Chuyện Tiền Thân · Jātaka

511. Chuyện dục tham kỳ dị (Tiền thân Kimchanda)

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Chuyện Tiền Thân

Kinh Trung Bộ · Bài 60

Chuyện dục tham kỳ dị (Tiền thân Kimchanda)#

Jātaka group 60

Chương XVI

Phẩm Ba mươi bài kệ

511. Chuyện dục tham kỳ dị (Tiền thân Kimchanda)

Vì cớ sao ngài ở bến sông...,

Câu chuyện này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Jetavana (Kỳ Viên hay

Thắng Lâm) về việc hành trì ngày trai giới (uposatha: Bố-tát giới hay bát

quan trai giới)

Một ngày nọ, một số nam nữ cư sĩ đang h ành

trì ngày trai giới, đến nghe Pháp v à

ngồi tại Chánh pháp đường. Bậc Ðạo Sư

hỏi xem hội chúng có hành trì ngày trai giới không, và khi họ

đáp l à có, Ngài nói thêm:

- Các ông hành trì ngày trai giới thật tốt lành thay; ngày xưa, có những

người chỉ nhờ hành trì nửa ngày trai giới mà

đạt được vinh quang tột bực.

Rồi theo lời thỉnh cầu của hội chúng, Ngài kể câu chuyện quá khứ.

*

Một thuở nọ tại thành Ba-la-nại, vua Brahmadatta cai trị quốc

độ rất đúng pháp v à là một người sùng

đạo, ng ài nhiệt tình hành trì mọi thiện

sự trong ngày trai giới, giữ đúng giới luật v à

bố thí. Ngài cũng khuyên các cận thần cùng nhiều người khác giữ hạnh nguyện

bố thí, làm phước đức, nhưng vị quốc sư của ng ài

là một kẻ xấu miệng, ưa gièm pha, tham của hối lộ, nên xử án bất công.

Vào một ngày trai giới kia, vua triệu các quân sư lại và bảo họ giữ giới.

Vị quốc sư này không thi hành phận sự của ngày trai giới. Vì vậy trong ngày

ấy, lão nhận hối lộ và xử án bất công rồi sau

đó đến chầu vua. Sau khi hỏi mỗi vị cận thần xem có giữ giới không, vua hỏi

vị quốc sư:

- Này Tôn giả, người có giữ giới không?

Lão nói dối là có, rồi rời cung vua. Lúc ấy một vị cận thần khác quở

trách lão:

- Chắc chắn ngài chẳng giữ giới.

Lão đáp:

- Ta đ ã

ăn từ sáng sớm, nhưng khi ta về nh à sẽ súc miệng và giữ giới luật, ta

sẽ không ăn g ì buổi chiều và suốt

đ êm ta sẽ giữ giới luật, như thế ta cũng

giữ được nửa ng ày trai giới.

Họ đáp:

- Thưa Tôn giả, thế thì tốt lắm.

Lão đi về nh à và làm

đúng như vậy.

Một ngày kia, khi lão đang ngồi xử kiện, một

người đ àn bà vốn là kẻ giữ đúng giới

luật, đang gặp chuyện thưa kiện, v à vì không thể về nhà

được, b à ấy nghĩ thầm: "Ta không thể vi

phạm hành trì ngày trai giới."

Nên lúc đến gần giờ tr ì giới, bá ấy

bắt đầu súc miệng. V à lúc ấy có người

mang vào một mâm xoài chín biếu tế sư Bà-la-môn. Lão thấy bà ta

đang giữ giới liền bảo:

- Bà ăn đi rồi giữ giới.

Bà ấy vâng theo. Hạnh nghiệp của vị Bà-la-môn kia

đ ã tạo được

nhiều phước lớn.

Về sau đó, l ão chết

đi v à tái sinh vào vùng núi Tuyết Sơn,

trong một nơi phong cảnh tươi đẹp b ên bờ

sông Kosiki, chi nhánh của sông Hằng, trong một khu rừng xoài rộng ba dặm

trên một vương sàn nguy nga của một cung điện

bằng v àng. Lão tái sinh như thể một người vừa thức giấc, liền

được phục sức xi êm y,

điểm trang lộng lẫy, với dung mạo tuyệt vời,

lại được mười sáu ng àn tiên nữ chầu hầu chung quanh. Suốt

đ êm trường lão thọ hưởng vinh quang này

vì đ ã được

sinh l àm vị Thần trong Ma cung, phước lộc của lão cũng tương xứng với

hạnh nghiệp xưa của lão.

Vì thế khi bình minh đến, l ão vào

rừng xoài, ngay lúc vừa bước chân vào, thân thể thần tiên của lão biến mất,

lão hóa hình thù to lớn như một cây thốt nốt cao tám mươi cubit (acubit =

45cm), toàn thân rực sáng như một cây phượng vĩ

đang trổ hoa đỏ thắm. L ão chỉ có một ngón tay trên mỗi bàn tay, nhưng

móng lại to như bàn cuốc, với các móng tay này, lão móc thịt sau lưng, xé

thịt mình ra mà ăn, rồi đau đớn đi ên

cuồng lên, lão cứ khóc rống thật to. Mãi vào lúc mặt trời lặn, thân hình này

biến mất và phong cách thần tiên của lão hiện ra. Bầy tiên nữ nhảy múa, cầm

nhiều nhạc cụ trong tay, hầu hạ quanh lão, trong lúc hưởng

đại vinh hiển như vậy, l ão bước lên tiên

cung trong khu rừng xoài diễm lệ.

Như vậy là do kết quả việc tặng trái xoài cho người

đ àn bà đang

tr ì giới, lão được hưởng một khu rừng xo ài

rộng ba dặm, nhưng vì phải thọ lãnh nghiệp quả về việc nhận hối lộ và xử án

sai lầm, lão phải xé thịt trên lưng ra mà ăn,

đồng thời nhờ việc h ành trì nửa ngày trai giới, lão tận hưởng vinh

quang mỗi đ êm cùng với mười sáu ngàn

tiên nữ múa hát hầu hạ quanh mình.

Vào thời ấy, vua xứ Ba-la-nại hiểu rõ tội lỗi do tham dục gây ra, nên

xuất gia tu hành, ẩn cư trong một thảo am nọ trên một vùng phong cảnh xinh

đẹp miền hạ lưu sông Hằng, sống khổ hạnh với

những vật ng ài kiếm được.

Một ngày kia, có quả xoài chín trong rừng ấy bằng cái bát, rơi xuống sông

Hằng theo dòng sông đến nơi đối diện với chỗ

định cư của vị khổ hạnh n ày. Trong khi ngài

đang súc miệng, chợt thấy trái xo ài trôi

giữa dòng, ngài liền lội qua lấy nó mang về am, cất vào nội thất, nơi ngài

đốt ngọn lửa thi êng. Sau

đó khi xẻ xo ài ra, ngài chỉ

ăn vừa đủ sống, rồi gói phần c òn lại

bằng lá chuối. Ngài cứ ăn dần dần trái xo ài

như vậy cho đến hết.

Khi đ ã

ăn hết xo ài, ngài không thể ăn trái cây

n ào khác nữa, nhưng bị thói tham ăn của

ngon trói buộc, ng ài thốt lời thề từ nay chỉ

ăn xo ài chín mà thôi, liền

đến bờ sông nh ìn xuống dòng nước, quyết

không bao giờ đứng dậy cho đến khi t ìm

được một trái xo ài! Thế là ngài nhịn

ăn sáu ng ày liền, cứ ngồi

đó chờ mong t ìm xoài, cho

đến khi ng ài khô héo vì nắng gió.

Ðến ngày thứ bảy, một vị nữ thần xem xét sự việc ấy, thấy rõ lý do hành

động của ng ài và suy nghĩ: "Vị tu khổ

hạnh này bị thói tham ăn câu thúc, cứ ngồi đó

nhịn đói bảy ng ày nhìn xuống sông Hằng. Việc ta chối từ ngài một quả

xoài là điều sai lầm, v ì nếu không có

xoài , ngài sẽ chết, vậy ta sẽ cho ngài một trái."

Thế là nữ thần liền hiện lên giữa không gian trên sông Hằng và nói với

ngài vần kệ đầu ti ên

1. Vì cớ sao ngài ở bến sông

Suốt trong mùa hạ, nắng oi nồng

Bà-la-môn hỡi, người thầm nguyện

Chủ đích g ì ngài vẫn ước mong

Nhà tu khổ hạnh nghe thế liền đáp lại chín

vần kệ:

2. Bồng bềnh trôi nổi ở trên dòng

Ta thấy xoài kia, hỡi nữ thần

Vươn cánh tay dài ta lấy quả

Ðem về nhà cất ở gian trong

3. Ngọt ngào hương vị thật thanh tao,

Ta nghĩ của trời quí giá sao!

Hình dáng đẹp tươi n ày sánh với

Chiếc bình lớn nhất khác chi nào!

4. Ta dấu xoài trong lá chuối cây

Cắt ra từng lát với dao này

Ít oi thực phẩm, phần ăn uống

Hợp với đời người đạm bạc đây

5. Phần ăn dần hết, bớt th èm thuồng

Tuy thế lòng ta vẫn tiếc luôn:

Trong các trái nào ta kiếm được

Ta đều không thấy vị thơm ngon !

6. Héo hắt ta đ à mỏi mắt trông

Xoài ngon ta lượm ở bên dòng

Sẽ làm ta chết, ta lo sợ

Chẳng trái cây nào ta ước mong!

7. Vì sao giữ giới đ ã trình nàng

Cho dẫu ta đang ở cạnh d òng

Sóng vỗ chập chùng, bao loại cá

Ðầy đ àn bơi lội cứ tung t ăng

8. Nay ta cầu khẩn nói cho ta

Chớ sợ hãi rồi bỏ chạy xa,

Hỡi nàng tố nữ, là ai đó ?

Tại sao nàng lại đến đây m à?

9. Thị nữ chư Thiên đẹp tuyệt vời

Khác nào vàng óng ánh ngời soi!

Xinh như bầy hổ còn thơ dại

Dọc các sườn non vẫn giỡn chơi

10. Cũng ở nơi đây c õi thế gian,

Muôn vàn vẻ đẹp lắm hồng nhan

Song không ai giữa nhân Thiên ấy

Lại dam khoe tươi với nữ hoàng!

Ta hỏi nữ thần muôn diễm lệ

Ðược trời phú mọi vẻ thiên quang

Xin cho ta biết phương danh tánh

Nơi chốn xuất thân quí tộc nàng

Nữ thần liền đáp tám d òng kệ

11. Trên dòng sông nước thật xinh tươi

Bên cạnh Hằng giang đạo sĩ ngồi

Bá chủ ngôi cao ta ngự trị

Dưới vùng sâu thắm, thủy triều trôi

12. Cầm quyền ngàn thạch động chu ng

quanh

Che phủ rừng cây rậm lá xanh

Từ đó bao d òng tràn ngập chảy

Hòa theo với sóng nước sông mình

13. Mỗi khu rừng, mỗi khóm vườn cây

Ðưa đến Long cung lắm suối đầy

Ðổ xuống bao nguồn nước xanh biếc

Ngập dòng bát ngát của ta này

14. Lệ thường trên các phụ lưu này

Nhiều trái sinh từ đủ loại cây

Ðào đỏ, ch à là, sung mít vả

Với xoài, người thấy rõ ràng ngay

15. Trái kia đều mọc mỗi b ên bờ

Rơi xuống vừa tầm với của ta

Ta bảo của trời cho chánh đáng

Danh ta, ai có thể gièm pha?

16. Hiểu thông điều ấy lắng nghe đây

Hỡi đại vương thông tuệ, trí t ài

Chớ đắm tham v ào tâm dục vọng

Bỏ ngay lời nguyện đáng ch ê bai

17. Ðại vương xưa ngự trị giang sơn

Nay việc ngài, ta chẳng tán dương

Muốn chết giữa mùa xuân tuổi trẻ

Rõ ràng biểu lộ đại đi ên cuồng

18. Giáo sĩ, chư thần, quý hiển linh

Mọi người biết hạnh nghiệp uy danh

Của ngài, mọi Thánh nhân thanh tịnh

Dưới thế đ ã thành tựu hiển vinh

Quả thấy việc ngài làm trái đạo

Hiền nhân tất cả biểu đồng thanh !

Tiếp theo đó vị tu h ành ngâm bốn vần

kệ:

19. Ai biết đời người thật mỏng manh

Mọi loài dục giới thoáng qua nhanh

Không hề nghĩ đến điều sinh sát

Mà trú an trong mọi hạnh lành

20. Xưa nàng được hội Thánh tôn vinh

Là bậc làm công đức sáng danh

Nay lại giao du nhiều kẻ ác

Tiếng xấu nàng đang cố tạo th ành!

21. Ví ta chết cạnh bến sông nàng

Hỡi nữ thần dung sắc vẹn toàn

Tiếng xấu trùm lên nàng tất cả

Khác nào mây phủ giữa không gian!

