Chuyện Tiền Thân · Jātaka

504. Chuyện Ðại vương Bhallàtiya (Tiền thân Bhallàtiya)

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Chuyện Tiền Thân

Kinh Trung Bộ · Bài 59

Chuyện Ðại vương Bhallàtiya (Tiền thân Bhallàtiya)#

Jātaka group 59

Chương XV (tt)

504. Chuyện Ðại vương Bhallàtiya (Tiền thân Bhallàtiya)

Ngày xưa có đại đế Bhal-l à..,

Câu chuyện này bậc Ðạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về hoàng hậu

Mallikà (Mạt-lợi) tức Nương tử Vũ Quý Hoa.

Một buổi kia, chuyện kể rằng có việc xích mích giữa hoàng hậu và vua về

quyền lợi trong đời sống nội cung, vua nổi giận

v à không muốn nhìn mặt bà. Bà suy nghĩ: "Ta chắc

đức Như Lai không biết đức vua đang giận hờn

ta".

Khi bậc Ðạo sư biết chuyện ấy, ngày hôm sau, Ngài

đi v ào khất thực tại Ba-la-nại có T ăng

chúng theo hầu, rồi đến tận cung môn. Vua bước ra đón ng ài và cầm lấy

bình bát của Ngài, vừa rước Ngài lên thượng lầu, mời T ăng

chúng ngồi theo thứ tự thích hợp, rồi dâng nước ch ào mừng cùng với

thực phẩm thượng vị. Sau buổi cơm, vua ngồi xuống một bên. Bậc Ðạo sư hỏi:

- Tại sao hoàng hậu Mallikà không đến?

Vua đáp: - Chỉ v ì lòng kiêu mạn ngu

si về cảnh vinh quang của bà ta đấy.

Bậc Ðạo sư bảo:

- Này Ðại vương, xưa kia, đ ã lâu lắm

rồi, khi Ðại vương còn là một tiên nam, Ðại vương rời xa bạn

đời của m ình chỉ một

đ êm thôi mà về sau cứ mãi thương tiếc cả

bảy tr ăm năm đó.

Rồi theo lời thỉnh cầu của vua, Ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Một thuở nọ, có một vị vua tên là Bhallatiya trị vì tại Ba-la-nại. Do nỗi

say mê món thịt nai rừng bốc khói trên hỏa lò lôi cuốn, ngài giao phó vương

quốc cho các đại thần, rồi trang bị đủ năm thứ

vũ khí c ùng một bầy chó s ăn thông minh

tinh luyện, ng ài lên xa giá rời kinh tiến về vùng Tuyết Sơn. Ngài cứ

du hành dọc theo sông Hằng mãi tận nơi không còn lên cao

được nữa, liền đi theo một phụ lưu th êm

vài đoạn đường, vừa giết nai, lợn rừng vừa

thưởng thức món thịt nướng kia, cho đến khi ng ài trèo tận một

đỉnh cao.

Nơi đó có một con suối đầy thi vị chảy xuống

khắp v ùng, nước cao lên tận ngực, song vào các mùa khô ráo chỉ gần

đến đầu gối. Lúc ấy các đ àn cá rùa,

đủ loại tung tăng, dải cát dưới nước sáng loáng

như bạc, cây cối hai b ên bờ rủ xuống nặng trĩu hoa trái, chim chóc,

ong bướm say sưa hút nước trái chín và mật ong, bay lượn dưới bóng cây râm

mát, nơi đây từng đ àn hươu nai

đủ loại vẫn lai v ãng luôn. Bấy giờ trên

bờ suối xinh đẹp n ày có

đôi ti ên

đang ôm chặt nhau, âu yếm vuốt ve nhau rồi bỗng tiếng khóc than rền rĩ vô c ùng

thảm thiết.

Trong lúc vua trèo lên đỉnh Gandham àdana

(Hương Sơn) men theo dòng suối này, ngài chợt nhận thấy

đôi ti ên kia. "Tại sao họ cứ khóc than

rền rĩ như thế này?", ngài suy nghĩ, "Ta muốn hỏi xem sao". Ngài chỉ cần

liếc bầy chó s ăn v à búng ngón tay, bầy

chó thuần chủng thấy dấu hiệu này là hiểu ngay phần việc của chúng, liền bò

vào dưới bụi rậm và nằm sát đất. Vừa khi ng ài

đ ã thấy chúng

đ ã khuất dạng, ngài

đặt cung t ên cùng các vũ khi kia cạnh

gốc cây gần đó v à rón rén

đi nhẹ nh àng

đến gần đôi ti ên

để khỏi ai nghe lọt bước chân, rồi ng ài

cất tiếng hỏi:

- Tại sao các ngươi than khóc?

Ðể giải thích việc này, bậc Ðạo sư ngâm ba vần kệ:

1. Ngày xưa có đại đế Bhal-l à,

Ngài vẫn đi săn bắn thật xa,

Trèo tận Hương Sơn và chợt thấy

Ðầy hoa nở rộ với yêu ma.

2. Ngài truyền bầy chó thảy nằm yên,

Ðặt các cung tên xuống đất liền,

Tiến bước để đưa lời ướm hỏi,

Chốn kia vừa thấy cặp thần tiên:

3. "Ðông đ ã qua, sao lại trở về

Hàn huyên tâm sự cạnh sơn khê?

Các ngươi sao giống phàm nhân quá,

Người gọi loài gì, nói trẫm nghe".

Nghe vua hỏi, vị tiên nam không nói gì, nhưng tiên nữ

đáp lại như sau:

4. Tam đỉnh, Ho àng Sơn, núi Mã-la,

Chúng thần men suối mát, b ăng qua,

Thú rừng cứ tưởng là người thật,

Song bọn đi săn gọi quỷ ma.

Kế đó vua ngâm ba vần kệ:

5. Các ngươi âu yếm tựa tình nhân,

Song lại khóc than thật não nùng,

Tiên chúng giống như người thế tục,

Cớ sao than khóc, hãy phân trần!

6. Các ngươi mơn trớn tựa uyên ương,

Song khóc đầy ai oán thảm thương,

Ðôi lứa khác nào người thế tục,

Sao sầu đau thế? Nói cho tường!

7. Như các tình nhân, cứ vuốt ve,

Song lời than khóc thật lê thê,

Các ngươi trông giống người trần tục,

Sao quá bi ai? Nói trẫm nghe!

Các vần kệ sau là do đôi b ên

đối đáp nhau:

Tiên nữ:

8. Chàng, thiếp một đ êm cách biệt

nhau,

Không tình ân ái, nặng u sầu,

Tương tư, song chẳng bao giờ có

Ðêm ấy trở về được nữa đâu.

Quân vương:

9. Sao nằm đ êm ấy quá cô

đơn,

Ðã khiến ngươi rền rĩ tiếc thương?

Ðôi trẻ giống như người thế tục

Mất tiền, hay lão phụ từ trần?

Tiên nữ:

10. Ðằng kia, bóng mát, suối tuôn ra,

Giữa đá, rồi cơn b ão thổi qua,

Vì quá lo âu tìm kiếm thiếp,

Nên tình quân đ ã lội qua bờ.

11. Trong lúc đôi chân thiếp rộn r àng,

Thiếp đi t ìm cỏ nội hoa ngàn,

Làm vòng đeo, tặng ch àng yêu dấu

Và thiếp, vừa khi gặp lại chàng.

12. Kết bó chuông vàng, đồng thảo xanh,

Thủy tiên trắng mát đượm sương l ành

Cho chàng yêu cả vòng hoa cổ

Cùng thiếp, vừa khi gặp bạn tình.

13. Rồi sau thiếp hái bó hoa hồng

Là thứ hoa xinh đẹp nhất v ùng,

Ðể kết liền cho chàng với thiếp

Vòng hoa đeo cổ, lúc tương ph ùng.

14. Kế hoa là lá, thiếp đi t ìm

Về trải đầy tr ên mặt

đất mềm

Nơi suốt đ êm trường chung gối mộng,

Uyên ương thiêm thiếp giấc nồng êm.

15. Gỗ quế, trầm hương kế tiếp liền

Ðặt trên hòn đá, thiếp đâm nghiền,

Làm hương tắm khắp chàng yêu dấu

Và thiếp, mùi hương cực diệu huyền!

16. Ðứng bên bờ suối chảy tuôn dòng,

Thiếp hái hoa sen mãi đến c ùng:

Chiều xuống, suối kia tràn khắp chốn,

Muốn sang bờ nọ, hết chờ mong!

17. Ðành đứng cả hai ở mỗi bờ,

Nhìn nhau tha thiết, ngóng ngang qua,

Ôi, bao tiếng khóc cười đôi ngả,

Ðêm ấy cùng đau đớn xót xa!

18. Sáng lại, vừng đông đ ã mọc cao,

Khi nhìn con suối cạn khô mau,

Thiếp, chàng vội bước, ôm nhau chặt,

Lập tức cùng cười, khóc với nhau!

19. Gần bảy tr ăm năm chỉ thiếu ba,

Từ khi chàng, thiếp phải chia xa,

Tim yêu tan nát sầu ly biệt,

Dằng dặc tưởng chừng trọn kiếp qua!

Quân vương:

20. Ðời người kỳ hạn đến bao giờ?

Nếu chuyện này truyền lại thuở xưa,

Hoặc giả theo lời nhiều trưởng lão,

Thì đừng sợ h ãi, nói cùng ta.

Tiên nữ:

21. Một ngàn mùa hạ thắm, an khương,

Chẳng chịu nhiều đau khổ đoạn trường,

Ít gặp ưu sầu, đầy cực lạc,

Suốt đời ngập hạnh phúc y êu

đương!

Khi vua nghe vậy, ngài suy nghĩ: "Các sinh vật này thấp kém còn hơn loài

người, thế mà vẫn khóc than mãi suốt bảy tr ăm

năm r òng chỉ vì một đ êm xa cách

nhau, huống hồ ta đây, chúa tể cả một quốc độ

rộng ba trăm dặm, lại đ ành bỏ hết cả vinh quang huy hoàng ấy

đằng sau để phi êu bạt trong chốn núi

rừng hoang dã. Thật là một sai lầm nghiêm trọng".

Ngài liền quay về lập tức. Khi đến th ành

Ba-la-nại, triều thần hỏi ngài có thấy việc gì hi hữu ở vùng Tuyết Sơn ch ăng,

ng ài kể cho hội chúng nghe toàn thể câu chuyện kỳ dị kia, rồi từ

đó về sau ng ài thực hành bố thí và an

hưởng cảnh vinh hoa của mình.

Ðể giải thích việc này bậc Ðạo sư ngâm vần kệ sau:

22. Nhờ được đôi ti ên khuyến bảo

vầy,

Ðại vương trở lại bước đường ngay,

Bỏ s ăn, cấp dưỡng người ngh èo túng,

An hưởng tháng ngày lướt nhẹ bay.

Và Ngài ngâm thêm hai vần kệ nữa:

23. Rút ra bài học của tiên kia,

Ðừng cãi nhau, mà sửa thói lề,

Kẻo các ngài sầu như bọn chúng

Suốt đời, v ì chính bởi lầm mê.

24. Lấy ngay bài học tự đôi ti ên,

Ðừng khấu tranh, mà sửa thói quen,

Kẻo chịu đau buồn như bọn chúng

Suốt đời, v ì chính lỗi lầm riêng.

Bấy giờ hoàng hậu Mallikà đứng dậy từ bảo

tọa khi b à nghe đức Như Lai thuyết giáo,

rồi b à chấp hai tay đảnh lễ Ng ài

rất cung kính, trong lúc bà ngâm vần kệ cuối cùng:

25. Giờ đây kính bạch Thánh nhân,

Với lòng nhu thuận phục tuân sẵn sàng,

Con nghe được các lời v àng,

Tràn đầy thiện ý, chứa chan nhân từ,

Muôn vàn phước đức Tôn Sư!

Ngài vừa khuyến nhủ, ưu tư trút liền!

Từ đó về sau, vua xứ Kosala chung sống sắt

cầm h òa hợp với hoàng hậu mãi mãi.

*

Khi Pháp thoại này chấm dứt, bậc Ðạo sư nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy, vua xứ Kosala là vị tiên nam, hoàng hậu Mallikà là tiên nữ

và Ta chính là vua Bhallàtiya.

-ooOoo-

505. Chuyện vương tử hoan lạc (Tiền thân Somanassa)

Kìa ai phá hoại hoặc khinh chê..,

Câu chuyện này bậc Ðạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về cách Devadatta

(Ðề-bà- đạt-đa) dự định sát hại Ng ài. Sau

đó bậc Ðạo sư bảo:

- Này các Tỷ-kheo, đây không phải l à

lần đầu ti ên Ðề-ba- đạt-đa

t ìm cách sát hại Ta, mà trước kia cũng đ ã

làm như vậy.

Rồi Ngài kể cho T ăng chúng nghe một câu

chuyện quá khứ.

*

Một thuở nọ, trong quốc độ Câu-lâu (Kuru) v à

kinh thành Uttarapãncàla, có vị vua ngự trị với danh hiệu Renu. Lúc ấy có

một ẩn sĩ khổ hạnh tên là Mahàrakkhita, sống ở vùng Tuyết Sơn cùng hội chúng

n ăm trăm vị tu khổ hạnh khác. Trong lúc xuống v ùng

đồng bằng để xin muối v à gia vị, vị tu

khổ hạnh ấy đến xứ Uttarapanc àla và cư

trú trong ngự viên.

Cùng với hội chúng mình đi khất thực, vị ấy

đến tận cung môn, v à khi vua chiêm ngưỡng các hiền nhân, ngài rất

đẹp l òng về cung cách của các vị, nên

mời ngồi trên bảo tọa lộng lẫy, rồi cúng dường cao lương mỹ vị các vị dùng.

Vua lại mời các vị an cư trong ngự viên suốt mùa mưa. Ngài rước các vị vào

trong vườn ngự, cung cấp đủ nơi chốn để an trú,

c ùng các vật cần dùng cho đời sống tu h ành,

xong rồi từ giã. Sau đó các vị đều ăn uống

trong cung vua. Bấy giờ vua không có con v à

đang ước mong sinh được ho àng nam, song

chẳng có vương tử nào ra đời cho ng ài

cả.

Khi mùa mưa qua rồi, vị ẩn sĩ Mahàrakkhita nói:

- Nay vùng Tuyết Sơn xinh tươi dễ chịu lắm, ta hãy trở về

đó.

Rồi vị ấy tạ từ vua, ngài liền tỏ bày đủ mọi

cách tôn vinh trọng vọng rất h ào phóng

đối với các hiền nhân, xong hội chúng ra đi. Tr ên bước du hành, vào

đúng ngọ, vị ấy rời đường cái c ùng hội

chúng của mình ngồi xuống trên thảm cỏ êm ái dưới bóng cây râm mát.

Các vị khổ hạnh kia bắt đầu đ àm

đạo. Họ nói:

- Nay không có hoàng nam trong cung để nối

nghiệp ho àng gia. Nếu vua có được một

vương tử th ì thật là điều vạn phúc để kế

tục vương nghiệp.

Mahàrakkhita nghe lời hội chúng nói chuyện, liền suy nghĩ: "Vua này có

sinh được ho àng nam hay ch ă ng?".

Rồi vị này nhận xét thấy rằng vua sẽ có một hoàng nam, vội bảo:

- Này các Hiền giả, các bạn đừng lo lắng g ì,

đ êm nay lúc rạng

đông một đấng thi ên tử sẽ giáng trần, và

sẽ nhập mẫu thai của chánh hậu.

Một vị tu khổ hạnh giả danh nghe được chuyện

ấy, nghĩ thầm: "Nay ta muốn trở th ành người tâm phúc của hoàng gia".

Khi đến thời hội chúng khổ hạnh phải l ên

đường, vị ấy liền nằm xuống giả vờ lâm bệnh.

- Mau lên, ta cùng đi.

Hội chúng bảo nhau.

Người kia đáp:

- Ðệ không đi nổi.

Sau đó Hiền giả Mah àrakkhita biết

được tin v ì sao người ấy phải nằm yên

tại chỗ.

- Hễ khi hiền hữu đi được th ì hãy

theo chúng ta ngay. Ngài bảo.

Rồi ngài cùng các hiền nhân kia tiến về Tuyết Sơn.

Bấy giờ kẻ lừa dối ấy liền ra sức chạy thật nhanh

đến đứng tại cửa cung, dâng sớ tâu rằng có một

người t ùy tùng của Hiền giả Mahàrakkhita

đến chầu. Kẻ ấy được vua triệu v ào ngay lập tức và bước lên thượng

lầu ngồi xuống sàn tọa đ ã

được mời. Vua ch ào mừng kẻ ấy rồi ngồi

xuống một bên, hỏi th ăm sức khỏe của chư hiền.

Ng ài bảo:

- Tôn giả trở lại quá sớm. Thế vì nguyên cớ gì Tôn giả vội vàng quay lại

đây?

