, chẳng hề mở mắt hay căm hận nh ìn chúng, song khi ngài bị
kéo lê đi bằng tám sợi dây ấy, đầu ng ài
chúc xuống, đập v ào
đất. V ì thế khi chúng thấy
đầu ng ài rủ xuống, chúng
đặt ng ài trên con
đường dốc cao, đâm qua mũi ng ài một
chiếc cọc mỏng, nhấc đầu ng ài lên, luồn
sợi dây vào mũi, và sau khi buộc đầu dây xong,
chúng lại nhấc đầu ng ài tiếp tục kéo đi.
Vừa lúc ấy một vị điền chủ t ên gọi là
Alàra ở trong thành Mithila thuộc quốc độ
Videha, đang ngồi trong một cỗ xe sang trọng du h ành cùng n ăm
trăm cỗ xe nữa, trông thấy bọn ác nhân đang cố lôi Bồ-tát tr ên
đường, liền cho cả mười sáu người trong bọn
chúng mỗi người một con b ò, một nắm tiền vàng,
đầy đủ y phục b ên trong lẫn bên ngoài,
lại cho vợ con chúng đồ kim ho àn
để đeo, xong bảo chúng thả ng ài ra.
Bồ-tát liền trở về cung điện N àga,
lập tức đem theo đám t ùy tùng
đông đảo, đến gặp Al àra, và sau khi tán
dương cảnh đẹp của Long cung N àga, ngài
đem ông về đó.
Ngài ban tặng đại vinh hoa phú quý cho ông,
c ùng với ba tr ăm Long nữ v à mời
thọ hưởng đủ lạc thú thi ên giới. Alàra
sống một n ăm tr òn tại cung thất Nàga
hưởng mọi thiên lạc xong, liền bảo Long vương:
- Này hiền hữu, ta muốn trở thành ẩn sĩ tu hành.
Rồi đem theo đủ mọi thứ cần d ùng cho
đời ẩn sĩ, ông rời Long cung N àga
đi đến v ùng Tuyết Sơn tu hành, an trú
tại đó một thời gian d ài. Dần dần, ngài
tiếp tục ra đi đến gần th ành Ba-la-nại
và an trú trong ngự viên.
Hôm sau ngài vào thành đi khất thực, tiến v ào
cung. Vua Ba-la-nại thấy diện mạo ngài quả thật uy nghi liền cho gọi ngài
vào yết kiến, đặt ng ài lên chiếc bảo tọa
đặc biệt v à ban
đủ cao lương mỹ vị. C òn vua ngồi trên
chiếc bảo tọa thắp hơn, đảnh lễ ng ài
xong, lại đ àm
đạo với ng ài, vua ngâm vần kệ
đầu:
1. Dáng điệu thanh tao, tướng đẹp xinh,
Chắc con d òng thế phiệt trâm anh,
Niềm vui thế tục sao rời bỏ,
Khoác áo tu, theo luật Thánh hành?
Các vần kệ sau đây l à những lời
đối đáp xen kẽ giữa vị ẩn sĩ khổ hạnh v à
vua:
Ẩn sĩ Alàra:
2.Tâu Chúa công, ta nhớ rõ rành
Cung Long vương nọ, dáng oai linh,
Quả lành phát xuất từ thanh tịnh,
Nên nguyện khoác áo Thánh hành.
Đức vua:
3. Chẳng mối hãi kinh hoặc dục, sân
Khiến hiền nhân phải bỏ lời chân:
Nói cho ta rõ điều mong biết,
Tịnh tín tâm ta phát triển dần.
Ẩn sĩ Alàra:
4. Tâu Đại vương, trong bước hải hồ,
Tr ên đường ta thấy lũ côn đồ
Đang lôi Rồng lớn, dây xiềng trói,
Chiến thắng cười vui trở lại nhà.
5. Chúa thượng, ta liền đến hét to:
- Kinh ho àng, ta sửng sốt không ngờ
"Các ngài, lôi quái long đâu đó,
Ác đ àng, làm gì nó nữa được?"
Ác đảng:
6. Rồng lớn ngài đang thấy trói vầy
Dị h ình, cho thực phẩm ta đây
A-l à-ra, chẳng còn mơ ước
Hưởng món ngon hơn mỹ vị này.
7. Từ đây ta vụt thẳng về nh à
Mỗi đứa d ùng dao xẻ thịt ra,
Thưởng thức thịt ngon, vì phải biết,
Từ thủ rồng rắn chính nhà ta.
Alàra:
8. Vì Rồng này mới bắt trong rừng
Đang bị kéo về nấu món ăn,
Ta tặng mỗi b ò cho một vị,
Các ngài thả nó khỏi dây ch ăng?
Ác đảng:
9. Thịt bò nghe quả thật bùi tai,
Rồng rắn ê hề thịt bấy nay,
Lời ấy, A-là, ta chấp thuận,
Từ đây, t ình bạn sẽ lâu dài.
