Chuyện Tiền Thân · Jātaka

JAT-058 · 498. Chuyện Đôi Bạn

Jātaka group 58 · Bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu / Giáo sư Trần Phương Lan. Reader này gom dòng nguồn thành đoạn đọc tự nhiên, nhưng vẫn giữ dữ liệu nguồn để đối chiếu.

Mã kinhjat-058
Số MN58
NguồnBudsas.net
Đối chiếubudsas.net

Chương XV#

Phẩm Hai Mươi Bài Kệ#

497- Chuyện bậc Hiền trí Màtanga (Tiền thân Màtanga)
Lão từ đâu đến, đắp y dơ.....
Chuyện này bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại
Kỳ Vi ên về vua Udena.
Vào thời ấy, Tôn giả Pindola Bhàradvàja phi hành từ Kỳ Viên qua không
gian, thường đến tránh cơn nóng ban ng ày
trong vườn ngự uyển của vua Udena nước Kosambi. Chuyện kể rằng Tôn giả này
trong một đời trước đ ã làm vua, và thọ
hưởng một thời gian dài cảnh vinh quang phú quý trong chính vườn ngự uyển
kia cùng đám hầu cận. Nay nhờ công đức thiện
nghiệp ông đ ã tạo được, n ên ông
thường đến tọa Thiền tại đây, tránh cơn nóng
ban ng ày và hưởng được cực lạc do chứng
đắc Thánh quả.
Một hôm ông vào chỗ đó ngồi dưới một cây
Sala đang trổ hoa sung m ãn, thì vua Udena
đi v ào vườn với một
đo àn tùy tùng
đông đảo. Suốt bảy ng ày trước vua uống
rượu say nên muốn vào ngự viên giải trí. Vua nằm trên vương sàng trong cánh
tay của một nàng cung nữ và được dỗ d ành
cho chóng ngủ thiếp đi. Sau đó đám nữ nhạc ngồi
ca hát quanh vua đặt nhạc khí xuống, vừa đi quanh quẩn trong vườn ngự uyển
vừa nhặt hoa trái. Dần dần họ thấy vị Trưởng l ão ấy nên bước lên,
đảnh lễ vị ấy v à ngồi xuống. Vị Trưởng
lão ngồi tại chỗ đó thuyết pháp cho họ nghe. N àng
cung nữ kia đổi cánh tay để thức vua dậy, vua
hỏi :
- Bầy tiện tỳ kia đi đâu cả rồi ?
Nàng đáp :
- Chúng đang ngồi v òng quanh một nhà
tu khổ hạnh.
Vua nổi cơn thịnh nộ, đi đến gặp vị Trưởng l ão
và mạ lỵ phỉ báng:
- Đi ngay, ta muốn kẻ kia phải bị bầy kiến
xé xác ra !
Thế là trong cơn thịnh nộ, vua truyền đem
một thúng kiến đỏ đến rải tung tr ên thân thể vị Trưởng lão. Song vị
này đ ã bay lên không gian, và thuyết
giáo cho vua xong, trở về Kỳ Viên hạ xuống trước cổng Hương phòng.
Đức Như Lai hỏi :
- Ông từ đâu đến ?
Tôn giả ấy kể lại sự việc trên. Ngài bảo:
- Này Bhàradvàja, đây không phải l à
lần đầu ti ên vua Udena nổi sân hận và l ăng
mạ một kẻ tu h ành, mà trước kia cũng đ ã
như thế.
Rồi theo lời thỉnh cầu của vị Trưởng lão, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một thời, khi vua Brahmadatta lên ngôi tại Ba La Nại; bậc
Đại sĩ sinh l àm con trai của một người
Chiên đ à la (Candàla: hạ
đẳng tiện dân) ở ngoại th ành, họ
đặt t ên ngài là chú voi Màtanga. Sau
đó ng ài thông
đạt trí tuệ, danh tiếng lan truyền khắp nơi l à
bậc Hiền trí Màtanga.
Lúc bấy giờ có một nàng tên Dittha- Mangalikà (Người thấy các
Điềm l ành), con gái của một vị thương
nhân thành Ba La Nại, cứ một hoặc hai tháng một lần, thường vào ngự viên vui
đ ùa cùng
đám bạn đồng h ành đông đảo.
Một ngày kia, bậc Đại sĩ đi v ào
thành, liền gặp Dittha-Mangalikà, ngài bước sang một bên và
đứng im phăng phắc. Từ sau búc m àn,
Dittha trông thấy ngài và hỏi:
- Ai đó ?
- Thưa cô nương, một kẻ Chiên đ à la.
- Hừ, nàng đáp,- ta đ ã thấy nhằm một
vật mang điềm xui xẻo.
Rồi nàng rửa mắt bằng nước hoa và quay đ i.
Đám người đi với n àng la lớn:
- Này tên bần cùng hèn hạ kia, mày đ ã
làm chúng ta mất phần cơm rượu miễn phí hôm nay.
Trong cơn giận dữ, họ lấy tay chân đấm đá
bậc Hiền trí M àtanga, khiến cho ngài bất tỉnh rồi bỏ
đi. Sau một lát ng ài hồi tỉnh và nghĩ
thầm: " Đám người đi theo Dittha-Mangalika đ ã
vô cớ đánh
đ ập ta, một kẻ vô tội. Ta quyết sẽ không nhúc nhích cho
đến khi ta chiếm được n àng, chẳng chịu
đi trước một chút n ào cả".
Với quyềt định n ày, ngài bước
đi đến trước cửa nh à cha nàng. Khi
đám gia nhân hỏi tại sao ng ài nằm
đó, ng ài
đáp :
- Ta chỉ muốn được nàng
Dittha-Mangalikà mà thôi.
Một ngày trôi qua, rồi hai, ba, tư, n ăm,
sáu, quyết định của chư Phật thường thường không sao lay chuyển được; v ì
thế vào ngày thứ bẩy họ phải đem cô gái ra trao
cho ng ài. Sau đó n àng bảo:
- Nào đứng l ên chàng ơi, ta cùng
đi về nh à chàng
đi !
Song ngài đáp :
- Cô nương ôi, ta vừa bị bọn người nhà nàng
đánh đập n ên thân, nay ta yếu lắm, nàng hãy cõng ta trên lưng và mang
đi.
Nàng làm theo lời ấy ngay trước mặt mọi người dân trong thành và nàng cứ
tiến dần từ thành đô đi đến v ùng tiện
dân Chiên đ à la cư trú.
Ở đó trong v ài ngày, bậc
Đại Sĩ giữ n àng lại mà không chút nào
xâm phạm các luật lệ của giai cấp. Rồi ngài suy nghĩ: "Chỉ bằng cách từ bỏ
thế tục, chứ không còn cách nào khác, ta mới có thể cho cô nương này thấy
cảnh vinh hiển tột bậc và cho nàng hưởng những lễ vật cao sang nhất". Vì thế
ngài bảo nàng:
- Này nương tử, nếu ta không vào rừng kiếm
ăn th ì chúng ta không thể sống được. Vậy
ta muốn v ào rừng, nàng hãy đợi cho đến
khi ta về; song đừng có lo âu g ì cả.
Ngài ra lệnh cho gia nhân không được sao nh ãng
đối với n àng, rồi
đi v ào rừng, sống cuộc
đời người tu h ành, rất nhiệt tâm tinh
tấn; vì vậy trong bẩy ngày, ngài tu tập và thành tựu Tám thiền chứng và N ăm
thắng trí. Sau đó ng ài suy nghĩ: "Nay ta
đ ã có thể bảo vệ Dittha-Mangalikà được
rồi".
Nhờ thần thông lực, ngài trở về và hạ xuống cổng làng Chiên
đ à la, từ
đó đi v ào nhà Dittha Mangalikà. Khi nghe tin ngài trở về, nàng bước
ra và òa lên khóc bảo:
- Tại sao chàng bỏ thiếp và đi tu khổ hạnh ?
Ngài đáp :
- Này nương tử, đừng lo g ì cả. Nay ta
có thể làm cho nàng vinh quang hơn trước kia nữa! Vậy nàng có chịu nói lên
giữa mọi người đúng lời n ày: Phu quân ta
không phải là Màtanga, mà là một đấng Đại Phạm
thi ên ch ăng ?
- Thưa phu quân được, thiếp xin nói điều ấy.
- Tốt lành thay, khi dân chúng hỏi: Chồng nàng
đâu ? Nàng trả lời: Chàng
đ ã đi l ên
Phạm Thiên giới. Nếu họ lại hỏi: Thế khi nào chàng về? Nàng phải
đáp : Trong bảy ngày nữa, chàng sẽ về,
xuyên qua mặt tr ăng tr òn
đầy của đ êm rằm.
Cùng với những lời này, ngài đi v ào
vùng Tuyết Sơn. Lúc bấy giờ, Dittha Mangalikà nói những
điều n àng đ ã
được căn dặn khắp nơi ở Ba la nại giữa quần
chúng đông đảo. Dân chúng tin ngay lời ấy , bảo nhau :
- Ngài là đấng Đại Phạm thi ên, nên
đ ã không
đến thăm viếng Dittha, nhưng mọi việc sẽ như vầy như vầy.
Vào đ êm tr ăng
rằm, trong lúc vầng trăng đang di chuyển nửa vời, Bồ Tát hóa th ành
một vị Phạm thiên ở giữa luồng ánh sáng tràn ngập vương quốc Kàsi và kinh
thành Ba la nại đến mười hai dặm, băng ngang
qua mặt trăng v à giáng trần. Ngài đi v òng
quanh kinh thành Ba la nại ba lần, được dân
chúng đông đảo tỏ l òng sùng bái bằng các vòng hoa thơm và hương liệu
khác rồi quay mặt về hướng ngôi làng Chiên đ à
la.
Những người ngưỡng mộ Phạm Thiên tụ tập cùng nhau
đi về phía l àng Chiên
đ à la ấy. Họ bao phủ c ăn
nh à của Dittha Mangalikà bằng màu vải trắng tinh, lau sàn nhà bằng
bốn loại hương thơm, rải hoa khắp nơi, đốt trầm
hương, trương một tấm vải l àm mái che,
đặt một bảo tọa rực rỡ, thắp đ èn dầu thơm, rắc lớp cát mịn như phiến
bạc rồi treo đ èn kết hoa và cờ xí rợp
trời.
Trước gian nhà được trang ho àng lộng
lẫy thế kia, bậc Đại Sĩ bước v ào và ngồi
một lát trên bảo tọa. Lúc ấy Dittha-Mangalìka
đang có kinh kỳ. Ng ài lấy ngón tay trỏ rờ vào rốn nàng và nàng thụ
thai. Sau đó bậc Đại Sĩ bảo n àng:
- Này hiền thê, nàng đ ã thụ thai,
nàng sẽ sinh ra một con trai, nàng và con trai nàng sẽ
được phú quý tột bậc, nước rửa chân n àng
sẽ được vua chúa d ùng làm lễ quán
đảnh (lễ rảy nước thánh phong vương) c õi
Diêm Phù Đề (Ấn Độ), nước n àng tắm sẽ là
thứ tiên dược trường sinh bất tử, người nào rảy nước
đó l ên đầu
sẽ thoát khỏi mọi thứ bệnh tật v à không gặp
điềm xui xẻo, những kẻ n ào
được đặt đầu dưới chân n àng và kính lễ
nàng, sẽ dâng lên một ngàn đồng tiền v àng.
Những kẻ nào được đứng gần đủ để có thể nghe n àng
nói và kính lễ nàng sẽ dâng lên một tr ăm đồng;
kẻ n ào được đứng để trông thấy n àng
và kính lễ nàng sẽ dâng một đồng rupee. Vậy n àng
hãy tỉnh giác giữ mình cẩn thận!
Cùng với lời khuyến giáo này, trước mặt một
đám đông, ng ài đứng dậy v à lại
đi v ào mặt tr ăng.
Những người sùng bái Phạm thiên tụ tập nhau lại và
đứng đó suốt đ êm, sáng hôm sau họ mời
nàng lên chiếc kiệu bằng vàng và đội l ên
đầu n àng , rước nàng vào kinh
đô. Một đám đông dân chúng chạy đến phía n àng
kêu lớn:
-Kìa! Hoàng hậu của đấng Phạm thi ên!
Rồi cúng bái nàng với các hoa thơm và nhiều thứ nữa, những kẻ nào
được phép đặt đầu dưới chân n àng và kính
lễ đều dâng l ên một túi tiền một ngàn
đồng, người n ào
đứng gần n àng và kính lễ thì dâng một tr ăm,
người n ào đứng đủ nh ìn thấy
được n àng và kính lễ thì dâng một rupee.
Cứ vậy họ tiến dần khắp thành Ba la nại, rộng mười hai dặm và thu
được tổng số một trăm tám chục triệu đồng.
Sau khi đi xung quanh th ành như vậy,
họ rước nàng vào nội thành, dựng lên một ngôi đ ình
lớn vây màn chung quanh, mời nàng yên nghỉ tại
đó giữa cảnh huy ho àng vinh quang như thế. Tới ngôi
đ ình, họ bắt
đầu xây bảy cổng v ào thật lớn và dựng
một cung điện bảy tầng, họ đ ã tạo
được nhiều công đức mới d ành phần họ
vậy.
Cũng trong ngôi đ ình ấy
Dittha-Mangalikà sinh hạ con trai. Vào ngày đặt
t ên hài nhi, các Bà la môn tụ họp nhau và
đặt t ên nó là Mandavya Kumàra hay Vương
tử của Ngôi Đ ình, vì nó
được sinh ra tại đó. Độ mười tháng, lâu đ ài
kia đ ã được
xây xong, từ đó n àng vào ở trong lâu đ ài
vô cùng vinh hiển và Vương tử Mandavya lớn lên giữa cảnh huy hoàng tột bực.
Khi hài nhi được bẩy tuổi, những bậc thầy
danh tiếng nhất khắp to àn cõi Diêm phù
đề (Ấn Độ) tụ tập lại v à dạy cậu ba tập Vệ
Đ à. Từ mười sáu tuổi cậu trai
đ ã cúng dường thực phẩm cho các Bà la
môn, và mười sáu ngàn Ba la môn được cúng dường
li ên tục ; tại cổng thành thứ tư có dàn binh bố trận, các vật cúng
dường được phân phát cho các vị B à la
môn.
Bấy giờ vào một ngày Đại hội, dân chúng
chuẩn bị một số lớn cháo gạo, rồi mười sáu ng àn Bà la môn ngồi tại
cổng thành thứ tư có dàn binh bố trận kia, và dùng món cháo ấy cùng với món
bơ tươi màu vàng óng ánh, nước đường pha mật
ong đặc, v à chính vị vương tử trang điểm
ngọc châu sáng rực rỡ mang đôi h ài vàng dưới chân, cầm chiếc gậy vàng
ròng trong tay, vừa đi quanh vừa chỉ dẫn:
- Này bơ đây, mật ong đây.
Vào lúc ấy bậc hiền trí Màtanga đang ngồi
trong thảo am ở v ùng Tuyết Sơn, và hướng tầm tứ vào việc xem xét
những gì xảy ra cho con trai của nàng Dittha-Mangalikà. Khi nhận thấy cậu
con trai đang đi lạc t à
đạo, ng ài suy nghĩ: "Hôm nay ta sẽ
đi giáo hóa cho cậu bé kia v à dạy cho nó
biết cúng dường như thế nào để lễ vật bố thí ấy
sẽ mang lại kết quả lớn".
Ngài liền bay qua không gian đến hồ
Anotatta, rửa mặt mũi v à súc miệng rồi khi
đứng tại địa phận Manosila (thuộc v ùng
Tuyết Sơn) ngài khoác đôi tấm y v àng vào
quấn thắt lưng quanh người, rồi đắp phấn tảo y
(áo may bằng giẻ rách) ra ngo ài, cầm bình bát
đất, phi h ành qua không gian
đến cổng thứ tư ấy, nơi đó ng ài hạ xuống
ngay cạnh Bố thí đường, v à
đứng một b ên.
Đang lúc Mandavya nh ìn quanh quẩn, chợt
thấy ngài liền kêu to:
- Lão từ đâu đến, hỡi kẻ khổ hạnh kia, l ão
là kẻ hạ liệt bị bỏ rơi vô thừa nhận, một thứ yêu quỷ chứ không phải là
người đó chăng ?
Rồi cậu ngâm vần kệ đầu :
1- Lão từ đâu đến đắp y dơ,
Người ngợm tồi tàn tựa quỷ ma,
Giẻ rách làm y quàng trước ngực,
Lão là ai? Chẳng xứng phần quà!
Bậc Đại Sĩ lắng nghe, rồi với l òng từ
mẫn, ngài đáp lời cậu qua vần kệ thứ hai :
2- Vương tử! Thức ăn đ ã sẵn bày,
Mọi người ăn uống hưởng no say:
Bọn ta, ngài biết thường sinh sống
Bằng thứ tìm ra bởi gặp may.
Xin đứng l ên cho người hạ tiện
Hưởng phần thọ thực chút gì đây.
Tiếp theo Mandavya ngâm vần kệ thứ ba:
3- Phần các La môn hưởng phước ân,
Này đây thực phẩm chính tay dâng
Thí tài cúng với lòng thành kính.
Thôi cút! Ai đưa l ão cán chân?
Chẳng có phần cho người hạ tiện,
Kẻ hèn kia hãy bước đi luôn !
Vì nghe thế bậc Đại Sĩ ngâm vần kệ :
4- Mọi nơi cao thấp họ gieo trồng,
Mong gặt quả trên đám ruộng đồng:
Chánh đạo n ày
đây, xin bố thí,
Sau ngài xứng đáng hưởng phần công.
Sau đó Mandavya đáp kệ :
5- Ta biết đất ta muốn cấy trồng,
