Chương
IV
Phẩm Bốn Bài Kệ#
301. Chuyện Tiểu Vương Kàlinga (Tiền thân Cullakàlinga)#
Hãy mở cổng cho các nàng thiếu nữ ...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên, về việc thâu nhận bốn nữ du
sĩ ngoại đạo v ào Giáo
đo àn.
Theo truyền thuyết dòng họ Licchavi, một gia tộc cai trị gồm tới bảy
ngàn bảy tr ăm lẻ bảy người, đều sống tại
Ves àli (Tỳ-xá-ly). Họ là những người rất ham thích tranh biện.
Bấy giờ có một du sĩ theo đạo Kỳ-na có
thể biện thuyết trôi chảy năm trăm đề t ài khác nhau. Ông ta
đến Ves àli và
được đón nhận nồng nhiệt. Một nữ tu Kỳ-na
khác cũng có đặc t ài như vậy và cũng
đến Ves àli. Những người trưởng thượng Licchavi tổ chức một cuộc
tranh luận giữa hai người ấy. Khi cả hai
đều chứng tỏ l à những nhà biện luận
đặc t ài, thì những người Licchavi nghĩ rằng cả hai người chắc
chắn sẽ có những đứa con t ài giỏi.
Thế rồi họ sắp đặt hôn nhân cho hai người.
Bốn con gái v à một con trai ra đời
do sự kết hợp n ày.
Các cô gái tên là Saccà, Lolà, Avavàdakà và Patàkàrà; còn cậu con
trai tên là Saccaka. N ăm người con n ày,
khi đến tuổi trưởng th ành,
đ ã học
được một ng àn đề t ài khác
nhau; n ăm trăm đề t ài do mẹ dạy và n ăm
trăm do cha. Hai vợ chồng căn dặn các con gái như sau:
- Nếu có người tại gia nào bài bác được
các đề t ài của các con thì các con hãy làm vợ người ấy; còn nếu
một tu sĩ đánh bại các con th ì các
con hãy tôn vị ấy làm thầy.
Sau đó, hai vợ chồng chết đi. Ch àng
Kỳ-na Saccaka tiếp tục sống tại nơi ấy ở Vesàli, học tập kiến thức của
dòng họ Licchavi, còn bốn chị em chàng cầm trong tay một cành hồng
đ ào nhàn du
đây đó, từ th ành phố này sang thành
phố khác để tranh luận. Cuối c ùng họ
đến Xá-vệ. Họ cắm c ành
đ ào ở cổng thành và bảo mấy cậu trai
ở đó:
- Nếu có người đ àn ông nào, dù là
cư sĩ hay tu sĩ, tranh luận ngang ngửa với chúng tôi về một
đề t ài thì cứ việc
đá tung đống đất n ày và dẫm lên cành
cây này.
Nói xong họ vào thành để nhận đồ bố thí.
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất (Sàriputta), sau khi
đ ã quét tước sạch sẽ những nơi cần
thiết, đổ nước v ào các bình và s ăn
sóc các người bịnh, liền đi v ào Xá-vệ
để khất thực. Khi trông thấy v à nghe
kể về cành cây kia, Tôn giả bảo các cậu trai hạ nó xuống và dẫm lên. Tôn
giả nói:
- Bảo với mấy người trồng cành cây này rằng khi họ
đ ã dùng bữa xong, hãy
đến gặp ta tại ph òng có nóc nhọn
trên cổng Tinh xá Kỳ Viên.
Thế rồi, Tôn giả vào thành. Sau khi dùng bữa xong, Tôn giả
đứng trong căn ph òng phía trên cổng
Tinh xá. Các nữ tu sĩ khổ hạnh, sau khi đi
khất thực về, trông thấy c ành cây bị dẫm lên. Họ hỏi ai
đ ã làm như thế và
được các cậu trai kia bảo rằng chính l à
Xá-lợi-phất, rằng nếu họ muốn tranh luận thì cứ
đến căn ph òng phía trên cổng Tinh
xá.
Họ quay trở lại thành phố, theo sau họ là một
đám đông người đến tháp cổng Tinh xá. Sau
đó họ đưa ra cho Tôn giả Xá-lợi-phất một ng àn
đề t ài. Vị Tỷ-kheo giải
đáp mọi khó khăn khúc mắc của các đề t ài
ấy và sau đó hỏi xem họ c òn biết gì
nữa không.
Họ trả lời:
- Thưa ngài, không còn gì nữa!
Tôn giả nói:
- Thế thì ta sẽ hỏi các ngươi một điều.
Họ đáp:
- Thưa ngài, xin ngài cứ hỏi; nếu chúng tôi biết, chúng tôi sẽ trả
lời
Vị Tỷ-kheo đưa ra một câu hỏi. Họ không
trả lời được. Tôn giả liền giải đáp cho họ.
Sau đó họ bảo:
- Chúng tôi đ ã thua rồi, phần
thắng đ ã về ngài.
- Các người sẽ tính sao đây? Tôn giả
hỏi.
Họ đáp:
- Cha mẹ chúng tôi có khuyên dạy như vầy: Nếu một cư sĩ
đánh bại được các con tranh luận, các con h ãy
làm vợ người ấy; nhưng nếu đó l à một
tu sĩ thì các con hãy tôn vị ấy làm thầy. Do
đó - Họ nói tiếp - Xin ng ài nhận
chúng tôi vào đời sống Phạm hạnh.
Vị Tỷ-kheo chấp thuận và đưa họ v ào
nhà của Tỷ-kheo-ni tên gọi là Upplavannà (Liên Hoa Sắc). Cả bốn người ấy
chẳng bao lâu đều đạt Thánh quả.
Thế rồi một hôm, các Tỷ-kheo bắt đầu b àn
tán việc ấy trong Pháp đường. Họ bảo rằng
Tôn giả Xá-lợi-phất đ ã cho bốn nữ ngoại
đạo ấy chỗ an trú như thế n ào, rằng
nhờ Tôn giả mà cả bốn đều đạt Thánh quả ra
sao. Khi bậc Ðạo Sư đến v à
nghe họ bàn tán, Ngài dạy:
- Không phải chỉ ngày nay mà từ xưa kia, Xá-lợi-phất
đ ã cho bốn người ấy chỗ an trú. Ngày
nay ông đưa họ v ào
đời Phạm hạnh, c òn ngày xưa ông
đưa họ l ên ngôi chánh hậu.
Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Kàlinga đang trị v ì
tại thành phố Dantapura trong vương quốc Kàlinga, Assaka làm vua thành
Potali trong xứ Assaka. Bấy giờ, vua Kàlinga có một quân
đội tinh nhuệ v à chính ông cũng mạnh
như con voi, nhưng ông chẳng tìm thấy ai có thể
đánh nhau với ông được. Quá khao khát được
đánh nhau, ông bảo các đại thần:
- Ta muốn chiến đấu nhưng chẳng t ìm
được ai có thể chiến đấu với ta cả.
Các đại thần nói:
- Tâu Ðại vương có một cách cho ngài: Ngài có bốn cô con gái
đẹp tuyệt trần, ng ài hãy bảo họ
trang sức ngọc ngà và bảo họ ngồi trong một chiếc xe
đóng kín rồi cho một đạo quan hộ tống đi
từng l àng, từng thành phố, từng kinh
đô. Nếu có vị vua n ào muốn đưa họ v ào
hậu cung thì chúng ta sẽ đánh nhau với ông
ta.
Vua nghe theo ý kiến ấy. Nhưng đo àn
người đi đến xứ n ào, vua xứ ấy cũng
sợ họ vào thành phố, liền gởi tặng vật và xin họ
đóng quân ở b ên ngoài tường thành.
Cứ thế, họ đi ngang dọc khắp nước Ấn
Ðộ cho đến khi tới th ành Potali
trong xứ Assaka. Nhưng vua Assaka cũng đóng
chặt cửa th ành và chỉ gửi cho họ một tặng vật.
Bấy giờ vua xứ này có một đại thần rất
thông minh, đa năng v à nhiều mưu lược, tên là Nandisena.