Alàra:
10 Chúng thả ngài ra khỏi sợi dây
Buộc xuyên qua lỗ mũi c ăng thay,
Chúa Rồng thoát được v òng tù tội
Hướng mặt về đông, nghỉ lát giây.
11. Vẫn nh ìn đông, đ ã sẵn sàng
bay,
Quay lại ngắm ta, mắt lệ đầy,
Trong lúc ta nh ìn theo hướng ấy,
Như người cầu nguyện chắp đôi tay:
12. "Nhanh chân chạy trốn, hỡi thân bằng,
E lại sa v ào lũ địch nhân,
Tránh bọn bạo t àn, dù thoáng thấy,
Nếu không, ắt phải họa vào thân".
13. Ngài vội đến hồ nước đẹp trong,
Đôi bờ lau sậy lẫn đ ào hồng,
Trong lòng hoan hỷ, không còn sợ,
Lặn xuống vực sâu thẳm mịt mùng.
14. Vừa khi biến mất, vị Long vương
Hiển lộ thần thông thực rõ ràng,
Thái độ ân cần, đầy tin cẩn,
Lời tri ân cảm động can tr àng.
Long vương:
15. Ngài thân thiết vượt đấng sinh th ành,
Đ ã cứu đời
ta, bạn chí t ình
Đến tận tay xương, nhờ chính bạn
Niềm hoan lạc trước được hồi sinh,
A-l à, ngài viếng nơi ta ngự,
Cung điện đầy kho thực phẩm l ành.
Chẳng khác In-dra thành thượng giới,
Ma-sak-ka, xứ sở lừng danh.
- Tâu Đại vương, sau khi nói xong những lời
n ày, Long vương còn ca tụng thêm cảnh giới của ngài qua các vần kệ:
Long vương:
16. Quốc độ ta bao cảnh tuyệt vời
Dưới chân cỏ mướt phủ xanh tươi
chẳng vươn cát bụi tr ên đường lộ,
chốn ấy, ly sầu, hưởng lạc thôi.
17. Sân bằng, tường ngọc bích bao quanh,
Xo ài đẹp sum su ê tứ diện thành,
Chùm trái chín muồi khoe sắc thắm,
Bốn mùa thay đổi suốt năm l ành.
18. Giữa rừng xoài ấy, điện bằng v àng
Ngài ngắm, then cài bạc chắn ngang,
Rực rỡ cung đ ình kia nổi bật
Hơn làn chớp lóe giữa không gian.
19. Tô điểm bảo châu, đẹp dị thường
Biết bao tranh vẽ quý trang ho àng,
Bầy tiên phục sức xa hoa quá,
Trước ngực đong đưa chuỗi hạt v àng.
Alàra:
20. Sam-kha đại đế ngự l ên mau
Lầu thượng, quyền uy thật tối cao
Được dựng l ên ngàn hàng cột trụ,
Ấy cung hoàng hậu được ng ài giao.
21. Nhanh nhẹn một tiên nữ giữa bầy,
Cầm viên ngọc báu ở trong tay
Ngọc lam quý hóa đầy thần lực,
Tự ý mời ta một chiếc ngai.
22. Rồng chúa nắm tay dẫn đến nơi
Sừng sững cao sang, một chiếc ngai:
"Xin ng ài an tọa, ta ngồi cạnh
Như đấng sinh th ành, thắm thiết thay!".
23. Thêm một nàng theo kịp lệnh ngài
Đến c ùng bình nước ở trong tay,
Rửa chân, hầu hạ ta chu đáo
Như chánh hậu chầu Long đế đây.
24. Th êm nàng tiên nữa thật nhanh chân
Dâng chén vàng cơm thập cẩm ngon
Gia vị thơm nồng càng cám dỗ
Kẻ thèm ăn mỹ vị cao lương.
25. Trỗi nhạc l ên- vì chàng hiểu rằng
Đó l à ý chúa - Chúng hằng mong
Chiếm lòng ta, cũng như Long đề
Đem th ù thần tiên để tấn công.
Rồi vị chúa rồng đến gần ta ngăm th êm
vần kệ:
26. Ba tr ăm tỷ thiếp, hỡi A-l à,
Trẫm có sẵn đây cả ấy m à,
Tất cả đều lưng thon yểu điệu,
Y êu kiều dung sắc vượt liên hoa,
Kìa xem! Chúng chỉ chiều tôn ý,
Xin nhận lời ban tặng của ta.
Alàra nói tiếp:
27. Một n ăm thi ên lạc hưởng tràn
đầy,
Ta hỏi Long vương một chuyện n ày:
"Sao được ti ên cung làm nội thất,
Làm sao cung điện đến phần ng ài?
28. Tiên cảnh này thành tựu ngẫu nhiên,
Được ng ài xây? Tặng vật chư Thiên?