Những vùng xứng đáng hạt đâm bông,
La môn quý tộc, thông kinh thánh:
Là đất l ành phong phú ruộng
đồng.
Rồi bậc Đại Sĩ lại ngâm hai vần kệ :
6- Ngạo mạn giống dòng quá tự kiêu,
Tham sân si, uống rượu say nhiều,
Người tâm chứa đủ sai lầm ấy,
Là đất hoang cằn để hạt gieo.
7- Ngạo mạn giống dòng quá tự kiêu,
Tham sân si, uống rượu say nhiều,
Người tâm chứa đủ sai lầm ấy,
Là đất hoang cằn để hạt gieo.
Bậc Đại Sĩ cứ ngâm đi ngâm lại những lời kệ
ấy m ãi, song cậu trai nổi giận và kêu lớn:
- Lão này nói quàng xiêng quá nhiều rồi; những người gác cổng
đi dâu cả m à không tống cổ lão ra?
Rồi cậu ngâm kệ:
8- Này Bran-da! Hỡi U-paj-jhà!
Ta bảo, đâu rồi Up-ti-ya,
Trừng phạt lão này, cho lão chết,
Tên hèn hạ, tống cổ ngay ra.
Bọn gia nhân nghe tiếng cậu gọi, liền chạy
đến ngay kính lễ cậu rồi hỏi :
- Tâu Chúa công, chúng tiểu nô phải làm gì
đây ?
- Thế các người không thấy tên hạ liệt tồi tàn này sao?
- Tâu Vương tử không, chúng tiểu nô không biết lão
đ ã tới đây
lúc n ào cả, chắc chắn lão là tên lừa bịp xảo trá rồi !
- Nào, vậy sao các người còn đứng đó ?
- Tâu Chúa công, vậy chúng tiểu nô phải làm gì
đây ?
- Sao ư? Phải vả vào mồm lão! Bẻ hàm lão ra, lấy roi gậy
đánh cho nát lưng, trừng phạt l ão
đi, tóm lấy cả t ên khốn kiếp này, qu ăng
l ão xuống, tống lão ra khỏi đây ngay !
Song trước khi bọn chúng đến gần ng ài,
bậc Đại Sĩ đ ã bay lên không, vừa
đứng vững ở đó vừa ngâm kệ :
9- Phỉ báng Hiền nhân! Lợi ích bằng
Với khi nuốt ngọn lửa đang hồng,
Hay là sắt cứng, đưa răng cắn,
Đ ào núi, mà dùng móng vuốt không?
Sau khi thốt những lời này xong, bậc Đại Sĩ
vụt l ên cao trong khi cậu trai và đám B à
la môn ngơ ngác nhìn theo.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ để giải thích việc n ày:
10- Nói vậy, Màtanga trí nhân,
Bậc phò chánh đạo, lý thuần chân,
Rồi ngài bay bổng trên không khí
Trước mắt nhìn theo của đám đông.
*
Ngài quay mặt về hướng Đông, hạ xuống một
đường phố với ý định l àm cho dấu chân ngài
được nh ìn thấy, nên ngài khất thực gần
Đông môn. Lúc ấy, sau khi đ ã nhận
đ ược một số thực phẩm
đủ loại, ng ài ngồi xuống một sảnh
đường v à bắt
đầu ăn.
Song các thần linh trong kinh thành chợt
đến, thấy rằng vua n ày đ ã nói n ăng
như vậy l àm phiền nhiễu vị Hiền nhân của các vị, là
điều không thể dung thứ được, n ên vị
thần cao niên nhất trong bọn chụp lấy cổ Mandavya và vặn tréo, các quỷ kia
lại chụp lấy cổ các Bà la môn ấy và vặn luôn. Song vì thương cảm Bồ Tát, các
vị ấy không giết Mandavya, các vị bảo:
- Đó l à con trai của ngài.
Và các vị chỉ hành hạ cậu ta thôi. Đầu của
Mandavya bị vặn tréo ra đằng sau vai, tay chân cậu cứng đờ, mắt trợn trừng
như thể chết rồi, cậu nằm rũ liệt tại đó. Các B à la môn kia quay
cuồng vật vã, mồm chảy nước miếng tràn ra. Dân chúng
đến báo tin cho b à Dittha-Mangalikà:
- Tâu lệnh bà, có chuyện chẳng lành xẩy ra cho vương tử!
Bà vội chạy đến thấy cậu trai liền k êu
lớn:
- Ôi sao lại thế này?
Rồi bà ngâm kệ:
11- Vặn tréo đầu con khỏi bả vai,
Kìa sao con duỗi cánh tay dài,
Bơ vơ mắt trắng dường như chết,
Kẻ hại con mình đó chính ai ?
Khi ấy những người đứng ngo ài xem
liền ngâm kệ nói cho bà biết chuyện kia.
12- Ẩn sĩ đây khoác áo dơ,
Tồi tàn người ngợm tợ yêu ma,
Y bằng giẻ rách quàng ngang ngực,
Chính kẻ hành hung quý tử bà.
Nghe vậy bà suy nghĩ. "Chắc chắn đó l à
bậc Hiền nhân Màtanga, không ai khác có thần lực như vậy. Song một người
thủy chung và đầy thiện ý đối với mọi lo ài,
chẳng bao giờ lại bỏ đi để cho những kẻ n ày
phải chịu sự hành hạ thế kia. Nay không biết ngài
đ ã đi hướng
n ào?" Bà hỏi câu này qua vần kệ sau:
13- Về hướng đi n ào, bậc Trí nhân?
Trả lời ta, hỡi các vương tôn!
Chúng ta đi chuộc cho lầm lỗi,
Để giúp con t a
được tỉnh hồn.
Các chàng trai kia đáp lời b à theo
cách này:
14- Bậc Hiền vụt hiện giữa không gian,
Như thể vầng tr ăng giữa tối rằm,
Đẹp mặt thay, ng ài sùng Chánh
đạo !
Phương Đông th eo hướng ấy lên
đ àng.
Khi họ đáp như thế b à liền bảo:
- Ta quyết sẽ đi t ìm phu quân ta.
Rồi bà ra lệnh đem theo b à nhiều bình
vàng và chén vàng, rồi được một đám tỳ nữ vây
quanh, b à ra đi, t ìm thấy nơi có
dấu chân của ngài đ ã in xuống
đất, b à cứ theo dấu chân này cho
đến khi b à gặp ngài
đang ngồi tr ên một chỗ kia và
ăn cơm. Đi đến gần ng ài, bà
đảnh lễ rồi đứng im. Khi thấy b à, ngài
đặt miếng cơm v ào bát. Dittha-Mangalikà
rót nước lên tay ngài từ chiếc bình vàng, ngài lập tức rửa tay và súc miệng.
Sau đó b à hỏi:
- Ai đ ã làm việc tàn ác này cho con
trai của thiếp?
Và bà ngâm kệ:
15- Vặn tréo đầu con khỏi bả vai,
Kìa sao con duỗi cánh tay dài,
Bơ vơ mắt trắng dường như chết,
Kẻ hại con mình đó chính ai ?
Các vần kệ sau đây l à lời
đối đáp xen kẽ nhau giữa hai vị :
Bậc trí:
16- Quỷ linh đủ đại lực uy thần
Đẹp mắt theo hầu các trí nhân,
Chúng thấy con nàng sân, ác ý,
Nên hành xử nó chính vì nàng.
Bà hoàng:
17- Chính các thần linh tạo việc trên,
Hiền nhân đừng phẫn nộ thân h èn,
Xin ngài từ mẫn vì con thiếp,
Quy ngưỡng từ nay dưới gót sen.
Bậc trí:
18- Tâm ta, hãy biết, chẳng tiềm tàng,
Từ trước đến giờ, ý hận sân,
Con trẻ không thông ba Thánh điển,
Vì đầy vọng tưởng , ngập ki êu c ăng.
Bà hoàng:
19- Con người có thế, hỡi hiền nhân,
Bỗng chốc trí khôn hóa tối t ăm,
Tha lỗi thiếp này, thưa Trí giả,
Bậc hiền không để khởi hờn căm.
Bậc Đại Si được b à xoa dịu bằng lời
lẽ như vậy, liền đáp :
- Được, ta sẽ cho n àng thứ tiên dược
trường sinh bất tử để đuổi bọn quỷ ma ấy đi xa.
Rồi ngài ngâm kệ:
20- Chút của thừa này, hãy lấy mang,
Cho Man-da khốn khổ phần ăn,
Con nàng sẽ mạnh mau bình phục,
Bọn quỷ tha mồi, đư ợc thoát thân.
Khi bà nghe những lời này của bậc Đại Sĩ
liền đưa chiếc b ình bát vàng ra và nói:
- Xin phu quân hãy cho thiếp thuốc tiên bất tử ấy.
Bậc Đại Sĩ đổ v ào
đó một ít cháo c òn lại và bảo:
- Hãy đổ một nửa cháo n ày vào mồm con
nàng, còn lại thì trộn với nước rồi đổ v ào
mồm các Bà la môn kia, chúng sẽ được b ình
phục cả.
Rồi ngài đứng l ên
đi về phía v ùng Tuyết Sơn.
Bà mang bình ấy trên đầu v à kêu:
- Ta đ ã
được thuốc ti ên bất tử rồi!
Khi đến nh à, trước hết bà
đổ một ít v ào miệng con trai bà.
Quỷ thần liền chạy trốn, vua đứng dậy, phủi
bụi bặm rồi hỏi :
- Cái gì đây mẹ ?
- Con đ ã biết rõ những việc con làm
rồi, nay hãy nhìn tình cảnh khốn khổ của đám
người khất thực nh à ta kia kìa!
Khi cậu nhìn thấy bọn ấy, lòng cậu đầy ân
hận. Rồi mẹ cậu bảo :
- Này Mandavya yêu quý, con thực là kẻ ngu si không biết bố thí cách nào
để của bố thí ấy mang lại kết quả tốt. Bọn n ày
không xứng đáng với l òng hào phóng của
con đâu, chỉ những vị n ào như bậc Hiền
nhân Mantaga là xứng đáng thôi. Từ nay về sau
đừng đem cái g ì cho những ác nhân như bọn này, mà chỉ nên bố thí cúng
dường những người đức hạnh.
Rồi bà ngâm kệ:
21- Man-da, tiểu trí thật ngu đần,
Chẳng biết lúc nào đáng bố ân:
Con cúng dường bao người trọng tội,
Lũ người vô độ, bọn t à nhân!
22- Xiêm áo bằng da mớ tóc xù,
Miệng như giếng cũ, có tràn bờ,
Hãy nhìn giẻ rách bầy kia mặc!
Các thứ này không cứu lũ ngu!
23- Hễ khi tham dục với cuồng sân,
Được tống ra ngo ài các thế nhân,
Bố thí hiền nhân thanh tịnh ấy,
Quả nhiều cho việc đ ã làm
ăn.
- Vậy từ nay về sau con đừng bố thí cho hạng
người ác như thế n ày, mà chỉ nên bố thí cúng dường những kẻ nào ở
trên đời n ày
đạt Tám Thiền chứng, l à những nhà tu khổ
hạnh, các Sa môn, Bà la môn chân chính đ ã
chứng N ăm Thắng trí, các vị Độc Giác Phật. N ày
con, để mẹ đưa loại thuốc ti ên bất tử
này cho bọn gia nhân của ta đây v à làm
chúng bình phục.
Nói vậy xong, bà lấy miếng cháo thừa ấy đổ v ào
một bình nước và rẩy lên miệng mười sáu ngàn Bà la môn kia. Mọi người
đều đứng dậy v à phủi hết bụi bặm.
Sau đó, v ì các Bà la môn này
đ ã phải nếm thức
ăn thừa của một kẻ Chi ên
đ à la, nên bị các Bà la môn khác tống
xuất ra khỏi giai cấp ấy. Đầy ô nhục, bọn họ
rời th ành Bà la nại và đi về vương quốc
Mejjha, tại đây họ ở chung với vua xứ đó. C òn Mandavya vẫn ở chốn cũ.
Vào thời đó có một B à la môn tên là
Jàtimanta, là một kẻ tu hành, ở gần kinh thành Vettavati trên bờ sông có
cùng tên ấy, ông là kẻ rất kiêu mạn về dòng dõi của mình. Bậc
Đại Sĩ liền đến đó, quyết đập tan l òng
kiêu mạn của người kia, ngài dựng am trú ngụ gần
đó, sống ở phía thượng nguồn con sông.
Một hôm sau khi xỉa r ăng xong, ng ài
thả cái t ăm xuống d òng nước; cố ý
để cho nó vướng v ào búi tóc của
Jàtimanta, vì vậy, trong khi kẻ ấy đang tắm
trong d òng nước sông, cái t ăm ấy vướng v ào
búi tóc ông.
- Đồ súc sinh !
Ông nói, trong khi thấy cái t ăm :
- Nó từ đâu đến đây với cái đồ phá hoại n ày.
Ta phải tìm xem.
Ông liền đi ngược d òng, khi thấy bậc
Đại Sĩ liền hỏi :
- Ông thuộc giai cấp nào?
- Ta là một Chiên đ à la.
- Có phải ông đ ã thả cây t ăm
xuống sông chăng ?
- Chính phải?
- Đồ súc sinh, quân tồi t àn hạ
đẳng ! Đồ
mắc dịch, không được ở đây ! Mà phải đi
xuống chỗ hạ lưu kia.
Song khi ngài xuống ở vùng hạ lưu, cái t ăm
ng ài thả trôi ngược dòng nước, vẫn vướng vào tóc Jàtimanta. Ông mắng:
- Quân đáng nguyền rủa ! Nếu ngươi ở
đây trong bảy ng ày nữa ,
đầu ngươi sẽ tan th ành bảy mảnh.
Bậc Đại Sĩ suy nghĩ :" Nếu ta buông
mình theo cơn thịnh nộ với gã này, thì ta không giữ
được công đức, song ta sẽ t ìm cách phá
tan lòng kiêu mạn của gã".
Vào ngày thứ bảy, ngài ng ăn cản mặt trời
mọc, cả trần gian đều tối tăm n ên dân chúng kéo
đến vị tu khổ hạnh J àtimanta và hỏi:
- Thưa Tôn giả, có phải chính ngài ng ăn cản
mặt trời mọc chăng ?
Gã đáp :
- Việc đó không phải do ta l àm, mà có
một lão Chiên đ à la sống gần bờ sông,
chắc lão ấy làm đấy.
Sau đó dân chúng đến gặp bậc Đại Sĩ v à
hỏi lại:
- Thưa Tôn giả, có phải chính Tôn giả ng ăn
cản mặt trời mọc chăng ?
Ngài đáp :
- Này các hiền hữu, chính phải!
- Tại sao thế? Họ hỏi.
- Vị tu khổ hạnh được các hiền hữu quý mến đ ã
phỉ báng ta, một người vô tội, vậy khi nào vị
đó đến quỳ dưới chân ta để xin thương xót, th ì ta mới
để cho mặt trời mọc l ên.
Dân chúng đi kéo l ê kẻ ấy rồi thả ông
xuống trước chân bậc Đại Sĩ v à cố sức vỗ
về ngài vừa nói:
- Thưa Tôn giả, xin cho mặt trời mọc.
Song ngài đáp :
- Ta không thể để mặt trời mọc được v ì
nếu ta làm như thế, đầu kẻ n ày sẽ vỡ
thành bảy mảnh.
Họ hỏi:
- Thưa Tôn giả, vậy chúng tôi phải làm gì?
- Hãy đem cho ta một cục đất!
Họ đem lại một cục đất.
- Nào, hãy đặt cục đất l ên
đầu kẻ khổ hạnh n ày, rồi kéo gã xuống
nước.
Sau khi sắp đặt mọi việc n ày xong,
ngài để cho mặt trời mọc l ên. Vừa khi
mặt trời được di chuyển tự do, cục đất nứt th ành
bảy mảnh, còn kẻ tu khổ hạnh nhảy tùm xuống nước.
Sau khi đ ã hàng phục gã như vậy, bậc
Đại Sĩ suy nghĩ : Mười sáu ngàn Bà la môn
kia hiện ở đâu ?" Ngài nhận ra bọn ấy
đang ở với vua Mejjha, v à cũng quyết
định đi h àng phục họ, nên dùng thần lực,
ngài hạ xuống vùng ngoại thành, cầm bình bát trong tay,
đi khất thực. Khi các B à la môn thấy
được ng ài, họ bảo nhau:
- Chỉ để l ão ở
đây 2 ng ày thôi là lão sẽ làm ta mất nơi
nương tựa!
Bọn ấy vội vàng chạy đến yết kiến vua
và kêu to:
- Tâu đại vương, có một l ão khoác lác
đại bịp đến đây, xin h ãy bỏ tù lão!
Vua rất sẵn sàng. Còn bậc Đại Sĩ với bát
thức ăn đủ loại đang ngồi ăn b ên bức thành trên một chiếc ghế dài.
Tại đó trong khi ng ài
đang bận ăn uống, đám thị vệ của vua t ìm
đến, lấy kiếm đánh ng ài rồi giết
đi. Sau khi mạng chung, ng ài tái sanh
lên cõi Phạm Thiên.
Chuyện kể rằng, trong kiếp này Bồ tát là một " người luyện thú mongoose"
(một giống chồn ở Ấn Độ) v à ngài phải
chịu chết vì công việc hạ tiện này. Các vị thần nổi giận liền trút xuống
toàn vương quốc Mejjha một trận lửa tro nóng rực quét sạch nước ấy ra khỏi
các nước kia.
Vì thế có lời lưu truyền:
24. Người ta kể chuyện cả non sông
Của xứ Mejjha phải diệt vong,
Nước kia bị xóa tan bờ cõi
Vì giết Mà-tan, bậc lẫy lừng.
*
Khi bậc Đạo Sư đ ã chấm dứt Pháp thoại
này. Ngài bảo:
- Đây không phải l à lần
đầu ti ên vua Udena phỉ báng các vị tu
khổ hạnh, mà xưa kia cũng thế.
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy, vua Udena là Mandavya và Ta chính là bậc Hiền trí Màtanga.
-ooOoo-