Nandisena tự nghĩ: "Người ta bảo rằng các công chúa này
đ ã đi
khắp nước Ấn Ðộ mà không tìm được ai
chịu chiến đấu để chiếm lấy họ. Nếu đúng như thế th ì Ấn Ðộ chỉ là
cái tên rỗng. Ta sẽ chiến đấu với vua K àlinga".
Thế rồi ông ta đến bảo các lính gác mở
cổng th ành cho họ vào và đọc vần kệ
đầu:
Hãy mở cổng cho các nàng thiếu nữ,
Chúng ta đây đ ã giữ chắc
được th ành,
Nan-di-se-na sức lực vững vàng
Sư tử của vua A-ru-na đó.
Nandisena nói như thế để sai mở cổng th ành,
rồi đưa các cô gái đến ra mắt vua Assaka.
Ông nói với vua:
- Ðại vương chớ sợ. Nếu phải chiến đấu,
thần xin lo liệu. H ãy cho các công chúa xinh
đẹp n ày làm chánh hậu.
Thế rồi ông xức nước thánh cho họ để tôn
họ l ên ngôi hoàng hậu. Ông cho các người hầu ra về, dặn họ bảo
với vua Kàlinga rằng các con gái của ông đ ã
được l àm chánh hậu. Khi người hầu về
kể lại, vua Kàlinga bảo:
- Ta đoán rằng ông ấy chẳng biết ta mạnh
như thế n ào.
Liền đó vua đốc suất một đạo quân lớn.
Nandisena nghe ông đến gần, liền gởi sứ điệp như vầy:
- Kàlinga hãy dừng chân, đừng lấn v ào
đất của chúng ta, v à trận chiến sẽ
xảy ra ở biên thùy của hai nước.
Vua Kàlinga nhận được sứ điệp liền dừng
lại ở ranh giới nước ông. Assaka cũng giữ quân của m ình ở phía
bên này ranh giới.
Bấy giờ Bồ-tát đang theo đời tu khổ hạnh
v à sống ẩn dật trên một khoảng đất
nằm giữa hai vương quốc. Vua K àlinga tự nghĩ: "Những nhà tu này
là những người thông tuệ. Ai bảo rằng giữa hai bên, kẻ nào sẽ thắng, kẻ
nào sẽ bại? Ta sẽ đi hỏi nh à tu
kia." Thế là ông giả trang đi gặp Bồ-tát v à
kính cẩn ngồi một bên ngài. Sau khi chào hỏi chúc tụng theo thông lệ,
vua bảo:
- Thưa Tôn giả, Kàlinga và Assaka, mỗi bên
đều d àn quân lực ở biên thùy hai
nước, chờ đánh nhau. Giữa hai b ên,
ai sẽ thắng, ai sẽ thua?
Bồ-tát trả lời:
- Thưa Ðại vương bên này sẽ thắng bên kia sẽ thua? Tôi không thể nói
cho ngài biết gì hơn nữa. Nhưng Thiên chủ Ðế Thích, vua của cõi trời, sẽ
đến đây. Tôi sẽ hỏi Thi ên chủ và sẽ
cho ngài biết nếu ngày mai ngài trở lại
đây.
Khi Ðế Thích đến tham bái Bồ-tát, ng ài
nêu câu hỏi kia Ðế Thích trả lời:
- Kính thưa Tôn giả, Kàlinga sẽ thắng, Assaka sẽ thua. Có những triệu
điềm sẽ báo trước sự việc ấy.
Hôm sau, vua Kàlinga đến v à lặp
lại câu hỏi ấy. Bồ-tát đưa ra câu trả lời
của Ðế Thích. Bấy giờ vua Kàlinga chẳng cần hỏi những triệu
điềm ấy sẽ l à gì, tự nghĩ: "Họ bảo
rằng ta sẽ thắng". Rồi ông trở về, hoàn toàn thỏa mãn. Tin
đồn lan ra. Khi vua Assaka nghe được, liền
cho mời Nandisena đến v à nói:
- Người ta bảo rằng Kàlinga sẽ thắng và chúng ta sẽ thua. Phải làm
sao đây?
Nandisena trả lời:
- Thưa Ðại vương, ai biết được điều ấy?
Xin ng ài chớ lo lắng về người nào sẽ thắng người nào sẽ thua.
Ông trấn an vua xong, liền đến gặp
Bồ-tát, kính cẩn ngồi xuống một b ên và hỏi:
- Kính thưa Tôn giả, ai sẽ thắng, ai sẽ bại?
Bồ-tát trả lời:
- Kàlinga sẽ thắng và Assaka sẽ bị đánh
bại.
Nandisena hỏi:
- Kính thưa Tôn giả điềm g ì sẽ
thuộc kẻ thắng và điềm g ì thuộc
người bại?
- Thưa ngài - Bồ-tát đáp- Thần bảo hộ
của kẻ thắng sẽ l à một con voi đực
to àn trắng, còn thần bảo hộ của người bại sẽ là một con voi
đực to àn
đen. Hai vị thần bảo hộ của hai vị vua ấy
sẽ đánh nhau v à sẽ có bên thắng, bên bại.
Nghe thế, Nandisena đứng dậy rồi đi họp
các bạn đồng minh của vua Assaka lại. Họ gồm khoảng một ng àn
người và tất cả đều l à những chiến
sĩ. Ông đưa họ l ên một ngọn núi gần
đó v à hỏi họ:
- Các người có chịu hy sinh đời m ình
cho đức vua không?
- Thưa ngài, chúng tôi sẵn lòng. Họ đáp.
- Thế thì các người hãy gieo mình xuống dốc núi này
đi.
Khi họ định l àm theo lời ấy thì
Nandisena ng ăn họ lại v à nói:
- Không cần phải thế. Các người tỏ ra là những người bạn trung kiên
của đức vua v à hãy dũng cảm chiến
đấu v ì ngài.
Tất cả đều thề sẽ l àm như thế.
Khi chiến trận sắp bắt đầu, vua K àlinga
vẫn yên chí ông sẽ thắng. Quân lính của ông cũng nghĩ: "Phần thắng sẽ về
ta". Thế là họ mặc áo giáp, sắp xếp đội h ình
rời rạc, rồi mạnh ai nấy tiến lên. Ðến lúc cần phải dốc toàn lực thì họ
không thể nào làm được!
Rồi cả hai vua leo lên lưng ngựa xáp vào
định đánh nhau. C òn hai vị thần bảo hộ của họ thì
đánh nhau phía trước họ. Thần của K àlinga
hiện hình là một con voi đực to àn
trắng, còn thần của vua kia là một con voi
đực to àn đen, cả hai cũng xáp gần
nhau v à đang đánh nhau. Nhưng chỉ ri êng
hai vua trông thấy hai con voi ấy, ngoài ra chẳng ai trông thấy
được chúng. Bấy giờ Nandisen hỏi vua
Assaka:
- Tâu Ðại vương, Ðại vương có trông thấy hai vị thần bảo hộ không?
- Có, ta có trông thấy họ, vua đáp.
- Trông họ thế nào? Ông hỏi.
Thần bảo hộ của Kàlinga hiện hình là một con voi
đực trắng, c òn thần của chúng ta
hiện hình một con voi đen v à có vẻ
đang nguy khốn.
- Xin Ðại vương đừng sợ, chúng ta sẽ
thắng v à vua Kàlinga sẽ thua. Ngài chỉ cần xuống khỏi con ngựa
Sindh khôn lanh của ngài và cầm lấy cây thương này, rồi dùng tay trái
đấm một cú v ào sườn nó. Thế rồi ngài
cùng với một ngàn người này xông ào lên. Ngài sẽ dùng cây thương
đâm v ào thần bảo hộ của vua Kàlinga
cho ngã xuống. Trong lúc ấy, chúng tôi với một ngàn cây thương
sẽ đâm v ào thần ấy. Thế là thần bảo
hộ của Kàlinga sẽ chết, Kàlinga sẽ thua và chúng ta sẽ thắng.