Long vương xin nói điều chân thật,
Sao đến an nh àn ở cảnh tiên?
Sau đây l à các vấn kệ
đối đáp nhau giữa đôi b ên:
Long vương:
29. Chẳng phải tình cờ, chẳng tự nhiên,
Chẳng do ta tạo, hoặc chư Thiên,
Chính nhờ thiện nghiệp ta, ngài biết,
Nhờ đức hạnh, ta hưởng cảnh ti ên.
Alàra:
30. Hạnh nguyện gì, đâu Thánh đạo cao,
Đức g ì tích trữ phước ngày sau?
Long vương, xin nói, ta mong biết
Ngài huởng tiên cung bởi cách nào?
Long vương:
33. Ta nguyện lời kia, sống trọn đời
Tu nhân tích đức góp gom ho ài,
Cung này, nhờ đó, sau c ùng hưởng,
Thực phẩm tràn đầy chứa khắp nơi.
Alàra:
34. Cuộc đời d ù sáng rực bao ngày,
Vũ khúc, hoan ca chẳng kéo dài,
Kẻ yếu hại ngài vì đại lực,
Lũ h èn làm dũng sĩ xa bay:
R ăng thần sao đấu không cân sức,
Ng ài chịu thua bầy hạ tiện vầy?
35. Ngài chịu đau v ì quá hãi hùng?
Do đâu nọc độc đ ã tiêu vong?
Sao ngài thần lực đầy răng ấy,
M à phải chịu đau bởi ác nhân?
Long vương:
36. Ta chẳng thua vì quá hãi hùng,
Chẳng ai làm đại lực ti êu vong,
Mọi người thừa nhận bao công đức
Như biển bờ cao, chẳng ngập tr àn.
37. Ngày trai mỗi tháng giữ hai lần,
Chính buổi kia ng ăn chặn bước đ àng,
Mười sáu chàng trai, tay nắm đủ
Dây thừng, th òng lọng cực kỳ sang.
38. Bọn ác nhân đâm thủng mũi ta
Xuy ên dây thừng ấy, kéo ta qua,
Đớn đau, ta chịu, ôi đ ành phận,
Giữ Thánh nhật cho khỏi phạm mà.
Alàra:
39. Thấy trên đường vắng, trải giăng d ài
Hình đẹp, khổng lồ, đại lực oai:
"Bậc trí hiển vinh", ta thét lớn,
"Sao nguyền đời khổ hạnh, thưa ng ài?"
Long vương:
40. Ta chẳng cầu con, chẳng ước giàu,
Chẳng mong thọ mạng được d ài lâu,
Song trên nhân thế ta mong sống
Nỗ lực anh hùng đạt đích cao.
Alàra:
41. Tóc râu chải chuốt, dáng oai hùng,
Phục sức hoàng y, mắt lửa bừng,
Đỏ thắm chi ên- đ àn,
ngài rực rỡ
Xa xa, nào khác Nhạc thiên thần.
42. Hưởng bao ân huệ lộc trời cho,
Đầy đủ mọi điều dạ ước mơ,
Ta hỏi Long vương, xin nói thật,
C õi người sao lại muốn an cư?
Long vương:
43. Không đâu trừ thế giới người đời
Thanh tịnh, điều thân được thấy rồi,
Chỉ sống giữa đời người thế tục
Đọan trừ sinh tử kiếp sau thôi.
Alàra:
44. Dù hưởng đầy hoan lạc dị thường,
C ùng Long vương sống suốt n ăm trường,
Giờ ta vĩnh biệt, ra đi m ãu,
Không ở nữa, vì xa cố hương.
Long vương:
45. Thê nhi trẫm với lũ cung nhân
Được luyện hầu ng ài, lệnh phục tuân,
Chắc chẳng kẻ nào gây xúc phạm,
Vì ngài, trẫm thấy rất thương thân.
Alàra:
46. Đủ mặt mẹ cha thắm thiết t ình,
Hân hoan tràn ngập cả gia đ ình,
Còn nhiều người quý yêu con trẻ,
Song lạc tối cao giữa chúng sinh
Ta được thấy đây, Long đế hỡi,
V ì ngài đầy thắm thiết b ên mình.
Long vương:
47. Bảo châu trẫm có điểm hồng vân
Đem đại phú cho kẻ thiếu phần,
Nhận lấy về nh à, khi phú quý,
Xin đưa trả ngọc lại Long quân.
Ẩn sĩ sau khi nói xong những lời này, liền tiếp tục như sau:
- Tâu Đại vương, sau đó ta đáp lời Long
vương: "Tâu Đại đế, ta không mang gi àu sang, ta chỉ muốn xuất gia tu
hành".
Sau khi xin ban đủ mọi vật cần thiết cho đời
sống tu h ành ẩn sĩ, ta từ giã cảnh giới Nàga cùng với Long vương, và
khi đ ã mời ngài trở lui về, phần ta vào
vùng Tuyết Sơn tu tập.