498. Chuyện Đôi Bạn#

Citta-Sambh ùta (Tiền thân Citta-Sambhùta)
Chóng chầy thiện nghiệp đều mang quả.....
Chuyện này bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại
Kỳ Vi ên về hai người bạn đồng tu của Tôn
giả Mah à Kassapa ( Đại Ca Diếp) sống rất
h òa hợp với nhau.
Chuyện kể rằng đôi bạn n ày vô cùng
thân thiết, đ ã phân chia mọi thứ cùng
nhau hết sức công bình; ngay cả khi khất thực, hai vị cũng cùng
đi ra v à cùng trở về với nhau, hai vị
không hề chịu rời nhau.
Trong Chánh pháp đường, Tăng chúng đang ngồi
tán thán t ình bằng hữu ấy thì bậc Đạo Sư
bước v ào, hỏi các vị đang b àn
luận chuyện gì khi ngồi tại đó. Tăng chúng tr ình
với Ngài... Ngài đáp :
Này các Tỳ kheo, tình bạn này chỉ trong một
đời sống chẳng có g ì kỳ lạ cả, vì các bậc trí nhân ngày xưa
đ ã giữ được
t ình bằng hữu vững bền suốt qua cả ba bốn
đời sống.
Nói vậy xong, Ngài kể cho T ăng chúng nghe
một chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, trong quốc độ Avanti, tại kinh
th ành Ujjeni, có vị đại vương trị v ì
mệnh danh là vua Avanti. Thuở ấy một làng Candàla (Chiên
đ à la: vô loại, hạ
đẳng) ở ngoại th ành Ujjeni là nơi bậc
Đại Sĩ ra đời. Một người khác sinh l àm
con trai của bà dì Ngài. Một cậu bé tên là Citta, cậu kia tên là Sambhùta.
Khi hai cậu bé lớn lên và đ ã học
được nghề quét bằng chổi trong d òng họ
Chiên đ à la rồi, liền nghĩ rằng hai cậu
sẽ đi tr ình diễn nghề này tại cổng
thành. Vì thế một cậu biểu diễn tại Bắc môn, một cậu tại
Đông môn. Bấy giờ trong kinh th ành này
có hai phụ nữ giỏi nghề xem tướng, một cô là con gái một thương nhân, và cô
kia là con một tế sư. Hai cô gái ấy đi vui chơi
trong công vi ên, sau khi bảo gia nhân
đem theo thực phẩm đủ loại cứng, loại mềm, v òng hoa hương liệu, thì
ngẫu nhiên một cô đi ra cổng Bắc, v à một
cô ra cổng phía Đông. Khi thấy hai thanh ni ên
Chiên đ à la
đang biểu diễn tay nghề, hai cô hỏi :
- Chúng là ai đây ?
Rồi hai cô được cho biết đó l à hai kẻ
Chiên đ à la. Hai cô bảo:
- Thấy điềm n ày xui xẻo lắm.
Và sau khi rửa mắt bằng nước hương thơm, cả hai
đều đi về. Sau đó, đám dân chúng la lớn:
- Này bọn hạ đẳng tồi t àn kia, chúng
bay đ ã làm chúng ta mất phần cơm rượu
đáng lẽ được hưởng miễn phí đấy !
Chúng đánh đập hai anh em c ùng họ ấy
một trận nhừ tử, làm cả hai đau đớn ê
chề. Khi hai người tỉnh dậy liền đi t ìm
nhau và kể cho nhau nghe tai họa đ ã
đến cho m ình, rồi lại kêu gào và cố nghĩ
cách xem phải làm gì đây. Cả hai suy nghĩ :
"Tất cả việc khốn nạn này đ ã giáng xuống
chúng ta chỉ vì dòng giống ta sinh ra. Ta sẽ chẳng bao giời làm kẻ Chiên
đ à la nữa, mà ta phải dấu tung tích dòng
họ để rồi đi tới Takkasil à, giả dạng các
nam tử Bà la môn và học tập tại đó".
Sau khi quyết dịnh như vậy, cả hai đến chỗ
đó, theo đ òi học tập với một giáo sư danh tiếng lẫy lừng. Thiên hạ
đồn vang khắp c õi Diêm phù
đề (Ấn độ) rằng có hai nam tử Chi ên
đ à la đang
l àm thư sinh và giấu diếm tung tích gia tộc mình. Bậc Trí nhân Citta
học tập thành công, song chàng Sambhùta thì không
được như thế.
Một ngày kia có người dân làng mời vị giáo sư ấy với ý
định cúng dường thực phẩm cho các B à la
môn. Bấy giờ do ngẫu nhiên mưa suốt đ êm
ấy làm ngập lụt mọi hang hốc trên đường đi.
Sáng sớm hôm sau, vị thầy giáo gọi Trí giả Citta v ào và bảo:
- Này con , hôm nay thầy không đi được, vậy
con đi c ùng các nam tử kia, rồi làm lễ chúc phước lành và khi con
ăn thực phẩm của m ình xong, hãy mang về
những món để d ành cho thầy.
Do đó, ng ài
đem các thanh ni ên Bà la môn khác cùng
lên đường. Trong khi các thanh ni ên tắm
rửa và súc miệng, dân chúng dọn món cháo gạo đ ã
chuẩn bị sẵn sàng để mời khách quý v à
bảo:
- Để cho nó nguội đi.
Trước khi cháo nguội, đám thanh ni ên
đ ã đến ngồi
xuống. Dân chúng dâng nước cúng dường, rồi đặt các bát cháo trước mặt họ.
Trí óc Sambh ùta có hơi trì độn, n ên
tưởng cháo đ ã nguội, liền múc một hớp bỏ
vào miệng, song nó làm chàng nóng bỏng như cục sắt nóng
đỏ. Trong lúc đau đớn, ch àng quên mất
vai trò của mình, liền liếc qua bậc Hiền trí Citta và nói bằng ngôn ngữ của
dân Chiên đ à la:
- Cháo nóng quá phải ch ăng ?
Chàng kia quên mất bản thân mình, nên đáp
lại theo ngôn ngữ của họ :
- Nhổ ra , nhổ ra mau!
Nghe thế, đám thanh ni ên nhìn nhau
bảo:
- Loại ngôn ngữ gì thế này?
Lúc ấy bậc Trí giả Citta nói lời chúc lành cho tất cả.
Khi các chàng trai kia về nhà, họ tụ tập thành tụm n ăm
túm ba v à ngồi bàn luận về những từ ngữ
đ ã được d ùng kia. Khi nhận ra
đó l à ngôn ngữ của bọn Chiên
đ à la, họ kêu to:
- Quân hạ đẳng tồi t àn kia! Chúng bay
đ ã lừa dối cả bọn ta lâu nay, cứ giả
dạng làm Bà la môn!
Rồi họ đánh đập hai vị ấy. Có một người tốt
bụng xua đuổi họ ra v à nói:
- Đi ngay ! Vết nhục nằm trong huyết
thống kia. Phải đi ngay !
Đến đâu đó m à làm ẩn sĩ khổ hạnh!
Rồi các thanh niên Bà la môn trình với thầy giáo rằng,
đấy l à hai kẻ Chiên
đ à la giả dạng.
Hai chàng đi v ào rừng sống
đời sống khổ hạnh tại đó, sau một thời gian
chết đi, tái sanh l àm hai chú Nai con bên bờ sông Nerañjarà (Ni liên
thuyền). Từ lúc sinh ra, chúng luôn luôn ở bên nhau. Một ngày kia, sau khi
chúng ăn xong, một người thợ săn chợt thấy
chúng dưới một gốc cây đang ngồi nhai lại, âu yếm vuốt ve nhau rất hạnh
phúc, đầu sát đầu, m õm kề mõm, sừng bên sừng. Gã liền phóng lao tới,
giết trọn luôn cả hai bằng nhát lao ấy.
Sau đó chúng tái sanh l àm con của
chim Ưng biển trên bờ Nerbudda (Niết bút). Cũng tại
đó, chúng lớn l ên sau khi
ăn xong lại ôm ấp đầu sát đầu, mỏ kề mỏ. Một kẻ
bẫy chim trông thấy, bắt cả hai v à giết
đi.
Sau đó bậc Trí giả tái sanh tại Kosambi, l àm
con vị tế sư, còn bậc Trí Sambhùta tái sanh làm vương tử của vua
Uttarapañcala. Ngay từ ngày được đặt t ên,
hai hài nhi ấy đ ã có khả n ăng
nhớ lại các đời trước của m ình. Song Sambhùta không thể nào nhớ hết
tất cả mà không bị gián đoạn, v à cậu chỉ
nhớ đời thứ tư hoặc đời Chi ên
đ à la thôi, còn Citta lại nhớ
đủ cả bốn đời theo thứ tự.
Khi Citta được 16 tuổi, ch àng xuất
gia làm ẩn sĩ khổ hạnh ở vùng Tuyết Sơn, tu tập làm phát khởi thắng trí do
thiền định v à an trú trong hỷ lạc Thiền
định. C òn bậc trí giả Sambhùta, sau khi
phụ vương b ăng h à, liền
được phong chiếc lọng trắng tr ên
đầu v ào ngày phong vương kia, giữa quần
thần đông đảo, ng ài làm một bài ca tức
vị, rồi rung cảm ngâm lên hai đoạn.
Khi quần thần nghe xong, đám cung phi v à
nhạc công đều ca hát, bảo nhau :
- Đây l à khúc
đăng quang của đức Chúa thượng chúng ta !
Và dần dà với thời gian, dân chúng đều ca
khúc hát ấy v ì đó l à Thánh
đạo ca được vua y êu thích. Bậc Trí giả
Citta đang an trú ở v ùng Tuyết Sơn, tự
hỏi không biết hiền đệ Sambh ùta của ngài
đ ã được
giương chiếc lọng che ấy chưa. Khi nhận thấy việc đ ã xong, ngài suy
nghĩ:" Ta chẳng bao giờ đủ sức giáo hóa một vị
Tân vương c òn trẻ, song khi nào em ta già rồi, ta sẽ
đến thăm v à khuyên nhủ em ta
đi l àm ẩn sĩ khổ hạnh".
Suốt n ăm mươi năm ng ài không hề
đi thăm viếng, v à trong thời gian ấy,
vua có đông con cái l ên dần. Về sau nhờ
thần lực của ngài, Trí giả Citta phi hành đến
vườn ngự uyển đáp xuống, ngồi tr ên bảo tọa nghi lễ như một bức tượng
bằng vàng.
Vừa lúc ấy, một chàng trai kiếm củi, vừa làm việc vừa hát khúc
đạo ca ấy. Bậc Trí giả Citta gọi ch àng
trai lại gần, chàng tiến đến đảnh lễ cung kính
rồi đứng chờ. Trí giả Citta bảo ch àng:
- Từ sáng đến giờ, cậu chỉ hát m ãi
khúc đạo ca ấy, thế cậu không biết khúc n ào
nữa ch ăng ?
- Thưa Tôn giả, có chứ, con biết nhiều khúc ca lắm, song
đây l à những lời ca
được đức vua y êu chuộng, vì thế con
không hát khúc nào khác.
- Thế không có ai biết hát một điệp khúc đáp
lại khúc ca của đức vua chăng ?
- Thưa Tôn giả, con biết hát nếu con được
dạy khúc ca ấy.
- Thế thì được, hễ khi n ào
đức vua hát hai khúc tr ên, thì cậu hát
khúc này làm khúc thứ ba đấy.
Rồi ngài ngâm một khúc và bảo:
- Bây giờ cậu hãy đi hát khúc n ày
trước đức vua, ng ài sẽ hài lòng và quý
trọng cậu lắm.
Chàng trai vội vàng chạy về tìm mẹ, bảo mẹ mặc cho chàng y phục thật tề
chỉnh rồi đến cửa cung vua, nhờ người tâu l ên
rằng có một chàng trai xin được yết kiến để hát
một khúc ca đáp lời đức vua. Vua bảo :
- Cho nó vào.
Khi chàng trai tiến lên, đảnh lễ ng ài
xong, vua phán:
- Chúng tâu rằng cậu muốn hát một khúc đáp
lời trẫm có phải chăng ?
Chàng trai đáp :
- Tâu Chúa thượng, đúng vậy, xin ng ài
triệu tập quần thần để c ùng nghe.
Ngay khi triều đ ình tụ họp xong,
chàng tâu:
- Tâu Chúa thượng, xin Chúa thượng ca khúc hát của ngài trước, rồi thần
sẽ xin hát lời đối lại.
Vua liền ngâm đôi vần kệ :
1- Chóng chầy thiện nghiệp đều mang trái,
Không nghiệp gì không có quả sinh,
Chẳng có việc lành nào uổng phí:
Sam-bhù, ta thấy, lớn lên thành
Hùng cường, vĩ đại v à như thế
Công đức ng ài
đem đến quả l ành
2- Chóng chầy thiện nghiệp đều mang trái,
Không nghiệp gì không có quả mang,
Chẳng có việc lành nào uổng phí:
Cit-ta ai biết, có vinh quang
Giống như phần trẫm, tâm hiền hữu
Có được an vui lợi lạc chăng?
Khúc đạo ca tr ên vua chấm dứt, chàng
trai liền đáp vần thứ ba :
3-Thiện nghiệp chóng chầy đều đạt quả
Nghiệp nào mà chẳng quả lai sinh,
Không gì vô ích tâu Hoàng thượng,
Xin ngắm Cit-ta tại cổng thành,
Chẳng khác quân vương, tâm vị ấy
Đ ã đem hỷ
lạc đến cho m ình.
Nghe lời này vua lại ngâm vần kệ thứ tư:
4- Vậy có phải ch ăng chính Cit-ta,
Hay chàng nghe được chuyện ng ày xưa
Từ ngài, hay một người nào khác?
Ôi ngọt ngào thay khúc Thánh ca!
Ta chẳng sợ gì, ta sẽ thưởng
Ngôi làng hay tặng vật làm quà.
Tiếp theo chàng trai ngâm vần kệ thứ n ăm :
5- Hạ thần nào có phải Cit-ta,
Song chuyện ấy thần được biết qua,
Chính một hiền nhân vừa dạy bảo:
" Đi ngâm lời hát đối dâng vua,
Rồi chàng sẽ được ng ài ban thưởng,
Tay của ngài ân nghĩa đậm đ à".
Nghe lời này, vua suy nghĩ: "Chắc hẳn đó l à
hiền huynh Citta của ta rồi, ta muốn đi t ìm
ngài ngay". Thế là vua ra lệnh cho quần thần qua hai vần kệ sau:
6- Các vương xa hãy thắng yên cương,
Chạm trổ tinh vi, đẹp tuyệt trần,
Đem buộc cân đai v ào bảo tượng,
Điểm trang v òng cổ sáng huy hoàng.
7- Quần thần hãy đánh trống li ên hoan,
Bảo thổi tù và ốc dậy vang,
Chuẩn bị vương xa nhanh bậc nhất
Bởi vì trẫm muốn sớm lên đ àng
Hôm nay tìm thảo am cô tịch,
Yết kiến hiền nhân trước tọa sàng.
Vua nói vậy xong, liền ngự lên vương xa lộng lẫy và vội vàng
đến ngay cổng ngự vi ên. Tại
đó ng ài dừng xa giá và
đến gần Hiền giả Citta, đảnh lễ rất cung kính
rồi ngồi xuống một b ên, lòng tràn ngập hân hoan, ngài ngâm vần kệ thứ
tám:
8- Thật quý thay là Thánh khúc xưa,
Trẫm từng ca hát thật say sưa,
Trong khi dân chúng đông dồn dập,
Quần tụ chung quanh chật cả nhà;
Nay đến đây xin ch ào Thánh giả,
Hân hoan, hạnh phúc ngập tâm ta.
Từ lúc tái ngộ Hiền giả Citta, vua hoan hỷ ra lệnh làm mọi sự cần thiết
và truyền chuẩn bị bảo tọa dành cho vị hiền huynh, rồi ngài ngâm vần kệ thứ
chín:
9- Tọa sàng, nước mát rửa bàn chân,
Đúng pháp l à
đem lễ cúng dâng,
Thực phẩm dành cho nhiều khách quý,
Xin hiền huynh nhận, trẫm ân cần.
Sau lời mời ngọt ngào này, vua ngâm vần kệ khác
để tặng bạn hiền một nửa giang san của m ình:
10- Bảo làm cho nhộn nhịp tưng bừng,
Nơi chốn hiền huynh sẽ trú thân,
Truyền đem nữ tỳ theo phục vụ,
Ôi, ta muốn tỏ với hiền nhân
Lòng ta yêu quý ngài tha thiết,
Xin hãy cùng ta ngự trị dân.
Khi nghe những lời này, bậc Trí giả Citta thuyết giáo cho vua qua sáu vần
kệ:
11- Hỡi Đại vương, nh ìn quả ác
hành,
Thấy bao lợi lạc thiện hành sinh,
Ta mong điều ngự thân tu tập,
Con, của không lôi cuốn trí mình.
12- Tr ăm năm tr òn cuộc sống người
