Chuyện Tiền Thân · Jātaka

480. Chuyện Hiền Giả Akitta (Tiền thân Akitta)

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Chuyện Tiền Thân

Kinh Trung Bộ · Bài 55

Chuyện Hiền Giả Akitta (Tiền thân Akitta)#

Jātaka group 55

Chương XIII (tt)

480. Chuyện Hiền Giả Akitta (Tiền thân Akitta)

Sak-ka, Chúa tể giữa quần sinh..,

Chuyện này bậc Ðạo sư kể trong khi trú tại Kỳ Viên về một

đại thí chủ rất rộng lượng sống ở Xá-vệ.

Chuyện kể rằng người này mời bậc Ðạo sư đến

nh à và suốt bảy ngày đ ã cúng

dường rất nhiều thí vật cho T ăng chúng đi theo

Ng ài. Vào ngày cuối cùng lại cúng dường Thánh chúng

đủ các vật dụng cần thiết, sau đó bậc

Ðại sư nói lời tùy hỷ với ông:

- Này nam cư sĩ, công đức bố thí của ông

thật l à rộng lớn, ông đ ã thực

hành một việc khó lắm thay. Bố thí là tục lệ của các bậc hiền trí ngày xưa,

thí vật phải được phân phát d ù người còn

tại gia hay xuất gia, các bậc trí giả ngày xưa, ngay khi

đ ã rời thế tục vào ở trong rừng, khi chỉ

ăn lá Kara rảy nước m à không có thứ gia

vị nào cả cũng vẫn đem cho đám khất thực đi qua

đó để đáp ứng nhu cầu của các vị ấy v à vẫn an trú trong hỷ lạc của

bản thân mình.

Gia chủ kia đáp:

- Bạch Thế Tôn, việc cúng dường mọi vật dụng cần thiết ấy cho T ăng

chúng thật r õ ràng dễ hiểu. Song lời dạy của Thế Tôn chưa

được r õ. Xin Thế Tôn giải thích cho

chúng con.

Rồi theo lời thỉnh cầu trên, Ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát

được sinh trong một gia đ ình

đại phú B à-la-môn, có tài sản lên tới

tám tr ăm triệu. Ng ài

được đặt t ên là Akitti. Khi ngài vừa

biết đi, th ì một bé gái lại ra

đời với t ên Yavasati.

Lúc mười sáu tuổi, bậc Ðại sĩ đi v ào

thành Ba-la-nại học tập cho đến lúc th ành

đạt rồi ra về. Sau đó cha mẹ ng ài qua

đời. Khi ng ài cử hành tang lễ cho song

thân đ ã khuất xong, ngài xem xét lại kho

tàng của gia tộc. Danh mục ghi rõ: "Các vị này, vị kia

đ ã tích trữ những tài sản lớn như vậy

rồi qua đời, kế đến l à các vị khác cũng

tích trữ nhiều như vậy.." Nghe chuyện này, ngài phiền muộn trong trí và nghĩ

thầm: "Kho báu này ai cũng thấy cả, song những vị tích trữ tài sản thì không

còn nữa. Các vị đ ã ra

đi để lại kho báu đằng sau m ình, nhưng

khi ta từ trần, ta muốn đem theo bảo vật". V ì

vậy, ngài cho tìm em gái đến v à bảo:

- Hiền muội, hãy trông nom kho báu này.

- Ý hiền huynh là thế nào?

Ngài đáp:

- Ta muốn làm người tu khổ hạnh.

Nàng đáp:

- Này hiền huynh, tiểu muội không muốn đội l ên

đầu những thứ m à hiền huynh

đ ã nhổ ra khỏi miệng, tiểu muội chẳng

muốn thứ gì cả, mà cũng muốn sống đời khổ hạnh

thôi.

Rồi sau khi xin phép vua, ngài bảo đánh

trống vang dội khắp kinh th ành, bố cáo cho mọi người rõ:

- Toàn dân lắng nghe này: "Ai muốn có tiền bạc cứ

đến nh à hiền nhân kia!".

Suốt bảy ngày, ngài phân phát những kho tài sản lớn, tuy thế kho báu vẫn

chưa hết, ngài lại nghĩ thầm: "Tứ đại trong

thân ta đang tan r ã, ta còn muốn cái trò phân phát tài sản này nữa

sao? Thôi, ai muốn lấy cứ lấy đi".

Thế là ngài từ giã ngôi nhà đầy châu báu,

giữa các gia nhân thân quyến khóc lóc xung quanh, ng ài cùng em gái ra

đi. V à cái cổng thành Ba-la-nại nơi các

ngài đi qua được gọi l à cổng Akitta, còn

bến đ ò các ngài bước xuống bến sông cũng

được đặt t ên là bến

đ ò Akitta nữa.

Các ngài b ăng qua ba dặm đường, đến một nơi

mát mẻ dễ chịu th ì dựng lên một am lá và cùng em gái ngài sống như

người tu khổ hạnh. Sau thời gian từ bỏ thế tục, nhiều người khác cũng làm

như vậy, dân ở thôn quê, thị trấn, hoặc ở kinh thành,

đầy đủ cả. Hội chúng thật đông đảo, các vị ấy

nhận được nhiều vật cúng dường c ùng sự tôn trọng sùng kính chẳng khác

nào thời có một đức Phật xuất hiện ở đời. Lúc

ấy bậc Ðại sĩ thầm nghĩ: "Ở đây thật

nhiều vinh quang trọng vọng c ùng với vô số thí vật và hội chúng

đông đảo, song ta phải độc cư".

Vì thế, vào một lúc không ai ngờ được v à

cũng không báo trước cho cô em gái, ngài ra đi

một m ình, dần dần đến tận vương quốc

Damila ở bờ biển bắc Tích lan sống tr ên một hoa viên sát trên vùng

Kàvìrapattana, ngài tu tập Thiền định v à

Thắng trí. Tại đó ng ài cũng nhận

được sự ngưỡng mộ v à vô số thí vật của

dân. Ðiều ấy không thích hợp với ngài, ngài liền từ bỏ hết và phi hành qua

không gian rồi đến tận đảo của Rắn Rồng (N àga)

gần Bắc Tích Lan. Vào thời ấy, Kàradìpa được

gọi l à Ahidìpa hay đảo Rắn Rồng. Tại đó,

ng ài xây một ẩn am cạnh một cây Kàra lớn và an trú. Song việc ngài ở

đó không ai hay biết cả.

Lúc bấy giờ, em gái ngài đi t ìm anh,

dần dần đến tận vương quốc Damila, vẫn không

gặp ng ài, nàng lại ở ngay chính nơi ngài

đ ã ở, song nàng không thể phát khởi Thiền

định.

Còn bậc Ðại sĩ sống thiểu dục đến độ ng ài

không đi đâu cả, m à cứ vào mùa có trái

cây chín, ngài chỉ sống bằng trái cây đó, c òn

vào mùa lá trổ bông thì ngài ăn lá đó luộc với

ít nước l ã. Nhờ ngọn lửa công đức của ng ài

mà chiếc ngai báu bằng cẩm thạch của Sakka (Ðế Thích) Thiên chủ nóng rực

lên. Thiên chủ nghĩ: "Ai đ ã khiến ta

phải bước xuống khỏi chiếc ngai ta đang ngự?" v à

ngài nhận xét và thấy bậc hiền nhân này, ngài nghĩ thầm: "Tại cớ gì vị tu

khổ hạnh đằng kia hộ tr ì công

đức? Có phải vị ấy muốn l ên ngôi Thiên

chủ ch ăng? Hay v ì một duyên cớ nào khác?

Ta muốn thử vị ấy xem. Vị ấy sống rất khổ cực, chỉ

ăn lá K àra luộc với nước thôi: Nếu vị

đó ước muốn l àm Thiên chủ, vị ấy sẽ

nhường cho ta mớ lá cây luộc với nước của mình, còn nếu không thì vị ấy sẽ

không đưa". Sau đó, Thi ên chủ giả dạng

một Bà-la-môn, đến gặp Bồ-tát.

Bồ-tát đang ngồi ở cửa thảo am, sau khi luộc

lá v à đem xuống, ng ài nghĩ: "Khi

nào nguội ta sẽ ăn". V ào lúc ấy, Sakka

Thiên chủ đứng trước mặt ng ài và xin bố

thí. Khi Bồ-tát nhìn thấy Thiên chủ, lòng rất hoan hỷ: "Thật là một niềm

hạnh phúc cho ta - Ngài nghĩ thầm - ta thấy một vị khất thực, hôm nay ta sẽ

đạt được tâm nguyện v à ta sẽ bố thí".

Lúc món ăn đ ã sẵn sàng, ngài liền múc

vào bát ngài và vừa tiến về phía Thiên chủ, vừa nói:

- Ðây là vật cúng dường của ta, ước mong rằng

đây l à phương tiện

để ta đạt Chánh Giác tối thượng.

Rồi chẳng để lại chút g ì cho mình,

ngài đặt hết thức ăn v ào bình bát của

Thiên chủ. Vị Bà-la-môn này cầm lấy vừa đi một

khoảng ngắn th ì biến mất. Còn bậc Ðại sĩ, sau khi cúng dường, cũng

không nấu thêm thứ gì nữa, mà cứ ngồi an tịnh trong niềm hỷ lạc. Hôm sau,

ngài cũng luộc lá và ngồi trước cửa am như cũ. Thiên chủ Sakka lại

đến giả dạng một B à-la-môn và bậc Ðại sĩ

cũng bố thí rồi tiếp tục an trú vào hỷ lạc. Vào ngày thứ ba, ngài lại bố thí

như trước, và bảo:

- Ngài hãy xem phần phước lạc dành cho ta nhiều biết bao! Chỉ một ít lá

Kàra đ ã mang lại công

đức lớn cho ta rồi.

Trong niềm hỷ lạc phát xuất tận đáy l òng

như vậy, ngài thấy yếu người vì thiếu ăn đ ã

ba ngày, ngài liền ra khỏi am đúng lúc ngọ v à

ngồi trước cửa, suy nghĩ về tặng vật ngài đ ã

đem cúng dường.

Còn Sakka Thiên chủ nghĩ thầm: "Vị đạo sĩ B à-la-môn

này đ ã nhịn

ăn đ ã ba ngày, yếu ớt thế kia song vẫn nhường cho ta và tìm an lạc

trong việc bố thí. Trong tư tưởng vị này không còn ý

định n ào khác. Ta không hiểu vị ấy ao

ước điều g ì và tại sao lại bố thí như

vậy, nên ta phải hỏi để hiểu vị ấy muốn g ì

và biết được nguy ên nhân việc bố thí

trên".

Vì thế, Thiên chủ chờ đợi đến quá giờ ngọ, v à

trong vẻ huy hoàng oai nghi tột bực, ngài xuất hiện trước mặt bậc Ðại sĩ,

sáng chói như mặt trời ban mai; vừa đứng trước

bậc Ðại sĩ, Thiên chủ hỏi:

- Này Ðạo sĩ, tại sao ngài hành trì khổ hạnh, trong rừng này, xung quanh

là biển mặn bao bọc, với những cơn gió nóng hừng hực

đang hắt mạnh v ào người?

*

Thiên chủ ngâm vần kệ đầu để giải thích vấn

đề n ày:

1. Sak-ka, Chúa tể của quần sinh,

Trông thấy A-ki đáng kính danh,

Liền hỏi: "Tại sao, này Ðại sĩ,

Trú đây trời hực nắng v àng hanh?"

*

Khi bậc Ðại sĩ nghe vậy, và thấy vị đó chính

l à Sakka, ngài đáp:

- Ta không ước ao đạt đến những cảnh giới tr ên

kia, mà chỉ ao ước chứng đắc Chánh Giác tối

thượng n ên ta đ ã sống

đời khổ hạnh ở đây.

Ngài ngâm vần kệ thứ hai để l àm sáng

tỏ điều n ày:

2. Thân hoại, tái sinh, tử biệt trần,

Mê lầm, tất cả chính đau buồn,

Sak-ka Thiên chủ, nay vì vậy

Ta vẫn trú đây được vạn an.

Nghe những lời này, Sakka Thiên chủ hoan hỷ trong lòng và thầm nghĩ: "Vị

ấy không ham thích bất cứ sinh loại hữu tình nào và vì muốn chứng

đắc Niết b àn nên vào an trú trong rừng.

Ta muốn ban cho vị ấy một điều ước". Thế l à

Thiên chủ mời ngài chọn một điều ước qua lời kệ

thứ ba:

3. Kas-sa-pa, khéo diễn chân ngôn,

Ngài nói lên lời tối thượng tôn,

Hãy chọn giờ đây lời ước nguyện

Chọn theo mệnh lệnh của tâm hồn.

Bậc Ðại sĩ ngâm vần kệ thứ tư nói lên điều

ng ài ước mong:

4. Thiên chủ Sakka của chúng sinh,

Ban cho ta hưởng một ân lành;

Vợ con, vàng bạc, cùng kho lúa,

Dù có dư, ta vẫn bất bình;

Ta ước những điều tham dục ấy

Chẳng còn trú ẩn ở tâm mình.

Lúc ấy Sakka Thiên chủ vô cùng hoan hỷ, ban cho ngài thêm nhiều

đặc ân khác nữa v à bậc Ðại sĩ nhận lãnh,

mỗi vị lần lượt ngâm một vần kệ như sau:

Thiên chủ:

5. Kas-sa-pa, khéo diễn chân ngôn,

Ngài nói lên lời tối thượng tôn,

Hãy chọn, giờ đây, điều ước nguyện,

Chọn theo mệnh lệnh của tâm hồn.