22. Vậy kiều tiên hỡi, lão van nàng

Hãy tránh xa điều ác, sợ rằng

Mặc lão chết đi, rồi hối tiếc

Làm trò đ àm tiếu giữa trần gian!

Nghe nói vậy , nữ thần đáp lại:

23. Ta biết ngài thầm kín ước mong

Và ngài nhẫn nhục thật cam tâm

Ta cam đ ành phận làm tỳ nữ

Ðem đến xo ài ngon tặng

đạo nhân

Kìa ác dục từ bao thưở trước

Khó thay bỏ lạc thú phàm trần

Ngài đ ã

đạt đến tâm thanh tịnh

Và trí bình an, phải giữ luôn.

24. Người nào đ ã thoát buộc ràng xưa

Lại bám xiềng gông trước chuyện thừa

Phóng dật bước vào phi thánh đạo

Chất chồng ác nghiệp mãi luôn mà.

25. Ta tặng ngài điều nguyện khát khao,

Rồi ngài tiêu hết mọi ưu sầu,

Ta đưa ng ài

đến nơi êm mát,

Ngài sống đời an lạc biết bao !

26. Mây-na, cu-gáy, hạc, hồng nga,

Say mật quây quần cạnh khóm hoa,

Từng đám thi ên nga cao vút lượn

Chim đồng, đ àn khổng tước kiêu sa

Cùng nhau hòa tiếng ca êm ái

Ðánh thức rừng cây tỉnh giấc mơ!

27. Hoa nghệ, Ka-dam-ba rộ bông

Khác nào rơm rạ ở trên đồng

Chà là, thốt nót, nồng nàn chín

Tô điểm chung quanh lủng lẳng ch ùm

Và giữa cây cành đầy trĩu trái

Xoài cây sung mãn, hãy nhìn trông!

Vừa ca tụng thắng cảnh kia, tiên nữ vừa mang nhà tu hành

đến đó, v à mời ngài

ăn xo ài trong rừng này cho

đến khi thỏa thích, rồi n àng lại ra

đi. Nh à ẩn sĩ

ăn xo ài mãi

đến lúc đ ã hết cơn thèm, xong nghỉ ngơi chốc lát. Sau

đó loanh quanh thơ thẩn trong rừng, ng ài

thấy vị Thần kia đang lúc chịu khổ sở đau đớn,

ng ài không còn lòng dạ nào thốt ra lời hỏi han vị ấy, nhưng hoàng hôn

đến, ng ài thấy vị Thần kia

được bầy ti ên nữ hầu hạ và thọ hưởng

vinh quang của tiên giới, ngài liền ngâm ba vần kệ:

28. Suốt đ êm, quán

đảnh tiệc li ên hoan

Vương miện trên mày lại được mang

Tô điểm cổ tay, đầy ngọc quí

Sáng ngày đau khổ thật kinh ho àng

29. Hàng ngàn tiên nữ hộ quanh ngài

Thần lực ngài kia thật đại t ài!

Kỳ diệu biết bao quyền biến đổi

Khổ hình lại hóa cảnh bồng lai!

30. Ngài đ ã làm sao phải

đọa đ ày?

Tội gì ngài hối tiếc ngày nay?

Sao từ lưng nọ nay ngài phải

Móc thịt mình ăn lại mỗi ng ày?

Vị Thần kia nhận ra ngài, liền bảo:

- Ðại vương không nhận ra tiểu thần, nhưng ngày xưa tiểu thần là tế sư

của Ðại vương. Hạnh phúc này thần được hưởng

hằng đ êm là nhờ ơn Ðại vương, đó l à

kết quả hành trì nửa ngày trai giới của thần, còn nỗi thống khổ thần phải

chịu ban ngày là kết quả nghiệp ác mà thần đ ã

làm. Vì khi thần được Ðại vương cho ngồi

ghế phán quan, thần đ ã

ăn hối lộ, v à phán xét sai trái, thần

lại là kẻ xấu miệng, ưa phỉ báng sau lưng người khác, nên kết quả việc ác

thần đ ã tạo những ngày

đó, nay thần phải chịu khổ đau n ày.

Nói xong vị Thần ngâm hai vần kệ:

31. Xưa thân thọ hưởng thánh tam kinh

Song ác nghiệp giam hãm đắm m ình

Việc ác đ ã làm cho bạn hữu

Bao n ăm r òng, cuộc sống trôi nhanh

32. Kẻ nào phỉ báng các tha nhân

Cứ thích rình mò phá tiếng thơm

Phải móc thịt mình ăn lại m ãi

Như ta việc ấy hiện đang l àm!

Nói xong vị thần hỏi nhà tu khổ hạnh tại sao

đ ã đến đây. Vị n ày liền kể hết

đầu đuôi câu chuyện của m ình. Vị Thần

lại hỏi:

- Vậy xin thưa Thánh giả, ngài định ở đấy

hay lại ra đi ?

- Ta không muốn ở lại, ta muốn trở về am.

Vị Thần đáp:

- Thưa Thánh giả, lành thay, thần sẽ dâng cúng ngài trái xoài chín thường

xuyên đầy đủ.

Rồi vị ấy dùng thần lực đưa vị vua ẩn sĩ trở

về v ùng thảo am, khuyên ngài sống thiểu dục ở

đó, y êu cầu ngài phải giữ tròn lời

nguyền, rồi ra đi. Từ đó vị Thần kia thường xuy ên

cung cấp xoài cho nhà tu khổ hạnh. Ngài thọ hưởng thứ trái cây ấy, hành trì

những pháp môn tu tập để l àm phát khởi

thiền định v à về sau

được thọ sinh v ào Phạm thiên giới.

*

Bậc Ðạo Sư, sau khi chấm dứt Pháp thoại với các cư sĩ, liền thuyết các

Thánh Ðế và nhận diện Tiền thân:

- Vào đoạn kết thúc các Thánh Ðế, một

số người đạt Sơ quả Dự Lưu, một số người đạt

Nhị quả Nhất Lai, lại có một số người khác đạt Tam quả Bất Lai.

- Vào thời ấy nữ thần ấy là Uppalavannà (Liên Hoa Sắc) và ẩn sĩ khổ hạnh

chính là Ta.

-ooOoo-

512. Chuyện bình rượu (Tiền thân Kumbha)

Ngài là Ðại Sĩ ở trên không...,

Câu chuyện này bậc Ðạo Sư kể lại trong lúc trú tại Jetavana (Kỳ Viên) về

việc n ăm trăm nữ nhân, các vị thân hữu của b à

Visàkhà (Tỳ-xà-khư), là những kẻ uống rượu nặng.

Lúc bấy giờ truyện kể rằng có một tửu hội

được tổ chức tại Savathi (Xá-vệ) v à n ăm

trăm nữ nhân n ày, sau khi đem rượu nồng

cho các vị phu quân xong, v ào cuối đám

hội lại suy nghĩ: "Chúng ta cũng muốn dự tửu hội".

Họ liền tìm đến b à Visàkhà và bảo:

- Này hiền hữu, chúng ta cũng muốn dự hội.

Bà đáp:

- Ðây là một tửu hội, còn ta không muốn uống rượu nồng.

Họ bảo:

- Thế hiền hữu hãy cúng dường đức Phật tối

thượng, c òn chúng tôi muốn dự hội này.

Nàng chấp thuận ngay và để họ đi. Sau khi đ ã

cúng dường bậc Ðạo Sư một phẩm vật long trọng, buổi chiều bà

đi đến Kỳ Vi ên, cầm nhiều tràng hoa thơm

cùng các nữ nhân kia để nghe thuyết pháp.

Bấy giờ đám nữ nhân kia th èm uống

rượu cùng khởi hành với bà, nên lúc họ đứng

trong căn ph òng có nóc nhọn kia, họ uống rượu mạnh rồi cùng bà

Visakhà đến yết kiến bậc Ðạo Sư.

Bà Visàkhà đảnh lễ bậc Ðạo Sư và cung

kính ngồi qua một bên. Vài người đ àn bà

trong bọn ấy dám múa ca ngay trước mặt bậc Ðạo Sư, có người lại lấy tay,

chân làm những cử chỉ thô lỗ có người còn cãi nhau nữa. Bậc Ðạo Sư muốn gây

chấn động cho bọn n ày, liền phóng ra một

tia hào quang từ chân mày của Ngài.

Tiếp theo đó bầu trời tối đen kịt. Bọn nữ

nhân kinh ho àng sợ chết, vì thế tỉnh rượu ngay.

Bậc Ðạo Sư biến mất khỏi bảo tọa Ngài đang

ngồi, xuất hiện tr ên đỉnh núi Tu-di v à

phóng ra một tia hào quang từ giữa chân mày rực rỡ, khác nào ngàn vầng tr ăng

hiện.

Trong lúc đứng đó, Bậc Ðạo Sư nói lên

kệ này để gây kinh động cho đám nữ nhân kia:

Ở đây không phải chốn vui cười

Lửa dục đốt tan mọi cảnh đời

Sao mãi chìm thân trong bóng tối

Không tìm ngọn đưốc, nẻo đường soi

Câu kệ vừa chấm dứt, cả đám năm trăm nữ nhân

đều đắc quả Dự Lưu. Bậc Ðạo Sư lại xuất hiện trên bảo tọa dành cho

đức Phật dưới bóng mát của Hương ph òng.

Lúc ấy, bà Visàkhà đảnh lễ Ng ài và hỏi:

- Bạch Thế Tôn, việc uống rượu mạnh phát xuất từ

đâu đ ã xâm phạm

đến thanh danh v à lương tâm con người?

Ðể trả lời bà, Ngài kể một câu chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa khi vua Brahmadatta đang trị v ì

quốc độ Ba-la-nại có người thợ rừng t ên

gọi Sura, sống ở quốc độ K àsi,

đến v ùng Tuyết Sơn

đi t ìm hàng buôn bán. Ở

đó có một cây mọc l ên cao vừa tầm vóc

người giơ hai tay lên đầu, v à chia làm

ba nhánh giữa cái chĩa ba này là một lỗ lớn bằng bình rượu, khi trời mưa lỗ

này đầy nước. Chung quanh cây n ày có hai

cây myrobalan (am-ma-lạc) và một bụi tiêu, khi trái chín

được cắt xuống lại rơi v ào lỗ này. Không

xa cây này lại có một ruộng lúa tự mọc lên. Chim sẻ mổ lúa

ăn đến đậu tr ên cây này. Trong lúc chim

ăn, lúa v à gạo sạch trấu rơi xuống

đó, chỗ ấy nước l ên men dưới ánh nắng

mặt trời, nên có màu đỏ như máu. M ùa

nắng, từng đ àn chim khát nước, uống nước

ấy và say sưa, ngã xuống dưới gốc cây, sau khi ngủ một lát, lại bay

đi, k êu chiêm chiếp rất vui tai. Việc

này cũng diễn ra với các loài chó hoang, khỉ và nhiều dã thú khác nữa. Người

thợ rừng thấy vậy nghĩ thầm: "Nếu đây l à

thuốc độc th ì chúng chết hết rồi, nhưng

còn đây sau một giấc ngủ ngắn, chúng bay đi như

ý muốn, vậy không phải l à thuốc độc."

Gã uống thứ nước ấy và lúc say rượu, gã thấy thèm

ăn thịt, liền nhóm lửa l ên, giết chim

trĩ và gà gô vừa ngã gục dưới gốc cây, gã nướng con thịt trên

đám lửa hồng, rồi một tay g ã múa may,

tay kia cầm thịt ăn, g ã ở lại chỗ

đó một hai ng ày.

Bấy giờ không xa nơi ấy, có một vị ẩn sĩ tên gọi Varuna, nhiều lúc gã thợ

rừng đến viếng ẩn sĩ, g ã nghĩ thầm" Ta

sẽ uống thứ rượu này với vị ẩn sĩ ấy"

Gã đổ đầy nước v ào một ống sậy, cùng

một ít thịt nướng, rồi gã đi đến am tranh v à

bảo:

- Thưa Thánh giả, xin ngài thử nếm rượu này.

Hai người cùng uống rượu và ăn thịt. V ì

thứ rượu này do Sura và Varuna phát hiện, nên

được đặt t ên theo đó: Rượu Sur à

và Varuni. Cả hai suy nghĩ: "Ðây là cách sử dụng rượu này"

Họ đổ đầy nước v ào ống sậy, gánh

đi đến l àng lân cận, dâng sớ tâu vua

rằng có vài người lái buôn rượu đ ã

đến. Nh à vua cho triệu họ vào, và họ

dâng rượu lên. Nhà vua uống rượu hai ba lần là say mèm. Rượu này chỉ

đủ d ùng chừng hai ba ngày, sau

đó vua hỏi c òn rượu không. Họ bảo:

- Tâu Ðại vương còn.

- Ở đâu thế ?

- Tâu Ðại Vương trong vùng Tuyết Sơn..

- Thế đem rượu về đây.

Họ đi t ìm rượu kia chừng hai ba lần

rồi suy nghĩ: "Ta không thể đến đó m ãi."