đời,
N ăm tháng theo nhau kế tiếp trôi,
Khi đến hạn kỳ, người héo úa,
Tựa hồ lau sậy nát tan thôi.
13- Thế nghĩa gì hoan lạc, ái ân,
Nghĩa gì s ăn đuổi cảnh gi àu sang?
Nhiều con, nghĩa lý gì? Nên biết,
Hỡi Đại vương, ta thoát buộc r àng.
14- Ta biết, vì đây chính thật chân,
Ta không qua khỏi tử ma thần,
Nghĩa gì vàng bạc và ân ái,
Khi bạn đến thời phải mạng vong ?
15- Giòng giống hạ đẳng bước hai chân,
Hạ liệt Chiên đ à nhất thế nhân,
Khi nghiệp chín làm phần thưởng quý,
Hai ta cùng có một tiền thân:
16- Tại A-van, bạn trẻ Chiên đ à,
Là cặp Nai vàng bến nước xưa,
Đôi chú chim Ưng bờ Niết bút,
Giờ đây giáo sĩ, đó l àm vua.
Sau khi đ ã nói rõ các tiền thân hạ
liệt của mình trong quá khứ như vậy, tại đây
trong đời hiện tại n ày, ngài tuyên thuyết tính Vô thường của mọi pháp
hữu hình và ngâm bốn vần kệ làm phát khởi tinh tấn lực.
17- Đời người ngắn ngủi chết c ùng
đường,
Già cả không nơi chốn náu nương,
Này hỡi Pañcala, thực hiện,
Những gì ta khuyến nhủ quân vương:
Tránh xa tất cả hành vi ác,
Đưa đẩy v ào
đau khổ đoạn trường.
18- Đời người ngắn ngủi, chết sau c ùng,
Già cả không nơi chốn trú thân;
Này hỡi Pañcala, thực hiện
Những gì ta khuyến nhủ quân vương:
Tránh xa tất cả hành vi ác
Đưa đẩy v ào trong hạ ngục tầng.
19- Nhân thế ngắn sao, chết cuối cùng,
Người già không chốn để nương thân,
Pañcala hỡi, xin thành tựu
Những việc ta khuyên nhủ Đại vương:
Xin hãy xa lìa bao vọng nghiệp,
Nhiễm ô toàn ác dục tham sân..
20- Đời người ngắn ngủi, chết vong thân,
Bệnh, lão làm suy thế lực dần,
Ta chẳng làm sao ra thoát được;
Pañcala thực hiện lời r ăn:
Tránh xa tất cả hành không thiện
Đưa đẩy v ào trong ngục hạ tầng.
Vua rất hoan hỷ khi nghe bậc Đại Sĩ khuyến
giáo, liền đáp lời qua ba vần kệ :
21- Lời kia, Tôn giả, quá toàn chân,
Ngài dạy lời như bậc Thánh nhân,
Song dục tham ta đều khó bỏ,
Với người như trẫm, chúng vô cùng.
22- Như voi chìm xuống vũng bùn nhơ,
Không thể bò lên, dẫu thấy bờ,
Trẫm cũng lún sâu bùn dục lạc,
Nên không theo nổi Đạo Thầy tu!
23- Như mẹ như cha dạy bảo con,
Thành người sống hạnh phúc, hiền lương,
Dạy ta hạnh phúc làm sao đạt,
Xin chỉ cho ta bước đúng đường.
Sau đó bậc Đại Sĩ bảo nh à vua:
24- Ngài không thể bỏ, hỡi Quân vương,
Các dục tham đây cũng thế thường:
Vậy chớ bắt dân nhiều thuế nặng,
Trị sao dân chúng thấy công bằng
25- Gửi sứ thần đi khắp bốn phương,
Mời người khổ hạnh, Bà la môn,
Cúng dường thực phẩm, nhà an nghỉ,
Xiêm áo và luôn mọi thứ cần.
26- Đem thức ăn uống để đ ãi
đằng
Bà la môn, Thánh giả, Hiền nhân,
Tâm đầy th ành tín, ai ban phát,
Và trị dân tài đức hết l òng,
Người ấy sẽ đi l ên thượng giới,
Lỗi lầm không có, lúc vong thân.
27- Song nếu vây quanh bởi má hồng,
Dục tham, ngài thấy, quá say nồng,
Trong tâm hãy nhớ vần thi kệ,
Và hát hò lên giữa đám đông.
28- "Dưới trời không mái để che thân,
Bầy chó xưa cùng nó ngủ l ăn,
Mẹ nó cho ăn lúc bước vội,
Mà nay làm một vị vương quân.
Đó l à lời khuyến giáo của bậc Đại Sĩ.
Rồi ng ài lại bảo:
- Ta đ ã khuyên nhủ
Đại vương rồi. Bây giờ Đại vương có muốn l àm
người tu khổ hạnh hay không là tùy ý Đại vương,
song ta sẽ tiếp tục theo đúng nghiệp quả của chính ta l àm.
Sau đó ng ài bay vụt lên không, phủi
bụi bặm trên đôi chân ng ài, giã từ vua
trong dáng điệu khinh thường, rồi đi về v ùng
Tuyết Sơn.
Còn phần vua trông thấy cảnh này, lòng vô cùng xúc
động, liền giao quốc độ cho thái tử, triệu tập
quân sĩ thẳng hướng tiến về v ùng Tuyết Sơn. Khi bậc
Đại Sĩ nghe vua đến, liền bước ra c ùng
đám hiền nhân đồ đệ của ng ài
đón tiếp vua, v à truyền giới cho vua
sống đời Phạm Hạnh rồi dạy vua phương tiện l àm
phát khởi Thiền định. Vua tu tập chứng đắc
Thắng trí do Thiền định, v ì vậy cả hai vị
đều c ùng
được sinh l ên cõi Phạm Thiên.
*
Sau khi bậc Đạo Sư chấm dứt Pháp thoại n ày,
Ngài bảo:
- Như vậy, này các Tỳ kheo, các bậc trí nhân ngày xưa giữ vững tình bằng
hữu lâu dài qua ba bốn đời sống.
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy, Ànanda là trí giả Sambhùta và Ta chính là Trí giả Citta.
-ooOoo-
499- Chuyện Đại Vương
Sivi (Tiền thân Sivi)
Nếu thí tài gì thuộc thế nhân....
Chuyện này bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại
Kỳ Vi ên về lễ vật cúng dường tối thượng.
Trường hợp này đ ã
được kể đầy đủ trong Chương VIII ở số 424. Tiền
thân Sav ìra. Song tại đây v ào
ngày thứ bẩy, vua dâng đủ tất cả vật cúng dường
v à thỉnh cầu lời tùy hỷ; tuy nhiên, bậc
Đạo Sư ra đi m à không tán thán công đức
của vua. Sau buổi điểm tâm, vua đi đến tịnh xá v à hỏi:
- Bạch Thế Tôn, vì cớ gì Thế Tôn không đáp
lời t ùy hỷ hôm ấy?
Bậc Đạo Sư nói :
- Thưa Đại vương, hội chúng kia không thanh
tịnh.
Ngài lại tiếp tục thuyết Pháp, ngâm vần kệ bắt
đầu bằng câu:" Người hạ tiện sẽ không l ên
Thiên giới (Pháp cú 177)".
Vua đầy hoan hỷ b ày tỏ lòng tôn kính
đối với đức Như Lai bằng cách dâng chiếc thượng
y của xứ Sivi trị giá một ng àn đồng
tiền; sau đó vua trở về th ành.
Ngày hôm sau trong Chánh pháp đường, Tăng
chúng nói về chuyện ấy:
- Này các Hiền giả, vua Kosala đ ã
cúng dường lễ vật tối thượng, và chưa hài lòng với việc ấy, nên sau khi
đấng Thập Lực thuyết giáo cho vua ấy, vua liền
dâng chiếc y của xứ Sivi trị giá cả một ng àn
đồng tiền v àng! Quả thật vua không hề
thỏa mãn với việc cúng dường!
Bậc Đạo Sư bước v ào, và hỏi các vị
đang b àn việc gì khi ngồi
đó. Tăng chúng tr ình với Ngài. Ngài bảo:
- Này các Tỳ kheo, bố thí ngoại tài quả thật là
điều có thể thỏa đáng được, song các bậc trí
nhân ng ày xưa đ ã bố thí cho
đến khi khắp cả Di êm phù
đề đều vang danh lừng lẫy, mỗi ng ày bố
thí cả sáu tr ăm ng àn
đồng tiền, vẫn chưa thỏa m ãn với việc bố
thí ngoại tài, và nhớ lại câu phương ngôn: "Hãy
đem cho cái g ì ta yêu quý nhất và từ tâm sẽ sinh khởi", cho nên các
vị ấy đ ã móc
đôi mắt m ình ra tặng những kẻ nào
đ òi xin chúng.
Cùng với những lời này; Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, khi đại đế Sivi cai trị tại
kinh th ành Aritthapura trong quốc độ
Sivi. Bậc Đại Sĩ sinh ra l àm vương tử. Triều thần
đặt t ên ngài là Vương tử Sivi. Khi ngài
lớn lên, ngài đi đ ến Takkasikà học tập
tại đó, xong trở về chứng tỏ t ài n ăng
kiến thức của ng ài trước vua cha nên
được phong l àm phó vương.
Lúc phụ vương b ăng h à, ngài lên ngôi
vua và từ bỏ các ác đạo, ng ài hành trì
Thập vương pháp và trị dân rất chân chánh. Ngài truyền xây sáu bố thí
đường tại bốn cổng th ành, giữa kinh
thành và ngay cửa cung của ngài. Ngài bố thí rất hào phóng mỗi ngày sáu tr ăm
ng àn đồng tiền v ào các ngày mồng
tám, mười bốn và ngày rằm, ngài chẳng hề quên th ăm
viếng các bố thí đường để xem xét bố thí được thực h ành ra sao.
Vào một ngày tr ăng tr òn kia , chiếc
lọng hoàng gia đ ã
được giương l ên từ sáng sớm và ngài ngự
trên ngai vàng suy ngẫm về các thí vật ngài đ ã
ban phát. Ngài tự nghĩ: "Trong tất cả các tài vật bên ngoài, chẳng có món gì
ta không đem cho hết, song cách bố thí n ày
chưa làm ta hài lòng. Ta muốn bố thí vật gì thuộc về bản thân ta. Ðược rồi
hôm nay ta đến bố thí đường phát nguyện rằng
nếu có người n ào không xin một vật gì đó
ngo ài thân ta, lại nói rõ tên một phần thân thể ta, nếu người ấy muốn
nói đến chính quả tim ta, ta sẽ quyết lấy dao
xẻ phăng lồng ngực ta v à chẳng khác nào ta nhổ lên một cộng sen từ hồ
nước phẳng lặng, ta sẽ móc lấy quả tim ta đang
chảy máu từng cục đem cho người ấy.
Nếu người ấy muốn xin thịt ta, ta sẽ xẻ thịt ra từ thân thể và cho nó,
như thế ta dùng cái dao mà khắc chạm tấm thân này. Người
đó cứ nói đến máu của ta, ta sẽ lấy máu ta nhỏ
từng giọt v ào miệng người đó, hoặc đổ
đầy một chén rồi đem cho, hoặc nữa, giả sử có ai bảo : "Hạ thần không
làm nổi việc nhà, xin hãy đến l àm gia nô
tại nhà hạ thần", ta nhận mình là nô lệ và ta sẽ làm hết các việc nô dịch.
Hoặc giả có ai đó xin đôi mắt ta, ta sẽ móc mắt
ra cho nó như người ta lấy l õi của cây dừa nước". Ngài nghĩ thầm như
vậy:
Nếu thí tài gì thuộc thế nhân,
Dẫu là đôi mắt, chẳng hề ban,
Giờ đây ta sẽ đem ban bố,
Lòng chẳng hãi kinh, thật vững vàng.
Thế rồi ngài tắm mình với mười sáu bình nước hoa thơm và trang sức cực kỳ
lộng lẫy và sau một buổi cơm đầy cao lương mỹ
vị, ng ài ngự lên một con voi được tô
điểm cân đai rất rực rỡ đưa ng ài đến đại
bố thí đường.
Khi Sakka ( Ðế Thích) Thiên chủ nhận thấy quyết tâm của ngài liền suy
nghĩ: "Vua Sivi đ ã cương quyết
đem đôi mắt ng ài bố thí cho kẻ nào ngẫu
nhiên đến xin ng ài. Thế ngài có
đủ h ùng lực
để thực hiện việc đó hay chăng ?
Thiên chủ quyết định đi thử thách ng ài,
nên giả dạng một Bà la môn già mù mắt, Thiên chủ
đứng tr ên một chỗ cao, khi
đức vua bước v ào bố thí
đường, Thi ên chủ
đưa tay ra, k êu lớn:
- Vạn tuế Ðại vương!
Lúc ấy vua lái vương tượng về phía Thiên chủ, phán bảo:
- Này Bà la môn ông nói gì vậy?
Thiên chủ đáp :
- Tâu Ðại vương, trên cõi thế gian này không nơi nào không vang dậy
phương danh về từ tâm hào phóng bố thí của Ðại Vương. Nay lão
đ ã mù lòa, còn Ðại vương có
đủ hai mắt.
Rồi Thiên chủ ngâm vần kệ đầu để xin một con
mắt;
1- Chẳng có mắt, nên chính lão già,
Ðến xin con mắt, tự phương xa,
Lão cầu Chúa thượng ban con mắt
Một mắt cùng nhau mỗi chúng ta.
Khi bậc Ðại Sĩ nghe lời này, ngài suy nghĩ:" Chính
đó l à chuyện mà ta suy nghĩ ở hậu cung
trước khi ta đến đây kia ! Ồ cơ duyên
đến mới tuyệt diệu l àm sao chứ! Tâm
nguyện của ta hôm nay sẽ được th ành tựu,
ta sẽ bố thí một tài vật mà chưa một người thế tục nào từng ban phát", và
ngài ngâm vần kệ thứ hai:
2- Ai đ ã dạy ông bước
đến đây,
Ðể xin một mắt , lão ăn m ày?
Ðây phần thân thể người cao trọng,
Chúng bảo xa lìa khó lắm thay!
Các vần kệ sau là do hai vị ngâm để đối đáp
với nhau:
Lão Bà la môn:
3- Su-ja Phu tướng, chính nơi đây,
Người gọi Ma-gha cũng hiệu này,
Ngài dạy lão về đây yết kiến,
Van nài cho được một mắt ngay.
4- Thí tài tối trọng đại, mong cầu
Chúa thượng ban già một bảo châu,
Xin chớ chối từ già một mắt,
Thí tài tối trọng, đứng h àng
đầu,
Như lời thế tục thường hay nói:
"Thật khó cho người dứt bỏ sao!"
Vua Sivi:
5- Ước nguyện làm ông đến tận đây
Trong lòng ông khởi ước như vầy,
Cầu mong nguyện ước kia thành tựu,
Ðạo sĩ, cầm đôi mắt trẫm n ày!
6- Ông chỉ xin ta một mắt thôi,
Nhìn xem! Ta bố thí tròn đôi!
Hãy đi với nh ãn quang hoàn hảo
Trước mắt nhìn theo của mọi người,
Vậy ước nguyện ông mong thực hiện
Giờ đây hẳn đ ã
đạt th ành rồi!
Ðức vua đ ã nói nhiều như thế. Song
nghĩ rằng nếu ngài tự móc mắt của mình ra mà tặng ngay tại
đó, v ào lúc ấy, thì không thích hợp, nên
ngài đem vị Ba la môn c ùng vào nội cung
với ngài, và khi ngự lên ngai vàng, ngài truyền lệnh triệu một vị phẫu thuật
sư tên là Sivaka vào chầu. Rồi ngài phán:
- Khanh hãy lấy mắt trẫm ra.
Lúc bấy giờ cả kinh thành vang dậy nguồn tin rằng
đức vua muốn cắt đôi mắt ng ài ra
để bố thí cho một l ão Bà la môn. Sau
đó vị đại tướng quân c ùng với các viên
quan khác và mọi người thân thuộc của vua, từ trong kinh thành lẫn hậu cung
đều tề tựu c ùng nhau và ngâm ba vần kệ
để xin vua từ bỏ ý định tr ên:
7- Xin đừng cho mắt, tấu Minh quân !
Chúa thượng ôi, đừng bỏ chúng thần!
Bố thí san hồ, tiền, bảo ngọc,
Và nhiều vật khác quý vô ngần.
8- Cho bầy tuấn mã đủ y ên cương,
Bảo kéo đo àn xa giá xuống
đường,
Chúa thượng truyền xua đo àn bảo tượng
Cân đai tuyệt mỹ rặt to àn vàng.
9- Các vật này xin Chúa thượng ban,
Chúng thần mong hộ chúa bình an,
Toàn dân trung tín cùng xa pháp,
Tề tựu quanh vương vị xếp hàng.
Vua lập tức đáp lời, ngâm ba vần kệ :
10- Tâm kẻ muốn ban bố, phát nguyền,
Về sau lại thấy chẳng trung kiên,