Nói xong, ẩn sĩ này lại thuyết giáo cho vua Ba-la-nại và ngâm thêm hai
vần kệ :
48. Dục tham trần thế thoáng qua nhanh
Chẳng phục tuân quy luật trưởng thành,
Thấy khổ phát sinh từ ái dục,
Tín tâm dẫn bước đến tu h ành.
49. Người tàn như trái rụng, tiêu vong,
Già trẻ, muôn loài rã mục thân,
Ta chỉ trú an trong Thánh hạnh,
Tối ưu là Thực thể thuần chân.
Nghe lời này, vua ngâm kệ đáp lời:
50. Bậc hiền có trí tuệ uyên thâm,
Chư vị tu Thiền định chú tâm
Đề mục tối cao, m à tất cả
Chúng ta phải luyện tập tinh cần;
Nghe lời ngài dạy, cùng Long đế,
Trẫm thực h ành toàn nghiệp thiện chân.
Vị ẩn sĩ muốn khuyến khích tinh tấn lực của vua, liền ngâm kệ kết thúc:
51. Bậc h īền, có tr í tuệ uyên thâm,
Chư vị tu thiền định chú tâm
Đề mục tối cao, m à tất cả
Chúng ta phải luyện tập tinh cần;
Nghe lời ta dạy, cùng Long đế,
Chúa thượng thực h ành nghiệp thiện chân.
Vị này thuyết giáo như vậy với vua và sau khi ở lại
đó bốn tháng m ùa mưa, liền trở về Tuyết
Sơn sống và tu tập Tứ Vô lượng tâm đến khi mạng
chung, được tái sinh Phạm thi ên giới.
Còn vua Samkhapàla. trong suốt quãng đời c òn
lại, chuyên tâm hành trì các ngày trai giới, bố thí, cùng nhiều thiện sự
khác, nên sau khi mạng chung, ngài đi theo
nghiệp của m ình.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo Sư nhận
diện tiền thân:
Thời bấy giờ, vị vua cha trở thành ẩn sĩ khổ hạnh chính là Kassapa
(Ca-diếp), vua Ba-la-nại là Ànanda (A-nan), ẩn sĩ Alàra là Sàriputta
(Xá-lợi-phất) và Long vương Samkhapàla chính là Ta.
-ooOoo-

525. Chuyện tiểu Sutasoma (Tiền thân Culla-Sutasoma)#

Hiền hữu, thần dân thụ họp đây..,
Câu chuyện này bậc Đạo Sư kể trong lúc trú
tại Kỳ Vi ên về sự tu tập viên mãn hạnh xuất gia của Ngài.
Phần đầu câu chuyện tương ưng với phần đầu
của Tiền thân Mah ànàrada Kassapa số 544, tập VII.
*
Ngày xưa tại thành Bà-la-nại, ngày nay là kinh thành Sudassana, có vua
Brahmadatta trị vì. Chánh hậu của ngài sinh ra Bồ-tát. Khuôn mặt ngài sáng
rực như tr ăng rằm, v ì thế ngài
được đặt t ên Somakumàra (Nguyệt Cung
Vương tử). Khi ngài đến tuổi trưởng th ành,
vì ngài thích uống nước trái cây Soma và hay có thói quen tưới rượu lễ vào
đó n ên ngài
được mệnh danh Sutasoma (người l àm rượu Soma).
Đến tuổi khôn lớn, ng ài được truyền
dạy các môn học thuật tại Takkasil à và khi trở về nhà, ngài
được vua cha ban chiếc lọng trắng. Ng ài
trị vì quốc độ rất đúng pháp, cai quản cả một l ãnh
thổ rộng lớn cùng mười sáu ngàn cung tần, với nàng Candadevi làm chánh hậu.
Dần dần hoàng gia càng thêm đông đúc, ng ài
đâm nh àm chán với cuộc sống gia
đ ình nên lui vào rừng, mong ước thọ trì
giới luật tu hành. Một ngày kia, ngài triệu người hớt tóc vào phán bảo:
- Khi nào khanh thấy sợi tóc bạc trên đầu
trẫm, khanh phải nói cho trẫm biết.
Người hớt tóc tuân lệnh, sau đó thấy một sợi
tóc bạc, liền tâu với ng ài ngay. Vua bảo:
- Vậy khanh hãy nhổ ra và đưa cho trẫm.
Ngừơi hớt tóc lấy cái nhíp vàng nhổ ra và
đặt v ào tay ngài. Bậc Đại Sĩ thấy sợi
tóc bạc, k êu to:
- Thân ta sắp bị tuổi già tàn phá.
Rồi ngài kinh hoảng cầm sợi tóc bạc bước xuống lầu, ngự lên ngai
đặt trước thần dân.