- Tâu Ðại vương - kẻ ấy đáp - trong lúc chư

hiền đang ngồi thong dong c ùng nhau, hội chúng bắt

đầu nói chuyện nếu đức vua sinh được ho àng

nam để kế nghiệp th ì thật là

điều đại phúc. Khi tiểu thần nghe thế, liền suy

ngẫm xem Ðại vương có sinh được ho àng

nam không, thì nhờ thiên nhãn, thần thấy được

một vị thi ên tử vĩ đại sắp giáng trần v à

vị ấy sẽ nhập vào mẫu thai của chánh hậu Sudhamma. Rồi thần suy nghĩ: "Nếu

họ không biết, họ có thể vô tình phá hoại bào thai ấy, vậy thì ta phải thông

báo cho họ biết". Và thế là vì để tr ình

Ðại vương về tin ấy, nên hạ thần đến đây, tâu

Ðại vương. Nay hạ thần đ ã tâu

trình xong, xin cho hạ thần lên đường.

- Không, không, này hiền hữu, không thể như vậy

được.

Vua vô cùng hơn hỷ đem kẻ lừa gạt kia v ào

ngự viên ban cho ông một nơi an trú. Từ đó về

sau ông sống trong cung vua, được dâng món ngự thiện tại đó v à

được mệnh danh l à Dibbacakkuka hay là

Thiên nhãn Ðạo nhân.

Sau đó, Bồ-tát từ c õi trời Ba mươi ba

giáng trần, nhập mẫu thai của chánh hậu và khi ngài ra

đời, triều thần đặt t ên ngài là

Somanassa Kumara hay là Vương tử Hoan Lạc, rồi ngài

được nuôi nấng theo cung cách của vua chúa.

Bấy giờ vị tu khổ hạnh giả hiệu ở trong góc vươn ngự thường trồng rau

đậu, củ, quả; rồi đem bán cho người trồng rau ở

chợ n ên kiếm được nhiều tiền bạc. Khi

Bồ-tát l ên bảy, ở biên thùy có xảy ra bạo loạn. Vua ra

đi dẹp giặc, giao phó vị tu khổ hạnh

Dibbacakkhuka ấy cho thái tử chăm sóc v à dặn không

được xao nh ãng vị ấy.

Một ngày kia, thái tử đến thăm vị ẩn sĩ. Ng ài

thấy ông mang cả hai chiếc y vàng, buộc chặt thượng y lẫn hạ y, hai tay cầm

hai bình nước tưới cây, ngài nghĩ thầm: "Lão tu hành giả hiệu này lo làm

vườn chứ chẳng lo làm phận sự tu hành". Ngài liền hỏi:

- Ông đang l àm gì thế, này kẻ làm

vườn phàm tục kia?

Ngài làm nhục ông như vậy và bỏ về chẳng chào hỏi gì ông cả. Ông suy

nghĩ: "Nay ta đ ã khiến thằng bé này

thành kẻ thù của ta rồi, ai biết được nó sẽ l àm

gì cơ chứ? Ta phải tiêu diệt nó ngay lập tức".

Vào lúc vua sắp hồi cung, ông ta ném chiếc trường kỷ bằng

đá sang một b ên,

đập bể vụn b ình bát, rải cỏ rác khắp am

thất, lấy dầu bôi khắp người, rồi vào am nằm trên nệm rơi kia, trùm kín mít

từ đầu đến chân, l àm ra vẻ

đau đớn lắm.

Vua đ ã hồi loan, xa giá diễu quanh

kinh thành theo hướng bên hữu, song trước khi vào nội cung, ngài

đến thăm vị thần hữu Dibbacakkhuka ấy. Vừa đứng

b ên cửa am, ngài đ ã thấy cảnh bừa

bãi kia, liền bước vào mà không biết việc gì xảy ra. Còn kẻ

đó đang nằm dưới đất. Vua xoa bóp chân ông v à

ngâm vần kệ đầu:

1. Kìa ai phá hoại hoặc khinh chê?

Sao khổ buồn, ngài quá ủ ê?

Thương khóc mẹ cha ai đó vậy?

Ðất này ai lại xuống nằm lê?

Nghe lời này, kẻ bịp bợm kia liền vùng dậy rên rỉ,

đáp vần kệ thứ hai:

2. Hân hoan thần bái kiến long nhan,

Xa cách từ lâu, tấu Ðại vương!

Thái tử vừa đi thăm l ão

đó,

Chẳng ai khiêu khích, lại làm càn!

Các vần kệ sau đây theo mạch lạc r õ

ràng, được sắp đặt đúng với diễn biến của câu

chuyện:

3. Ô kìa, đao phủ, h ãy xem nào!

Thị giả, đưa trường kiếm lại mau!

Giết chết So-ma, hoàng thái tử!

Ðem đầu cao quý đến đây giao!

4. Sứ giả nhà vua bước vội vàng,

Ðến cung hoàng tử, họ kêu ran:

"Phụ vương đ ã bỏ hoàng nam

đó!

Ðiện hạ ôi, ngài phải chết oan!".

5. Hoàng tử đứng kia cũng khóc than,

Vòng đôi tay lại, khẩn cầu ân:

"Xin tha mạng trẻ trong giây lát,

Ðem trẻ đi nh ìn mặt phụ vương?"

6. Nghe lời thỉnh nguyện tự nơi chàng,

Họ dẫn hoàng nhi đến phụ ho àng,

Hoàng tử từ xa nhìn đại đế,

Chàng liền tâu vậy với nghiêm đường:

7. "Quân sĩ cứ mang kiếm chém đầu,

Song nghe con trẻ trước, muôn tâu,

Xin cho con rõ, tâu Hoàng thượng,

Con đ ã làm nên tội lỗi nào?".

Vua cha đáp:

- Hoàng triều đang suy sụp đi êu tàn:

tội của con làm trọng đại lắm.

Rồi vua giải thích qua vần kệ:

8. Sáng chiều kéo nước, bậc hiền nhân

Ngọn lửa ch ăm nom, chẳng chút ngừng,

Hãy trả lời ta, sao lại dám

Gọi ngài thánh thiện kẻ phàm trần?

Vương tử đáp:

- Tâu Chúa thượng, nếu thần nhi gọi một kẻ phàm tục là một kẻ phàm tục

thì có hại gì đâu?

Rồi chàng ngâm kệ:

9. Lão có nhiều cây với trái đầy,

Phụ vương xem đủ sắn khoai n ày

Ch ăm nom chúng, l ão không ngừng nghỉ,

Lão chính phàm nhân, trẻ nói ngay.

Hoàng tử nói tiếp:

- Và đó l à lý do con gọi lão là người

phàm tục. Nếu phụ vương không tin con, xin cứ hỏi th ăm

những người trồng rau ở bốn cổng th ành thì rõ.

Vua cha truyền đi điều tra việc ấy. Dân

chúng đáp:

- Thưa vâng, chúng thần đ ã mua của vị

ấy đủ loại rau quả.

Khi vua khám phá ra việc buôn bán rau quả này, ngài công bố cho mọi người

biết. Gia nhân của hoàng tử vào am lão và lục soát

được một bó đồng tiền v à

đồng xu nhỏ, l à số tiền bán rau quả kia,

họ liền trình vua.

Lúc ấy, vua biết bậc Ðạo sĩ vô tội, liền ngâm kệ:

10. Ðúng là lão có thật nhiều cây

Với các loại rau, củ trái đầy,

Ch ăm sóc trông nom không chút nghỉ,

Phàm nhân, quả đúng trẻ tâu b ày.

Sau đó, bậc Ðại sĩ suy nghĩ: "Trong

khi có một kẻ ngu si ám động như thế n ày

ở hoàng cung, thì thượng sách là đi v ào

vùng Tuyết Sơn và sống đời tu tập. Vậy trước ti ên

ta công bố tội trạng lão với quần chúng tại

đây, sau đó, ngay hôm nay, ta xuất gia th ành ẩn sĩ".

Thế là ngài cúi chào hội chúng và nói lớn:

11. Này nghe ta nói, hỡi toàn dân,

Dân chúng thị thành lẫn dã nhân,

Chúa thượng nghe lời người xuẩn ngốc,

Khiến người vô tội phải vong thân.

Nói xong, ngài xin phép thực hiện ước nguyền trên qua vần kệ tiếp theo:

12. Phụ vương, cây tỏa rộng hùng cường,

Nhành trẻ, con sinh tự phụ vương,

Con cúi mình đây xin phép được

Giã từ thế tục để l ên

đường.

Các vần kệ sau đây thuật lại cuộc tr ò

chuyện giữa vua cha và vương tử:

Phụ vương:

13. Vương nhi, hưởng phú quý huy hoàng,

Ngự trị Câu-lâu chiếc bệ vàng,

Ðừng bỏ thế gian, gây khổ não

Cho mình, hãy nhận lễ đăng quang!

Vương tử:

14. Trần thế này đem lạc thú n ào?

Khi xưa con đ ã ở trời cao,

Sắc, thanh, hương, vị và xúc cảm,

Lòng vẫn thường yêu chuộng biết bao!

15. Con từ bỏ hết nghiệp duyên xưa

Thiên lạc cùng thiên nữ ngọc ngà,

Với phụ vương là vua yếu kém,

Con không muốn ở nữa bây giờ.

Phụ vương:

16. Nếu cha kém trí, hỡi hoàng nam,

Tha thứ cha nay việc đ ã làm,

Giả sử cha còn làm việc ấy,

Cha tùy con định, chẳng k êu than.

Sau đó bậc Ðại sĩ ngâm tám vần kệ

khuyến giáo vua cha:

17. Hành động không suy nghĩ trước sau,

Hoặc làm không cân nhắc dài lâu,

Cũng như sử dụng lầm phương thuốc,

Hậu quả ắt là phải khổ đau.

18. Hành động n ào suy tính thật lâu,

Khôn ngoan thận trọng tiếp theo sau,

Giống như vị thuốc nhiều công hiệu,

Kết quả tất nhiên phải nhiệm mầu.

19. Con chán ghét người ở thế gian

Buông lung phóng dật, dục tham tràn,

Người tu khổ hạnh hư danh đó

Là kẻ dối gian lộ rõ ràng.

Một vị hôn quân thường xử án

Chẳng hề nghe lý lẽ phân trần;

Chẳng bao giờ gọi là chân chánh

Cơn giận bùng lên ở trí nhân.

20. Một vị vua xem xét kỹ càng

Rồi ban lời phán xử công bằng,

Khi vua cân nhắc lời phân xử,

Danh tiếng đời đời m ãi vọng vang.

21. Những hình phạt Chúa thượng truyền ban

Phải được đắn đo thật kỹ c àng

Những việc làm trong lúc vội vã

Sẽ gây hối hận lúc thư nhàn.

Nếu lòng phát nguyện nhiều điều tốt,

Sau chẳng đau buồn hối tiếc mang.

22. Những người có việc phải thi hành,

Muốn chẳng gây ân hận với mình

Thường đắn đo bao điều thận trọng,

Tạo nên thiện nghiệp thật an lành,

Làm công đức thỏa l òng hiền thánh,

Ðược tán tụng từ bậc trí minh.

23. Cha thét: "Kìa đao phủ, h ãy mau!

Ði tìm vương tử của ta nào,

Nơi đâu bây kiếm, liền đem giết!"

Lúc trẻ ngồi bên mẹ dựa đầu,

Bọn chúng tìm ra con trẻ đó,

Rồi lôi đi thật bạo t àn sao?

24. Trẻ thơ non nớt, xử như vầy,

Con thấy chúng tàn nhẫn quá tay,

Nay thoát cảnh đ ày thân

độc ác,

Con rời thế, chẳng sống nơi đây.

Khi bậc Ðại sĩ đ ã thuyết giáo như vậy

xong, vua phán bảo hoàng hậu:

25. Vậy vương nhi đó, Su-dham-ma,

Vừa thốt lời từ chối lệnh ta,

Quí tử So-ma bao khả ái;

Vì ta không mãn nguyện bây giờ,

Ðích thân hoàng hậu nên xem thử

Có chuyển lay lòng trí trẻ thơ.

Song hoàng hậu thúc giục vương tử rời bỏ thế tục:

26. Hãy vui đời Thánh hạnh, ho àng

nam,

Tuân thủ chánh chân, bỏ cõi phàm,

Ai giữa quần sinh không độc ác

Sẽ lên thiên giới, chẳng sai lầm.

Vua ngâm kệ tiếp theo:

27. Chuyện lạ này nghe tự ái khanh,

Sầu đang chất ngất ở trong m ình,

Bảo nàng khuyên nhủ con dừng lại,

Nàng chỉ giục con phải bước nhanh.

Hoàng hậu lại ngâm kệ nữa:

28. Có hạng người không đắm dục tham,

Thoát sầu bi, sống chẳng sai lầm,

Nhiều người đắc Niết-b àn cao thượng:

Ví thử hoàng nhi muốn dự phần

Cùng tiến lên con đường Thánh hạnh,

Thì hoài công cản bước hoàng nam.

Vua ngâm vần kệ cuối cùng để đáp lời:

29. Quả thật là chân chánh thiện tâm,

Tôn sùng bậc trí tuệ cao thâm

Tâm tư siêu việt thường sinh khởi,

Ái hậu từng nghe các diệu âm,

Thông hiểu kiến v ăn nhiều bậc Thánh,

Nên không còn khổ não, tham lam.

Sau đó, bậc Ðại sĩ

đảnh lễ song thân, xin hai vị tha thứ cho ng ài

nếu có lỗi lầm gì, rồi vào cung kính vái chào toàn thể hội chúng, ngài quay

mặt về hướng Tuyết Sơn. Khi dân chúng đ ã

về, ngài cùng với các Thiên thần vừa đến đó giả

dạng người trần, vượt băng qua bảy ngọn đồi cao l ên tận Tuyết Sơn.

Trong chiếc am tranh do vị Thiên thần Vissakamma giáng thế xây dựng cho

ngài, ngài sống đời tu h ành, tại

đó ng ài

được các Thi ên thần ấy giả dạng làm tùy tùng của vị hoàng tử, hầu hạ

ngài đến năm l ên mười sáu tuổi. Còn kẻ

tu hành lừa bịp kia bị dân chúng bao vây đánh

chết.

Về sau, bậc Ðại sĩ tu tập làm phát khởi n ăng

lực Thiền định, v à được sinh l ên

cõi Phạm thiên.

*

Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo sư bảo:

- Này các Tỷ-kheo, như vậy ngày xưa cũng như bây giờ, kẻ ấy

đ ã dự mưu sát hại Ta.

Và Ngài nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy Devadatta (Ðề-bà- đạt-đa) l à

kẻ lừa đảo, mẫu hậu May à là vương hậu

kia, Sàriputta (Xá-lợi-phất) là Hiền giả Rakkhita và Ta chính là vương tử

Somanassa

-ooOoo-

506. Chuyện long vương Campeyya (Tiền thân Campeyya)

Ai đó như tia chớp sáng bừng..,

Câu chuyện này bậc Ðạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về các hạnh nguyện

ngày trai giới. Bậc Ðạo sư bảo:

- Lành thay, này các thiện nam tử, các ông đ ã

phát nguyện giữ trai giới. Nhưng bậc trí xưa kia cũng

đ ã từ bỏ ngay cả vinh quang của một Long

vương và sống theo các giới hạnh này.

Sau đó theo lời thỉnh cầu của hội chúng, Ng ài

kể một chuyện quá khứ.

*

Một thuở nọ, khi vua Anga (Ưng-già) trị vì ở quốc

độ Anga (Ưng-gi à) mà vua Ma-kiệt- đ à

trị vì ở xứ Magadha (Ma-kiệt- đ à); giữa

hai quốc độ Ưng-gi à và Ma-kiệt- đ à

là con sông Campà (Chiêm-bà), nơi có loài Rồng rắn (Nàga) sinh sống,

được chúa Rồng Campeyya cầm quyền thống l ãnh.

Ðôi khi vua Ma-kiệt- đ à chiếm nước

Ưng-già và có khi vua Ưng-già chiếm Ma-kiệt- đ à.

Một ngày kia, vua Ma-kiệt- đ à, sau khi

lâm chiến với Ưng-già và thất bại, liền leo lên chiến mã

đ ào tẩu, và bị quân sĩ Ưng-già

đuổi theo gấp. Khi vua đến sông Camp à

lại đang m ùa lũ lụt, nhưng vua nói:

- Thà chết chìm trong dòng sông này hơn là chết trong tay kẻ thù của ta!

Rồi cả người và ngựa đều nh ào xuống

dòng sông ấy.

Thời bấy giờ Long vương đ ã xây dựng

cho mình ở dưới nước một ngôi nhà thủy tạ bằng châu ngọc, ngay lúc ấy

đang ở giữa triều đ ãi tiệc say sưa.

Nhưng vua trên kia cùng chiến mã nhảy xuống sông ngay chính trước mặt chúa

Rồng. Rồng chúa ngắm vị vua lộng lẫy cao sang này, sinh lòng yêu mến, liền

đứng l ên từ bảo tọa, Rồng chúa mời vua

ngự lên chính ngai vàng của mình, bảo vua đừng

sợ g ì cả, rồi hỏi tại sao vua lại nhảy xuống sông. Vua kể hết mọi sự

xảy ra cho Rồng chúa nghe. Rồng chúa liền bảo:

- Tâu Ðại vương, đừng sợ g ì cả! Trẫm

sẽ làm cho Ðại vương trở thành bá chủ hai vương quốc ấy.

Rồng chúa an ủi vua như vậy và suốt bảy ngày liền tiếp

đ ãi vua vô cùng trọng thể. Vào ngày thứ

bảy, chúa Rồng cùng vua Ma-kiệt- đ à rời

Long cung. Sau đó nhờ thần lực của Long vương,

vua Ma-kiệt-đ à chiếm lấy quốc độ Ưng-gi à,

giết vua Ưng-già rồi thống trị cả hai lãnh thổ ấy. Từ

đó trở đi, có mối giao hảo mật thiết giữa vua v à

Rồng chúa.