Cổ mình tự đặt v ào thòng lọng
Che dấu nằm sâu dưới đất liền.
11- Tâm nào đ ã thệ nguyện thi ân,
Sau lại thấy lòng chẳng thuỷ chung,
Thật lỗi lầm hơn là tội ác,
Phải đ ày
đọa ngục Dạ ma cung.
12- Ðừng cho gì nếu chẳng ai xin,
Cũng chớ cho ai thứ chẳng thèm,
Vậy vật này đây h ành khất muốn
Cầu xin, trẫm bố thí ngay liền.
Lúc ấy triều thần vừa hỏi:
- Vậy Chúa thượng ước nguyện điều g ì
khi bố thí cặp mắt của Chúa thượng?
Họ vừa ngâm vần kệ:
13- Thọ mạng, sắc, quyền lực, lạc hoan,
Ðâu là phần thưởng, tấu Minh quân?
Lực nào thúc dục Ngài hành động,
Chúa thượng Sivi của quốc dân,
Sao lợi gì cho đời kế vậy,
Ngài đ ành bỏ cặp mắt mình vàng?
Vua đáp hội chúng qua vần kệ :
14- Như vậy, trong khi muốn cúng dường,
Ðích ta chẳng nhắm đạt vinh quang,
Nhiều con, nhiều của, nhiều vương quốc,
Ðể nắm quyền cai trị thế gian.
Ðây chính là con đường Thánh thiện,
Từ xưa của các bậc Hiền nhân;
Tâm ta nồng nhiệt hằng mong ước
Ðem mọi thí tài để phát ban.
Trước lời lẽ của bậc Ðại sĩ, quần thần không
đáp được nữa, v ì thế bậc Ðại sĩ ngâm kệ bảo Sivaka, vị phẫu thuật sư:
15- Bạn hiền, chí thiết, Sivaka,
Xin hãy làm theo lệnh của ta,
Bạn có đầy t ài n ăng
kỹ xảo,
Xin đem liền cặp mắt ta ra,
Vì đây l à chính
điều tâm nguyện,
Và tặng vào tay khất sĩ già.
Song Sivaka đáp :
- Tâu Chúa thượng , xin Chúa thượng suy nghĩ lại. Ðem cho cặp mắt không
phải là chuyện tầm thường đâu !
- Này Sivaka, trẫm đ ã suy xét kỹ rồi.
Xin đừng tr ì hoãn hay nói chuyện gì
nhiều trước mặt trẫm nữa.
Lúc ấy Sivaka suy nghĩ: "Một phẫu thuật sư như ta lại lấy lưỡi dao
đâm thủng cặp mắt một bậc quân vương thật chẳng
hợp lý tí n ào". Vì vậy vị ấy giã một ít cây thuốc, chà xát một
đóa sen xanh với thứ bột ấy rồi xoa khắp l ên
mắt phải của vua; con mắt liền đảo lộn tr òng,
hết sức đau đớn.
- Tâu Ðại vương, xin ngài hãy suy nghĩ kỹ, hạ thần có thể làm cho mắt
bình phục được ngay.
- Này hiền hữu, cứ làm tiếp đi, xin đừng tr ì
hoãn nữa.
Vị ấy lại xát thứ bột kia vào mắt và xoa bóp cho thuốc thấm: con mắt bật
ra khỏi lỗ, nỗi đau đớn lại c àng khốc
liệt hơn trước nữa.
- Tâu Ðại vương, xin ngài hãy suy nghĩ lại, ha thần vẫn có khả n ăng
phục hồi con mắt ng ài như cũ.
- Khanh hãy làm việc nhanh lên!
Lần thứ ba, vị phẫu thuật sư xoa một thứ bột mạnh hơn nữa và xát vào; nhờ
công hiệu của thuốc này, con mắt đảo lộn v à
l ăn ra ngo ài lỗ mắt, dính lủng lẳng ở
đầu sợi dây gân.
- Tâu Ðại vương, xin ngài hãy suy nghĩ lần nữa, nay hạ thần vẫn có thể
phục hồi con mắt lại như trước.
- Thôi nhanh lên.
Nỗi đau đớn đến tột độ, máu chảy từng giọt,
ho àng bào của vua vấy toàn máu đỏ.
Ðám cung tần cùng triều thần quỳ xuống kêu van:
- Tâu Chúa thượng, xin đừng hy sinh đôi mắt
của Chúa thượng.
Cả đám người k êu gào thắm thiết. Vua
cố chịu đựng đau đớn v à bảo:
- Này hiền hữu, hãy nhanh lên.
- Xin vâng, tâu Chúa thượng.
Phẫu thuật sư đáp, tay trái cầm lấy tr òng
mắt, tay phải cầm dao cắt đứt sợi gân v à
đặt con mắt v ào bậc Ðại Sĩ.
Ngài nhìn con mắt phải ấy bằng mắt trái vừa cố chịu
đau vừa phán :
- Này Bà la môn hãy đến đây.
Khi vị Bà la môn đến gần, ng ài nói
tiếp:
- Nhãn quang Chánh giác còn thân thiết hơn nhãn quang này cả tr ăm
lần, à không, cả ngàn lần kia. Ðấy, các người
đ ã hiểu lý do trẫm hành
động như vậy.
Rồi ngài trao mắt cho vị Bà la môn, lão liền
đưa tay ra đón lấy mắt đặt ngay v ào chỗ mắt mình. Nhờ thần lực của vị
ấy, con mắt dính chặt vào đó chẳng khác n ào
đóa sen xanh nở ra.
Khi bậc Ðại Sĩ dùng mắt trái nhìn thấy con mắt kia trên mặt của vị Bà la
môn, ngài kêu lớn:
- Ôi tốt lành thay là việc bố thí con mắt này của ta.
Rồi nỗi hân hoan sinh khởi trong tâm ngài làm rung
động to àn thân ngay giây phút ấy, ngài
lại bố thí luôn con mắt kia. Ðế Thích Thiên chủ cũng
đặt con mắt n ày vào lỗ mắt của mình và
từ cung vua, Thiên chủ ra đi, sau đó rời kinh
th ành trước ánh mắt kinh ngạc của mọi người nhìn theo, rồi trở về
Thiên giới.
Ðể giải thích việc này, bậc Ðại Sĩ ngâm một vần kệ rưỡi:
16- Si vi chúa tể giục Si va
Hoàn tất tâm nguyện của đức vua,
Trao tặng Bà la môn tài thí vật,
Y sư lấy cặp mắt ngài ra,
Bà la môn có liền đôi mắt,
Chúa thượng giờ đây phải tối l òa.
*
Chẳng bao lâu, đôi mắt vua bắt đầu mọc lại,
trong lúc chúng xuất hiện từ từ, v à trước khi lên
đến đỉnh cao của hai lỗ mắt, một cục thịt lớn
dần b ên trong lỗ như thể trái cầu bằng lông thú, tựa hồ
đôi mắt tr ên hình
đứa trẻ nhồi bông, song nỗi đau đớn đ ã
chấm dứt. Bậc Ðại Sĩ an nghỉ trong cung thất ít ngày.
Sau đó ng ài suy nghĩ:" Một kẻ mù lòa
còn dính líu gì đến việc trị nước nữa. Ta muốn
giao quốc độ cho các triều thần, rồi v ào ngự viên thành kẻ khổ hạnh,
sống đời thanh tịnh".
Ngài liền triệu tập quần thần, nói cho hội chúng nghe những việc ngài dự
định l àm. Ngài phán:
- Một người sẽ ở bên ta để rửa mặt, chăm sóc
ta l àm những gì cần thiết và phải buộc một sợi dây
để dắt ta đi về nơi ẩn dật.
Sau đó ng ài truyền gọi viên quan lái
xe của ngài đến v à ra lệnh cho người ấy
chuẩn bị vương xa. Song triều thần không muốn ngài ra
đi bằng xe ngựa, họ đưa ng ài lên
đường trong chiếc kiệu bằng v àng và
đặt ng ài xuống bên cạnh bờ hồ,
đứng vây quanh ng ài, canh phòng cẩn thận
xong lại ra về. Còn vua ngồi trong kiệu suy nghĩ
đến việc bố thí của m ình.
Lúc ấy chiếc ngai của Sakka (Ðế Thích) Thiên chủ nóng rực lên. Thiên chủ
xem xét và nhận thấy lý do kia: "Ta sẽ ban thưởng vua một
điều ước", ng ài suy nghĩ, "và làm
đôi mắt của vua b ình phục trở lại".
Vì thế Thiên chủ đến chỗ ấy. Khi không c òn
cách xa bậc Ðại Sĩ mấy, Thiên chủ cất bước đi
đi lại lại quanh đó.
*
Ðể giải thích việc này, bậc Ðạo Sư ngâm các vần kệ sau:
17- Vài ngày qua cặp mắt vừa lành,
Bình phục dần nên lại hiện hình,
Ðại đế Sivi nuôi quốc độ
Triệu quan điều ngự của ri êng mình;
18- "Ngự quan, chuẩn bị chiếc vương xa,
Rồi đến đây tr ình báo với ta,
Ta muốn vào khu rừng, thượng uyển,
Ðầy hồ sen súng mọc chen hoa".
19- Quan đặt vua v ào chiếc kiệu hoa,
Và đây, dừng kiệu ở b ên bờ,
Su-ja Phu tướng, ngài Thiên chủ,
Xuất hiện, chính là Ðại Sakka.
- Ai đó ?
Bậc Đạ i Sĩ kêu lên khi ngài nghe
tiếng bước chân kia. Ðế Thích Thiên chủ liền ngâm vần kệ:
20- Chính ta là Thượng đế Sakka,
Ta đến đây tham kiến nh à vua,
Hãy chọn hồng ân, này Thánh chúa,
Đ iều gì ngài ước, nói cùng ta.
Vua đáp lời qua vần kệ khác:
21-Sinh lực, kho vô tận, bảo châu,
Ta đều bỏ lại hết đằng sau,
Thiên hoàng, ta chẳng mong gì nữa
Trừ chết, vì ta có mắt đâu!
Sau đó Thi ên chủ hỏi:
- Này Ðại vương Sivi, ngài cầu mong cái chết vì ngài muốn chết hay vì
ngài mù lòa?
- Tâu Thiên chủ, vìỉ ta mù lòa.
- Này Ðại vương, tài vật bố thí tự nó không phải là hoàn toàn
đầy đủ ý nghĩa, m à nó phải
được bố thí với một cái nh ìn hướng về
đời sau. Tuy thế, vẫn c òn có duyen cớ
liên quan đến cuộc đời hiện tại n ày.
Trước đây, người kia xin ng ài chỉ một
mắt, ngài lại cho cả hai, vậy ngài hãy phát nguyện nói lời Chân thật về việc
đó.
Rồi Thiên chủ ngâm kệ:
22- Chúa tể của loài lưỡng túc nhân,
Hãy nguyền nói đúng lẽ to àn chân,
Nếu ngài tuyên bố lời chân thật,
Ðôi mắt ngài nay sẽ phục hoàn.
Nghe lời này, bậc Ðại sĩ đáp:
- Tâu Thiên chủ, nếu ngài muốn ban cho trẫm con mắt thì xin
đừng cố t ìm phương tiện gì khác nữa, mà
hãy làm cho mắt trẫm phục hồi như là kết quả hạnh bố thí của trẫm thôi.
Thiên chủ bảo:
- Này Ðại Vương, dù ta được chúng gọi l à
Ðế Thích, Chúa tể chư Thiên, ta cũng không thể
đem con mắt cho ai được cả; tuy thế, nhờ thiện quả từ hạnh bố thí của
Ðại vương, chứ chẳng phải do việc gì khác, mà mắt của Ðại vương sẽ
được phục hồi đó thôi.
Tiếp theo, vua ngâm kệ xác nhận việc bố thí của mình
đ ã được
thực hiện tốt đẹp chân chánh:
23- Loài nào bất kể, muốn cầu ân,
Hễ có ai nài nỉ lại gần,
Ai đến bất kỳ, xin bố thí,
Lòng ta cũng thấy thật thương thân:
Nếu lời Ðại nguyện này chân thật,
Cầu mắt ta nay sẽ hiện dần.
Ngay khi ngài vừa thốt những lời này, một con mắt của ngài xuất hiện ra
trong lỗ mắt. Sau đó ng ài ngâm
đôi vần kệ để xin phục hồi con mắt kia:
24-Một đạo sĩ kia đến viếng ta,
Chỉ cần xin một mắt thôi mà,
Ta đ à đem
trọn đôi con mắt,
Bố thí La môn khất sĩ già.
25- Hoan hỉ càng nhiều, lạc thọ t ăng,
Chính hành động ấy đ ã ban phần,
Nếu lời Nguyện ước này Chân thật,
Mong được mắt kia cũng phục ho àn.
Lập tức con mắt thứ hai xuất hiện, song đôi
mắt n ày không phải là tự nhiên hay của thần linh nào. Con mắt do Ðế
Thích Thiên chủ giả dạng Ba la môn ban cho, không thể là con mắt tự nhiên mà
có được, ta phải hiểu như vậy; c òn về
phương diện khác, thì một con mắt thần linh không thể hóa hiện ra bất cứ
sinh vật nào đ ã bị thương tật. Nhưng
thật sự cặp mắt này được gọi l à Nhãn
quang Toàn chân và Tối thắng.
Vào lúc chúng xuất hiện, toàn thể triều thần tề tựu lại nhờ thần lực của
Ðế Thích Thiên chủ; và Ðế Thích Thiên chủ đứng
giữa hội chúng, cảm hứng ngâm đôi vần kệ tán thán đức vua :
26- Ðại đế Sivi bảo dưỡng dân !
Bài ca thánh thiện của Minh quân
Cho ngài được hưởng phần ân huệ
Vô giá này, đây cặp mắt thần.
27- Xuyên qua tường, núi, đá, đồng bằng,
Bất cứ vật gì đứng cản ngăn,
Ðôi mắt ngài đây đều thấy suốt
Khoảng chừng tr ăm dặm ở mười phương.
Khi ngâm kệ xong, ngài vụt đứng tr ên
không trước hội chúng này cùng với lời khuyến giáo bậc Ðại Sĩ phải tỉnh giác
tu tập, rồi Thiên chủ trở về Thiên giới.
Còn bậc Ðại Sĩ được đám t ùy tùng vây
quanh, ngự xa giá về kinh thành trong cảnh uy nghi trọng thể và ngài bước
vào cung điện mệnh danh Candaka hay Khổng tước
Nh ãn (Con mắt chim công)
Nguồn tin đức vua đ ã
được phục hồi cặp mắt vang dậy khắp vương quốc
Sivi. To àn dân tập họp lại để yết kiến
ng ài cùng với các cống vật trong tay. Bậc Ðại Sĩ suy nghĩ: "Giờ
đây hội chúng n ày
đ ã tụ họp
đông đủ, ta sẽ tán thán việc bố thí vừa rồi đ ã làm". Ngài truyền lệnh
dựng lên một ngôi đ ình ngay cổng thành,
nơi đó ng ài ngự trên môt vương toạ với
chiếc lọng trắng hoàng gia che trên đầu ng ài,
triệu tập các hội đo àn, dân chúng, quân
sĩ lại; rồi ngài phán:
- Này dân chúng Sivi, nay các người đ ã
nhìn thấy cặp thiên nhãn này thì đừng có bao
giờ ăn thứ g ì mà không đem bố thí đi một
ít !
Rồi ngài ngâm bốn vần kệ tuyên thuyết Pháp lành:
28. Nếu mình được gợi ý thi ân,
Nào ai có từ chối được chăng,
Dù đó l à phần cao quý nhất,
Của mình, bảo vật giá vô ngần
29- Dân chúng Sivi hội họp đo àn,
Ðến đây, nh ìn cặp mắt trời ban!
Xuyên qua tường đá , đ ồi, thung lũng
Bất cứ vật gì đứng cản ngăn
Ðôi mắt ta đều trông thấy suốt
Một tr ăm dặm trải khắp mười phương
30- Từ bỏ thân mình giữa thế nhân
Là điều cao quý nhất tr ên trần,
Ta đem bố thí mắt ph àm tục,
Nên được trời cho cặp mắt thần.
31- Dân chúng này xem, hãy phát ban,
Nhường phần cho kẻ khác khi ăn,
Nếu làm việc ấy đầy tâm thiện,
Người sẽ sinh thiên chẳng lỗi lầm.
Ðức vua thuyết Pháp qua bốn vần kệ này, và về sau cứ mỗi nửa tháng, vào
ngày Trai giới, và mỗi ngày rằm ngài lại thuyết Pháp qua các vần kệ trên
liên tục trước đám dân chúng đông đảo quây
quần. Nghe lời ấy, dân chúng bố thí v à làm nhiều thiện sự, cho nên
đ ã đi l ên
gia nhập hội chúng cõi trời thật đông đúc.
*
Sau khi bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại này Ngài bảo:
- Như vậy, này các Tỳ kheo, các bậc trí nhân ngày xưa không thỏa mãn việc
bố thí ngoại tài, nên đ ã bố thí cho bất
cứ người nào ngẫu nhiên đến xin chính cả đôi
mắt của m ình lấy từ đầu ra nữa.
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
-Vào thời ấy Ànanda là phẫu thuật sư Sivaka, Anuruddha (A-na-luật- đ à)
là Thiên chủ Ðế Thích, hội chúng của đức Phật l à
toàn dân và Ta chính là vua Sivi.
-ooOoo-