- Ðược rồi! Vua trả lời
Khi Nandisena ra hiệu, vua dùng cây thương
đâm v ào thần bảo hộ của Kàlinga cùng
lúc với các vị triều thần đâm một ng àn
cây thương kia. Thần bảo hộ của vua Kàlinga chết ngay tại chỗ.
Khi ấy vua Kàlinga bị thua, phải bỏ chạy. Thấy thế, một ngàn người
kia la lớn lên:
- Kàlinga đ ã bỏ chạy.
Kàlinga sợ chết. Vừa khi chạy thoát, ông
đến trách cứ nh à tu khổ hạnh và đọc
b ài kệ thứ hai:
Quân Kà-lin-ga kiên cường thắng lợi
Quân As-sa-ka thất bại ê chề?
Ẩn giả ơi ngài đ ã nói tôi nghe.
Người chân thật chớ bao giờ nói dối.
Khi vua Kàlinga chạy trốn, ông đến trách
cứ vị ẩn sĩ như vậy, rồi từ chiến trận, ông chạy thẳng một mạch về kinh
đô của m ình, chẳng dám ngoảnh lại một lần.
Ít ngày sau, Ðế Thích đến thăm vị ẩn
giả. Nh à tu khổ hạnh nói với Thiên chủ bài kệ thứ ba:
Quí nhất của thần linh là chân thật
Các vị thần chẳng chịu nói sai ngoa,
Thế mà nay, ngài nói dối, Sak-ka,
Xin ngài nói lý do cho tôi biết.
Nghe thế, Ðế Thích đọc b ài kệ thứ
tư:
Bà-la-môn, há chẳng nghe:
Thần linh nào chẳng yêu vì hùng anh?
Những người dũng cảm, to gan
Ở nơi chiến trận chiếm phần thắng ngay.
Kiên cường mạo hiểm dạn dày,
As-sa-ka thắng trận này đúng thôi.
Sau cuộc đ ào tẩu của vua Kàlinga,
vua Assaka trở về kinh thành của mình với nhiều chiến lợi phẩm.
Nandisena gởi một sứ điệp cho vua K àlinga
bảo vua ấy phải gởi phần hồi môn cho bốn công chúa. Ông còn thêm:
- Nếu không, ta sẽ biết cách đối xử với
ông ta.
Vua Kàlinga nghe thế, vội báo rằng ông sẽ gởi phần xứng
đáng cho họ. Thế l à từ
đó về sau, hai vua sống thân hữu với nhau.
*
Khi kể xong Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Bấy giờ, bốn nữ du sĩ trẻ tuổi kia là các con gái của vua Kàlinga,
Xá-lợi-phất là Nandisena, còn chính Ta là vị ẩn sĩ.
-ooOoo-
302. Chuyện Đại#
Kỵ Sĩ (Tiền thân Mah à-Assàroha)
Giúp cho kẻ dại người ngoa ...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên, về Trưởng lão Ànanda.
Các tình tiết đưa đến câu chuyện đ ã
được tr ình bày trước kia. Bậc Ðạo Sư
dạy:
- Ngày xưa cũng thế, các trí giả hành
động theo nguy ên tắc một nghĩa cử
đáng được đền đáp.
Rồi Ngài kể cho họ nghe một chuyện đời
xưa.
*
Ngày xưa, Bồ-tát là vua xứ Ba-la-nại, cai trị công chính, bố thí và
giữ đúng luật lệ đạo đức.
Ðể dẹp yên một vụ rối loạn ở biên thùy, ngài
đốc suất một lực lượng lớn. Nhưng bị thất
bại, ng ài lên ngựa chạy mãi cho tới khi ngài tới một ngôi làng ở
biên địa. Bấy giờ có ba mươi người dân
trung th ành sống ở đó. Họ đ ã
họp nhau lại từ rất sớm tại trung tâm ngôi làng
để l àm công việc. Ngay lúc ấy, vua
cỡi con ngựa có mặc giáp với đầy đủ trang
phục v à tiến đến gần cổng l àng.
Mọi người đều sợ h ãi và nói:
- Gì thế kia?
Rồi ai nấy đều chạy về nh à mình,
chỉ còn một người kia không chạy về nhà,
đến đón tiếp vua. Ông ta kể cho người khách lạ hay rằng ông nghe nói vua
đ ã ra tới biên thùy và hỏi khách là kẻ bảo hoàng hay là kẻ phiến
loạn. Vua bảo:
- Thưa ngài, tôi theo đức vua.
- Thế thì hãy theo tôi.
Ông ta nói thế rồi dẫn vua về nhà ông, bảo vua ngồi vào chỗ của riêng
mình. Ông nói với vợ:
- Hãy rửa chân bạn của chúng ta.
Khi bà vợ làm theo lời ông xong, ông dâng vua
đồ ăn ngon nhất m à ông có thể làm
được, rồi chuẩn bị sẵn giường cho vua, bảo
vua nghỉ một chốc. Vua nằm xuống giường. Rồi ông chủ nh à cởi giáp
ngựa, thả nó ra, cho nó uống nước, ăn cỏ v à
lấy dầu lau rửa nó. Ông s ăn sóc vua ba bốn
ng ày chu đáo như thế. Rồi vua bảo:
- Này bạn, bây giờ tôi đi đây.
Người chủ lại làm đủ mọi việc để chuẩn
bị cho vua v à con ngựa của ngài. Sau khi dùng bữa xong và sắp từ
giã, vua nói:
- Người ta gọi tôi là Ðại kỵ sĩ. Nhà tôi ở tại trung tâm thành phố.
Nếu khi nào bạn có công việc gì đến đó, h ãy
đứng ở cái cửa b ên tay phải và hỏi
người gác cổng Ðại kỵ sĩ ở chỗ nào, rồi hãy cùng người ấy
đến nh à tôi.
Nói xong vua lên đường.
Bấy giờ đạo quân kia không thấy vua ở
đâu, vẫn đóng trại ở b ên ngoài thành. Nhưng khi thấy
được vua, họ đến đón tiếp ng ài rồi
hộ tống ngài về. Khi vào thành, vua đứng ở
lối v ào cổng, gọi người gác cổng và ra lệnh cho mọi người lui ra.
Ngài bảo:
- Này bạn, có một người kia sống tại một làng ở biên
địa sắp đến đây để mong được gặp ta. Người
ấy sẽ hỏi nh à của Ðại kỵ sĩ ở đâu. H ãy
dắt tay người ấy và dẫn đến ra mắt ta. L àm
xong việc bạn sẽ có một ngàn đồng.
Nhưng rồi người kia mãi không đến. Vua
tăng thuế ở ngôi l àng mà ông sống. Thuế
đ ã lên cao, vẫn không thấy ông ta
đến. V ì thế, vua lại t ăng
thuế lần thứ hai, rồi lần thứ ba, ông ta vẫn không đến. Bấy giờ dân l àng
ấy họp nhau lại và nói với ông ta:
- Thưa ông, từ khi kỵ sĩ kia đến với
ông, chúng ta bị sưu thuế đ è nặng
đến nỗi chúng ta không cất đầu l ên
được. Ông h ãy đến gặp Ðại kỵ
sĩ để nhờ ông ta l àm
đỡ bớt gánh nặng cho chúng ta.
- Ðược rồi, tôi sẽ đi - ông ta đáp -
nhưng tôi không thể đi với tay không đâu đấy! Bạn tôi có hai đứa con
trai, vậy các người h ãy chuẩn bị đồ
trang sức, quần áo cho vợ con bạn tôi v à cho cả chính anh ta nữa.
- Tốt lắm, họ trả lời.
Rồi họ chuẩn bị đầy đủ mọi thứ để l àm
quà tặng.
Người chủ nhà kia mang cả quà tặng ấy cùng với một cái bánh rán tại
nhà ông. Khi ông đến cửa b ên tay
phải, ông hỏi người gác cổng xem nhà của Ðại kỵ sĩ ở
đâu. Người gác cổng đáp:
- Hãy lại đây tôi sẽ chỉ cho.