Dần dần vua truyền lệnh xây một ngôi đ ình

bằng châu báu trên bờ sông Campà, triều cống Rồng chúa

đủ lễ vật rất cao sang. Rồng chúa c ùng

đám t ùy tùng

đông đảo xuất hiện từ Long cung l ên tiếp

nhận lễ triều cống và mọi người được dịp chi êm

ngưỡng cảnh vinh quang của Rồng chúa.

Thời ấy, Bồ-tát sinh trưởng trong một gia đ ình

nghèo khó, ngài thường đi c ùng

đám thần dân ấy đến bờ sông. Tại đó khi trông

thấy cảnh vinh quang của Rồng chúa, ng ài sinh lòng thèm muốn và ngài

chết đi trong nỗi khát vọng n ày. Rồi bảy

ngày sau khi Rồng chúa Campeyya ấy từ trần, phần Bồ-tát vì suốt một

đời đ ã sống

đầy đức hạnh v à chuyên bố thí, nên được

tái sinh v ào cung điện của Rồng chúa ấy

tr ên long sàng kia, thân thể ngài như một chuỗi vũ quý hoa (hoa lài)

vĩ đại.

Khi thấy vậy, lòng ngài tràn ngập niềm hối hận. Ngài bảo: "Ta

đ ã có quyền lực

để d ành trên sáu cảnh trời dục giới là

do kết quả các thiện nghiệp của ta, như hạt thóc tích trữ trong vựa. Song

nay hãy xem đây, ta lại sinh l àm thân

rồng rắn, vậy ta còn thiết gì đời sống nữa?" V à

vì thế ngài có ý định kết liễu cuộc đời m ình.

Nhưng có một Long nữ tên là Sumanà, trông thấy ngài liền báo tin cho cả loài

biết:

- Vị này ắt hẳn là Ðế Thích Thiên chủ đầy uy

lực vừa ra đời tại đây với chúng ta!

Sau đó, Long chúng c ùng

đi đến dâng lễ vật cho ng ài với

đủ loại đ àn ca múa hát. Long cung của

ngài chẳng khác nào cung của Thiên chủ, nên ngài không còn nghĩ

đến chuyện chết nữa, ng ài trút bỏ hình

tướng Rồng và ngự lên bảo tọa, lộng lẫy xiêm y cùng ngọc vàng trang

điểm. Từ đó về sau, cảnh vinh quang của ng ài

thật vĩ đại, ng ài thấy hối tiếc

ăn năn thầm nghĩ: "Ta c òn ham thích gì

cái thân rồng rắn này nữa? Ta muốn sống theo các hạnh nguyện trai giới, ta

muốn thoát thân khỏi nơi này, ta sẽ ra đi đến

giữa lo ài người, học hỏi các chân lý và chấm dứt khổ

đau".

Nhưng sau đó ng ài vẫn ở lại trong

cung điện ấy, v à thành tựu các hạnh

nguyện trai giới, rồi khi các Long nữ trang

điểm rực rỡ đến vây quanh ng ài, ngài lại thường vi phạm giới

đức. Về sau, ng ài rời bỏ cung

điện đi v ào ngự viên, nhưng bọn chúng

theo ngài đến đó, v à hạnh nguyện của

ngài cũng bị phá bỏ như trước kia. Ngài liền suy nghĩ: "Ta phải rời cung

này, đi v ào thế giới loài người, và tại

đó, ta phải sống theo đúng hạnh nguyện của trai

giới".

Vì thế vào ngày trai giới, ngài rời cung

điện ra đi, v ào nằm trên nóc tổ kiến cạnh

đường cái, không xa một thôn l àng biên

địa. Ng ài nói:

- Ai muốn lấy da thịt ta, thì cứ lấy, hoặc có ai muốn bắt ta làm trò con

rồng nhảy múa thì cứ bắt ta đi.

Như vậy ngài đ ã chịu xả thân ra bố

thí, nên vừa thu gọn chiếc mồng lại, ngài vừa nằm

đó h ành trì hạnh nguyện trai giới.

Nhiều người qua lại trên đường cái trông

thấy ng ài, liền cúng dường ngài đủ hương

hoa thơm ngát. V à dân chúng trong thôn làng biên

địa kia xem ng ài là Rồng chúa

đại oai lực, n ên dựng một ngôi

đ ình trên chỗ ngài nằm, rải cát trước

đó v à cúng dường chiêm bái

đủ thứ hương liệu, nước hoa.

Bấy giờ, dân chúng bắt đầu cầu tự nhờ ng ài

giúp sức, nên có lòng tín ngưỡng bậc Ðại sĩ và sùng kính tôn thờ ngài. Tại

đó bậc Ðại sĩ giữ hạnh nguyện vào các

ngày mười bốn, rằm giữa tháng, an tọa trên tổ kiến, rồi

đến ng ày mồng một âm lịch, ngài lại về

long cung, và cứ như vậy ngài giữ tròn hạnh nguyện theo thời gian.

Một hôm vương phi Sumanà thưa với ngài:

- Tâu Chúa thượng, ngài ra đi đến c õi

nhân gian để giữ hạnh nguyện trai giới, song

nhân thế đầy nguy hiểm kinh ho àng. Giả sử có mối nguy cơ nào xảy ra

cho Chúa thượng, thì nay ngài hãy bảo cho thần thiếp biết nhờ dấu hiệu gì

để nhận ra việc ấy.

Sau đó ng ài dẫn vương phi

đến b ên một hồ nước an toàn và bảo:

- Nếu có ai đánh ta hay l àm ta bị

thương, thì nước hồ sẽ vẩn đục l ên. Còn

nếu có con chim đại b àng nào tha ta

đi, th ì nước hồ sẽ biến mất, nếu có kẻ

bỏ bùa bắt rắn nào tóm được ta th ì hồ sẽ

đổi th ành màu máu.

Sau khi giải thích ba dấu hiệu này cho vương phi, ngài rời cung

điện ra đi, giữ hạnh nguyện trai giới trong ng ày

mười bốn, đến nằm tr ên tổ kiến, ánh sáng

trên thân ngài tỏa rực rỡ khắp chỗ đó. To àn

thân ngài trắng ngần, như một cuộn dây toàn bạc,

đầu ng ài như một cuộn len

đỏ. Trong Tiền thân n ày, thân thể Bồ-tát

to bằng cái đầu lưỡi c ày, còn trong Tiền

thân Bhuridatta (số 543, tập VII) ngài lớn bằng bắp

đ ùi, và trong Tiền thân Sankhapàla (số

524, tập VI) thân ngài tròn trịa như chiếc xuồng dài có móc chèo.

Thời ấy có một thanh niên Bà-la-môn ở Ba-la-nại

đến Takkasil à học tập dưới sự dạy bảo

của một vị giáo sĩ lừng danh thế giới, nhờ vị này chàng ta học

được b ùa chú sai khiến mọi loài hữu

tình. Khi về nhà theo đường cái ấy, ch àng

chẳng thấy gì ngoài bậc Ðạo sĩ. Chàng suy nghĩ: "Ta sẽ bắt con Rồng này và

sẽ du hành khắp thôn làng thị trấn, kinh thành, bắt nó nhảy múa và tha hồ

kiếm lợi lớn".

Sau đó ch àng lấy thứ cỏ thuốc linh

dược, đọc thần chú v à

đến gần Rồng chúa. Vừa nghe tiếng niệm chú n ày,

tức thì bậc Ðại sĩ cảm thấy hai lỗ tai như bị củi

đốt cháy đâm thủng, đầu ng ài như thể vỡ

ra vì bị kiếm đâm v ào. Ngài suy nghĩ:

"Ta gặp chuyện gì đây?". Rồi ló đầu ra khỏi

chiếc mồng, ng ài trông thấy người bỏ bùa bắt rắn ấy. Ngài liền suy

nghĩ: "Nọc độc của ta cực kỳ m ãnh liệt,

nếu ta nổi giận và phì hơi độc từ lỗ mũi ra th ì

thân nó sẽ tan nát ra như một nắm trấu vậy, và thế là công

đức của ta sẽ bị ti êu diệt hết, nên ta

không muốn nhìn nó". Ngài vừa nhắm mắt lại vừa thụt

đầu v ào trong chiếc mồng.

Người Bà-la-môn bỏ bùa rắn kia nhai một cây cỏ thuốc, niệm chú rồi nhỏ

lên mình ngài: nhờ công hiệu cỏ thuốc và bùa chú nên nơi nào có nước miếng

của người đó dính v ào thì các mụn mủ nổi

lên. Sau đó ch àng ta nắm lấy

được ng ài ra. Chàng ta lấy chiếc gậy

hình chân dê thúc ép ngài cho đến lúc ng ài

yếu sức, rồi nắm chặt phần đầu ng ài mà

chà xuống. Bậc Ðại sĩ há mồm ra, chàng nhỏ nước miếng vào, nhờ công hiệu cỏ

thuốc và bùa chú, r ăng ng ài gãy tan hết,

chiếc mồm đầy cả máu. Song bậc Ðại sĩ sợ

phải phá hủy công đức của ng ài, nên ngài

chịu mọi khổ hình này và không hề mở mắt ra đủ

để liếc nh ìn gã.

Sau đó ch àng nói:

- Ta sẽ làm Rồng chúa này yếu đi!

Chàng ép chặt thân Rồng chúa từ đầu chí đuôi

như thể ch àng muốn chà nát xương ngài thành bột! Rồi chàng gói ngài

trong thứ thường được gọi l à mảnh vải

cuộn, thắt thêm một vật gọi là dây thừng rồi nắm

đuôi ng ài và

đấm đá. Thân thể của bậc Ðại sĩ bê bết

máu, và ngài đau đớn vô c ùng. Khi thấy

chúa Rồng này đ ã yếu sức, chàng làm cái

thúng bằng cây liễu gai để đặt Rồng chúa v ào.

Sau đó ch àng

đem ng ài vào làng xóm, bắt ngài làm trò

cho dân chúng. Dù phải hóa thành màu xanh, đen

hay m àu gì khác nữa, biến ra hình tròn vuông lớn nhỏ ra sao, hễ chàng

Bà-la-môn muốn gì , bậc Ðại sĩ đều l àm

cả, vừa nhảy múa, giương mồng quay tít thành thiên hình vạn trạng. Dân chúng

quá thích thú nên cho thật nhiều tiền. Trong một ngày chàng

đ ã kiếm

được cả ng àn đồng ru-pi v à nhiều

trò đáng giá cả ng àn

đồng khác nữa.

Lúc đầu ch àng dự

định thả ng ài ra khi

đ ã kiếm

được một ng àn đồng, nhưng khi được rồi,

ch àng lại nghĩ: "Trong một làng biên địa

m à ta đ ã kiếm

được chừng n ày, nếu gặp vua quan thì ta

còn mong được biết bao nhi êu của cải

nữa".

Thế là chàng mua một chiếc xe bò và một chiếc xe du ngoạn, trong xe bò,

chàng chất đầy h àng hóa, còn chàng ngồi

xe kia. Như vậy cùng với một đo àn tùy

tùng hầu cận, chàng đi qua thôn l àng thị

trấn, bắt bậc Ðại sĩ làm trò, và tiếp tục du hành với ý

định tr ình diện ngài trước vua Uggasena

ở Ba-la-nại rồi mới thả ngài đi.

Chàng ta thường giết ếch nhái và đem cho

Rồng chúa nhưng Rồng từ chối mỗi khi ch àng ta

đưa vậy, để không một sinh vật n ào bị

chàng ta giết vì ngài nữa. Sau đó ch àng

ta đem mật v à bắp rang cho ngài. Nhưng

ngài cũng không chịu ăn, v ì ngài nghĩ:

"Nếu ta ăn g ì thì ta sẽ ở trong giỏ này

cho đến chết".

Suốt một tháng, người Bà-la-môn đến ở

Ba-la-nại. Tại đó ch àng kiếm được nhiều

tiền nhờ bảo Rồng chúa diễn tr ò trong các thôn làng ngoài cổng thành.

Vua cho triệu chàng vào và ra lệnh diễn trò. Chàng hứa sẽ làm vào ngày hôm

sau, là ngày cuối trong mỗi nửa tháng. Sau đó

vua bảo đánh trống khắp kinh th ành, bố cáo ngày mai sẽ có một Rồng

chúa nhảy múa trong sân chầu, vậy dân chúng

được phép tụ tập để xem thật đông. Hôm sau sân chầu được trang ho àng,

và người Bà-la-môn được triệu v ào. Chàng

mang bậc Ðại sĩ trong cái thúng và có dát ngọc vàng, trên một tấm thảm rực

rỡ, chàng đặt thúng xuống v à vua an tọa

trên ngai vàng giữa thần dân chật ních vây quanh.

Người Bà-la-môn bắt bậc Ðại sĩ ra và bảo nhảy múa. Dân chúng không thể

nào ngồi yên được: h àng ngàn chiếc kh ăn

quăng tung vẫy giữa không gian; bảy loại châu báu rớt xuống như mưa quanh

Bồ-tát.

Từ khi Long vương bị bắt đến nay đ ã

một tháng tròn và suốt thời gian ấy ngài chẳng

ăn uống g ì cả. Bây giờ vương phi Sumanà bắt

đầu suy nghĩ: "Phu quân y êu quý của ta

đ ã ở nán lại trên

đó lâu rồi. Cả tháng n ày ngài chưa trở

về chắc có việc gì ch ăng?

Vì thế nàng bước ra xem mặt nước hồ: Kìa, nước

đỏ như máu! Thế l à nàng biết chắc hẳn

ngài đ ã bị hành hạ, và nàng khóc than.

Sau đó n àng vào ngôi làng biên

địa kia để hỏi thăm v à khi biết hết mọi

sự, nàng đi thẳng đến Ba-la-nại v à ngay

giữa quần chúng trên khoảng không của chính sân chầu, nàng cứ

đứng than khóc m ãi.

Trong lúc bậc Ðại sĩ nhảy múa, ngài chợt nhìn lên không và thấy nàng,

ngài hổ thẹn, bò ngay vào thúng nằm yên. Khi ngài bò vào thúng, vua kêu lớn:

- Sao có gì thế này?

Nhìn quanh quẩn đâu đó, ng ài thấy

Long nữ đứng ở tr ên không liền ngâm vần

kệ:

1. Ai đó như tia chớp sáng bừng,

Hay vầng tinh tú tỏa hào quang,

Tu-la thần nữ hay Thiên nữ?

Ta chắc nàng không phải thế nhân?

Sau đây câu chuyện giữa hai vị qua các vần

kệ:

Long nữ:

2. Chẳng là Thiên nữ, Tu-la thần,

Cũng chẳng loài người, tấu Ðại quân,

Tiện thiếp chính là Long nữ đó,

Ðến đây v ì có việc cầu ân.

Ðức vua:

3. Nàng tỏ ra hờn giận, bất bằng,

Mắt nàng mưa lệ cứ tuôn tràn,

Việc gì, ước vọng nào đưa đến,

Hãy nói, ta mong biết, hỡi nàng!

Long nữ:

4. Rắn rồng bò, tựa lửa hung h ăng!

Chúng vẫn gọi ngài thế, bỗng dưng

Gã bắt ngài đi v ì hám lợi,

Thiếp cầu Chúa thượng thả Long quân!

Ðức vua:

5. Vì sao kẻ ốm đói như vầy

Bắt được Rồng kia m ãnh lực

đầy?

Long nữ, xin nàng cho trẫm biết,

Làm sao đánh giá đúng Rồng n ày?

Long nữ:

6. Thần lực ngài, ngay cả thị thành,

Ngài thiêu ra đống bụi tan t ành,

Song ngài yêu chuộng đường thanh tịnh,

Khổ hạnh đi t ìm lại chính danh.

Sau đó vua hỏi bằng cách n ào chàng

kia bắt được ng ài, nàng

đáp qua vần kệ sau:

7. Vào ngày trai giới, đấng Long vương

Bốn pháp hành trì hạnh Thánh nhân,

Gã múa rối kia tìm bắt được,

Xin ngài vì thiếp, cứu lang quân!

Sau những lời trên, nàng lại ngâm hai vần kệ khác xin giải thoát cho

ngài:

8. Mười sáu ngàn kìa đám nữ nhân,

Rỡ ràng vòng ngọc với kim ngân,

Dưới dòng nước đ ã tôn Rồng thánh

Là chúa tể cho chúng ẩn thân.

9. Ðại vương, mong rộng lượng, công bằng,

Xin chuộc Long vương được thoát thân

Bằng một làng, tr ăm b ò cái chẵn,

Thêm vàng, đem phước báo Quân vương.

Ðức vua liền ngâm tiếp ba vần kệ:

10. Này xem ta chánh đáng, h ào hoa,

Ta chuộc cho Rồng chúa được tha

Bằng một làng, tr ăm b ò cái chẵn,

Thêm vàng, đem phước báo cho ta!

11. Rồi trẫm tặng chàng vòng ngọc tai,

Với vàng tr ăm lượng chẳng hề sai,

Tọa sàng xinh đẹp như hoa gấm,

Gối nệm nằm chen bốn dãy dài.