Bồ-tát:

6. Chúa tể muôn loài chính là Sak-ka,

Ân lành, ngài muốn tặng cho ta:

Ruộng, vàng, của cải, tôi đ òi, ngựa,

Trâu, chó, ngay sau phải chết già.

Ta ước sẽ không còn giống chúng.

Ta mong nhược điểm ấy rời ta.

Thiên chủ:

7. Kas-sa-pa, khéo diễn chân ngôn,

Ngài nói lên lời tối thượng tôn,

Hãy chọn, giờ đây, điều ước nguyện,

Chọn theo mệnh lệnh của tâm hồn.

Bồ-tát:

8. Sak-ka, Thiên chủ ngự trên trần,

Ban tặng cho ta một đặc ân:

Ước chẳng nghe, nhìn người độn trí,

Kẻ kia chẳng sống với ta cùng,

Chẳng ham trò chuyện người vô trí,

Chẳng kết bạn cùng kẻ độn căn!

Thiên chủ:

9. Kẻ ấy làm gì, Kas-sa-pa,

Cho ngài, xin hãy nói ngay ra,

Tại sao bầu bạn người vô trí

Ngài chẳng ưa, này, hãy bảo ta.

Bồ-tát:

10. Hành động người ngu thật bạo t àn,

Buộc ràng gánh nặng chẳng ai mang,

Thực hành ác nghiệp: đích mong muốn,

Nổi giận khi nghe nói thật chân,

Nó chẳng biết gì là chánh hạnh,

Nên ta không muốn kẻ ngu gần.

Thiên chủ:

11. Kas-sa-pa, khéo diễn chân ngôn,

Ngài nói lên lời tối thượng tôn,

Hãy chọn, giờ đây, điều ước nguyện,

Chọn theo mệnh lệnh của tâm hồn.

12. Sak-ka, Thiên chủ của quần sinh,

Ban tặng cho ta một phước lành:

Ta ước nghe nhìn người có trí,

Ước mong vị ấy ở cùng mình.

Ta mong đ àm luận cùng người trí,

Ðược kết giao cùng bậc trí minh.

13. Bậc trí làm gì, Kas-sa-pa,

Cho ngài, xin hãy nói ngay ra,

Sao ngài ao ước nơi ngài ở,

Người trí cùng chung sống một nhà?

14. Hành động tốt l ành, bậc trí nhân

Chẳng ràng buộc gánh khổ vào thân,

Chuyên tâm, bậc trí làm ân phước,

Chẳng giận khi nghe nói thật chân,

Thông hiểu chánh hành, và bởi vậy,

Lành thay bậc trí sống chung cùng.

15. Kas-sa-pa, khéo diễn chân ngôn,

Ngài nói lên lời tối thượng tôn,

Hãy chọn, giờ đây, điều ước nguyện,

Chọn theo mệnh lệnh của tâm hồn.

Bồ-tát:

16. Sak-ka, Thiên chủ của quần sinh,

Ban tặng cho ta một phước lành:

Mong giải thoát ngoài vòng ái dục,

Và khi vầng nhật chiếu bình minh,

Mong chư Thánh giả du hành đến,

Ðem thực phẩm thiên giới tặng mình.

17. Mong tặng nó không giảm sút dần,

Ta không hối tiếc việc ta làm,

Mong lòng hoan hỷ lúc phân phát,

Ta chọn ước kia để hưởng phần.

Thiên chủ:

18. Kas-sa-pa, khéo diễn chân ngôn,

Ngài nói lên lời tối thượng tôn,

Hãy chọn, giờ đây, điều ước nguyện,

Chọn theo mệnh lệnh của tâm hồn.

Bồ-tát:

19. Sak-ka, Thiên chủ của quần sinh,

Ngài đ ã ban ta một phước lành:

Thiên chủ, xin đừng thăm viếng nữa,

Ðiều này khao khát tự tim mình.

Thiên chủ:

20. Song các nam nhân, các nữ nhân,

Những người đang sống thật hiền lương,

Ðều ước ao cùng ta diện kiến,

Việc này có tác hại gì ch ăng?

Bồ-tát:

21. Dung mạo ngài muôn vẻ thiện toàn,

Vô cùng hoan hỷ, đại vinh quang,

Thấy ngài, xao lãng điều tâm nguyện,

Nguy hại là trông thấy Ngọc hoàng!

- Thôi được rồi, thưa Tôn giả - Thi ên

chủ đáp - Ta quyết sẽ chẳng bao giờ viếng thăm

ng ài nữa.

Và vừa đảnh lễ ng ài, vừa xin ngài thứ

lỗi, Thiên chủ ra đi. Từ đó, bậc Ðại sĩ

an trú tại nơi ấy suốt đời, tu tập Tứ Vô lượng

tâm (từ,bi,hỷ,xả) v à được sinh l ên

cõi Phạm thiên.

*

Sau khi chấm dứt Pháp thoại này, bậc Ðạo sư nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy, Ànanda (A-nan) là Thiên chủ Sakka (Ðế Thích) và Ta chính

là Hiền giả Àkitti.

-ooOoo-

481. Chuyện Hiền Giả Takkàriya (Tiền thân Takkàriya)

Ta nói đi ên cuồng tựa ễnh ương..,

Chuyện này bậc Ðạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về Tỷ-kheo Kokàlika.

Trong một thời an cư về mùa mưa, hai vị Ðại

đệ tử S àriputta (Xá-lợi-phất) và Moggallàna (Mục-kiền-liên) muốn rời

hội chúng và sống độc cư, n ên từ giã bậc

Ðạo sư, đi v ào vương quốc, nơi có

Tỷ-kheo Kokàlika trú ngụ. Các vị đến nh à

Tỷ kheo Kokàlika và nói với ông như vầy:

- Này Hiền hữu Kokàlika, vì chúng ta thích sống với Hiền hữu và Hiền hữu

cũng thích sống với chúng ta, nên chúng ta muốn ở lại

đây ba tháng.

Vị kia hỏi:

- Các Tôn giả hoan hỷ khi an trú với tiểu đệ

theo cách n ào?

Hai vị đáp:

- Nếu Hiền hữu không nói với ai rằng hai Ðại

đệ tử đang ở đây, th ì chúng ta sẽ rất hoan hỷ,

đó l à niềm an lạc của chúng ta khi sống

với Hiền hữu.

- Thế còn tiểu đệ được hoan hỷ như thế n ào

khi sống chung với các Tôn giả?

- Chúng ta sẽ thuyết Pháp cho Hiền hữu trong ba tháng tại nhà Hiền hữu,

chúng ta sẽ giảng giáo lý cho Hiền hữu và việc

đó l à niềm hoan lạc của Hiền hữu khi sống với chúng ta.

- Xin các Tôn giả hiền huynh hãy an trú tại

đây bao lâu các Hiền huynh muốn.

Rồi ông dành một nơi cư trú an lạc cho các ngài. Các ngài an trú tại

đó trong quả vị của các Thiền chứng v à

không ai biết về việc các ngài an trú tại nơi ấy.

Sau khi hai vị đ ã trải qua mùa mưa

như vậy, hai vị bảo ông:

- Này Hiền hữu, nay chúng ta đ ã ở với

Hiền hữu xong, chúng ta muốn trở lại với bậc Ðạo sư.

Và hai vị từ giã lên đường. Ông chấp thuận,

c ùng với hai vị trên đường đi khất thực

v ào một làng đối diện nơi đ ã ở.

Sau buổi cơm, các vị Tỷ-kheo Trưởng lão rời làng ấy. Còn Tỷ-kheo Kokàlika từ

giã các vị xong, trở về nói với dân chúng:

- Này các cư sĩ, các ông thật giống loài thú hoang sơ. Ðây là hai vị Ðại

đệ tử của đức Phật đ ã an cư suốt ba

tháng trong một tinh xá đối diện nơi n ày,

thế mà các ông không hay biết gì cả, nay các ngài

đ ã đi rồi.

- Thưa Tôn giả, tại sao ngài không nói cho chúng tôi gì cả? Dân chúng

hỏi.

Rồi họ đem bơ tươi, v à thuốc men, y

phục đến gần các vị Trưởng l ão, kính lễ

các vị và nói:

- Bạch các Tôn giả, xin các Tôn giả tha thứ cho chúng con. Chúng con

không biết các ngài là Ðại đệ tử, chúng con chỉ

mới biết điều ấy do lời của Tôn giả Tỷ-kheo Kok àlika. Xin các ngài từ

bi đối với chúng con v à nhận các thuốc

men, y phục này.

Kokàlika cùng dân chúng đi theo các Trưởng l ão

vì ông suy nghĩ: "Các Tôn giả này sống rất đạm

bạc v à thiểu dục; các ngài sẽ không nhận các vật dụng này và rồi sẽ

đem chúng cho ta". Nhưng hai vị Trưởng l ão

không nhận các vật dụng ấy cho phần mình, cũng không cho Tỷ-kheo Kokàlika,

lý do là các vật ấy được cúng dường theo lời

xúi giục của một Tỷ-kheo.

Lúc ấy, các cư sĩ liền nói:

- Bạch các Tôn giả, nếu các ngài không nhận các món này, xin

đến đây lần nữa để ban phước cho chúng con.

Hai Trưởng lão chấp thuận hứa lời xong, rồi

đi về yết kiến bậc Ðạo sư.

Lúc bấy giờ Tỷ-kheo Kokàlika tức giận vì hai Trưởng lão không nhận vật

cúng dường cho phần mình mà cũng không đem cho

vị n ày. Còn hai vị Trưởng lão, sau khi ở lại một thời gian ngắn với

bậc Ðạo sư, liền chọn n ăm trăm Tỷ-kheo l àm

đo àn tùy tùng cho mỗi vị, rồi cùng cả

ngàn Tỷ-kheo này du hóa khất thực đến tận xứ sở

của Tỷ-kheo Kok àlika.

Các cư sĩ ra đường đón Tăng chúng v à

dẫn họ đến tinh xá trước kia, c ùng bày

tỏ lòng ngưỡng mộ hàng ngày đối với các vị.

Dân chúng cúng dường T ăng chúng cả kho lớn y

phục v à thuốc men. Các Tỷ-kheo đi khất

thực c ùng hai vị Trưởng lão phân phát y phục cho tất cả các Tỷ kheo

đ ã đến đây,

song không chia cho Kok àlika cái nào cả, và hai vị Trưởng lão cũng

không cho ông chút gì. Kokàlika không nhận được

y phục n ên bắt đầu phỉ báng mạ lỵ hai vị

Trưởng l ão:

- Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên thật tràn đầy

ác dục, trước kia đ ã không nhận các lễ vật cúng dường, nhưng nay lại

nhận hết. Chẳng có gì làm thỏa mãn hai vị này cả. Các vị không thương tưởng

đến kẻ khác.

Nhưng hai vị Trưởng lão nhận thấy ông đang

nuôi ác tâm đối với m ình nên các vị cùng

đám đồ chúng ra đi, các vị cũng không muốn trở lại d ù dân chúng van

nài các vị hãy ở lại thêm vài ngày nữa. Lúc ấy, một vị Tỷ-kheo trẻ hỏi:

- Hai vị Trưởng lão sẽ không ở lại đâu, n ày

các cư sĩ. Vị Tỷ-kheo khó tính của các ông không muốn các ngài ở lại

đây.

Sau đó, dân chúng đi đến gặp Tỷ-kheo Kok àlika

và hỏi:

- Thưa Tôn giả, chúng con được nghe nói Tôn

giả không muốn hai vị Trưởng l ão ở lại

đây. Xin h ãy đi ngay, hoặc l à

khuyên giải các ngài và đưa các ng ài trở

lại đây hoặc l à Tôn giả cũng

đi t ìm chỗ khác mà ở.

Vì sợ dân chúng, vị này đi thỉnh cầu các

Trưởng l ão. Các vị đáp:

- Này Hiền hữu, hãy đi về! Chúng ta không

trở lại đâu.

Thế là ông không thể thuyết phục hai vị, phải trở về tinh xá. Sau

đó, các cư sĩ hỏi ông các Trưởng l ão có

trở lại nữa không. Ông đáp:

- Ta không thể thuyết phục các ngài trở lại

được.

- Tại sao không, thưa Tôn giả?

Và họ bắt đầu suy nghĩ chắc hẳn không có

thiện Tỷ-kheo n ào muốn ở đó nữa, v ì

người này sống theo tà hạnh; và họ phải tống xuất ông

đi. Họ liền bảo:

- Thưa Tôn giả, xin đừng lại ở đây, chúng

con chẳng cung cấp g ì cho Tôn giả nữa

đâu.

Bị hội chúng làm ô nhục như vậy, vị ấy cầm bình bát,

đắp y v à đi

đến Kỳ Vi ên. Sau khi đảnh lễ bậc

Ðạo sư, ông nói:

- Bạch Thế Tôn, các Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên tràn

đầy ác dục, hai vị đang có ác dục chế ngự.

Bậc Ðạo sư đáp:

- Này Kokàlika, đừng nói vậy; n ày

Kokàlika, ông hãy có từ tâm đối với Xá-lợi-phất

v à Mục-kiền-liên, phải biết rằng đó l à

các thiện Tỷ-kheo.