Họ nghiên cứu các thành phần chế tạo rượu ấy và bắt

đầu d ùng thứ vỏ cây kia, họ

đổ th êm các thứ kia vào, và làm rượu

ngay tại kinh thành. Dân trong thành uống rượu say trở thành những kẻ khốn

cùng lười biếng. Vùng ấy trở nên một kinh thành hoang vắng.

Các lái buôn rượu bỏ đi đến Ba-la-nại dâng

sớ tâu nh à vua xin trình báo họ đến th ành.

Nhà vua triệu họ vào, trả tiền cho họ và họ lại làm rượu tại

đó. Th ành ấy cũng hoang tàn như kiểu

trên.

Sau đó họ đến S àketa, từ Sàketa họ

đến Xá Vệ, lúc bấy giờ có vị vua mệnh danh

Sabbamitta ngự tại Xá-Vệ. Nh à vua tỏ ra ưu ái họ và hỏi họ muốn gì.

Khi họ bảo:

- Chúng tiểu thần muốn có các vật liệu chính cùng gạo xay và n ăm

trăm chiế c bình.

Nhà vua ban đủ mọi thứ họ xin.

Thế là họ cất rượu trong n ăm trăm b ình

kia, và họ cột một con mèo vào một bình rượu để

canh giữ. Khi rượu l ên men và bắt đầu

phun ra, bầy m èo uống rượu mạnh chảy ra từ trong bình, khi say mèm,

chúng nằm xuống ngủ, bọn chuột đến gặm tai,

mũi, răng v à đuôi m èo. Quân cận

thần đến tâu vua:

- Bầy mèo đ ã chết vì uống rượu.

Nhà vua phán:

- Chắc chắn hai gã kia đ ã làm thuốc

độc.

Rồi vua ban lệnh chém đầu họ v à khi

phải chết, họ còn la lớn:

- Xin cho chúng thần rượu mạnh, xin cho chúng thần rượu mật!

Nhà vua, sau khi xử tử bọn kia rồi, ra lệnh mở các bình ra. Còn bầy mèo,

khi tác dụng rượu đ ã hết, tỉnh dậy

đi lại chơi đ ùa. Các cận thần thấy vậy

liền tâu vua. Vua bảo:

- Nếu đó l à thuốc

độc th ì chúng

đ ã chết hết rồi, chắc

đây l à rượu mật ta phải uống mới

được.

Thế là vua ra lệnh trang trí kinh thành, dựng ngôi

đ ình trong sân chầu và ngự vào

đ ình nguy nga trên ngai vàng có lọng

trắng che đầu, với các cận thần chầu quanh, nh à

vua nhập tiệc uống rượu.

Lúc ấy Ðế Thích Thiên chủ bảo:

- Có ai dưới trần là những kẻ phụng dưỡng mẹ cha lại tinh cần giữ trọn ba

chánh hạnh ch ăng ?

Rồi nhìn xuống thế gian, ngài thấy nhà vua

đang ngồi uống rượu nồng, ng ài nghĩ: "Nếu vua ấy cứ uống rượu nồng

mãi thì toàn cõi Diêm-phù- đề sẽ bị hủy diệt, ta

muốn thấy chắc chắn vua không được uống rượu nữa".

Thế là đặt b ình rượu vào lòng bàn

tay, ngài giả dạng một Bà-la-môn, đứng tr ên

không ngay trước mặt vua kêu lớn:

- Mua bình này đi, mua b ình này

đi.

Vua Sabbamitta thấy ngài đứng tr ên

không và nói như vậy, liền hỏi:

- Bà-la-môn này từ đâu đến đây ?

Và nhà vua ngâm vần kệ trò chuyện với ngài:

1. Ngài là đại sĩ hiện tr ên không

Mình phóng hào quang rực ánh hồng

Như chớp ngang trời đang lóe sáng

Ðêm đen kịt chiếu ánh trắng trong.

2. Giữa chốn bao la, lượt nhẹ mình,

Ði đứng trong khoảng chẳng âm thanh.

Lực thần ngài đạt, ôi vi diệu,

Chứng tỏ ngài thần thánh hiển linh

3. Ðạo Sĩ, xin cho biết bậc nào

Vật gì trong ấy, chiếc bình cao

Giữa không trung giáng trần như vậy

Chắc muốn bán hàng cho trẫm sao?

Lúc ấy Thiên chủ đáp lạ i:

- Này nhà vua hãy nghe đây

Rồi vừa thuyết giảng mọi đặc điểm xấu xa của

rượu nồng, ng ài vừa ngâm vần kệ.

4. Bình không đựng lạc, chẳng dầu hương,

Chẳng phải mật ong, chẳng mía đường

Song chuyện xấu xa không kể xiết

Chứa đây trong bụng quả cầu tr òn

5. Ai uống, tội thay kẻ dại khờ

Sẽ chìm trong hố thẳm đen dơ

Ðâm đầu trong vũng b ùn ghê tởm,

Ăn phải vật xưa đ ã nguyện chừa,

Ðại đế, xin mua b ình rượu nặng

Ðầy lên tận miệng của nhà ta.

6.Rượu vào trí đảo lộn quay cuồng

Như chú bò ăn cỏ lạc đường

Tâm trí phiêu diêu, người lảo đảo.

Múa men ca hát suốt ngày trường.

Bình ta đầy rượu tr àn lên miệng

Cực mạnh, mua ngay, hỡi Ðại vương!

7. Người uống rượu trơ trẽn chạy rong

Khắp thành, như ẩn sĩ trần truồng

Ðến khuya nằm nghỉ , liền đâm hoảng

Quên cả thì giờ phải ngã lưng

Bình rượu ta đầy l ên tận miệng

Cực nồng, mua lấy hỡi Quân vương!

8. Bợm rượu , như người hoảng múa men,

Ngã nghiêng, dường chẳng đứng ngồi y ên

Tay chân run rẩy, đầu co giật

Như nộm gỗ nhờ tay kéo lên

Ðại đế, mua đi b ình rượu

đó

Ðầy lên tận miệng, rượu cay men.

9. Bợm rượu bị thiêu đốt ruột gan,

Hoặc làm mồi lũ chó rừng hoang,

Dấn thân tù ngục hay thần chết

Còn phải chịu hao tốn bạc vàng

Bình rượu ta đầy l ên tận miệng

Cực nồng, mua lấy, hỡi Vương quân!

10. Túy ông mất hết vẻ thanh tao

Trò chuyện những điều bẩn thỉu sao !

Ngồi đứng trần truồng c ùng

đám bạn

Mọi đ àng ô trọc , bệnh lao

đao

Bình ta đầy rượu tr àn lên miệng

Cực mạnh, quân vương hãy lấy vào!

11. Kẻ uống thường hay thói tự cao,

Nhãn quang chẳng sáng suốt đâu n ào,

"Thế gian của tớ", lòng thầm nghĩ,

Chẳng có vua nào sánh kịp đâu !

12. Rượu nồng là thứ đại ki êu c ăng

Ác quỷ nhát gan tựa nhộng trần,

Kết hợp đánh nhau v à phỉ báng

Ấy nhà cho trộm, điếm dung thân.

13. Dù gia đ ình có thật giàu sang

Hưởng thọ kho vô số bảo tàng

Giữ của trời cho phong phú nhất

Rượu này cũng sẽ phá tan hoang

14. Bạc vàng, đồ đạc ở trong nh à

Ðồng ruộng, trâu bò, thóc vựa kho

Ta sợ tiêu vong vì rượu mạnh

Là mầm suy sụp của toàn gia

15. Túy ông đầy nặng tính ki êu c ăng

Phỉ báng cả hai bậc lão thân,

Thách đố b à con cùng máu huyết

Dám làm ô uế mối hôn nhân

16. Nữ nhân uống rượu cũng kiêu c ăng

Phỉ báng chồng mình lẫn phụ thân

Bất chấp thanh danh nhà quý tộc

Biến thành nô lệ tính đi ên khùng

17. Bợm rượu, gan liều dám sát nhân

Sa môn chân chính Bà-la-môn,

Rồi cùng mọi cõi đời đau khổ

Hối tiếc hành vi quá bạo tàn

18. Rượu vào, phạm ác nghiệp ba phần:

Lời nói, việc làm với ý tâm

Đ ịa ngục chìm sâu

đầy khổ n ão

Vì hành động ác tạo sai lầm

19. Có kẻ, người n ăn nỉ uổng công

Dù đem dâng mấy đống v àng, song

Khi say, chúng dụ theo đườ ng chúng

Lời dối tuôn ra cũng sẵn lòng

20. Vì người say giữ việc thông tin

Gặp cảnh gian nguy đến đột nhi ên

Hãy ngắm! Kẻ này thề thốt nặng:

"Việc này tâm trí chợt quên liền!"

21. Ngay người thanh lịch nhất, khi say

Cũng hóa ra phường tục tử ngay

Ðệ nhất trí nhân mà túy lúy

Cũng huyên thuyên nói xuẩn ngu đầy !

22. Uống nhiều, nhịn đói, ng ã chơi vơi

Ðất cứng trần là chỗ nghỉ ngơi

Lúc nhúc trẽn trơ như lũ lợn

Chịu bao nhục nhã nhất trên đời

23. Như bò, bị đánh ng ã trên trên sàn

La liệt nằm từng đống hỗn man g

Ngọn lửa chứa trong men rượu nặng

Sức người không thể sánh ngang bằng

24. Mọi người kinh hoảng vội lùi ra.

Tránh độc dược kia tựa độc x à

Dũng sĩ to gan nào giải khát

Cho mình bằng rượu giết người ta?

25. Ta chắc sau khi uống rượu nồng

And-ha tộc, với Vrish-ni cùng

Lang thang bờ biển rồi nhào xuống

Vì chiếc chùy kia của họ hàng

26. Tiên say bị đọa khỏi cung trời

Thần lực mất liền, Ðại đế ơi !

Ai muốn nếm mùi ghê tởm ấy,

Mua đi b ình rượu của nhà tôi!

27. Chẳng phải sữa chua, mật ngọt đây

Song ngài luôn nhớ mãi từ nay

Cái gì chứa đựng trong bầu ấy

Ðại đế xin mua lấy rượu n ày!

Khi nghe xong bài thuyết giảng trên, vua nhận thấy thống khổ do rượu nồng

gây ra, nên lòng hoan hỷ, tán thán Thiên đế qua

hai vần kệ sau:

28. Chẳng song thân dạy khéo như ngài

Ngài thật nhân tử, thiện hảo thay,

Chân lý ngài tìm ra tối thượng

Trẫm vâng lời dạy bảo hôm nay

29. N ăm đệ nhất thôn của trẫm ban

Bảy tr ăm b ò, thị nữ tr ăm

n àng

Mười xe tuấn mã thuần cao quý.

Vì lợi ích ngài đ ã dạy r ăn

Ðế Thích nghe vậy liền xuất đầu lộ diện, vừa

trụ tr ên không vừa ngâm hai vần kệ:

30. Một tr ăm thị nữ vẫn nh à ngài

Làng mạc, đ àn bò, cũng mặc ai

Chẳng ngựa xe, đ òi thuần chủng quý

Sak-ka Thiên chủ chính danh này

31. Hưởng đủ bơ tươi, thịt ướp, cơm

Vui lòng ăn bánh mật men thơm

Thích nhiều chân lý ta vừa dạy

Trong sạch cõi Thiên đến đúng đường.

Ðế Thích Thiên chủ thuyết giáo cho ngài xong lại trở về Thiên giới. Nhà

vua liền chừa rượu mạnh và ra lệnh đập vỡ các b ình

rượu kia. Sau đó ng ài kiên tâm giữ Ngũ

giới và bố thí, về sau được sinh v ào cõi

Thiên.

Nhưng việc uống rượu mạnh dần dần phát triển khắp cõi Diêm-phù- đề.

*

Bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại và nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy, Ànanda là nhà vua kia, còn Ðế Thích Thiên chủ chính là Ta.

-ooOoo-

513. Chuyện vương tử chiến thắng (Tiền thân Jayaddisa)

Kìa, đ ã nhịn

ăn bảy buổi sáng...,

Câu chuyện này bậc Ðạo Sư kể về một Tỷ-kheo phụng dưỡng mẹ mình.

Phần mở đầu cũng giống như chuyện kể trong

số 540 Tiền thân S àma. Nhưng vào dịp này, bậc Ðạo Sư bảo:

- Các hiền nhân ngày xưa từ bỏ chiếc lọng trắng có các vòng kim hoa

để phụng dưỡng song thân.

Nói xong, Ngài liền kể câu chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa có một vị vua ở kinh thành phía Bắc Pãncàla, trong quốc

độ Kampila, mệnh danh l à Pãncàla. Hoàng

hậu của ngài có thai, sinh được một ho àng

nam. Trong suốt tiền kiếp xưa, bà có một tình

địch trong hậu cung đang cơn nóng giận đ ã thề:

- Một ngày kia ta sẽ ăn thịt con b à.