Rồi người gác cổng dắt ông tới cổng cung vua và nhắn:
- Người gác cổng đ ã
đến v à mang theo người
đ àn ông trú tại ngôi làng ở biên
địa.
Vua nghe thế, liền đứng dậy v à
nói:
- Hãy để cho bạn ta v ào cung cùng
các thứ ông mang theo.
Rồi ngài ra đón tiếp v à ôm lấy
ông. Sau khi hỏi th ăm vợ con ông ta, ng ài
dắt tay ông bước lên bệ, đưa ông ngồi v ào
ngai, dưới cây lọng trắng. Ngài gọi chánh hoàng hậu
đến v à bảo:
- Hãy rửa chân cho bạn ta.
Thế là hoàng hậu rửa chân cho ông. Trong khi hoàng hậu rửa chân ông
xong, vua tưới nước trong một cái bình bằng vàng rồi xức dầu thơm vào
chân ông ta. Vua hỏi:
- Bạn có gì cho chúng ta ăn không?
Ông ta đáp:
- Thưa ngài, có.
Rồi ông lấy bánh trong xách ra. Vua nhận bánh bỏ vào một cái
đĩa bằng v àng và
để tỏ l òng biết ơn, vua bảo:
- Hãy ăn các thứ bạn ta mang đến.
Rồi ngài lấy bánh cho hoàng hậu và các
đại thần v à chính ngài cũng ăn bánh
ấy. Sau đó người khách lạ mang tặng vật khác ra. Vua muốn chứng tỏ ng ài
rất vui lòng nhận quà, liền cởi bỏ y phục lụa gấm của ngài ra và mặc vào
bộ quần áo do ông ta mang tới . Hoàng hậu cũng bỏ áo lụa ra một bên rồi
mặc áo và đồ trang sức do ông mang tới cho
b à. Rồi vua dọn cho ông thức ăn d ành
cho vua, và gọi một đại thần đến bảo:
- Hãy đến cắt tỉa râu của ông ta như
kiểu của ta vậy v à để ông tắm trong
bồn tắm nước hoa. Sau đó cho ông ta mặc một chiếc áo giá trị một trăm ng àn
đồng, trang sức cho ông ta theo cách vương
giả rồi đưa ông ta đến đây!
Mọi sự đều được thi h ành theo như
thế. Vua cho đánh trống trong th ành,
họp các triều thần lại rồi cho may một sợi chỉ bằng châu sa thuần chất
xuyên qua chiếc lọng trắng. Vua nhường cho ông ta một nửa vương quốc của
mình. Từ đó hai vị c ùng
ăn, uống, ở với nhau v à trở nên
đôi bạn vững bền, bất ly.
Thế rồi vua cho mời vợ ông ta và gia đ ình
đến, xây cho họ một ngôi nh à trong
thành phố. Vua và người ấy lãnh đạo vương
quốc thật h ài hòa, tuyệt hảo. Bấy giờ các
đại thần tức giận đến v à nói với
thái tử:
- Thưa Ðiện hạ, đức vua cho người gia
trưởng kia một nửa vương quốc. Ng ài
ăn, uống v à ở chung với ông ta, ra lệnh cho chúng ta phải kính
chào các con của ông ta. Ông ta đ ã
làm gì cho đức vua, chúng ta cũng chẳng r õ.
Sao đức vua lại l àm thế chứ? Chúng
tôi cảm thấy thật hổ thẹn. Xin ngài hãy tâu chuyện với
đức vua xem.
Thái tử chấp thuận ngay và tâu lại hết các lời trên cùng vua và nói:
- Tâu Ðại vương, ngài chớ làm như thế.
- Con ơi, - vua bảo - Con có biết sau khi bại trận, ta
đ ã trú ở
đâu không?
- Tâu phụ vương, con không biết, thái tử
đáp.
Vua nói:
- Ta đ ã sống trong nhà của người
này, và khi sức khỏe bình phục ta trở về và tiếp tục trị vì, làm sao ta
lại không ban vinh dự cho ân nhân của ta chứ?
Rồi Bồ-tát nói tiếp:
- Con ạ, kẻ nào cho kẻ không xứng đáng
cho v à không cho kẻ xứng đáng th ì
kẻ ấy lâm hoạn nạn, chẳng được ai giúp đỡ.
Và để n êu rõ
đạo lý ấy, ng ài
đọc các b ài kệ sau:
Giúp cho kẻ dại người ngoa
Ðến khi khẩn cấp, ai mà cứu cho?
Thi ân cho kẻ hiền hòa,
Ðến khi khẩn cấp, người đ à giúp
ngay.
Bao nhiêu công của dù dày,
Giúp cho kẻ xấu, cũng tày như không.
Những ai là kẻ có lòng
Ta tuy giúp ít mà công được bền.
Một lần việc nghĩa gây n ên,
Ngai vàng xứng giá đáp đền cung ngh ênh.
Như từ mầm nhỏ, tái sinh trái;
Từ hành vi tốt, hiển vinh đời đời.
Nghe thế, các đại thần v à thái tử
trẻ tuổi kia chẳng biết trả lời sao cả.
*
Khi kể xong Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, chính Ànanda là người trú ở ngôi làng biên
địa kia, c òn Ta là vua xứ
Ba-lai-nại.
-ooOoo-
303. Chuyện Vị Thánh Vương (Tiền Thân Ekaràja)#
Xưa Ðại vương sống trong vương quốc ...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một cận thần
của vua sứ Kosala.
Các tình tiết đưa đến câu chuyện đ ã
được kể trong số 282, Tiền thân Seyyamsa.
Lần n ày bậc Ðạo Sư dạy:
- Ông chẳng phải là người độc nhất tạo
được cái tốt từ trong cái xấu, các trí giả ng ày xưa cũng
đ ã tạo
được cái tốt từ trong cái xấu.
Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, một quan cận thần của vua xứ Ba-la-nại phạm tà hạnh trong
hậu cung của vua. Sau khi chính mắt chứng kiến lỗi lầm của ông, vua
đuổi ông ra khỏi vương quốc. Ông ta đ ã
đầu phục vua xứ Kosala t ên là
Dabbasena như thế nào, tất cả đều đ ã
được kể trong số 51, Tiền thân Mah àsilava.
Nhưng trong chuyện này, Dabbasena bắt vua xứ Ba-la-nại khi vua
đang ngồi tr ên ngai, giữa
đám triều thần, rồi trói ng ài và
treo ngược đầu bằng một sợi dây mắc v ào
thanh cửa. Vua vẫn phát triển lòng từ đối
với ông vua phản nghịch kia v à nhờ
định lực tinh tấn, ng ài nhập trạng thái thiền
định, l àm bung các dây trói và ngồi
tréo chân trên không. Ông vua phản loạn bị tấn công bởi cơn
đau đốt cháy cả thân xác, lăn lộn tr ên
đất v à la:
- Ta bị đốt cháy, ta bị đốt cháy.
Khi ông hỏi các triều thần tại sao như thế thì họ trả lời:
- Ðó là vì ông vua mà ngài treo ngược
đầu xuống bằng một sợi dây mắc ở thanh cửa kia l à một người vô
tội và là một vị thánh nhân.
Vua liền phán:
- Hãy thả vua ấy ra nhanh lên.
Quân hầu đến đó v à thấy vua ấy
đang ngồi tréo chân tr ên không, liền
trở về kể lại cho vua Dabbasena. Thế là vua này vội vã chạy
đến cúi m ình xin lỗi vị vua kia và
đọc b ài kệ
đầu:
Xưa Ðại vương sống trong vương quốc
Hưởng bao nhiêu hạnh phúc, ai bằng!
Mặt ngài sao quá khinh an
Giữa cơn địa ngục nhọc nhằn đớn đau?
Nghe thế, Bồ-tát đọc tiếp các b ài
kệ còn lại:
Xưa ta đ ã nguyện cùng trời
đất
Nhập v ào hàng ẩn dật, chẳng dừng.
Ta nay vinh hiển sáng lừng,
Mặt ta há lại ra tuồng héo hon?