Kokàlika nói:

- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn tin tưởng hai vị Ðại

đệ tử của Thế Tôn, c òn con thấy tận mắt hai vị

đang có ác dục, hai vị có những việc ri êng

tư trong lòng, hai vị ấy là các ác nhân.

Người ấy nói như vậy ba lần (mặc dù bậc Ðạo sư

đ ã ng ăn

cản), rồi đứng dậy ra đi. Ngay khi đang đi tr ên

đường, khắp thân thể ông mọc l ên các mụt

nhọt bằng hạt cải, sau lớn dần bằng hạt cây vilva chín muồi, vỡ ra, máu chảy

khắp người. Ông rên rỉ ngã xuống bên cổng ở tinh xá Kỳ Viên,

đau đớn đi ên cuồng. Bỗng có tiếng kêu

lớn vang dội đến c õi trời Phạm thiên:

- Kokàlika đ ã phỉ báng hai vị Ðại

đệ tử.

Rồi một vị Phạm thiên tên là Tudu, biết được

chuyện n ày, xuất hiện với ý định h òa

giải các Tỷ-kheo, liền bảo trong lúc đứng vững

tr ên không:

- Này Kokàlika, ông đ ã làm một việc

ác, vậy hãy đi giảng h òa với hai vị Ðại

đệ tử.

Người ấy hỏi:

- Hiền hữu là ai thế?

- Ta là Phạm thiên Tudu. Vị thần kia đáp.

Người này lại bảo:

- Ngài đ ã chẳng

được đức Thế Tôn tuy ên bố ngài là một vị

Bất Lai đó sao? Chữ ấy có nghĩa l à một

vị không trở lại đời n ày nữa. Ngài sẽ

trở thành một con quỷ trên đống phân đấy.

Ông lại mạ lỵ vị Ðại Phạm thiên như vậy. Vì không thể thuyết phục người

ấy theo lời khuyên của mình, vị Phạm thiên đáp:

- Ông sẽ bị hành hạ theo khẩu nghiệp của ông.

Sau đó, vị Thi ên thần ấy trở về cõi

an lạc của ngài. Còn Kokàlika chết đi liền tái

sinh v ào địa ngục Hoa sen. Việc người n ày

được tái sinh tại đó được vị Ðại Phạm

thiên chủ đầy oai thần Sahampati (Ta-b à

chủ) trình đức Như Lai v à bậc Ðạo sư kể

lại cho các Tỷ-kheo. Trong Chánh pháp đường,

Tăng chúng b àn luận về ác tâm của các người ấy:

- Này Hiền hữu, Kokàlika đ ã phỉ báng

Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Mục-kiền-liên và vì lời nói phát xuất từ

chính miệng kia mà vị ấy đ ã

đọa xuống Ðịa ngục Liên Hoa.

Bậc Ðạo sư bước vào và hỏi:

- Này các Tỷ-kheo, các ông đang nói chuyện g ì

trong lúc ngồi đây?

T ăng chúng tr ình Ngài. Ngài bảo:

- Này các Tỷ-kheo, đây không phải l à

lần đầu ti ên Kokàlika bị hủy hoại vì

chính khẩu nghiệp và bởi chính do miệng mình nên phải

đ ày đọa khổ

sở, m à trước kia cũng vậy.

Rồi Ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Một thuở nọ khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, vị Tế sư của vua có màu

da ng ă m ng ă m

đen v à mất hết cả hàm r ăng.

B à vợ của ông thông gian với một vị Bà-la-môn khác. Vị sau này cũng

giống như vị trước. Nhiều lần vị Tế sư cố tìm cách ng ăn

cản vợ m ình, nhưng không thể được. Rồi

ông suy nghĩ: " Ðấy là kẻ thù của ta, ta không thể chính tay giết

được, m à ta phải lập mưu kế giết nó

đi".

Thế là ông đến yết kiến vua v à tâu:

- Tâu Ðại vương, kinh thành của Ðại vương là kinh thành trọng yếu nhất

trong toàn cõi Diêm-phù- đề, Ðại vương là

vị vua cao trọng bậc nhất, nhưng dù Ðại vương là vị vua thủ lãnh, hoàng môn

phía nam của Ðại vương lại có điềm xấu, nó được

xây theo kiểu xui xẻo.

- Ðược rồi, này quốc sư, ta phải làm gì?

- Xin Ðại vương đem may mắn cho nó v à

chỉnh trang nó.

- Vậy phải làm gì đây?

- Ta phải hạ cổng cũ xuống, lấy loại gỗ mới có dấu hiệu may mắn, lập tế

đ àn cúng các vị thần canh giữ hoàng

thành rồi xây hoàng môn theo cách kết hợp tốt lành của các vì sao.

- Thế khanh hãy làm như vậy.

Vào thời ấy, Bồ-tát là một trang nam tử tên là Takkàriya

đang học tập với Tế sư n ày.

Bấy giờ, vị Tế sư ra lệnh hạ cổng thành cũ xuống làm cổng mới cho sẵn

sàng, khi đ ã xong xuôi, ông vào tâu

trình vua:

- Tâu Chúa thượng, cổng thành đ ã

xong, ngày mai lại có sự kết hợp tốt lành của các tinh tú; vậy trước khi

ngày mai trôi qua hết, ta phải làm tế lễ và dựng cổng thành mới.

- Ðược rồi, này quốc sư, phải cần tế lễ như thế nào?

- Tâu Chúa thượng, đại ho àng môn

đang được các đại thần linh chiếm cứ v à

bảo vệ. Vậy phải giết một Bà-la-môn có da ng ăm

ngă m đen v à không có r ăng,

thuần chủng cả hai b ên cha mẹ, lấy máu thịt vị

đó đem ra tế lễ, thân thể đặt phía dưới, v à

cổng dựng lên trên đó. Vị ấy sẽ đem lại vận may

cho Chúa thượng c ùng cả kinh thành này.

- Ðược lắm, này quốc sư, hãy tìm một Bà-la-môn như vậy mà giết

đi rồi dựng ho àng môn lên trên

đó.

Vị Tế sư rất hoan hỷ. Ông bảo:

- Ngày mai ta sẽ trừ khử được kẻ th ù

của ta rồi!

Lòng đầy hăng hái, ông trở về nh à,

nhưng không thể giữ yên cái lưỡi được, liền nói

ngay với vợ:

- Này mụ già xấu xí kia, rồi mụ sẽ còn ai để

hú hí nữa chứ? Ng ày mai ta sẽ giết tình lang của mụ và

đem tế lễ đấy!

- Tại sao ông muốn giết người vô tội?

- Ðức vua ra lệnh cho ta giết một người Bà-la-môn ng ăm

ngă m đen v à dựng cổng thành lên

người đó. C òn tình lang của mụ cũng ng ăm

ngă m đen n ên ta

định giết nó để tế lễ.

Bà vợ liền gởi cho tình quân một lá thư nhắn nhủ: "Chúng bảo

đức vua muốn giết một B à-la-môn da ng ăm

ngă m đen để tế lễ; vậy nếu ch àng

muốn cứu lấy mạng mình xin hãy lo đ ào

tẩu kịp thời, đem theo cả những người n ào

giống như chàng nữa".

Người kia làm theo như vậy, tin đó lan khắp

kinh th ành, và mọi người nào có màu da

đen đều tẩu thoát cả.

Vị tế sư không hề biết gì về việc kẻ thù đ ã

chạy trốn, sáng hôm sau vào yết kiến vua thật sớm và tâu:

- Tâu Chúa thượng, trong chỗ kia có một Bà-la-môn da ng ăm

ngă m đen, xin cho bắt nó lại.

Vua bảo vài người đến t ìm kẻ

đó, nhưng họ chẳng thấy ai cả, liền trở về

thông báo cho vua rằng kẻ ấy đ ã trốn thoát rồi, vua phán:

- Vậy hãy tìm nơi khác.

Họ lục soát khắp kinh thành nhưng chẳng tìm

được ai. Vua phán:

- Phải kiếm thật nhanh lên.

Họ đáp:

- Tâu Chúa thượng, ngoại trừ vị quốc sư, chẳng còn ai khác nữa.

Vua phán:

- Tế sư không thể đem ra giết được.

- Tâu Chúa thượng, Chúa thượng đ ã

phán bảo điều g ì vậy? Theo lời tế sư

này, nếu cổng thành không được dựng hôm nay, th ì

kinh thành sẽ gặp nguy hiểm. Khi vị tế sư giải thích việc này, ông ta

để ng ày này trôi qua, thì giờ tốt không

trở lại nữa cho đến cuối năm. Kinh th ành

này không có cổng suốt một n ăm r òng là

cơ hội ngàn vàng để cho kẻ th ù chúng ta.

Chúng ta phải giết một người nào đó, v à

làm tế lễ nhờ sự trợ lực của một vị Bà-la-môn hiền trí rồi dựng cổng thành.

- Nhưng có vị Bà-la-môn nào đủ t ài

trí như sư phụ ta ch ăng?

- Tâu Chúa thượng, có đồ đệ của vị ấy, một

nam tử t ên là Takkàriya, xin hãy phong vị ấy làm tế sư và cử hành lễ

cát tường này.

Vua liền triệu vị nam tử ấy vào, ban cho chàng vinh hiển và phong chàng

làm tế sư, rồi ra lệnh làm mọi sự như đ ã

nói.

Vị nam tử ấy đi đến ho àng môn với một

đám đông theo sau. Nhân danh ho àng

đế, họ trói vị tế sư cũ v à

đem đến. Bậc Ðại sĩ bảo

đ ào một cái hố, tại nơi hoàng môn sắp

được dựng l ên, che một cái lều trên

đó, c ùng với sư phụ bước vào lều. Vị tế

sư ấy nhìn cái hố, thấy không lối nào thoát, liền bảo bậc Ðại sĩ:

- Mục đích của ta đ ã thành

đạt, ta thật l à một kẻ ngu si, ta

đ ã không biết giữ mồm giữ miệng cho yên,

mà lại hấp tấp nói với mụ đ àn bà

độc ác kia. Ta đ ã tự sát bằng chính binh

khí của ta.

Rồi ông ngâm vần kệ đầu:

1. Ta nói đi ên cuồng tựa ễnh ương

Trong rừng gọi rắn: ngã nhào luôn

Vào trong hố, thật, Tak-ka hỡi,

Lời nói phi thời phải tiếc thương!

Sau đó vị nam tử đáp lời ông v à ngâm

vần kệ này:

2. Người nói phi thời phải diệt vong

Như vầy, than khóc với đau buồn,

Xin thầy tự trách mình nay phải

Nhận lỗ đ ào này, ấy hố chôn.

Cùng với lời ấy, ngài nói thêm:

- Thưa sư phụ, không phải chỉ mình sư phụ, mà nhiều người khác nữa,

đ ã phải chịu khổ

đau v ì không biết phải giữ lời nói cho

kỹ.

Nói vậy xong, ngài kể một chuyện quá khứ để

minh chứng điều đó.

*

Chuyện kỹ nữ Kàli

Chuyện kể rằng ngày xưa tại Ba-la-nại, có một cô kỹ nữ sang trọng tên là

Kàli, nàng có một người anh tên là Tundila. Trong một ngày, Kàli có thể kiếm

cả ngàn đồng tiền. Bấy giờ Tundila l à

một gã trác táng, nghiện rượu, mê cờ bạc, hễ nàng cho gã tiền và gã có

được bao nhi êu tiền

đều phung phí hết. N àng cố sức ng ăn

cản g ã nhưng không thể được.

Một hôm gã thua bài súc sắc, phải mất ngay cả áo quần

đang mặc trong m ình. Gã vừa mang quanh

mình một tấm khố rách vừa đi đến nh à em

gái. Nhưng nàng đ ã ra lệnh cho các tỳ nữ

rằng nếu Tundila có đến th ì bọn họ không

được cho g ã cái gì cả mà phải lôi cổ gã

quẳng ra ngoài. Vì thế, họ đ ã làm

đúng như vậy. G ã liền

đứng lại b ên thềm và kêu than.

Bấy giờ, có con trai một phú thương nọ, thường vẫn cho Kàli cả ngàn

đồng tiền, hôm ấy t ình cờ gặp gã, liền

hỏi:

- Tại sao lại khóc lóc vậy, Tundila?

Gã đáp:

- Thưa công tử, tôi đ ã thua bài súc

sắc, đến cầu xin em tôi, bọn nữ tỳ lại nắm lấy

cổ tôi lôi ra ngo ài.

- Ðược rồi, cứ ở lại đây, ta sẽ nói chuyện

với em gái cậu.

Chàng vào nhà bảo:

- Anh của nàng đang đứng đợi kia, chỉ mặc

khố rách che thân, tại sao n àng không cho anh áo quần mặc?

Nàng đáp:

- Ðúng vậy, thiếp chẳng muốn cho gì cả, nếu chàng thích anh ta thì chàng

cho đi.

Bấy giờ, trong ngôi nhà mang tai tiếng xấu xa kia, có tục lệ như vầy: "Cứ

mỗi một ngàn đồng tiền nhận được, th ì n ăm

trăm đồng được d ùng cho bọn nữ nhân, n ăm

trăm đồng để mua sắm xi êm y, dầu thơm và vòng hoa. Bọn khách làng

chơi đến đây nhận áo quần mặc v ào, ở lại

đ êm tại đó,

rồi ng ày hôm sau cởi áo quần ấy ra trả, mặc quần áo của mình và ra

đi. Trong dịp ấy, con trai vị phú thương mặc áo

quần m à bọn họ đưa cho ch àng, và

đem áo quần của ch àng cho Tundila. Gã ấy

mặc áo quần vào, vừa la hét vừa chạy đến tửu

quán.