Và để lời nguyền kia có công hiệu, n àng

biến thành một con quỷ cái. Sau đó, ác quỷ t ìm

cơ hội chụp lấy hài nhi ngay trước mặt hoàng hậu, nhai ngấu nghiến như miếng

thịt tươi rồi biến đi. Lần thứ hai cũng l àm

y hệt như thế, nhưng đến lần thứ ba, khi ho àng

hậu đ ã vào phòng sinh,

đám vệ binh liền canh gác quanh ho àng

cung rất chặt chẽ.

Vào ngày bà sinh con, quỷ cái lại xuất hiện và chụp lấy hài nhi. Hoàng

hậu thét lên:

- Quỷ cái!

Lập tức binh lính cầm khí giới chạy đuổi

theo con quỷ cái khi nghe báo động. V ì không kịp

ăn thịt h ài nhi, quỷ cái chạy trốn, ẩn

mình dưới cống. Hài nhi nhận quỷ cái ấy làm mẹ, ngậm vú

đ òi bú, và quỷ cái kia bỗng sinh lòng

thương hài nhi như mẹ thương con, liền đi đến

nghĩa địa dấu h ài nhi trong hang đá v à

ch ăm sóc kỹ lưỡng.

Hài nhi lớn dần, quỷ cái đem thịt người về

cho nó ăn, v à cả hai đều sống bằng thức

ăn n ày. Ðứa trẻ không biết mình là người, song dù tưởng mình là con

của quỷ, cậu bé cũng không thể biến hóa khỏi hình người hay dấu mình

được. Ðể thực hiện việc này, con quỷ

đưa cho cậu bé cất một loại rễ cây - Nhờ công

lực của thứ rễ n ày, cậu biến hình được v à

tiếp tục sống bằng thịt người. Lúc bấy giờ quỷ cái có việc

đi xa để chầu đại lực quỷ vương Vessavana

(Tỳ-sa-môn) rồi chết luôn tại đó. C òn phần hoàng hậu, lần thứ tư sinh

được một ho àng nam bình yên vì quỷ cái

đ ã chết, và do sự kiện hoàng nam sinh ra

chiến thắng kẻ thù là quỷ cái kia, nên được đặt

t ên Jayaddisa (Hoàng tử Chiến Thắng)

Khi hoàng tử khôn lớn, học hành tinh thông mọi mặt, chàng lên nắm quyền

theo nghi lễ giương chiếc lọng trắng và trị vì quốc

độ. V ào thời ấy, hoàng hậu của vua sinh

hạ Bồ-tát được đặt t ên là Alinasattu.

Khi hoàng tử lớn khôn tinh thông mọi môn học thuật, liền

được phong l àm phó vương. Còn cậu bé làm

con của quỷ cái vì bất cẩn làm hư hỏng rễ cây kia nên không thể dấu mình

được nữa, phải sống trong nghĩa địa ăn thịt

người nhưng vẫn xuất lộ nguy ên hình.

Dân chúng thấy vậy sợ hãi, đến k êu

than với nhà vua:

- Tâu Ðại vương, một con quỷ có hình dạng rõ ràng

đang ăn thịt người tr ên nghĩa

địa. Dần dần nó sẽ t ìm

đường v ào kinh thành

ăn thịt dân. Xin Ðại vương ra lệnh bắt

nó đi.

Nhà vua chấp thuận ngay và ra lệnh bắt quỷ nọ. Một

đạo binh cầm khí giới đứng quanh th ành.

Con quỷ ấy trần truồng nom thật khủng khiếp, nhưng lại sợ chết nên thét to

và nhảy vào giữa ba quân. Quân sĩ la lên:

- Quỷ đây rồi !

Và họ cũng lo sợ cho mạng sống của họ, nên tan rã thành hai nhóm và bỏ

chạy. Con quỷ thoát được v à chạy ẩn mình

trong rừng, từ đó không dám lai v ãng chỗ

có người ở.

Nó sống dưới gốc cây đa gần con đường lớn

xuy ên qua rừng, khi dân chúng qua lại

đường đó, nó bắt lấy từng người một đem v ào rừng giết

ăn thịt. Lúc bấy giờ có một B à-la-môn

dẫn đầu đám, bộ h ành,

đưa một ng àn

đồng tiền cho đám kiểm lâm rồi đi ngang qua

đường ấy với năm trăm cỗ xe. Con quỷ có h ình người liền rống lên nhảy

vào đám người ấy. Họ hốt hoảng chạy trốn ng ã

l ă n lóc dưới

đất. Quỷ chụp lấy g ã Bà-la-môn nhưng vì

bị mảnh gỗ gây thương tích trong lúc đang chạy

trốn, lại bị đám kiểm lâm đuổi theo rất gắt, n ên nó thả gã Bà-la-môn

và đi đến nằm dưới gốc cây thường trú ẩn.

Ðến ngày thứ bảy, vua Jayaddisa truyền lệnh

đi săn v à khởi hành từ kinh thành. Ngay lúc nhà vua lên

đường, một người dân v ùng Takkasilà, là

một Bà-la-môn tên gọi Nanda, đang phụng dưỡng

cha mẹ, đến yết kiến đức vua, mang theo bốn b ài kệ, mỗi bài trị giá

bốn tr ăm đồng tiền.

Nhà vua dừng lại để nghe kệ, v à ra

lệnh làm chỗ nghỉ ngơi cho ngài. Trong lúc đi

săn người bảo:

- Người nào để con hươu chạy thoát từ phía m ình

thì phải trả tiền cho vị Bà-la-môn về các bài kệ ấy.

Sau đó một con hươu sao xuất hiện, chạy

thẳng về phía nh à vua để thoát thân. Các

cận thần cười rộ l ên. Nhà vua chụp lấy kiếm,

đuổi theo con hươu chừng ba dặm bắt được nó,

liền lấy kiếm xẻ đôi v à gánh lên đ òn.

Lúc trở về, ngài đi đến chỗ quỷ nhân đang

ngồi, nghỉ ngơi một lát tr ên bãi cỏ kusa rồi

định tiếp tục đi, lúc đó quỷ nhân xuất hiện

thốt l ên:

- Dừng lại, ngươi định đi đâu, ngươi l à

mồi ngon của ta!

Rồi chụp lấy tay ngài, quỷ ngâm vần kệ:

1. Kìa! Bảy ngày qua chịu đói l òng

Mồi ngon bỗng xuất hiện sau cùng

Phải ch ăng danh tiếng ngươi lừng lẫy ?

Ta muốn biết tên họ, giống dòng

Nhà vua kinh hoảng khi thấy quỷ nhân, nên

đứng sửng như trời trồng, không thể chạy trốn được, song rồi tỉnh trí dần,

ng ài đáp vần kệ thứ hai:

2. Nếu ngươi biết Chiến Thắng là vua

Của xứ Pãn-ca, quốc độ ta !

S ăn bắn trong rừng ta lạc bước,

Xin dùng hươu nọ thả ta ra.

Con quỷ nghe vậy liền ngâm vần kệ thứ ba:

3. Muốn cứu mạng, ngài đ ã hiến dâng

Mồi kia ngon thật đấy Quân vương

Ta xơi ngài trước và không bỏ

Thú nếm thịt hươu: chớ nói quàng!

Khi nhà vua nghe vậy liền nhớ đến B à-la-môn

Nanda, và ngâm vần kệ thứ tư

4. Vì ta chẳng thuộc mạng an toàn

Ðược thả như ta khẩn thiết van

Thì hãy cho ta tròn hứa cũ

Ta đ à giao ước Bà-la-môn

Sáng mai cứu được lời danh dự

Rồi sẽ trở về với quỷ nhân

Quỷ nhân nghe vậy , lại ngâm vần kệ thứ n ăm

5. Ðến gần chỗ chết chẳng an lòng

Lo lắng việc gì hỡi Ðại vương

Nói thật cho ta rồi có thể

Ta bằng lòng thả một ngày ròng

Nhà vua ngâm vần kệ thứ sáu để giải thích sự

việc ấy

6. Ta hứa lời cùng một đạo nhân

Nợ kia chưa trả, hứa cho xong

Mong tròn nguyện ước, thanh danh cứ

Ta sẽ gặp ngài buổi rạng đông

Nghe vậy, quỷ nhân đáp vần kệ thứ bảy:

7. Ngài đ ã hứa cùng một

đạo nhân

Nợ kia chưa trả, hứa chưa xong

Mong tròn nguyện ước thanh danh cứu

Rồi trở về đây buổi rạng đông

Nói xong con quỷ để cho vua đi, Vua được tha

về liền bảo:

- Xin đừng bận tâm v ì ta, sáng sớm

mai ta sẽ trở lại.

Rồi ghi nhận một số dấu đường xong, ng ài

trở lại với đám binh sĩ v à chúng hộ tống

ngài về thành. Sau đó ng ài triệu vị

Bà-la-môn vào, ngài ban tặng bốn ngàn đồng

tiền. Rồi ng ài lại truyền đưa vị B à-la-môn

lên ngồi một cỗ xe, ra lệnh cho đám t ùy

tùng rước vị này thẳng đến Takkasil à.

Ngày hôm sau, nôn nóng đến gặp quỷ nhân, ng ài

gọi hoàng thái tử đến dặn d ò.

*

Bậc Ðạo Sư ngâm hai vần kệ giải thích việc này:

8. Thoát ác quỷ kia, lại trở về

Nhà yêu, mộng nước đẹp tr àn trề

Với La-môn bạn, không sai hứa

Song dặn A-lin quý tử kia

9. Vương nhi nay nhận chức Quân vương

Cai trị bạn thù thật chính chân

Ðừng để bất công l àm hại nước

Cha đ ành nộp mạng chốn hung thần

Thái tử nghe vậy liền ngâm vần kệ thứ mười:

10. Hoàng nhi mong biết rõ nguyên nhân

Khiến trẻ mất ân lộc phụ hoàng

Cha phải đưa con l ên kế vị

Thiếu cha, con chẳng thiết ngai vàng

Nhà vua nghe vậy, ngâm vần kệ tiếp theo:

11. Này con, cha chẳng thể tìm ra

Một ác ngôn hay một nghiệp tà

Song nợ thanh danh, giờ trả trọn

Còn lời nguyền giữ với yêu ma.

Thái tử nghe thế liền ngâm vần kệ:

12. Cha ở lại, đây con sẽ đi

Trở về an ổn, có gì mong

Nếu cha đi nữa, con theo gót

Phụ tử cùng nhau chẳng sống chi!

Nghe lời này, nhà vua đáp kệ:

13. Vương tử , con theo đúng đạo trời

Song cha mất hết thú yêu đời

Nếu yêu tinh nọ dùng xiên gỗ

Nướng thịt con ăn trọn cả đời

Nghe vậy thái tử lại ngâm vần kệ nữa:

14. Nếu cha thoát được vuốt y êu

tinh

Vì phụ vương, con nguyện bỏ mình

Hơn nữa con tràn trề hỷ lạc

Ðược đem đời hiến sinh th ành

Nghe vậy vua nhận thấy đức hiếu thảo của

con, liền nhận lời cầu mong của con v à bảo:

- Tốt lành thay, vương nhi, hãy ra đi.

Thế là thái tử giả từ song thân và rời kinh thành.

*

Bậc Ðạo Sư làm sáng tỏ việc này qua nửa vần kệ:

15. Thái tử anh hùng, xin vĩnh biệt

Cúi đầu ng ài

đảnh lễ song thân.

Lúc ấy, song thân ngài, em gái ngài, vương phi cùng triều thần tiễn ngài

đi ra khỏi kinh th ành; ngài hỏi vua cha

lối đi v à sau khi xếp mọi việc cẩn thận

cùng dặn dò khuyên nhủ các người thân, ngài lên

đường tiến về hang quỷ, oai h ùng như con sư tử có bờm. Mẹ ngài thấy

ngài ra đi, không thể kềm chế được, liền ngất

lịm. Vua cha giơ hai tay khóc lớn.

*

Bậc Ðạo Sư làm sáng tỏ việc này qua nửa vần kệ:

16. Phụ vương khóc lớn, giơ tay cản,

Hiền mẫu buồn thương, ngã lịm dần

Như vậy, muốn nêu rõ lời nguyện cầu của vua cha và lời Thề Chân thực của

mẹ ngài, em ngài, cùng vương phi, bậc Ðạo Sư lại ngâm thêm bốn vần kệ:

17. Khi hình thái tử khuất mờ dần

Trước mắt thảm sầu của phụ thân

Cầu nguyện chư thần , tay chắp khấn

Va-rù-na với So-ma vương

Phạm thiên, nhật nguyệt, chư thần nữa,

Bảo vệ hoàng nhi được vạn an

Nhờ các thần linh này, thái tử

Mong con thoát ác quỷ kinh hoàng

Mẫu hậu:

18. Như mẹ Ra-ma đẹp dáng người

Cứu con nàng đ ã bặt t ăm

hơi

Khi vào rừng rậm Dam-da ấy

Con trẻ ta mong giải thoát thôi

Nhờ khấn lời chân thành, ước nguyện

Chư thần cho trở lại an vui

Vương muội:

19. Hoàng huynh chẳng có lỗi lầm gì

Dù lộ rõ ràng hoặc giấu che

Chứng thực lời này, con nguyện ước

Chư thần mang thái tử quay về

Vương phi:

20 Với thiếp, chàng không phạm lỗi lầm

Lòng đầy y êu dấu, hỡi lang quân

Chứng thực lời này xin ước nguyện

Thần thánh cho chàng trọn tấm thân

*

Về phần thái tử, ra đi theo lời hướng dẫn

của vua cha , l ên đường đến nơi quỷ nhân

ở. Song quỷ nhân nghĩ thầm: "Các vua Sát-dế-ly nhiều mưu mẹo lắm, ai biết

được việc g ì sẽ xảy ra?" Rồi nó trèo lên cây

đợi nh à vua

đến.