Ðạt cứu cánh, ta tròn bổn phận,
Vua thù ta còn hận ta đâu?
Vinh danh, ta đạt mong cầu,
Mặt ta há lại đổi m àu xấu xa?
Khi vui sướng chuyển ra khổ cực,
Kẻ bền lòng lọc được an khang.
Khổ, vui, n ào phải hai đ àng,
Khi người đời đạt Niết-b àn tịch
không.
Nghe kệ xong, Dabbasena xin Bồ-tát tha thứ và thưa:
- Xin ngài hãy trị dân của chính ngài và tôi sẽ
đánh đuổi bọn phiến loạn nghịch chống ng ài.
Sau khi trừng phạt ông quan gian ác kia, vua Dabbasena trở về xứ.
Nhưng Bồ-tát lại trao vương quốc cho các
đại thần rồi sống đời khổ hạnh của một ẩn sĩ v à sau
đó tái sinh v ào cõi Phạn thiên.
*
Khi bậc Ðạo Sư kể xong Pháp thoại này, Ngài nhận diện Tiền thân:
- Bấy giờ Ànanda là Dabbasena, còn Ta là vua xứ Ba-la-nại.
-ooOoo-
304. Chuyện Rắn Thần Daddara (Tiền Thân Daddara)#
Dad-da-ra, ai mà chịu nổi ...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo
giận dữ.
Các tình tiết đ ã
được kể trước đây.
Ở đây, khi các Tỷ-kheo đang b àn
tán tại Pháp đường về tính sân si của
Tỷ-kheo ấy th ì bậc Ðạo Sư đến. Ng ài
hỏi và khi được nghe thuật lại, Ng ài
cho gọi Tỷ-kheo ấy đến v à hỏi:
- Này Tỷ-kheo, có thực rằng ông đ ã
sân si như họ bảo không?
- Vâng, bạch Thế Tôn, đúng như thế. Ông
ta trả lời.
Bậc Ðạo Sư dạy:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ, mà ngày xưa ông này cũng
đ ã rất sân si, và do thái
độ sân si của ông ta, các trí giả xưa kia
mặc dầu vẫn sống cuộc đời ho àn toàn trong lành của những hoàng tử
Rắn thần (Nàga), đ ã sống ba n ăm
nơi đống rác dơ bẩn.
Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ Ba-la-nại, dòng giống Rắn
thần trú ở chân núi Daddara trong vùng Tuyết Sơn. Bồ-tát sinh ra là con
trai của Sùradaddara, vua xứ ấy. Ngài tên là Mahàdaddara, và có một em
trai tên là Culladaddara, có tính sân si, hung dữ, thường la mắng
đánh đập các n àng Long nữ. Vua rắn
thần Nàga nghe nó hung dữ như thế, liền
đuổi nó ra khỏi xứ N àga. Nhưng Mahàdaddara xin cha tha thứ cho
em, và cứu em khỏi bị đuổi. Lần thứ hai đứa
em lại bị vua giận, v à cũng được anh
xin vua tha thứ cho. Nhưng đến lần thứ ba vua bảo:
- Ngươi cứ ng ăn ta đuổi đứa vô tích sự n ày
mãi; bây giờ cả hai chúng bây phải rời khỏi xứ Nàga mà
đến sống ba năm tr ên một
đống rác ở Ba-la-nại.
Vua đuổi cả hai ra khỏi xứ N àga,
va hai anh em đến sống tại Ba-la-nại. Khi
bọn trẻ trong l àng thấy chúng đang
kiếm ăn trong một r ãnh nước vây quanh
đống rác, th ì bọn này lập tức
đánh chúng, lấy đất đá, que gậy ném chúng,
d ùng ná, nỏ bắn chúng và la lên:
- Cái gì thế kia, mấy con rắn nước đầu
to, đuôi nhỏ như kim?
Rồi chúng nói đủ lời mắng nhiếc.
Culladaddara, do bản tính giận dữ sân si, không thể chịu được sự vô lễ
như thế, liền nói:
- Anh ơi, bọn trẻ này nhạo báng chúng ta. Chúng không biết rằng ta là
rắn có nọc độc. Em không thể chịu sự xúc
phạm của chúng đối với chúng ta như thế. Em sẽ phun hơi ra v à
giết chúng.
Rồi nó đọc b ài kệ
đầu để nói với anh nó:
Dad-da-ra, ai mà chịu nỗi
Chúng nhiếc ta: " Ăn nhái, ở b ùn"
Bọn kia khờ dại đáng thương,
Trước nanh rắn độc, dám nhờn mặt sao?
Nghe thế, Mahàdaddara đọc tiếp phần kệ
sau:
Kẻ lưu đầy bị v ào chốn lạ
Phải chịu bao nhục mạ tân toan
Bậc hàng giai cấp ta mang,
Hạnh hiền đức độ há từng ai hay?
Kẻ ngu muốn tỏ b ày ra dáng
Rằng ta đây l à hạng cao vời.
Trong nhà dù sáng như trời,
Ra ngoài phải chịu đựng người hạ lưu.
Cả hai anh em sống nơi đó ba năm. Thế
rồi vua cha gọi chúng về nh à. Từ đó
l òng tự phụ của chúng giảm hẳn đi.
*
Khi kể xong Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết Tứ Ðế. Ở phần kết
thúc về Tứ Ðế, vị Tỷ-kheo giận dữ kia đắc
quả Bất Lai. Bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Bấy giờ vị Tỷ-kheo giận dỗi này là Culladaddara, còn Ta là
Mahàdaddara.
-ooOoo-
305 Chuyện Thử Thách Giới
Đức (Tiền thân S ìlavìmamasana)
Thật ra chẳng việc nào tội lỗi ...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ-Viên về sự chê trách
tội lỗi.
Các tình tiết sẽ được kể trong số 459.
Tiền thân P ànìya, trong Chương Mười một. Sau
đây l à phần tóm tắt.
N ăm trăm Tỷ-kheo sống ở Kỳ Vi ên,
gần đến lúc nửa đ êm hôm ấy,
đi sâu v ào cuộc thảo luận về dục
lạc. Bấy giờ bậc Ðạo Sư vẫn luôn luôn trông chừng các Tỷ-kheo suốt sáu
thời khắc của đ êm ngày, giống như kẻ
chột cẩn thận giữ gìn con mắt còn lại của mình, như người cha ch ăm
sóc đứa con một, như con trâu rừng giữ kỹ cái đuôi của nó. Giữa đ êm
khuya, do thiên nhãn Ngài quan sát khắp Kỳ Viên và chứng kiến việc các
Tỷ-kheo bàn thảo kia; tựa như bọn cướp đ ã
tìm thấy lối vào cung điện của một đại
vương, Ng ài mở cửa Hương phòng, gọi Ànanda và sai ông họp các
Tỷ-kheo trong Tinh xá trên con đường lát v àng
(tức Kỳ Viên) và bảo dọn cho Ngài một chỗ ngồi trước Hương phòng. Tôn
giả Ànanda làm theo lời dạy rồi báo cho Ngài hay. Bấy giờ, bậc Ðạo Sư
ngồi vào chỗ ngồi đ ã chọn sẵn, bảo
các Tỷ-kheo họp lại rồi dạy:
- Này các Tỷ-kheo, các trí giả ngày xưa nghĩ rằng không thể che dấu
hành động sai trái v à vì vậy họ cố
tránh làm điều xấu.
Rồi Ngài kể cho họ một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra trong
một gia đ ình Bà-la-môn. Khi lớn lên,
ngài được một vị thầy nổi danh thi ên
hạ trú trong thành phố ấy dạy dỗ. Ngài đứng
đầu số năm trăm học tr ò. Bấy giờ ông thầy ấy có một con gái
đ ã đến
tuổi dậy th ì, ông ta nghĩ: "Ta sẽ thử
đức hạnh của các thanh ni ên này, ta
sẽ gả con gái ta cho kẻ nào có đức hạnh cao
nhất".
