Chuyện Tiền Thân · Jātaka

JAT-056 · 484. Chuyện cánh đồng

Jātaka group 56 · Bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu / Giáo sư Trần Phương Lan. Reader này gom dòng nguồn thành đoạn đọc tự nhiên, nhưng vẫn giữ dữ liệu nguồn để đối chiếu.

Mã kinhjat-056
Số MN56
NguồnBudsas.net
Đối chiếubudsas.net

Chương XIV#

Tạp phẩm

484. Chuyện cánh đồng#

lúa (Tiền thân Sàlikedàra)
Mùa lúa chiêm vàng thật đẹp thay..,
Chuyện này bậc Ðạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo phụng
dưỡng mẹ mình.
Trường hợp này sẽ được giải thích trong Tiền
thân S àma (số 540, tập VII). Lúc ấy, bậc Ðạo sư cho gọi Tỷ-kheo này
đến v à hỏi:
- Này Tỷ kheo, Ta nghe nói ông cấp dưỡng người thế tục, có
đúng vậy chăng?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy!
- Họ là ai thế?
- Bạch Thế Tôn, chính song thân của con.
Bậc Ðạo sư bảo:
- Này Tỷ-kheo, tốt lành thay! Các trí nhân ngày xưa, ngay khi còn mang
thân thú vật hạ liệt, dù chỉ sinh làm loài Anh vũ, nhưng khi cha mẹ già yếu,
cũng đ ã đem
cha mẹ v ào tổ và nuôi nấng bằng chính thức
ăn m à chúng ngậm về trong mỏ mình.
Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, vị vua mệnh danh là Ðại vương Magadha (Ma-kiệt- đ à)
trị vì tại Ràjagaha (Vương Xá). Thời ấy, có một làng Bà-la-môn, tên là
Sàlindiya ở phía đông bắc kinh th ành
này. Trong vùng đông bắc n ày là
địa phận thuộc về nước Ma-kiệt-đ à. Có
một Bà-la-môn sống ở Salindiya, tên là Kosiyagotta, chiếm giữ
điền sản cả ng àn mẫu
đất để trồng lúa. Khi vụ m ùa
đến, ông l àm một hàng rào vững chắc,
giao đất cho các gia nhân, có người được năm
mươi mẫu, người khác sáu mươi mẫu, v à cứ vậy, vị
địa chủ chia khoảng năm trăm mẫu điền sản cho
đám gia nhân.
Còn n ăm trăm mẫu kia, ông chủ giao cho một
người l àm thuê lấy công, người ấy dựng túp lều và ở
đó suốt đ êm ngày. Lúc bấy giờ, về phía
đông bắc v ùng
đồng ruộng n ày là một khu rừng cây bông
vải rộng lớn, mọc trên một ngọn đồi bằng phẳng,
trong rừng n ày có một đ àn chim
Anh vũ (két) rất đông.
Lúc bấy giờ, Bồ-tát sinh vào đ àn chim
Anh vũ này, làm vương tử của chúa Anh vũ. Ngài lớn lên tốt
đẹp v à khỏe mạnh, thân lớn bằng cái trục
bánh xe. Bấy giờ, chúa chim đ ã già, bảo
ngài:
- Nay ta không thể nào bay ra đồng được nữa,
con h ãy ch ăm sóc cả đ àn chim này.
Và phong cho ngài chức chim chúa. Từ hôm sau, ngài không chịu
để cha mẹ đi kiếm mồi nữa, m à ngài cùng
cả đ àn bay về vùng Tuyết Sơn, và sau khi
ăn lúa no n ê từ
đám ruộng mọc hoang tại đó, ng ài trở về
mang thức ăn đầy đủ để nuôi cha mẹ.
Một ngày kia, đ àn chim Anh vũ hỏi
ngài một chuyện. Chúng nói:
- Trước đây, v ào lúc này lúa
đ ã chín trong nông trại Ma-kiệt- đ à,
bây giờ lúa có được trồng nữa chăng?
Ngài đáp:
- Cứ đi xem.
Rồi ngài bảo hai chim Anh vũ đi t ìm
hiểu. Ðôi chim Anh vũ bay đi, v à hạ cánh
xuống đồng bằng Ma-kiệt-đ à ở phần
đất được người l àm mướn canh giữ, chúng
ăn lúa rồi mang một cọng lúa về rừng, thả xuống
trước đôi chân của bậc Ðại sĩ và nói:
- Lúa này mọc tại đó.
Hôm sau, ngài bay đến nông trại đó v à
hạ xuống cùng với cả đ àn chim. Người làm
công ấy cứ chạy đằng n ày
đến chạy đằng kia, cố xua đuổi đ àn chim,
song không thể nào đuổi chúng được. Cả đ àn
Anh vũ ăn lúa xong, ra đi với những mỏ trống
không, nhưng chúa Anh vũ thu lượm một số lúa mang về cho cha mẹ.
Hôm sau, bầy Anh vũ lại đến đó ăn lúa lần
nữa, v à hôm sau nữa cũng vậy. Lúc ấy người kia bắt
đầu suy nghĩ: "Nếu những con vật n ày cứ
tiếp tục ăn th êm vài ngày nữa, thì ta
chẳng còn chút gì. Vị Bà-la-môn kia sẽ định giá
cả cho cả đám lúa n ày và sẽ phạt tiền ta. Ta phải
đi báo cho ông ấy biết". Vừa cầm lấy một nắm
lúa v à một món quà kèm theo, gã đi đến
gặp vị B à-la-môn kia, kính chào vị ấy và
đứng sang một b ên. Ông chủ bảo:
- Nào, anh bạn, có được m ùa lúa ch ăng?
- Thưa Tôn giả Bà-la-môn, được m ùa
lắm.
Gã đáp v à ngâm hai vần kệ:
1. Mùa lúa chiêm vàng thật đẹp thay,
Song tôi xin nói để ng ài hay
Ðàn Anh vũ phá tan đồng lúa,
Tôi chẳng làm sao đuổi chúng bay.
2. Có một chim kia đẹp nhất đ àn,
Trước tiên tìm lúa chín mà ăn,
Rồi mang một nắm vào trong mỏ,
Ðể sẵn mai sau những lúc cần.
Khi vị Bà-la-môn nghe chuyện này lòng phát sinh mối tình thương cảm
đối với chim Anh vũ chúa. Ông hỏi:
- Này chú, thế chú có biết cách đặt bẫy
chăng?
- Thưa Tôn ông, tôi có biết.
Ông chủ ấy liền nói với gã qua vần kệ này:
3. Ðặt bẫy lông đuôi ngựa thế n ày,
Chim kia rồi cũng bị sa ngay,
Bắt cho cẩn thận, chim còn sống,
Rồi lấy chim về gặp lão đây.
Người giữ ruộng rất vui mừng vì ông chủ không
định giá tiền về đám lúa kia, v à không
ai nhắc đến nợ nần cả. G ã
đi ngay v à làm một cái bẫy bằng lông
đuôi ngựa. Sau đó g ã tìm hiểu xem lúc
nào đ àn chim sắp
đáp xuống ng ày hôm ấy, rồi gã thấy
được nơi chúa Anh vũ đậu. Hôm sau từ sáng sớm g ã
làm một cái lồng to cỡ bằng cái bình nước và
đặt bẫy rồi ngồi trong lều đợi đ àn chim
đến.
Chim chúa đến giữa đ àn và chim không
tỏ chút gì tham ăn, vừa bước xuống đúng nơi đ ã
đậu ng ày hôm qua, thì chân
đặt ngay v ào chiếc thòng lọng. Khi chim
thấy chân bị siết chặt, liền nghĩ thầm: "Nếu bây giờ ta thốt lên tiếng chim
của con chim mắc bẫy, thì đ àn chim thân
thuộc của ta sẽ kinh hoàng và chạy trốn mà chưa
ăn g ì được. Vậy ta phải chịu đựng cho
đến khi chúng ăn xong".
Cuối cùng, khi chim chúa thấy chúng đ ã
no nê, mới lo sợ cho tính mạng mình mà thốt lên ba lần tiếng kêu của con
chim bị nạn. Cả đ àn chim bay trốn mất.
Lúc ấy, chúa chim Anh vũ bảo:
- Cả đ àn chim bà con quyến thuộc của
ta đây, chẳng con n ào quay lại nhìn ta
nữa! Ta đ ã phạm tội gì vậy?
Và chim cảm hứng ngâm vần kệ quở trách chúng:
4. Bầy chim ăn uống thật no say,
Rồi chúng liền tung cánh vút bay,
Bị bắt mình ta vào chiếc bẫy,
Ta đ à gây tội lỗi gì
đây?
Người giữ ruộng chợt nghe tiếng kêu của chim chúa và âm thanh của cả
đ àn chim kia bay qua không gian. "Cái gì
đó?" G ã nghĩ thầm. Gã
đứng dậy ra khỏi lều v à
đi về phía cái bẫy, g ã thấy chim chúa ở
đó.
"Ðúng là con chim mà ta muốn đặt bẫy đ ã
bị bắt". Gã kêu lên mừng rỡ vô cùng, gã lấy con chim ra khỏi bẫy, buộc
đôi chân v ào nhau và
đi về phía l àng Salindiya, gã giao chim
cho vị Bà-la-môn. Vị này với tình cảm đậm đ à
dành cho bậc Ðại sĩ, ôm ngài trong đôi tay, đặt
ng ài trên đ ùi mình và nói chuyện
với ngài qua hai vần kệ sau:
5. Bụng chim lớn vượt các chim kia:
Trước hết chim ăn bữa thỏa thu ê,
Sau đó ngậm th êm
đầy mỏ nữa,
Trước khi giương cánh rộng bay về.
6. Chim có một kho phải đổ v ào?
Và chim ghét lão đắng cay sao?
Lão đ òi chim phải trình cho
đúng:
Chim để kho kia ở chốn n ào?
Nghe lời này, Anh vũ chúa đáp lời, ngâm vần
kệ thứ tám bằng giọng người ngọt ng ào như mật:
7. Ta chẳng ghét ngài, Ko-si-ya,
Ta không hề có vựa kho nhà,
Khi vào rừng ở, ta hoàn nợ,
Và cũng cho vay mượn nữa mà,
Nơi đó ta dồn kho báu m ãi,
Ðây là câu giải đáp phần ta.
Tiếp theo vị Bà-la-môn hỏi chim chúa:
8. Món nào chim lại muốn cho vay?
Gì đó l à công phải trả
đây?
Cho biết kho nào đang tích trữ,
Rồi ta sẽ thả tự do bay.
Chim Anh vũ chúa vừa đáp lời B à-la-môn
yêu cầu, vừa giải thích ý định m ình qua
bốn vần kệ:
9. Lũ chim non nớt ở nhà ta,
Ðôi cánh còn chưa mọc đủ ra,
Chúng sẽ nuôi ta mai mốt nọ,
Nay ta cho chúng mượn vay mà.
10. Mẹ cha già yếu cả song thân,
Hai vị xa dần hạn tuổi xuân,
Với lúa ta mang trong chiếc mỏ
Ðem vê dâng trả các ân nhân.
11. Còn lắm chim đang sống lẻ đơn,
Bầy chim yếu đuối lại nhiều hơn,
Ta cho bọn chúng vì từ mẫn:
Ðây chỗ hiền nhân gọi trữ tồn.
12. Ðây là phần nợ muốn cho vay,
Ðấy lại là công phải trả đầy,
Nơi nọ là kho đang tích trữ,
Giờ ta phân giải hết lời này.
Vị Bà-la-môn rất hoan hỷ khi nghe bài thuyết giáo hợp
đạo lý n ày của bậc Ðại sĩ, liền ngâm hai
vần kệ:
13. Ðạo lý cuộc đời tối thượng thay!
Làm bao công đức chính chim n ày!
Từ mồm nhiều kẻ trên trần thế
Chẳng có hề nghe luật lệ vầy.
14. Ăn cho vừa ý thật no n ê,
Và mọi chim thân cũng thỏa thuê,
Anh vũ, rồi ta còn gặp lại,
Ta yêu hình bóng bạn quay về.
Cùng với những lời này, ông nhìn bậc Ðại sĩ với lòng trìu mến như thể
nhìn đứa con y êu quý nhất của mình; rồi
thả dây khỏi chân chim, ông xoa lên đôi chân ấy
một loại dầu quý đ ã lọc kỹ cả tr ăm lần,
v à đặt chim l ên một bảo tọa rất
sang trọng, đ ãi chim
ăn món bắp ngọt tr ên một cái
đĩa v àng và uống nước
đường.
Sau đó chúa Anh vũ vừa khuy ên nhủ vị
Bà-la-môn tinh cần, vừa ngâm kệ này:
15. Trong nhà ngài đấy, Ko-si-ya,
Ta uống ăn, t ình bạn thiết tha,
Xin hãy cúng dường cho những vị
Trong đời gánh nặng đ ã qu ăng
xa,
Và xin phụng dưỡng song thân đủ,
Khi các ngài kia đ ã xế tà.
Lúc ấy vị Bà-la-môn vô cùng hân hoan trong lòng, cảm hứng ngân nga nỗi
lạc thú lâng lâng của mình qua vần kệ này:
16. Thần nữ Cát Tường hẳn đến đây
Khi ta nhìn thấy chúa chim này,
Ta nguyền thực hiện nhiều công đức,
Chẳng có bao giờ muốn nghỉ tay,
Vì giọng chim thần nay lảnh lót,
Ta vừa nghe thật tuyệt vời thay!
Kế đó, bậc Ðại sĩ không chịu nhận cả
ngàn mẫu ruộng mà vị Bà-la-môn tặng ngài, nhưng chỉ nhận tám mẫu thôi. Vị ấy
cho xây tường đá l àm ranh giới
để d ành riêng
điền sản cho ng ài, rồi lại
đưa tay l ên
đảnh lễ ng ài rất cung kính và nói:
- Xin Chúa công thượng lộ bình an và mau về khuyên dỗ song thân
đang than khóc.
Xong ông để ng ài bay
đi. Ng ài rất
đẹp ý, ngậm một cọng lúa đem về cho cha mẹ rồi
vừa thả cây lúa trước song thân vừa bảo:
- Nào dậy đi thôi, cha mẹ thân y êu
của con.
Hai vị nghe lời ngài liền vùng dậy, mắt nhòa lệ thảm. Sau
đó, cả đ àn Anh vũ kia lục tục kéo
đến hỏi thăm:
- Tâu Chúa thượng, ngài làm sao thoát thân
được?
Ngài kể cho chúng nghe toàn câu chuyện từ
đầu đến cuối. C òn gia chủ Kosiya nghe lời khuyên nhủ của chim Anh vũ
chúa, đem phân phát nhiều của cải, bố thí cúng
dường các vị chân nhân, các ẩn sĩ khổ hạnh, c ùng các Bà-la-môn nữa.
Vần kệ cuối cùng do bậc Ðạo sư ngâm để giải
thích việc n ày:
17. Ko-si này với đại hân hoan
Thực phẩm làm phong phú ngập tràn
Ðãi uống ăn La-môn, Thánh giá,
Bản thân vị ấy thật hiền lương.
*
Khi bậc Ðạo sư đ ã chấm dứt Pháp thoại
này, Ngài bảo:
- Như vậy, này các Tỷ-kheo, phụng dưỡng mẹ cha mình là một mỹ tục cổ
truyền của các bậc trí nhân và thiện nhân.
Sau đó, Ng ài thuyết giảng các Sự Thật
và nhận diện Tiền thân. Bấy giờ, vào lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo
đó đ ã được
an trú v ào Sơ quả Dự Lưu:
- Vào thời ấy, các đệ tử Phật l à
đ àn Anh vũ, phụ hoàng, mẫu hậu ngày nay
là cha mẹ chim chúa, Channa (Xa-nặc) là người giữ ruộng, Ànanda là vị
Bà-la-môn, và Ta chính là chim chúa Anh vũ kia.
-ooOoo-