Nhưng nàng Kàli ra lệnh cho bọn nữ tỳ rằng khi chàng trai ra về ngày hôm

sau, họ phải lấy lại áo quần. Vì vậy, khi chàng bước ra, bọn họ chạy

đến từ khắp nơi như bọn cướp, lột hết áo quần

tr ên thân của chàng đến trần như nhộng,

rồi bảo:

- Này công tử, ra về đi!

Họ tống khứ chàng ta như vậy. Chàng ra đi

trần truồng, bị mọi người chế diễu. Ch àng ta hổ thẹn than khóc:

- Ðây chính là việc ta gây ra vì ta không giữ

được mồm miệng!

Ðể làm sáng tỏ vấn đề n ày, bậc Ðại sĩ

ngâm kệ thứ ba:

3. Tại sao lại hỏi chuyện Kà-li

Cư xử thế nào với Tuấn-di?

Gặp phải tay em chàng, hãy ngắm,

Áo quần ta đ ã biến bay

đi,

Ta đ ành trần trụi, như tai vạ

Xảy với thầy, sao thật quái kỳ!

*

Chuyện chim đuôi chĩa

Một người khác lại kể chuyện này: Do sự bất cẩn của người ch ăn

d ê, hai con dê đực đánh nhau tr ên

đồng cỏ ở Ba-la-nại. Trong lúc đang hăng máu,

có một chim đuôi chĩa nghĩ thầm: "Chúng sẽ vỡ đầu ra m à chết mất, ta

phải ng ăn cản chúng mới được!" Thế l à nó

cố gắng ng ăn cản bằng cách k êu la:

- Chú ơi, đừng đánh nhau nữa!

Nó chẳng nghe chúng nói gì đáp lại. Ngay

giữa trận đánh, nó nhảy l ên lưng trước, rồi sau nhảy lên

đầu, van xin chúng dừng lại nhưng chẳng được g ì.

Cuối cùng, nó kêu to:

- Thế thì cứ đánh nhau đi, nhưng giết tôi

trước đ ã!

Và nó đứng chen v ào giữa hai cái

đầu d ê. Chúng vẫn tiếp tục húc nhau v ăng

ra xa. Con chim bị nghiền nát như thể bởi cái ch ày, và chịu hủy hoại

do chính hành động của nó.

Ðể giải thích việc này, bậc Ðại Sĩ ngâm vần kệ thứ tư:

4. Chim đuôi chĩa vội đến b ên sườn

Hai chú dê rừng lúc đả thương,

Dù chẳng dự phần trong trận đấu,

Hai đầu d ê nghiến nát như tương

Ngay liền tại chỗ, như thầy vậy,

Số phận chim kỳ quái lạ thường!

*

Chuyện cây cọ dừa

Một chuyện khác nữa: Gần một cây cọ dừa kia, bọn ch ăn

b ò cất giấu nhiều của cải. Dân chúng Ba-la-nại thấy cây

đó liền cho một người leo l ên cây hái

quả. Trong lúc gã đang ném quả xuống th ì

một con rắn hổ đen b ò ra từ một tổ kiến,

bắt đầu leo l ên cây, bọn người

đứng phía dưới cố xua đuổi nó bằng gậy,

đá..v.v. nhưng không được, k êu la lớn gọi người kia:

- Con rắn đang b ò lên cây!

Gã ấy kinh hoảng hét lớn. Những người đứng

dưới lấy tấm vải thô cầm bốn góc, bảo g ã kia ngã vào tấm vải. Gã gieo

mình xuống, rơi vào chính lòng tấm vải giữa bốn người kia nhanh như gió,

khiến bọn người ấy không giữ gã được phải đập

đầu v ào nhau mà chết.

Ðể giải thích việc này, bậc Ðại sĩ ngâm vần kệ thứ n ăm:

5. Bốn người muốn cứu mạng anh chàng,

Bốn góc cầm chung một tấm màn,

Bọn chúng vỡ đầu ra chết tiệt,

Như thầy, thật quái lạ kinh hoàng!

*

Chuyện con Dê cái

Ðám người khác lại kể chuyện này: Một bọn ăn

trộm d ê sống ở Ba-la-nại, một đ êm

kia bắt được một con d ê cái,

định l àm một bữa chè chén trong rừng. Ðể

dê khỏi kêu, chúng bịt mõm mó và cột nó vào một bụi tre. Hôm sau, khi chúng

đến giết con d ê, chúng quên mất con dao

phay.

Chúng bảo nhau:

- Này, ta hãy giết dê rồi nấu. Hãy đem con

dao phay ra đây!

Nhưng chẳng ai có dao.

- Nếu không có dao thì ta không thể nào ăn

thịt nó được, d ù ta có giết chết nó. Thôi thả nó ra. Việc này cũng do

phước phần nào đó của con d ê

đây!

Vì thế, chúng thả dê ra. Bấy giờ, tình cờ có người thợ tre

đến trước đó lấy một bó tre, g ã

để qu ên một con dao của người

đan rổ, giấu dưới đám lá, định khi trở về sẽ

lấy d ùng. Nhưng con dê tưởng mình đ ã

thoát thân, nên bắt đầu vui chơi nhảy nhót dưới

bụi tre, lấy chân sau đánh đá l àm sao mà con dao rớt ra! Ðám

ăn trộm nghe tiếng dao rớt, chạy đến nơi thấy

việc như vậy, vô c ùng mừng rỡ, thế rồi chúng giết dê

ăn thịt.

Như vậy để giải thích việc con d ê

đ ã tự giết mình bằng chính hành

động của nó như thế n ào, bậc Ðại sĩ ngâm

vần kệ thứ sáu:

6. Dê cái cột trong bụi trúc dày

Nhảy quanh, tìm thấy một dao phay,

Cổ dê, chúng cắt bằng dao ấy,

Kỳ quái, dê kia giống hệt thầy!

Sau khi kể chuyện này, ngài giải thích:

- Song còn những kẻ dè dặt trong lời nói, biết giữ gìn ngôn ngữ, thường

thoát khỏi số phận chết chóc đau thương.

Rồi ngài kể một chuyện thần tiên của loài Kinnara (Khẩn-na-la: các ca

thần của Sakka Thiên chủ).

*

Chuyện Ðôi Ca thần

Chuyện kể rằng, một thợ s ăn sống ở

Ba-la-nại, một bữa nọ v ào vùng Tuyết Sơn bằng cách nào

đó đ ã bắt

được một cặp ti ên núi, gồm một tiên nữ và lang quân của nàng, rồi

đem về dâng vua. Vua chưa bao giờ thấy lo ài

hữu tình này cả. Vua hỏi:

- Này thợ s ăn, chúng l à loài gì?

- Tâu Chúa thượng, chúng có thể hát êm tai và nhảy múa rất

đẹp mắt, không có con người n ào có thể

ca múa hay bằng chúng được.

Vua ban thưởng gã thợ s ăn ấy rất hậu hỉ, rồi

ra lệnh cho đôi ti ên ca múa. Song hai vị nghĩ: "Nếu chúng ta không

diễn tả đầy đủ ý nghĩa b ài ca, thì bài

ca sẽ thất bại, hội chúng sẽ mạ lỵ và làm thương tổn chúng ta; và hơn nữa,

người nào nói nhiều thường hay nói dối". Vì thế, sợ phải dối trá này kia,

hai vị không múa hát dù vua nài nỉ thế nào cũng mặc. Cuối cùng, vua nổi cơn

thịnh nộ và bảo: - Hãy giết bọn này đem nấu v à

dâng cho ta dùng.

Vua ban lệnh này qua vần kệ thứ bảy:

7. Bọn này đây chẳng phải l à tiên,

Cũng chẳng nhạc thần của cõi Thiên,

Là thú do người kia dẫn đến

Vì mong kiếm một túi đầy tiền

Vậy bây hãy nấu, ta dùng tối

Một đứa, rồi mai một đứa liền!

Lúc ấy tiên nữ nghĩ thầm: "Bây giờ vua nổi giận, chắc chắn ngài sẽ giết

chúng ta. Vậy đây l à lúc nên nói", và

lập tức nàng ngâm vần kệ:

8. Mười vạn khúc ca biểu diễn lầm

Chẳng bằng một mảy khúc kỳ âm,

Hát tồi có tội, nên tiên chúng

Chẳng dám làm, không bởi hận tâm.

Vua rất hoan hỷ vì tiên nữ, lập tức đáp vần

kệ:

9. Hãy để n àng

đi, bởi nói rồi,

Cho nàng thấy lại Tuyết Sơn thôi,

Song bây hãy bắt chàng kia giết,

Bảo nấu, ta dùng bữa sáng mai!

Trong lúc vị tiên kia suy nghĩ: "Nếu ta giữ yên mồm, chắc chắn vua sẽ

giết ta, vậy đây l à lúc phải nói". Và

chàng ngâm vần kệ nữa:

10. Trâu bò trông cậy đám mây trời,

Trông cậy bò trâu, ấy mọi người,

Còn phận tôi nương nhờ Chúa thượng,

Hiền thê này lại dựa vào tôi,

Xin ngài đoán số phần ch àng nọ

Trước lúc chàng quay lại núi đồi!

Khi chàng đ ã nói lời này xong, chàng

ngâm hai vần kệ nữa, để nói r õ cho vua

rằng hai vị yên lặng không phải vì không muốn tuân lệnh vua, song vì hai vị

nghĩ rằng nói là sai lầm:

11. Khác người, khác cách, tấu Minh quân,

Tránh lỗi cho mình thật khó kh ăn,

Ðiều được kẻ n ày khen tốt

đẹp,

Kẻ kia lại thấy đó sai lầm.

12. Có người cho tất cả đi ên cuồng

Tưởng tượng mỗi người vẫn khác luôn,

Thật khác, nhiều người nên lắm ý,

Ý người chẳng có luật thông thường.

Vua phán:

- Chàng ta nói đúng sự thật, đó quả l à

một vị tiên khôn ngoan.

Vì thế vua rất hoan hỷ, ngâm vần kệ cuối cùng:

13. Ðôi vợ chồng tiên giữ lặng thinh,

Nay chàng cất tiếng bởi hồn kinh,

Bình an, hạnh phúc, tha chàng bước,

Vẫn biết lời hay tạo phước lành.

Sau đó, vua đặt đôi ti ên núi vào

chiếc lồng vàng, truyền đưa người thợ săn v ào,

bảo gã thả hai vị ra ở nơi trước kia gã đ ã

bắt.

Bậc Ðại sĩ nói thêm:

- Này sư phụ, đôi ti ên núi biết phòng

hộ lời nói như trên, và nhờ nói đúng thời n ên

được thả tự do v ì nói n ăng

khéo léo; c òn thầy do nói n ăng sai lạc m à

phải chịu đại họa.

Rồi sau khi so sánh cho vị tế sư thấy rõ như thế, ngài an ủi ông:

- Xin sư phụ đừng sợ, con sẽ cứu mạng sư

phụ.

- Còn có cách nào ch ăng? - Vị kia hỏi: - L àm

thế nào con cứu ta được nữa?

Ngài đáp:

- Vì chưa đến đúng lúc các h ành tinh

gặp gỡ.

Ngài để cho ng ày ấy trôi qua, vào

canh giữa đ êm (canh ba), liền

đem đến đó một con d ê

đ ã chết và nói:

- Xin thầy muốn đi đâu th ì

đi m à sinh sống.

Rồi ngài thả cho ông đi ngay, chẳng hề có ai

hay biết g ì cả. Còn ngài làm tế lễ với thịt dê ấy, xong dựng cổng

thành trên đó.

*

Khi bậc Ðại sư đ ã chấm dứt Pháp

thoại, Ngài bảo:

- Này các Tỷ-kheo, đây không phải l à

lần đầu ti ên Kokàlika bị hủy hoại vì

chính lời nói của mình, mà ngày xưa cũng thế nữa.

Sau đó, Ng ài nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy Kokàlika là người tế sư da ng ăm

ngă m đen, c òn Ta là hiền giả

Takkàriya.

-ooOoo-

482. Chuyện lộc vương (Tiền thân Ruru)

Thần tâu Hoàng thượng biết tin nai..,

Chuyện này bậc Ðạo sư kể trong lúc trú tại Trúc Lâm về Devadatta (Ðề-bà- đạt-đa).

Có người bảo vị ấy:

- Bậc Ðạo sư đem lại thật nhiều lợi ích cho

hiền hữu, n ày hiền hữu Ðề-bà- đạt-đa.

Hiền hữu đ ã thọ Ðại giới từ đức Như Lai,

Hiền hữu đ ã học với ngài Tam Tạng Kinh

điển, Hiền hữu đ ã nhận được nhiều lợi

dưỡng v à danh vọng.

Khi những điều như vậy được nói, người ta

thường nghe thuật lại một cách đáng tin cậy l à vị ấy sẽ trả lời:

- Không đâu hiền hữu, bậc Ðạo sư

chẳng làm gì lợi lạc cho ta dù chỉ bằng một cọng cỏ. Ta

đ ã thọ Ðại giới của chính ta, ta tự học

Tam Tạng kinh điển, ta nhận được lợi dưỡng v à

danh vọng do từ bản thân ta chứ không nhờ ai cả.