12. Bò đực, c ùng bò cái một tr ăm,

Và hai người vợ cũng chung dòng,

Xin tha Rồng chúa đầy thanh tịnh,

Việc ấy sẽ đem lắm phước phần.

Nghe vậy, người bắt rắn đáp lời:

13. Thần không cầu thưởng, tấu Anh quân,

Mà để chúa Rồng được thoát thân,

Như vậy, nay thần xin giải phóng:

Việc này sẽ tạo lắm hồng ân.

Sau lời này, chàng ta đem bậc Ðại sĩ

ra khỏi thúng. Long vương từ từ bò ra, tiến vào trong một cái hoa, tại

đó ng ài trút bỏ xác cũ và hiện hình một

nam tử phục sức cực kỳ lộng lẫy: Ngài đứng sừng

sững, chẳng khác n ào ngài vừa rẽ mặt đất

ra v à bước lên. Còn nàng Long nữ Sumanà từ trên trời giáng xuống

đứng cạnh ng ài. Vị Rồng chúa

đứng chấp tay tỏ vẻ tôn trọng vua lắm.

Ðể giải thích việc này, bậc Ðạo sư ngâm hai vần kệ:

14. Tự do, Rồng chúa xứ Cam-pa

Liền nói như vầy với đức vua:

"Chúa tể Kà-si nuôi quốc độ!

Cầu ngài vinh hiển tự bây giờ

Thần xin đảnh lễ ng ài cung kính,

Trước lúc trở về viếng cố gia!".

Ðức vua:

15. Ðời thường nói các đấng si êu

phàm

Khó được l òng tin ở thế gian

Ví thử chúa Rồng nay nói thật:

Long cung đâu? H ãy chỉ ngay

đ àng!

Nhưng bậc Ðại sĩ muốn vua tin tưởng, liền thề nguyền như sau qua hai vần

kệ:

16. Dù gió thổi tung cả núi đồi,

Mặt trời, tr ăng rớt khỏi bầu trời,

Suối sông, xoáy ngược dòng đang cháy,

Chúa thượng, thần không thể dối lời!

17. Ví trời nứt nẻ, hải dương khô,

Ðất mẹ bao la vỡ vụn ra,

Dù núi Tu-di rung bật gốc,

Ðại vương, thần chẳng dối bao giờ!

Dù có lời cam đoan như vậy, vua vẫn chưa tin

bậc Ðại sĩ và bảo:

18. Ðời thường nói các đấng si êu

phàm

Khó được l òng tin ở thế gian,

Ví thử chúa Rồng nay nói thật,

Long cung đâu, h ãy chỉ ngay

đ àng!

Một lần nữa vua ngâm vần kệ trên và thêm:

- Ngài phải biết ơn ta về các hành động tốt

ta đ ã làm cho ngài đấy. Tuy nhi ên

ta có tin ngài chân chánh hay không, thì việc ấy tùy ta

định đoạt.

Vua nói rõ điều n ày qua vần kệ:

19. Ngài đầy nọc độc, đủ quyền năng,

Chiếu sáng rực trời, chóng nổi sân,

Ngài bị giam, nhờ ta giải thoát,

Quyền ta là phải được tri ân!

Bậc Ðại sĩ liền thề nguyền như vầy để vua

tin tưởng:

20. Kẻ nào không muốn đáp ân t ình,

Sẽ chẳng làm sao hưởng phước lành,

Kẻ đó bỏ m ình trong rọ nhốt!

Chịu thiêu trong ngục tối hồn kinh!

Bấy giờ vua mới tin ngài và cảm ơn ngài như vầy:

21. Ngài nguyện lời kia quả thật chân,

Giận hờn tan biến, tránh thù hằn:

Như ta tránh lửa trong mùa hạ,

Mong Ðiểu vương xa lành chúa Rồng!

Phần ngài, bậc Ðại sĩ cũng ngâm kệ nữa để

cảm tạ vua:

22. Như mẹ hiền kia muốn bố ân

Cho con độc nhất quý vô ngần,

Ðại vương nhân ái cùng rồng rắn,

Xin phụng sự vua, mỗi chúng thần.

Bấy giờ vua ước ao đi viếng cảnh giới lo ài

Rồng, nên truyền lệnh cho quân sĩ chuẩn bị sẵn sàng lên

đường qua vần kệ:

23. Ðoàn vương xa, hãy thắng yên cương,

Ðứng sẵn bầy la khéo luyện thuần,

Vương tượng cân đai v àng chói lọi,

Ta cùng đi viếng xứ Long vương.

Sau đây l à vần kệ phát xuất từ trí

tuệ Tối thắng của đức Phật:

24. Trống con, trống lớn, đánh th ì

thùng,

Chũm chọe, tù và thổi dậy rân,

Kìa ngắm Ug-ga vương ngự đến

Huy hoàng hiện giữa đám cung tần.

Vào lúc vua rời kinh thành, bậc Ðại sĩ dùng thần lực khiến cảnh giới Long

vương xuất hiện với một bức tường thành bao quanh làm bằng bảy loại châu

báu, cùng các tháp canh tại cổng thành, ngài hóa phép cho các con

đường dẫn đến Long cung đều được trang ho àng

rực rỡ. Theo đường n ày, vua cùng

đám t ùy tùng bước vào cung và trông thấy

một khung cảnh đầy kỳ thú với nhiều lâu đ ài

nguy nga lộng lẫy cao sang.

Ðể giải thích việc này, bậc Ðạo sư ngâm kệ:

25. Chúa tể Kà-si thấy đất bằng

Nơi nơi rải khắp cát như vàng,

Hoa san hô đẹp trồng quanh chốn,

Ðỉnh tháp bằng vàng ở tứ phương.

26. Sau đó, Ðại vương lại

đặt chân

Ngự vào đại sảnh của Long thần

Tựa thiên lôi chủy đồng lóe sáng,

Hay cả vầng hồng tỏa ánh quang.

27. Vào đến Cam-pey đại sảnh đường,

Vừa dời gót ngọc, đấng Quân vương:

Ngàn cây đổ bóng che im mát,

Không khí ngàn mùi tỏa diệu hương.

28. Bên trong cung điện chúa Cam-pey,

Ðại đế vừa khi ngự đến đây,

Ðàn trổi khúc thần tiên tuyệt diệu,

Yêu kiều Long nữ múa như bay!

29. Ngài được mời l ên bảo tọa vàng

Nệm êm ái sực nức chiên- đ àn,

Cả đo àn kiều nữ khoan thai lướt

Khắp sảnh đường theo gót rộn r àng.

Vừa khi vua an tọa tại đó, quân hầu đ ã

dâng lên đủ thức cao lương mỹ vị thần ti ên,

họ cũng đem các thứ n ày mời mười sáu

ngàn Long nữ kia và toàn thể hội chúng ấy. Suốt bảy ngày, vua cùng

đám t ùy tùng thọ hưởng các thực phẩm

thần tiên cùng mọi lạc thú khác. Vừa ngự trên bảo tọa, vua vừa ca ngợi cảnh

vinh quang của bậc Ðại sĩ:

- Này Long vương - vua hỏi - tại sao ngài bỏ mọi cảnh huy hoàng này

để đi nằm tr ên tổ kiến giữa cảnh trần

thế của con người và hành trì ngày trai giới vậy?

Bậc Ðại sĩ liền đáp lại vua.

Ðể giải thích sự việc này, bậc Ðạo sư ngâm kệ:

30. Chốn kia, vua hưởng thú vui tràn,

Rồi tới Cam-pey chúa, hỏi han:

"Cung điện ng ài

đây vinh hiển quá,

Hồng như vầng nhật tỏa hào quang,

Trên trần không chốn nào như vậy,

Vì cớ sao ngài muốn ẩn thân?

31. Ðứng đây to àn tuyệt sắc giai nhân

Cầm lấy bằng đầu ngón búp măng

Chén rượu trong bàn tay ửng đỏ,

Ðai vàng ôm sát ngực và thân,

Tại sao ngài muốn làm tu sĩ,

Chẳng thấy cảnh kia ở cõi trần?

32. Suối, sông, hồ cá đẹp, trong ngần,

Ðều có bến xây bậc vững vàng

Trên trần chẳng chốn nào như thế,

Vì cớ sao ngài muốn ẩn thân?

33. Ðàn công, sếu hạc, với thiên nga,

Bao vẻ mê hồn cu gáy ca,

Vì cớ sao ngài làm ẩn sĩ,

Trên đời đâu thấy cảnh kia m à?

34. Ðây trồng ti-lak, đó xo ài, sal,

Hoa quế, hoa chuông nở rộ tràn,

Chẳng thấy cảnh này nơi địa giới,

Sao ngài làm ẩn sĩ trần gian?

35. Nhìn các hồ kia, gió thoảng đưa,

Hương thần tiên tỏa khắp đôi bờ,

Cảnh này không thấy trên trần giới,

Vì cớ sao ngài muốn ẩn cư?

Long vương:

36. Chẳng vì thọ mạng, của hay con,

Ta phấn đấu vầy với bản thân,

Nếu được, chính l òng ta ước nguyện,

Tái sinh làm một kẻ phàm nhân.

Vua lại nói:

37. Phục sức cao sang, mắt đỏ ngầu,

Rộng vai và nhẵn nhụi đầu râu,

Chiên- đ àn tẩm ướt, như Thiên

đế

Phán bảo toàn dân chúng địa cầu.

38. Lực thần vĩ đại thật h ùng oai,

Làm chủ quyền mơ ước mọi loài,

Rồng chúa, xin vui lòng giải đáp,

Vì sao địa giới vượt Long đ ài?

Câu hỏi này được Rồng chúa đáp lại như sau:

39. Thanh tịnh, điều thân, chỉ đạt th ành

Khi người ta sống giữa quần sinh,

Nếu làm người, chẳng bao giờ nữa

Ta thấy tử sinh đến với m ình.

Vua lắng nghe và đáp kệ n ày :

40. Quả thật là chân chánh thiện tâm

Tôn sùng bậc trí tuệ uyên thâm

Tầm tư siêu việt thường sinh khởi.

Khi trẫm nay chiêm ngưỡng chúa Rồng,

Cùng với cả đo àn Long nữ ấy,

Trẫm mong làm thiện nghiệp muôn phần.

Long vương bảo ngài:

41. Quả thật là chân chánh thiện tâm

Tôn sùng bậc trí tuệ uyên thâm

Tầm tư siêu việt thường sinh khởi.

Khi Ðại vương nhìn thấy tiểu quân,

Cùng với cả đo àn Long nữ ấy,

Ngài mong thành thiện nghiệp muôn phần.

Sau buổi đ àm

đạo ấy, vua Uggasena muốn ra đi, liền tạ từ ng ài

và bảo:

- Này Long vương, trẫm ở lại đây đ ã

lâu rồi, nay trẫm cần phải ra về.

Bậc Ðại sĩ liền chỉ các kho báu cho vua xem, vừa tặng bất cứ thứ gì vua

muốn lấy, ngài vừa ngâm kệ:

42. Vàng thoi bỏ đó, kể không c ùng,

Bạc chất như cây cả mấy tầng,

Ngài lấy mà xây tường đá bạc,

Ðem về dựng gác ngọc lầu vàng.

43. Ta đoán năm ng àn xe ngọc trai,

San hô chen giữa ửng hồng tươi,

Lấy đi để trải đầy cung điện

Chẳng thấy đất dơ lộ phía ngo ài.

44. Ðại vương! Hãy dựng một cung đ ình,

Như tiểu quân nay muốn tấu trình,

Tại đó xin ng ài lên ngự trị,

Thành Ba-la-nại sẽ phồn vinh:

Mong ngài cai trị dân hiền đức,

Và trị nước nhà thật xứng danh.

Vua chấp thuận lời đề nghị n ày. Sau

đó bậc Ðại sĩ ban lời bố cáo khắp kinh

thành bằng tiếng trống lệnh:

- Hãy để cho đám t ùy tùng của

đức vua từ nhân giới lấy đem về bất cứ món g ì

trong các kho báu của ta, cả vàng ròng nữa như ý muốn.

Rồi ngài truyền đưa bảo vật đến tặng vua

chất đầy h àng tr ăm cỗ xe.

Xong xuôi, vua giã từ cảnh giới Long vương trong muôn vẻ huy hoàng trọng

thể và trở về thành Ba-la-nại. Từ đó về sau,

tục truyền rằng đất được lát v àng khắp cả xứ Diêm-phù- đề

(Ấn Ðộ).

*

Khi Pháp thoại này chấm dứt, bậc Ðạo sư bảo:

- Như vậy các bậc trí ngày xưa đ ã từ

giã cảnh vinh quang trong thế giới loài Rồng để

h ành trì ngày trai giới.

Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy Devadatta (Ðề-bà- đạt-đa) l à

người nhử rắn, mẹ của Ràhula (La-hầu-la) là nàng Sumanà, Sàriputta

(Xá-lợi-phất) là vua Uggasena và Ta chính là Long vương Campeyya.

-ooOoo-

507. Chuyện sức cám dỗ mạnh (Tiền thân Mahà-Palobhana)

Từ cõi Phạm thiên một vị thần..,

Câu chuyện này bậc Ðạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về sự ô nhiễm lậu

hoặc của các vị bậc thanh tịnh.

Các hoàn cảnh đ ã

được n êu trước kia. Tại

đây, một lần nữa, bậc Ðạo sư bảo:

- Nữ nhân thường gây cấu uế cho cả những người

đ ã đạt tâm

thanh tịnh.

Rồi Ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Một thuở nọ tại thành Ba-la-nại.. câu chuyện

đời xưa n ày cũng diễn tiến như trong Tiền thân Cullapalobhana. Bấy

giờ một lần nữa, bậc Ðại sĩ từ Phạm thiên giới giáng trần làm vương tử của

vua Kàsi và ngài có tên là Anitthi gandha: Người ghét nữ nhân. Vương tử hài

nhi không muốn ở trong tay bất cứ một nữ nhân nào, nên bọn chúng phải mặc áo

quần đ àn ông khi cho vương tử bú sữa và

chàng cứ ở riêng trong một thiền thất, không hề thấy bóng một nữ nhân nào

cả.

Ðể giải thích việc này, bậc Ðạo sư ngâm bốn vần kệ:

1. Từ cõi Phạm thiên, một vị thần

Ðến đây l à thế giới phàm nhân

Tái sinh, ngài được l àm hoàng tử,

Mỗi ước mơ là lệnh phải vâng.

2. Chẳng có nghiệp tình, cõi Phạm thiên,

Chưa hề nghe nói chuyện tình duyên,

Giờ sinh dục giới này, vương tử

Nghe chữ "tình" thôi, chán ngấy liền!

3. Ở nội cung, hoàng tử đ ã xây,

Một am thất nhỏ của riêng tây,

Nơi chàng chìm đắm v ào Thiền

định,

Ðơn độc trôi qua chuỗi tháng ng ày.

4. Phụ vương lo lắng trước hoàng nam

Khi biết chàng trong ấy, khóc than:

"Trẫm chí sinh ra mình thái tử

Mà bao dục lạc, trẻ không màng!"

Vần kệ thứ n ăm diễn tả lời than v ãn

của vua cha:

5. Ai cho trẫm biết phải làm gì?

Ôi, lẽ nào không có cách chi?

Ai dạy con thèm mùi dục lạc?

Có ai làm thái tử mê ly?

Vần kệ rưỡi này là vần kệ xuất phát từ Trí tuệ Tối thắng của

đức Phật:

6. Có thiếu nữ kia dáng mỹ miều,

Làn da trắng muốt thật yêu kiều,

Nàng thông suốt một trời ca nhạc,

Và uốn người quay tít thật đều.

Xuân nữ này đi t ìm Chúa thượng,

Thế là nàng khởi chuyện tình yêu.

Nửa vần kệ này do cô gái ngâm:

7. Thần thiếp sẽ đi quyến rủ ch àng,

Nếu duyên cầm sắt được ng ài ban.

Vua đáp lời cô gái, v à phán như vầy

như vầy:

Gắng công cám dỗ cho hoàn mãn,

Chàng sẽ là vương tử của nàng!

Bấy giờ vua truyền lệnh tạo ra mọi cơ hội thuận tiện cho nàng và triệu

nàng vào chầu chực bên mình vương tử.

Buổi sáng kia, nàng đem cây đ àn

đến đứng ngay b ên ngoài tịnh thất của

vương tử và chạm nhẹ các đầu ngón tay v ào

đ àn, cố ra sức quyến rủ chàng bằng giọng

ca êm ái dịu ngọt làm sao.

Bậc Ðạo sư ngâm kệ để giải thích việc n ày:

8. Kiều nhi vào tận chốn cung đ ình,

Nơi đó n àng riêng

đứng một m ình,

Hát khúc ngọt ngào, đầy khát vọng,

Xuyên vào tim của bạn chung tình.

9. Xuân nữ đứng kia, cất tiếng oanh,

Ông hoàng nghe lọt được âm thanh,

Tức thì bỗng thấy lòng mê mẩn,

Chàng hỏi quân hầu đứng chực quanh:

10. "Âm thanh nào đó thật du dương

Ðưa đến ph òng ta rõ lạ thường,

Ðâm suốt con tim, đầy dục tưởng,

Bên tai kỳ thú thật khôn lường!"

11. "- Vương tử, nàng kia ngắm tuyệt xinh!