485. Chuyện đôi ca#

thần Canda (Tiền thân Canda Kinnara)
Chắc hẳn đời ta sắp sửa t àn..,
Chuyện này bậc Ðạo sư kể trong lúc trú tại Bồ- đề
Lâm gần Kapilapura, về thân mẫu của R àhula (La-hầu-la) khi bà còn ở
trong cung.
Tiền thân này phải được kể bắt đầu từ thời
quá khứ xa xưa của Tiền thân đức Phật. Song câu chuyện về các thời kỳ n ày,
bắt đầu từ tiếng Sư tử hống của Tôn giả Uruvela
Kassapa (Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp) tại Latthivana (Rừng Mía gần Trúc Lâm), đ ã
được kể trước kia trong số 1. Tiền thân
Apannaka. Bắt đầu từ đó, ta sẽ đọc trong số 547. Tiền thân Vessantara phần
tiếp theo chuyện cho đến khi Ng ài trở về Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ).
Ðang lúc Ngài ngồi trong cung phụ vương, suốt buổi
ăn, bậc Ðạo sư kể Tiền thân
Mahàdhammapàla (số 447) và sau khi buổi ăn đ ã
xong, Ngài nói:
- Ta muốn tán thán những đức tính cao quý
của mẹ R àhula (La-hầu-la) ngay ở nội thất bà bằng cách kể Tiền thân
Canda-Kinnara này.
Rồi vừa trao bình bát cho vua cha, Ngài cùng hai vị Ðại
đệ tử bước qua cung thất của mẫu thân
La-hầu-la. Thời ấy, có bốn mươi ng àn cung nữ giỏi ca múa hay
đến bầu bạn với b à, trong
đó có một ng àn chín mươi nàng là con gái
dòng Sát- đế-ly. Khi b à nghe báo tin
đức Như Lai đến viếng, b à ra lệnh tất cả
đám cung nữ n ày
đắp y v àng và hội chúng tuân lệnh.
Bậc Ðạo sư bước vào, ngồi xuống chỗ đ ã
được d ành sẵn cho Ngài. Lúc ấy, cả hội
chúng nữ nhân đều k êu lên một tiếng và
than khóc rền rỉ. Sau khi để mặc d òng lệ
tuôn tràn, bà mẹ của La-hầu-la cố dẹp nỗi sầu riêng,
đứng l ên
đảnh lễ bậc Ðạo sư và ngồi xuống với vẻ vô cùng tôn kính dành cho một
vị vua. Lúc ấy, phụ vương Ngài bắt đầu kể đức
hạnh của b à:
- Bạch Thế Tôn, xin hãy nghe đây. Khi n àng
hay tin Thế Tôn đ ã
đắp y v àng, nàng cũng
đắp y v àng, Thế Tôn bỏ hết các vòng hoa
và đồ trang sức, n àng cũng bỏ hết mọi
thứ và chỉ nằm ngồi dưới đất. Khi Thế Tôn đ ã
xuất gia, nàng liền trở thành cô phụ và từ chối mọi tặng vật mà các vương tử
khác gửi đến n àng. Lòng nàng bao giờ
cũng trung thành với Thế Tôn.
Như thế, phụ vương của Ngài đ ã kể hết
đức hạnh của n àng trong nhiều cách, bậc
Ðạo sư liền bảo:
- Thưa Phụ vương, thật không lạ gì ngày nay trong
đời cuối c ùng của Như Lai, công chúa này
đ ã yêu thương, gìn giữ lòng trung thành
đối Như Lai v à chỉ muốn
được một m ình Như Lai dìu dắt mà thôi.
Quả vậy, ngay cả khi được sinh l àm loài
phi nhân, bà cũng giữ dạ thủy chung với phu quân mình mà thôi.
Rồi theo lời thỉnh cầu của vua cha, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một thời, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, bậc Ðại sĩ
được sinh trong v ùng Tuyết Sơn làm một
vị Tiên Kinnara (Khẩn-na-la: Ca thần) tên là Canda hay Nguyệt Lang, vợ ngài
là Candà hay Nguyệt Nga. Cả hai vị sống cùng nhau trên một hòn núi bạc tên
là Canda-pabbata hay Nguyệt Quang.
Thời ấy, vua Ba-la-nại giao phó việc triều chính cho các quan
đại thần, một m ình vua khoác hai chiếc
hoàng bào, trang bị n ăm thứ vũ khí v à
tiến về vùng Tuyết Sơn nọ.
Trong lúc đang thưởng thức món sơn h ào,
vua chợt nhớ nơi có con suối nhỏ, nên bắt đầu
leo l ên đồi. Thời bấy giờ, đôi ti ên
sống trên đỉnh Nguyệt Sơn thường ở trong núi v ào
mùa mưa, và chỉ xuống núi vào mùa nắng. Vừa lúc ấy, tiên nam Canda cùng vợ
hạ sơn và đi quanh quẩn. Ðôi tiên tầm
nước hoa, ăn phấn hoa, mặc xi êm y bên
trong lẫn bên ngoài đều bằng thứ lụa sa dệt từ
bông hoa, vừa lắc lư trong đám cây cát đằng (dây leo), vừa vui đ ùa ca
hát bằng một giọng ngọt ngào như mật.
Vị tiên nam tiến dần đến con suối n ày
và tại một chỗ dừng chân bên suối, chàng bước xuống cùng vợ rắc hoa khắp mặt
suối vừa vui đ ùa dưới nước. Khi cả hai
vị đ ã mặc lại xiêm y bằng hoa xong, trên
một khoảng cát trắng, sáng láng một tấm bạc, hai vị trải hoa làm sàng tọa và
nằm xuống. Vừa lượm được một khúc cây trúc, vị
ti ên nam bắt đầu thổi sáo, thỉnh thoảng
ca hát ngọt ng ào như mật rót vào tai, trong lúc tiên nữ uốn lượn
đôi tay mềm mại, vừa nhảy vừa hát ca gần đó.
Nhà vua nghe tiếng hát, liền đi rón rén để
đừng ai nghe lọt bước chân, vừa đến gần ngắm nghía đôi ti ên từ một
nơi nấp kín đáo. Vua bỗng nhi ên sinh ra
si tình tiên nữ và nghĩ thầm: "Ta muốn bắn chàng kia và sống ở
đây với vợ ch àng". Sau
đó vua liền nhắm bắn trọng thương vị ti ên
nam Canda. Chàng đau đớn thốt l ên bốn
vần kệ:
1. Chắc hẳn đời ta sắp sửa t àn,
Máu ta đang chảy xiết, tuôn tr àn,
Ta gần mất hết nguồn sinh lực,
Hơi thở đang thoi thóp, hỡi n àng!
2. Ta đang ch ìm ngập với
đau thương,
Lòng dạ ta đang đốt cháy bừng,
Song bởi chính nàng sầu, Nguyệt hỡi,
Mà tim ta cảm xúc khôn lường.
3. Như cỏ cây, ta cứ lụi tàn,
Héo hon như suối cạn khô dần,
Lòng đầy xúc cảm, Can-d à hỡi,
Vì nỗi buồn đau của chính n àng.
4. Dòng lệ tuôn từ cặp mắt ta,
Như mưa chân núi chảy vào hồ,
Bởi vì lòng dạ đầy thương cảm,
Cho nỗi sầu nàng, hỡi Nguyệt Nga!
Bậc Ðại sĩ than khóc như vậy qua bốn vần kệ trong khi quằn quại trên sàn
tọa bằng hoa, rồi bất tỉnh quay mặt đi. Nh à
vua vẫn đứng ở nơi đ ã nấp. Còn tiên nữ
không biết bậc Ðại sĩ vừa bị thương, ngay khi ngài than khóc như thế, nàng
cũng không hay biết, vì nàng đang say sưa với
niềm hoan lạc của m ình. Nhưng khi thấy ngài quay
đi v à nằm bất
động, n àng bắt
đầu tự hỏi chuyện g ì
đ ã xảy ra với vị phu quân. Vội
đến gần quan sát chồng, n àng thấy máu
đang chảy ra từ miệng vết thương, n ên
không thể nào chịu đựng nổi cơn đau đớn khủng
khiếp trước t ình cảnh phu quân yêu quý của mình, nàng kêu gào thất
thanh.
"Vị tiên nam ắt hẳn đ ã chết", vua
thầm nghĩ và bước ra lộ diện. Khi tiên nữ Candà thấy vua, nàng nghĩ thầm:
"Ðây hẳn là kẻ cướp đ ã giết chồng yêu
quý của ta", và nàng run rẩy chạy trốn. Khi đ ã
đứng tr ên
đỉnh đồi, n àng kết tội vua quyết liệt qua n ăm
vần kệ:
5. Ôi khổ thân ta, chúa bạo tàn!
Nhà ngươi đ ã bắn trọng thương chàng,
Nay chàng nằm đó, tr ên
đất lạnh,
Dưới một gốc cây, giữa núi ngàn.
6. Vương tử! Sầu đau xét ruột n ày,
Ta mong thái hậu phải đền thay!
Mối sầu đang bóp tim tan nát,
Khi thấy chàng yêu đ ã chết
đây.
7. Vương tử! Sầu đau xét ruột n ày,
Ta mong vương hậu phải đền thay!
Mối sầu đang bóp tim tan nát,
Khi thấy chàng yêu đ ã chết
đây.
8. Mong thái hậu nay khóc phụ hoàng,
Và sau lại phải khóc hoàng nam,
Kẻ vì tham dục đang l àm ác
Cho chính chồng ta thật uổng oan.
9. Ước mong vương hậu phải chờ trông
Tình cảnh mất con lẫn mất chồng,
Là kẻ vì tham, làm việc ác
Cho chàng vô tội, chính phu quân.
Sau khi nàng kêu gào than khóc như vậy qua n ăm
vần kệ tr ên, nhà vua vừa đứng tr ên
đỉnh núi vừa cất tiếng an ủi n àng qua
một vần kệ khác.
10. Thôi đừng than khóc, chớ sầu thương,
Ta chắc rừng đ êm quáng mắt nàng:
Cung điện vua ban n àng diễm phúc,
Nàng làm hoàng hậu của quân vương!
- Ngươi vừa nói gì thế?
Tiên nữ Candà thét lên khi nghe lời này, và nàng cất giọng sư tử hống
hùng hồn đáp lời:
11. Không, ta đ ành kết liễu cuộc
đời!
Ta chẳng bao giờ muốn lấy ngươi,
Ngươi giết chồng ta nào có tội,
Tất cả vì tham ái ta thôi!
Khi nghe lời này, lòng say mê của vua đối
với n àng đều tan hết, sau đó, vua liền
ngâm một vần kệ khác nữa:
12. Sống cho thỏa nguyện, hỡi tiên nương,
Thôi hãy quay về đỉnh Tuyết Sơn,
Ta biết có nhiều loài thú vật
Ăn to àn cỏ hoa, mến rừng hoang.
Cùng với những lời này, vua bình thản bỏ đi.
Ngay khi Cand à biết vua đi rồi, n àng
bước đến ôm lấy bậc Ðại sĩ
đem tận đỉnh đồi v à
đặt ng ài nằm trên một chỗ
đất bằng phẳng tại đó; vừa k ê
đầu ng ài lên lòng nàng, nàng vừa than
thở qua mười hai vần kệ sau:
13. Ðây giữa vùng đồi núi, đỉnh cao,
Trong nhiều thung lũng, dưới hang sâu,
Thiếp làm gì nữa, chàng tiên hỡi,
Vì bóng chàng nay thiếp thấy đâu?
14. Thú rừng lang bạt khắp nơi nơi,
Lá trải trên nhiều chốn đẹp tươi,
Thiếp phải làm gì, chàng Nguyệt hỡi,
Vì nay chàng vắng bóng trên đời?
15. Dã thú tung hoành, hoa ngát hương
Lan tràn bao chốn đẹp hoang đường,
Thiếp làm gì nữa, chàng tiên hỡi,
Vì chẳng còn đâu thấy bóng chàng?
16. Trong veo, nhiều suối chảy ven đồi,
Hoa dại muôn ngàn, phủ khắp nơi,
Thiếp phải làm gì, chàng Nguyệt hỡi,
Vì nay chàng bỏ thiếp đơn côi?
17. Xanh thẳm là đối núi Tuyết San,
Khi nhìn, đồi núi đẹp vô v àn,
Thiếp làm gì nữa, chàng tiên hỡi,
Vì chẳng còn đâu thấy bóng ch àng?
18. Bao đỉnh Tuyết Sơn nhuộm ánh v àng,
Nhìn xem đồi núi đẹp huy ho àng,
Thiếp làm gì nữa, chàng tiên hỡi,
Vì thiếp còn đâu thấy bóng ch àng?
19. Ðồi núi Tuyết Sơn đỏ rực l ên,
Núi đồi tuyệt diệu lúc nh ìn xem!
Thiếp làm gì nữa, chàng tiên hỡi,
Vì thiếp còn đâu thấy bóng ti ên?
20. Tuyết Sơn đỉnh nhọn vút trời cao,
Ðồi núi nhìn xem đẹp biết bao!
Thiếp sẽ làm gì, chàng Nguyệt hỡi,
Vì nay thiếp chẳng thấy chàng đâu?
21. Lấp lánh, Tuyết Sơn đỉnh trắng ngần,
Nhìn xem đồi núi đẹp muôn phần!
Thiếp làm gì nữa, chàng tiên hỡi,
Vì chẳng còn trông thấy Nguyệt quân?
22. Tuyết Sơn lại đổi sắc cầu vồng,
Tuyệt diệu là khi đứng ngắm trông!
Thiếp phải làm gì, chàng Nguyệt hỡi,
Vì không còn được thấy lang quân?
23. Ðồi Hương thân thiết với yêu ma,
Khắp chốn phủ đầy vạn cỏ hoa,
Thiếp phải làm gì, chàng nguyệt hỡi,
Vì đâu c òn thấy bóng Can-da?
24. Thần tiên yêu mến ngọn đồi Hương,
Cây cỏ bao quanh khắp nẻo đường,
Thiếp sẽ làm gì, chàng Nguyệt hỡi,
Vì đâu c òn thấy bóng chàng thương?
Nàng cứ than thở mãi như vậy, rồi khi cầm tay bậc Ðại Sĩ
đ ặt lên ngực nàng, nàng thấy tay ngài
còn ấm. Nàng nghĩ thầm: "Can-da còn sống đây,
ta quyết khi êu khích các thần linh cho
đến khi ch àng được sống lại!" Rồi n àng
lớn tiếng quở trách các thần:
- Chẳng có vị thần nào cai trị cõi trần hay sao? Các ngài
đi ngao du ở đâu cả rồi? Chắc hẳn các ng ài
chết hết rồi nên chẳng còn ai cứu mạng chồng yêu quý của ta
đây!".
Vì uy lực nỗi khổ đau thống thiết của n àng,
chiếc ngai của Sakka (Ðế Thích) Thiên chủ nóng rực lên. Khi xét kỹ, ngài
thấy rõ nguyên nhân, liền giả dạng một vị Bà-la-môn
đến gần n àng, cầm bình nước thần dược
rảy lên mình bậc Ðại Sĩ. Trong chốc lát, thuốc
độc mất công hiệu, sắc mặt ng ài trở lại tươi tỉnh, ngài cũng không
còn biết gì đến chỗ bị thương nữa. Bậc
Ðại Sĩ đứng dậy ho àn toàn hồi phục.
Khi Candà thấy vị phu quân muôn vàn yêu quí của mình
đ ã hoàn toàn bình an, nàng hân hoan quì
xuống chân của Ðế Thích Thiên chủ và tán thán ngài qua vần kệ:
25. La-môn, Thánh giả đáng tôn vinh!
Cho phận thiếp đây kém phước lành
Ðược thấy phu quân đầy ái kính,
Rảy lên chàng thánh dược hồi sinh!
Sau đó, Ðế Thích Thiên chủ khuyên
nhủ:
- Từ rày về sau, hai vị đừng xuống khỏi đỉnh
Nguyệt Sơn ra giữa đường đi của lo ài người nữa, mà cứ ở chốn
đây thôi.
Ngài lặp lại câu này hai lần rồi trở về cõi của ngài. Còn Candà hỏi chồng
nàng:
- Này phu quân, sao ta lại ở chốn đầy nguy
hiểm n ày? Ta hãy mau về đỉnh Nguyệt Sơn.
Rồi nàng ngâm vần kệ cuối cùng:
26. Ta hãy lui về đỉnh Nguyệt San,
Nơi khe suối diễm lệ tuôn tràn,
Suối khe phủ ngập đầy hoa lá,
Mãi mãi chốn kia, gió nhẹ nhàng
Thầm thì len qua ngàn cổ thụ,
Mải mê trò chuyện, phút bình an.
*
Khi bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo:
- Không phải chỉ bây giờ, mà ngày xưa cũng thế, Công chúa luôn luôn tận
tụy và giữ lòng trung thành với Ta.
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy, Anuruddha (A-na-luật- đ à)
là vua, mẹ của La-hầu-la (Ràhulamàtà) là tiên nữ Candà và Ta chính là vị
tiên nam.
-ooOoo-