Trong Chánh pháp đường, Tăng chúng nói về

việc n ày:

- Ðề-bà- đạt-đa thật l à vong ân bội

nghĩa, này Hiền hữu, và lại quên cả thân tình.

Bậc Ðạo sư bước vào và muốn biết T ăng chúng

đang b àn luận gì khi ngồi đó. Các vị tr ình

với Ngài. Ngài bảo:

- Này các Tỷ-kheo, nay không phải là lần đầu

Ðề-bà- đạt-đa vong ân bội nghĩa, m à

trước kia kẻ ấy đ ã vô ơn. Thuở xưa, nó

đ ã được Ta

cứu mạng, nhưng nó không biết công đức to lớn của Ta.

Nói vậy xong, Ngài kể một câu chuyện quá khứ.

*

Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, một vị

đại phú thương có t ài sản tám tr ăm

triệu, chỉ sinh được một con trai, đặt t ên là Mahà-dhanaka hay Ðại

phú ông.

Nhưng ông không dạy cho con việc gì cả, ông bảo:

- Con trai ta sẽ thấy việc học làm mệt mỏi tấm thân mà thôi.

Ngoài việc múa ca, ăn uống, tiệc t ùng

cậu trai chẳng biết việc gì cả. Khi cậu khôn lớn, cha mẹ cậu cưới cho cậu

một cô gái xứng đôi với cậu, rồi cả hai vị qua

đời. Sau khi song thân mất đi, cậu bị đám người chơi bời, phóng đ ãng,

rượu chè, cờ bạc vây quanh nên đ ã tiêu

hết tài sản một cách hoang phí. Lúc đó cậu phải

vay tiền rồi không trả lại nổi, bị chủ nợ thúc đ òi. Cuối cùng cậu

nghĩ: "Ðời ta còn nghĩa lý gì với ta nữa? Ta

đang bị biến đổi th ành một con người khác rồi, thà chết sướng hơn".

Sau đó cậu bảo đám chủ nợ.

- Hãy đem các giấy nợ đến đây, ta có cả một

gia bảo chôn ở bờ sông Hằng, các ông sẽ được phần đó.

Họ cùng đi với cậu. Cậu l àm như thể

chỉ chỗ đây đó l à nơi chôn gia sản (song

lúc đó cậu có ý định nhảy xuống sông trầm m ình)

và cuối cùng cậu ta nhảy xuống sông Hằng. Trong lúc nước cuốn xoáy cậu

đi ra, cậu k êu to lên

đầy kinh hoảng.

Lúc bấy giờ, bậc Ðại sĩ sinh làm một con Nai chúa và sau khi rời

đ àn, hiện

đang trú ẩn tại một khúc sông, chỉ ri êng mình Nai trong khóm cây

Sà-la chen lẫn đám xo ài trổ hoa rất

đẹp. Lớp da tr ên mình Nai có màu vàng

óng ả láng mượt, bàn chân trước và bàn chân sau

đỏ như thể nhuộm son, cái đuôi giống như cái đuôi b ò rừng, cặp sừng

như hình xoắn ốc bằng bạc, đôi mắt Nai tựa hồ

đôi hạt minh châu lóng lánh, khi Nai quay mồm về hướng n ào thì trông

chẳng khác quả cầu bằng vải đỏ. V ào

khoảng nửa đ êm, Nai nghe tiếng kêu thê

thảm ấy, liền nghĩ thầm: "Ta nghe tiếng người kêu. Trong lúc ta

đang sống đây, nó chẳng phải chết! Ta sẽ cứu

mạng nó".

Vừa rời khỏi chỗ ẩn nấp trong bụi cây, ngài bước xuống bờ sông và gọi to

bằng giọng nói an ủi:

- Này người kia, đừng sợ, ta sẽ cứu anh

sống.

Rồi Nai rẽ dòng nước, mang cậu lên bờ đến

tận nơi nai trú ẩn. Suốt hai ba ng ày liền, Nai s ăn

sóc v à cho cậu ăn trái cây rừng. Sau đó,

Nai bảo cậu:

- Này người kia, ta sẽ mang anh ra khỏi rừng và

đặt anh tr ên

đường cái đến Ba-la-nại, anh sẽ về b ình

an. Song ta yêu cầu anh đừng bị l òng

tham tiền bạc lôi kéo mà báo cho vua, hay một người quyền thế nào

đó biết l à trong chỗ kia một con Nai

vàng óng cần phải bắt đấy.

Người kia hứa giữ lời và bậc Ðại sĩ, sau khi

được hứa rồi, liền để cậu tr ên lưng và

đưa ra đường cái hướng về th ành Ba-la-nại rồi trở về

đường cũ.

Vào ngày cậu ta đi về th ành

Ba-la-nại, bà hoàng hậu mệnh danh Khemà (Thái Hòa) nằm mộng về sáng thấy một

con Nai màu hoàng kim thuyết pháp cho bà, nên bà suy nghĩ: "Nếu không có một

Nai thần như thế này thì chắc hẳn ta đ ã

không nằm mộng thấy ngài. Hẳn nhiên phải có một vị như vậy, nên ta muốn

thông báo việc này với đức vua".

Sau đó, b à

đến yết kiến vua v à thưa:

- Tâu Ðại vương, thần thiếp đang mong mỏi

được nghe b ài thuyết Pháp của một con Nai hoàng kim. Nếu làm

được việc ấy, thiếp mới sống, nếu không, thiếp

chẳng thiết sống nữa.

Vua an ủi bà và bảo:

- Nếu có một con vật như thế sống trong cõi trần gian này thì ái khanh sẽ

toại nguyện.

Rồi vua triệu các Bà-la-môn vào và hỏi:

- Có loài vật nào như loài Nai hoàng kim ch ăng?

- Tâu Chúa thượng, có.

Vua liền đặt một túi tiền mười ng àn

đồng đựng b ên trong một cái hộp bằng

vàng lên lưng một con voi đ ã

được trang điểm thật lộng lẫy: "Bất kỳ ai được

tin về một con Nai ho àng kim thì vua sẽ chấp thuận trao cho người

đó túi tiền mười ng àn

đồng tiền v àng này cùng chiếc hộp bằng

vàng và cả con voi ấy nữa hoặc một con khác tốt

đẹp hơn". Vua ra lệnh khắc một vần kệ tr ên một phiến vàng, giao cho

một viên quan trong triều và bảo vị ấy nhân danh vua hát vần kệ ấy lên giữa

dân chúng toàn thành. Sau đó, vua ngâm vần kệ

đầu trong chuyện Tiền thân n ày:

1. Ai mang tin báo trẫm về Nai,

Tối thượng Lộc vương của cả loài?

Ai được trẫm ban phần thưởng quý:

Ngôi làng tuyệt hảo, gái xinh tươi?

Viên triều thần mang phiến vàng ấy đi, công

bố khắp kinh th ành. Vừa lúc ấy, con trai của vị phú thương

đi v ào Ba-la-nại, khi nghe lời công bố

ấy, cậu đến gần vi ên quan và nói:

- Tiểu sinh có thể đưa tin về một con nai

như vậy, các ng ài hãy dẫn tiểu sinh vào yết kiến

đức vua.

Viên quan liền xuống voi, dẫn cậu vào yết kiến vua và tâu:

- Tâu Chúa thượng, người này có thể đưa tin

tức tr ình Chúa thượng về con Nai kia.

Vua phán:

- Có đúng như vậy chăng, người kia?

Cậu đáp:

- Tâu Ðại vương, quả đúng như vậy, xin

Ðại vương cho tiểu thần vinh dự đó.

Và cậu ngâm vần kệ thứ hai:

2. Thần tâu Hoàng thượng biết tin Nai,

Tối thượng Lộc vương của cả loài,

Xin Ðại vương ban phần thưởng quí:

Ngôi làng tuyệt hảo, gái xinh tươi!

Vua rất hoan hỷ khi nghe những lời này của tên phản bạn:

- Này mau lên! - Vua phán: - Phải tìm con Nai này ở

đâu thế?

Gã đáp:

- Tâu Chúa thượng, ở chỗ như vầy.

Và gã chỉ rõ đường đi. C ùng một

đo àn tùy tùng

đông đảo, vua ra lệnh t ên phản bội dẫn

ngài đến nơi ấy, rồi g ã bảo:

- Xin ra lệnh cho đo àn quân sĩ dừng

lại.

Khi quân sĩ đ ã

được lệnh dừng, g ã chỉ tay nói tiếp:

- Nơi có con Nai vàng ánh ở chốn đằng xa xa

kia k ìa.

Và gã ngâm vần kệ thứ ba:

3. Bụi cây xoài ở phía đ àng xa,

Cùng đám S à-la nở rộ hoa,

Ðất tựa yên chi màu đỏ thắm,

Nai này có thể được t ìm ra.

Khi vua nghe những lời này, ngài bảo các cận thần:

- Ðừng để Nai chạy thoát, m à phải lập

tức bủa vây quanh bụi cây này, còn binh sĩ cầm binh khí trong tay.

Họ làm theo lệnh ấy và đồng thanh la lớn.

Vua c ùng một số người khác đứng ri êng

ra, song gã đó cũng không đứng xa mấy. Bậc

Ðại sĩ nghe tiếng kêu ấy, nghĩ thầm: "Ðây là tiếng thét của một

đo àn người

đông đảo, vậy ta phải đề ph òng họ mới

được".

Ngài đứng l ên và khi nhìn cả một

đo àn người, ngài nhận thấy nơi vua

đứng. "Nơi n ào vua

đứng", ng ài nghĩ thầm, "ta sẽ

được b ình an, vậy ta phải

đến đó". Rồi ng ài chạy về phía vua. Khi

vua thấy ngài chạy đến, liền bảo:

- Một con vật mạnh như voi có thể quật mọi thứ trên

đường đi của nó. Ta muốn giương cung l ên

dọa con nai này. Nếu nó chạy, ta sẽ bắn cho nó yếu

đi rồi ta mới bắt nó được.

Sau đó vua giương cung l ên ngay trước

mặt Bồ-tát.

Ðể giải thích việc này, bậc Ðạo sư ngâm đôi

vần kệ:

4. Nai tiến lên: cung đ ã

được giương,

Mũi tên nằm ở sợi dây trương

Ðằng xa, vì vậy Nai kêu lớn

Ngay lúc Nai nhìn thấy Ðại vương:

5. Ðại vương, Chúa tể của vương xa,

Xin đứng y ên và chớ bắn ta,

Ai đ ã mang tin Hoàng thượng biết

Nơi này, Nai sẽ được t ìm ra?

Vua say mê giọng ngọt như mật của ngài, liền thả cung

đứng y ên chiêm ngưỡng ngài. Lúc ấy bậc

Ðại sĩ bước lên chỗ vua, vừa nói chuyện vui vẻ với vua và

đứng một b ên. Cả

đám t ùy tùng cũng hạ binh khí xuống,

bước lên vây quanh vua. Vào lúc ấy, bậc Ðại sĩ hỏi vua với giọng êm ái như

tiếng chuông vàng rung nhè nhẹ:

- Ai đem tin đến cho ng ài rằng nơi

đây sẽ t ìm

được Nai v àng?

Vừa lúc ấy, con người gian ác kia bước lại gần và

đứng nghe lỏm. Vua chỉ g ã và nói:

- Ðó là người báo tin cho trẫm.

Rồi vua ngâm vần kệ thứ sáu:

6. Kẻ ác kia, bằng hữu của ta,

Con người đang đứng ở đằng xa,

Mang tin, nó đ ã cho ta biết

Rằng ở đây Nai được thấy m à.

Nghe vậy, bậc Ðại sĩ trách mắng người bạn phản bội kia, và ngâm vần kệ

thứ bảy nói với vua:

- 7. Nhiều người ở cõi thế gian này,

Tục ngữ thường hay nói đúng thay:

"Thà vớt gỗ trôi sông còn tốt,

Hơn là cứu một kẻ như mầy!".

Khi vua nghe lời kệ này, liền ngâm vần kệ khác:

8. Muốn trách người có thể hỏi Nai?

Là chim, là thú hoặc là ai?

Lòng ta đầy nỗi lo vô hạn

Khi tiếng Nai nghe giống tiếng người!

Ðến đây, bậc Ðại sĩ

đáp lại:

- Tâu Ðại vương, ta không trách một thú vật hay chim chóc nào cả, mà ta

trách một người.

Ðể giải thích việc này, ngài ngâm vần kệ thứ chín:

9. Ta cứu gã kia, đ ã một lần

Khi gần như gã phải chìm dần

Trên dòng chảy xiết dìm thân gã,

Vì đó, nay đ ành phải khổ thân;

Ngài cứ đi c ùng phường

độc ác,

Ngày sau chắc chắn sẽ ăn năn.

Khi vua nghe vậy liền nổi giận lôi đ ình

với gã kia. Vua phán:

- Sao? Ngươi không nhìn nhận công đức của ng ài

sau một việc cứu vớt đầy nhân từ như vậy ư? Ta

muốn bắn chết g ã kia ngay.

Vua liền ngâm vần kệ thứ mười:

10. Ta sẽ đâm t ên bốn cánh này

Xuyên vào tim nó, bỏ thân ngay!

Ác nhân này đ ã

đầy tâm phản

Chẳng đội ơn sâu cứu giúp vầy!