Khi thấy thái tử, nó nghĩ "Người con đ ã

ng ăn cản vua cha v à tự dẫn thân

đến. Không có g ì phải sợ người ấy cả."

Và quỷ trèo xuống ngồi quay lưng về phía thái tử. Khi

đến nơi thái tử đứng trước quỷ nhân, vừa lúc

quỷ nhân n ày ngâm vần kệ:

21. Chàng từ đâu đến, hỡi ho àng nam

Có biết rừng này của quỷ ch ăng ?

Ai đến thật xem thường tính mạng

Nơi loài quỷ dữ chiếm làm hang

Nghe vậy, thái tử bèn đáp kệ:

22. Ta biết rõ ngươi, quỷ bạo tàn

Chốn này ngươi ở giữa rừng hoang

Ta là đích tử Ja-ya đế,

Ăn thịt rồi , thả phụ vương

Quỷ nhân lại ngâm vần kệ:

23. Ta biết con trai chúa Ja-ya

Dáng chàng để lộ việc kia m à

Thật là gian khổ cho chàng quá

Phải chết vì thay mạng của cha

Thái tử liền đáp kệ nữa:

24. Nghĩ rằng chẳng phải việc anh hùng

Ðược chết vì ân phước phụ thân

Và mẹ quý yêu khi bỏ mạng

Ðời đời hưởng cực lạc thi ên cung

Nghe vậy, quỷ liền nói

- Này thái tử, không có kẻ nào không sợ chết. Thế tại sao chàng lại không

sợ?

Ngài liền nói lý do cho quỷ nghe qua hai vần kệ:

25. Nhớ ta không phạm lỗi lầm gì

Dù lộ ra ngoài hoặc giấu che

Sinh tử ta đều cân nhắc kỹ

Dù đây, hay các c õi sau về

26. Ăn thịt ta đây, hỡi quỷ nhân

Phải làm công việc ấy cho xong

Ta buông mình xuống trên cao chết

Người cứ ăn ta, thỏa nguyện l òng

Qủy kia nghe vậy kinh hoảng liền bảo:

- Ta không thể ăn thịt người n ày

được.

Rồi nghĩ mưu kế cho ngài chạy trốn, quỷ liền bảo:

17. Nếu chàng tự nguyện muốn liều thân

Thái tử, đem đời cứu phụ vương

Ta bảo chàng rời ngay bước vội

Tìm gom củi đốt lửa than hừng

*

Bậc Ðạo Sư ngâm một vần kệ nữa làm sáng tỏ vấn

đề n ày:

27. Hoàng nam anh dũng nhặt cây rừng

Và chất cao lên một cái giàn

Và thét vừa châm: "Bày tiệc sẵn!

Hãy xem, ta nhóm lửa cho hừng!"

*

Khi thấy thái tử trở về và nhóm lửa, quỷ nhân nói:

- Người này thật gan dạ không sợ chết. Xưa nay ta chưa từng thấy ai can

đảm như vậy.

Nó ngồi sửng sờ, thỉnh thoảng lại nhìn thái tử. Ngài thấy thái

độ quỷ nhân như thế, liền ngâm vần kệ:

28. Ðừng đứng nh ìn ta , dáng sửng

sờ

Ta cầu ngươi giết bắt ăn ta

Khi đang c òn sống ta trù tính

Muốn để ngươi ăn thịt đúng giờ

Quỷ nhân nghe vậy, liền ngâm kệ:

29. Một hiền nhân, chánh trực, công bằng

Chắc chẳng bao giờ phải bị ăn

Hoặc kẻ nào ăn người, ắt hẳn

Ðầu kia tan nát bảy phần ch ăng

Thái tử nghe vậy hỏi:

- Nếu ngươi không muốn ăn ta, tại sao ngươi

bảo ta bẻ c ành về nhóm lửa?

Quỷ nhân nói:

- Ta muốn thử chàng đó thôi, v ì ta

chắc chàng sẽ bỏ chạy trốn.

Thái tử đáp:

- Bây giờ làm sao ngươi thử ta được, bởi v ì

lúc còn là súc sinh, ta đ ã

để cho Thi ên chủ thử

đức hạnh của ta rồi.

Cùng với lời này ngài ngâm vần kệ:

30. Ðế Thiên giả dạng một La-môn

Thỏ lấy thịt mình để cúng dâng

Từ đó mặt trăng in dáng thỏ

Ta chào nguyệt diện: "Dạ xoa thần!"

Quỷ nhân nghe vậy thả cho thái tử đi về v à

bảo:

31. Như tr ăng thoát vuốt La thần

Chiếu giữa đ êm rằm tỏa ánh quang

Ngài, chúa Kam-pi anh dũng đ ã

Thoát tay quỷ dữ, sáng huy hoàng

Bạn đang sầu, bỗng tung hô dậy

Trước mặt ngài xuất hiện vẻ vang

Phụ mẫu thân yêu , ngài cống hiến

Bao niềm hạnh phúc ngập hân hoan

Rồi nó nói thêm:

- Hỡi đấng anh h ùng, hãy

đi đi !

Và nó để Bậc Đại Sĩ l ên

đường. Sau khi đ ã hàng phục quỷ nhân

xong, ngài còn dạy nó ngũ giới và muốn thử xem nó phải quỷ không, ngài nghĩ

thầm: "Mắt bọn quỷ thường đỏ v à không

chớp. Chúng không đổ bóng xuống đường v à

không hề biết sợ gì cả. Còn đây không phải quỷ.

Ðây là người. Nghe nói cha ta có ba vương huynh bị quỷ dữ tha

đi, hai người ắt hẳn đ ã bị

ăn thịt rồi, c òn một người

được quỷ cái thương y êu với tình mẹ con.

Chắc là đây thôi. Ta phải đem vị n ày về

tâu với vua cha để đưa l ên ngôi báu mới

được.

Nghĩ vậy ngài kêu lên:

- Này Tôn ông, Tôn ông chẳng phải là quỷ

đâu, m à là bào huynh của cha ta. Xin mời Tôn ông

đi về c ùng ta giương chiếc lọng trắng

biểu hiện vương quyền trong giang sơn của tổ tiên mình.

Khi quỷ nhân đáp:

- Ta không phải là người.

Thái tử nói:

- Tôn ông chẳng tin ta ư? Vậy kẻ nào cho Tôn ông tin

được ?

Quỷ đáp:

- Có chứ, có một nơi nọ có một ẩn sĩ đ ã

thành tự thiên nhãn thông.

Thế là ngài dẫn quỷ đến nơi ấy. Vừa trông

thấy hai người xuất hiện, vị ẩn sĩ hỏi ngay:

- Hai vị có cùng dòng họ tổ tiên, cần gì mà

đến đây?

Nói xong vị ẩn sĩ lại nói rõ về liên hệ dòng họ giữa hai người. Con quỷ

ăn thịt người liền tin ngay v à bảo:

- Này hiền hữu cứ về triều đi, phần ta, ta

sinh ra với hai bản chất trong một h ình hài. Ta không muốn làm vua.

Ta sẽ đi tu l àm ẩn sĩ.

Thế là quỷ thọ giới tu hành với vị ẩn sĩ ấy.

Sau đó thái tử đảnh lễ hai vị v à trở

về triều.

*

Bậc Ðạo Sư ngâm vần kệ làm sáng tỏ thêm vấn

đề n ày:

32. A-lin thái tử anh hùng

Nghiêng mình kính lễ quỷ nhân hung tàn

Thêm lần thoát nạn lên đ àng

Về Kam-pi xứ, an toàn tấm thân.

Khi thái tử về thành, bậc Ðạo Sư giải thích cho dân trong thành cùng toàn

thể hội chúng nghe những chuyện thái tử đ ã

làm và ngâm vần kệ cuối cùng:

33. Từ thành thị đến thôn trang

Nhân dân lũ lượt lên đ àng chen chân

Kìa! Ðồng nô nức hô vang

Uy danh thái tử can tràng hùng anh

Tượng, xa ngất nghểu đăng tr ình

Ðến ngài đảnh lễ, cung ngh ênh khải

hoàn

Vua nghe thái tử đ ã trở về liền

đi ra ngo ài

đón ng ài. Thái tử được đám đông hộ tống

bước đến đảnh lễ vua cha. Vua cha hỏi:

- Này vương nhi, làm thế nào con thoát được

ác quỷ kia ?

Ngài đáp:

- Tâu phụ vương, vị đó chẳng phải quỷ đâu.

Chính l à bào huynh của phụ vương, là bá phụ của con

đ ấy.

Ngài liền kể mọi chuyện cho vua cha nghe và nói:

- Vương phụ nên đi thăm bá phụ ngay.

Vua lập tức ban lệnh khua trống lên rồi cùng

đo àn tùy tùng lên đường đi thăm hai vị

ẩn sĩ, vị ẩn sĩ trưởng kể lại đầy đủ chi tiết câu chuyện: h ài nhi bị

quỷ bắt đi ra sao. Thay v ì

ăn thịt, quỷ cái đem h ài nhi về nuôi

thành quỷ nhân. Vua và quỷ liên hệ máu huyết như thế nào. Vua liền bảo:

- Này hoàng huynh, hãy về làm vua trị nước.

- Xin cảm tạ Ðại vương. Không được đâu.

Vua lại nói:

- Thế thì hoàng huynh đến ở trong vườn

thượng uyển, ta sẽ cung cấp đủ bốn thứ vật dụng.

Nhà ẩn sĩ lại từ chối.

Sau đó vua cho lập ngôi l àng trên một

ngọn núi, không xa nơi ẩn cư kia, xây hồ, trồng trọt,

đất đai v à

đem một ng àn gia đ ình cùng nhiều

của cải đến lập một ngôi l àng lớn cùng

ban bố thí cúng dường cho hai vị ẩn sĩ. Ngôi làng lớn dần thành thị trấn

Cullakammàsadamma. Vùng có quỷ nhân được bậc

Ðại sĩ Sutasoma điều phục mệnh danh l à

thị trấn Mahàkammàsadamma.

*

Bậc Ðạo sư chấm dứt Pháp thoại xong liền tuyên thuyết các Thánh

đế, v à nhận diện Tiền thân: - Vào lúc

kết thúc các Thánh đế, vị Tỷ-kheo phụng dưỡng

mẹ m ình đ ã

đắc quả Dự Lưu-

- Thời ấy , phụ vương và mẫu hậu là hai thân trong hoàng tộc ngày nay, ẩn

sĩ là Sàriputta (Xá-lợi-phất), quỷ nhân là Angulimàla; vương muội là

Uppalavannà (Liên Hoa Sắc), hoàng hậu là mẹ của La-hầu-la và thái tử

Alinasattu chính là Ta.

-ooOoo-

514. Chuyện tượng vương ở hồ Chaddanta (Tiền thân Chaddanta)

Ái hậu mắt nhung, đẹp tuyệt trần...,

Câu chuyện này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Jetavana (Kỳ-viên) về một

Sa-di-ni.

Một thiện gia tín nữ ở Xá vệ nhận thấy nỗi khổ

đau của cuộc đời thế tục, đ ã xuất gia tu

hành. Một ngày kia, nàng cùng các Tỷ-kheo-ni khác

đi đến nghe Pháp.

Trong lúc đức Phật ngồi thuyết giảng tr ên

bảo tọa uy nghi, nàng chiêm ngưỡng kim thân của Ngài

đầy đủ vẻ tối thắng mỹ diệu phát xuất từ công

đức vô lượng của Ng ài, nàng nghĩ thầm: "Ta không biết trong một

đời trước n ào ta từng phụng sự là thê

thiếp của bậc vĩ nhân này ch ăng?"

Ngay lúc ấy, nàng chợt nhớ lại các đời trước

của n àng. "Vào thời thượng tượng vương Chaddanta, ta

đ ã từng làm vợ vĩ nhân này ". Tâm nàng

tràn ngập hân hoan hạnh phúc khi nhớ lại việc ấy. Trong niềm xúc

động sung sướng kia, n àng bật cười lớn

và nghĩ thầm: "Ít phụ nữ có thiện ý đối với

chồng m ình, đa số đều có ác ý cả. Ta

không biết xưa kia ta có thiện ý hay ác ý đối với vị n ày."