486. Chuyện chúa chim ưng (Tiền thân Mahà-Ukkusa)#

Dân chúng đang nhen lửa đảo n ày...
Chuyện này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên, về Mitta-gandhaka,
một cư sĩ.
Tương truyền, người này là con cháu một dòng họ
đ ã suy tàn ở Sàvatti (Xá-vệ), phải nhờ
một người bạn đi cầu hôn một thiếu nữ sang
trọng. Nh à kia hỏi:
- Thế cậu ấy có bạn bè thân thích nào để có
thể giải quyết công việc cần lo liệu chăng?
Nhà trai đáp:
- Không, chẳng có ai cả.
Bên kia bảo:
- Thế thì trước tiên phải kiếm bạn đ ã.
Người ấy nghe lời khuyên này đi bầu bạn với
bốn người giữ cổng th ành. Sau đó ch àng
dần dần kết bạn với những người giữ thành, những nhà thiên v ăn,
nhiều người quí tộc trong triều; ngay cả vị tướng l ãnh và phó vương.
Nhờ giao thiệp với đám người n ày, chàng
trở thành bạn thân thiết của vua, rồi sau đó l à
đạo hữu của tám mươi vị Trưởng l ão, và
nhờ Trưởng lão Ànanda, chàng đến yết kiến chính
đức Như Lai. Lúc ấy bậc Ðạo Sư an trú cả gia
đ ình chàng vào Tam quy và Ngũ giới, vua
lại phong cho một chức vụ cao và chàng được
biệt danh "Mitta-gandhaka" hay "Người kết giao nhiều bằng hữu".
Vua còn ban cho chàng một dinh cơ lớn rồi ra lệnh cử hành hôn lễ cho
chàng, nên tất cả mọi người từ vua chúa trở xuống
đều mang tặng vật đến nh à. Lúc ấy, vợ
chàng nhận được một tặng vật của vua ban, rồi
tặng vật của vị Ðại tướng quân, tặng vật của vị Phó vương, cứ thế dân
chúng toàn thành đều đến nh à nàng. Vào
ngày thứ bảy, đôi tân hôn ấy tổ chức đại lễ để
mời đấng Thập Lực, nhiều phẩm vật cúng dường cao sang được đem dâng đức Phật
v à T ăng chúng l ên
đến năm trăm vị Tỷ-kheo. Cuối buổi lễ, đôi tân
hôn nhận lời t ùy hỷ công đức từ đức Phật
v à được an trú v ào Sơ quả Dự Lưu.
Trong Chánh pháp đường, hội chúng nói đến
chuyện n ày:
- Này các Hiền giả, cư sĩ Mitta-gandhaka theo lời vợ khuyên nhủ, và nhờ
nàng, đ ã trở thành bạn của mọi người,
được vinh quang tột bực từ vua ban, v à
sau khi thành thân hữu của bậc Ðạo Sư, đôi vợ
chồng đ ã được an trú v ào Sơ quả
Dự Lưu.
Bậc Ðạo Sư đi v ào và hỏi T ăng
chúng đang b àn luận gì. Các vị thưa với Ngài. Ngài bảo:
- Ðây không phải là lần đầu ti ên, này
các Tỷ-kheo, người này nhận được vinh quang nhờ
nữ nhân kia. Ng ày xưa, khi còn là súc sinh, nhờ lời khuyên của nàng,
nên vị ấy đ ã kết bạn rất nhiều và thoát
khỏi sự lo âu về tính mạng bầy con trẻ.
Nói vậy xong. Ngài kể một câu chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, một số người ở vùng
biên địa thường cư trú tại nơi n ào họ có
thể tìm kiếm thực phẩm nhiều nhất, như sống trong rừng và bắn giết những
loài thú vật đông đúc tại đó đ ể lấy thịt
cho họ và gia đ ình họ. Không xa làng của
họ là một cái hồ rộng, về phía nam bờ hồ đó có
một chim Ưng trống, phía tây l à một chim Ưng mái; phía bắc là một Sư
Tử, chúa của mọi loài dã thú, phía đông l à
một chim Ưng biển (Ðại bàng), chúa loài chim, và ở giữa là một con Rùa sống
trên một hòn đảo nhỏ.
Chim Ưng trống đến hỏi chim Ưng mái l àm
vợ. Chim mái bảo:
- Chàng có bạn bè nào không?
- Thưa cô nương, không. Chim trống đáp.
- Ta cần phải có vài chim bạn bảo vệ ta chống lại mọi hiểm nguy hay
chuyện rắc rối có thể xảy ra, vậy chàng phải đi
kiếm v ài chim bạn.
- Ta phải làm bạn với ai đây?
- Ô kìa, với Ðại bàng chúa sống trên bờ phía
đông chứ c òn ai nữa, rồi với Sư Tử ở phía bắc và Rùa ở giữa hồ này.
Chàng theo lời khuyên của nàng và làm như vậy. Sau
đó đôi chim sống với nhau trong một cái tổ do
chúng xây lấy; cũng cần nói th êm rằng trên một
đảo nhỏ trong hồ n ày có một cây Kadampa
mọc, bốn phía là nước bao quanh. Sau đó chúng
sinh được hai chim trống.
Một ngày kia, khi lông cánh đôi chim non c òn
non nớt, có vài người trai làng đi săn mồi khắp
rừng suốt ng ày mà chẳng kiếm được g ì
cả. Vì không muốn trở về làng tay không, họ đi
xuống hồ bắt r ùa cá, họ lên đảo, nằm
dưới bóng cây Kadamba v à đang lúc bị
ruồi, muỗi, bọ chích đốt thật khổ sở, họ nhóm lửa l ên
đuổi muỗi m òng bằng cách chà sát củi khô
vào nhau, và hun khói. Khói đ ùn lên làm
khó chịu bầy chim, khiến đôi chim non k êu
lên chim chiếp.
- Kìa có tiếng chim! Ðám dân làng bảo nhau.
- Nào đốt lửa nhanh l ên! Ta không thể
nằm nhịn đói ở đây; m à trước khi nằm
ngủ, ta phải ăn một bữa thịt chim rừng chứ!
Họ nhóm lửa làm cho ngọn lửa cao dần. Song chim mẹ nghe tiếng
động ấy, nghĩ thầm: "Những người n ày
muốn ăn con ta. Ta phải kiếm bạn để cứu nh à
ta khỏi hiểm họa này. Ta muốn bảo chim trống đi
đến chúa chim Ưng kia". Rồi chim mái bảo:
- Này chàng, hãy đi báo cho chim Ưng chúa
biết mối nguy hiểm đang đe dọa các con ta.
Và nó ngâm vần kệ này:
1. Dân chúng đang nhen lửa đảo n ày,
Ðể ăn bầy trẻ chốc liền đây,
Hỡi chàng! Mau bảo cùng bè bạn
Nguy hiểm con ta cấp báo ngay.
Chim trống liền bay hết tốc lực đến chỗ kia
v à kêu lên để báo hiệu cho nó đến. Khi
được phép, nó đến gần Ðại bàng chúa, và kính chào. Chim Ưng chúa bảo:
- Tại sao bạn đến?
Chim trống liền ngâm vần kệ thứ hai:
2. Chim chúa là ngài, hỡi chúa công!
Nay ta tìm chốn chúa an thân,
Dân làng s ăn muốn bắt bầy trẻ,
Xin chúa ban cho bạn nỗi mừng!
- Ðừng sợ - Chim Ðại bàng bảo chim Ưng trống.
Vừa an ủi, nó vừa ngâm vần kệ thứ ba:
3. Ðúng lúc hay không, bậc trí nhân
Kết giao cùng bảo vệ thân bằng,
Vì chim Ưng hỡi, ta hành động,
Bạn thiện giúp nhau những lúc cần.
Sau đó, chim Đ ại bàng chúa hỏi tiếp:
- Này bạn, thế dân làng đ ã trèo lên
cây chưa?
- Họ chưa trèo lên, họ chỉ mới chất củi lên
để đốt lửa.
- Vậy bạn nên trở về mau và an ủi hiền thê của bạn rồi nói ta
đến ngay.
Chim Ưng làm theo lời. Chim Đ ại bàng
chúa cũng đi, v à từ một nơi gần cây
Kadamba, nhìn đám người ấy leo l ên, và
đậu tr ên một ngọn cây. Ngay khi một
người trèo lên đến gần tổ chim, chim Ðại
bàng chúa liền nhào xuống hồ, dùng đôi cánh v à
mỏ rảy nước lên đám lửa đang cháy khiến chúng
tắt hết. Ðám người ấy trèo xuống, nhóm ngọn lửa khác
để nấu bầy chim, rồi khi chúng tr èo lên,
chim Ðại bàng chúa lại dập ngọn lửa lần nữa. Cứ thế, khi lửa
được nhóm l ên là chim dập tắt
đi, cho đến nửa đ êm. Chim
Đ ại bàng chúa
đ ã kiệt sức: lớp da dưới bụng trầy ra xơ
xác dần, đôi mắt rướm máu. Thấy thế, chim mái
bảo chim trống:
- Này phu quân, Ðại bàng chúa đ ã mệt
lả rồi, hãy đi đến báo cho bạn R ùa,
để chim Đ ại bàng chúa
được nghỉ ngơi.
Khi nghe vậy, chim Ưng trống đến gần chim
Ðại bàng chúa, ngâm kệ bảo bạn:
4. Bạn thiện giúp nhau: ấy việc cần,
Ngài làm vì xót bạn gian nan,
Bình an con trẻ, ngài còn sống,
Cẩn thận, đừng cho thể lực t àn.
Khi nghe lời này, chim Ðại bàng chúa cất cao giọng sư tử hống ngâm vần kệ
thứ n ăm:
5. Khi ta canh giữ ở cây này
Ta chẳng lo rằng nếu chẳng may
Ta mất mạng mình vì chúng bạn,
Thiện nhân hành động vẫn như vầy!
Thế nên, bạn hãy làm vì bạn
Dù chính đời m ình kết liễu ngay.
*
Còn vần kệ thứ sáu này do bậc Ðạo Sư ngâm phát xuất từ Trí tuệ Tối thắng
của Ngài, khi Ngài tán thán công đức của chim Đ ại
bàng chúa:
6. Vương điễu no ãn sinh lượn cõi
không
Ðã làm một việc khổ vô cùng,
Chúa Ưng, trước lúc màn đ êm xuống,
Canh giữ bầy chim nhỏ vạn an.
*
Sau đó, chim Ưng trống nói:
- Xin hiền hữu chúa chim Ðại bàng hãy nghỉ ngơi chốc lát.
Rồi nó bay đi đến con R ùa,
đánh thức R ùa dậy.
- Này bạn, đến có việc g ì vậy? Rùa
hỏi.
- Có mối hiểm nguy như vậy xảy ra với chúng tôi, và chim Ðại bàng chúa
đ ã chịu khổ nhọc hết sức từ canh một,
nay gần kiệt lực, cho nên tôi phải đến gặp bạn.
Cùng với những lời này, nó ngâm vần kệ thứ bảy:
7. Cho dầu những kẻ bị sa chân
Qua lắm việc làm ác, bất nhân,
Cũng có cơ vươn mình tiến được,
Nếu xin nhờ giúp đỡ khi cần.
Các con ta gặp khi nguy khốn,
Ta chẳng bay ngay đến bạn v àng,
Hỡi bạn ngâm mình trong đáy nước,
Giúp nhà tôi, hãy vội lên đ àng!
Khi nghe vậy, Rùa ngâm vần kệ khác:
8. Thiện nhân đối với một thân bằng
Cho cả đồ d ùng lẫn bản thân,
Vì bạn, hỡi Ưng! Ta hoạt động,
Thiện nhân giúp đỡ bạn khi cần.
Chú Rùa con, nằm không xa đó, nghe tiếng cha
nói, liền suy nghĩ: "Ta không muốn cha ta phải nhọc sức, m à ta sẽ
lãnh phần của cha ta". Vì vậy, chú ngâm vần kệ thứ chín:
9. Xin cha an dưỡng, hỡi cha thân,
Việc của cha, con sẽ lãnh phần.
Con phụng sự cha là tốt nhất,
Con đi cứu cả tổ chim bằng.
Rùa cha đáp lời con qua vần kệ:
10. Cứ làm việc thiện, hỡi Rùa con,
Con phải giúp cha, thật chánh chơn,
Song chúng chỉ tha bầy trẻ nhỏ,
Vì cha, người thầy lớn khôn ngoan.
Cùng với những lời này, Rùa bảo chim Ưng bay về và thêm:
- Này bạn ơi, đừng sợ. Nhưng bạn cứ đi trước
rồi ta sẽ theo sau lập tức.
Rùa lặn xuống nước, lượm một ít bùn, đến đảo
dập tắt ngọn lửa v à nằm im. Lúc ấy, đá m
dân làng kêu lên:
- Này, tại sao phải nhọc công về bầy chim Ưng con thế kia? Ta hãy lật con
Rùa đáng ghét n ày lên mà giết nó cũng
vừa đủ cho cả bọn ta m à.
Vì thế, họ hái ít cây leo, bện thành sợi dây, nhưng khi họ
đ ã buộc chặt dây ở chỗ nầy chỗ kia rồi,
và xé cả áo quần để d ùng vào việc này,
họ lại không thể lật con Rùa lên được. Con R ùa
cứ lôi họ đi theo nó rồi nh ào xuống nước
sâu. Bọn người ấy nôn nóng bắt Rùa đến độ cũng
nh ào xuống theo, lội bì bõm, bắn nước lên tung tóe và uống nước
đầy bụng. Họ bảo n hau:
- Này cứ xem đi, chim Ưng chúa cứ l àm
tắt ngọn lửa của ta đến nửa đ êm, nay thì
con Rùa làm ta rớt xuống nước và uống nước nhiều, thật quá khổ sở. Thôi, ta
cố nhen ngọn lửa khác, rồi đến sáng mai sẽ ăn
được bầy chim Ưng con.
Sau đó, họ lại bắt đầu nhóm lửa. Chim Ưng
mái nghe tiếng ồn áo của bọn người n ày, liền bảo:
- Này chàng, sớm muộn gì, bọn người này cũng xé xác các con ta rồi mới
chịu đi. Vậy ch àng hãy
đến báo cho bạn Sư tử biết chuyện.
Lập tức, chàng chim Ưng đến gặp Sư tử, Sư tử
n ày hỏi tại sao chim Ưng đến giờ bất
thường như vậy. Chim Ưng liền kể cho Sư tử nghe mọi việc từ đầu v à
ngâm vần kệ thứ mười một:
11. Oai hùng bậc nhất của muôn loài,
Loài thú vật kia lẫn mọi người,
Chạy đến anh h ùng lúc hoảng sợ:
Chin non gặp nạn, giúp nhà tôi,
Ngài là chúa tể muôn loài đó,
Vì thế nên tôi phải đến nơi.
Nghe nói vậy, Sư tử ngâm vần kệ nữa:
12. Ta giúp chim ngay, hỡi bạn Ưng!
Mau, ta đi giết bọn cừu nhân,
Hiển nhiên, bậc trí nhiều thông hiểu
Cần gắng công che chở bạn thân.
Nói vậy xong, Sư tử bảo chim Ưng ra về, còn dặn thêm:
- Thôi, bây giờ hãy về đi v à an ủi
các con dại.
Rồi Sư tử tiến lên, đập tung tóe nước hồ
trong suốt. Khi bọn dân l àng thấy Sư tử
đến gần, họ sợ chết khiếp cả, liền k êu lên:
- Chim Ðại bàng chúa thổi tắt củi lửa của ta, con Rùa làm ta mất quần áo
đang mặc, song giờ đây ta t àn
đời rồi! Con Sư tử n ày sẽ giết chết
chúng ta lập tức.
Họ liền chạy tứ tán. Khi Sư tử đến gốc cây,
chẳng c òn thấy gì nữa. Sau đó chim Ưng
chúa, chim Ưng trống, con R ùa đều tiến l ên
vây quanh Sư tử. Sư tử bảo cho chúng biết ích lợi của tình bằng hữu và nói:
- Từ rày về sau, hãy cẩn thận đừng để tan vỡ
mối t ình bằng hữu thân ái.
Với lời khuyên này, Sư tử ra đi. Rồi bọn kia
cũng về chốn ở của ri êng mình.
Chim Ưng mái nhìn con tự nghĩ: "Nhờ tình bằng hữu mà các con ta
được trả lại cho ta". V à trong lúc chim
mái vui mừng, nó vừa nói với chim trống, vừa ngâm vần kệ nêu rõ hiệu lực của
tình bằng hữu:
13. Rõ ràng kết bạn hữu đầy nh à,
Gặp bạn hiền: hoan lạc hiện ra,
Tên bắn trên quân bào bất lợi,
Ta mừng, an ổn các con ta.
14. Nhờ công giúp của bạn chân tình,
Chim bạn đến mong góp sức m ình,
Ðối đáp, chim non k êu ríu rít
Làm say lòng mẹ với âm thanh.
15. Người khôn nhờ bạn giúp bàn tay,
Sống với đ àn con hạnh phuc
đầy,
Ta với chồng con cùng đứng vững
Vì thân bằng hữu mến thương lây.
16. Dân cần bảo vệ bởi vua quan,
Những vị tình thân hữu vẹn toàn,
Hạnh phúc chàng mong: uy lực đủ
Là người hưng thịnh, lắm thân bằng.
17. Này Ưng, cần phải kiếm thân bằng
Dù bạn nghèo hèn hoặc yếu non,
Nay hãy xem: nhờ tình thắm thiết
Ta và gia quyến thảy bình an.
18. Chim Ưng tìm được bậc anh h ùng
Ðể đóng vai chim bạn thiết thân,
Ưng hỡi, như đôi ta hạnh phúc,
Chim kia cũng hạnh phúc trong lòng.
Như vậy, chim mái nêu rõ đặc tính của t ình
bằng hữu qua sáu vần kệ. Từ đó đám bạn hữu sống
với nhau suốt đời không l àm đứt đoạn sợi
dây thân ái, rồi lúc mạng chung, chúng đều đi theo nghiệp của m ình.
*
Sau khi chấm dứt Pháp thoại, bậc Ðạo Sư bảo:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu ti ên
người này được hạnh phúc nhờ vợ m ình, mà
trước kia cũng vậy.
Cùng với những lời này, Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy, đôi vợ chồng n ày là
đôi chim Ưng, R àhula (La-hầu-la) là Rùa
con, Moggallàna(Mục-kiền-liên) là Rùa cha, Sàriputta (Xá-lợi-phất) là chim
Ưng chúa và ta chính là Sư tử kia.
-ooOoo-