Lúc ấy, bậc Ðại sĩ suy nghĩ: "Ta không muốn nó chết vì ta", nên ngài ngâm

vần kệ thứ mười một:

11. Người ngu đáng thẹn, tấu Minh quân,

Song việc giết người, bậc thiện nhân,

Chẳng tán thành, xin tha kẻ khốn,

Và ban cho gã thưởng toàn phần

Những gì ngài hứa, còn ta sẽ

Phục vụ Quân vương những lúc cần.

Vua hoan hỷ khi nghe lời này nên ngâm vần kệ tiếp

để tán thán ng ài:

12. Nai này quả thật có lòng nhân,

Không trả hận sân với hận sân,

Tống gã hèn ngay! Ta thưởng nó

Làm tròn lời hứa đ ã từng ban

Còn Nai đi đến nơi t ùy ý,

Xin chúc ngài luôn được vạn an!

Nghe lời này, bậc Ðại sĩ đáp:

- Tâu Ðại vương, người ta có thể miệng nói một

đường m à làm một nẻo.

Và ngài ngâm hai vần kệ để giải thích điều

đó:

13. Tiếng loài sơn cẩu, tiếng chim muông,

Thường cũng dễ dàng được cảm thông,

Còn tiếng người đời, tuy r õ thế,

Vô cùng khó hiểu, tấu Quân vương!

14. Con người thường nghĩ: "Bạn thân mình,

Quyến thuộc là đây, bạn chí t ình".

Tuy thế, tình thân thường biến mất,

Oán thù, c ăm hận lại dần sinh.

Khi vua nghe lời này, ngài đáp:

- Này Lộc vương! xin đừng nghĩ rằng ta thuộc

loại người như vậy. V ì ta quyết sẽ không chối từ

đặc ân m à ta

đ ã ban cho ngài, dù ta có mất cả quốc

độ v ì chuyện

đó. H ãy tin tưởng vào ta.

Rồi vua cho ngài chọn điều ước.

Bậc Ðại sĩ nhận đặc ân n ày và ước

mong rằng tất cả các loài vật từ chính ngài trở

đi đều được b ình an thoát khỏi mọi tai họa. Vua thuận cho ngài

điều ước ấy, rồi đem ng ài về thành

Ba-la-nại và sau khi trang hoàng cả kinh thành lộng lẫy, lại tô

điểm luôn cả bậc Ðại sĩ nữa, vua mời

ngài thuyết Pháp cho bà chánh hậu, sau đó l à

vua và triều đ ình nghe bằng thứ tiếng

của loài người ngọt ngào như mật. Ngài khuyến giáo vua hành trì Thập vương

pháp (mười đức tính của vị minh quân) v à

khích lệ hội chúng đông đảo ấy xong, liền trở

về chốn núi rừng, nơi ng ài sống chung với bầy nai.

Vua ra lệnh đánh trống khắp kinh th ành

cùng lời loan báo:

- Hoàng thượng bảo vệ mọi loài thú vật.

Từ đó về sau, không ai dám giơ tay giết hại

thú vật hay chim muông cả.

Nhưng nhiều đ àn nai phá hoại mùa màng

của người và không ai đủ sức xua đuổi chúng đi.

Một đám đông tụ tập trước sân chầu, k êu than với vua.

Ðể làm sáng tỏ việc này, bậc Ðạo sư ngâm vần kệ sau:

15. Dân thành thị theo với tiện dân,

Ðều đi thẳng đến tấu vương quân:

"Ðàn nai ăn hết m ùa màng cả,

Chúa thượng, việc này phải cản ng ăn".

Nghe vậy, vua ngâm đôi vần kệ:

16. Dân chúng dù mong muốn hoặc không,

Ví dù đất nước trẫm ti êu vong,

Trẫm không thể hại đ àn nai

được,

Trẫm hứa cho nai sống vẹn toàn.

17. Thần dân có thể bỏ rơi ta,

Hủy bỏ vương quyền của thế gia,

Lời ước ta đ à ban Lộc chúa

Ta không hề chối bỏ đâu m à.

Dân chúng nghe lời vua phán bảo, thấy mình không thể nói gì

được nữa, đ ành ra về. Lời vua phán lan

ra khắp nơi, bậc Ðại sĩ nghe được tin ấy, liền

tập hợp cả đ àn nai lại, và ra lệnh cho chúng:

- Từ nay về sau, các con không được phá hoại

m ùa màng của loài người nữa.

Ngài đ ã gởi thông báo cho dân chúng

hay rằng mỗi người phải dựng một tấm bảng hiệu lên vùng

đất của m ình.

Dân chúng làm theo, và nhờ dấu hiệu ấy, cho

đến nay, lo ài nai không phá hoại mùa màng nữa.

*

Khi bậc Ðạo sư đ ã chấm dứt Pháp thoại

này, Ngài bảo:

- Này các Tỷ-kheo, đây không phải l à

lần đầu ti ên Ðề-bạt- đạt-đa

vong ân bội nghĩa.

Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy, Devadatta (Ðề-bà- đạt-đa) l à

con trai nhà phú thương, Ànanda (A-nan) là vua, và Ta chính là Nai chúa.

-ooOoo-

483. Chuyện Chúa Nai Sarabha (Tiền thân Sarabha-Miga)

Cứ hy vọng, người ơi, là bậc trí..,

Chuyện này bậc Ðạo sư kể trong khi trú tại Kỳ Viên

để giải thích đầy đủ một câu hỏi do Ng ài

nêu ra một cách tổng quát cho vị Tướng quân Chánh pháp (Sàriputta).

Vào thời ấy, bậc Ðạo sư nêu vắn tắt câu hỏi với Trưởng lão ấy. Ðây là câu

chuyện đầy đủ chi tiết về nguồn gốc của một số

chư Thi ên. Khi Tôn giả Pindola-Bhàradvàja dùng thần thông

để lấy được cái b ình bát bằng gỗ Chiên- đ àn

trước sự hiện diện của vị Ðại phú thương ở thành Ràjagaha (Vương Xá), bậc

Ðạo sư cấm các Tỷ-kheo sử dụng thần thông lực.

Lúc ấy, các Tỷ-kheo ly khai Giáo hội suy nghĩ: "Sa-môn Gotama

đ ã cấm sử dụng thần thông lực. Nay chính

vị ấy cũng sẽ không sử dụng thần thông lực nữa". Ðám

đệ tử của các vị ly khai Giáo hội lo lắng, nói

với họ:

- Tại sao các Tôn giả không dùng thần thông lực lấy cái bát kia?

Họ đáp:

- Này Hiền hữu, việc này không khó gì đối

với chúng ta. Song chúng ta nghĩ: Ai lại muốn thị hiện thần thông cao quý vi

diệu của m ình trước người thế tục chỉ vì cái bình bát bằng gỗ nhỏ mọn

kia chứ? Do thế, chúng ta không lấy nó xuống. Các Sa-môn dòng họ Thích-ca

đ ã lấy nó xuống và thị hiện thần thông

chỉ vì tham lam ngu xuẩn mà thôi. Ðừng tưởng biến hóa thần thông là việc khó

kh ăn g ì với chúng ta

đâu: giả sử ta đừng kể đến các đệ tử của Sa-môn

Gotama, nếu chúng ta muốn, chúng ta sẽ biến hóa thần thông với chính Sa-môn

Gotama nữa kia. Nếu Sa-môn Gotama thị hiện một phép thần thông, th ì

chúng ta sẽ thị hiện một phép khác kỳ diệu gấp hai lần.

T ăng chúng nghe chuyện n ày liền thưa

với đức Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo ly khai Giáo hội nói họ muốn thị hiện thần

thông lực.

Bậc Ðạo sư bảo:

- Cứ để họ l àm

đi, Ta cũng sẽ l àm việc ấy.

Vua Bimbisàra (Tần-bà-sa-la) nghe vậy, đi

đến hỏi đức Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, Ngài định thị hiện thần

thông lực chăng?

- Thưa Ðại vương, phải.

- Bạch Thế Tôn, chẳng phải là có lệnh cấm về vấn

đề n ày rồi sao?

- Thưa Ðại vương, lệnh ấy dành cho các đệ tử

của ta, chớ không có lệnh n ào có thể ng ăn

cản chư Phật cả. Cũng như hoa quả trong vườn ngự uyển l à của cấm

đối với kẻ khác chứ không hề áp dụng luật n ày

đối với Ðại vương.

- Bạch Thế Tôn, vậy Ngài sẽ thị hiện phép thần thông ở nơi

đâu?

- Tại Xá-vệ, dưới một cây xoài có "cục u".

- Vậy trẫm sẽ làm gì lúc đó?

- Thưa Ðại vương, chẳng cần làm gì cả.

Ngày kế đó, sau khi điểm tâm xong, bậc

Ðại sư đi khất thực.

- Bậc Ðạo sư đi đâu thế? Dân chúng hỏi.

Các Tỷ-kheo đáp lại:

- Ở cổng thành Xá-vệ, dưới một gốc cây xoài có cục u, Ngài sẽ thị hiện

một phép Thần thông Song hành (Yamaka Patihariya: các tia sáng xanh và

đỏ phát ra từ thân Ng ài)

để đánh bại những kẻ ly khai Giáo hội.

Ðám người ấy nói:

- Phép thần thông này sẽ là tuyệt tác, nên chúng ta muốn

đi xem.

Sau khi rời nhà, dân chúng đi theo bậc

Ðạo sư, và vài kẻ ly khai Giáo hội cũng

đi theo Ng ài cùng với đám đệ tử của họ.

Họ nói:

- Chúng ta sẽ thị hiện một phép thần thông ở nơi mà Sa-môn Gotama sắp thị

hiện phép thần thông của mình.

Dần dần, bậc Ðạo sư đi đến Xá-vệ. Vua hỏi Ng ài:

- Bạch Thế Tôn, có đúng l à Ngài sắp

thị hiện thần thông lực như chúng đồn chăng?

- Quả đúng vậy. Ng ài

đáp.

- Khi nào? Vua hỏi.

- Ngày thứ bảy kể từ đây, v ào

đúng rằm tháng sáu trăng tr òn.

- Bạch Thế Tôn, thế trẫm có cần dựng lên một ngôi

đ ình ch ăng?

- Thưa Ðại vương, cứ an tâm, ở ngay nơi mà Ta sắp thị hiện thần thông.

Sakka (Ðế Thích) Thiên chủ sẽ dựng lên một ngôi

đ ình bằng châu ngọc có chu vi mười hai dặm.

- Bạch Thế Tôn, trẫm có cần loan báo việc này khắp kinh thành ch ăng?

- Ðại vương cứ loan báo.

Vua liền đặt người thông tin Chánh pháp n ày

trên một con voi được trang ho àng thật

lộng lẫy, đi công bố như sau:

- Hãy nghe tin này! Bậc Ðạo sư sắp thị hiện bằng thần thông

để đánh bại những kẻ ly khai Giáo hội, trước

cổng th ành Xá-vệ, dưới gốc cây xoài-có-cục-u trong bảy ngày nữa kể từ

ngày hôm nay!

Cứ mỗi ngày họ lại báo tin này. Khi đám

người ly khai nghe tin rằng phép lạ sẽ được thị hiện dưới một gốc cây xo ài-có-cục-u,

họ liền ra lệnh chặt hết mọi cây xoài gần thành Xá-vệ, rồi

đền tiền bạc cho các chủ vườn xo ài.

Vào đ êm tr ăng

tr òn, người thông tin Chánh pháp ấy công bố:

- Hôm nay vào buổi sáng, phép thần kỳ sẽ xuất hiện.

Nhờ oai lực của chư Thiên, người người khắp cõi Diêm-phù- đề

(Ấn Ðộ), dường như đều ra đứng ở cửa v à

nghe tin loan báo ấy. Bất cứ người nào trong lòng có ý muốn

đi xem, đều thấy m ình

đến tại Xá-vệ ấy: dân chúng chiếm khoảng mười

hai dặm.

Từ sáng sớm, bậc Ðạo sư đi khất thực. Vi ên

quan giữ vườn ngự uyển, tên Ganda hay "Cục U", sắp

đem đi dâng vua một trái xo ài chín trông

thật đẹp, lớn bằng cái giạ đựng lúa, vừa độ

chín muồi, th ì ông thấy bậc Ðạo sư tại cổng thành, liền bảo:

- Trái xoài này thật xứng đáng với bậc

Ðạo sư.

Rồi ông dâng xoài lên Ngài. Bậc Ðạo sư cầm lấy ngồi xuống một bên cổng,

dùng trái xoài. Khi đ ã thọ thực xong,

Ngài bảo:

- Này Ànanda, đưa cho người giữ vườn hột xo ài

này để trồng ngay chỗ n ày, nó sẽ thành

cây xoài có cục u.

Tôn giả tuân lệnh. Người giữ vườn đ ào

một lỗ dưới đất, trồng hột xo ài ấy.