Rồi hồi tưởng lại quá khứ, nàng nhận ra là vì cảm thấy bị

đối xử thờ ơ l ãnh

đạm n ên nàng

đ ã sinh lòng oán hận Ðại tượng vương

Chaddanta có chiều dài một tr ăm hai muơi cubit

( gần năm mươi mét), v à nàng đ ã

nhờ tay thiện xạ Sonuttara dùng tên tẩm thuốc

độc bắn trọng thương để giết ng ài. Lúc ấy niềm

đau khổ khởi l ên, lòng nàng bồn chồn

nóng rang, rồi không thể kềm chế xúc động kia,

n àng bật tiếng khóc nức nở.

Thấy thế, bậc Ðạo Sư nở một nụ cười và khi

được hội chúng tỷ-kheo hỏi:

- Bạch Thế Tôn, duyên cớ gì khiến Thế Tôn mỉm cười?

Ngài bảo:

- Này các Tỷ-kheo, Sa-di-ni này vừa khóc, khi nhớ lại một tội ác

đ ã từng phạm

để hại Ta trong một đời trước.

Nói vậy xong Ngài kể một câu chuyện quá khứ.

*

Một thuở nọ, có tám ngàn vương tượng nhờ tu luyện thần thông, du hành qua

không gian đến an trú gần b ên hồ

Chaddanta ở vùng Tuyết Sơn. Vào thời ấy Bồ tát tái sinh làm con của Voi

chúa. Thân ngài thuần trắng, bàn chân đỏ, da

mặt đỏ hồng. Dần dần lớn khôn, ng ài cao

đến tám mươi tám cubit, v à dài một tr ăm

hai mươi cubit. Ng ài có cái vòi như cuộn dây thừng bằng bạc dài n ăm

mươi tám cubit, bộ ng à có chu vi mười l ăm

cubit, d ài ba mươi cubit, tỏa ánh sáng lục sắc. Ngài là chúa

đ àn voi lớn gồm tám ngàn con, thường tôn

kính cúng dường các vị Ðộc Giác Phật và Mahàsubhaddà (Tiểu Hiền Phi và Ðại

Hiền Phu) Tượng cương với quân thần tám ngàn voi ngự trong Kim

động.

Lúc bấy giờ hồ Chaddanta dài n ăm mươi dặm v à

rộng n ăm mươi dặm. Ở giữa hồ khoảng mười hai

dặm, chẳng hề có cây Sev àla hoặc Panaka nào mọc, nên nước trong như

khối ngọc thần. Bao quanh vùng nước này gần đó

l à một dải toàn hoa súng trắng tinh khiết rộng chừng một dặm. Tiếp

theo đó l à loại sen trắng, sen hồng,

đến súng trắng, súng hồng v à loại súng

trắng ăn được, đám súng trắng chen lẫn các loại

súng khác, rộng chừng một dặm cứ mỗi lớp bao quanh các lớp trước.

Kế tiếp bảy lớp cây này là một đám súng

trắng xen lẫn các loại súng khác cũng rộng chừng một dặm, bao quanh tất cả

các lớp trước.

Kế đó trong v ùng nước sau vừa cho voi

đứng, l à một

đám lúa đỏ. Tiếp theo trong v ùng nước

bao quanh là những khu rừng cây nhỏ đầy hoa

thơm dịu d àng đủ mầu v àng, xanh,

trắng, đỏ. Như vậy mười rừng hoa n ày

rộng chừng một dặm mỗi thứ. Kế đó l à

rừng đậu đủ loại. Kế nữa l à rừng chen

lẫn bìm bìm, dưa, bí bầu và nhiều cây leo khác. Tiếp theo là một rừng mía

cao bằng cây cau. Rồi đến một rừng chuối có quả

lớn bằng chiếc ng à voi. Kế đó l à

một ruộng lúa. Rồi đến một vườn mít, trái bằng

b ình nước lớn. Tiếp theo là một vườn me

đầy quả ngon ngọt. Sau đó l à vườn táo voi. Rồi

đến một rừng cây lớn đủ loại. Kế tiếp l à

một rừng tre. Vào thời ấy, phong cảnh vùng này tráng lệ như thế. Vẻ kỳ vĩ

đương thời mi êu tả trong bộ Luận

Samyatta (Luận giải Bộ Kinh Tương Ưng)

Song vùng bao quanh rừng tre lại là bảy ngọn núi. Từ phía ngoài cùng là

ngọn Tiểu Hắc Sơn. Kế đó l à Ðại Hắc Sơn,

Thủy Sơn, Nguyệt Sơn, Nhật Sơn, Ngọc sơn và núi thứ bảy theo thứ tự là Kim

Sơn. Núi này cao bảy dặm, vươn cao lên quan hồ Chaddanta, như

đường viền cái chén; vách núi b ên trong

màu vàng chói. Do ánh sáng tỏa ra từ đó, hồ

Chaddanta rực rỡ như mặt trời mới mọc.

Trong số các núi phía ngoài, có một ngọn cao sáu dặm, một ngọn cao n ăm

dặm, ngọn cao bốn dặm, ngọn cao ba dặm, ngọn cao hai dặm v à ngọn chỉ

cao một dặm. Lúc bấy giờ về phía góc hồ đông,

được bao bọc bằng Thất Sơn như vậy, ở một nơi gió thường thổi tr ên

mặt nước, có một cây đa lớn mọc l ên.

Thân cây có chu vi n ăm dặm, cao bảy dặm. Bốn

c ành vươn ra bốn phía dài sáu dặm. Như vậy từ rễ

đến ngọn cao mười ba dặm, từ đầu ngọn c ành

cây phía này sang đầu ngọn c ành cây phía

kia rộng mười hai dặm. Cây này sinh ra tám ngàn chồi mọc thẳng tuyệt

đẹp, chẳng khác n ào Ngọc Sơn lồ lộ kia.

Song về phía Tây hồ Chaddanta trong Kim Sơn, có Kim Ðộng chừng mười hai

dặm. Tượng vương Chaddanta cùng đo àn tùy

tùng tám ngàn voi, về mùa mưa thường sống ở Kim Ðộng này, về mùa nóng lại

đứng dưới gốc đa lớn kia, giữa các nhánh cây để

đón gió nhẹ hiu hiu thổi từ mặt hồ nước.

Một ngày kia, đám quần thần tâu với ng ài:

Ðại Thọ Sàla vương đang độ nở hoa.

Thế là đám t ùy tùng hộ tống, ngài có

ý định đi du ngoạn trong vườn S àla, và

khi vừa đến nơi ấy, trán ng ài

đụng v ào một cây Sàla

đang nở rộ hoa.

Lúc bấy giờ nàng Cullasubhaddà đứng theo

chiều gió, n ên một đám c ành lá

khô cùng kiến đỏ rớt xuống thân n àng.

Còn nàng Mahàsubhaddà đứng chỗ khuất gió n ên

các hoa tươi cùng phấn hoa và cành lá xanh rơi trên thân nàng.

Cullasubhaddà nghĩ thầm:"Ngài để rơi tr ên

mình nàng ái phi của ngài đầy hoa tươi, phấn

hoa c ùng cành lá xanh, còn trên mình ta, ngài lại làm rớt cả một mớ

cành lá khô cùng bầy kiến đỏ lẫn lộn !

Ðược lắm, rồi đây ta sẽ biết cách l àm

gì!"

Và nàng sinh lòng oán hận bậc Ðại Sĩ từ đó.

Một ngày kia, Tượng vương cùng đám t ùy

tùng xuống hồ Chaddanta để tắm. Lúc ấy, hai chú

voi d ùng vòi cầm các bó rễ cây usìra để

hầu tắm ng ài, chà xát cả thân ngài cao như thể núi Kelàsa. Khi ngài

bước ra khỏi nước, lên đứng trước mặt bậc

Ðại Sĩ.

Sau đó tám ng àn voi kia xuống hồ vui

đ ùa thỏa thích trong nước, hái

đủ loại hoa dưới hồ, trang điểm bậc Ðại

Sĩ khác nào một ngôi đền bằng bạc; sau đó,

chúng trang điểm cả hai ho àng hậu của chúa voi. Lúc ấy có một con voi

kia bơi quanh hồ, hái một đóa sen lớn bảy chồi

dâng bậc Ðại Sĩ. Ngài dùng vòi cầm hoa sen rảy phấn lên trán mình

xong đưa tặng hoa cho chánh hậu Mah àsubhaddà.

Thấy việc này, nàng tình địch của chánh hậu lại

nghĩ: "Hoa sen bảy chồi n ày ngài cũng tặng cho ái hậu của ngài, chứ

không phải tặng ta!."

Nàng lại càng sinh lòng c ăm hờn ng ài

thêm nữa.

Một ngày kia, khi Bồ-tát đ ã ướp hoa

quả ngon cùng ngó sen và củ sen với mật ong xong, ngài

đem cúng dường năm trăm vị Ðộc Giác Phật

thọ thực, nàng Cullàsubhaddà cũng đem các thứ

quả rừng n àng đ ã hái dâng cúng

các vị Ðộc Giác Phật ấy, và nàng cầu nguyện như vầy:

- Từ nay, sau khi con lìa trần, ước mong rằng con

được tái sinh l àm công chúa Subhaddà

trong hoàng tộc của vua Madda, và khi đến tuổi

trưởng th ành, mong rằng con được vinh dự

l àm hoàng hậu của vua Ba-lai-nại. Lúc ấy con sẽ

đầy vẻ diễm lệ trước mắt ng ài và

được ng ài sủng ái. và sẽ có

đầy đủ quyền lực thực hiện điều g ì con

ước muốn. Thế là con sẽ tâu đức vua cho người

thợ săn d ùng tên độc bắn tử thương Voi

chúa n ày. Và như vậy con ước mong có thể bảo chúng

đem về dâng con một cặp ng à tỏa hòa

quang lục sắc kia.

Từ đó n àng bỏ

ăn uống, n ên héo mòn dần, chẳng bao lâu

nàng từ trần rồi tái sinh làm con chánh hậu vua Madda và

được đặt t ên là Subhaddà. Khi nàng

đến tuổi dậy th ì, song thân nàng liền xe

duyên nàng với vua Ba-lai-nại. Nàng làm đẹp l òng

vua và được sủng ái, n ên

được phong l àm chánh hậu giữa

đám mười sáu ng àn phi tần.

Khi nhớ lại các đời trước của m ình,

nàng nghĩ thầm: "Lời nguyện cầu của ta đ ã

thành tựu, nay ta phải truyền đem bộ ng à

voi ấy dâng ta mới được".

Thế là nàng xoa dầu khắp người, mặc áo dơ bẩn, nằm lên giường, giả vờ

bệnh. Nhà vua hỏi:

- Ái hậu Subhaddà của trẫm đâu rồi?

Khi nghe tin nàng bị bệnh, ngài vội vào hậu cung ngồi bên vương sàng,

vuốt nhẹ lưng nàng và ngâm vần kệ đầu ti ên:

1. Ái hậu mắt nhung, đẹp tuyệt trần,

Nàng xanh xao quá, dáng đau buồn,

Như tràng hoa dưới chân giày xéo,

Vì cớ sao nàng héo úa dần?

Nghe lời này, nàng liền đáp vần kệ thứ hai:

2. Dường như chuyện thấy ở trong mơ,

Thần thiếp hằng mong mỏi thiết tha,

Mộng ước hão huyền e khó đạt,

Cho nên lòng thiếp mãi buồn lo.

Vua nghe thế, lại ngâm vần kệ nữa:

3. Những lạc thú nào ở thế gian,

Con người khao khát tận tâm can,

Ðiều gì mong trẫm đem ban tặng,

Hãy nói trẫm nghe, ước nguyện nàng.

Nghe vậy, hoàng hậu bảo:

- Tâu Ðại vương, ước nguyện của thiếp thật khó

đạt th ành, thiếp chưa thể nói

được ngay bây giờ ước nguyện ấy, xin cho tất cả

các thiện xạ trong nước tụ tập về đây, lúc ấy thiếp sẽ nói ra giữa đám thiện

xạ ấy.

Và nàng ngâm vần kệ để giải thích ý n àng

muốn nói:

4. Truyền đám thợ săn phụng mệnh ngay,

Những người cư ngụ nước non này,

Ðiều thần thiếp muốn nhờ tay họ,

Khi diện kiến, xin sẽ giải bày.

Vua chấp thuận và từ hậu cung, ngài ban lệnh cho các

đại thần:

- Hãy cho đánh trống ban lệnh rằng tất cả

các thợ săn trong quốc độ K àsi trải dài ba tr ăm

dặm n ày, phải đến tụ tập tại đây.