487. Chuyện nam tử Uddalaka (Tiền thân Uddalaka)#

Hàm r ăng bẩn, áo da d ê, tóc bện...,
Chuyện này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một người gian dối.
Người này, mặc dù đ ã
đặt cuộc đời m ình vào Giáo pháp
đưa đến giải thoát, trong lúc muốn kiếm lợi
dưỡng cần d ùng để sống, đ ã hành
động lừa đảo cả ba mặt. Tăng chúng đều r õ
ra những ác hạnh của người này trong lúc bàn luận tại Chánh pháp
đường:
- Này các Hiền giả, người đó sau khi đ ã
đặt hết cuộc đời m ình vào Chánh pháp của
đức Phật đưa tới giải thoát, lại sống lừa dối
kẻ khác!
Bậc Ðạo Sư bước vào, và muốn biết T ăng chúng
đang b àn luận gì tại đó. Tăng chúng tr ình
với Ngài. Ngài bảo:
- Ðây không phải là lần đầu ti ên, kẻ
ấy trước kia cũng đ ã lừa dối rồi.
Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một thưở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-Tát là một vị Tế
sư rất thông thái. Một ngày kia, ngài vào vườn hoa
để giải trí, chợt thấy một cô gái có sắc đẹp
lẳng lơ, đâm say m ê nàng và đem n àng
về nhà mình chung sống.
Khi thấy mình thọ thai, nàng liền bảo ngài:
- Thưa Ðại quan, thiếp đ ã có thai,
khi sinh con, thiếp muốn đặt t ên cho nó
theo danh tánh của tổ phụ nó.
Song ngài suy nghĩ: "Chẳng bao giờ tên họ của một dòng quý tộc lại
đặt cho đứa con hoang của một nô tỳ". V ì
thế, ngài bảo:
- Này ái nương, cây này tên là Uddala (quế), nàng có thể
đặt t ên con là Uddalaka vì nó thọ thai ở
gốc cây này.
Sau đó, ng ài cho nàng một chiếc nhẫn
có dấu hiệu riêng và bảo:
- Nếu nó là con gái, hãy dùng chiếc nhẫn này mà nuôi dưỡng nó cho lớn
khôn, còn nếu là con trai thì hãy đem đến cho
ta lúc nó trưởng th ành.
Ðến kỳ hạn, nàng sinh hạ một con trai và đặt
t ên là Uddalaka. Khi chàng trai lớn lên, chàng hỏi mẹ:
- Mẹ ơi, cha con là ai thế?
- Là vị Tế sư đấy con ạ.
- Nếu vậy, con sẽ học các kinh thánh.
Thế là khi nhận được chiếc nhẫn từ tay mẹ v à
số học phí dành cho thầy giáo, chàng lên đường
đi đến Takkasil à, và học ở đó với một
giáo sư lừng danh thế giới.
Trong thời gian học tập, chàng thấy một đám
người tu khổ hạnh. Ch àng suy nghĩ: "Ðám người kia chắc chắn phải có
kiến thức vẹn toàn. vậy ta muốn học hỏi ở họ". Vì thế, chàng từ giã thế tục,
và vì chàng ước mong được kiến thức, n ên
làm việc phục dịch các vị này, chỉ yêu cầu các vị ấy dạy lại cho chàng mọi
kiến thức thông thái của họ. Thế rồi các vị ấy dạy cho chàng mọi
điều hiểu biết, song giữa đám năm trăm người ấy
chẳng có ai vượt ch àng về kiến thức cả, chàng là người thông thái
nhất.
Sau đó, đám người ấy tụ tập lại v à
bầu chàng làm thầy. Chàng bảo họ:
- Thưa các Tôn giả, các ngài sống suốt đời ở
trong rừng ăn to àn hoa quả, củ rừng, tại sao các ngài không
đi đến chỗ của người thế tục?
- Thưa Tôn giả, người đời muốn cúng dường
chúng ta, nhưng lại muốn chúng ta trả ơn bằng cách thuyết Pháp, họ hay hỏi
ta nhiều chuyện lắm. V ì sợ điều n ày
nên chúng ta không muốn đến giữa người đời.
Chàng đáp:
- Thưa các Tôn giả, nếu các ngài có ta cùng
đi, th ì cứ để một vị Chuyển luân vương
cật vấn, một m ình ta sẽ giải đáp ổn
thỏa, chớ sợ g ì cả.
Thế là chàng cùng hội chúng đi du h ành
khất thực để sống v à cuối cùng
đến Ba-la-nại, trú ngụ trong vườn ngự uyển. Hôm
sau, c ùng với cả đám ấy ch àng
khất thực ở một làng trước cổng thành. Dân chúng bố thí rất nhiều. Ngày hôm
sau nữa, các nhà tu khổ hạnh đi qua kinh th ành,
dân chúng lại bố thí rất nhiều. Vị khổ hạnh Uddalaka nói lời tùy hỷ công
đức rồi giải đáp các lời chất vấn. Dân chúng
rất hoan hỷ v à lại cúng dường phong phú cho hội chúng mọi thứ cần
dùng.
Toàn kinh thành vang dậy tin đồn:
- Một vị giáo sư thông thái mới đến, một vị
Thánh nhân khổ hạnh.
Và vua nghe được tin đó. Nh à vua hỏi:
- Các vị ấy đang ở đâu?
Dân chúng tâu:
- Trong ngự uyển.
Nhà vua bảo:
- Tốt lắm, hôm nay ta sẽ đi thăm các vị ấy.
Một người đi báo với Uddalaka:
- Ðức vua sẽ đến viếng các Tôn giả hôm nay.
Chàng gọi hội chúng lại và bảo:
- Này các Tôn giả, đức vua sắp đến, h ãy
chiếm cho được ân vua trong một ng ày
cũng đủ cho cả đời người.
- Vậy ta phải làm gì, thưa Sư trưởng?
Chàng đáp:
- Một vài vị phải chịu khổ hình treo người lủng lẳng, vài vị ngồi xổm
dưới dất, vài vị nữa nằm trên giường chông, vài vị khác chịu khổ hạnh với n ăm
ngọn lửa, th êm vài vị ngâm mình xuống nước và vài vị tụng Thánh kinh
ở chỗ này chỗ nọ.
Các vị ấy làm y lời.
Chính chàng cùng độ mười vị hiền giả ngồi tr ên
một chỗ đ ã soạn sẵn có lót gối dựa, bàn
luận với nhau, có một quyển sách đẹp cân xứng
nằm tr ên một cái giá mực sang trọng bên cạnh chàng, và thính chúng
vây quanh.
Lúc ấy, vua và vị Tế sư cùng với đám t ùy
tùng đông đảo bước v ào ngự uyển, và vua
khi thấy tất cả hội chúng ở đây đang chuy ên
chú trong dáng điệu khổ hạnh như vậy, vua rất
hoan hỷ, nghĩ thầm: "Các vị n ày đều giải
thoát khỏi nỗi lo âu về các c õi dữ ở đời
sau rồi". Khi đến gần Uddalaka, vua ân cần đảnh lễ v à ngồi xuống một
bên. Rồi với lòng hân hoan, vua bắt đầu nói
chuyện với vị Tế sư v à ngâm vần kệ đầu:
1. Hàm r ăng bẩn, áo da d ê, tóc bện,
Miệng thì thầm lời thánh đạo b ình an,
Chẳng từ nan nhiều phương tiện hiền nhân,
Chắc đ ã
đạt Chân như v à Giải thoát.
Nghe vậy, vị Tế sư nghĩ:
- Ðức vua hoan hỷ ở một chỗ đáng lẽ không n ên
hoan hỷ, vậy ta không được giữ y ên lặng.
Rồi ngài ngâm vần kệ:
2. Một trí nhân có thể làm ác hạnh,
Một trí nhân có thể chẳng chánh chân,
Ngàn câu Vệ- đ à chẳng tạo an toàn
Khi việc hỏng, hoặc cứu người lâm nạn.
Khi Uddalaka nghe những lời này, liền nghĩ thầm:
"Vua hài lòng về những vị khổ hạnh này, song vị Tế sư lại
đụng ngay v ào mõm con bò khi chạy quá
nhanh, làm rơi đồ dơ v ào dĩa cơm
đ ã dọn sẵn, ta phải nói chuyện với vị ấy
mới được". V ì thế, chàng
đáp lời ng ài qua vần kệ thứ ba:
3. Ngàn câu Vệ- đ à chẳng tạo an toàn
Khi việc hỏng, hoặc cứu người nguy khốn:
Kinh Vệ- đ à hẳn là
đồ vô dụng,
Chánh đạo l à: làm chánh, tự
điều thân.
Vị tế sư nghe vậy, liền ngâm vần kệ thứ tư:
4. Không phải thế, Vệ- đ à không vô
dụng,
Dù tự điều thân l à
đạo chánh chân,
Học Vệ- đ à vẫn mang lại vinh quang,
Song ta đạt tối an nhờ chánh hạnh.
Bấy giờ, Uddalaka suy nghĩ: "Gây gỗ với vị này sẽ không bao giờ ích lợi
đâu. Nếu ta bảo ng ài: ta chính là con
trai của ngài, ngài phải thương yêu ta. Vậy ta phải quyết cho ngài biết ta
là con của ngài". Thế rồi chàng ngâm vần kệ thứ n ăm:
5. Cha mẹ và thân quyến họ hàng
Ðòi ta ch ăm sóc với y êu thương,
Mẹ cha là bản thân con đó,
Con Ud-da-la chính búp non
Từ gốc rễ nhà ngài quý tộc,
Thưa ngài, Tôn giả Bà-la-môn.
- Thế con chính là Uddalaka đấy ư? Ng ài
hỏi. Chàng đáp:
- Thưa, chính phải.
Sau đó, ng ài hỏi:
- Trước kia, ta đ ã cho mẹ con một vật
làm tin, nay nó đâu rồi?
Chàng đáp:
- Thưa Tôn giả Bà-la-môn, chính nó đây!
Rồi chàng trao chiếc nhẫn cho ngài. Ngài nhận ra chiếc nhẫn ấy rồi bảo:
- Con là một Bà-la-môn hẳn nhiên rồi, song có biết phận sự của một
Bà-la-môn ch ăng?
Ngài hỏi về các phận sự này qua vần kệ thứ sáu:
6. Ðiều gì thành tựu một La-môn,
Vị ấy làm sao được thiện to àn?
Hãy nói thế nào người chánh hạnh,
Làm sao đạt hạnh phúc Niết-b àn?
Uddalaka giải thích việc ấy qua vần kệ thứ bảy:
7. Bỏ đời, s ùng bái lửa thiêng
hồng,
Vung gậy tế đ àn, rảy nước trong,
Phận sự làm xong, người tán tụng,
La-môn như vậy được an l òng.
Vị tế sư lắng nghe chàng kể các phận sự của một vị Bà-la-môn như vậy,
xong ngài ngâm vần kệ thứ tám để ph ê
bình chuyện ấy như sau:
8. Rảy nước không làm sạch Ðạo nhân,
Thiện toàn chẳng phải việc đăng đ àn,
Cũng không an ổn và thân ái,
Chẳng đạt tối cao, lạc Niết-b àn.
Nghe thế, Uddalaka lại hỏi:
- Nếu việc này không làm thành một Bà-la-môn, thế thì việc gì?
Và chàng ngâm vần kệ thứ chín:
9. Ðiều gì thành tựu hạnh La-môn
Vị ấy làm sao được thiện to àn,
Xin bảo thế nào người chánh hạnh,
Làm sao thành tựu lạc Niết-bàn?
Vị Tế sư đáp lời qua vần kệ khác:
10. Người không của cải, chẳng nương đồng,
Không có họ hàng, chẳng ước mong,
Chẳng thiết cuộc đời, không ái dục,
Hoặc không ác hạnh, thảy đều không.
Ðạo nhân vậy đạt tâm thanh tịnh,
Giữ phận chánh chân, được tán đồng.
Sau đó, Uddalaka lại ngâm kệ nữa:
11. Công, nông, giáo sĩ, đến vua quan,
Nô lệ, Chiên- đ à, các tiện dân,
Tất cả những người đầy trắc ẩn,
Ðều thành tựu cực lạc Niết-bàn.
Vậy ai cao trọng, ai hèn kém
Giữa các Thánh hiền tối thượng ch ăng?
Khi đó, vị B à-la-môn kia ngâm vần kệ
nêu rõ ràng không có ai cao, ai thấp khi đ ã
đạt Thánh quả:
12. Công, nông, giáo sĩ, đến vua quan,
Nô lệ, Chiên- đ à, các tiện dân,
Tất cả những người đầy trắc ẩn,
Ðều thành tựu cực lạc Niết-bàn,
Chẳng ai cao trọng, ai hèn kém
Giữa các bậc hiền Thánh đại nhân.
Song Uddalaka phê bình điểm n ày bằng
cách ngâm vần kệ:
13. Công, nông, giáo sĩ, đến vua quan,
Nô lệ, Chiên- đ à, các tiện dân,
Tất cả những người này đức hạnh
Ðều thành tựu cực lạc Niết-bàn,
Chẳng ai cao trọng, ai hèn kém,
Giữa các bậc hiền Thánh đại nhân;
Giáo sĩ, vậy ngài vô tích sự,
Hư danh địa vị, hẳn rồi chăng?
Ðến đây, vị Tế sư ngâm đôi vần kệ nữa, c ùng
với một ví dụ:
14. Với tấm vải thô nhuộm đủ m àu,
Ngôi đ ình
được dựng, mái đ ình cao,
Ðỉnh tròn, rực rỡ đầy m àu sắc,
Bóng đổ một m àu vẫn giống nhau.
15. Vậy khi nhiều kẻ đạt thanh tâm
Tại chính nơi đây, giữa c õi trần,
Người thiện thấy toàn là bậc Thánh,
Chẳng hề hỏi huyết thống nguồn c ăn.
Bấy giờ, Uddalaka không còn nói gì được nữa,
n ên chàng ngồi yên lặng. Lúc ấy, vị Tế sư Bà-la-môn nói với vua:
- Tâu Ðại vương, tất cả bọn này đều l à
phường dối trá, toàn cõi Diêm-phù sẽ bị suy tàn vì nạn lừa
đảo kia. Xin Ðại vương hãy khuyến dụ
Uddalaka từ bỏ việc hành trì khổ hạnh của nó và làm Tế sư theo gót hạ thần,
lại cho phép đám người n ày khỏi phải tu
tập khổ hạnh, rồi cho chúng đủ gươm, giáo, mộc
để l àm tùy tùng của Ðại vương.
Vua chấp nhận, làm theo lời ngài dạy và tất cả bọn ấy
đều đến phụng sự vua.
*
Khi bậc Ðạo Sư đ ã chấm dứt Pháp
thoại, Ngài bảo:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu ti ên,
mà kẻ này trước kia cũng đ ã làm một tên
lừa đảo.
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy, Tỷ-kheo gian dối này là Uddalaka, Ànanda là vua và Ta
chính là vị Tế sư.
-ooOoo-