Trong chốc lát, hạt xoài nứt ra, rễ đâm ra v à

nhú lên một mầm đỏ cao bằng cái ch ày,

ngay khi đám đông đang trố mắt nh ìn, nó

lớn dần thành một cây xoài cao cả tr ăm cubit (1

cubit = 45cm) với thân cây cao năm mươi cubit, các c ành lá cũng cao n ăm

mươi cubit, c ùng lúc hoa nở rộ, trái chín dần, cây vẫn

đứng choáng rợp cả bầu trời có đ àn ong

vây quanh cành sai nặng trĩu quả vàng óng. Khi có làn gió thổi, trái ngọt

rơi xuống, các Tỷ-kheo đến lượm lấy xo ài,

ăn xong ra về. V ào buổi chiều, Thiên chủ

Sakka (Ðế Thích) suy xét, nhận thấy mình có bổn phận dựng lên một ngôi

đ ình gồm bảy báu vật, chu vi rộng mười

hai dặm che kín mọi nơi bằng hoa sen xanh. Như vậy, chư Thiên của mười ngàn

thế giới tụ tập lại đây.

Sau khi đ ã thị hiện phép thần thông

vô cùng kỳ diệu trước các đệ tử của Ng ài

để đánh bại đám người ly khai Giáo hội, bậc

Ðạo sư làm phát khởi lòng tin trong các hội chúng xong, Ngài

đứng l ên, ngự trên bảo tọa dành cho

đức Phật v à thuyết Pháp. Hàng tr ăm

triệu chúng sinh uống được nguồn nước trường sinh; sau đó Ng ài nhận

định để biết r õ chư Phật quá khứ

đi về đâu sau khi đ ã thực hiện một phép

thần thông, và nhận thấy chính là về cõi trời Ba mươi ba, Ngài liền rời khỏi

bảo tọa, chân phải Ngài đặt l ên

đỉnh Yugandhara, chân trái Ng ài bước qua

đỉnh Sineru (Tu-di), Ng ài bắt

đầu an cư v ào mùa mưa dưới cây Ðại San

hô, an tọa trên chiếc ngai hoàng thạch, và suốt thời gian ba tháng, Ngài

thuyết Thắng pháp (Abhidhamma) siêu phàm cho chư Thiên.

Dân chúng không biết bậc Ðạo sư đi đâu, họ

nh ìn nhau bảo:

- Thôi ta về nhà và an trú tại nơi đó, suốt

m ùa mưa.

Khi mùa an cư trai giới gần chấm dứt, ngày

đại lễ Tự Tứ cận kề, Ðại Trưởng lão Moggallàna (Mục-kiền-liên)

đi thông báo với đức Thế Tôn.

Ngài hỏi:

- Sàriputta (Xá-lợi-phất) nay ở đâu?

- Bạch Thế Tôn, sau khi phép thần thông làm cho Tôn giả hoan hỷ, vị ấy

đ ã ở lại cùng n ăm

trăm vị Tỷ-kheo trong kinh th ành Samkassa, và vẫn còn an trú tại

đó.

- Này Moggallàna, vào ngày thứ bảy kể từ hôm nay, ta sẽ xuống hạ giới

bằng cổng thành Samkassa. Vậy kẻ nào muốn chiêm ngưỡng Như Lai hãy tụ tập

tại thành Samkassa.

Trưởng lão này đồng ý đi báo cho dân chúng

hay: Tôn giả mang to àn thể hội chúng từ Xá-vệ

đến Samkassa cách xa nhau cả ba mươi dặm chỉ

trong chớp mắt.

Khi mùa an cư trai giới qua rồi, đại lễ Tự

tứ đ ã được cử h ành xong, bậc Ðạo

sư bảo Sakka Thiên chủ rằng Ngài sắp trở về cõi nhân thế. Sau

đó, Thi ên chủ cho triệu Thần xây dựng

Vissakamma vào và bảo:

- Hãy làm một cầu thang để đấng Thập Lực

bước xuống c õi trần.

Vị này đặt cầu thang tr ên

đỉnh Sineru, chân nằm tr ên cổng thành

Samkassa; ở giữa, vị ấy làm ba bậc thang liền nhau, một bậc bằng ngọc, một

bậc bằng bạc, và một bậc bằng vàng, còn lan can và mái làm bằng bảy báu vật.

Sau khi bậc Ðạo sư thị hiện thần thông để

cứu độ c õi thế gian, Ngài bước xuống bậc thang chính giữa làm bằng

ngọc. Thiên chủ Sakka cầm chiếc bình bát và chiếc y, Suỳama cầm cái quạt

bằng đuôi trâu rừng (Yak), Phạm thi ên

chủ mang chiếc lọng và chư Thiên trong mười ngàn thế giới

đồng chi êm bái Ngài với các vòng hoa

trời và các hương liệu.

Khi bậc Ðạo sư đ ã

đứng ở chân cầu thang, vị đệ nhất trưởng l ão

Sàriputta đảnh lễ Ng ài, sau

đó l à toàn thể hội chúng. Ở giữa hội

chúng này, bậc Ðạo sư suy nghĩ: "Moggallàna đ ã

chứng tỏ đầy đủ thần thông lực, Up àli là

người tinh thông Giới luật của bậc Thánh, song

đặc tính đại trí tuệ của S àriputta lại chưa

được dịp tỏ b ày. Trừ một mình ta, chẳng

ai đạt trí tuệ đầy đủ trọn vẹn như vậy, n ên

ta muốn tỏ bày n ăng lực trí tuệ của vị n ày

cho hội chúng biết rõ".

Trước tiên Ngài đặt câu hỏi thông thường cho

đám người ph àm phu không biết gì cả. Cùng cách ấy, Ngài lần lượt

đặt câu hỏi vừa tầm hiểu biết của những vị Nhất

Lai, Bất Lai v à các vị A-la-hán, các Thánh

đệ tử, trong từng trường hợp; những vị n ào

dưới cấp bậc ấy lần lượt không trả lời được,

chỉ những vị ở tr ên cấp bậc ấy mới có thể trả lời. Sau

đó, Ng ài

đặt câu hỏi trong khả năng hiểu biết của Tôn giả S àriputta thì chỉ

Trưởng lão này trả lời được, c òn các vị

khác không thể. Dân chúng hỏi nhau:

- Vị Trưởng lão trả lời bậc Ðạo sư là ai thế?

Họ được bảo đó l à vị Tướng quân Chánh

pháp tên gọi Sàriputta.

- Ôi! Trí tuệ của ngài thật cao cả thay! Họ bảo nhau.

Từ đó về sau, đặc tính đại trí tuệ của

Trưởng l ão này vang dội khắp loài người và chư Thiên.

Lúc ấy bậc Ðạo sư nói với vị này:

Người này thử thách phải đi qua,

Kẻ khác đạt rồi mục đích xa,

Tư cách khác nhau đều hiển lộ,

Vì ông biết rõ hết kia mà.

Như vậy, sau khi hỏi một câu thuộc phạm vi hiểu biết của một vị Phật,

Ngài thêm:

- Ðây là vấn đề được đặt ra tổng quát sơ

lược, c òn đâu l à ý nghĩa của vấn

đề trong mọi phương diện?

Vị Trưởng lão xem xét vấn đề. Vị ấy suy

nghĩ: "Bậc Ðạo sư hỏi về đường lối tu

tập thích hợp cho Tăng chúng tinh tấn tăng trưởng, cả những người mới đạt

được những quả vị thấp, lẫn những bậc Thánh A-la-hán đó chăng?" Về vấn đề

tổng quát, Tôn giả n ày không có điều g ì

nghi hoặc. Nhưng rồi Tôn giả suy xét: "Ðường lối tu tập thích hợp có thể

được diễn tả bằng nhiều cách nói theo ngũ uẩn

trong mỗi vị hữu t ình, khởi đầu l à

như vậy, song bây giờ làm sao ta có đáp đúng ý

nghĩa của bậc Ðạo sư?". Tôn giả hoài nghi về ý nghĩa ấy.

Bậc Ðạo sư nghĩ thầm: "Sàriputta không hoài nghi gì về vấn

đề tổng quát, song c òn nghi hoặc về khía

cạnh đặc biệt g ì của vấn

đề m à Ta

đang xem xét. Nếu Ta không đưa ra lời gợi ý hướng dẫn th ì ông ấy

không thể nào giải đáp được. Vậy ta phải gợi ý

cho ông ấy". Rồi Ng ài đưa lời gợi ý bằng

cách hỏi:

- Này Sàriputta, ông có chấp nhận điều n ày

là đúng chăng (Ng ài nói một vấn

đề n ào đó).

Tôn giả Sàriputta chấp nhận vấn đề ấy.

Gợi ý như vậy xong, Ngài biết Tôn giả Sàriputta

đ ã nắm vững ý nghĩa của Ngài, và sẽ giải

đáp đầy đủ bắt đầu từ ngũ uẩn trong mỗi vị hữu

t ình. Sau đó, vấn đề hiện ra r õ

ràng trước mắt vị Trưởng lão như có cả tr ăm ng àn

lời gợi ý, ồ không, cả ngàn lời nữa, và theo lời hướng dẫn của

đức Phật, Tôn giả giải đáp vấn đề kia thuộc về

tri kiến Phật.

Bậc Ðạo sư thuyết Pháp cho cả hội chúng khắp cả mười hai dặm: ba tr ăm

triệu vị hữu t ình uống được nguồn nước

trường sinh.

Khi hội chúng ra về, bậc Ðạo sư lại du hành khất thực, dần dần

đến Xá-vệ. Ng ày hôm sau, khi

đ ã khất thực tại Xá-vệ xong, Ngài trở về

và dạy bảo các Tỷ-kheo giữ phận sự của mình rồi bước vào Hương phòng. Về

buổi tối, các Tỷ-kheo bàn luận đến đức tính cao

cả của Trưởng l ão Sàriputta, trong lúc T ăng

chúng ngồi tại Chánh pháp đường:

- Này các Hiền giả, Tôn giả Sàriputta thật là bậc

đại trí tuệ, Tôn giả có trí tuệ quảng bác, trí

tuệ mẫn tiệp, trí tuệ tinh xảo, trí tuệ linh lợi. Bậc Ðạo sư

đặt câu hỏi tổng quát, Tôn giả đ ã trả

lời thật đầy đủ sâu rộng.

Bậc Ðạo sư bước vào hỏi T ăng chúng đang b àn

luận gì trong lúc ngồi đó, các vị tr ình

với Ngài, Ngài bảo:

- Này các Tỷ-kheo, đây không phải l à

lần đầu vị ấy trả lời rộng r ãi một vấn

đề được n êu tổng quát, mà ngày xưa cũng

đ ã làm như vậy.

Và Ngài kể câu chuyện quá khứ.

*

Một thời, khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát

được sinh l àm một con Nai sống trong

rừng. Bấy giờ, vua thích s ăn bắn, v à vua

lại là một người đầy uy lực, ng ài cho

rằng không có ai xứng danh con người cả.

Một ngày kia, lúc ngài đi săn, ng ài

bảo đám cận thần:

- Hễ ai để thoát một con nai v ì mình

thì sẽ bị trừng phạt như vầy như vầy..

Bọn họ suy nghĩ: "Người ta có thể đứng trong

nh à mà không tìm thấy vựa lúa. Khi một con nai bị vây bắt bằng cái

móc hay gậy cong, ta phải lùa nó đến nơi đức

vua đứng".

Bọn họ liền giao ước với nhau để thực hiện

điều n ày, và sắp đặt vua đứng ở cuối

đường. Sau đó, họ vây quanh một hang lớn v à bắt

đầu lấy d ùi cui gậy gộc

đập l ên mặt

đất. Con vật đầu ti ên bị vây bắt chính là Nai vàng. Ba lần Nai nhìn

quanh bụi cây tìm cơ hội trốn thoát. Khắp nơi, Nai thấy người ta

đứng chật ních chen tay, cung kề cung, chỉ có

nơi vua đứng l à Nai thấy may ra còn có dịp. Với

đôi mắt chiếu sáng l òa, Nai vụt

đến phía vua l àm chói mắt vua như thể

tung cát bụi vào đôi mắt ấy. Lập tức vua thấy

Nai, bắn t ên ngay và hụt mất.

Ta phải biết rằng loài nai rất thông minh tránh

được các mũi t ên. Khi các mũi tên vụt

thẳng vào chúng, chúng đứng y ên

để t ên bay

đi, nếu t ên vụt tới phía sau, nai sẽ vụt chạy nhanh hơn; nếu tên bay

xuống từ phía trên chúng cong lưng lại, nếu từ phía suờn, nai nghiêng mình

một tí; nếu tên nhắm vào bụng, nai l ăn một v òng;

khi tên đ ã lướt qua rồi thì Nai vụt

nhanh như bay gió cuốn. Vì vậy, khi vua thấy Nai l ăn

qua, tưởng Nai đ ã bị thương, liền kêu lên một tiếng "ô này!".

Nai vùng đứng dậy, vụt nhanh như gió, phá

được v òng vây của đám người kia. Các

triều thần ở cả hai phía nh ìn thấy con nai chạy thoát, liền tụ tập

lại với nhau và hỏi:

- Nai tiến về chỗ của ai thế?

- Chỗ của Chúa thượng.

- Song Chúa thượng đ ã la lớn: Ta bắn

được nai rồi kia m à! Vậy Chúa thượng bắn

được cái g ì? Tôi dám chắc với quí vị,

Chúa thượng bắn hụt rồi! Chúa thượng bắn mặt

đất đấy!

Như vậy, hội chúng chế nhạo vua không ngớt. Vua nghĩ thầm: "Bọn này

đang chế nhạo ta, chúng không biết tay ta". Rồi

khi nai nịt thắt lưng, vua đi bộ, cầm kiếm trong tay, vừa đi thật nhanh vừa

la to:

- Ta sẽ đi bắt Nai!