Biết bao đ ùa cợt, vẻ

đa t ình,

Ví ngài mong hưởng tình ngon ngọt,

Thì lạc thú đây, h ãy

đắm m ình!".

12. "- Này, bảo nàng kia hãy đến gần,

Rồi nàng ca hát thật nhiều lần,

Ðến đây, trước mặt ta rồi hát

Ngay chính bên trong cánh cửa phòng!"

13. Cô gái vừa ca ngoại bức tường,

Ðứng kia, trong thất của ông hoàng,

Nàng vây chàng chặt như voi nọ

Bị mắc bẫy gi ăng giữa núi ng àn!

14. Chàng hưởng tròn hoan lạc ái ân,

Kìa xem! Tràn ngập nỗi ghen tương:

"Không ai được phép y êu nàng cả!

Chỉ một mình ta được luyến thương!"

15. Một mình ta, chẳng được người n ào!

Rồi chạy ra, chàng cứ thét gào,

Cầm kiếm lồng lên như khát máu

Ði tàn sát hết bọn mày râu!

16. Lâm nguy, dân chúng thét vang lừng,

Toàn thể phi thân đến hậu cung:

"Vương tử giết người bất kể số,

Chẳng ai khiêu khích!" Họ kêu rần.

17. Ðại vương truyền bắt lấy chàng ngay,

Khuất mắt phụ vương, phán lệnh đ ày:

"Con chẳng được t ìm nơi trú ẩn

Trong vùng biên địa nước ta n ày!".

18. Chàng đem vợ quý nọ l ên

đường

Cho đến khi dừng cạnh đại dương,

Tại đó ch àng xây lều lợp lá,

Sống bằng của nhặt ở rừng hoang.

19. Một đạo nhân thanh tịnh lượt ngang

Bay qua biển cả, giữa không gian,

Ði vào lều lá sao vừa lúc

Cơm nước vừa đem dọn sẵn s àng.

20. Cô nàng kia quyến rủ ngài ngay,

Xem việc làm sao hạ liệt thay!

Ngài đọa khỏi con đường Thánh hạnh,

Mọi thần thông lực thảy xa bay!

21. Chiều đến, khi vương tử trở về,

Do chàng thâu nhặt thật tràn trề

Quả rau, một đống tr ên

đ òn gánh,

Ðồ vật rừng hoang đ ã phủ phê!

22. Ẩn sĩ nhìn vương tử đến gần,

Ngài ra bờ biển vội rời chân,

Ngỡ là hành cước qua không khí,

Song chỉ chìm sâu xuống biển dần!

23. Vương tử vừa khi thấy trí nhân

Vào trong biển cả cứ chìm thân,

Từ tâm khởi dậy trong vương tử,

Liền đó ch àng ngâm kệ mấy vần:

24. Ngài phi hành đến bởi thần thông

Trên biển không buồm để ruổi dong,

Chìm xuống giờ đây, v ì ác phụ,

Khiến ngài chịu nhục nhã tiêu vong.

25. Phản bội, hồng quần cám dỗ ta,

Khiến người thanh tịnh nhất sa đ à!

Chúng chìm dần xuống và dần xuống,

Ai biết hồng quần phải tránh xa!

26. Nói ngọt ngào, song khó thỏa lòng,

Cũng như khó đổ nước đầy sông,

Chúng chìm dần xuống và dần xuống,

Ai biết, nên xa lánh má hồng!

27. Bất kể hồng nhan phục vụ ai,

Hoặc vì tham dục hoặc tiền tài,

Chúng thiêu chàng rụi như nhiên liệu

Ðược thả cháy trong lửa sáng ngời!

28. Ẩn sĩ nghe lời thái tử khuyên,

Chán chê trần thế quả hư huyền,

Trở về Thánh đạo xưa thanh tịnh,

Ngay giữa không gian đứng vụt liền.

29. Vương tử vừa khi đứng ngắm trông

Cách ngài bay bổng giữa hư không,

Buồn phiền, vương tử liền cương quyết

Lựa chọn đời thanh tịnh vững l òng.

30. Chuyển hướng tu hành, quyết đập tan

Dục tham và khát vọng nồng nàn,

Dục tham lắng dịu, chàng thề nguyện:

"Ðến cõi Phạm thiên, tiến thẳng đ àng".

*

Khi Pháp thoại này chấm dứt, bậc Ðạo sư bảo:

- Như vậy, này các Tỷ-kheo, chỉ vì nữ nhân mà ngay những người có tâm

thanh tịnh cũng vẫn gây ác nghiệp.

Rồi ngài thuyết giảng các Sự thật, bấy giờ vào lúc kết thúc các Sự thật,

vị Tỷ-kheo thối thất kia đ ã

đắc Thánh quả A-la-hán.

Sau đó, Ng ài nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy, Ta chính là Vương tử Anitthigandha

-ooOoo-

508. Chuyện n ăm vị

Hiền nhân (Tiền thân Panca-Pandita)

Chuyện Tiền thân về n ăm vị Hiền nhân sẽ được

kể trong Tiền thân Mah à-Ummagga (Ðường Hầm lớn) số 546, tập VII.

-ooOoo-

509. Chuyện Hiền giả quản tượng (Tiền thân Hatthipàla)

Cuối cùng thấy một Bà-la-môn..,

Câu chuyện này, bậc Ðạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về Ðại sự Xuất

thế của Ngài.

Rồi cùng với các lời sau đây:

- Này các Tỷ-kheo, không phải đây l à

lần đầu ti ên Như Lai làm Ðại sự xuất

thế, mà xưa kia cũng vậy.

Bậc Ðạo sư kể cho T ăng chúng một chuyện quá

khứ.

*

Một thời tại Ba-la-nại, có một vị vua cai trị mệnh danh là Esukàri. Vị tế

sư của ngài vốn là bạn đồng môn được ng ài

yêu chuộng từ thuở niên thiếu. Cả hai đều không

có con. Một ng ày kia trong lúc hai vị

đang ngồi chuyện tr ò thân thiết cùng nhau, hai vị nghĩ thầm: "Chúng

ta cùng hưởng cảnh đại vinh quang, song chẳng

hề có con trai con gái g ì cả, vậy phải làm sao bây giờ?" Vua liền bảo

vị tế sư:

- Này hiền hữu, nếu nhà hiền hữu sinh được

một công tử th ì hài nhi đó sau trở th ành

chúa tể trong quốc độ ta, song nếu ta sinh được

một ho àng nam thì đó sẽ l à chủ

nhân tài sản nhà hiền hữu vậy.

Cả hai vị giao ước với nhau về các chuyện tiếp theo các

điều lệ n ày.

Một hôm, vị tế sư đi đến ngôi l àng có

hoa lợi của mình, và vào làng bằng cổng phía nam, vị này thấy ngoài cổng

làng một người đ àn bà cùng khổ lại sinh

nhiều con trai quá: có đến bảy đứa, tất cả đều

cường tráng khỏe mạnh, đứa cầm nồi đem chảo đi nấu bếp, đứa th ì lấy

chiếu trải giường, thằng này đi trước thằng nọ

theo sau, thằng khác nắm tay mẹ, thằng kia ngồi trong l òng mẹ, một

thằng nữa trèo trên vai bà. Vị tế sư hỏi:

- Thế cha bầy trẻ này đâu?

Bà ấy đáp:

- Thưa ngài, chắc chắn là đám trẻ chẳng có

cha n ào cả.

Vị này hỏi:

- Vậy thì làm sao bà có được bảy thằng con

xinh tốt như thế n ày?

Người đ àn bà không

để ý đến cả khu rừng rậm, m à chỉ tay vào

cây đa đứng cạnh cổng th ành và nói:

- Thưa ngài, tiện thiếp cầu khẩn vị thần sống ở cây này, vị thần ấy

đáp lại lời cầu xin của thiếp bằng cách ban cho

bảy thằng bé ấy.

Vị tế sư liền bảo:

- Thôi được, b à

đi đi.

Rồi vị này xuống xe bước lên cây ấy, cầm một cành mà lắc mạnh, bảo nó:

- Này thần linh, đức vua có thiếu món g ì

cúng ông, suốt n ăm n ày qua n ăm

khác, ng ài cúng ông cả ngàn đồng tiền, m à

ngược lại ông chẳng ban cho ngài vị vương tử nào cả. Còn mụ

ăn m ày kia

đ ã làm gì mà ông cho mụ cả bảy đứa con

trai hử? Ông phải cho đức vua một đứa con trai n ày trong vòng bảy

ngày, nếu không ta sẽ bảo chặt đốn thân ông

xuống v à xẻ ra từng khúc đấy.

Khi trách mắng vị thần cây đa như thế xong,

vị tế sư ra đi.

Suốt sáu ngày vị tế sư cứ làm như vậy và vào ngày thứ sáu, vừa nắm một

cành cây vừa bảo:

- Này thần cây, chỉ còn một đ êm nữa

thôi đấy, nếu ông không cho đức vua một con

trai th ì thân ông phải ngã xuống ngay.

Vị nữ thần trên cây suy nghĩ mãi cho đến khi

n àng thấy sự việc ấy rõ ràng như thế nào. Nàng nghĩ thầm: "Vị

Bà-la-môn kia sẽ phá tan nhà của ta nếu vị ấy không

được đứa con trai. Vậy ta biết cho ng ài

một con trai bằng cách nào đây đ ã chứ?

Sau đó n àng yết kiến Tứ

đại Thi ên vương, và tâu trình với các

ngài. Các ngài phán:

- Này, chúng ta không thể ban cho người ấy một

đứa con trai được!

Kế đó, n àng

đến gặp hai mươi tám vị thần Dạ-xoa (Yakkha),

các thần kia cũng trả lời n àng như vậy, nàng liền

đến yết kiến Sakka ( Ðế Thích) Thiên chủ

và tâu trình ngài.

Thiên chủ suy nghĩ trong lòng: "Nhà vua nay có sinh

được ho àng nam xứng

đáng với m ình hay ch ăng?"

Rồi ng ài nhìn quanh và chợt thấy bốn vị Thiên tử

đức độ. Truyện kể rằng các vị n ày nguyên

là thợ dệt ở Ba-na-lại, trong một đời trước,

tất cả mọi tiền của kiếm được nhờ buôn bán, các vị ấy chia l àm n ăm

phần, bốn phần l àm của riêng mỗi người, còn phần thứ n ăm

l à của chung được đem ra bố thí hết. Từ

th ành ấy chư vị tái sanh lên cõi trời (Ba-mươi-ba) sau

đó lại tái sinh v ào cõi Yama thiên

(Dạ-ma), từ đấy cứ tái sinh li ên tục lên

xuống qua về sáu tầng trời cõi dục và hưởng thọ vô số vinh quang.

Ngay thời bấy giờ là lúc chư vị phải đi từ c õi

trời Ba-mươi-ba đến c õi Yama (Dạ-ma).

Thiên chủ Sakka liền đi t ìm kiếm,

đi đến c õi nhân gian và nhập mẫu thai

của chánh hậu Ðại vương Esukàri.

- Lành thay, tâu Thiên chủ.

Và các vị cùng nói những lời này:

- Chúng thần sẽ đi, song chúng thần không

muốn li ên quan gì đến ho àng gia

cả: chúng thần sẽ tái sinh vào gia đ ình

vị tế sư và ngay khi còn thanh niên, chúng thần sẽ từ giã thế tục.

Thế là Thiên chủ tán thành các vị ngay về lời cam kết kia, xong ngài trở

về, kể lại mọi chuyện cho nữ thần sống trên cây

đa ấy. Nữ thần rất vui mừng, tạ từ Thi ên chủ Sakka và lui về nơi cư

ngụ của mình.

Còn vị tế sư ngày hôm sau lại đến c ùng

với một đám người lực lưỡng m à vị này

đ ã tập họp lại, mỗi người cầm một cây

rìu thật bén hay một vật tương tự. Vị tế sư bước gần cây nắm một cành và kêu

to:

- Này thần cây! Ðây là ngày thứ bảy. Kể từ khi ta cầu khẩn ông một

đặc ân: nay đ ã

đến phá hoại cây rồi đó!

Vị thần cây dùng đại lực của n àng làm

nứt nẻ thân cây và xuất hiện với giọng ngọt ngào, bảo vị ấy như vầy:

- Này vị Bà-la-môn, ngài muốn có một nam tử ch ăng?

Ch à! Ta sẽ ban cho ngài cả bốn đứa kia!

Vị tế sư bảo:

- Ta không muốn có con, xin nàng có một đứa

con trai cho đức vua của ta thôi.

Nàng đáp:

- Không được đâu, ta chỉ muốn ban cho ng ài

thôi.

Vậy thì nàng hãy ban cho đức vua hai đứa v à

ta hai đứa đi.

- Không được, đức vua chẳng thể n ào

có con đâu, phần ng ài phải có cả bốn

đứa, m à chúng chỉ

được phép ban cho ri êng ngài thôi, là vì

chúng sẽ không muốn sống cuộc đời thế tục tại

gia, n ên ngay lúc tuổi còn thanh xuân, chúng sẽ từ giã thế tục này.

- Vậy nàng cứ cho ta các đứa con trai ấy đi,

ta quyết chăm sóc để bọn chúng khỏi từ gi ã thế tục. Vị ấy

đáp.

Như vậy là nữ thần đ ã chấp thuận lợi

cầu tự của vị tế sư này và trở về chỗ cư ngụ của nàng. Từ

đó về sau, nữ thần kia được trọng vọng tôn vinh

lắm.

Bấy giờ vị Thiên tử lớn nhất giáng trần, nhập mẫu thai của phu nhân vị

quốc sư kia. Vào ngày đặt t ên, gia

đ ình ấy gọi hài nhi là Hatthipala hay

Người Quản Tượng, và để ngăn cản con trai rời

khỏi thế tục n ày, họ giao hài nhi cho vài người giữ voi ch ăm

sóc, n ên hài nhi lớn lên giữa đám người

ấy.

Khi hài nhi mới lớn vừa biết đi chập chững

th ì hài nhi thứ hai ra đời cũng từ phu

nhân ấy. V ào ngày sanh, họ đặt t ên

hài nhi là Assapàla hay Người Giữ Ngựa, và hài nhi lớn lên giữa bọn người

giữ ngựa. Hài nhi thứ ba lúc ra đời được đặt t ên

là Gopàla hay Người Ch ăn Trâu v à hài nhi

lớn lên giữa bầy mục tử. Còn Ajapàla hay Người Ch ăn

D ê, là tên hài nhi thứ tư được gọi lúc

ra đời v à hài nhi này lớn lên giữa đám

người chăn d ê. Khi bầy trẻ lớn lên, chúng là những nam tử có

đầy đủ tướng mạo tốt l ành.

Lúc bấy giờ, vì lo sợ bầy con trai từ bỏ thế tục nên các người tu khổ

hạnh xuất gia đều bị đuổi ra khỏi quốc độ n ày:

trong toàn xứ sở Kàsi không còn sót tu sĩ nào cả. Riêng bầy nam tử này tính

tình thô bạo lắm: hễ chúng đi tr ên con

đường n ào là chúng cướp

đoạt những lễ vật cúng cấp đây đó trong v ùng.

Khi Hathipàla lên mười sáu tuổi, vua và vị tế sư thấy dung mạo hoàn mỹ

của chàng, liền nghĩ thầm: "Các con nay đ ã

khôn lớn mạnh mẽ. Khi đ ã giương lên

chiếc lọng hoàng gia rồi thì ta sẽ làm gì chúng

được nữa? Ngay khi l àm lễ quán đảnh cho

chúng xong, chúng sẽ thống trị tất cả: Các vị tu khổ hạnh sẽ đến, bọn chúng

sẽ thấy các vị đó v à cũng sẽ trở thành các vị tu khổ hạnh luôn; một

khi chúng hành động như thế th ì cả nước

sẽ loạn lên mất. Vậy trước tiên ta phải thử lòng chúng rồi sau

đó mới l àm lễ quán

đảnh".

Thế là hai vị này cải trang làm các nhà tu khổ hạnh và

đi khất thực cho đến khi v ào tận cửa nhà

của Hatthipàla đang ở. Ch àng trai này

vui vẻ thích thú ngay khi gặp hai vị, liền bước

đến gần đảnh lễ hai vị rất cung kính, v à ngâm vần kệ:

1. Cuối cùng thấy được B à-la-môn

Ðầu tóc búi to, tựa Thánh thần,

R ăng bẩn, hôi dơ đầy bụi bặm,

Lại gồng gánh nặng nhọc trên lưng.

2. Cuối cùng thấy được một hiền nhân

Vui thú theo đường lối chánh chân

Với vỏ cây làm y phủ kín,

Và thêm một chiếc nữa màu vàng.

3. Xin nhận tọa sàng nước rửa ch ăn,

Thật là chân chánh lúc đem dâng,

Tặng nhiều thực phẩm chư hiền khách,

Xin nhận, vì gia chủ đón mừng.

Chàng trai lần lượt nói như vậy với hai vị. Rồi vị tế sư bảo:

- Này Hatthipàla con hỡi, con nói điều n ày

vì con không biết chúng ta. Con tưởng chúng ta là các bậc hiền nhân từ vùng

Tuyết Sơn xuống đây ư, song thật chúng ta không

phải như vậy đâu, con ạ. Ðây là Ðại vương Esukàri và ta là thân phụ

của con, vị quốc sư đó.