Sau đó, ng ài triệu tám mươi ngàn
triều thần do vị đại tướng cầm đầu v à
sáu mươi ngàn Bà-la-môn do vị tế sư của triều đ ình
lãnh đạo, c ùng nhiều cận thần và dân
chúng đến bảo:
- Tóc bạc đ ã xuất hiện trên
đầu trẫm, trẫm đ ã già rồi, các khanh
phải biết rằng trẫm muốn thành ẩn sĩ.
Rồi ngài ngâm vần kệ đầu:
1. Hiền hữu, thần dân tụ tập đây,
Quân sư tin cẩn, h ãy nghe vầy:
Giờ đầu tóc bạc ta dần hiện,
Ta muốn trở th ành ẩn sĩ ngay.
Nghe vậy, mỗi người trong đám kia đều thất
vọng ngâm vần kệ n ày:
2. Bất xứng lời kia đ ã thốt ra,
Mũi tên Hoàng thượng thấu tim ta:
Bảy tr ăm cung nữ, tâu Ho àng thượng,
Sẽ thế nào khi chúa xuất gia?
Tiếp theo, bậc Đại Sĩ ngâm vần kệ thứ ba:
3. Kẻ khác sẽ khuyên chúng hết buồn,
Chúng đều kiều diễm, tuổi thanh xuân,
C òn ta hướng đích l ên thiên giới,
Nên muốn làm tu sĩ ẩn thân.
Các vị quân sư không thể nào đáp lời vua
được liền đi yết kiến Thái hậu v à trình câu chuyện với bà. Thái hậu
liền vội vã đi đến hỏi vua:
- Này vương nhi, quần thần bảo rằng vương nhi muốn làm ẩn sĩ, có
đúng chăng?
Bà lại ngâm hai vần kệ:
Than ôi! Ngày bất hạnh như vầy,
Ngày được vương nhi gọi mẹ đây:
V ì quá vô tình nhìn lệ thảm,
Con đ ành làm ẩn sĩ từ nay.
5. Bạc phận, than ôi, quả đúng thời
Sơ-ma y êu quí đ ã chào
đời!
Vô t ình trước lệ sầu cay đắng
Con quyết tu h ành, vương tử ôi!
Trong khi Thái hậu than khóc như vậy, Bồ-tát không thốt lên lời nào. Thái
hậu vẫn ngồi một mình khóc lóc mãi. Sau đó quần
thần tâu với phụ ho àng. Ngài đi đến ngâm
kệ sau:
6. Pháp nào đây hướng dẫn vương nhi
Mong ước rời vương quốv biệt ly,
Bỏ mặc l ão thân đời quạnh quẻ,
Ẩn am t ìm đến để tu tr ì?
Nghe vậy, bậc Đại Sĩ liền trấn an ng ài.
Phụ vương lại bảo:
- Này vương nhi Sutasoma, cho dù con không thương tiếc gì
đến song thân nữa, con vẫn c òn nhiều
vương tử, công chúa lắm. Chúng không thể nào sống thiều con
được. Vậy đợi đến khi chúng trưởng th ành
rồi vương nhi hãy xuất gia tu hành có được
chăng?
Rồi ngài ngâm vần kệ thứ bảy:
7. Vương nhi nhiều ấu tử, e rằng:
Hết thảy còn đang độ búp măng,
Đến lúc vương nhi vừa vắng bóng
Nỗi buồn n ào sánh chúng hay ch ăng?
Nghe lời này, bậc Đại Sĩ đáp vần kệ:
8. Quả thật, thần nhi có lắm con,
Chúng còn đang độ tuổi măng non,
D ù bao n ăm sống gần b ên chúng,
Con phải giờ đây vĩnh biệt luôn.
Thế là bậc Đại Sĩ thuyết Pháp cho phụ vương
v à khi nghe ngài thuyết Pháp, vua cha bình tâm lại, rồi quần thần
thông báo cho bảy tr ăm cung phi. Họ từ tr ên
thượng lầu bước xuống yết kiến ngài, ôm lấy chân ngài và ngâm vần kệ:
Lòng ngài chắc phải vỡ vì buồn,
Hoặc giả ngài không biết xót thương,
Nên ước nguyện theo đời ẩn sĩ,
Để cung tần khóc nỗi cô đơn!
Bậc Đại Sĩ nghe họ khóc than như vậy trong
lúc họ ng ã mình dưới chân ngài và gào thét, liền ngâm thêm một vần
kệ:
10. Lòng ta không thể vỡ vì buồn
Dẫn thấy đau vầy, cũng xót thương,
Song việc tu h ành ta đ ã quyết
Để ta hưởng cực lạc thi ên
đường.
Sau khi, quần thần trình lên chánh cung hoàng hậu. Bà
đang mang thai nặng nhọc v ì ngày sinh
cận kề, bà liền đến gần bậc Đại Sĩ, đảnh lễ ng ài
và kính cẩn đứng qua một b ên rồi ngâm ba
vần kệ:
11. Than ôi! bất hạnh chính là ngày
Thiếp được xe duy ên Chúa thượng
đây,
V ì quá vô tình nhìn lệ thảm,
Đại vương quyết chí xuất gia ngay.