Một hôm, ông bảo các học trò:
- Này các bạn, ta có một con gái mới lớn, ta muốn kén chồng cho nó,
nhưng ta phải có quần áo đẹp v à
đồ trang sức thích hợp cho nó. Các bạn h ãy
lấy cắp vài thứ ấy mà đừng cho các bạn khác
biết rồi mang đến cho ta. Khi n ào không ai trông thấy thì ta sẽ
nhận, còn nếu các bạn mang món đồ bị người
ta trông thấy th ì ta sẽ từ chối.
Các học trò đều đồng ý v à nói:
- Tốt lắm.
Thế là từ hôm ấy, họ lấy cắp quần áo, đồ
trang sức m à các bạn bè không biết rồi mang
đến cho thầy. Ông sắp xếp các thứ m à
mỗi người mang đến ở từng nơi ri êng
biệt. Về phần Bồ-tát, ngài chẳng lấy cắp thứ gì cả.
Thấy thế, ông thầy bảo:
- Còn bạn, bạn ơi, bạn chẳng mang đến g ì
cho ta ư?
Ngài đáp:
- Thưa thầy, đúng thế.
Thầy hỏi:
- Sao thế bạn?
Ngài trả lời:
- Nếu lấy đồ vật m à không kín
đáo th ì thầy không nhận. Nhưng con
thấy rằng không thể nào che giấu hành động
xấu của m ình được.
Và để chứng minh chân lý n ày,
ngài đọc hai b ài kệ sau
đây:
Thật ra chẳng việc nào tội lỗi
Lại kín bưng đối với đời n ày.
Kẻ ngu tưởng kín đáo thay,
Thần linh cũng đ ã thấy ngay hết rồi.
Ðiều bí mật chẳng nơi giấu được,
Với tôi đây không nốt cái không.
Ở nơi chẳng có ai c ùng
Nhưng tôi có đó, hết luôn không rồi!
Ông thầy rất bằng lòng với lời lẽ ấy, liền bảo:
- Này bạn, nhà ta không thiếu của cải, nhưng ta muốn gả con gái ta
cho một người có đức hạnh v à ta
đ ã làm như thế
để thử các thanh ni ên ấy. Bây giờ
chỉ có bạn là xứng đáng với con gái ta.
Thế rồi ông trang sức cho con gái và đem
gả cho Bồ-tát, c òn với những người kia ông bảo:
- Hãy lấy lại mọi thứ mà các anh đ ã
mang đến cho ta v à
đưa về nh à của các anh
đi.
*
Sau đó, bậc Ðạo Sư dạy:
- Này các Tỷ-kheo, thế đấy, những người
học tr ò xấu kia vì tính không thật thà
đ ã không lấy
được cô thiếu nữ ấy, trong khi ch àng
trai trẻ khôn ngoan kia, do đức hạnh tốt,
đ ã lấy được n àng làm vợ.
Rồi ngài đọc b ài kệ khác:
Cậu Hoang, cậu Khánh, cậu Vui
Lại thêm cậu Dễ, cậu Tồi, cậu Vinh
Thảy mong được vợ cho m ình
Lầm đường lạc nẻo m à thành lông
bông.
Thấy rõ Pháp từ trong tuổi trẻ,
Luôn chấp trì Chân đế m à thôi.
Do lòng can đảm cao vời,
B à-la-môn lấy được người vợ kia.
*
Sau khi chấm dứt bài thuyết giảng trang trọng này, bậc Ðạo Sư tuyên
thuyết Tứ Ðế và ở các phần kết thúc về Tứ Ðế, n ăm
trăm vị Tỷ-kheo kia đạt được Thánh quả.
Bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, Xá-lợi-phất là người thầy, còn chính Ta là chàng trai
trẻ tuổi sáng trí kia.
-ooOoo-
306. Chuyện Hoàng Hậu Sujàta (Tiền thân Sujàta)#
Dáng như cái trứng, trái gì đây? ...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về hoàng hậu
Mallikà (Mạt-lợi).
Một hôm, tương truyền có xảy ra việc cãi cọ giữa hoàng hậu và vua.
Người ta thường bảo đó l à một chuyện
xích mích trong hậu cung. Vua giận quá đến
độ không cần biết tới có sự có mặt của ho àng hậu nữa. Mallikà tự
nghĩ: "Chắc bậc Ðạo Sư không biết rằng vua giận ta
đến thế n ào
đâu!".
Nhưng bậc Ðạo Sư đ ã biết hết và
quyết định sẽ giảng h òa giữa hai
người. Vì thế tờ mờ sáng, Ngài đ ã
mặc áo trong khoác áo ngoài rồi cầm bình bát, dẫn theo n ăm
trăm Tỷ-kheo v ào Xá-vệ và đến cổng
cung điện. Vua đỡ lấy b ình bát của Ngài,
đưa Ng ài vào nội
điện v à mời Ngài ngồi vào chỗ
được dọn sẵn cho Ng ài. Vua rưới nước
cúng dường trên tay trái Ngài và các Tỷ-kheo ở sau Ngài, rồi
đem cơm bánh ra mời. Nhưng bậc Ðạo
Sư lấy tay che bình bát của Ngài lại và nói:
- Thưa Ðại vương, hoàng hậu đâu rồi?
Vua đáp:
- Bạch Thế Tôn, Ngài hỏi bà ấy làm gì? Bà ấy còn biết phải trái gì
đâu! B à
đang say sưa v ì danh dự mà bà được
hưởng.
- Tâu Ðại vương - bậc Ðạo Sư nói - Trước kia chính ngài ban vinh dự
cho người phụ nữ ấy; bây giờ ngài lại lấy hết
đi v à không chịu xóa bỏ lỗi lầm mà
bà đ ã phạm
đối với ng ài thì ngài
đ ã sai rồi.
Nghe bậc Ðạo Sư dạy như thế, vua cho mời hoàng hậu
đến. B à
đến hầu cận bậc Ðạo Sư. Ngài dạy:
- Các vị phải sống với nhau hòa thuận.
Sau khi ca ngợi hạnh phúc của sự hòa hợp, Ngài ra
đi. Từ đó vua v à hoàng hậu sống hạnh
phúc bên nhau.
Các Tỷ-kheo bàn tán trong Pháp đường
rằng chỉ cần một lời, bậc Ðạo Sư đ ã
hòa giải được vua v à hoàng hậu. Bậc
Ðạo Sư bước vào. Sau khi hỏi các Tỷ-kheo
đang b àn tán việc gì và được họ kể
lại, Ng ài dạy:
- Này các Tỷ-kheo, không phải bây giờ mà xưa kia, Ta cũng hòa giải họ
bằng một lời khuyến dụ.
Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi Brahmadatta là vua xứ Ba-la-nại, Bồ-tát là
đại thần của vua, vừa l à cố vấn về
thế sự và thánh sự.
Một hôm, vua đứng ở cửa sổ nh ìn
xuống sân cung điện. Ngay lúc ấy một thiếu
nữ thanh xuân xinh đẹp đang đội tr ên
đầu một rổ táo v à rao:
- Táo đây, táo chín đây, ai mua táo
không?
Nhưng nàng không dám vào sân cung điện.
Vua vừa nghe tiếng nàng, đ ã yêu
nàng ngay. Khi biết rằng nàng chưa có chồng, vua gọi nàng
đến v à cho lên ngôi chánh hoàng hậu,
lại ban cho nàng vinh dự lớn lao. Bấy giờ, dưới mắt vua, nàng
được y êu thương và làm vua hài lòng.
Một hôm, vua đang ăn táo đựng trong một
cái đĩa bằng v àng. Thấy thế, hoàng hậu Sujàta hỏi:
- Tâu Chúa thượng, ngài đang ăn cái g ì
vậy?
Và bà đọc b ài kệ
đầu:
Dáng như cái trứng, cái gì đây
Trong đĩa v àng kia đặt trước ng ài,
Sắc đỏ xinh thay - Tâu thánh thượng,
Trái cây n ày mọc ở đâu vầy?
Vua tức giận và nói:
- Này cô gái nhà bán rau quả kia, cô chuyên bán táo chín, cô lại há
không nhận ra trái táo là trái đặc biệt của
chính gia đ ình cô hay sao?