488. Chuyện củ sen (Tiền thân Bhisa)#

Mong nhiều trâu ngựa, lắm kim ngân...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo thối
thất.
Trường hợp này cũng sẽ xuất hiện trong số 531, Tiền thân Kusa. Ở
đây, một lần nữa, bậc Ðạo Sư hỏi:
- Này Tỷ-kheo, có đúng l à ông
đ ã thối thất ch ăng?
- Bạch Thế Tôn, quả đúng vậy.
- Vì cớ gì?
- Bạch Thế Tôn, vì ác dục.
- Tại sao, này Tỷ-kheo, ông lại thối thất, sau khi
đ ã hành trì
đạo lý n ày trước khi đưa đến Giải thoát,
v à tất cả chỉ vì ác dục? Ngày xưa, trước khi
đức Phật ra đời, những bậc trí nhân khởi đầu
cuộc sống tu h ành, ngay cả những vị ngoại
đạo cũng đ ã phát hạnh nguyện và
đoạn trừ ngay các tưởng khởi l ên có liên
hệ các dục hoặc sức cám dỗ của dục.
Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát
được sinh l àm con trai của một
đại danh gia B à-la-môn có tài sản
đến tám trăm triệu đồng tiền. Gia đ ình
đặt t ên ngài là Mahà-Kancana hay Ðại
chúa tể Hoàng kim. Vào lúc ngài mới biết đi
chập chững, một bé trai khác lại sinh ra đời trong nh à vị Bà-la-môn
ấy và được đặt t ên là Upa-kancana hay
Tiểu chúa tể Hoàng kim. Cứ như vậy, bảy nam nhi liên tiếp ra
đời v à cuối cùng là một quý nữ,
được đặt t ên là Kancana-devi hay Công
nương Hoàng kim.
Khi Mahà-Kancana lớn lên, ngài đi học tập
tại Takkasil à đầy đủ mọi môn học thuật
rồi ng ài trở về nhà. Lúc ấy, song thân ngài muốn lập cho ngài một gia
thất riêng. Hai vị bảo:
- Cha mẹ sẽ tìm cho con một thiếu nữ nhà lành
để kết bạn xứng đáng với con, rồi con sẽ y ên
bề gia thất.
Song ngài đáp:
- Thưa cha mẹ, con không muốn lập gia đ ình.
Ðối với con, ba cõi sinh hữu đều như lửa đốt,
bị trói buộc xiềng xích như ngục t ù,
đáng gh ê tởm tựa đống phân. Con chẳng hề
có ý nghĩ g ì về việc đó, d ù chỉ
là trong giấc mộng. Cha mẹ có các con trai kia, xin bảo chúng làm chủ gia
đ ình và để
cho con y ên thân.
Dù hai vị van nài ngài nhiều lần, nhờ bạn hữu của ngài
đến năn nỉ ng ài tận miệng, ngài cũng
chẳng muốn gì về việc ấy cả. Sau đó, bạn b è
hỏi ngài:
- Này hiền hữu, thế bạn muốn gì mà bạn chẳng thiết tha
đến việc tận hưởng t ình yêu và lạc thú?
Ngài bảo họ ngài đ ã từ bỏ thế tục.
Khi song thân hiểu việc này, hai vị đề nghị
việc kia với các con trai thứ, nhưng chẳng ai chịu nghe cả, ngay cả nương tử
Kancana cũng không. Dần dà cha mẹ qua
đời. Trí giả Mah à-kancana làm lễ an táng song thân xong, với kho tàng
tám tr ăm triệu ấy, ng ài phân phát hào
phóng cho tất cả đám h ành khất và du sĩ,
rồi ngài đem sáu em trai c ùng em gái,
một gia nhân và một nữ tỳ cùng một người bạn
đường, ng ài làm đại sự xuất gia v à
sống ẩn dật trong dãy Tuyết Sơn.
Tại đó, tr ên một vùng
đất vừa ý gần một hồ sen, các vị xây một khu am
thất ẩn cư tu h ành và ăn to àn
trái cây, củ rừng. Khi họ vào rừng, chỉ đi từng
người một, nếu có vị n ào thấy trái cây hay lá rau gì liền gọi các vị
kia và tại đó, vừa bảo nhau những điều g ì
nghe thấy được, các vị vừa thu lượm các thức ăn
sẵn có, chẳng khác g ì cái chợ nhỏ trong làng. Song bậc Sư trưởng, vị
khổ hạnh Mahà- kancana lại nghĩ thầm:"Ta đ ã
bỏ qua cả gia sản tám tr ăm triệu v à sống
đời tu h ành, rồi
để ham đi quanh quẩn kiếm trái rừng, thật chẳng
hợp lý. Từ nay, ta muốn một m ình ta đi
lượm trái rừng thôi". Sau đó, trở về nh à, buổi tối, ngài tập họp mọi
người lại và nói cho họ biết ý định của ng ài:
- Các em cứ ở đây, v à tu tập
đời ẩn sĩ, để ta đi hái quả cho các em.
Nghe vậy, Upa-kancana và các người kia ngắt lời:
- Chúng tiểu đệ đ ã theo hiền huynh
đi tu h ành, vậy chính hiền huynh phải ở
nhà và tu tập đời ẩn sĩ, v à hiền muội
cũng ở nhà nữa, cùng với nữ tỳ. Tám người chúng em thay phiên nhau
đi hái quả, c òn ba người ở nhà khỏi làm
việc ấy.
Ngài đồng ý.
Từ đó, tám người n ày thay phiên nhau
đem trái cây về từng người một: Các người kia
nhận được phần chia trong số kiếm được v à mang
đi về am thất của m ình, rồi ở trong lều
tranh riêng của mỗi người. Như vậy, các vị ấy không gặp gỡ nhau nếu không có
duyên cớ. Người nào đến phi ên mang thức
ăn v ào để ở
một khu đất có r ào thì đặt tr ên
một phiến đá phẳng, chia ra mười một phần rồi
đánh cồng l ên, rồi lấy phần mình đi về
nh à mình. Khi nghe tiếng cồng, các vị kia
đến, không chen lấn nhau m à theo
đúng lễ nghi trật tự, nhận phần m ình
đ ã được
chia từ các thức kiếm được, rồi trở về nh à mình mới ngồi
ăn, v à sau
đ ó lại tiếp tục hành thiền, tu tập khổ hạnh.
Sau một thời gian, họ lượm các củ sen để ăn
v à sống tại đó, tự h ành xác với
lửa nóng như thiêu như đốt v à các loại
cực hình khác, nên các giác quan đều t ê
liệt cả, trong khi họ cố hết sức để nhập định.
Vì công hạnh sáng chói của họ, chiếc ngai của Sakka (Ðế Thích) Thiên chủ
rung động l ên. Ngài bảo:
- Các vị này chỉ thoát khỏi tham dục thôi, hay họ là các vị hiền nhân
rồi? Họ có phải hiền nhân ch ăng? Nay ta muốn t ìm
hiểu xem sao.
Thế là nhờ thần lực của mình, suốt ba ngày, Thiên chủ làm cho phần thực
phẩm của bậc Ðạo Sư biến mất.
Ngày đầu ti ên, khi không thấy phần
mình, ngài nghĩ: "Có lẽ phần của ta đ ã
bị quên mất". Vào ngày thứ hai: "Chắc hẳn ta có lỗi lầm nào. Chính là vì
muốn nhắc nhở ta về điều n ày một cách
cung kính mà người đó không chia phần cho ta".
V ào ngày thứ ba: "Tại sao họ lại không chia phần cho ta như thế
được? Nếu ta có g ì lỗi lầm thì ta phải
hòa giải phần mình trước".
Vì thế, buổi tối, ngài đánh cồng l ên.
Tất cả đều đến v à hỏi ai
đ ã đánh
cồng.
- Này các hiền đệ, chính ta đánh.
- Thưa Tôn giả, tại sao vậy?
- Này các hiền đệ, trong ba ng ày qua,
ai đem thức ăn v ào?
Một người đứng dậy nói:
- Chính tiểu đệ.
Rồi vị ấy vẫn đứng y ên rất cung kính.
- Khi hiền đệ chia phần, có để d ành
phần cho ta ch ăng?
- Có chứ, thưa Tôn sư, đó l à phần của
vị Sư trưởng.
- Còn ai mang về thực phẩm hôm qua?
Một người khác đứng l ên và nói:
- Chính tiểu đệ.
Rồi vị ấy kính cẩn đứng chờ.
- Thế hiền đệ có nhớ phần ta chăng?
- Tiểu đệ đ ã
để phần Sư trưởng cho hiền huynh đấy.
- Thế hôm nay ai đem thực phẩm về?
Một người nữa đứng dậy v à kính cẩn
đứng chờ.
- Hiền đệ có nhớ chia phần cho ta không?
- Tiểu đệ đ ã
để phần Sư trưởng cho hiền huynh đấy.
Ngài liền bảo:
- Này các hiền đệ, hôm nay l à ngày
thứ ba ta không có phần ăn. Ng ày
đầu ti ên ta không thấy phần mình, ta
nghĩ người nào chia phần đ ã quên ta.
Ngày thứ hai, ta nghĩ chắc ta đ ã phạm
lỗi lầm gì. Song hôm nay, ta quyết định rằng
nếu có lỗi lầm g ì, ta sẽ hòa giải và vì thế ta
đánh cồng triệu tập các tiểu đệ. Các hiền đệ
bảo đ ã để các phần củ sen cho ta m à
ta chẳng có được chút g ì cả. Ta phải tìm
hiểu xem ai đ ã lấy trộm và
ăn hết phần đó. Khi ta đ ã từ bỏ cuộc
đời v à mọi tham dục ở
đời rồi th ì lấy trộm là chuyện không
đúng đắn, d ù chỉ là một củ sen.
Khi các vị kia nghe thấy lời ấy, họ đồng k êu
to:
- Ôi, thật là một việc ác.
Và tất cả các vị đều lo lắng vô c ùng.
Lúc bấy giờ, vị Thần trú trên cây gần am thất ấy,
đó l à cây cổ thụ lớn nhất rừng, bước ra
ngồi giữa các vị. Cũng vậy, có một con Voi, không thể nào chịu nổi sự huấn
luyện mà không đau đớn, n ên phá chiếc