12. Bạc phận, than ôi, đó chính ng ày
Cùng So-ma kết tóc xe dây,
Vì chàng để mặc ai sầu chết,
Quyết chí theo đời ẩn sĩ đây.
13. M ãn nguyệt khai hoa đ ã kế
gần,
Mong chàng ở lại, hỡi vương quân,
Khi con sinh hạ, ngày sầu thảm
Thiếp biết từ đây mất Chúa công.
Đến lượt bậc Đại Sĩ ngâm vần kệ đáp:
14. Mãn nguyệt khai hoa đ ã tới hồi,
Ta chờ đến lúc trẻ ra đời,
Rồi ta từ giả ngay vương tử,
Xuất thế, ta th ành ẩn sĩ thôi!
Nghe ngài nói vậy, bà không thể nào kiềm chế nỗi sầu thảm
được nữa, liền lấy hai tay ôm ngực, bảo ng ài:
- Tâu Chúa thượng, từ nay cảnh vinh quang của
đôi ta không c òn nữa.
Rồi lau dòng lệ xong, bà lại than khóc thảm thiết.
Bậc Đại Sĩ ngâm kệ an ủi b à:
15. Vương hậu mắt huyền hoa mượt mà,
Xin nàng đừng khóc nữa v ì ta,
Nguyệt Nga, lên thượng lầu an nghỉ,
Ta sẽ đi, l òng chẳng thiết tha!
Không thể nào chịu đựng nổi lời nói của ng ài
được nữa, b à vội bước lên thượng lầu
ngồi khóc một mình. Lúc ấy vị thái tử của Bồ-tát thấy vậy, hỏi bà:
- Tại sao mẫu hậu ngồi khóc ở đây?
Và chàng ngâm kệ này hỏi mẹ:
16. Mẫu hậu có ai khiến mẹ buồn,
Cớ sao mẹ khóc, lại nhìn con?
Ai trong hoàng tộc lòng vô đạo,
V ì mẹ, con đ ành giết sạch luôn.
Hoàng hậu liền ngâm vần kệ đáp:
17. Không ai dám hại đến người kia,
Người khiến ta sầu khổ n ão nề,
Vì chính phụ vương con đ ã nói:
"Ta không đoái tưởng, sẽ ra đi".
Nghe lời mẹ, thái tử nói:
- Tâu mẫu hậu, sao mẫu hậu lại nói thế? Nếu quả vậy thì chúng con thật bơ
bơ.
Chàng liền than khóc và ngâm kệ:
18. Có lần ta dạo khắp hoa viên
Nhìn lũ voi giao đấu trận tiền,
V ì thử phụ vương thành ẩn sĩ
Ta làm gì, hỡi kẻ vô duyên?
Sau đó, một vị vương tử vừa l ên bảy,
thấy anh và mẹ đang khóc, liền đến gần mẹ hỏi:
- Mẫu hậu và hoàng huynh ơi, cớ sao lại than khóc?
Và khi nghe duyên cớ, cậu bé bảo:
- Thôi được, đừng khóc nữa, con sẽ không để
phụ vương xuất gia đâu.
Rồi vương tử an ủi hai vị, xong cùng nhũ mẫu bước xuống khỏi thượng lầu,
đến yết kiến phụ vương v à thưa:
- Tâu phụ vương, thần nhi nghe nói phụ vương sắp rời bỏ chúng con mà xuất
gia, mặc dù chúng con không muốn, vậy con không chịu
để phụ vương đi tu đâu.
Rồi ôm chặt lấy cổ vua cha, vương tử ngâm vần kệ:
19. Mẫu hậu đang ngồi khóc nỉ non,
Vương huynh cũng muốn giữ cha thương,
Con ôm vương phụ bằng tay vậy,
Chẳng để cha đi trái ý con.
Bậc Đại Sĩ liền suy nghĩ: "Thằng bé n ày
thật là mối nguy hiểm cho ta, ta làm thế nào để
thoát được nó đây?". Rồi nh ìn người nhũ mẫu, ngài bảo:
- Này hiền nhũ mẫu, hãy nhìn viên ngọc trang sức này, ta cho ngươi
đấy, chỉ việc đem đứa bé n ày
đi nơi khác, đừng để nó cản trở ta.
Vì ngài không thể tránh được cậu bé đang nắm
chặt lấy tay ng ài, ngài hứa ban thưởng cho nhũ mẫu ấy và ngâm kệ:
20. Gắng nuôi vương tử lớn lên dần,
Đem trẻ vui đ ùa chốn khác hơn,
E trẻ phá tan niềm hỷ lạc,
Cản chân ta vội đến thi ên
đường.