Vua nhìn sát theo Nai và đuổi Nai chừng ba

dặm. Nai tiến sâu v ào rừng, vua cũng tiến theo. Lúc bấy giờ trên

đường Nai đi, có một cái hố thật lớn với một

cây đ ã mục nát, sâu chừng sáu mươi cubit,

đám cỏ dại mọc che phía tr ên. Nai ngửi

được m ùi nước, thấy

đó l à cái hố, nên nghiêng mình qua một

bên tránh đường. Song vua cứ đi thẳng l ên

nên ngã vào hố. Nai không còn nghe tiếng chân vua nữa, liền quay lại. Thấy

không có ai, Nai biết là vua hẳn đ ã rơi

xuống hố. Vì thế, Nai đến nh ìn vào, thấy

vua trong tình cảnh nguy khốn, vùng vẫy trong nước sâu. Song Nai không

để l òng oán hận

đối với việc ác m à vua

đ ã làm, còn thương hại nghĩ thầm: "Không

được để vua n ày chết trước mắt ta, ta sẽ

cứu vua qua khỏi cơn hoạn nạn này".

Vừa đứng tr ên miệng hố, Nai vừa kêu

lớn:

- Này Ðại vương đừng sợ, v ì ta sẽ cứu

thoát ngài khỏi cảnh hiểm nghèo này.

Rồi dùng hết sức lực, sốt sắng thiết tha như thể cứu lấy

đứa con y êu quý của mình, Nai

đỡ vua l ên dốc

đá, chính vua kia đ ã

đuổi theo Nai để giết hại đó, Nai kéo vua ra

khỏi hố sâu sáu mươi cubit, v à nói lời an ủi vua rồi

đặt vua l ên chính lưng mình, mang vua ra

khỏi rừng, để vua xuống không xa đám quân sĩ

mấy. Sau đó, Nai thuyết giáo cho vua v à an trú vua vào Ngũ giới. Tuy

nhiên, vua không thể rời bậc Ðại sĩ được, m à

bảo:

- Tâu Lộc vương Chúa thượng, xin hãy cùng ta

đến Ba-la-nại, v ì ta muốn nhường ngôi cho ngài tại Ba-la-nại, một

kinh thành trải rộng kháp mười hai dặm để ng ài

ngự trị toàn quốc độ ấy.

Song ngài đáp:

- Thưa Ðại vương, ta là thú vật, ta không muốn chiếm vương quốc nào cả.

Nếu ngài có lòng thương mến ta, xin hãy giữ Ngũ giới mà ta

đ ã dạy ngài, rồi ngài dạy cho

đám quần thần của ng ài cũng giữ giới

nữa.

Cùng với lời khuyên này, ngài trở về rừng. Còn vua

đến gặp lại quân sĩ, v à trong khi hồi

tưởng những đức tính cao thượng của Nai kia,

mắt vua đẫm lệ. Vừa được đám binh sĩ hộ tống, vua ngự khắp kinh th ành

trong hồi trống ban lệnh vua vang rền, truyền rao lời bố cáo này:

- Từ nay về sau, dân chúng toàn thành hãy giữ Ngũ giới.

Song vua không nói với ai về lòng nhân từ mà bậc Ðại sĩ

đ ã ban cho ngài. Sau khi dùng xong các

món cao lương mỹ vị về buổi chiều tối, vua an nghỉ trên vương sàn lộng lẫy

và sáng sớm hôm sau, vua nhớ lại những đức tính

cao thượng của bậc Ðại sĩ, ngài liền trở dậy và ngồi chéo chân trên

vương tọa, tâm tràn đầy hân hoan, ng ài

cất tiếng ca lên nguyện vọng của ngài qua sáu vần kệ:

1. Cứ hy vọng, người ơi, là bậc trí,

Xin hãy đừng nản chí hoặc sờn l òng,

Chính ta nay thành đạt đích hằng mong.

2. Ta thấy rõ, người ơi, là bậc trí,

Cứ hy vọng, dù buồn, đừng nản chí,

Chính ta đây chiến đấu tiến v ào bờ.

3. Vượt trùng dương, ta thấy rõ, bây giờ,

Cố gắng mãi, người ơi, là bậc trí,

Xin hãy chớ nản lòng hay nhụt chí,

Chính ta nay thành đạt đích ước nguyền.

4. Ta thấy nay, người hỡi, gắng sức lên,

Nếu người trí, dù buồn phiền đau khổ,

Ðừng chán nản, chính ta đây nh ìn rõ,

Ta đ ã từng chiến

đấu vượt tr ùng dương.

5. Bậc trí nhân dù tràn ngập đau thương,

Niềm hy vọng an vui không hề tắt,

Nhiều tình cảm, khổ đau c ùng an lạc:

Các ngài không nghĩ đến chúng l àm chi,

Song lên đường cho đến lúc chết đi.

6. Việc xảy ra, ta đều không ngờ tới,

Việc ta tính lại thường hay thất bại,

Vì chỉ riêng phần ý tưởng mà thôi

Chẳng lợi cho niềm hạnh phúc người đời.

Trong lúc vua đang ca khúc hát n ày,

mặt trời cũng vừa lên. Còn vị tế sư của ngài cũng dậy sớm vào vấn an sức

khỏe của ngài. Lúc đang đứng ở cửa, vị n ày

nghe tiếng ca ấy, nghĩ thầm: "Hôm qua đức vua

đi săn. Chắc ng ài đ ã hụt mất con

Nai và khi bị quần thần chế nhạo, ngài phán rằng ngài sẽ

đích thân đuổi bắt con mồi v à giết

đi. Sau đó, hẳn ng ài s ăn

đuổi theo Nai, v ì bị lòng kiêu mạn của một chiến sĩ thúc

đẩy, n ên bị rơi vào cái hố sâu sáu mươi

cubit. Rồi Nai có từ tâm chắc hẳn đ ã kéo

ngài lên mà không hề có chút ý nghĩ gì đến tội

ác của đức vua đối với m ình. Chắc vì thế nên

đức vua hát l ên khúc tụng ca này

đây".

Như vậy, vị Bà-la-môn này nghe hết mọi lời ca của khúc hát kia, và những

việc gì đ ã xảy ra giữa vua với Nai

đều r õ ràng như một khuôn mặt phản chiếu

trong chiếc gương được lau ch ùi thật kỹ.

Ông lấy đầu ngón tay g õ nhẹ lên cửa. Vua

hỏi:

- Ai đó?

- Tâu Chúa thượng, chính hạ thần là tế sư

đây.

- Này Sư trưởng, cứ vào đi.

Vua bảo rồi mở cửa. Vị ấy bước vào, tung hô vạn tuế

đức vua, v à

đứng sang một b ên. Sau đó, ông thưa:

- Tâu Ðại vương, hạ thần biết những việc đ ã

xảy ra với Ðại vương ở trong rừng. Trong lúc

đuổi theo con Nai, Ðại vương rớt vào hố và con Nai dựa vào sườn

đá b ên hố mà kéo Ðại vương lên. Vì vậy,

Ðại vương nhớ lại đặc tính cao cả của Nai v à

hát một bài tụng ca.

Rồi ông ngâm hai vần kệ:

7. Bên sườn non nọ có con Nai,

Trước đó l à con thịt của ngài,

Dũng cảm Nai ban ngài cuộc sống,

Vì ly tham hận hết trong đời.

8. Khỏi hố đáng kinh, vuốt tử thần,

Dựa vào tảng đá bạn-khi-cần,

Chúa Nai cứu mạng nên ngài bảo:

Trí tuệ Nai vàng vượt hận sân.

"Ô kìa!" Vua suy nghĩ khi nghe lời trên: "Người này không cùng

đi săn với ta, tuy thế, lại biết hết mọi sự. L àm

sao lại biết được thế? Ta muốn hỏi vị ấy". V à

vua ngâm vần kệ thứ chín:

9. Ðạo sĩ, hôm kia có mặt ch ăng?

Hoặc nghe từ một kẻ bàng nhân?

Tấm màn tham dục ngài đ ã vén,

Trí tuệ ngài làm trẫm hãi hùng!

Song vị Bà-la-môn đáp:

- Hạ thần không phải là một vị Phật toàn tri

đâu, hạ thần chỉ nghe lóm khúc tụng ca của Ðại vương vừa hát

đó thôi, m à không bỏ sót ý nghĩa, nên

mọi việc trở nên rõ ràng trước mắt hạ thần.

Ðể giải thích điều n ày, ông ngâm vần

kệ thứ mười:

10. Tâu Chúa công! Việc ấy, thần chẳng nghe,

Không vào rừng để chứng kiến ng ày kia,

Song từ khúc kệ ngài ca êm dịu,

Việc ra sao, trí nhân đ à thấu hiểu.

Vua rất hoan hỷ nên ban thưởng ông một tặng phẩm quí giá.

Từ đó về sau, vua chuy ên tâm bố thí

và làm các thiện sự, dân chúng cũng đem hết l òng

làm thiện sự, nên khi mạng chung được sinh l ên

cùng Thiên chúng thật đông đảo.

Lúc bấy giờ, vua đi v ào thượng uyển

cùng với vị tế sư để bắn bia. Thời ấy Sakka ( Ðế

Thích) Thiên chủ đang suy gẫm xem cả đám ti ên

đồng ngọc nữ kia mới từ đâu đến m à ngài

thấy thật đông đảo chung quanh ng ài như

thế. Khi xét kỹ, ngài chợt hiểu toàn câu chuyện: Vua

đ ã được Nai

cứu thoát khỏi cái hố như thế n ào, vua đ ã

được an trú v ào giới

đức, v à nhờ uy lực của vua ra sao mà dân

chúng đ ã làm nhiều thiện sự nên Thiên

giới trở thành đông đúc như thế, v à nay

vua lại vào ngự uyển để bắn một cái bia.

Vì thế, Thiên chủ cũng đến nơi đó, với giọng

sư tử hống, ng ài tuyên thuyết tính cao thượng của Nai, và bảo cho

biết chính ngài là Sakka Thiên chủ, rồi đứng

vững tr ên không mà thuyết Pháp nêu rõ công

đức của l òng từ bi và Ngũ giới, xong

ngài trở về. Bấy giờ, vua dự định bắn bia,

giương chiếc cung v à lắp mũi tên vào dây. Ngay lúc ấy, Sakka Thiên

chủ dùng thần lực hóa hiện ra con Nai đứng giữa

vua v à tấm bia, vua thấy vậy không bắn tên nữa. Lúc ấy, Thiên chủ

nhập vào thân của vị tế sư ngâm kệ này cho vua nghe:

11. Tên ngài giết lắm vật oai hùng,

Sao lại cầm tên lặng giữa cung?

Hãy bắn tên bay vào lộc ấy,

Ðó là ngự thiện, tấu Minh vương!

Vua đáp lại qua vần kệ:

12. Tế sư, trẫm thấu suốt hơn ngài:

Trẫm biết dâng vua chính thịt nai,

Song trẫm nhớ ơn đ à cứu giúp,

Trẫm dừng tay chẳng hại đời ai.

Sau đó, Sakka Thi ên chủ ngâm

đôi vần kệ:

13. Chẳng phải là Nai, tấu Ðại vương,

Mà đây l à một Tu-la-thần,

Ngài là chúa tể nơi trần thế,

Giết nó, ngài lên đấng Ngọc ho àng!

14. Nếu ngài do dự, tấu Anh quân,

Khi giết Nai vì chính bạn thân,

Sẽ vào sông lạnh Diêm vương phủ,

Cùng vợ con ngài xuống cõi âm.

Nghe thế vua liền ngâm hai vần kệ:

15. Cứ vậy Diêm vương với tử hà,

Ðưa ta đến đủ cả to àn gia,

Cùng thân bằng nữa, ta không thể

Tự giết Nai bằng tay của ta.

16. Ðầy rẫy rừng sâu nỗi hãi hùng,

Chính Nai đ ã cứu khỏi tai ương,

Sao ta muốn vị ban ân chết,

Sau việc thi ân ấy đ ã mang?

Lúc ấy, Thiên chủ Sakka xuất ra khỏi thân của vị tế sư, mang lấy

đúng h ình dáng của ngài và hiện

đứng vững tr ên không, ngâm hai vần kệ

nêu rõ đức tính cao thượng của vua:

17. Thiện hữu muôn n ăm ở c õi trần!

Dạy đời lương thiện, lý to àn chân,

Rồi Thiên nữ sẽ theo hầu hạ

Ngài chính In-dra giữa các thần.

18. Thoát dục, tâm mình mãi trú an,

Khi nhiều người lạ đến k êu van,

Hãy cho chúng những gì cần thiết,

Vì Ðại vương đầy đủ khả năng,

Hãy sống phân minh không phạm lỗi,

Ngày sau Thiên giới sẽ dành phần.

Nói vậy xong, Thiên chủ tiếp tục như sau:

- Ta đến đây để thử ng ài, này Ðại

vương, và ngài đ ã không

đồng ý với ta. Ta xin ng ài hãy gắng tinh

cần mãi.

Cùng với lời khuyên này, ngài trở về cõi của mình.

*

Khi bậc Ðạo sư đ ã chấm dứt Pháp

thoại, Ngài bảo:

- Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu ti ên

Sàriputta hiểu đầy đủ những điều được nói tổng

quát, m à ngày xưa cũng vậy.

Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy Ànanda (A-nan) là vua, Sàriputta (Xá-lợi-phất) là vị tế sư

và Ta chính là Nai chúa.