cọc ở nơi nó bị trói vào, rồi chạy trốn vào rừng. Thỉnh thoảng, Voi thường
đi đến kính lễ đám hiền giả n ày, nên bây
giờ nó cũng đến đứng một b ên. Có một con
Khỉ đ ã được
huấn luyện để l àm trò với bầy Rắn, cũng chạy trốn thoát khỏi tay
người luyện rắn vào trong rừng; nó ở tại vùng am thất ấy, nên hôm nay nó
cũng đến kính lễ các hiền giả v à
đứng sang một b ên. Thiên chủ Ðế Thích
quyết tâm thử các vị ẩn sĩ này nên cũng tàng hình
đứng cạnh hội chúng.
Lúc ấy, vị em thứ hai của Bồ-tát, ẩn sĩ Upa-kancana, từ chỗ ngồi
đứng dậy, đảnh lễ ng ài rồi cúi chào khắp
hội chúng và nói như sau:
- Bạch Tôn sư, không kể đến các người kia,
tiểu đệ xin được phép thanh minh cho m ình khỏi tội này ch ăng?
- Này hiền đệ, được lắm.
Vị ấy đứng l ên giữa các hiền nhân và
nói:
- Nếu đệ đ ã
ăn các củ sen của Tôn huynh, đệ sẽ th ành
một người như vầy như vầy.
Và vị ấy trang nghiêm phát nguyện qua vần kệ
đầu:
1. Mong nhiều trâu ngựa, lắm kim ngân,
Vợ quý, nó giữ gìn luyến thương,
Mong nó sinh nhiều trai gái đủ,
Kẻ ăn phần trộm của La-môn!
Nghe thế, các vị tu khổ hạnh kia đều đặt tay
l ên hai tai và kêu to:
- Không, không thưa Tôn giả, lời thề nguyền ấy quả thật nặng nề lắm!
Và Bồ-tát cũng nói:
- Này hiền đệ, lời nguyền của em nặng lắm
đấy! Em không ăn phần đó, thôi, ngồi xuống nệm rơm đi.
Vị ấy, sau khi thề nguyện xong, liền ngồi xuống.
Người em thứ ba đứng l ên
đảnh lễ bậc Ðại Sĩ và ngâm vần kệ thứ
hai để thanh minh cho m ình:
2. Mong nó nhiều con, lắm áo quần,
Vòng hoa tay khoác, ngát chiên- đ àn,
Tâm tư sôi sục đầy tham dục,
Kẻ trộm phần ngài, hỡi Ðạo nhân!
Khi vị ấy ngồi xuống, các vị kia lần lượt ngâm vần kệ. Vị thứ tư:
3. Mong nó nhiều danh vọng, ruộng vườn,
Nhà kho, con cái, sẵn sàng dâng,
Nó không hiểu tháng n ăm dần mất,
Kẻ trộm phần ngài, hỡi Ðạo nhân!
Vị thứ n ăm:
4. Mong nó lừng danh đại tướng quân,
Ðế vương tối thượng ngự huy hoàng,
Thế gian bốn cõi đều phần nó,
Kẻ trộm phần ngài, hỡi Ðạo nhân!
5. Mong nó trở thành một Ðạo nhân,
Mà không chế ngự được tham sân,
Chỉ tin tinh tú, ngày lành tốt,
Ðược hiển vinh nhờ các đế vương
Ân thưởng, kẻ ăn phần trộm đó,
Hỡi ngài, Tôn giả Bà-la-môn!
Vị thứ sáu:
6. Vệ- đ à, mong nó học uyên thâm,
Người quý trọng đức độ Thánh nhân,
Mong nó được muôn người bái phục,
Kẻ ăn phần trộm, hỡi La-môn!
Vị thứ bảy:
7. Ơn trời cho nó được ngôi l àng,
Có đủ gi àu sang, bốn loại hàng,
Khi chết, dục tham không chế ngự,
Kẻ ăn phần trộm, hỡi La-môn!
8. Nó làm lý trưởng, bạn quây quần,
Vũ khúc, hoan ca, nhạc đắm hồn,
Mong nó đầy tr àn ơn lộc chúa,
Kẻ ăn phần trộm, hỡi La-môn!
Tiểu muội:
9. Mong nàng làm tuyệt thế giai nhân,
Chúa tể thế gian chọn má hồng,
Chánh hậu giữa muôn người toại ý,
Kẻ ăn phần trộm, hỡi La-môn!
Nô tỳ:
10. Khi mọi nữ tỳ tập họp xong,
Mong nàng oai vệ ngự ngai vàng,
Cao lương mỹ vị đầy ngon ngọt,
Kiêu hãnh vì ân phước của nàng,
Người đ ã lấy phần
ăn trộm đó,
Hỡi ngài, Tôn giả Bà-la-môn!
Thần cây:
11. Mong nó bảo tồn viện Ka-jan,
Trùng tu quang cảnh đ ã tiêu tàn,
Hàng ngày làm cửa song nhà mới,
Kẻ trộm phần ngài, hỡi Ðại nhân!
Con Voi:
12. Mong nó bị người bắt lấy thân,
Sáu tr ăm dây trói tự rừng hoang
Mang về thành, bị người vây đánh
Bằng gậy, giáo, gươm, phải phát cuồng!
Kẻ đ ã lấy phần
ăn trộm đó,
Hỡi ngài, Tôn giả Bà-la-môn!
Con Khỉ:
13. Vòng hoa trên cổ, thiếc đeo tai,
Mong nó đi đường, khiếp sợ oai
Chiếc gậy luyện chơi gần lũ rắn,
Kẻ ăn phần trộm ấy, thưa ng ài!
Khi cả hội cùng thề nguyện xong qua mười ba vần kệ này, bậc Ðạo Sư suy
nghĩ: "Có lẽ chúng tưởng chính ta nói dối rằng không có phần
ăn để đó, trong khi nó vẫn có", v ì thế,
ngài cũng thề nguyền phần mình qua vần kệ thứ mười bốn:
14. Ai thề thực phẩm biến đi rồi,
Mà nếu không mất mát, vậy thời
Mong nó hưởng tràn đầy dục lạc,
Và mang kết quả việc kia hoài,
Ước mong cái chết đầy ph àm tục
Số phận dành cho nó cuối đời,
Ðiều ấy cũng dành cho quí vị,
Nếu bây giờ quí vị nghi tôi!
Khi các bậc hiền nhân đ ã thề nguyền
như thế xong, Ðế Thích Thiên chủ nghĩ thầm: "Ðừng sợ gì cả. Ta
đ ã làm cho các củ sen kia biến mất
để thử các người n ày và nay các vị ấy
thề nguyền cả, lại đều gh ê tởm hành
động ấy như thể một cục đờm phải nhổ. Nay ta
muốn hỏi các vị tại sao lại gh ê tởm dục tham như vậy". Thiên chủ
đặt câu hỏi n ày
để chất vấn Bồ-tát trong vần kệ tiếp, sau khi
Thi ên chủ đ ã hiện nguyên hình:
15. Người kiếm tìm luôn ở cõi trần
Cái điều vui đẹp, thiết thân l òng
Ðược nhiều kẻ ước mong mê mẩn.
Như vậy, vì sao các Thánh nhân
Lại chẳng tán dương nhiều sự việc
Vẫn thường ham muốn bởi phàm nhân?
Ðể trả lời câu hỏi này, bậc Ðạo Sư ngâm hai vần kệ:
16. Tham dục là tai họa chết người,
Là dây xiềng xích trói trên đời,
Ở trong ác dục, ta tìm thấy
Ðau khổ và kinh hãi cả thôi.
Khi bị dục tham nào cám dỗ,
Vua thường phạm tội, đắm say ho ài!
17. Phải vào địa ngục, các ph àm nhân
Gây tội, khi tan rã nhục thân,
Vì biết khổ đau trong ác dục,
Bậc hiền chê trách, chẳng đồng l òng.
Khi Ðế Thích Thiên chủ nghe bậc Ðạo Sư giải thích xong, lòng
đầy xúc động n ên ngài ngâm vần kệ này:
18. Chính ta trộm, thử các hiền nhân,
Ta đặt b ên hồ các thức
ăn,
Bậc trí thật hiền lương thánh thiện,
Hỡi người Phạm hạnh, hãy nhìn phần!
Nghe thế, Bồ-tát liền ngâm kệ nữa:
19. Chúng ta không múa rối vui chơi,
Làm các trò tiêu khiển với ngài,
Chẳng quyến thuộc ngài, hay bạn hữu,
Tại sao vậy thế, hỡi vua trời?
Thưa ngài Ngàn mắt, sao ngài nghĩ
Bậc trí bày trò giải trí thôi?
Ðế Thích Thiên chủ ngâm vần kệ thứ hai mươi
để l àm lành với ngài:
20. Ngài chính là Sư trưởng đại nhân,
Chính ngài là một vị cha thân,
Chở che cho trẫm đ à sai phạm,
Xin hãy thứ tha trót lỗi lầm;
Chẳng có bao giờ, thưa Thánh giá,
Bậc hiền lại phát khởi lòng sân!
Bậc Ðạo Sĩ liền tha thứ cho Thiên chủ Ðế Thích và về phần ngài,
để h òa giải với các Thánh nhân kia, ngài
ngâm vần kệ nữa:
21. An lạc một đ êm với Thánh nhân,
Chúng ta hội kiến đấng Thi ên vương,
Chư Hiền, hãy đẹp l òng khi thấy
Thực phẩm mất, nay được phục ho àn.
Ðế Thích Thiên chủ liền đảnh lễ hội chúng
hiền nhân rồi trở về thi ên giới. Còn các vị ấy
đ ã làm cho phát khởi Thiền
định v à các Thắng trí trong tâm, nên về
sau được sinh l ên cõi Phạm thiên.
*
Khi bậc Ðạo Sư đ ã chấm dứt Pháp
thoại, Ngài bảo:
- Này các Tỷ-kheo, như vậy, các bậc trí ngày xưa
đ ã phát hạnh nguyện và từ bỏ ác dục.
Nói xong, Ngài thuyết giảng các Sự Thật. Vào lúc kết thúc các Sự Thật, vị
Tỷ-kheo thối thất kia đ ã
được an trú v ào Sơ quả Dự Lưu. Và ngài
ngâm ba vần kệ này để nhận diện Tiền thân:
22. Mục-liên, Xá-lợi-phất và Ta,
Ca diếp, A-na-luật, Phú-na, (1),
Cùng với A-nan- đ à thuở ấy
Thất Hiền Huynh Ðệ chốn kia mà.
23. Liên Hoa Sắc, tiểu muội ngày xưa,
Tỳ nữ, Khuj-ju (2), thuở bấy giờ,
Cổ thụ Thần kia, Sà-tá (3) đó,
Cit-ta Gia chủ, chính gia nô.
24. Con Voi ngày trước chính Par-ley (4)
Con Khỉ là Ma-dhu-sét đây, (5)
Ðế Thích là Ka-lu (6) thuở ấy,
Chúng T ăng giờ hiểu Tiền thân n ày.
Chú thích: (1) Punna; (2) Khujjutarà; (3) Satàgira; (4) Pàrileyya; (5)
Madhuvasettha; (6) Kàludàyi
-ooOoo-