Họ tuân lệnh, chẳng bao lâu các thợ s ăn

trong quốc độ K àsi mang tặng vật tùy theo phương tiện của họ, nhờ tâu

trình vua họ xin bệ kiến. Lúc ấy họ đến chừng

sáu mươi ng àn người. Vua nghe tin ấy, liền

đứng trước cửa sổ mở rộng giơ tay chỉ cho ho àng

hậu thấy họ đ ã trình diện, ngài bảo:

5. Nhìn đám thợ săn dũng cảm đây!

Nghề s ăn mồi l ão luyện cao tay,

Với tài chém giết bầy hoang thú,

Vì trẫm, sẵn sàng bỏ mạng ngay.

Hoàng hậu nghe thế liền ngâm vần kệ bảo họ:

6. Lạp hộ can trường tụ tập đây,

Những lời ta nói, lắng nghe vầy:

Dường như ta thấy trong cơn mộng

Bạch tượng sáu ngà tuyệt mỹ thay,

Ta ước bộ ngà, lòng khắc khoải,

Chẳng còn gì đáng giá đời n ày!

Ðám thợ s ăn nghe n àng nói,

đáp lời:

7. Các bậc tổ tiên thuở đ ã qua,

Sáu ngà voi trắng, thấy bao giờ?

Loài gì thú ấy, xin cho biết,

Ðã hiện trong mơ của lệnh bà.

Sau đó họ lại c òn ngâm thêm vần kệ

nữa:

8. Bốn phương Nam, Bắc, với Tây, Ðông,

Chính giữa bốn miền cũng họp chung,

Thiên đỉnh th êm vào thiên

đế nữa,

Nơi nào trong thập hướng không trung,

Tượng vương này ở, xin cho biết,

Xuất hiện trong mơ của chánh cung.

Nghe nói thế hoàng hậu Subhaddà nhìn toàn thể

đám thợ săn, thấy trong đó có một người chân

lớn, bắp chân phồng to như một cái thúng đựng đầy lễ vật, xương sườn, đầu

gối đều vạm vỡ, bộ râu rậm, h àm r ăng v àng

khè, mặt mũi méo mó đầy sẹo, l à người

thật xấu xí, đồ sộ, nổi bật l ên giữa

đám thợ săn, t ên là Sonuttara, trong một

đời trước đ ã từng là kẻ cừu thù của bậc

Ðại sĩ. Nàng liền nghĩ: "Người này có thể làm theo lời ta

được".

Và xin phép vua đem g ã kia

đi l ên thượng lầu của cung

điện bảy tầng, n àng mở cửa sổ hướng Bắc,

chỉ tay thẳng về phía dãy Bắc Tuyết Sơn, rồi ngâm bốn vần kệ:

9. Hướng Bắc bên kia dãy Thất San,

Cuối cùng ta đến Vách non V àng,

Ðỉnh cao thường có loài ma quỷ,

Hoa tự chân lên ngọn rỡ ràng.

10. Dưới núi ma kia lại thấy ngay

Xanh um cả khối, dáng như mây,

Một cây đa chúa, từ nhiều gốc

Sinh tám ngàn cành, tráng kiện thay.

11. Trú đây, Bạch tượng mạnh vô song

Có sáu ngà, quân đội tám ng àn,

Ngà tựa càng xe, tài thiện chiến,

Hộ phòng, giao đấu, tốc như phong!

12. Thở phì, Voi đứng, mắt trừng trừng,

Hơi gió nhẹ đưa cũng nổi sân,

Nếu chợt thấy người gây mảy gió,

Ðùng đ ùng, chúng dẫm nát tan thân!

Sonuttara nghe tả thế, hồn vía bay lên mây, vội

đáp vần kệ:

13. Lam ngọc sáng ngời hoặc bảo trân,

Biết bao trang sức với kim ngân,

Việc gì hoàng hậu cần ngà ấy,

Hay lệnh bà mong giết thợ s ăn?

Hoàng hậu lại ngâm vần kệ:

14. Nung nấu lòng ta rẫy giận hờn,

Mỗi lần nhớ lại vết đau thương,

Cho ta, lạp hộ, điều ta ước,

Làng đẹp năm ngôi, sẽ hưởng ơn!

Nói xong nàng thêm:

- Này hiền hữu thiện xạ, ngày trước, khi ta cúng dường các vị Ðộc Giác

Phật, ta dâng lời cầu nguyện rằng ta muốn có đủ

thần lực giết con voi sáu ng à kia để

chiếm một đôi ng à. Ðiều này ta không phải chỉ thấy trong giấc mộng mà

thôi đâu, đó c òn là lời nguyện ta phải

thành đạt. Hiền hữu h ãy ra

đi, đừng lo sợ g ì cả.

Nàng nói vậy để trấn an g ã. Gã chấp

thuận lời nàng và đáp:

- Xin tuân lệnh hoàng hậu, nhưng trước hết xin lệnh bà chỉ rõ cho thần

biết voi ấy hiện ở đâu.

Và gã hỏi qua vần kệ:

15. Voi ở đâu? T ìm kiếm chốn nào?

Ðường Voi đi tắm, hướng ra sao?

Nơi nào Vương tượng thường bơi lội?

Xin chỉ con đường để bắt mau.

Lúc ấy nàng hồi tưởng lại đời trước của m ình

và nhớ rõ địa điểm ấy, n ên chỉ

đường cho g ã qua hai vần kệ:

16. Không xa nơi tắm ấy là bao,

Th ăm thẳm hồ sâu diễm lệ sao,

Hoa rộ nở, đầy ong bướm lượn,

Ðấy nơi Vương tượng dễ tìm cầu.

17. Tắm mát, cài sen, chiếc miện hoa,

Hân hoan Voi rảo bước về nhà,

Như cành sen trắng cao vòi vọi,

Theo gót bà hoàng yêu thiết tha!

Sonuttara nghe vậy chấp thuận ngay và thưa:

- Tâu lệnh bà, tiểu thần xin đi giết Voi n ày

và đem về dâng cặp ng à.

Nàng hoan hỷ ban thưởng gã một ngàn đồng

tiền v àng và bảo:

- Hiền khanh cứ trở về nhà đ ã, sau

bảy ngày nữa hãy khởi hành đến đó.

Nàng cho gã lui về và triệu tập đám thợ r èn

lại, truyền lệnh:

- Này các khanh, ta cần một cái rìu, một cái xẻng, một cái khoan, một cái

búa, dụng cụ để chặt tre, cái liềm cắt cỏ, một

gậy sắt, một cái cọc, một cái chĩa ba bằng sắt, h ãy làm mọi thứ thật

gấp rồi đem đến đây ngay.

Nàng lại cho triệu tập đám thợ đồ da, bảo

họ:

- Này các khanh, hãy làm cho ta một cái túi da

đủ đựng đồ vật nặng cỡ một đầu heo lớn, ta lại

cần các dây da, các lưới da, đôi gi ày lớn vừa cho voi mang và một cái

dù da để nhảy xuống. H ãy làm mọi thứ

thật cấp bách rồi đem lại đây ngay.

Cả hai đám thợ r èn và thợ da kia làm

gấp mọi vật rồi mang lại cho nàng. Sau khi có

đủ mọi vật dụng cần thiết cho cuộc h ành trình, cùng lửa củi

đủ loại, n àng

đặt mọi món trang bị cần thiết như bánh nướng,

lương khô.. v ào túi da. Tất cả nặng cỡ chiếc

đầu heo. C òn Sonuttara, sau khi sắp

đặt xong xuôi, đến ng ày thứ bảy, cung

kính diện kiến hoàng hậu. Nàng bảo:

- Này hiền hữu, tất cả mọi hành trang đ ã

hoàn thành, hãy cầm túi da này đi.

Gã này là một tên hạ đẳng lực lưỡng gan dạ,

mạnh bằng năm con voi, n ên cầm chiếc túi kia như thể túi

đựng bánh đặt l ên sườn, rồi

đứng l ên như thể hai tay không! Nàng

Cullasubhaddà trao lương thực cho đám t ùy

tùng của gã, và tâu trình vua rồi truyền gã lui ra. Gã

đảnh lễ vua c ùng hoàng hậu xong, xuống

thềm cung điện đặt các vật dụng l ên một

cỗ xe, khởi hành khỏi kinh thành cùng một đo àn

tùy tùng đông đảo rầm rộ vượt qua vô số thôn l àng,

tới vùng biên địa.

Lúc ấy gã bảo dân chúng lui và tiếp tục đi c ùng

đám dân cư ngụ tr ên biên giới cho

đến khu rừng, qua khỏi những nơi có người ở, g ã

lại cho dân biên giới lui về và một mình gã tiến lên một khoảng ba mươi dặm

đường, băng qua rừng cỏ kusa v à nhiều cỏ

khác rậm rạp, những đám d ày

đặc rau quế, lau sậy, cây đậu, những khóm gai,

mía, v à cây đủ loại, rồi các rừng rậm to àn

lau, mía dày, rậm đến độ rắn cũng không thể b ò

qua được, rồi các rừng cây lớn, tre nứa, những

b ãi nước lầy, những dải núi; gã lần lượt

đi qua mười tám v ùng tất cả.

Qua rừng cỏ, gã cắt bằng lưỡi liềm, qua các

đám rau, gai, tre, nứa, g ã mở đường bằng

dụng cụ đẵn tre, g ã chặt các cây lớn bằng cái rìu, còn các cây cổ thụ

quá lớn, gã phải đục bằng cái khoan trước ti ên.

Sau đó tiếp tục cuộc h ành trình, gã

làm một cái thang trong rừng tre và trèo lên ngọn cây, gã

đặt một cây tre vừa chặt l ên trên bụi

tre kế đó, cứ thế g ã bò dần qua các

đọt tre đến một b ãi lầy.

Gã lại trải một tấm ván khô trên bùn, bước qua rồi ném một tấm ván khác

ra phía trước và cứ như thế đi băng qua b ãi

lầy. Sau đó g ã lại

đóng thuyền để vượt qua một v ùng ngập

nước, cuối cùng đến đứng dưới chân các ngọn

núi.

Gã buộc cái móc sắt có chĩa ba vào sợi dây, ném lên cao cho nó dính chặt

vào sườn núi. Leo lên sợi dây, gã khoan núi bằng

đầu gậy có gắn kim cương, đóng cọc v ào

lỗ rồi đứng l ên

đó. Sau g ã lại kéo cái móc sắt có chĩa

ba ra đóng v ào sườn núi cao hơn trước,

từ nơi này gã để dây da th òng xuống,

xong gã cầm dây trèo xuống, buộc dây vào cọc phía dưới. Rồi tay trái cầm

dây, tay phải cầm búa, gã đánh v ào sợi

dây để kéo cái cọc ra v à trèo lên lần

nữa.

Bằng cách này gã trèo lên đỉnh núi đầu ti ên,

rồi bắt đầu đi xuống phía b ên kia, sau

khi đóng cọc v ào

đỉnh núi đầu ti ên như trước

đây, xong buộc dây v ào túi da và bao

quanh cái cọc, gã ngồi vào trong túi da và thả mình xuống bằng cách buông

dần cuộn dây như thể nhện nhả tơ vậy. Gã để cho

cái d ù da bắt gió và hạ xuống nhanh như chim. Tương truyền ít nhất là

thế đấy.

Như vậy bậc Ðạo sư kể chuyện gã thợ s ăn tuân

lệnh n àng Subhaddà, xông pha từ kinh thành b ăng

qua mười bảy địa giới khác nhau cho đến khi v ào tận miền núi rừng,

những cách gã b ăng rừng vượt qua sáu v ùng

nước non như thế nào để leo l ên

đỉnh Kim Sơn:

18. Thợ s ăn nghe lệnh, vững can tr àng,

Nai nịt cung tên, tiến bước đ àng,

B ăng vượt bảy tầng non bát ngát,

Cuối cùng đến thượng đỉnh Kim San.

19. Ðến núi cao đầy quỷ ẩn thân,

Khối gì trước mắt, dáng như vân?

Chính cây đa chúa, thân to lớn

Ðỡ tám ngàn cành tán trải gi ăng.

|

20. Trú đây Bạch tượng mạnh vô song

Có sáu ngà, quân đội tám ng àn,

Ngà tựa càng xe, tài thiện chiến,

Hộ phòng, giao đấu, tốc như phong!

21. Gần đó, hồ kia nước tận bờ,

Xứng nơi vương tượng lội bơi qua,

Ðôi bờ khả ái muôn hoa đẹp,

Ong lượn quanh đầy tiếng nhỏ to.

22. Ðánh dấu đường đi của Tượng vương

Những khi bơi lội, chí kiên cường

Gã đ ào hố, việc làm hèn hạ

Xúi giục cho vương hậu giận hờn!

Tiếp theo đây l à câu chuyện từ

đầu đến cuối: chuyện kể rằng, sau bảy năm, bảy

tháng, bảy ng ày, khi đến tận nơi cư trú

của bậc Ðại sĩ theo cách kể trên, gã thợ s ăn

ghi dấu kỹ nơi ấy, v à đ ào một cái

hố ở đó, g ã bảo:

- Ta sẽ đứng đây v à

đâm chết Voi chúa.