Rồi vua đọc hai b ài kệ tiếp theo:
Áo quần mộc mạc, đầu không m ão,
Ngày ấy nào cô hổ thẹn đâu?
Vạt áo đựng đầy bao trái táo,
Bây giờ lại hỏi trái cây n ào!
Cô quá tự cao, hư hỏng ra,
Ðời cô chẳng thấy thú đâu m à!
Ði đi, táo ấy, lui về lượm,
Cô chẳng c òn là vợ của ta.
Thế rồi Bồ-tát tự nghĩ: "Chẳng có ai ngoài ta ra có thể hòa giải
đôi vợ chồng n ày
được. Ta sẽ l àm dịu cơn giận của vua
và ng ăn ng ài
đuổi b à ấy ra khỏi cửa". Rồi ngài
đọc b ài kệ thứ tư:
Ðây là tội của người phụ nữ
T ăng trưởng theo ngôi thứ m à ra.
Xin ngài thôi giận, thứ tha,
Vì ngài đ ã tặng cho bà ngôi cao.
Vua nghe thế bèn bỏ hết lỗi lầm của hoàng hậu phục hồi ngôi cũ của
bà. Từ đó hai người sống với nhau rất h òa
ái.
*
Kể xong Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân.
- Bấy giờ vua Kosala là vua xứ Ba-la-nại, hoàng hậu Mallikà là
Sujàtà, còn chính Ta là quan cận thần kia.
-ooOoo-
307. Chuyện Thần Cây Hồng#
Điệp (Tiền thân Pal àsa)
Bà-la-môn, sao người có trí ...,
Bậc Ðạo Sư lúc sắp diệt độ đ ã kể
chuyện này về Trưởng lão Ànanda.
Tôn giả Ànanda biết rằng ngay trong đ êm
ấy, bậc Ðạo Sư sẽ diệt độ b èn tự
bảo: "Ta còn phải giữ giới luật, còn nhiều công hạnh phải thực hiện. Bậc
Ðạo Sư chắc chắn sẽ diệt độ rồi. Thế l à
công việc trong suốt hai l ăm năm qua ta
cung phụng Ng ài sẽ chẳng có kết quả gì". Tràn ngập sầu bi, Trưởng
lão gục vào then cửa có chạm hình đầu khỉ
của ph òng chứa đồ trong vườn v à
khóc nức nở.
Bậc Ðạo Sư thấy vắng Ànanda liền hỏi các Tỷ-kheo vị ấy ở
đâu. Sau khi nghe thuật lại, Ng ài
gọi vị ấy vào và bảo:
- Này Ànanda, ông đ ã tích trữ cả
một kho công đức. H ãy tiếp tục tinh
cần rồi ông sẽ được thoát khỏi khổ đau của
đời người. Chớ n ên sầu bi. Làm sao sự phụng dưỡng của ông
đối với Ta bây giờ không có kết quả được,
bởi v ì những sự phụng dưỡng của ông trước kia trong những ngày
ông còn mang tội lỗi đ ã không phải
là không được đáp đền.
Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra mang
hình hài của một Thần cây hồng điệp. Bấy
giờ, dân chúng ở Ba-la-nại rất s ùng kính các vị thần như thế và
vẫn thường đến cúng kiến.
Một người Bà-la-môn nghèo khó kia tư nghĩ: "Ta cũng sẽ
đi cúng bái thần linh". Rồi ông ta t ìm
được một cây hồng điệp lớn mọc tr ên
chỗ đất cao. Ông rải sỏi đá rồi quét tước
xung quanh, săn sóc rễ cây sạch sẽ, nhổ cỏ ... Ông dâng cúng một tr àng
đủ năm loại hoa thơm rồi đốt một cây nến l àm
lễ dâng hương hoa. Sau khi cung kính dâng thánh lễ, ông nói:
- Mong ngài được an b ình.
Rồi ông bỏ đi. Ng ày hôm sau ông
lại đến thật sớm v à ân cần chúc hỏi.
Một hôm, Thần cây chợt nghĩ: "Người Ba-la-môn này ch ăm
sóc ta rất kỹ lưỡng. Ta sẽ thử l òng ông ta và tìm xem tại sao ông
ta tôn kính ta rồi sẽ ban cho ông điều ước
muốn của ông". Thế l à khi người Bà-la-môn ấy
đến quét tước quanh gốc rễ cây, Thần liền
hóa th ành một Bà-la-môn lớn tuổi
đứng gần đó v à đọc b ài kệ
đầu:
Bà-la-môn, sao người có trí
Lại hỏi han cây chỉ vô tri?
Lời cầu, lời chúc ra chi!
Cây trong thảm ấy đáp g ì người
đâu!
Nghe thế, người Bà-la-môn ấy trả lời bằng bài kệ thứ hai:
Cây nổi tiếng từ lâu vẫn đứng
Chỗ an cư của những vị thần.
Thần kia tôi kính muôn v àn,
Chắc rằng thần giữ kho tàng nơi đây.
Vị Thần cây nghe thế rất bằng lòng về ông ta liền bảo:
- Này Bà-la-môn, ta sinh ra là vị Thần của cây này. Ðừng sợ ta, ta sẽ
cho người kho tàng ấy.
Và để l àm an lòng ông, Thần thể
hiện thần lực, đứng lơ lửng tr ên
không tại cổng vào lâu đ ài của mình
và đọc th êm hai bài kệ:
Bà-la-môn tâm đầy từ ái
Chính ta đây ghi lấy việc người
H ành vi sùng đạo tr ên
đời,
Bao giờ kết quả cũng thời xứng cân.
Cây sung kia đổ tr àn bóng mát
Xứng cùng bao tặng vật, cúng dường.
Dưới cây chôn một kho tàng
Phần người được thưởng, đ ào vàng
mà xin.
Ngoài ra, Thần còn nói thêm:
- Này Bà-la-môn, nếu người phải đ ào
kho tàng lên và mang theo thì người sẽ vất vả quá. Vậy hãy ra
đi trước, rồi ta sẽ mang kho t àng về
nhà người và để tại chỗ kia. Thế l à
người được hưởng kho báu ấy suốt đời; h ãy
bố thí và hãy giữ tròn đạo hạnh.
Sau khi khuyên dụ người Bà-la-môn như thế, vị Thần cây liền thực hiện
thần lực chuyển kho tàng vào trong nhà của người ấy.
*
Bậc Ðạo Sư chấm dứt bài thuyết giảng và nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, Ànanda là người Bà-la-môn, còn Ta là vị Thần cây.
-ooOoo-
308. Chuyện Chim Gõ Kiến (Tiền Thân Javasakuna)#
Bao nhiêu lòng tốt trong tôi...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về sự vô ơn của
Ðề-bà- đạt-đa.
Cuối cùng, Ngài dạy:
- Chẳng phải chỉ bây giờ mà từ xưa kia, Ðề-bà- đạt-đa
cũng đ ã tỏ ra vô ơn.
Sau đó, Ng ài kể một chuyện
đời xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vị xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra là một
con chim Gõ kiến sống trong vùng Tuyết Sơn.
Bấy giờ, có một con Sư tử, trong khi ăn
mồi, bị một miếng xương mắc trong cổ. Cổ nó sưng l ên đến
độ nó không thể ăn g ì
được v à
đau đớn khôn c ùng. Chim Gõ kiến đang
kiếm đồ ăn, đậu tr ên một cành cây, trông thấy Sư tử và hỏi nó:
- Này bạn, cái gì làm bạn đau thế?
Nghe Sư tử bảo cho biết, chim nói:
- Bạn ạ, tôi có thể lấy cái xương ra khỏi cổ họng bạn nhưng tôi không
dám chui đầu v ào mồm bạn và sợ bạn
ăn tôi luôn!
- Bạn ơi, đừng sợ, tôi sẽ không ăn bạn
đâu. Xin bạn h ãy cứu sống tôi.
- Ðược rồi.