489. Chuyện Đại Vương#

Huy Ho àng (Tiền thân Suruci)
Thiếp là chánh hậu chúa Ru-ci...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú gần Xá-vệ trong tòa nhà của Lộc
mẫu, về việc bà nữ cư sĩ đệ nhất Vis àkhà
này đ ã được
Ng ài ban Tám điều Nguyện ước như thế n ào.
Một buổi nọ, bà ấy nghe thuyết Pháp ở Kỳ Viên xong, rồi trở về nhà, sau
khi mời đức Phật v à chúng
đệ tử của Ng ài
đến nh à vào ngày hôm sau.
Nhưng khuya hôm ấy một cơn cuồng phong dữ dội hoành hành cả bốn châu
thiên hạ, đức Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo như sau:
- Khi mưa rơi ở Kỳ Viên, này các Tỷ-kheo, thì mưa cũng rơi khắp bốn châu
thế giới. Các ông hãy thấm nhuần ơn mưa móc đến
tận thịt da: v ì đây l à cơn
đại cuồng phong cuối c ùng của Ta thổi
khắp thế giới.
Rồi cùng với các Tỷ-kheo thân mình đ ã
thấm ướt nước mưa, Ngài dùng thần lực biến mất khỏi Kỳ Viên và xuất hiện
trong gian phòng khách của tòa nhà bà Visàkhà. Bà kêu lên:
- Thật hi hữu thay! Thật linh diệu thay là thần thông lực của
đức Như Lai thị hiện! Nước ngập lụt đến tận đầu
gối, nước ngập lụt đến tận thắt lưng, m à chẳng có bàn chân hay chiếc
y của một Tỷ-kheo nào bị ướt cả!
Trong nỗi hân hoan tràn trề ấy, bà cùng đám
tín nữ phục vụ đức Phật v à T ăng chúng.
Sau buổi thọ thực, b à thưa với đức Phật:
- Thật tình con ước ao nhận được nhiều thỉnh
nguyện từ đức Thế Tôn.
- Này Visàkhà, các đức Như Lai có vô lượng
ân l ành.
- Song những điều thỉnh nguyện n ày
xin được ban cho chúng con, những điều n ày
không lỗi lầm!
- Này Visàkhà, cứ nói đi!
- Con ước ao rằng suốt đời con được quyền
dâng áo khoác về m ùa mưa cho T ăng chúng,
thực phẩm cho các vị khách đến thăm nh à, thực phẩm cho T ăng
chúng du hóa đường xa, thực phẩm cho các vị bị bệnh, thực phẩm cho những vị
Tỷ-kheo phục vụ các bệnh nhân, thuốc men cho các bệnh nhân, thường xuy ên
cúng dường cháo gạo và suốt đời cúng dường y
phục cho các Tỷ-kheo ni khi đi tắm.
Bậc Ðạo Sư đáp:
- Này Visàkhà, bà dự định l àm công
đức g ì khi bà thỉnh cầu Như Lai Tám
Nguyện ước này?
Bà liền thưa với ngài những lợi lạc mà bà mong có
được, v à Ngài
đáp:
- Lành thay, lành thay, này Visàkhà, thật tốt lành thay là
điều lợi lạc m à bà mong sẽ
được khi thỉnh cầu Như Lai Tám Nguyện ước n ày.
Rồi ngài bảo:
- Này Visàkhà, Ta cho bà Tám đặc ân n ày
đó.
Sau khi ban cho bà tám Thỉnh Nguyện ấy xong và nói lời tùy hỷ công
đức, Ng ài ra về.
Một hôm, khi bậc Ðạo Sư đang trú tại
Ðông Viên, T ăng chúng bắt đầu b àn luận
việc này trong Chánh Pháp đường:
- Này hiền hữu, nữ thí chủ Visàkhà, dù là nữ nhân,
đ ã được
chính đấng Thập Lực ban cho tám Thỉnh nguyện.Công đức của b à ấy thật
cao cả thay!
Bậc Ðạo Sư bước vào và hỏi T ăng chúng đang
nói chuyện g ì. T ăng chúng thưa với Ng ài.
Ngài bảo:
- Ðây không phải là lần đầu ti ên nữ
nhân này nhận được những Thỉnh nguyện từ Ta, v ì
bà ấy xưa kia cũng đ ã nhận
được như vậy.
Rồi Ngài kể cho T ăng chúng một chuyện quá
khứ.
*
Một thời, có vị vua Suruci trị vì tại Mithilà. Vua này có một vương tử
đặt t ên là Suruci Kumàra, hay vương tử
Huy Hoàng. Khi chàng lớn lên, chàng quyết định
đi du học tại Takkasil à, vì thế chàng
đến đó v à ngồi nghỉ ở một sảnh đường tại
cổng th ành. Bấy giờ vương tử của vua Ba-la-nại tên là vương tử
Brahmadatta cùng đi đến đó, v à ngồi nghỉ
trên cùng một chiếc ghế dài mà vương từ Suruci
đ ã ngồi. Hai người trò chuyện và kết bạn với nhau, rối cả hai cùng
đi đến vị giáo thọ kia. Hai ch àng trả
học phí và học tập, chẳng bao lâu, việc học đ ã
hoàn tất.
Rồi hai chàng từ giã thầy dạy và cùng nhau lên
đường. Sau khi đi một đoạn ngắn, họ dừng lại ở
một nơi có ng ã rẽ, cả hai ôm nhau từ biệt, và
để giữ m ãi tình bạn thấm thiết, hai vị
giao ước với nhau:
- Nếu ta có con trai và bạn có con gái hoặc bạn có con trai và ta có con
gái thì chúng ta sẽ kết đôi cho chúng.
Khi hai vị lên ngôi, vua Suruci sinh hạ một vương tử và cũng
đặt t ên vương tử là Suruci. Còn vua
Brahmadatta sinh con gái đặt t ên là
Sumedha hay công chúa Thiện Trí.
Vào đúng thời lớn khôn, vương tử Suruci đi
đến Takkasil à để học tập v à khi
việc học hoàn tất, lại trở về. Sau đó vua cha
muốn phong vương cho con m ình bằng lễ quán
đảnh, v à nghĩ thầm: "Bạn ta là vua
Ba-la-nại đ ã sinh con gái, ta nghe nói
vậy. Nay ta muốn cưới nàng ấy làm vương hậu cho con ta". Vì mục
đích tr ên, vua phái
đám sứ thần đem các sính lễ rất sang trọng ra
đi.
Song trước khi sứ bộ đến nơi, vua Ba-la-nại
hỏi b à chánh hậu điều n ày:
- Này ái hậu, điều g ì là nỗi khổ
đau nhất đối với một nữ nhân?
- Muôn tâu, đó l à việc tranh chấp với
các thê thiếp khác của chồng mình.
- Vậy thì, này ái hậu, để tránh cho con gái
duy nhất của ta l à công chúa Sumedha khỏi nỗi khổ
đau ấy, ta sẽ chẳng gả con cho một ai, ngoại
trừ người n ào chỉ cưới một mình nàng, chứ không có thê thiếp khác.
Vì vậy khi các sứ thần đến, v à nêu
danh hiệu công chúa để cầu hôn, vua bảo họ:
- Này các hiền hữu, quả thực ta đ ã
hứa gả con gái ta cho con của vị vua thân bằng của ta ngày xưa. Song chúng
ta không muốn thả con gái vào giữa một đám nữ
nhân. V ì vậy chúng ta muốn gả con gái cho vị vua nào chỉ cưới một
mình nàng, chứ không thêm ai khác.
Các sứ giả đem thông điệp ấy về tâu với vua.
Nhưng vua n ày phật ý, bảo:
- Nước ta là một đại vương quốc với kinh th ành
Mi-thi-là chiếm bảy dặm, toàn thể đất nước gồm
cả ba trăm dặm. Một vị đại vương như vậy phải có cả mười sáu ng àn
cung phi là ít nhất.
Còn vương tử Suruci vừa nghe danh tiếng dung sắc tuyệt mỹ của công chúa
Sumedha liền đâm ra si t ình công chúa dù
chỉ là nghe đồn thôi, n ên chàng nhờ thưa
lại song thân là:
- Con quyết sẽ cưới một mình nàng chứ không thêm ai khác nữa. Con có cần
gì cả đám nữ nhân kia chứ? Xin đi cưới n àng
về ngay.
Hai vị không cản trở ước vọng của chàng, liền gửi sính lễ sang trọng cùng
một đám sứ thần đông đảo đi rước n àng về
cung. Thế là nàng được phong l àm vương
hậu và cả hai người đều được tôn l ên
ngôi bằng lễ quán đảnh (rảy nước l ên
đầu).
Chàng trở thành quốc vương Suruci, cai trị rất
đúng pháp v à sống rất hạnh phúc với
hoàng hậu. Song dù nàng đ ã về sống ở nhà
chồng đến mười ng àn n ăm,
n àng chẳng hề sinh hạ con trai hay con gái gì cả.
Sau đó, dân chúng tụ tập lại trước sân chầu
với những lời trách móc. Vua hỏi:
- Có chuyện gì thế?
Dân chúng tâu:
- Chúng thần chẳng thấy lỗi lầm nào ngoại trừ việc này: Ðó là Chúa thượng
không có con trai để nối d õi. Chúa
thượng chỉ có một chánh hậu, tuy nhiên một quốc vương phải có ít nhất là
mười sáu ngàn cung tần. Xin Chúa thượng hãy tuyển một
đám phi tần mỹ nữ, rồi một thứ phi xứng đáng sẽ
hạ sinh cho Chúa thượng một ho àng nam.
- Này, các hiền hữu nói điều g ì thế?
Ta đ ã hứa không cưới ai khác ngoài hoàng
hậu và theo những điều kiện thỏa thuận tr ên
mà ta đ ã chiếm
được n àng làm vợ. Ta không thể nuốt lời
được, ta không cần cả một đám nữ nhân đâu.
Như thế vua từ chối lời thỉnh cầu của dân nên họ ra về. Song Sumedha nghe
được câu chuyện. B à nghĩ thầm: "Ðức vua
từ chối việc tuyển chọn cung phi vì lòng trung tín của ngài,
được rồi, ta sẽ t ìm thê thiếp khác cho
ngài". Bà vừa đóng vai người mẹ, c ùng
vai người vợ đối với vua, n ên bà tự
nguyện tuyển một mgàn công nương thuộc dòng Sát- đế-ly,
một ng àn tiểu thư của các con quan trong triều, một ngàn thiếu nữ nhà
lành, một ngàn vũ nữ đủ loại, tổng cộng bốn ng àn,
rồi đem dâng vua.
Các nàng ấy sống trong cung suốt mười ngàn n ăm
cũng chẳng hề sinh con cái g ì cả. Cứ theo cách ấy, ba lần nữa, bà
dâng vua bốn ngàn cung nữ, song họ chẳng sinh
được con cái g ì. như vậy bà đ ã
dâng vua cả mười sáu ngàn cung tần mỹ nữ. Bốn mươi ngàn n ăm
trôi qua, nghĩa l à n ăm mươi ng àn
n ăm tất cả, tính luôn mười ng àn n ăm
vua đ ã chỉ sống với một mình hoàng hậu thôi. Sau
đó, dân chúng lại tụ tập với những lời trách
móc; vua hỏi:
- Cái gì đây nữa?
- Tâu Chúa thượng, xin ngài ra lệnh cho các cung phi cầu tự.
Từ đó, để cầu tự, các n àng cúng bái
đủ các loại thần linh v à thề nguyền khấn
khứa đủ mọi cách, tuy thế, vẫn không có vương
tử n ào xuất hiện. Rồi vua ra lệnh cho bà Sumedha cũng phải cầu tự,
hoàng hậu thỏa thuận.
Vào dịp lễ Trai giới ngày mười l ăm (rằm)
trong tháng, ho àng hậu giữ hạnh nguyện Bát quan Trai giới và ngồi
trầm tư về các công đức trong một cung thất
lộng lẫy tr ên một sàng tọa êm ái. các cung nữ khác
đều ở trong ngự uyển, cầu nguyện sẽ cúng tế đủ
loại d ê bò. Vì công đức sáng chói của ho àng
hậu Sumedha nên cung điện của Thi ên chủ
Sakka (Ðế Thích) rúng động.
Ðế Thích Thiên chủ suy xét và hiểu rằng bà Sumedha
đang cầu tự. " Ðược rồi, bà sẽ
được một hoáng nam. Song ta không thể ban cho b à
một hoàng nam này hay một hoàng nam nọ một cách thiếu quan tâm, mà ta muốn
đi t ìm một vị nào xứng
đáng". Rồi ng ài thấy một Thiên tử còn
trẻ tên là Nalakàra, Người Ðan giỏ.
Chàng có đầy đủ đức độ thiện hạnh, trong một
đời trước đó sống ở Ba-la-nại, th ì chuyện này xảy ra cho chàng. Vào
mùa gieo hạt, khi chàng ra đồng, ch àng
gặp một vị Ðộc Giác Phật. Chàng bảo các tá điền
gieo hạt, cúng dường một bữa ăn rồi dẫn vị ấy trở lại bờ sông Hằng. Ch àng
cùng con trai dựng túp lều, trụ bằng thân cây sung và
đan kết lau sậy l àm vách tường, gắn cửa
vào và dọn một lối đi. Ch àng mời vị Ðộc
Giác Phật ở đó suốt ba tháng v à khi hết
mùa mưa, hai cha con chàng đắp l ên Ngài
ba chiếc y rồi để Ng ài ra
đi. C ùng cách ấy, hai cha con thiết
đ ãi đồ ẩm
thực bảy vị Ðộc Giác Phật trong túp lều ấy rồi cúng dường mỗi vị ba
chiếc y, xong để các vị ai đi đường nấy.
Vì vậy, dân chúng vẫn kể chuyện hai cha con làm nghề
đan giỏ, t ìm các cây liễu trên bờ sông
Hằng ( để lấy gỗ đan giỏ) v à hễ khi nào
thấy một vị Ðộc Giác Phật thì họ cúng dường như trước
đ ã nói. Lúc mạng chung, họ
được tái sinh v ào cõi trời Ba mươi ba,
và cứ an trú sáu tầng trời cõi Dục liên tục tới lui theo vòng luân hồi sinh
tử, tận hưởng vinh quang tột đỉnh giữa chư Thi ên.
Hai vị ấy sau khi mạng chung ở cõi này lại ước mong
được l ên các thiên giới cao hơn. Ðế
Thích Thiên chủ nhận thức rằng một trong hai vị Thiên tử này sẽ thành
đức Như Lai, n ên Thiên chủ
đến cửa cung của hai vị, đảnh lễ vị ấy khi vị
ấy đứng l ên chào đón Thi ên chủ và
bảo:
- Thưa Tôn giả, ngài nên sinh vào thế giới loài người.
Song vị Thiên tử bảo:
- Tâu Ðại vương, thế giới loài người đầy hận
th ù đáng kinh tởm, những người ở đó l àm
thiện sự và bố thí, cũng đều ước mong được l ên
thiên giới. Vậy thần xuống đó l àm gì
chứ?
- Thưa Tôn giả, ngài sẽ được hưởng trọn vẹn
mọi lạc thú có thể hưởng được trong nhân giới; ng ài sẽ ngự trong một
cung điện l àm toàn bằng bảo ngọc cao hai
mươi l ăm dặm. Xin ng ài
đồng ý cho.
Vị Thiên tử liền chấp thuận. Khi Ðế Thích Thiên chủ
đ ã được vị
ấy hứa lời rồi, liền giả dạng một hiền nhân giáng xuống ngự vi ên,
xuất lộ nguyên hình vừa bay lượn trên đầu các