Nhủ mẫu nhận món quà thưởng và dỗ dành cậu bé rồi dẫn
đi nơi khác, b à vừa than khóc vừa ngâm
kệ:
21. Vì ta từ khước hạt minh châu,
Ta chẳng màng chi - sẽ thế nào?
Vì Chúa thượng ta làm ẩn sĩ
Bảo châu còn có nghĩa gì đâu?
Lúc ấy vị đại tướng của ng ài suy
nghĩ: "Chắc đức vua tưởng ng ài chỉ có
rất ít bảo vật trong cung thôi. Vậy ta sẽ cho ngài biết có vô số kể". Vì thế
vị này đứng l ên
đảnh lễ vua v à ngâm kệ:
22. Đại vương đầy ắp mọi kho t àng,
Chúa thượng tạo nên đại phú cường,
To àn cõi thế gian đều khuất phục,
Chớ l àm ẩn sĩ, sống thư nhàn.
Nghe vậy, bậc Đại Sĩ đáp vần kệ:
23. Kho tàng đầy ắp các kim ngân,
Ta đ ã tạo nên đại phú cường,
To àn cõi thế gian đều khuất phục,
Nay l àm ẩn sĩ, bỏ phàm trần!
Khi ấy một vị đại phú thương vừa đi đến, có
t ên là Kulavaddhana, nghe lời liền đứng
lại, đảnh lễ vua v à ngâm kệ:
24. Đại vương, thần tột đỉnh gi àu
sang,
Chẳng đếm l àm sao xiết bạc vàng,
Xin ngắm hạ thần dâng tất cả,
đứng l àm ẩn sĩ, sống thư nhàn!
Nghe lời này, bậc Đại Sĩ đáp vần kệ:
25. Này hỡi Ku-la, vẫn biết rằng
Khanh mong dâng hiến cả kho tàng
Song ta hướng dịch về thiên giới
Nên khước từ nhân giới dục tham.
Bậc Đại Sĩ thuyết Pháp như vậy cho dân chúng
rồi bước l ên thượng lầu của Cung Vạn Hoa, ngài
đứng tr ên tầng thứ bảy, cắt búi tóc và
bảo:
- Bây giờ ta không là gì nữa đối với các
ngươi, vậy các ngươi h ãy chọn một vị vua khác
đi.C ùng với những lời này, ngài ném búi
tóc của ngài, kh ăn đội đầu, c ùng các bảo
vật khác xuống giữa đám quân thần dân chúng.
Quần thần cầm lấy búi tóc, lăn lóc tr ên mặt
đất, k êu gào thảm thiết, rồi một
đám bụi từ nơi ấy tung l ên cao, dân
chúng đứng l ùi lại nhìn theo bảo nhau:
- Có lẽ đức vua đ ã cắt búi tóc và ném
xuống cùng kh ăn đội đầu đủ cả v ào
đám dân chúng, cho n ên mới có
đám bụi tung l ên gần cung
điện.
Rồi họ khóc than ngâm kệ:
32. Nhìn đám bụi kia chợt tỏa cao
Gần ho àng cung đại Vạn Hoa Lầu,
Chắc rằng Minh đế lừng danh vọng
Đ ã cắt tóc ngài với bảo đao!
Còn bậc Đại Sĩ truyền gọi một quân hầu t ìm
đủ vật dụng cần thiết của một ẩn sĩ đem đến cho
ng ài, lại bảo người thợ hớt tóc cạo sạch râu tóc ngài, ném chiếc
hòang bào rực rỡ xuống bảo tọa, ngài cắt bỏ mọi dải lụa màu,
đắp l ên người những miếng vải nối lại
màu vàng, buộc cái chén đất l ên
đầu vai trái, rồi cầm chiếc gậy h ành
khất trong tay, ngài đi lui đi đi tới tr ên
thượng lầu, sau đó bước xuống lầu đi ra đường,
song không ai nhận ra ng ài khi ngài đi
xuông cả.
Còn bảy tr ăm cung tần bước l ên thượng
lầu không tìm thấy ngài, mà chỉ thấy đống xi êm
y của ngài; liền bước xuống bảo mười sáu ngàn cung phi khác:
- Đại đế Sutasoma, Chúa thượng tôn quý của
ta đ ã trở thành ẩn sĩ rồi.
Và họ than khóc bước ra. Vừa lúc ấy dân chúng hay tin ngài
đ ã làm ẩn sĩ, cả kinh thành chấn
động hẳn l ên, dân chúng bảo nhau:
- Người ta bảo đức vua đ ã trở thành
ẩn sĩ rồi.
Họ đều tụ tập tại cung môn, k êu lên:
- Chúa thượng chắc đang ở một nơi n ào
đó.