Chàng trai nói:

- Thế thì tại sao Ðại vương và thân phụ đắp

y như các bậc hiền giả?

Vị ấy đáp:

- Ðể thử lòng các con đó m à!

Chàng hỏi:

- Tại sao lại thử con chứ?

- Bởi vì, nếu con gặp chúng ta mà không muốn từ giã thế tục thì chúng ta

sẵn sàng làm lễ quán đảnh phong vương cho con

ngay.

- Ồ thưa phụ vương, chàng đáp, con chẳng ham

vương vị, con muốn rời bỏ thế tục.

Thân phụ chàng liền đáp:

- Này con Hatthipàla, đây chưa phải thời để

rời bỏ thế tục đâu.

Rồi vị này giải thích ý định của m ình

qua vần kệ thứ tư:

4. Học Vệ- đ à kinh, việc trước tiên,

Làm giàu và cướp vợ vầy duyên,

Nhiều con, hưởng thú vui trần thế,

Thanh, sắc cùng hương, vị, xúc êm,

Sau đó ẩn cư rừng khả ái,

Thế là người trí xứng danh hiền.

Hatthipàla đáp lại với vần kệ:

5. Chân lý không sao lại đạt th ành

Từ vàng bạc hoặc Vệ- đ à kinh,

Nhiều con chẳng khỏi thành già cả,

Có lối thoát ra mọi dục tình,

Như các trí nhân đều thấu suốt:

Gieo gì gặt nấy kiếp lai sinh.

Bấy giờ vua ngâm kệ đáp lời ch àng

trai:

6. Lời tự mồm con quả thật chân:

Ðời sau ta gặt thứ đang trồng,

Hai thân con đó, nay gi à yếu

Song các người mong muốn thấy rằng

Cuộc sống tr ăm năm đầy hạnh phúc

An khang cho trẻ hưởng riêng phần.

- Tâu Chúa thượng, ngài muốn ám chỉ việc gì thế?

Vương tử hỏi và ngâm hai vần kệ:

7. Kẻ nào khi chết, tấu Anh quân,

Có thể tìm ra một bạn thân,

Ðã ký với tuổi già thỏa ước

Ðể cho người ấy chẳng từ trần,

Mong lời cầu nguyện trên Hoàng thượng

Dành bách niên kẻ đó hưởng phần.

8. Cũng giống như người lái vượt dòng,

Con thuyền sang bến nọ bên sông,

Phàm nhân đều vậy, không sao khỏi

Bệnh, lão niên, rồi tử, mệnh chung.

Bằng cách trên, chàng trai đ ã chỉ cho

các vị này thấy cuộc sống thế nhân giả tạm phù du ra sao, rồi thêm lời

khuyên nhủ:

- Tâu Ðại vương, ngài đứng đó v à ngay

khi tiểu sinh đang đ àm

đạo với ng ài, ngay bây giờ

đây, bệnh tật, tuổi gi à và thần chết

đang tiến gần ta. Vậy xin Ðại vương hãy

tỉnh giác!

Sau khi vái chào vua và phụ thân, chàng đem

theo đám hầu cận muốn đi c ùng chàng, bỏ lại vương quốc Ba-la-nại

đằng sau v à lên

đường với ý định theo sống đời khổ hạnh. Cả một

hội chúng đông đảo c ùng đi với ch àng

thanh niên Hatthipàla vì hội chúng bảo:

- Cuộc sống tu hành này chắc hẳn phải cao thượng lắm.

Hội chúng ấy trải dài suốt một dặm đường, ch àng

nam tử cùng hội chúng tiến lên cho đến tận bờ

sông Hằng. Tại đó ch àng làm phát khởi Thiền

định bằng cách quán sát d òng nước sông

Hằng.

Chàng nghĩ thầm: "Tại đây rồi sẽ có hội

chúng đông lắm!.. Ba vị hiền đệ của ta sẽ đến, kế l à song thân,

đức vua v à hoàng hậu, tất cả cùng với

đám t ùy tùng sẽ sống theo

đời tu tập. Th ành Ba-la-nại sẽ trống

vắng. Ta sẽ ở đây cho đến khi các vị đến đủ".

Thế l à chàng ngồi tại đó, khích lệ cả

đám đông dân chúng đang tụ tập.

Hôm sau, vua và vị tế sư suy nghĩ: "Như vậy vương tử Hatthipàla

đ ã thực sự rời bỏ quyền làm vua và hiện

đang ngồi b ên bờ sông Hằng, từ

đó ch àng sẽ

đi theo cuộc sống tu h ành cùng với một hội chúng

đông đảo ở b ên chàng. Song ta hãy

đi thử Assap àla xem sao, rồi làm lễ quán

đảnh phong vương cho ch àng". Vì thế cũng

như trước kia vừa khoác bộ y phục của nhà tu khổ hạnh, hai vị cùng

đi đến cửa nh à chàng. Chàng rất hoan hỷ

khi thấy hai vị, liền bước tới gần hai vị ngâm câu kệ "Cuối cùng.." ấy giống

như anh cả của chàng đ ã ngâm. Hai vị này

cùng làm như trước, và báo cho chàng biết nguyên nhân hai vị

đến đây. Ch àng

đáp:

- Tại sao chiếc lọng trắng hoàng gia lại dành ưu tiên cho phần con, khi

con có một hoàng huynh như Hatthipàla?

Hai vị đáp:

- Này con, hoàng huynh con đ ã ra

đi để sống đời tu tập, anh con chẳng muốn li ên

hệ gì với hoàng gia nữa.

- Thế bây giờ anh con đâu rồi? - Ch àng

hỏi.

- Hiện đang ngồi b ên bờ sông Hằng.

- Tâu Chúa thượng và thân phụ, con cũng chẳng

đến cái thứ m à anh con

đ ã nhổ khỏi mồm. Chỉ có những kẻ ngu si

và thiếu trí mới không đủ năng lực vứt bỏ ác

dục n ày, còn con quyết sẽ vứt bỏ nó.

Sau đó ch àng thuyết pháp cho thân phụ

và đức vua qua hai vần kệ được ch àng

ngâm lên:

9. Dục lạc là bùn bẩn, uế nhơ,

Tham tâm gây chết chóc, sầu tư,

Ai chìm trong đám b ùn vô trí

Không thể bước sang đến bến bờ.

10. Ðây là kẻ đ ã chịu sầu tư,

Nó bị bắt giam trước đến giờ,

Tìm lối thoát thân nào chẳng thấy;

Ðể không làm những chuyện như xưa

Từ nay con quyết lòng xây dựng

Những bức tường không thể lọt vô.

- Tiểu sinh xin thưa: Chúa thượng cùng thân phụ hiện

đứng chỗ kia v à ngay khi tiểu sinh

đang tr ình với hai vị, thì bệnh tật,

tuổi già và cả thần chết cũng đang tiến đến gần

ta hơn.

Cùng với lối khuyến giáo này, vừa được một

đám đông hộ tống kéo d ài cả dặm đường,

ch àng ra đi t ìm gặp vương tử

Hatthipàla, vị vương huynh chàng liền đứng ở tr ên

không và thuyết Pháp cho chàng rồi nói:

- Này hiền đệ, sau sẽ có một đám đông dân

chúng đến đây, vậy hai ta h ãy cùng ở lại chốn này.

Chàng đồng ý ở lại đó ngay.

Hôm sau, vua và vị tế sư cũng theo cách trên

đến nh à vương tử Gopala. Khi được ch àng

hoan hỷ chào đón theo như cách hai vị vương tử

trước, hai vị giải thích duy ên cớ đến

đây. Cũng như Hatthip àla, chàng từ chối lời

đề nghị của hai ng ài.

- Từ lâu con đ ã ước mong sống

đời tu tập như một b ò cái bị lạc trong

rừng, còn vẫn đi lang thang t ìm lối

sống. Nay con nhìn thấy con đường m à hai

vương huynh của con đ ã

đi qua, giống như dấu chân kia của con b ò

bị lạc, nên con cũng theo đường ấy m à ra

đi.

Sau đó ch àng ngâm kệ:

11. Như tìm bò cái lạc trên đường,

Bối rối, loanh quanh mãi giữa rừng,

Cũng vậy, an vui con đ ã mất,

Sao còn do dự với phân vân,

Xin tâu Chúa thượng E-su rõ,

Khi bước đi t ìm theo dấu chân?

Hai vị đáp:

- Nhưng này Gopàlaka thân yêu, con hãy đến ở

c ùng chúng ta một ngày, hoặc đến với

chúng ta hai ba ng ày, để nh à

chúng ta được hạnh phúc hân hoan, rồi sau đó

con h ãy rời thế tục.

Chàng đáp:

- Tâu Ðại vương, xin đừng bao giờ ho ãn

lại đến ng ày hôm sau chuyện gì

đáng l àm hôm nay, nếu Ðại vương muốn an

lành xin hãy hành động ngay hôm nay, đừng tr ì

hoãn nữa.

Sau đó ch àng ngâm kệ khác:

12. Ngày mai! Kêu lớn gã ngu nhân,

Gã thét: ngày mai! mãi chẳng ngừng,

"Thời vị lai không còn sự nghiệp!"

Bậc hiền nhân vẫn cứ khuyên r ăn,

Chẳng bao giờ bậc hiền khinh rẻ

Thiện nghiệp nằm ngay đúng với tầm.

Gopala vừa nói như vậy, vừa thuyết Pháp qua hai vần kệ trên, xong rồi nói

thêm:

- Ngay nơi Ðại vương đứng đó, v à ngay

lúc con thưa trình với Ðại vương thì bệnh tật, tuổi già và cả thần chết nữa

cũng đang tiến tới dần.

Sau đó được dân chúng hộ tống cả một dặm

đường, ch àng ra đi t ìm kiếm hai

vị hiền huynh. Rồi Tôn giả Hattipàla vừa đứng ở

tr ên không vừa thuyết Pháp cho chàng như trước.

Ngày kế đó, vua v à vị tế sư cũng theo

cách trên và đi đến nh à vương tử

Ajapàla; chàng hoan hỷ đón ch ào hai vị

giống như các vương huynh chàng đ ã làm.

Hai vị nói rõ duyên cớ đến đây v à

đề nghị giương cho ch àng chiếc lọng

hoàng gia. Vương tử bảo:

- Thế hai vương huynh con đâu rồi? Hai vị

đáp:

- Hai vương huynh của con không muốn liên hệ với giang sơn quốc

độ n ày nữa; cả hai

đ ã khước từ chiếc lọng trắng và cùng với

một hội chúng trải rộng cả ba dặm đường đang

ngồi tr ên bờ sông Hằng.

- Thế thì con cũng không muốn đặt l ên

đầu cái vật m à hai vương huynh nhả ra

khỏi mồm và đi theo sống đời tu h ành như

thế, nhưng con muốn hành trì đời sống xuất gia

thôi.

Hai vị bảo:

- Này con, con còn trẻ lắm, hạnh phúc của con là mối quan tâm lo lắng của

hai ta, vậy để lúc gi à hơn rồi con hãy

sống theo đời tu tập.

Song chàng trai đáp:

- Ðại vương và thân phụ bảo con điều g ì

thế kia? Hiển nhiên cái chết vẫn đến với tuổi

trẻ cũng như với tuổi gi à! Không ai có dấu hiệu gì trong bàn tay hay

không biết được lúc n ào con chết cả, vì

vậy con muốn rời thế tục ngay bây giờ đấy.

Rồi chàng ngâm hai vần kệ:

13. Con thường trông thiếu nữ xinh tươi,

Mắt sáng, say sưa với cuộc đời,

Chưa hưởng phần vui xuân mới hé:

Tử thần mang liễu yếu đi rồi!

14. Cũng vậy nhiều nam tử thật sang,

Khôi ngô, cường tráng tuổi xuân quang,

Bao quanh những chiếc cằm đen nhánh

Xúm xít chòm râu cứ mọc tràn

Con giã biệt đời người thế tục

Cùng bao dục lạc của trần gian,

Ðể làm ẩn sĩ, xin tha thứ,

Và hãy trở về chốn cố hương.

Sau đó ch àng nói tiếp:

- Nay Ðại vương đứng chỗ kia v à ngay

lúc tiểu sinh đang tâu tr ình với Ðại

vương cùng thân phụ, thì bệnh tật, tuổi già và thần chết cũng

đang tiến tới gần tiểu sinh.

Rồi chàng đảnh lễ cả hai vị, dẫn đầu một hội

chúng d ài cả dặm đường, ch àng ra

đi đến bờ sông Hằng. Tôn giả Hatthip àla

cũng đứng ở tr ên không và thuyết Pháp

cho chàng, rồi ngồi xuống, đợi đám đại chúng m à

ngài mong gặp.

Hôm sau, vị tế sư bắt đầu suy tư trầm ngâm

trong lúc ngồi tr ên bảo tọa. Ông nghĩ thầm: "Các con ta

đ ã sống đời

tu tập, nay chỉ c òn lại một mình ta là lão già như gốc cây

đ ã cằn cỗi tàn rụi, ta cũng muốn theo

cuộc sống tu hành.

Rồi ông ngâm kệ với phu nhân mình:

15. Cái vật kia đâm lộc trổ c ành,

Người ta gọi đó một cây xanh,

Chặt cành, chẳng phải là cây nữa,

Nó chỉ còn trơ trụi khúc mình.

Người chẳng cháu con gì cũng vậy,

Hỡi phu nhân quý tộc cao danh,

Ðây là thời điểm d ành cho lão

Sống cuộc đời tu tập Thánh h ành.

Nói lời này xong, vị tế sư triệu tập các Bà-la-môn vào diện kiến mình:

sáu mươi ngàn vị đến nơi. Sau đó ông hỏi cả hội

chúng muốn l àm gì. Họ đồng đáp:

- Ngài là sư phụ của chúng thần.

Ông bảo:

- Ðược lắm, thế thì ta sẽ đi t ìm con

trai ta và theo đời sống tu h ành.

Hội chúng đáp:

- Không chỉ riêng ngài mới thấy địa ngục

nóng rực lửa; chúng tiểu thần cũng sẽ l àm y như ngài vậy.

Vị tế sư liền giao hết kho tàng châu báu, cả tám tr ăm

triệu đồng tiền cho b à phu nhân, rồi dẫn

đầu cả một đo àn Bà-la-môn trải dài suốt một dặm

đường, ra đi đến v ùng

đất hai vị vương tử đang cư trú. Với hội chúng

n ày cũng như trước kia, Tôn giả Hatthipàla

đứng ở tr ên không và thuyết Pháp.

Ngày hôm sau, bà phu nhân nghĩ thầm: "Bốn nam tử của ta

đ ã từ chối chiếc lọng trắng của hoàng

gia để theo đời tu tập; trượng phu của ta cũng

đ ã để lại kho t ài sản và vứt bỏ

luôn chức vụ tế sư của triều đ ình nữa,

rồi đi theo các con, thế ta c òn làm gì

một thân trơ trọi nữa? Theo cách các con ta đ ã

đi, ta cũng đi luôn".

Rồi bà ngâm kệ nói lên ước vọng qua câu tục ngữ:

16. Tháng ngày mưa gió đ ã qua,

Lưới kia đ ã bị thiên nga phá rồi,

Tự do bay lượn giữa trời,

Như đ àn sếu hạc tung

đôi cánh liền,

Vậy ta theo đúng đường thi êng

Chồng con đ ã bước, ta tìm tâm minh.

Bà nhủ thầm: "Vì ta biết rõ điều n ày,

sao ta lại không rời bỏ thế tục?". Với dự định

tr ên, bà triệu tập các phu nhân Bà-la-môn lại và bảo:

- Các phu nhân định l àm gì giờ

đây?

Họ bảo bà:

- Thế lệnh bà muốn làm gì?

- Về phần ta, ta sẽ từ giã thế tục.

- Vậy chúng thần thiếp cũng làm việc ấy.

Như thế, bà từ giã mọi cảnh huy hoàng này, ra

đi t ìm các con mình,

đem theo cả một đám nữ nhân trải d ài

trên một dặm đường. Với hội chúng n ày,

Tôn giả Hatthipàla cũng đứng ở tr ên

không và thuyết Pháp.

Hôm sau, vua hỏi:

- Vị tế sư của trẫm đâu rồi?

Triều thần đáp:

- Tâu Chúa thượng, ngài tế sư và phu nhân đ ã

vứt bỏ hết cảnh phú quý lại đằng sau, rồi ra đi

theo các công tử c ùng với một hội chúng dài

đến hai ba dặm đường.

Vua phán:

- Tiền bạc vô chủ đến tay ta rồi!

Vua truyền lệnh đem tiền bạc từ nh à

vị tế sư về cung. Lúc bấy giờ chánh hậu muốn biết nhà vua

đang l àm gì, bà

được tr ình báo:

- Hoàng thượng đang truyền đem về cả kho báu

từ nh à vị tế sư.

Bà hỏi:

- Thế vị tế sư đâu?

- Tâu lệnh bà, ngài đ ã xuất gia làm

ẩn sĩ khổ hạnh, cùng với cả vợ con và gia quyến.

Hoàng hậu nghĩ: "Thế tại sao chúa thượng đây

lại truyền theo đem v ào nhà mình thứ phân uế và nước bọt mà vị

Bà-la-môn này cùng gia quyến vợ con đ ã

nhổ ra thế kia? Thật là một kẻ ngu si mê mờ tham

đắm l àm sao! Ta sẽ khuyên bảo ngài qua

ví dụ này".