Chim nói thế và bảo Sư tử nằm xuống một bên nó. Rồi nó nghĩ: "Ai biết
được anh bạn n ày sẽ làm sao chứ?" Và
để ngăn ngừa Sư tử ngậm miệng lại, nó cắm
một khúc cây giữa h àm trên và hàm dưới Sư tử, thò
đầu v ào miệng con này rồi dùng mỏ
gắp đầu mút xương. Cái xương rớt ra ngo ài
rồi mất đi. G õ kiến rút
đầu ra khỏi miệng Sư tử, lấy mỏ
đập khúc cây cho rớt ra rồi nhảy l ên
đậu tr ên chóp một cành cây.
Sư tử được khỏi bệnh. Một hôm nó đang ăn
một con b ò rừng mà nó vừa giết. Chim Gõ kiến liền nghĩ: "Ta sẽ
thử lòng hắn xem sao?". Ðậu trên một cành cây phía trên
đầu Sư tử, nó nói với Sư tử qua b ài
kệ sau:
Bao nhiêu lòng tốt trong tôi,
Tôi đây đ ã tỏ cho ngài lần kia.
Phần ngài chẳng nguyện cao xa,
Cho tôi đôi chút gọi l à hảo tâm.
Nghe thế, Sư tử trả lời bằng bài kệ thứ hai:
Ngươi gởi đầu v ào hàm Sư tử
Loài vuốt nanh rực thứ máu hồng
Nhưng ngươi vẫn sống như thường:
Hảo tâm ta đ ã tỏ tường cho ngươi.
Chim Gõ kiến nghe thế, liền đọc th êm
bài kệ nữa:
Bao việc tốt trên đời
Thi h ành để giúp ngươi.
Giúp lo ài vô ơn nghĩa
Mong chi được đền bồi?
Ðừng khởi ý chua cay
Ðừng buông lời gắt gay.
Phường xấu xa như thế,
Ta cần lánh xa ngay!
Nói vậy xong, chim Gõ kiến bay đi.
*
Bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại và nhận diện Tiền thân:
- Bấy giờ, Ðề-bà- đạt-đa l à con Sư
tử, còn Ta chính là con chim Gõ kiến.
-ooOoo-
309. Chuyện Người Tiện Dân (Tiền thân Chavaka)#
Thưa Ðạo sư, thưa Vương đệ tử...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về hội chúng của
nhóm Sáu Tỷ-kheo.
Chuyện được kể với đầy đủ chi tiết trong
bộ Luật Tạng (Vinaya) đây chỉ l à phần tóm tắt.
Bậc Ðạo sư gọi Sáu Tỷ-kheo ấy đến v à
hỏi xem có thật họ đ ã ngồi giảng
Giới luật ở chỗ thấp trong khi các đệ tử
của họ ngồi ở chỗ cao hơn. Họ thú nhận rằng thật như thế. Bậc Ðạo
Sư quở trách họ về sự thiếu tôn trọng của họ
đối với Giới luật của Ng ài và bảo
rằng các trí giả xưa kia cũng đ ã
phải quở trách người ta về việc ngồi ở chỗ thấp mà giảng dạy, dù là
giảng dạy các học thuyết ngoại đạo đi nữa.
Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra là
con của một phụ nữ hạ tiện. Chàng lớn lên và trở thành gia trưởng. Vợ
chàng đang mang thai, rất th èm muốn
ăn xo ài, và bảo chồng:
- Chàng ơi, em muốn ăn xo ài quá.
- Này em yêu, - chàng đáp - m ùa
này không có xoài, ta sẽ đem về cho em một
v ài trái chua khác.
Nàng bảo:
- Chàng ơi, nếu được ăn xo ài thì
em sống. Nếu không, thì em sẽ chết mất!
Người chồng quá mê say vợ liền nghĩ: "Ta kiếm
đâu ra được một trái xo ài bây giờ?"
Bấy giờ, trong vườn của vua Ba-la-nại có một cây xoài ra trái quanh n ăm.
V ì thế, chàng nghĩ: "Ta sẽ đến đó
hái một trái xo ài chín để l àm
dịu cơn thèm của nàng". Ban đ êm,
chàng đến khu vườn ấy rồi tr èo lên
cây, bước từ cành này sang cành nọ mà tìm trái. Trong khi chàng miệt mài
như thế thì trời bắt đầu sáng. Ch àng
tự bảo: "Nếu bây giờ ta tụt xuống mà ra đi,
ta sẽ bị trông thấy v à bị bắt như một tên trộm, ta nên chờ cho
đến khi trời tối đ ã!" Thế rồi chàng
trèo lên chỗ chĩa của cây và vào ngồi đó.
Lúc ấy, vua đang nghe vị giáo sư của ng ài
giảng kinh. Khi hai người vào vườn cây, vua ngồi xuống ở một chỗ cao nơi
gốc cây xoài, để giáo sĩ ngồi một chỗ thấp
hơn v à nghe giáo sĩ thuyết giảng. Bồ-tát ngồi ở phía trên họ, tự
nghĩ: "Ông vua này thật bậy quá, đang nghe
giảng kinh m à lại ngồi chỗ cao. Còn Bà-la-môn kia cũng bậy không
kém, ngồi ở chỗ thấp mà dạy. Còn ta cũng bậy nốt vì ta
đ ã rơi vào uy lực của
đ àn bà, chẳng kể chi mạng sống của
ta mà đi ăn trộm xo ài thế này".
Thế rồi chàng đu v ào một cành cây
đang treo lơ lửng, buông người xuống khỏi
cây, đứng trước vua v à giáo sĩ và nói:
- Tâu Ðại vương, tôi là một kẻ đọa đ ày,
ngài là kẻ cuồng si thô tục và giáo sĩ này là một người chết.
Vua hỏi chàng bảo như thế nghĩa là gì, chàng liền
đọc b ài kệ
đầu:
Thưa Ðạo sư, thưa Vương đệ tử,
Tôi thấy kia mọi sự lỗi lầm,
Hai ng ài đọa khỏi thi ên ân,
Hai ngài giới luật đều l àm sai hư.
Giáo sĩ Bà-la-môn nghe thấy, liền đọc b ài
kệ thứ hai:
Gạo ta ăn lấy từ đồi nọ
M ùi thơm ngon như có thịt vào.
Kẻ kia tội lỗi, tại sao
Thánh đang d ùng bữa, lại rao giới
điều?
Bồ-tát nghe thế, liền đọc th êm
hai bài kệ nữa:
Hãy dọc ngang mọi chiều mặt đất,
B à-la-môn, người sẽ thấy ra
Xem kia, đau khổ ấy l à
Số phần chung của người ta trên đời.
Do tội lỗi, đời người t àn ố
Giá còn thua mảnh vỡ chiếc bình
Coi chừng tham ý, dục tình,
Chúng đưa tới c õi khổ hình
đau thương.
Vua rất hài lòng về việc trình bày giới luật của chàng, hỏi chàng
thuộc giai cấp nào. Chàng thưa:
- Tâu Ðại vương, tôi là hạng tiện dân.
Vua bảo:
- Này bạn, nếu bạn thuộc một gia đ ình
có đẳng cấp cao th ì ta
đ ã đưa
bạn l ên làm vị vua độc nhất rồi.
Nhưng từ nay, ta l à vua ban ngày, còn bạn sẽ là vua ban
đ êm.
Vua nói xong, quàng vào cổ chàng tràng hoa mà ngài vẫn
đeo v à phong chàng làm quan tổng
trấn. Từ đó các quan trong th ành có
lệ mang một tràng hoa đỏ ở cổ. Cũng từ ng ày
đó trở đi, vua an trú trong lời dạy của ng ài,
rất kính trọng thầy dạy mình và vẫn ngồi ở chỗ thấp mà nghe thầy dạy
kinh điển.
*
Thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Bấy giờ, Anànda là vị vua, còn Ta chính là người tiện dân kia.
-ooOoo-
Đầu
trang | Mục
lục | 01 | 02 | 03
| 04 | 05 | 06
| 07 | 08 | 09
| 10 | 11 | 12
| 13 | 14