cung phi n ày, vừa ca hát:
- Ta sẽ ban diễm phúc cho ai được một nam tử
đây? Ai mong được diễm phúc có một nam tử đây?
- Thưa ngài, xin cho con, xin cho con!
Hàng ngàn cánh tay giơ lên. Sau đó Thi ên
chủ bảo:
- Ta sẽ ban các nam tử cho những người đức
độ: vậy về công đức các n àng làm được
những g ì? Cuộc đời các n àng, lối
sống các nàng ra sao?
Họ đều hạ tay xuống v à thưa:
- Nếu ngài muốn thưởng công cho người đức
hạnh th ì xin ngài đi t ìm chành
hậu Sumedha.
Ngài liền bay qua không gian và dừng lại ở cửa sổ cung thất của bà. Khi
đó đám cung nữ đến tr ình với bà:
- Tâu lệnh bà, một vị Thiên chủ đ ã
bay qua không gian và đứng ngay tại cửa sổ cung
thất lệnh b à để ban cho lệnh b à
diễm phúc được một vương tử!
Bà liền đến đó đón ng ài vô cùng trọng
thể. Vừa mở cửa sổ ra, bà vừa hỏi:
- Tâu Thiên chủ, tiện thiếp trộm nghe rằng ngài sẽ ban diễm phúc cho một
nữ nhân đức hạnh được một nam tử, có đúng vậy
chăng?
- Ðúng vậy, ta sẽ làm như thế.
- Vậy xin ngài làm ơn ban cho tiện thiếp diễm phúc ấy.
- Hãy cho ta biết Chánh hậu đ ã tạo
được công đức g ì, rồi nếu chánh hậu làm
đẹp ý ta, ta sẽ ban cho diễm phúc ấy.
Bà liền ngâm mười l ăm vần kệ n ày nêu
rõ công đức của m ình:
1. Thiếp là chành hậu chúa Ru-ci,
Vương hậu đầu ti ên chúa cưới về,
Với chúa Su-ru-ci vạn tuế,
Thiếp đ ã sống trọn
đạo hiền th ê.
2. Huy Hoàng chúa tể ở My-la,
Là chính kinh thành của quốc gia,
Thiếp chẳng hề xem thường thánh ý,
Chẳng chê ngài thấp kém, sai ngoa,
Dù sau lưng chúa, hay ngoài mặt,
Về khẩu, ý, thân, đủ cả ba.
3. Thánh giả, điều n ày nếu thật chân,
Cầu mong vương tử được ng ài ban,
Còn khua môi thiếp toàn hư vọng,
Bảy mảnh đầu n ày phải vỡ tan.
4. Phụ hoàng, mẫu hậu của vương quân,
Hai đấng sinh th ành ngự trị dân,
Trong lúc các ngài còn tại thế,
Vẫn thường dạy thiếp Ðạo hiền nhân.
5. Thiếp ước không làm hại mạng ai,
Quyết lòng hành động chánh chân ho ài,
Ân cần tận tụy hầu hai vị,
Không mệt mỏi cho dẫu tối ngày.
6. Thánh giả, điều n ày, nếu thật chân,
Cầu mong vương tử được ng ài ban,
Còn khua môi thiếp toàn hư vọng,
Bảy mảnh đầu n ày phải vỡ tan.
7. Thứ phi sau thiếp cứ t ăng dần,
Mời sáu ngàn không thiếu một nàng,
Tuy thế, chẳng hề, thưa Thánh giả,
Xảy hờn ghen giữa đám hồng quần.
8. Thiếp mừng khi chúng được an l ành,
Với mọi cung phi, thắm thiết tình,
Lòng thiếp nhân từ cùng tất cả,
Khác nào đ ối với bản thân mình.
9. Thánh giả, điều n ày, nếu thật chân,
Cầu mong vương tử được ng ài ban,
Còn khua môi thiếp toàn hư vọng,
Bảy mảnh đầu n ày phải vỡ tan.
10. Nô tỳ, thị giả, mọi gia nhân,
Tất cả nơi đây ở hợp quần,
Thiếp đối ân cần, ban thực phẩm,
Tươi cười nét mặt tạo hân hoan.
11. Thánh giả, điều n ày, nếu thật
chân,
Cầu mong vương tử được ng ài ban,
Còn khua môi thiếp toàn hư vọng,
Bảy mảnh đầu n ày phải vỡ tan.
12. Các nhà ẩn sĩ, Bà-la-môn,
Hễ thấy người nào đến khẩn van,
Thiếp đ ãi uống
ăn đều khắp cả,
Ðôi bàn tay rửa sạch hoàn toàn.
13. Thánh giả, điều n ày, nếu thật
chân,
Cấu mong vương tử được ng ài ban,
Còn khua môi thiếp toàn hư vọng,
Bảy mảnh đầu n ày phải vỡ tan.
14. Vào ngày mống tám, nửa tuần tr ăng,
Mười bốn, mười l ăm, các buổi rằm,
Thiếp vẫn chuyên tâm trì giới luật,
Bước theo Thánh đạo của hiền nhân.
15. Thánh giả, điều n ày, nếu thật
chân,
Cầu mong vương tử được ng ài ban,
Còn khua môi thiếp toàn hư vọng,
Bảy mảnh đầu n ày phải vỡ tan.
Quả thật, dù cả tr ăm, cả ng àn câu kệ
cũng không đủ lời tán thán mọi công đức của b à;
tuy thế, Ðế Thích Thiên chủ cứ để cho b à
tự tán thán trong mười l ăm vần kệ n ày.
Ngài cũng không ngắt ngang câu chuyện, mặc dù ngài còn nhiều việc phải làm ở
nơi khác. Sau đó ng ài bảo:
- Công đức của Chánh hậu thật l à kỳ
diệu và sung mãn tràn trề thay!
Rồi ngài ngâm hai vần kệ ca ngợi bà:
16. Nương nương hỡi, Chánh hậu Huy Hoàng,
Công đức n ày cao trọng thập toàn
Ðều thấy trong nàng, này Chánh hậu,
Chính nàng ca ngợi đại danh n àng.
17. Một hoàng nam chính thống cao sang,
Muôn vẻ vinh quang, trí vẹn toàn,
Ðại đế Vi-đề-ha chánh trực,
Sắp ra đời đó chính con n àng.
Khi bà nghe những lời này, bà vô cùng hoan hỷ ngâm hai vần kệ
để hỏi Thi ên chủ:
18. Bụi bẩn, lấm lem tóc rối bồng,
Hình ngài lơ lửng ở trên không,
Nói bằng một giọng đầy thân ái,
Lám thiếp cảm rung tận cõi lòng.
19. Có phải ngài Thiên đế đại h ùng,
Trên trời ngài ngự, hỡi hiền nhân?
Xin cho thiếp biết từ đâu đến,
Cho biết là ai đó giáng trần?
Thiên chủ đáp lời b à qua sáu vần kệ:
20. "Thiên nhãn Sak-ka" nàng thấy đây,
Vì Thiên chúng vẫn gọi như vầy.
Những khi Thiên chúng đều đo àn tụ
Trong Thiện pháp đường mỹ diệu thay.
21. Khi nữ nhân hiền đức vẹn to àn,
Tại đây được thấy giữa trần gian,
Chánh chân nội tướng đầy nhân ái
Với mẹ chồng, như phận sự nàng.
22. Khi chư Thiên biết một hồng nhan,
Lòng trí cao minh, nghiệp thiện toàn,
Dù nữ nhi, mà từ thượng giới,
Thiên chúng đích thân đến với n àng.
23. Giữ đời đức hạnh, hỡi Nương nương,
Nhờ tích trữ toàn việc thiện lương,
Công chúa xuất thân, đ à
đạt được
Trọn niềm hạnh phúc vẫn cầu mong.
24. Vậy nàng gặt hái nghiệp duyên nàng
Bằng cảnh huy hoàng ở thế gian,
Công chúa, về sau trên thượng giới
Tái sinh nàng được hóa Thi ên thần.
25. Nữ nhi hiền đức, hưởng hồng ân!
Cứ sống giữ gìn hạnh chánh chân,
Nay lúc ta cần về thượng giới,
Vui mừng vì diện kiến tôn nhan.
- Ta còn việc phải làm trên tiên giới-Ngài bảo-Vậy ta
đi đây, c òn nàng hãy chuyên tâm tinh
cần.
Cùng với lời khuyên nhủ này, ngài ra về.
Tảng sáng hôm ấy, Thiên thần Nalakàra được
nhập mẫu thai của ho àng hậu. Khi bà biết chuyện ấy, bà liền tâu với
vua. Vua làm đủ mọi việc cần thiết cho một thai
phụ. Sau mười tháng, b à sinh hạ một vương tử, hai vị
đặt t ên là Mahà-panàda. Toàn dân của hai
quốc độ đều đến k êu lên:
- Tâu Chúa thượng, chúng hạ thần xin mang tiền mua sữa tới tặng hoàng
thái tử.
Rồi mỗi người thả một đồng v àng vào
trong sân chầu thành một đống tiền lớn. Vua
không muốn nhận tiền n ày, nhưng dân chúng không chịu lấy lại, và tâu
với vua khi họ ra về:
- Tâu Chúa thượng, số tiền này để d ành
cấp dưỡng vương tử khi ngài lớn lên.
Vương nhi lớn lên giữa cảnh huy hoàng và khi chàng
đến tuổi trưởng th ành, không quá mười
sáu, chàng đ ã kiện toàn tất cả mọi môn
học thuật. Vua nghĩ đến tuổi trưởng th ành
của chàng, bảo hoàng hậu:
- Này ái hậu, khi đến thời l àm lễ
quán đảnh cho ho àng nhi, ta hãy xây cho
con ta một cung điện tuyệt đẹp v ào dịp
đó.
Bà thỏa thuận hoàn toàn. Vua liền cho triệu các người có tài
đoán biết nơi chốn an l ành
để xây cung điện v à họ bảo:
- Này các hiền hữu, hãy tìm một kiến trúc sư thượng thủ và xây cho ta một
cung điện không xa cung ta. Cung n ày
dành cho hoàng tử mà chúng ta sắp phong vương
để kế vị ta đó.
Họ tâu việc ấy tốt lành thay và bắt đầu đi v ào
khảo sát mặt đất.
Lúc áy, chiếc ngai của Ðế Thích Thiên chủ nóng rực lên. Nhận thấy
điều n ày, Thiên chủ lập tức triệu
Vissakamma-vị Thiên thần chuyên xây dựng đến v à
bảo:
- Này Hiền giả Vissakamma, hãy xây cho thái thái tử Mahà-panàda một cung
điện d ài rộng nửa dặm và cao hai mươi l ăm
đặm, to àn bằng bảo ngọc.
Vissakamma liền giả dạng thợ hồ đi đến gần
đám thợ kia bảo:
- Hãy đi ăn sáng xong rồi trở về đây.
Sau khi họ đi khuất cả rồi, vị ấy lấy cây
gậy đập xuống đất, lập tức một cung điện hiện ra cao bảy tầng đúng kích
thước như tr ên.
Bấy giờ triều đ ình cử hành liên tiếp
ba đại lễ cho Thái tử Mah à-panàda: Lễ
khánh thành cung điện, lễ giương chiếc lọng ho àng
gia trên đầu ch àng (lễ phong vương) và
lễ thành hôn cho chàng. Trong thời gian hành lễ, toàn dân cả hai xứ tụ tập
lại tổ chức hội hè yến tiệc suốt bảy n ăm m à
vua cũng không giải tán quần chúng: xiêm y, đồ
trang sức, đồ ẩm thực v à mọi thứ khác hoàng gia
đều cung cấp đầy đủ cả.
Sau bảy n ăm ấy, dân chúng bắt đầu c àu
nhàu than phiền và vua Suruci hỏi tại sao, họ
đáp:
- Tâu Ðại vương, trong lúc chúng hạ thần mãi vui chơi hội hè
đ ình đám th ì
bảy n ăm đ ã trôi qua. Thế khi nào thì lễ
hội này mới chấm dứt?
Vua đáp:
- Này các hiền hữu, suốt thời gian qua, vương nhi chưa hề một lần nào
cười cả. Vậy khi nào vương nhi cười thì ta sẽ giải tán.
Sau đó dân chúng đi đánh trống v à tập
hợp các người làm trò múa rối nhào lộn lại với nhau. Hàng ngàn người diễn
trò kéo đến v à chia nhau thành bảy ban
ca múa, nhưng họ không thể nào làm vương tử cười
được. R õ ràng chàng là một người
đ ã từng xem múa hát của các vũ thần chốn
thiên đ ình rồi thì không thể nào ham
thích được các vũ công hạ giới như thế n ày.
Sau đó hai t ên hề múa rối lanh lợi
xuất hiện, đó l à Bhandu Kanna và Pandu
Kanna tức Tai Cụt và Tai Vàng. Chúng tâu:
- Chúng tiểu thần sẽ làm cho hoàng tử cười.
Bhandu Kanna liền hóa phép ra một cây xoài vĩ
đại, m à gã gọi là "Vô song
địch", mọc l ên trước cửa cung, sau
đó g ã ném ra một cuộn dây làm cho nó mắc
vào một cành xoài rồi gã trèo lên cây xoài Vô song
địch ấy.
Thời bấy giờ người ta bảo cây xoài Vô địch
ấy l à của Vessavana (Tỳ-sa-môn Thiên vương). Bọn nô lệ của thần
Vessavana bắt lấy gã, như thường lệ, chặt ra từng khúc và thả xuống
đất. Bọn người l àm trò ảo thuật kia ghép
các khúc đó lại v à tưới nước lên. Gã
đó liền cho àng mớ xiêm y cả bên trong
lẫn bên ngoài đều kết bằng hoa rồi đứng dậy bắt
đầu ca múa như cũ. Ngay cái cảnh tượng kỳ dị n ày cũng không làm vương
tử cười được.
Sau đó Pandu Kanna chất dầu củi đốt lửa l ên
trước sân chầu và nhảy vào lửa với đồng bọn múa
rối ấy. Khi lửa tan hết, người ta tưới nước v ào
đó, Pandu Kanna c ùng cả bọn lại vùng dậy
ca múa với đủ xi êm y từ trong ra ngoài
kết bằng hoa! Khi dân chúng thấy họ không thể làm cho vương tử cười
được th ì họ bực tức lắm.
Ðế Thích Thiên chủ nhận thấy việc này, liền phái xuống một vũ công trên
trời, bảo vị ấy làm cho vương tử Mahà-panàda cười. Thế rồi vị ấy
đứng lơ lửng giữa không gian tr ên sân
chầu, và biểu diễn một điệu múa gọi l à
Vũ khúc Bán thân: chỉ một tay, một chân, một mắt, một r ăng
nhảy múa rung rinh, lắc lư qua lại, c òn mọi phần kia vẫn trơ như
đá!
Khi Mahà-panàda thấy thế thì chàng hơi nhếch mép cười một chút thôi! Còn
đám dân chúng đều cười rộ l ên từng tràng
dài, và không thể nào kềm chế chân tay được
nữa, n ên họ cứ l ăn quay long lóc khắp cả
sân rống. Thế l à kết thúc hội hè! Phần còn lại:
Ðại đế Pa-n à, chúa
đại h ùng
Với cung bằng ngọc quý, vàng ròng...
Ðã được giải thích trong Thế Tôn Mah à
Panàda (số 264, tập II, Chương III)
Vua Mahà Panàda chuyên tâm làm thiện sự và bố thí nên lúc mạng chung
được sinh l ên Thiên giới.
*
Khi bậc Ðạo Sư đ ã chấm dứt Pháp thoại
này, Ngài bảo:
- Như vậy, này các Tỷ-kheo, Visàkhà đ ã
nhận được điều ước Ta ban thuở trước kia.
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thời bấy giờ, Bhaddaji là Mahà Panàda, Visàkhà là hoàng hậu Sumedha,
Ànanda là Vissakamma và Ta chính là Ðế Thích Thiên chủ.