500. Chuyện Thần Nữ Cát Tường (Tiền thân Sirimanda)#

Chuyện Thần nữ Cát Tường này sẽ được kể đầy
đủ trong chuyện Ðường Hầm Lớn (Mahà-Ummagga) số 546.
-ooOoo-

501. Chuyện Lộc Vương Rohanta (Tiền thân Rohanta Miga)#

Hãi kinh thần chết hỡi Citta.....
Câu chuyện này bậc Đạo Sư kể trong lúc trú
tại Trúc Lâm ( Veluvana) về Tôn giả Ànanda (A-nan)
đ ã hy sinh tính mạng mình.
Sự hy sinh này được mi êu tả trong
chương XXI, số 553. Tiền thân Culla-Hansa, tập V. Chuyện
Đ iều phục con voi Dhanapàla (Tài hộ).
Sau khi Tôn giả đ ã hy sinh tính mạng
mình vì bậc Đạo Sư, Tăng chúng b àn tán
việc ấy trong Chánh pháp đường.
- Này Hiền giả, Tôn giả Ànanda, sau khi đạt
tri kiến đầy đủ về con đường tu tập Giáo pháp, đ ã hy sinh tính mạng
mình vì đấng Thập lực (Dasabala: danh hiệu của
đức Phật).
Bậc Đạo Sư bước v ào, hỏi T ăng
chúng nói chuyện g ì trong khi ngồi tại
đó. Tăng chúng tr ình bày với Ngài. Ngài bảo:
- Này các Tỳ kheo, đây không phải l à
lần đầu ti ên vị ấy hy sinh tánh mạng vì
Ta, mà trước kia cũng đ ã làm như vậy.
Rồi Ngài kể cho hội chúng nghe một chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì Ba la nại, chánh hậu của vua tên
là Khemà (Thái Hòa). Thời ấy Bồ Tát được sinh l àm
con Hươu ở vùng Tuyết Sơn có màu da vàng óng ả tuyệt
đẹp, v à em trai của Ngài là Citta Miga
hay Hươu sao, và em gái ngài là Sutanà cũng có màu da như thế. Bấy giờ bậc
Đại Sĩ có t ên Rohanta làm chúa tể
đ àn hươu lớn. Vượt b ăng
ngang qua hai rặng núi, v ào đến rặng thứ
ba, ng ài sống ở bên hồ Rohanta và được
cả bầy hươu nai tám mươi ng àn con vây quanh hầu hạ. Thời ấy ngài phải
phụng dưỡng song thân ngài già cả mù lòa.
Bấy giờ một người thợ s ăn ở trong một l àng
s ăn gần Ba la nại đến v ùng Tuyết Sơn và
chợt thấy bậc Đại Sĩ. L ão trở về làng
mình và vào lúc lâm chung, lão dặn con trai:
- Này con, ở một nơi nọ trong vùng đất cha
săn bắn, có một con hươu m àu vàng ròng, nếu bao giờ
đức vua chợt phán hỏi th ì con hãy xin
phép tâu trình với ngài về chuyện đó.
Một ngày kia hoàng hậu Khemà, trong một giấc mộng về sáng, nằm mơ thấy
cảnh như vầy: Một con hươu màu vàng ròng ngồi trên một chiếc kim
đôn thuyết pháp cho ho àng hậu nghe bằng
giọng nói ngọt ngào như mật, chẳng khác gì tiếng chuông ngân vang. Song
trước khi bài giảng chấm dứt, con hươu đứng l ên
và chạy mất, bà giật mình tỉnh dậy và kêu to:
- Bắt lấy con hươu!
Đám nữ tỳ nghe tiếng b à kêu, bật cười ròn rã:
- Đây l à cung thất
đóng kín mọi cửa lớn lẫn cửa sổ, ngay cả một
mảy gió cũng không lọt v ào được, giữa
lúc n ày mà lệnh bà gọi lớn bảo bắt con hươu kia!
Đến khi ấy b à mới biết đó chỉ l à
giấc mộng. Song bà tự nhủ: "Nếu ta bảo đó l à
giấc mộng thì đức vua sẽ không để ý. Nhưng nếu
ta bảo đó l à nỗi ước ao của một thai phụ thì ngài sẽ quan tâm lo lắng
ngay. Vậy ta quyết phải nghe cho được lời
thuyết Pháp của chính con hươu m àu hoàng kim ấy!"
Sau đó b à liền nằm xuống giả vờ ngã
bệnh. Vua bước vào:
- Này ái khanh có việc gì thế? Ngài hỏi.
- Ôi tâu Chúa thượng, đó chỉ l à nỗi
ao ước tự nhiên của thần thiếp.
- Thế ái khanh muốn điều g ì?
- Thần thiếp ước ao được nghe lời thuyết
Pháp của một con hươu m àu hoàng kim chân chánh.
- Kìa ái khanh, điều ái khanh ao ước không
hề có: chẳng bao giờ có con vật n ào là loài hươu hoàng kim cả.
Bà đáp :
- Nếu thần thiếp không được như ý, thần
thiếp sẽ phải chết ngay lập tức.
Bà liền quay lưng lại về phía vua và nằm im. Vua bảo:
- Nếu có một con vật như thế trên đời n ày
thì nó sẽ được bắt về ngay.
Sau đó vua hỏi các triều thần v à các
Bà la môn như trong chuyện Tiền thân "Khổng tước" (số 129, tập I)
để xem thử có lo ài vật nào là hươu hoàng
kim ch ăng. Khi được biết l à hiện có,
ngài triệu tập các thợ s ăn v ào và hỏi:
- Trong các người, ai đ ã từng thấy
hoặc nghe nói về một con vật như thế ch ăng ?
Con trai của lão thợ s ăn m à ta
đ ã nói trên
đây liền kể lại câu chuyện g ã nghe được.
Vua phán:
- Này ngươi, khi nào ngươi đem về cho trẫm
con hươu kia th ì trẫm sẽ ban thưởng ngươi rất trọng hậu, vậy ngươi
hãy đi t ìm kiếm nó và
đem về đây.
Ngài bảo đưa tiền lộ phí cho g ã và
bảo gã lui ra. Người thợ s ăn tâu :
- Xin Chúa thượng đừng lo, nếu như tiểu thần
không đem được con hươu ấy về th ì tiểu thần cũng
đem được bộ da nó về, nếu không đem được da th ì
cũng đem được lông nó về đây.
Sau đó người ấy trở lại nh à,
đưa số tiền vua ban cho gia đ ình mình
rồi ra đi v ào rừng và trông thấy Lộc
vương. Gã suy nghĩ: "Ta phải đặt bẫy ở đâu để
bắt hươu đây ?" Gã thấy ngay cơ hội tốt ở chỗ hươu nai uống nước. Gã
kết một sợi dây bằng da thật chặt và đặt sợi
dây v ào một cái sào ở nơi mà bậc Đại Sĩ
thường xuống để uống nước.
Hôm sau bậc Đại Sĩ c ùng với tám mươi
ngàn con hươu trong lúc tìm kiếm thức ăn, đi
đến đó để uống nước tại bến sông thường lệ. Ng ài vừa
đặt chân xuống liền bị kẹt ngay v ào dây
thòng lọng. Ngài suy nghĩ: "Nếu ta rống lên tiếng kêu bị nạn thì cả
đ àn hươu sẽ kinh hoàng chạy trốn mà
không được ăn uống g ì cả". Vì thế, mặc
dầu ngài bị siết chặt ở đầu cây s ào,
ngài vẫn đứng giả vờ uống nước, như thể đang c òn
được tự do.
Khi tám mươu ngàn con hươu đ ã uống
xong và bấy giờ chúng đ ã bước ra khỏi
nước, ngài liền lắc mạnh cái thòng lọng ấy ba lần cố làm nó
đứt ra. Lần đầu ng ài làm rách da, lần
thứ hai nó đâm sâu v ào thịt và lần thứ
ba làm giãn gân ra, vì thế cái thòng lọng siết tới tận xương tủy. Sau
đó vẫn không thể n ào phá
đứt th òng lọng, ngài rống lên kêu bị
nạn: cả bầy hươu kinh hoàng chạy thoát thân thành ba
đ àn lớn.
Citta Miga không tìm được bậc Đại Sĩ trong
ba đ àn ấy liền suy nghĩ: "Mối hiểm họa này vừa xảy ra cho bọn ta
đ ã gieo xuống
đại huynh của ta". Khi quay về, chú hươu em
thấy ng ài đ ã bị mắc bẫy thật
chặt. Bậc Đại Sĩ chợt thấy em m ình, liền
kêu lên:
- Này hiền đệ, đừng đứng đây nữa, ở đây nguy
hiểm lắm.
Rồi ngài ngâm kệ, thúc giục em chạy trốn:
1- Hãi kinh thần chết, hỡi Citta,
Cả đám hươu kia chạy thoát xa
Hiền đệ h ãy
đi, v ì bọn chúng
Cùng em sẽ sống, chớ chần chờ.
Ba vần kệ sau do anh em đối đáp nhau :
Citta:
2- Em chẳng đi đâu, hỡi Lỗ hân,
Tim em đ ã kéo bước em gần,
Chẳng lìa anh tại nơi này nữa,
Em sẵn sàng từ bỏ tấm thân.
Rohanta:
3- Chẳng ai bảo dưỡng lại mù lòa,
Phải chết song thân, mẹ lẫn cha,
Em hãy về ngay cùng phụ mẫu,
Hỡi em đừng nấn ná gần ta.
Citta:
4- Em chẳng đi đâu, hỡi Lỗ hân,
Tim em đ ã kéo bước em gần,
Chẳng rời anh ở nơi này nữa,
Em sẵn sàng từ bỏ tấm thân.
Rồi Citta đứng vững l àm chỗ dựa cho
Bồ Tát ở bên phải và cố làm vui vẻ để ng ài
phấn khởi tinh thần.
Còn Sutanà, là bé Hươu còn non tơ, cứ chạy quanh quẩn giữa bầy hươu, song
không tìm thấy hai anh đâu cả, cô bé Hươu non
suy nghĩ : "Chắc tai họa đ ã xẩy ra
cho hai anh của ta rồi". Bé Hươu quay lại, đến
chỗ hai anh v à khi bậc Đại Sĩ thấy em
gái tới, liền ngâm vần kệ thứ năm:
5- Hươu nhút nhát, mau chạy trốn xa,
Bạo tàn thòng lọng siết chân ta,
Hãy đi theo chúng đừng lưu luyến,
Em phải sống cùng với mẹ cha.
Ba vần kệ sau lại được hai anh em đối đáp
như tr ên:
Sutanà:
6- Em chẳng đi đâu, hỡi Lỗ hân,
Tim em đ ã kéo bước em gần,
Chẳng rời anh ở nơi này nữa,
Em sẵn sàng từ bỏ tấm thân.
Rohanta:
7- Chẳng ai bảo dưỡng lại mù lòa,
Phải chết song thân, mẹ lẫn cha,
Em hãy về ngay cùng phụ mẫu,
Hỡi em đừng nấn ná gần ta
Sutanà:
8- Em chẳng đi đâu, hỡi Lỗ hân,
Tim em đ ã kéo bước em gần,
Em liều mất mạng, song không thể
Bỏ mặc anh sa bẫy buộc chân.
Như vậy nàng Hươu non cũng không chịu nghe lời ngài, nên cứ
đứng b ên cạnh ngài mà an ủi vỗ về.
Bấy giờ người thợ s ăn thấy bầy hươu đ ã
chạy trốn mất và nghe tiếng kêu của con vật mắc cạn:" Ắt hản là Hươu chúa
đ ã bị lọt bẫy rồi!". Gã nói xong, nai
nịt dây đai thật kỹ v à chạy vội
đi.
Bậc Đại Sĩ ngâm vần kệ thứ chín, ng ài
vừa thấy gã đến:
9- Thợ s ăn hung dữ, dáo trong tay
Nhìn gã, kìa đang bước đến đây !
Rồi với mũi tên hay ngọn giáo,
Chúng mình, gã giết nội, ngày nay!
Citta không chạy trốn, dù chú hươu này cũng trông thấy gã thợ s ăn.
C òn bé Sutanà không đủ mạnh dạn để đứng
y ên, cứ vẫn chạy loanh quanh vì sợ chết. Rồi nàng Hươu bé bỏng kia
suy nghĩ: "Ta sẽ chạy thoát đi đâu nếu ta bỏ
mặc các anh của ta ?" Thế là cô nàng quay lại, dành chịu hy sinh tánh
mạng, mặc cho tử thần ghi dấu trên đôi m ày
và đứng y ên phía bên trái anh mình.
*
Bậc Đạo Sư ngâm vần kệ thứ mười để giải
thích việc n ày:
10- Hươu non mềm yếu quá kinh hoàng,
Sợ hãi chạy quanh cố kiếm đường,
Rồi có hành vi đầy quyết liệt:
Vì nàng đ ành chịu phận
đau thương.
*
Khi người thợ s ăn đến nơi, g ã thấy cả
ba sinh vật này đứng b ên nhau. Một ý
tưởng từ mẫn thương xót nổi lên trong lòng, vì gã
đoán chúng l à anh em cùng một mẹ. Gã suy
nghĩ: "Chỉ một mình Hươu chúa đ àn bị mắc
bẫy, còn hai Hươu kia thì bị ràng buộc bởi những mối liên hệ thương yêu tôn
trọng mà thôi. Thế chúng có họ hàng gì với Hươu chúa ch ăng?"
G ã hỏi câu ấy như vầy:
11- Đôi lộc d ù không bị buộc chân,
Là ai, chầu chực cạnh tù nhân,
Không đ ành bỏ mặc chàng Hươu chúa,
Và chạy trốn đi để thoát thân?
Bồ tát liền đáp:
12- Em gái, em trai ấy thật là,
Cùng chung một mẹ đ ã sinh ra,
Không đ ành phận
được ri êng mình sống,
Bỏ mặc ta trơ trọi đấy m à.
Những lời này lại làm cho tim gã mềm dịu xúc cảm tột
độ. Lộc vương đệ Citta nhận thấy l òng gã
thợ s ăn đ ã trở thành thân ái nhu hòa,
liền nói:
- Này Hiền hữu thợ s ăn, hiền hữu đừng tưởng
rằng đây l à một con hươu tầm thường chứ không có gì khác, ngài
đây chính l à Lộc vương của tám mươi ngàn
con hươu. Ngài đ ã sống
đời đạo hạnh, có từ tâm đối với muôn lo ài
và trí tuệ cao minh, ngài đ ã phụng dưỡng
song thân nay đ ã già cả mù lòa. Nếu hiền
hữu giết một bậc chân chánh như vậy, tức là giết chết song thân ta, em gái
ta và ta nữa, luôn n ăm mạng tất cả. C òn
nếu hiền hữu tha mạng ngài, là hiền hữu đem
cuộc sống lại cho cả năm mạng ta đó.
Rồi Hươu này ngâm kệ:
13- Chẳng ai ch ăm sóc lại m ù lòa,
Đ ành phải chết luôn cả mẹ cha,
Thiện hữu hãy tha n ăm mạng ấy,
Và xin thiện hữu thả anh ta.
Khi người thợ s ăn nghe lời thuyết giáo đầy
hiếu thảo n ày, lòng gã vô cùng hoan hỷ, gã
đáp:
- Xin Chúa công đừng sợ.
Rồi gã ngâm kệ tiếp đáp lời:
14- Thôi được, n ày xem ta thả ra,
Chúa Hươu hiếu dưỡng mẹ cùng cha,
Khi nhìn con bảo toàn thân mạng,
Cha mẹ vui mừng sẽ múa ca.
Trong khi nói thế, gã suy nghĩ: "Nay ta còn thiết gì
đến đức vua c ùng các danh vọng ngài ban
cho nữa? Nếu ta làm hại Hươu chúa này, thì hoặc là mặt
đất sẽ há miệng ra nuốt chửng ta, hoặc l à
Thiên lôi sẽ giáng xuống đánh tan xác ta. Vậy
ta quyết thả Hươu n ày thôi". Vì thế gã
đến gần bậc Đại Sĩ, hạ cây s ào xuống và cắt sợi dây da. Sau
đó g ã ôm lấy Hươu chúa vào lòng,
đặt Hươu xuống gần mặt nước, nhẹ nh àng
êm ái tháo gỡ nút dây thòng lọng ra khỏi chân Hươu, nối các
đầu dây gân lại với nhau, l àm kín vết
thương trên da thịt cùng các mép da bị sây sát, lấy nước rửa sạch máu, rồi
cứ thoa bóp Hươu khắp mình mẩy một cách đầy
thương xót.
Nhờ uy lực của lòng thân ái kia cùng với công hạnh viên mãn của bậc
Đại sĩ, n ên toàn thân ngài bình phục như
trước, đủ gân cổ, da, thịt, lông tơ v à
da non bao phủ cẳng chân, nên không ai đoán
biết được chỗ n ào Hươu đ ã bị
trọng thương cả. Bậc Đại Sĩ đứng tại đó v à
tràn ngập hạnh phúc trong lòng, Citta nhìn ngài vô cùng hoan hỷ nên ngỏ lời
cảm tạ người thợ s ăn qua vần kệ n ày:
15- Chú thợ, cầu mong phước lộc tràn,
Ước ao hạnh phúc cả thân bằng,
Như ta hạnh phúc khi nhìn ngắm
Đại lộc vương nay được thoát n àn.
Lúc ấy bậc Đại Sĩ suy nghĩ: "Phải chăng v ì
tự ý mà người thợ s ăn đánh bẫy ta, hay do lệnh
của một ai khác?". V à ngài hỏi nguyên nhân bắt hươu này. Người thợ s ăn
đáp:
- Tâu Chúa công, kẻ hèn này không có liên can gì
đến Chúa công cả, chính vương hậu Khem à
của đức vua ước mong nghe ng ài thuyết
giảng Chánh pháp, cho nên kẻ hèn này đ ã
đánh bẫy ng ài theo lệnh vua truyền.
- Hiền hữu, bạn đ ã dám cả gan thả ta
ra ư? Mau lên, đưa ta v ào yết kiến
đức vua, rồi ta sẽ thuyết giáo trước mặt ho àng
hậu.
- Quả thật, tâu Chúa công, các vua chúa thường ác
độc lắm. L àm sao ai biết
được chuyện g ì sẽ xảy ra? Kẻ hèn này
chẳng màng thứ công danh gì mà đức vua có thể
ban cho m ình đâu; vậy ng ài hãy ra
đi nơi n ào như ý.
Nhưng bậc Đại Sĩ lại suy nghĩ rằng g ã
thả ngài ra là một việc qúa liều lĩnh, nên ngài phải tìm cơ hội cho gã
đạt vinh quang danh vọng đ ã
được vua hứa hẹn trước ấy. V ì thế ngài
bảo:
- Này hiền hữu, hãy lấy tay xát mạnh vào lưng ta.
Gã làm y lời, bàn tay gã liền dính dầy lông tơ vàng óng.
- Tâu Chúa công, kẻ hèn này sẽ làm gì với
đám lông tơ n ày đây ?
- Này hiền hữu, hãy đem chúng về tr ình
lên đức vua c ùng hoàng hậu, tâu các ngài
rằng đây l à
đám lông tơ của Ho àng kim Lộc vương kia, rồi hãy thay mặt ta thuyết
giáo cho hai vị ấy nghe các lời kệ mà ta sắp ngâm
đây. Khi ho àng hậu nghe lời hiền hữu như
thế là cũng đủ l àm thỏa mãn niềm khát
khao của hoàng hậu rồi.
- Tâu Lộc vương, xin ngài hãy thuyết Pháp.
Người thợ s ăn nói v à Hươu chúa dạy
cho gã mười vần kệ về đời sống Thánh hạnh, tr ình
bày Ngũ giới đức v à bảo gã ra
đi với lời dặn d ò khuyên nhủ gã phải
tỉnh giác hộ phòng.
Người thợ s ăn cư xử với bậc Đại Sĩ như cách
người ta đồn đ ãi tôn trọng một bậc thầy vậy. Gã
đi diễu quanh ng ài ba lần hướng về phía
hữu, đảnh lễ bốn lần rất cung kính v à
gói ghém đám lông tơ v àng ấy trong ngọn
lá sen rồi ra đi.
Ba anh em chúa Hươu tiễn đưa g ã
đi một đoạn đường . Sau khi ăn uống xong, ba vị
liền trở về với cha mẹ.
Song thân vội hỏi ngài:
- Này con yêu Rohanta, cha mẹ đ ã nghe
con bị bắt, làm sao con trở về được tự do đây ?
Hai vị hỏi qua vần kệ:
16- Làm thế nào con được tự do,
Khi đời con suýt dứt đường tơ ?
Sao người s ăn nọ cho con thoát,
Chiếc bẫy gi ăng kia đ ã phỉnh lừa?
Bồ tát ngâm ba vần kệ đáp lời:
17- Citta đ ã giải thoát cho con
Bằng những lời rung động tâm hồn,
Mê mẩn đôi tai, xuy ên thấu dạ,
Lời đưa trong sáng thật du dương.
18- Suta đ ã giải thoát cho con,
Bằng những lời rung động tâm hồn,
Mê mẩn đôi tai, xuy ên thấu dạ,
Lời đưa trong sáng thật du dương.
19- Chú thợ kia đ ã giải thoát con,
Khi nghe lời nói thật mê hồn,
Thấm sâu tâm trí, xuyên vào dạ,
Lời lẽ thanh tao dịu ngọt tuôn.
Song thân của ngài bày tỏ lòng cảm ơn bằng một vần kệ:
20- Ta chúc người, gia quyến, vợ con,
Cầu mong các vị phước duyên tròn,
Như ta hạnh phúc khi nhìn ngắm
Nay chúa Lỗ hân được thoát n àn.
Bấy giờ người thợ s ăn ra khỏi rừng đi về yết
kiến vua, g ã đảnh lễ ng ài và
đứng chầu một b ên. Khi vua trông thấy gã
liền bảo:
21- Lạp hộ, mau lên , nói trẫm hay,
Nhà ngươi có phải muốn thưa vầy
"Tâu hoàng thượng, tấm da hươu chúa,
Nay tiểu thần dâng ngự lãm ngay".
Hoặc giả da hươu ngươi chẳng có
Để dâng, v ì cớ sự gì
đây ?
Thợ s ăn:
22- Chúa Hươu đ ã
đến tận tay rồi
Vào bẫy nằm sâu kín của tôi.
Bị bắt liền, song đôi lộc khác
Thong dong chầu chực một bên ngài.
23- Xót thương, thần rợn cả làn da
Từ mẫn lạ thường mới khởi ra:
"Nếu giết Hươu này (thần nghĩ ngợi),
Đời thần ắt cũng hóa ra ma!"
Nhà vua:
24- Lạp hộ, bầy hươu ấy thế nào,
Phong tư, cốt cách chúng ra sao,
Màu lông, đặc tính g ì trong chúng
Xứng đáng lời kia tán tụng cao ?
Vua cứ hỏi đi hỏi lại câu n ày mãi như
thể một người tràn đầy kinh ngạc. G ã thợ
s ăn đáp lời qua vần kệ:
25- Đôi sừng như bạc, dáng cao sang,
Với bộ lông da sáng rỡ ràng,
Chân đỏ, mắt ngời sao chói lọi,
Toàn thân tuyệt mỹ giữa trần gian.
Trong lúc ngâm kệ, gã vừa đem đặt v ào
lòng bàn tay vua một nắm lông tơ vàng ánh của bậc
Đại Sĩ v à qua một vần kệ khác, gã trình
bày sơ lược đặc tính của các Hươu n ày:
26- Phong tư, cốt cách chúng như vầy,
Tâu Chúa công, là đám lộc n ày,
Chúng vẫn tìm mồi nuôi phụ mẫu,
Thần không đem được chúng về đây.
Qua những lời này, gã miêu tả các đức tính
của bậc Đại Sĩ, của chú Hươu em Citta v à cô bé Hươu non Sutanà, rồi
nói thêm đ iều này:
- Tâu Đại vương, Hươu chúa cho tiểu thần một
nắm lông, lại bảo thần thay thế địa vị ng ài mà thuyết Pháp trước
Hoàng hậu qua mười vần kệ về đời sống theo
Thánh hạnh.
Trong lúc gã thợ s ăn vừa ngồi tr ên
bảo tọa bằng vàng, gã thuyết Pháp lành qua mu+o+fi vần kệ này:
(Theo bản kinh Miến Điện, vua đặt g ã
thợ s ăn l ên chiếc vương tọa
được chạm cẩn với bảy loại châu báu; c òn
chính vua cùng hoàng hậu ngồi trên một bảo tọa thấp hơn,
đặt ở một b ên, rồi cung kính
đảnh lễ, thỉnh cầu g ã thuyết giảng.
Người thợ s ăn thuyết giảng pháp l ành như
vầy:)
27- Tâu Hoàng thượng, đối với song thân,
Xin thực hành đường lối chánh chân,
Nhờ vậy sống theo đời đức hạnh,
Đại vương sẽ đến c õi Thiên
đường.
28- Với đ àn thê tử, tấu quân vương,
Xin thực hành đường lối chánh chân
Nhờ vậy sống theo đời đức hạnh,
Đại vương sẽ đến c õi Thiên
đường
29- Đại vương với thân hữu quần thần
Xin thực hành đường lối chánh chân,
Nhờ vậy sống theo đời đức hạnh
Đại vương sẽ đến c õi Thiên
đường.
30- Trong bước lãng du, hoặc chiến trường,
Thực hành đường lối sống thuần lương,
Vì nhờ sống cuộc đời chân chánh,
Thiên giới sẽ về, tấu Đại vương
31- Trong làng, thị trấn, tấu quân vương,
Xin thực hành đường lối chánh chân,
Nhờ vậy sống theo đời đức hạnh
Đại vương sẽ đến c õi Thiên
đường.
32- Mọi miền quốc độ, tấu Quân vương
Xin thực hành đường lối chánh chân,
Nhờ vậy sống theo đời đức hạnh,
Đại vương sẽ đến c õi Thiên
đường
33- Với các Sa môn, Bà la môn,
Thực hành đường lối sống hiền nhơn,
Vì nhờ sống cuộc đời chân chánh
Thiên giới sẽ về , tấu Đại vương !
34- Với loài cầm thú, tấu Quân Vương,
Xin thực hành đường lối chánh chân
Nhờ vậy sống theo đời đức hạnh,
Đại vương sẽ đến c õi Thiên
đường.
35- Xin thực hành chân chánh Đại vương
Từ đây nguồn hạnh phúc tuôn tr àn,
Nhờ đi theo cuộc đời chân chánh
Chúa thượng sẽ lên cõi ngọc đường
36- Hộ phòng tỉnh giác, tấu Quân vương
Tiến bước trên đường lối thiện lương,
Thiên chủ, chư Thiên cùng giáo sĩ,
Từ lâu đ ã
đạt c õi Thiên đường.
37- Ngàn xưa đây chính các phương ngôn,
Đi đúng theo đường lối trí nhân,
Thiên nữ được tr àn
đầy hạnh phúc,
Tự mình th ăng tiến c õi Thiên
đường.
Người thợ s ăn đ ã thuyết Pháp như
trên, theo cách bậc Đại Sĩ đ ã giảng bày
cho gã với tài n ăng của một bậc Giác Ngộ, chẳng
khác n ào người đem từ bầu trời xuống
trần thế cả giải Thi ên hà kia. Hội chúng gồm
đủ ng àn giọng nói
đồng reo h ò tán thán. Lòng khát khao của
Hoàng hậu đ ã
được thỏa m ãn lúc bà nghe lời thuyết
Pháp ấy.
Vua đầy hoan hỷ liền ngâm các vần kệ n ày,
khi ngài ban thưởng người thợ s ăn đại vinh hoa
phú quý:
38- Nạm ngọc vòng tai, trẫm muốn ban,
Tặng khanh cùng với sáu cân vàng,
Xinh tươi, bảo tọa như hoa tấm
Với nệm nằm chen cả bốn hàng.
39- Hai vợ cùng giai cấp xứng đôi,
Trâu bò thường đúng một trăm rồi
Trẫm nguyền sẽ trị dân công chính
Mãi mãi, ân nhân của trẫm ôi!
40- Cho vay, cày ruộng hoặc kinh doanh,
Hễ đó l à nghề nghiệp của khanh,
Trẫm thấy khanh không làm việc ác,
Song nhờ đó cấp dưỡng gia đ ình.
Khi nghe vua nói những lời này, người ấy đáp :
- Tiểu thần không có nhà cửa hay gia đ ình
gì nữa, xin Chúa thượng cho phép tiểu thần được
l àm ẩn sĩ khổ hạnh.
Sau khi được vua chấp thuận, người ấy đem
mọi vật vua ban thưởng trọng hậu ấy về cho vợ con, gia đ ình, xong rồi
lại ra đi l ên vùng Tuyết Sơn, nơi
đây người ấy sống theo đời khổ hạnh, tu tập tám
Thiền chứng v à được sinh l ên cõi
Phạm Thiên.
Còn vua vẫn tuân hành lời giáo huấn của bậc
Đại Sĩ, n ên về sau lên cộng trú với hội chúng chư Thiên dục giới. Lời
giáo huấn ấy tồn tại cả ngàn n ăm sau nữa.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo Sư bảo :
- Như vậy, này các Tỳ kheo, xưa kia cũng như bây giờ, Ànanda hy sinh tính
mạng vì Ta.
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ Channa (Xa nặc) là người thợ s ăn,
S àriputta ( Xá Lợi Phất) là vua, một Tỳ kheo ni là hoàng hậu Khemà,
hai người trong hoàng tộc là mẹ cha của chúa Hươu, Uppalavannà (Liên Hoa
Sắc) là Sutanà, Ànanda la Citta, dòng họ Sàkya ( Thích Ca) này là
đ àn hươu tám mươi ngàn con, và Ta chính
là Lộc vương Rohanta.
-ooOoo-