Gã sắp đặt công việc như vậy xong, v ào

rừng chặt cây làm cột trụ, cùng chuẩn bị một số vật dụng khác.

Khi đ àn voi

đến tắm ở nơi Voi chúa thường đứng, g ã

lại đ ào một hố vuông bằng một cái cuốc

lớn, và đám đất g ã

đ ào lên gã rải khắp mặt nước, như thể

gieo hạt, và trên đầu các tảng đá h ình

khối xay, gã trồng một trụ, chôn thêm các vật nặng cùng dây da và trải nhiều

ván lên trên. Kế đó g ã

đ ào lỗ vừa cỡ một mũi tên rồi ném

đất đá, rác rến l ên nữa, còn một bên gã

làm lối ra vào cho gã.

Thế là khi hố đ ã xong xuôi, vào lúc

tảng sáng gã buộc một chùm tóc giả trên chỏm, mặc hoàng y vào, cầm cung và

mũi tên độc, g ã bước xuống

đứng dưới hố kia.

Bậc Ðạo sư giải thích mọi việc như sau:

23. Che hố trước tiên đậy ván d ày,

Bước vào, cung nắm ở trong tay,

Vừa khi Bạch tượng đi qua đó,

Kẻ ác cho tên dữ vút bay.

24. Voi bị thương gầm rống thảm thương,

Cả đo àn

đáp lại cũng gầm vang,

Ngàn cây nghiêng ngã giày tan cỏ,

Tán loạn đ àn voi chạy thẳng

đường.

25. Voi chúa đ ã gần giết

địch nhân

Vì chứng đau đớn hóa đi ên cuồng,

Nhưng kìa! Ðôi mắt ngài vừa gặp

Biểu tượng thanh cao, chiếc áo vàng,

Bộ áo tu hành bất khả phạm,

Ấy điều suy nghĩ của hiền nhân.

Bậc Ðạo sư, trong lúc nói chuyện với thợ s ăn,

ngâm hai vần kệ n ày:

26. Người nào vấy phải tội đầy thân,

Chẳng chế ngự mình, thiếu thật chân,

Dù chiếc hoàng y, mình nó mặc,

Chẳng hòng mong đạt tịnh thanh tâm.

27. Còn kẻ thoát ra mọi lỗi lầm

Ðầy lòng chân thật, tự điều tâm,

Vững lòng cương quyết theo công chánh,

Xứng đáng y v àng khoác tấm thân.

Nói xong, bậc Ðại sĩ dập tắt mọi nỗi hận sân

đối với g ã kia và hỏi:

- Tại sao ông bắn ta bị thương? Có phải vì lợi ích riêng hay vì bị kẻ nào

mua chuộc?

Bậc Ðạo sư giải thích việc này như sau:

28. Voi trúng tên tàn bạo quỵ chân,

Trong lòng bình thản, hỏi cừu nhân:

"Ðích gì khi giết nhằm ta thế,

Cho biết ai xúi giục, bạn thân?".

Kế tiếp gã thợ s ăn đáp kệ n ày:

29. Ái hậu Kà-si bậc đại quân,

Su-bhad-dà, bảo đ ã từng trông

Dáng ngài trong mộng, và vì thế:

"Ta muốn ngà kia, hãy kiếm dâng!".

Nghe gã nói điều n ày, ngài nhận ra

đây l à việc làm của nàng Cullasubhaddà,

nên ngài nhẫn nhục chịu đau đớn v à suy

nghĩ: "Nàng chẳng cần gì đôi ng à của ta

đâu, n àng bảo gã

đi đến đây chỉ v ì muốn giết ta

đấy thôi".

Và để l àm sáng tỏ việc, ngài ngâm hai

vần kệ:

30. Kho báu ta mang ở bộ ngà,

Hình hài di tích của ông cha,

Ðiều này ác phụ am tường quá,

Nên kẻ khốn nhằm đoạt mạng ta.

31. Trước khi ta chết, thợ s ăn ôi,

Cưa lấy bộ ngà của chúa Voi,

Bảo ác phụ kia mừng mãn nguyện,

"Ðây ngà, Bạch tượng đ ã lìa

đời!".

Nghe ngài bảo vậy, gã thợ s ăn đứng dậy từ

nơi g ã đang ngồi, cầm cưa trong tay đi

đến gần ng ài để cắt đôi ng à. Lúc

bấy giờ Vương tượng cao như một ngọn núi tám mươi tám cubit (gần bốn mươi

mét) nên không thể cưa được như ý muốn, v ì

gã này không thể lên tới tận đôi ng à.

Thấy thế bậc Ðại sĩ phải cúi mình trước gã, nằm xuống kê

đầu dưới đất.

Lúc ấy gã mới trèo lên chiếc vòi của bậc Ðại sĩ, dẫm chân lên

đó như thể sợi dây thừng bạc, rồi đứng tr ên

trán ngài như thể đỉnh núi Kes àla. Sau

đó g ã nhét chân gã vào miệng ngài,

đầu gối g ã

đập v ào da thịt trong miệng ngài, gã bò xuống từ trán ngài và thọc

cây cưa vào miệng ngài. Bậc Ðại sĩ chịu đựng

nỗi thống khổ h ành hạ và miệng ngài ứa

đầy máu.

Còn gã thợ s ăn đi loanh quanh chỗ n ày

chỗ kia vẫn không thể nào dùng cái cưa cắt được

đôi ng à. Vì thế bậc Ðại sĩ để máu rơi ra

từ miệng ng ài, chịu đựng nỗi đau đớn cực

độ, hỏi g ã:

- Này tôn ông không cưa được sao?

Và khi nghe gã bảo:

- Không.

Ngài liền lấy lại sự bình tĩnh trong tâm, bảo:

- Vậy thì được rồi, v ì ta không còn

đủ sức đưa chiếc v òi lên, ông hãy nhắc

nó lên cho ta và nó sẽ cầm một đầu cưa.

Gã thợ s ăn l àm theo.

Bậc Ðại sĩ dùng vòi cầm phía đầu cưa, đưa

lui đưa tới v à đôi ng à

được cắt rời ra ngay như đọt cây. Sau đó ng ài

bảo gã cầm lấy đôi ng à và nói:

- Này hiền hữu lạp hộ, không phải ta cho ông

đôi ng à này vì ta không quý trọng chúng, cũng không phải giống như

một người mong ước địa vị của Ðế Thích

Thiên chủ, Ma vương hay Phạm thiên đâu, nhưng

đôi ng à Chánh Ðẳng Chánh Giác còn đáng

quý đối với ta gấp cả trăm ng àn lần hơn

đôi ng à này, và ta ước mong công đức

thiện h ành này sẽ làm nhân duyên cho ta chứng

đắc quả Vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Vừa khi cho gã đôi ng à, ngài hỏi:

- Ông đến đây phải đi mất bao lâu?

- Bảy n ăm, bảy tháng, bảy ng ày.

- Vậy nhờ thần lực của đôi ng à này,

ông sẽ về đến Ba-la-nại trong bảy ng ày

thôi.

Sau khi ngài bảo gã ra đi v à trước

khi đ àn voi kia cùng hoàng hậu Subhaddà

đến nơi, ng ài

đ ã qua đời.

Bậc Ðạo sư giải thích sự việc qua vần kệ:

32. Rồi thợ s ăn cưa lấy bộ ng à

Từ hàm Bạch tượng tối cao ra,

Sáng ngời, bảo vật vô song ấy,

Gã bước nhanh chân trở lại nhà.

Khi gã đi rồi, đ àn voi không còn thấy

bóng kẻ thù trở lại nữa.

Bậc Ðạo sư giải thích việc này như sau:

33. Kinh hãi nhìn Vương tượng bỏ thân,

Ðàn voi vùng tán loạn, hoang mang,

Chẳng tìm thấy vết cừu nhân ác,

Trở lại nhìn vua ngã xuống đ àng.

Vương hậu Subhaddà cùng đến với đ àn

voi, tất cả đều đau đớn than v à từ

đó đi yết kiến các vị Ðộc Giác Phật

trước kia thường rất thân thiết với bậc Ðại sĩ, và thưa:

- Bạch các Tôn giả, đức vua thường vẫn cúng

dường các Tôn giả mọi vật dụng cần thiết, đ ã từ trần vì trúng một mũi

tên độc. Xin các Tôn giả đến viếng thi h ài

của ngài đang được qu àng tại nơi kia.

N ăm trăm vị Ðộc Giác Phật liền bay

qua không trung hạ mình xuống vùng đất thi êng

ấy. Vào lúc hai chú voi con lấy ngà nâng thi hài của Voi chúa lên

để thi h ài tỏ dấu hiệu sùng kính các vị

Ðộc Giác Phật, rồi nâng thi hài cao đến tận d àn

hỏa thiêu và làm lễ hỏa táng. Suốt đ êm

ấy các vị Ðộc Giác Phật tụng kinh trong thánh

địa n ày. Tám ngàn voi ấy, sau khi dập tắt các ngọn lửa, liền tắm rửa

rồi cùng theo hoàng hậu Subhaddà dẫn đầu, trở

lại nơi cư ngụ như cũ.

Bậc Ðạo sư giải thích vấn đề như sau:

34. Ðàn voi khóc lóc lẫn kêu gào,

Tất cả chất tro đội đỉnh đầu,

Chầm chậm trở về nơi cư trú,

Theo sau hoàng hậu mãi thanh cao.

Còn gã Sonuttara trong bảy ngày đ ã về

tới Ba-la-nại cùng với bộ ngà voi.

Bậc Ðạo sư giải thích việc này như sau:

35. Thẳng đến K à-si, gã thợ s ăn,

Vô song tặng vật, gã vừa mang:

Bộ ngà của chúa Voi ngời chiếu

Làm mọi tâm hoan với ánh vàng;

Ðến trước bà hoàng kia, gã nói:

"Ðây ngà; Vương tượng đ ã từ trần!".

Bấy giờ khi mang đôi ng à

đến dâng ho àng hậu, gã thưa:

- Tâu hoàng hậu, chúa Voi mà hoàng hậu mang mối thù hận trong lòng chỉ vì

một lỗi lầm nhỏ nhặt ấy đ ã bị tiểu thần

giết chết rồi!.

- Ngươi bảo rằng ngài đ ã chết rồi ư?

Nàng kêu lớn.

Gã dâng đôi ng à lên và tâu:

- Hoàng hậu cứ tin chắc rằng ngài đ ã

chết, đây l à

đôi ng à của ngài.

Nàng nhận lấy đôi ng à có sáu sắc hào

quang ấy để l ên chiếc quạt nạm ngọc của

nàng rồi đặt v ào lòng, nàng nhìn

đôi ng à của Voi chúa ngày trước trong

một đời trước đ ã là vị quân vương ái

kính của nàng, nàng nghĩ thầm: "Gã thợ s ăn n ày

trở về với đôi ng à gã cưa

được từ Bảo tượng m à gã

đ ã giết bằng mũi tên

độc".

Rồi nhớ lại bậc Ðại sĩ, lòng nàng bỗng tràn ngập

đau thương đến độ n àng không thể chịu

đựng được nữa, tim n àng tan nát ra và

nàng từ trần ngay hôm ấy.

Bậc Ðạo sư ngâm vần kệ để l àm sáng tỏ

câu chuyện:

36. Bà hoàng vừa chợt thấy đôi ng à,

Chúa thượng dấu yêu thuở đ ã qua,

Lòng quá đau thương liền vỡ nát,

Vì ngài, kẻ ngốc hóa ra ma.

37. Khi Ðại trí nhân đủ lực thần,

Mỉm cười trước mắt các hiền T ăng,

Tức thì Thánh chúng liền suy nghĩ:

"Chư Phật chẳng cười chuyện bỗng dưng!".

38. Ngài bảo: "Các ông thấy nữ nhi

Làm Sa-di ấy, khoác hoàng y,

Xưa là hoàng hậu, và Ta nữa,

Ngài tiếp, "là Voi chúa mất đi".

39. Kẻ ác cưa ngà báu trắng tinh,

Vô song dưới thế, ánh quang minh,

Ðem về thành phố Ba-la-nại

Nay chính Ðề-bà- đạt đích danh".

40. Phật- đ à với trí tuệ riêng Ngài

Kể lại chuyện xưa ấy thật dài,

Đ ủ mọi nỗi buồn

đau thống thiết,

Dù Ngài đ ã thoát hết bi ai.

41. "Ngày xưa Bạch tượng chính Ta đây,

Làm chúa Voi đông đảo cả bầy,

Như vậy, chư T ăng, ta muốn bảo

Các ông hiểu rõ Tiền thân này".

Các vần kệ trên được các Tỷ-kheo ghi nhớ khi

Tăng chúng tán dương Ðạo pháp và ca ngợi

đấng Thế Tôn đầy đủ mọi thần lực.

*

Khi nghe Pháp thoại này xong, một số trong

đại chúng chứng quả Dự Lưu, c òn vị Sa-di-ni ấy về sau nhờ tu tập

Thiền định đ ã chứng

đắc quả A-la-hán.