Bà truyền lấy một mớ thịt dành cho chó, chất thành một

đống giữa sân ho àng cung, rồi bà

đặt một cái bẫy quanh đó, để cho lối ra v ào

bẫy mở rộng thẳng lên trời. Bầy kên kên thấy thịt, từ xa vội sà xuống. Song

những con chim khôn ngoan trong đ àn ấy

nhận ra cái bẫy đ ã

được giăng quanh đó, v à tự biết thân

mình quá nặng nề nên không thể bay vụt thẳng

được, liền nôn ra hết mọi thứ chúng đ ã

ăn v à không để cho m ình bị mắc

bẫy, chúng lại vút lên không và bay biến mất.

Còn những con chim khác vì ngu si mà giáng xuống, ngốn ngấu hết các thức

mửa ra của đ àn trước, nên quá nặng nề

không thể nào bay thoát được v à bị mắc

vào bẫy. Quân hầu mang một con chim mắc bẫy vào dâng lên hoàng hậu và bà tự

mang đến chỗ vua:

- Tâu Chúa thượng hãy nhìn xuống, bà nói. Trong sân chầu có một cảnh lạ

mắt cho ta nhìn đấy!

Rồi bà vừa mở cánh cửa sổ vừa nói:

- Tâu Chúa thượng, hãy nhìn đám k ên

kên kia kìa!

Sau đó b à ngâm hai vần kệ:

17. Ðám nọ đ ã

ăn, đ ã mửa rồi!

Tự do bay lượn giữa bầu trời:

Ðám kia ăn nán v à lưu lại,

Giờ bị bắt giam bởi thiếp rồi.

18. Vị tế sư nôn hết dục tham,

Vật kia, Chúa thượng muốn ăn ph àm?

Người ăn đồ mửa, tâu Ho àng thượng,

Xứng đáng ch ê bai cực tệ tàn!

Nghe những lời này, vua tràn đầy ăn năn hối

hận, ba c õi sinh hữu đều chẳng khác n ào

đám lửa đang cháy bừng bừng, n ên vua

bảo:

- Ngay chính hôn nay, trẫm phải từ giã vương vị này và sống theo

đời ẩn dật tu h ành.

Lòng nặng trĩu ưu phiền, ngài tán thán chánh hậu qua vần kệ:

19- Khác nào người lực sĩ can cường

Giúp cánh tay vì kẻ yếu hơn

Bị chìm trong vũng bùn dơ bẩn,

Hay bãi cát lầy đ ã lún thân.

Chánh hậu Pan-ca này cũng vậy,

Nàng vừa giải cứu đấng quân vương

Bằng nhiều vần kệ ngâm êm dịu

Như mật rót tai trẫm dịu dàng!

Vua vừa nói như thế xong, liền lập tức triệu hồi

đám quần thần, l òng nôn nóng theo

đuổi cuộc sống tu h ành, ngài bảo:

- Còn các khanh sẽ ý sao? - Ngài phán - Trẫm sẽ

đi t ìm Hatthipàla và trở thành người tu

hành.

Quần thần đáp :

- Tâu chúa thượng, vậy chúng thần cũng xin làm việc ấy.

Nhà vua rời bỏ vương quyền khắp Ba-la-nại hình thành vĩ

đại rộng cả mười hai dặm v à bảo:

- Ai muốn thì cứ giương lên chiếc lọng trắng vương quyền.

Sau đó được đám triều thần vây quanh, ng ài

dẫn đầu một d òng người dài cả ba dặm,

đi đến tr ình diện vị nam tử kia. Với

đám người n ày, Tôn giả Hatthipàla cũng

đứng ở tr ên không và thuyết Pháp.

*

Bậc Ðạo Sư ngâm kệ kể chuyện vua này lại xuất hiện thế ra sao:

20. Như vậy, E-su-kà Ðại vương

Nắm quyền nhiều lãnh thổ, giang sơn

Từ vua, ngài hóa thành tu sĩ

Như thể voi vùng đứt bộ cương .

*

Ngày hôm sau dân chúng còn lại trong kinh thành tụ tập lại trước cung

môn, xin trình báo với chánh hậu, rồi họ đi v à

đảnh lễ chánh hậu xong, liền ngồi sang một b ên

và ngâm kệ:

21. An lạc thay là đấng Thánh quân

Trở thành ẩn sĩ bỏ phàm trần

Chúng thần nay nguyện cầu hoàng hậu

Vào ngự trong ngôi vị đế vương

Xin hãy yêu thương toàn quốc độ,

Ðược tay phò trợ của quần thần.

Bà lắng nghe những lời hội chúng thỉnh nguyện, xong bà liền ngâm các vần

kệ còn lại:

22. An lạc thay là đấng Thánh Quân

Trở thành ẩn sĩ, bỏ phàm trần

Bây giờ hãy biết rằng ta quyết

Tiến bước đơn thân giữa thế nhân

Cùng bao lạc thú đủ to àn phần.

23. An lạc thay là đấng Thánh quân

Trở thành ẩn sĩ, bỏ phàm trần

Bây giờ hãy biết rằng ta quyết

Tiến bước đơn thân giữa thế nhân,

Bất cứ nơi nào còn ngũ dục

Ta đều vứt bỏ chúng to àn phần.

24. Thời gian trôi, sáng tối không ngừng

Dung sắc thanh xuân phải úa dần

Nay hãy biết rằng ta đ ã quyết

Bước đi đơn độc giữa ph àm trần

Giã từ khát vọng và tham ái

Cùng các thú vui đủ mọi ph àm.

25. Thời gian trôi, sáng tối qua dần

Phải úa tàn bao vẻ đẹp xuân

Nay hãy biết rằng ta quyết chí

Bước đi đơn độc giữa ph àm trần

Nơi nào bất kể còn tham dục

Ta cũng rời xa chúng mọi phần

26. Thời gian trôi, sáng tối xoay vần

Hương sắc thanh tân phải úa dần,

Nay hãy biết rằng ta ước nguyện

Bước đi đơn độc giữa ph àm trần

Mọi dây ràng buộc đều quăng bỏ

Cũng chẳng còn uy lực dục tâm

Qua các vần kệ trên, bà thuyết Pháp cho hội chúng

đông đảo ấy xong, b à triệu tập các vị

phu nhân của đám triều thần v à bảo:

- Nay các phu nhân muốn làm gì?

- Tâu nương nương , thánh ý định thế n ào?

- Ta muốn sống đời tu tập.

- Thế thì chúng thần thiếp cũng làm theo lệnh bà.

Vậy là chánh hậu mở rộng cửa kho vàng trong cung, bà ra lệnh khắc một

phiến đá v àng ghi câu: "Nơi ấy là cả một

đại kho t àng, bất cứ ai muốn,

đều có thể lấy về". Phiến v àng ấy

được b à cho buộc vào một cái trụ trên

một đ ài cao. Sau

đó, từ gi ã bao cảnh vinh quang tráng lệ

của hoàng cung, bà ra khỏi kinh thành. Tiếp theo toàn thành nhốn nháo lên

với tiếng la hét:

- Ðại vương và chánh hậu đ ã rời thành

đi theo hội chúng tu khổ hạnh, vậy bây giờ ta

phải l àm gì?

Từ đó về sau dân chúng rời bỏ nh à cửa

cùng các đồ vật trong đó, v à ra

đi, đem theo con cái, các tiệm buôn bán mở rộng

cửa h àng, song chẳng ai buồn quay lại nhìn chúng nữa, cả kinh thành

trống vắng không một bóng người.

Và chánh hậu cùng với đo àn người hộ

tống dài cả ba tr ăm dặm đường đi đến c ùng

nơi chốn ấy như các vị trước đây. Với hội chúng

n ày, Tôn giả Hatthipàla cũng đứng ở tr ên

không và thuyết pháp; rồi sau đó c ùng

toàn thể dân chúng dài hơn mười dặm khởi hành về hướng Tuyết Sơn.

Toàn quốc độ K àsi náo loạn, la hét

vang lừng câu chuyện nam tử Hatthipàla đ ã

làm cho kinh thành Ba-la-nại trống vắng bằng cách nào, với hội chúng dài hơn

cả nười hai dặm đường ch àng ra

đi về v ùng Tuyết Sơn ra sao,

để theo sống đời tu khổ hạnh, dân chúng bảo

nhau:

- Thế thì hiển nhiên chúng ta càng nên làm việc ấy!

Cuối cùng hội chúng này cứ t ăng dần đến độ

chiếm cả ba mươi dặm đường, rồi vương tử c ùng cả

đại chúng ấy đi đến Tuyết Sơn.

Sakka (Ðế Thích) Thiên chủ trong luc xét suy,

đ ã nhận biết mọi việc

đang xảy ra. Ng ài suy nghĩ: "Vương tử

Hatthipàla đ ã làm Ðại sự Xuất thế; quần

chúng đông đúc lắm, như thế chúng phải có nơi

cư trú". Ng ài liền ra lệnh cho Thiên sứ Vissakamma (Thần xây dựng):

- Này hiền hữu, hãy ra đi xây dựng v ùng

am tu dài ba mươi sáu dặm và rộng mười l ăm dặm,

rồi thâu góp về đó tất cả mọi thứ cần d ùng cho các vị tu hành.

Vị này tuân lệnh, và dựng bên bờ sông Hằng ở một nơi mát mẻ dễ chịu cả

một vùng am thất theo đúng tầm cỡ cần d ùng,

chuẩn bị trong các am đầy đủ nệm rơm lót bằng

cánh lá cây, lại để sẵn s àng mọi vật dụng cần thiết cho các người tu

hành. Mỗi am đều có các cửa ra v ào, một

chốn đi dạo mát, có chỗ ở ri êng biệt

dùng cho ban ngày và ban đ êm, tất cả

đều được quét vôi trắng sạch sẽ sáng sủa, lại

có th êm các trường kỷ để nghỉ ngơi.

Ðó đây rải rác đủ loại trái cây trổ hoa

chi chít tr ên cành khoe đủ sắc hương ng ào

ngạt; cuối mỗi chốn dạo chơi là một cái giếng

để kéo nước, cạnh đó có cây ăn trái, mỗi cây đều mọc đủ mọi thứ. Tất cả

những thứ n ày đều nhờ thần lực hóa ra

cả.

Khi Thiên sứ Vissakamma đ ã xây xong

khu ẩn cư này và cung cấp cho các thảo am đủ

mọi vật cần thiết, vị ấy ghi các h àng chữ bằng son

đỏ tr ên bức tường: "Ai muốn sống

đời tu tập xin mời đến chỗ các vật dụng n ày".

Sau đó vị ấy lại d ùng thần lực xua

đuổi ra khỏi v ùng ấy mọi thứ tiếng kêu

kỳ quái, mọi ác điểu v à mãnh thú, những

loại phi nhân rồi trở về cõi của mình.

Tôn giả Hatthipàla chợt thấy vùng ẩn am này là tặng vật của Ðế Thích

Thiên chủ, ngài đi theo con đường m òn và

thấy phiến đá ghi chữ kia. Ng ài nghĩ

thầm: "Ðế Thích Thiên chủ hẳn đ ã nhận

thấy ta vừa làm Ðại sự Xuất Thế". Ngài mở một cánh và bước vào am, cầm lên

những vật dụng dành cho người tu khổ hạnh, ngài lại bước ra

đi dọc theo chốn dạo chơi, v à quanh quẩn

đó đây v ài lần. Sau

đó ng ài thâu nhận cả hội chúng vào nếp

sống tu hành, và đi quan sát cả v ùng ẩn

cư ấy. Ngài để d ành phần giữa là cho phụ

nữ có con thơ, phần kế đó cho các b à

già, phần kế nữa cho đám phụ nữ không có con

cái g ì, còn các am thất khác ở chung quanh

đều d ành cho nam giới.

Thế rồi một hôm vị vua kia nghe tin đồn l à

không có vua cai trị vì Ba-la-nại liền đi xem v à

thấy cả kinh thành được trang ho àng rực

rỡ với nhiều báu vật. Bước vào cung điện vua ấy

thấy v àng bạc nằm ngổn ngang từng đống.

- Kìa! Vị ấy bảo. Rời bỏ kinh thành như thế này

để trở th ành người tu hành ngay khi cơ

duyên tốt lành vừa đến, thật l à một việc

cao cả thay!

Vị vua ấy vừa hỏi đường một anh ch àng

say rượu nào đó, liền đi t ìm Tôn giả

Hatthipàla. Khi Hatthipàla nhận biết vị vua ấy

đ ã đến ven rừng, liền bước ra đón mừng,

vừa tr ên không vừa thuyết Pháp cho toàn hội chúng mới. Sau

đó ng ài dẫn

đám người ấy v ào rừng ẩn cư, tiếp nhận cả

đo àn vào hội chúng tu tập. Cùng cách

trên, sáu vị vua khác gia nhập vào đây. Bảy vị

vua n ày đều từ bỏ mọi phú quí vinh

quang. Chốn ẩn cư n ày rộng cả ba mươi sáu dặm cứ

đông đúc dần dần. Mỗi khi có một vị đạo nhân n ào

khởi tư tưởng tham dục hay các tưởng tượng như thế, ngài thường thuyết Pháp

cho vị đó v à giảng dạy hội chúng tư duy

về các Công hạnh Viên mãn (Các hạnh Ba-la-mật) và thiền

định, n ên dần dần các vị này tu tập pháp

môn nhập định; hai ba phần hội chúng được tái

sanh v ào cảnh giới Phạm Thiên, còn một phần ba lại

được chia ra th ành ba nhóm: một nhóm

được sanh l ên cõi Phạm thiên giới, một

nhóm được sanh v ào sáu tầng trời dục

giới và một nhóm, sau khi hoàn thành sứ mạng của vị kiến giả,

được sinh v ào thế giới loài người. Như

vậy mỗi người trong ba nhóm đều được thọ hưởng

công đức của m ình. Thế là việc giáo hóa của hiền giả Hatthipàla

đ ã cứu độ

mọi người khỏi đọa địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ v à khỏi trở thành một

Asura (A-tu-la: một loại ác thần hay sân hận, từng gây chiến với chư Thiên

dục giới).

*

Trên đảo Tích Lan (Ceylon) n ày, các

vị đ ã làm Ðại sự Xuất thế là Trưởng lão

Dhammagutta, vị này đ ã làm cho

địa cầu chấn động; Trưởng l ão

Phussa-deva, một thị dân của thành Katakandhakara, Trưởng lão

Mahàsamgharakkhita từ vùng Uparimandalakamalay, Trưởng lão Malimahàdeva từ

vùng Bhaggiri; Trưởng lão Mahàsìva, từ vùng Vàmantapabbhàra; Trưởng lão

Mahànàga từ vùng Kàlavallimandapa; các vị trong hội chúng của ngài Kuddàla,

Mùgapakkha, Cùlusutasoma, của Hiền giả Ayohara, và cuối cùng của tất cả hội

chúng Hatthipàla.

Do vậy bậc Thế Tôn bảo:

- Hãy vội làm việc lành, các vị sẽ được an

lạc ! Nghĩa là an lạc chỉ đến với ta nếu

ta vận dụng hết công sức m ình.

*

Khi Pháp thoại này chấm dứt, bậc Ðạo Sư bảo:

- Như vậy này các Tỷ-kheo, ngày xưa, Như Lai làm Ðại sự Xuất thế cũng như

bây giờ

Nói xong Ngài nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy phụ vương Sudhodana (Tịnh Phạn) là vua Eusari, mẫu hậu

Mahàmayà là vị chánh hậu kia; Kassapa (Ca-diếp) là vị tế sư, Bhaddakapilàni

là vị phu nhân, Anuruddha (A-na-luật- đ à)

là Ajapàla, Moggallàna (Mục-kiền-liên) là Gopàla, Sàriputta (Xá-lợi-phất) là

Assapala, hội chúng của đức Phật l à toàn

thể đám người kia, v à Ta chính là Hiền

giả Hatthipàla.

-ooOoo-

510. Chuyện vương tử trong ngôi nhà sắt (Tiền thân Ayoghara)

Mầm sống một khi nhập tử cung...

Câu chuyện này bậc Ðạo Sư kể về Ðại sự Xuất thế của Ngài. Tại

đây một lần nữa, Ng ài bảo:

- Này các Tỷ-kheo, đây không phải l à

lần đầu ti ên Như Lai làm Ðại sự Xuất

thế, vì trước kia Như Lai cũng đ ã làm

như thế.

Và Ngài kể cho T ăng chúng một chuyện quá

khứ.

*

Một thuở nọ, khi vua Bramadatta trị vì Ba-la-nại, bà chánh hậu thọ thai,

đến thời m ãn nguyệt khai hoa, bà sinh

một vương tử ngay sau buổi rạng đông. Bấy giờ

trong một đời trước có một phụ nữ khác cũng lấy chồng chung với b à,

đ ã thốt lời thề rằng nàng sẽ tìm cách

ăn thịt h ài nhi của bà

đời sau. Chuyện kể lại, v ì nàng không

sinh sản gì nên đem l òng tức giận cả hai

mẹ con bà thuở ấy, mới thốt lên lời nguyền như trên. Bởi duyên cớ

đó, n àng tái sinh thành một thứ quỷ cái.