502. Chuyện Chúa Thiên Nga (Tiền thân Hamsa)#

Kìa đám hằng nga cất cánh bay....
Câu chuyện này bậc Đạo Sư kể trong lúc trú
tại Trúc Lâm, về việc Tôn giả Ànanda hy sinh tính mạng.
Lúc ấy T ăng chúng đang b àn luận trong
Chánh pháp đường về các đức tính của Tôn giả n ày
thì bậc Đạo Sư bước v ào hỏi T ăng
chúng đang nói chuyện g ì tại đó. Rồi ng ài
bảo:
- Này các Tỳ kheo, đây không phải l à
lần đầu ti ên Ànanda từ bỏ tánh mạng vì
ta, mà xưa kia cũng đ ã làm như thế.
Và Ngài kể cho T ăng chúng một chuyện quá
khứ.
*
Một thuở nọ có một vị vua ngự trị tại thành Ba la nại mệnh danh là
Bahuputtaka hay là Thân phụ của nhiều Vương tử và chánh cung hoàng hậu của
ngài là Khemà (Thái Hòa).
Thuở ấy, bậc Đại Sĩ sống tr ên
đỉnh núi Cittakuta, ng ài là chúa tể của
chín mươi ngàn Thiên nga, sau khi được sinh l àm
chim Thiên nga với màun lông vàng ánh.
Thuở ấy như đ ã thuật trước
đây, chánh hậu nằm mộng v à tâu vua rằng
bà đ ã mang nỗi khát khao của một thai
phụ muốn nghe một chim Kim nga thuyết Pháp. Khi vua hỏi xem có loài vật nào
như chim Kim nga ch ăng, v à ngài
được báo tin l à hiện có loài ấy trên núi
Cittakùta. Sau đó ng ài bảo xây cái hồ
đặt t ên là Khemà, lại truyền lệnh trồng
đủ loại ngũ cốc l àm thực phẩm, hằng ngày
rao truyền khắp tứ phương ban bố lệnh bảo vệ hồ ấy, rồi phái một thợ s ăn
đến bắt Thi ên nga.
Người này được phái đi cách n ào,
người ấy canh chừng chim muông ra sao, tin tức
được tâu tr ình vua khi bầy Thiên nga
được xuất hiện như thế n ào, cái bẫy được
giăng theo kiểu g ì và bậc Đại Sĩ bị mắc
v ào bẫy, rồi Đại tướng Thi ên nga
Sumukha (Sư mục kha) không thấy Ngài trong ba đ àn
chim kia, liền trở về tìm ngài ra sao, tất cả chi tiết này sẽ xuất hiện
trong Tiền thân Mahàhamsa ( Đại Thi ên
nga) số 534, tập VI, trong đó Chúa Thi ên
nga có tên Dhatarattha.
Bấy giờ ngay lúc bậc Đại Sĩ bị bắt v ào
thòng lọng và cây sáo, dù cho ngài đang treo
lủng lẳng trong chiếc th òng lọng ở đầu
cây s ào, ngài cũng cố vươn cổ ra nhìn theo hướng bầy chim
đ ã bay trốn mất và chợt thấy tướng
Sumukha quay trở lại, ngài suy nghĩ: "Khi chim tướng
đến đây, ta sẽ thử l òng chim tướng ấy
xem sao". Vì thế khi chim kia đến, bậc Đại Sĩ
ngâm ba vần kệ:
1- Kìa đám hồng nga cất cánh bay,
Cả bầy hốt hoảng hãi kinh đầy,
Đi ngay, Sư mục lông v àng óng,
Khanh muốn gì ch ăng ở chốn n ày.
2- Họ hàng ta đ ã bỏ rơi ta!
Bọn chúng đều cao chạy vút xa,
Đ ào tẩu ngay, không hề nghĩ lại,
Sao khanh đơn độc ở đây m à?
3- Thiên nga cao thượng hãy bay về,
Tù tội, thân không có bạn bè,
Lúc được tự do, Sư mục hỡi,
Bay đi !
Đừng bỏ dịp may kề.
Nghe vậy, Tướng quân Sumukkha đáp lời lúc
đang đậu tr ên vũng bùn:
4- Không, thần sẽ chẳng bỏ Nga vương,
Khi đến gần tai họa thảm thương,
Song ở lại đây, thần đ ã quyết
Bên ngài, dù sống chết không màng.
Như thế Sumukkha đ ã cất giọng sư tử
hống và chúa chim Dhataratha đáp kệ n ày:
5- Những lời khanh nói thật anh hùng,
Đại tướng ôi, cao cả tấm l òng!
Vì muốn thử lòng hiền hữu đó,
Trẫm đ à bảo bạn hãy phi thân!
Trong lúc hai vị đang tr ò chuyện với
nhau như vậy, người thợ s ăn vừa tới nơi, cầm
gậy trong tay, g ã chạy như bay hết tốc lực. Sumukkha khuyến khích
chúa chim Dhatarattha cho phấn khởi tinh thần, rồi bay ra
đón người thợ săn, kính cẩn đề cao đức hạnh của
chim chúa đ àn. Lập tức tâm hồn người thợ s ăn
trở n ên nhu hòa. Sumukkha nhận thấy ngay
điều n ày, liền quay lại, đứng cạnh chúa
Thi ên nga để khích lệ ng ài phấn
khởi tinh thần. Còn người thợ s ăn tiến đến gần
chim chúa v à ngâm vần kệ thứ sáu:
6- Bọn chúng đều co cẳng vút bay,
Bầy chim tung cánh giữa trời mây,
Thiên nga vương giả, sao chim chẳng
Trông thấy từ xa chiếc bẫy này?
Bậc Đại Sĩ đáp lại :
7- Khi đời sắp sửa phút lâm chung,
Giờ tử thần đang tiến lại gần,
Dù bạn đứng kề b ên chiếc bẫy,
Cũng không thấy bẫy đặt, dây giăng !
Người thợ s ăn h ài lòng với lời nhận
xét của chim chúa, liền ngâm thêm ba vần kệ hỏi Sumukha:
8- Kìa đám hằng nga cất cánh bay,
Cả bầy hốt hoảng hãi kinh thay,
Còn Thiên nga có sắc vàng óng,
Bị bỏ rơi, còn nán đợi đây.
9- Cả đám hồng nga đ ã uống
ăn,
Rồi bay về hết, chẳng quan tâm,
Qua không gian chúng lao vùn vụt,
Và bỏ mặc chim chỉ một thân!
10- Có gì quan hệ với chim này,
Khi cả đ àn ruồng rẫy vụt bay,
Dù được tự do, chim ở lại,
Một mình kết bạn với kẻ tù đây ?
Sumukha đáp lời:
11- Chim chúa là đây, bạn chí t ình,
Thiết thân như chính cuộc đời m ình,
Bỏ ngài ư?- Chẳng bao giờ có,
Dù lúc tử thần gọi đích danh !
Nghe thế, người thợ s ăn vô c ùng hoan
hỷ và nghĩ thầm: "Ví thử ta làm hại các sinh vật
đức hạnh như thế n ày, chắc chắn mặt
đất sẽ há miệng ra v à nuốt chửng ta
đi mất. Ta c òn thiết gì
đến ân thưởng vua ban nữa ? Ta quyết thả
chúng ra thôi".
Rồi gã ngâm kệ:
12- Thấy rằng vì trọng nghĩa thân bằng,
Chim sẵn sàng từ bỏ tấm thân,
Ta thả chúa chim đồng mệnh ấy
Để c ùng nhau khắp chốn
đằng vân.
Vừa nói lời này xong, gã kéo Nga vương Dhataratha xuống khỏi cây sào, nới
lỏng dây thòng lọng ra và đem Thi ên nga
tới bờ hồ, rửa sạch máu trên thân chim với lòng
đầy xót thương, rồi thoa bóp các bắp thịt c ùng gân cốt bị trặc khớp
lại cho đúng chỗ. Nhờ tâm từ ái của người thợ
săn c ùng uy lực các Công hạnh Viên mãn của bậc
Đại Sĩ (Thập hạnh Ba la mật), n ên lập
tức chân ngài lành mạnh như trước, chẳng còn một dấu vết nào chứng tỏ ngài
đ ã bị mắc bẫy cả. Tướng quân Sumukha
chiêm ngưỡng bậc Đại Sĩ với l òng hân
hoan và cảm tạ qua những lời này:
13- Lạp hộ, cùng thân hữu, họ hàng,
Cầu mong các vị phước ân tràn,
Như ta hạnh phúc khi nhìn ngắm
Chúa chim giờ đây thoát buộc r àng.
Khi người thợ s ăn nghe lời n ày, gã
nói:
- Này hiền hữu, Ngài có thể bay đi rồi đấy.
Lúc ấy bậc Đại Sĩ bảo g ã:
- Thưa Hiền giả, thế ngài đ ã bắt ta
theo ý riêng của ngài hay do lệnh một người khác?
Gã liền kể cho ngài nghe mọi sự. Chim chúa tự hỏi nên trở về núi
Cittakuta ch ăng hay đi v ào kinh thành
kia. Ngài suy nghĩ: "Nếu ta vào thành, thì người thợ s ăn
sẽ được vua ban thưởng, nỗi khao khát của ho àng hậu sẽ
được thỏa m ãn, tình bằng hữu của Sumukha
sẽ được mọi người biết r õ, rồi cũng nhờ
công đức trí tuệ của ta, ta sẽ được vua ban
thưởng hồ Khem à như một đặc ân. Vậy ta v ào
thành thì hơn".
Quyết định xong ng ài nói:
- Này thợ s ăn, bạn h ãy mang chúng ta
lên đ òn gánh của bạn
đưa v ào yết kiến
đức vua, v à nếu ngài muốn, ngài sẽ thả
ta ra.
-Này chúa chim ơi, tính vua chúa bạo tàn lắm, vậy các ngài cứ lên
đường các ng ài cho yên thân!
- Sao thế? Ta đ ã làm mềm lòng một thợ
s ăn như Hiền giả, m à ta lại không chiếm
được ân sủng của vua chúa kia ư ? Cứ
để việc ấy cho ta lo liệu, n ày bạn hữu,
phần của ông bạn là mang chúng ta đến yết kiến
đức vua.
Người ấy đ ành tuân lời.
Khi vua nhìn thấy đôi thi ên nga, ngài
rất đẹp ý. Ng ài
đặt đôi chim l ên một cành
đậu bằng v àng, bảo
đem mật ong v à hạt mễ cốc rang chín cùng
nước đường l ên mời
đôi chim; sau đó ng ài
đưa đôi tay l ên thỉnh cầu
đôi chim thuyết Pháp. Nga vương thấy vua tha
thiết nghe Pháp như thế, n ên trước tiên ngài nói với vua bằng những
lời lẽ nhu hòa êm ái.
Sau đây l à các vần kệ trình bày câu
chuyện giữa vua và Thiên nga chúa:
Thiên nga:
14- Đại vương, ngọc thể có khang an,
Quý quốc giờ đây có hưởng tr àn
Hạnh phúc, giàu sang cùng thịnh vượng,
Và ngài trị nước thật công bằng!
Đức vua
15- Thiên nga, đây trẫm được khang an,
Và bổn quốc đây được vẹn to àn
Hạnh phúc, giàu sang cùng thịnh vượng,
Với nền cai trị thật công bằng.
Thiên nga:
16- Triều đ ình ngài chẳng phạm sai
lầm,
Và đám quốc th ù vẫn biệt t ăm,
Bọn chúng chẳng bao giờ xuất hiện,
Khác nào bóng tối hướng Nam ch ăng ?
Đức vua :
17- Triều thần trẫm chẳng thấy sai lầm,
Và đám quốc th ù vẫn bặt t ăm,
Bọn chúng chẳng bao giờ xuất hiện,
Khác nào bóng tối ở phương Nam!
Thiên nga:
18- Phải ch ăng chánh hậu cũng chung d òng,
Lời lẽ ôn nhu, biết phục tòng,
Diễm lệ, nhiều con, danh tiếng tốt,
Vâng chiều mọi Thánh ý chờ mong?
Đức vua
19- Thưa vâng, chánh hậu cũng chung dòng,
Lời lẽ ôn nhu, biết phục tòng,
Diễm lệ, nhiều con, danh tiếng tốt,
Vâng chiều mọi ý trẫm hằng mong!
Thiên nga:
20- Đại đế nuôi dân ! Ngài có
đông
Hoàng nam được dưỡng dục oai phong,
Thông minh ứng đối, người nhu thuận,
Bất cứ việc gì cũng gắng công?
Đức vua :
21- Nga vương, trẫm có đủ ho àng
nam,
Nổi tiếng một tr ăm lẻ một ch àng,
Dạy bảo chúng làm tròn phận sự,
Chúng không bỏ dở các lời vàng.
Nghe điều n ày bậc
Đại Sĩ khuyến giáo hội chúng qua năm vần kệ:
22- Kẻ hoãn trì cho quá muộn màng
Thiện hành mà chẳng gắng công làm,
Dù nhiều đức tính, d òng cao quý,
Cũng vẫn chìm sâu xuống dưới dòng.
23- Người kia tri kiến cứ tàn dần
Tổn hại lớn lao, nó lãnh phần
Như kẻ quáng gà vì bóng tối,
Khi nhìn mọi vật hóa phồng c ăng,
Gấp đôi tầm cỡ thường nơi chúng,
Vì có nhãn quang chẳng vẹn toàn.
24. Ai nhìn hư vọng thấy toàn chân,
Chẳng đạt chút n ào trí tuệ thông,
Như thể trên đường đ èo lởm chởm,
Bầy hươu nai vẫn té nhào l ăn.
25. Nếu người nào dũng cảm can cường,
Ðức hạnh mến yêu, giữ đúng đường,
Dù chỉ là người dòng hạ liệt,
Cũng bừng lên tựa lửa đ êm trường.
26. Cứ dùng ngay ví dụ trên này
Chân lý hiền nhân, hãy giải bày,
Dưỡng dục hoàng nam thành bậc trí,
Như mầm non gặp lúc mưa đầy.
Bậc Ðại sĩ đ ã thuyết giáo như vậy cho
vua suốt đ êm ròng. Lòng khao khát của
hoàng hậu đ ã
được thỏa m ãn. Trước buổi bình minh,
ngài an trú vào Thập vương pháp và khuyên nhủ vua tinh cần cảnh giác, sau
đó, ng ài cùng tướng quân Sumukha bay ra
khỏi khung cửa sổ hướng Bắc về miền núi Cittakùta.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo sư bảo:
- Như vậy, này các Tỷ-kheo, trước kia người này cũng
đ ã hy sinh tính mạng vì Ta.
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy, Channa (Xa-nặc) là người thợ s ăn,
S àriputta (Xá-lợi-phất) là vua, một Tỷ-kheo-ni là hoàng hậu Khemà, bộ
tộc Thích-ca (Sàkya) là đ àn thiên nga,
Ànanda là Sumukha và Ta chính là Thiên nga vương.
-ooOoo-