Rồi họ đổ xô ra khắp nơi ng ài thường
lui tới, song không tìm được ng ài, họ
đi lang thang đây đó vừa than khóc, vừa ngâm
kệ:
33. Này đây, cung điện, tháp lầu v àng,
Lủng lẳng vòng hoa tỏa ngát hương,
Rộn rịp bao cung tần mỹ nữ,
Ngày xưa Chúa thượng ngự du thường.
34. Gi ăng mắc v òng hoa, dát ngọc vàng,
Ta nhìn cung điện nóc cao sang
l à nơi hoàng tộc chầu bên cạnh,
Đại đế ki êu hùng bước dọc ngang.
35. Đây vườn thương uyển rực muôn hoa,
Thay đổi quanh năm với các m ùa,
Rộn rịp bao cung tần mũ nữ,
Ngày xưa Chúa thượng ngự loan xa.
36. Hồ kia phủ khắp đám sen xanh.
Nơi chốn chim muông đến lượn quanh,
Tất cả ho àng gia chầu cạnh đó,
Ng ày xưa Chúa thượng vẫn du hành.
Cứ thế dân chúng vừa đi khắp nơi vừa than
khóc rồi trở lại sân chầu, họ ngâm kệ:
37. Thật buồn thay Chúa thượng So-ma
Đ ã bỏ ngai vàng
để xuất gia,
Mặc chiếc ho àng y, ngài rảo bước
Như voi đơn độc lạc đường xa.
Rồi họ ra đi, bỏ hết nh à cửa
đồ đạc, dắt theo con cái đi t ìm Bồ-tát
và cha mẹ, cháu chắt họ cùng đi theo với mười
sáu ng àn cung phi ca múa. Cả kinh thành như bãi sa mạc vì dân chúng
đi theo nhau cả. Bồ-tát v à dân chúng
chiếm cứ một vùng mười hai dặm về núi Tuyết Sơn.
Lúc ấy Đế Thích Thi ên chủ, chú tâm
đến Đại sự Xuất thế của ng ài, liền bảo
Vissakamma:
- Này hiền hữu Vissakamma, vua Sutasoma đ ã
từ bỏ thế tục. Ngài phải có nơi ẩn cư, vì dân chúng tụ tập quanh ngài
đông lắm.
Ngài lại triệu vị này đến bảo:
- Hãy đi dựng am thất ẩn sĩ d ài mười
ba dặm, rộng n ăm dặm tr ên bờ sông Hằng ở
vùng núi Tuyết Sơn.
Vị này tuân lệnh, cung cấp các lều ẩn sĩ đầy
đủ mọi vật dụng cần thiết v à lại làm một con
đường dẫn đến đó, rồi trở về thi ên giới.
Bậc ĐạI sĩ theo đường n ày
đến v ùng am tranh, sau khi ngài thọ
đại giới, ng ài lại truyền giới cho
đám dân chúng, dần dần đa số được thọ giới n ên
khu vực mười ba dặm này đông đảo người tu. Lúc
bấy gờ, việc Vissakamma xây am ẩn sĩ ra sao, đại chúng được truyền giới như
thế n ào, vùng am thất của Bồ-tát được
sắp đặt ra sao, đều được hiểu theo như kiểu trong Tiền thân Hatthip àla
số 509, Tập V. Ở đây, nếu có một dục tưởng hay
t à kiến nào khởi lên trong tâm bất cứ người nào, bậc
Đại Sĩ liền đến gần người đó ở tr ên
không, ngồi kiết già giữa không gian và thuyết pháp qua hai vần kệ :
38. Quên đi chuyện ái dục ng ày xưa
Khi vẻ mặt người vẫn cợt đ ùa,
Kẻo sợ kinh thành hoan lạc ấy
Làm bừng dục vọng, phải tiêu ma.
39. Thoát người tham đắm, tự điều thân,
Thiện ý ng ày, đ êm với thế nhân,
Ngươi sẽ hưởng ngôi nhà thượng giới,
Nơi người hành thiện đến chung phần.
Hội chúng Thánh nhân này hành trì lời giáo huấn của ngài, nên
được tái sinh l ên Phạm thiên giới, câu
chuyện được kể giống hệt như trong Tiền thân
Hatthip àla.
*
Sau khi bậc Đạo Sư chấm dứt thời Pháp thọai,
Ng ài bảo:
- Này các Tỷ kheo, không phải chỉ bây giờ, mà cả ngày xưa nữa, Như Lai
đ ã làm Đại
sự Xuất thế.
Và Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, song thân là vương phụ và mẫu hậu trong triều
đ ình, Candà là mẹ Ràhula (La-hầu-la),
Thái tử là Sàriputta (Xá-lợi-phất), tiểu vương tử là Ràhula, nhũ mẫu là
Khujjutarà, vị phú thương Kulavaddhana là Kassapa (Ca-diếp), vị
đại tướng l à Moggallàna (Mục-kiền-liên),
hoàng đệ Somadatta l à Ànanda (A-nan) và
vua Surasoma chính là Ta.