Còn người mẹ kia, nay trở thành chánh hậu và sinh hạ hoàng nam này. Con quỷ

cái ấy tìm cơ hội hiện hình khủng khiếp chụp lấy hài nhi ngay trước mặt

người mẹ và mang đi mất. Ho àng hậu thét

lên vang lừng:

- Một con quỷ đ ã bắt hoàng nam của ta

rồi!

Con quỷ kia nhai ngấu nghiến trệu trạo đứa h ài

nhi như ăn một củ h ành sống rồi nuốt

trửng hết! Sau đó nó lại biến hóa tay chân ra

đủ h ình dạng để đe dọa cho ho àng

hậu kinh hoảng lên, rồi biến đi. Khi vua hay

tin dữ ấy, ng ài câm lặng không nói gì

được, ng ài suy nghĩ: "Còn biết làm sao chống chọi lại con quỷ cái kia

chứ?"

Lần kế tiếp hoàng hậu lâm bồn, vua sắp đặt

quân canh ph òng bên mình bà. Bà hạ sinh một vương tử nữa, con quỷ ấy

lại đến vồ lấy đứa bé ăn thịt rồi biến mất.

Làn thứ ba chính là bậc Ðại Sĩ nhập mẫu thai của chánh hậu. Vua triệu tập

một số người lại phán:

- Hễ hoàng nhi nào do chánh hậu của trẫm sinh ra

đều bị một con quỷ cái đến vồ lấy ăn thịt. Vậy

phải l àm sao bây giờ?

Sau đó có người tâu:

- Bọn quỷ rất sợ lá thốt nốt, chúa thượng nên cho buộc một ngọn lá ấy vào

tay chân hoàng hậu.

Một kẻ khác lại tâu:

- Bọn quỷ cũng sợ cái nhà bằng sắt. Vậy phải dựng lên một cái.

Nhà vua chấp thuận. Ngài triệu tập tất cả thợ rèn trong quốc

độ ng ài và ra lệnh dựng cho ngài một cái

nhà bằng sắt, và cho người giám sát công việc của họ. Ngay trong kinh thành,

tại một địa điểm khả ái, họ xây l ên một

ngôi nhà có cột trụ và mọi bộ phận trong nhà không gì khác ngoài sắt; trong

chín tháng ngôi nhà được ho àn tất, thật

là một lâu đ ài vững chắc kiên cố,

được đ èn chiếu sáng suốt ngày

đ êm không bao giờ ngưng cả.

Khi vua biết rằng hoàng hậu sắp mãn nguyệt khai hoa, ngài truyền lệnh sắp

đặt tiện nghi đầy đủ cho t òa nhà sắt rồi

rước bà vào trong đó. B à hạ sinh một

hoàng nam có đầy đủ mọi quý tướng tốt l ành,

và hai vị đặt t ên con là Ayoghara Kumàra

hay Vương tử Thiết Thất (Vương tử ở trong ngôi nhà sắt)

Vua giao hài nhi cho các nhũ mẫu trông nom lại sắp

đặt một đôi vệ sĩ h ùng hậu giữ quanh lâu

đ ài ấy, trong khi ngài cùng chánh hậu

đi diễu quanh kinh th ành hướng về phía

hữu, rồi ngự lên thượng lầu nguy nga lộng lẫy của hoàng cung. Ðồng thời con

quỷ cái, vì cần uống nước đ ã

đi t ìm thứ nước của Thiên Vương

Vessavana (Tỳ-sa-môn) nên bị giết.

Trong ngôi nhà sắt kia, bậc Ðại Sĩ lớn lên cùng với trí khôn phát triển

dần, ngài được dạy đủ mọi môn học thuật cũng

tại nơi đó cả.

Vua hỏi các triều thần:

- Nay vương nhi đ ã mấy tuổi rồi?

Hội chúng đáp:

- Tâu chúa thượng, vương tử vừa lên mười sáu: thật là một trang anh hùng

đầy dũng lực cường tráng, đủ để chế ngự cả ng àn

con quỷ kia!

Vua liền quyết định giao vương quyền v ào

tay vương tử. Ngài ra lệnh cho kinh thành trang hoàng rực rỡ, truyền bảo

rước vương tử ra khỏi ngôi nhà sắt đến triều

kiến ng ài. Quần thần tuân lệnh: Toàn thành Ba-la-nại

được trang ho àng rực rỡ, kinh

đô vĩ đại ấy trải khắp mười hai dặm; họ lại tô

điểm cho vương tượng bằng tấm khăn phủ lưng thật lộng lẫy, phục sức cho

vương tử cực kỳ sang trọng rồi đặt ng ài lên lưng vương tượng và tâu:

- Tâu Ðiện hạ, xin Ðiện hạ ngự du một vòng theo phía hữu quanh kinh thành

đang nô nức mở hội n ày,

đây chính l à giang sơn sự nghiệp của

Ðiện hạ, sau đó sẽ đến đảnh lễ đấng Ho àng

thượng là Ðại vương quốc độ K àsi, vì hôm

nay chính là ngày Ðiện hạ đón nhận chiếc Lọng

trắng.

Bậc Ðại Sĩ ngự đám rước ng ài diễu

quanh kinh thành theo về phía bên hữu, ngài thấy các hoa viên tuyệt mỹ,

đủ m àu sắc xinh tươi với hồ nước, các

thửa ruộng, vườn cây, nhà cửa phố xá, khắp nơi

đều đẹp mắt, ng ài tự nhủ thầm: "Tất cả cảnh sắc thế này mà trong bao

lâu vương phụ lại giam giữ ta rất cẩn mật, chẳng hề cho ta thấy kinh thành

được trang ho àng rực rỡ thể kia. Ta

đ ã có lỗi gì vậy?" Ngài liền

đem câu ấy hỏi các triều thần. Hội chúng đáp:

- Tậu Ðiện hạ, ngài chẳng có lỗi gì. Song có một con quỷ cái

đ ã xé xác

ăn hai vương huynh của ng ài mất đi n ên

đức Thượng ho àng cho ngài ở trong ngôi

nhà sắt và chính ngôi nhà sắt ấy đ ã cứu

mạng ngài.

Những lời này lại làm ngài suy nghĩ: "Suốt mười tháng ta

đ ã ở trong bụng mẹ, chắc hẳn có khác gì

cái địa ngục h ình Chảo Sắt (Thiết Oa

địa ngục) hay Ðịa ngục phân dơ (Phẩn Ni

địa ngục) đâu, rồi khi ta ra khỏi bụng mẹ, cả

mười sáu năm trời nay ta sống trong ngục thất kia, không bao giờ có cơ hội

nh ìn ra ngoài. Mặc dù ta đ ã thoát

được đôi b àn tay của con quỷ kia, ta vẫn

không sao thoát được tuổi gi à và thần

chết; vậy ta sẽ xin phép phụ vương đi theo đời

sống tu h ành, và ta sẽ lên vùng Tuyết Sơn

để thực hiện ước nguyện."

Như vậy sau khi ngài dự đám lễ hội rước ng ài

ngự quanh kinh thành xong, ngài vào hoàng cung,

đảnh lễ phụ vương v à đứng chờ lệnh. Vua

ngắm dung sắc tuyệt mỹ của ng ài, lại nhìn

đến đám quần thần với tấm l òng yêu

thương mãnh liệt bừng lên trong đôi mắt. Quần

thần hỏi:

- Tâu Chúa thượng, Chúa thượng muốn truyền cho chúng thần làm gì?

- Các hiền khanh hãy đưa vương nhi ngự l ên

đám trân châu báu ngọc, l àm lễ quán

đảnh cho vương nhi với nước từ ba vỏ ốc x à

cừ, xong rồi giương chiếc Lọng trắng viền tua vàng lên che cho vương nhi.

Song Bậc Ðại Sĩ đảnh lễ phụ vương v à

thưa trình:

- Tâu phụ vương, con không muốn liên hệ gì với vương triều nữa. Con ước

ao sống đời tu tập v à con tha thiết cầu

mong phụ vương cho phép con làm việc ấy.

- Này vương nhi, tại sao con lại muốn rời bỏ vương vị và sống theo

đời tu khổ hạnh.

- Tâu phụ vương, suốt mười tháng con nằm trong bụng mẹ chẳng khác nào Ðịa

ngục phân dơ, khi đ ã sinh ra

đời, v ì sợ con quỷ dữ mà con phải sống

trong cảnh giam cầm, chẳng bao giờ có cơ hội nhìn ra ngoài. Con thấy giống

như bị nhốt vào ngục Ussada (Ngục có thành sắt bao bọc), nay

đ ã thoát nạn quỷ cái ấy, song con chẳng

bao giờ thoát được tưổi gi à và cái chết,

vì không ai có thể chiến thắng thần chết cả. Con nhàm chán sự sinh ra

đời rồi. Vậy trước khi gi à, bệnh, chết

kéo đến với con, con quyết theo đời người tu h ành,

tiến bước trong chánh hạnh. Con không muốn ngai vàng dành cho con. Tâu phụ

vương, xin phụ vương ban ơn chấp thuận cho con

đi.

Rồi ngài thuyết Pháp cho thân phụ như vầy:

1. Mầm sống, một khi nhập tử cung

Mới vừa khởi sự bước đầu xong

Nó liền tiến mãi hoài liên tục

Sinh mệnh dòng kia chẳng thể dừng.

2. Không một quyền n ăng, chẳng lực h ùng

Giúp người tránh lão tử sau cùng,

Mọi loài khổ lụy vì sinh lão,

Con quyết tìm thanh tịnh bản thân

3. Ðại vương chiến thắng bởi hùng binh

Bốn đạo quân nh ìn thật

đáng kinh,

Song chẳng phá tan quân Diêm chúa

Nên con nguyền Phạm hạnh phần mình

4. Dù mã, tượng, xa với đạo quân

Vây quanh, vài kẻ thoát nhanh chân;

Song không ai thoát tay thần chết

Con quyết đời thanh tịnh để phần.

5. Với mã , tượng xã, các đạo binh

Anh hùng tiêu diệt thảy tan tành.

Song không thấy có người nào đủ

Sức mạnh phá tan được tử h ình;

Vì thế lòng con nay đ ã quyết

Cuộc đời Phạm hạnh để cho m ình

6. Voi đi ên, da

đẫm ướt tr ên

đường

Phố xá dẫm tan, giết hại dân,

Song chẳng thấy người đầy thế lực

Dẫm ta, tiêu diệt tử ma vương;

Cho nên con quyết lòng tu tập

Thanh tịnh đời ri êng với bản thân.

7. Xạ thủ đại h ùng, thiện xảo thay,

Bắn như tia chớp tự xa bay,

Song con không thấy người thừa sức

Làm tổn thương được thần chết n ày

Vì thế lòng con giờ quyết định

Theo đời thanh tịnh để phần đây.

8. Rừng núi, hồ sông với thạch bàn

Không lâu để sụp đổ đi êu tàn

Ðúng thời, vạn vật thành không cả,

Con quyết đời thanh tịnh bước đ àng.

9. Giống như cây ở mé bờ sông

Bán áo, người say đổi rượu nồng

Cuộc sống muôn loài đều khổ cả,

Nên con quyết Phạm hạnh riêng phần

10. Tứ đại r ã tan , chúng lụi dần,

Trẻ già, nam nữ, cả nhân quần

Ngã như trái rụng vì cây đổ;

Con quyết đời thanh tịnh bản thân

11. Xuân của thế gian khác nữ thần

Ngự trên tinh tú ấy cô Hằng

Chẳng bao giờ tuổi xuân về nữa

Ðối với lão niên kiệt quệ dần

Lạc thú ái ân nào có được ?

Nên con quyết Phạm hạnh riêng phần.

12. Ác quỷ thần tiên, lúc nổi sân

Phun luồng khí độc hại ph àm nhân,

Song làn khí độc thần linh ấy

Chẳng giúp vào xô ngã tử thần

Vì vậy lòng con giờ đ ã quyết

Cuộc đời thanh tịnh để ri êng phần.

13. Khi ác thần, yêu quái quỷ tinh

Nổi sân, được vuốt dịu l àm lành

Do người cúng bái; song không thể

Làm tử thần tan hết bất bình

Vì vậy giờ con đây quyết định

Cuộc đời thanh tịnh để phần m ình.

14. Những người gây tội ác, hung tàn

Khi lộ, bị hình phạt chúa ban

Song với tử thần, không thể phạt

Nên con nguyền Phạm hạnh lên đ àng

15. Những người gây tội ác đau thương

Tìm cách cản tay các đế vương

Song với tử thần tay lưỡi hái

Việc này xem quả thật vô phương.

Cho nên con quyết giờ đây chọn

Thanh tịnh đời con tiến thẳng đường

16. Quân vương, võ tướng, Bà-la-môn

Những kẻ mang danh vị tối tôn,

Những đại phú gia, người thế lực

Tử thần cũng chẳng rũ lòng thương

Cho nên con quyết từ đây sống

Phạm hạnh đời con đ ã chọn

đường

17. Cọp beo, sư tử chụp con mồi

Tất cả đều ăn sống nuốt tươi

Cho dẫu con mồi mong giãy giụa

Tử thần đâu sợ hổ, sư nhai !

Cho nên con trẻ từ đây quyết

Phạm hạnh riêng con sống cả đời

18. Kẻ xiếc trên sân khấu lộn sòng

Diễn trò lừa bịp mắt người trông

Muốn lừa thần chết, không mưu kế;

Thánh hạnh đời con đ ã quyết lòng

19. Nọc độc rắn rồng lúc nổi sân

Tấn công, giết lập tức người trần;

Nọc kia, thần chết không hề sợ;

Thanh tịnh đời con quyết chọn phần

20. Nanh độc rắn d ùng lúc nổi sân,

Vị lương y có đủ t ài n ăng

Làm tiêu tan hết xà công lực

Song chữa vết thương của Tử thần

Không một anh hùng nào đủ sức

Nên con quyết Phạm hạnh riêng phần

21. Lương y chữa nọc rắn tài tình,

Ðã chết, giờ đây khuất bóng h ình:

Bố-giạ, Vệ-tài, Ða-mẫn nữa

Nên con quyết Phạm hạnh cho mình

22. Vài kẻ tinh thông thuật, chú thần,

Tàng hình đi trước mặt tha nhân,

Tuy nhiên không thể tàn hình mãi

Mà tử thần trông thấy vẫn gần

Vì vậy lòng con nay quyết định:

Cuộc đời thanh tịnh để ri êng phần

23. Bất cứ ai theo hạnh phúc chánh chân

Ðều là người được hưởng b ình an,

Khéo hành chánh đạo nhiều công đức,

Hạnh phúc thay là bậc chánh nhân!

Chẳng bao giờ có người chánh hạnh

Rơi vào trong đọa xứ đau buồn

24. Ðúng ch ăng nghiệp quả của ri êng

mình

Ðều phải do tà, chánh phát sinh?

Tà hạnh dẫn người vào địa ngục

Chánh chân đưa đến c õi thiên

đ ình.

Khi bậc Ðại Sĩ đ ã thuyết pháp như vậy

qua hai mươi bốn vần kệ xong, ngài tiếp:

- Tâu Ðại vương, xin Ðại vương giữ quốc độ

cho m ình, phần con không màng đến nó

chút n ào. Ngay khi con đang tâu tr ình

với phụ vương thì bệnh tật, tuổi già và thần chết nữa

đều tiến đến gần con hơn. Xin phụ vương ở lại

vương vị cũ.

Sau đó, chẳng khác n ào con voi

đi ên cuồng bật tung xiềng xích bằng sắt,

hoặc như chú sư tử nhỏ bé phá vỡ chiếc lồng vàng, ngài

đập tan mọi dục vọng ph àm tục trong lòng

và đảnh lễ song thân rồi ra đi.

Tiếp theo đó phụ vương của ng ài phán:

- Ta cũng không thiết ngai vàng quốc độ nữa !

Rồi vua cha từ giã thế sự, ra đi c ùng

ngài. Khi các ngài đi rồi, chánh hậu, đám triều

thần B à-la-môn, các gia chủ cùng mọi người khác trong kinh thành

đều bỏ nh à cửa ra

đi hết.

Thế là một đo àn

đại chúng trải d ài cả mười hai dặm

đường. C ùng với

đám đông n ày, ngài tiến về phía Tuyết

Sơn.

Khi Sakka Thiên chủ (Ðế Thích) biết rằng ngài

đ ã xuất gia, liền sai Thiên sứ

đi xây dựng một v ùng am thất trải dài cả

mười hai dặm, bề rộng bảy dặm và truyền bảo vị ấy

đem v ào đó

mọi thứ cần thiết cho cuộc đời tu tập khổ hạnh. Cách thức bậc Ðại Sĩ

tiếp tục thâu nhận đám người n ày vào hội

chúng xuất gia của ngài và thuyết giáo cho hội chúng, sau

đó hội chúng được sinh l ên Phạm thiên

giới hay chứng đắc quả Tam quả bất Lai như thế

n ào, tất cả đều diễn ra giống như trước

kia

*

Khi Pháp thoại này chấm dứt, bậc Ðạo Sư bảo:

- Như vậy này các Tỷ-kheo, trước kia Như Lai cũng

đ ã làm Ðại sự Xuất thế.

Sau đó Ng ài nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy, song thân của vương tử kia là phụ hoàng và mẫu hậu ngày

nay, hội chúng của đức Phật l à

đám thần dân v à Ta chính là Hiền giả

Ayoghara (Thiết Thất)