503. Chuyện anh vũ Sattigumba (Tiền thân Sattigumba)#

Vua xứ Pãn-ca với đạo quân..,
Câu chuyện này bậc Ðạo sư kể trong lúc trú tại Lộc-uyển Maddakucchi về
Devadatta (Ðề-bà- đạt-đa).
Khi Ðề-bà- đạt-đa xô tảng đá lớn v à
một mảnh đâm v ào chân của
đức Thế Tôn khiến chân ng ài rất nhức
nhối, nhiều nhóm T ăng chúng họp lại đến viếng
đức Như Lai. Bấy giờ, lúc đức Thế Tôn thấy quần chúng tụ họp đầy đủ, Ng ài
bảo:
- Này các Tỷ-kheo, nơi đây đông đảo lắm. Dân
chúng sẽ tụ tập nhiều nữa. Vị n ào hãy dùng cái cáng khiêng ta
đến Maddakucchi.
Các Tỷ-kheo liền làm theo đúng như vậy. C òn
Tôn giả Jìvaka chữa cho chân đức Như Lai b ình
phục. Khi ngồi trước bậc Ðạo sư, T ăng chúng nói
về chuyện n ày:
- Ðề-bà- đạt-đa l à một kẻ ác và toàn
thể hội chúng của ông đều l à bọn người
ác, kẻ gây ác nghiệp thường thân cận với lũ ác nhân.
Bậc Ðạo sư hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, các ông nói chuyện gì vậy?
T ăng chúng tr ình với Ngài. Ngài bảo:
- Ðây không phải là lần đầu ti ên, ác
nhân Ðề-bà- đạt-đa thân cận với bọn ác, m à
xưa kia cũng vậy.
Sau đó Ng ài kể một chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, có một vị vua mệnh danh là Pancàla ngự trị trong kinh thành
Uttarapancàla. Còn bậc Ðại sĩ được sinh l àm
vương tử của Anh vũ vương trong khóm cây bông vải mọc trên cao nguyên giữa
lòng một khu rừng rậm: nhà có tất cả hai anh em trai. Ngược chiều gió với
vùng đồi núi n ày là một làng trộm cướp,
có n ăm trăm t ên cướp trú ngụ. Thuận
chiều gió núi rừng lại là một vùng ẩn am với n ăm
trăm vị hiền nhân.
Vào thời kỳ loài chim Anh vũ thay lông, một cơn lốc cuốn
đi mất một chim Anh vũ v à rớt vào làng
trộm cướp kia, nằm giữa đống vũ khí của bọn
cướp, v à do chim rớt vào đó n ên
bọn chúng gọi nó là Sattigumba hay "Gươm giáo tua tủa". Còn con chim kia rơi
vào am ẩn sĩ, giữa đám hoa mọc tr ên chỗ
đất cát, v ì lý do
đó nó được đặt t ên là Pupphaka hay Hoa
điểu. Thế l à chim Sattigumba lớn lên
giữa bọn cướp, còn Pupphaka sống với các hiền nhân.
Một ngày kia, vua phục sức oai nghi sang trọng cầm
đầu một đám t ùy tùng
đông đảo ngự tr ên vương xa lộng lẫy
để đi săn hươu nai. Không xa kinh th ành
mấy, vua vào rừng cây xinh tươi tràn đầy hoa
quả. Vua phán:
- Nếu kẻ nào để cho một con nai thoát đi do
lỗi m ình thì phải lãnh trách nhiệm ấy!
Sau đó vua xuống xa giá t ìm nơi ẩn
mình, đứng y ên với cung trong tay, dưới
túp lều dành cho ngài.
Bọn người xua dã thú, đập v ào các bụi
rậm để đuổi con mồi. Một con hươu liền v ùng
dậy tìm đường thoát thân, nó thấy một kẽ hở ở
cạnh vua, liền chui lọt qua đó biến mất. Mọi người hỏi nhau:
- Ai đ ã
để con hươu chạy thoát? Chính l à đức vua
rồi!
Nghe vậy cả bọn cười nhạo vua, và vì lòng tự kiêu ngài không chịu
được tr ò đ ùa
này:
- Nay ta phải bắt cho được con hươu!
Vua kêu lớn và nhảy lên xe.
- Nhanh lên!
Ngài bảo người quản xa và ngài vụt biến mất theo con hươu.
Vua đi nhanh quá khiến bọn kia không theo
kịp ng ài, chỉ có vua và viên quản xa, hai người này cứ tiến lên
đến giữa trưa, song chẳng gặp hươu đâu cả. Sau
đó vua trở lại v à khi thấy cạnh làng bọn cướp có một thung lũng
đẹp mắt, ng ài
đi xuống tắm rửa, uống nước rồi đi l ên
khỏi con suối.
Sau đó người quản xa lấy tấm thảm từ trong
vương xa ra trải dưới bóng cây, vua nằm tr ên
đó, người quản xa ngồi dưới chân vua xoa bóp:
vua cứ thức ngủ chập chờn. Dân chúng trong l àng bọn cướp và cả bọn
cướp nữa, đều đ ã vào rừng
để chầu vua, v ì thế trong làng không còn
ai ngoài Sattigumba và người đầu bếp t ên
là Patikolamba.
Vào lúc ấy, Sattigumba bước ra khỏi làng và khi thấy vua, nó liền suy
nghĩ: "Giá ta giết chết người kia đang nằm ngủ
v à lấy hết đồ trang sức ấy nhỉ?". V ì
thế nó trở lại gọi Patikolamba và kể cho gã nghe mọi sự việc.
Ðể giải thích việc này, bậc Ðạo sư ngâm n ăm
vần kệ:
1. Vua xứ Pãn-ca với đạo quân
Lên đường săn bắn lũ nai rừng,
Trong rừng sâu thẳm vua đi lạc,
Chẳng có một ai ở kế gần.
2. Kìa, ngài trông thấy ở trong rừng
Bọn cướp đ ã làm chốn ẩn thân,
Anh vũ, một chim đang tiến bước,
Tức thì lời ác nó kêu vang:
3. "Ngồi trên xe nọ, một nam trang,
Châu báu nhiều sao, lắm ngọc vàng,
Vương miện trên đầu v àng óng ánh
Chiếu hồng như thể ánh trời quang!
4. Ngự quan cùng chúa ngủ say sưa,
Nằm đó lúc trời nắng giữa trưa,
Ta hãy cướp ngay đồ báu vật,
Nhanh lên, cất dấu hết bây giờ!
5. Cảnh lặng yên như lúc nửa đ êm,
Ngự quan cùng chúa ngủ nằm yên,
Bạc vàng châu báu, nào ta lấy,
Giết họ, rồi ta chất củi lên!".
Nghe nói vậy, người kia bước ra khỏi nhà, khi nhìn thấy
đó chính l à vua, gã kinh hãi và ngâm kệ
này:
6. Này Sat-ti, có phát đi ên khùng?
Lời lẽ nào nghe mới nói ch ăng?
Vua chúa giống như vầng lửa cháy,
Vô cùng nguy hiểm, nếu ta gần.
Chim đáp lại qua kệ khác:
7. Ngu dại Pa-ti nói chuyện này
Và ông đi ên, chẳng phải ta
đây,
Mẹ ta trần trụi, sao khinh bỉ
Nghề nghiệp nhà ta sống thuở rày?
Bây giờ vua thức dậy, và khi nghe chúng nói chuyện với nhau bằng tiếng
người, nhận thấy nguy hiểm, ngài ngâm kệ sau để
đánh thức người lái xe:
8. Dậy mau, hiền hữu quản xa này,
Vào cỗ xe, nào thắng ngựa ngay,
Chỗ khác, ta tìm nơi ẩn náu,
Vì ta chẳng thích chú chim đây.
Gã liền vùng dậy, thắng đôi ngựa v ào
xe, rồi ngâm kệ nữa:
9. Xa mã thắng rồi, tâu Ðại vương!
Sẵn sàng đ ã buộc
đủ dây cương,
Ðại vương, xin ngự vào xa giá,
Nơi khác, ta tìm để náu nương.
Vua vừa ngự vào trong xe thì đôi tuấn m ã
thuần chủng đ ã lao vút nhanh như gió.
Khi chim Sattigumba thấy xe vua đi xa rồi, l òng
dao động nôn nao, nó liền ngâm hai vần kệ:
10. Này đi đâu cả đám râu m ày,
Họ vẫn thường lai vãng chốn đây?
Vua nước Pãn-cà vừa chạy mất,
Chúng không thấy nữa, hãy đi ngay!
11. Vua ấy thoát thân có được chăng?
Hãy cầm lao, dáo với tên, cung;
Kìa Pãn-ca chúa vừa bay mất,
Này, chớ cho vua ấy thoát thân!
Con chim nói huyên thiên như thế, đạp cánh x ào
xạc bay lui bay tới đầy vẻ bồn chồn. Trong lúc
ấy, vua vừa th ì giờ đến am ẩn sĩ của các
hiền nhân. V ào lúc này, các vị ấy đ ã
ra đi kiếm củ quả rừng, chỉ c òn một mình
chim Anh vũ Pupphaka ở trong am. Khi chim thấy vua, liền ra chào
đón ng ài và nói chuyện với ngài rất cung
kính tao nhã.
Lúc ấy bậc Ðạo sư ngâm bốn vần kệ:
12. Chim Anh vũ với mỏ tươi hồng
Cung cách ân cần đ ã nói n ăng:
"Vạn tuế Ðại vương! Duyên hạnh ngộ
Ðưa đường ng ài ngự
đến đây chăng!
Vinh quang Ðại đế đầy uy lực,
Chúa thượng cần gì phải giáng lâm?
13. Tin-dook, Pi-yal, các lá cây,
Cùng Ka-su quả ngọt ngào thay,
Dù còn ít ỏi, tâu Hoàng thượng,
Chọn thức tối ưu, đó sẵn b ày.
14. Nước mát từ hang núi thật sâu
Ẩn mình bên dưới ngọn đồi cao,
Oai hùng Ðại đế, tâu ng ài ngự,
Ẩm thức tùy nghi thỏa khát khao.
15. Mọi người đang lượm trái trong rừng,
Các vị nơi này vẫn trú thân,
Xin Chúa đích thân cầm ngự thiện,
Tay thần chẳng có để cung dâng!"
Vua rất đẹp ý khi nghe lời nói tao nh ã
lịch thiệp này, liền đáp qua lời đôi vần kệ:
16. Chưa có chim nào ưu tú hơn,
Trên đời, Anh vũ quả thuần chơn,
Còn chim Anh vũ đằng kia ấy
Ðã nói bao điều thật ác ngôn:
17. "Ðừng để nh à vua chạy thoát thân,
Ðến mau! Trói giết!" nó kêu vang,
Trẫm đi t ìm
đến am tu sĩ
Và thấy nơi này chốn vạn an.
Khi được vua bảo như thế, Hoa Ðiểu
Pupphaka ngâm đôi vần kệ:
18. Ðại đế! Chúng thần chính đệ huynh,
Cùng chung một mẹ đ ã khai sinh,
Cưu mang đôi trẻ tr ên cây nọ,
Song chốn khác nhau đ ã trưởng thành.
19. Vì Sat-ti đến bọn cường gian,
Còn tiểu thần đi đến trí nhân,
Ác nọ, thiện đây, từ chỗ đó
Phát sinh lề thói chẳng cùng đ àng.
Sau đó, Anh vũ giải thích đầy đủ chi tiết
những sự khác nhau bằng cách ngâm vần kệ:
20. Ðâm chém, xích xiềng, kế bất lương,
Những hành vi bịp bợm, tồi tàn,
Bao nhiêu bạo động v à xung kích,
Chính đó l à môn nó sở trường.
21. Còn đây tiết độ, tự điều thân,
Nhân ái, công bằng với chánh chân,
Lữ khách uống ăn c ùng trú ẩn,
Quây quần thần lớn giữa hiền nhân.
Tiếp theo chim lại thuyết Pháp cho vua qua các vần kệ sau:
22. Ðối với ác nhân hoặc thiện nhân
Mà người ta kính trọng tôn sùng,
Cho dù ác độc hay hiền đức,
Cũng khiến kẻ kia phải phục tùng.
23. Khi ta ngưỡng mộ bạn tâm đồng,
Như một người tri kỷ, bạn lòng,
Người ấy sẽ đồng h ành, kế cận
Bên mình ta đến phút sau c ùng.
24. Tình bạn kết giao thấm nhiễm dần,
Chuyện này ngài thấy quả là chân:
Cứ ngâm thuốc độc v ào tên bắn,
Vỏ bọc cũng thành nhiễm độc luôn.
25. Người trí tránh bầu bạn ác nhân,
Vì e ô nhiễm chạm vào thân:
Cá ươn, cứ gói trong chùm cỏ,
Sẽ thấy cỏ kia cũng thối nồng,
Những kẻ kết giao phường trí độn
Chính mình cũng sẽ hóa ngu đần.
26. Lá kia đem gói gỗ trầm hương,
Ngọn là liền thơm ngát dịu dàng,
Cũng vậy, nhiều người thành có trí,
Khi ngồi chầu các bậc hiền nhân.
27. Nhờ ví dụ này bậc trí nhân
Phải am tường lợi lạc riêng phần:
Tránh xa bầu bạn phường gian ác,
Và sánh vai cùng bậc chánh chân,
Thiên giới đợi chờ người chánh hạnh.
Đ ọa vào ngục tối bọn tà gian.
Vua rất hoan hỷ với bài thuyết giảng này. Kế
đó các bậc trí giả từ rừng trở về. Vua đảnh lễ các vị v à nói:
- Cầu mong các Tôn giả tỏ lòng từ bi hạ cố
đến an trú trong ngự vi ên của trẫm.
Và ngài đ ã thuyết phục
được các vị nhận lời mời. Khi hồi cung vua liền
ban bố lệnh thả hết mọi Anh vũ. C òn các bậc trí nhân vẫn
đến yết kiến vua. Ng ài tặng các vị khu
vườn thượng uyển để trú ngụ v à ch ăm
nom các vị rất chu đáo trong thời gian ng ài còn tại thế. Sau khi mạng
chung ngài lên cộng trú với hội chúng chư Thiên, hoàng thái tử của ngài
được quần thần giương chiếc lọng ho àng
gia lên đầu l àm lễ phong vương, và vị
tân vương này cũng ch ăm sóc các hiền nhân v à
cứ thế cha truyền con nối suốt bảy đời vua đều
bố thí cúng dường rất rộng r ãi. Còn bậc Ðại sĩ an trú trong rừng cho
đến khi mạng chung liền đi theo nghiệp của m ình.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo sư bảo:
- Như vậy, này các Tỷ-kheo, các ông thấy xưa kia Devadatta (Ðề-bà- đạt-đa)
cũng thân cận bạn ác như bây giờ.
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy Ðề-bà- đạt-đa l à
Sattigumba, đám t ùy tùng của kẻ ấy là
bọn cướp, Ànanda là vua, hội chúng của đức Phật
l à các trí giả, và Ta là Anh vũ Pupphaka.