Chuyện Tiền Thân · Jātaka

310. Chuyện Vị Quốc Sư Sayha (Tiền thân Sayha)

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Chuyện Tiền Thân

Kinh Trung Bộ · Bài 33

Chuyện Vị Quốc Sư Sayha (Tiền thân Sayha)#

Jātaka group 33

Chương

IV (tiếp theo)

310. Chuyện Vị Quốc Sư Sayha (Tiền thân Sayha)

Trên đời chẳng ngai v àng, vương

quốc...,

Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo

thối thất.

Tỷ-kheo này trong khi đi khất thực ở

Xá-vệ, đ ã trông thấy một phụ nữ đẹp,

rồi từ đó trở n ên buồn chán và mất hết an lạc trong Ðạo pháp. Các

Tỷ-kheo đưa ông ra trước đức Thế Tôn. Ng ài

dạy:

- Này Tỷ-kheo, Ta nghe nói ông cứ buồn chán, có thật thế không?

Ông thú thật quả như thế. Sau khi biết

được lý do buồn chán của ông, bậc Ðạo Sư dạy:

- Này Tỷ-kheo, tại sao ông lại khao khát cuộc

đời sau khi đ ã thọ trì giới luật của

một Giáo pháp dưa đến Giải thoát? Các trí

giả ng ày xưa, khi được ban vinh dự l àm

giáo sĩ hoàng gia, đ ã từ bỏ chức vị

ấy và sống đời khổ hạnh.

Rồi Ngài kể cho các Tỷ-kheo nghe một chuyện

đời xưa.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát nhập mẫu

thai bà vợ một Bà-la-môn giáo sĩ của hoàng gia và ra

đời c ùng một ngày với thái tử con

vua. Khi vua hỏi các quan rằng có đứa trẻ n ào

sinh cùng ngày với thái tử không thì họ bảo:

- Tâu Ðại vương có, đó l à một

đứa con của giáo sĩ ho àng gia.

Thế là vua truyền mang Bồ-tát đến giao

cho các nhũ mẫu săn sóc cẩn thận c ùng với thái tử ấu thơ kia. Cả

hai cùng có đồ trang sức, c ùng

ăn, c ùng uống các thứ như nhau. Khi

lớn lên, họ cùng đến học ở Takkasil ã

và chẳng bao lâu đều th ành

đạt mọi khoa học rồi trở về.

Vua phong cho con làm phó vương và ban danh dự lớn lao cho Bồ-tát. Từ

đó Bồ-tát c ùng

ăn, c ùng uống, cùng sống với thái

tử. Giữa hai người nảy nở một tình bằng hữu vững bền. Ít lâu sau, vua

cha mất, thái tử lên nối ngôi và hưởng phú quí khôn cùng. Bồ-tát tự

nghĩ: "Giờ đây bạn ta trị v ì vương

quốc; khi có dịp thích đáng thế n ào

ông cũng phong cho ta ngôi vị giáo sĩ hoàng gia. Ta phải làm gì với cuộc

đời của một gia trưởng đây? Ta muốn trở th ành

một nhà tu khổ hạnh, dấn thân vào đời độc

cư".

Vì thế, ngài đến đảnh lễ cha mẹ, xin

được chấp tr ì giới hạnh. Ngài chối bỏ mọi của cải của trần gian

và từ đó xuất gia một m ình

đi v ào vùng Tuyết Sơn. Tại

đó, tr ên một khoảnh

đất thích hợp, ng ài tự dựng một túp

lều sống đời Phạm hạnh của một ẩn sĩ, ng ài

phát huy các thắng trí và các Thiền chứng và hưởng an lạc của cuộc sống

huyền nhiệm.

Bấy giờ, vua nhớ đến ng ài và bảo:

- Không biết bạn ta thế nào rồi nhỉ? Sao không hề thấy ông ta

đâu cả?

Các cận thần bảo rằng ngài đ ã

chấp trì giới hạnh và nghe nói ngài đang

sống trong một khu rừng tịnh lạc n ào

đó. Vua hỏi trú xứ của ng ài và bảo một quốc sư tên Sayha:

- Hãy đi mang bạn ta về đây. Ta sẽ phong

cho ông ấy l àm giáo sĩ của ta.

Sayha sẵn sàng tuân lệnh. Từ Ba-la-nại ông

đi m ãi

đến một l àng ở biên địa v à

trú ở đó, rồi c ùng với vài người

kiểm lâm đến nơi Bồ-tát ở. Ông thấy Bồ-tát

ngồi như một bức tượng v àng trước túp lều của ngài. Sau khi chào

hỏi, cung chúc theo thường lệ, ông ngồi xuống, cách một khoảng

để tỏ l òng kính cẩn, và bảo:

- Thưa Tôn giả, đức vua muốn ng ài

quay trở về vì đang nóng l òng phong

ngài lên ngôi vị giáo sĩ của hoàng gia.

Bồ-tát trả lời:

- Nếu ngoài chức giáo sĩ ra, ta còn được

trao th êm cả nước Kàsi và Kosala, cả vương quốc Ấn Ðộ, cả sự vinh

quang của một đế quốc ho àn vũ, ta

cũng không chấp nhận đâu. Bậc trí giả không

mang lấy những tội lỗi m à họ đ ã

từng từ bỏ cũng giống như họ không nuốt cục

đ àm mà họ đ ã khạc lên.

Ðoạn ngài đọc các b ài kệ sau:

Trên đời chẳng ngai v àng, vương

quốc

Chiếm lòng ta, gây nhục ta nào!

Xấu thay, danh lợi mong cầu

Ðưa người vào cảnh khổ đau ngập tr àn.

Kiếp không nhà lang thang đây đó,

Cầm bát xin nh à nọ nhà kia,

Hơn làm vua, tạo phiền hà,

Trị vì độc đoán theo đ à ác tham.

Mặc dù Sayha cứ n ăn nỉ m ãi,

Bồ-tát cũng không chấp nhận yêu cầu của ông ta. Không thể nào khuyên nhủ

được Bồ-tát, Sayha đ ành tạ từ quay

về trình vua là ngài từ chối trở lại.

*

Khi bậc Ðạo Sư kể xong Pháp thoại này, Ngài tuyên thuyết Tứ Ðế. Khi

kết thúc Tứ Ðế, Tỷ-kheo thối thất kia đắc

quả Dự Lưu, v à nhiều Tỷ-kheo khác cũng

đạt các quả vị như thế. Thế rồi bậc

Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:

- Bấy giờ Ànanda là vị vua, Xá-lợi-phất là Sayha, còn Ta là vị giáo

sĩ hoàng gia.

-ooOoo-

311. Chuyện Cây Nimbo (Tiền thân Pucimanda)

Anh trộm, dậy đi thôi...,

Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Trúc Lâm về Tôn giả

Mục-kiền-liên (Moggallàna).

Bấy giờ Trưởng lão Mục-kiền-liên đang

sống tại một túp lều trong khu vườn gần th ành Vương Xá. Một tên

trộm kia, sau khi bẻ khóa vào một nhà tại một ngôi làng ở ngoại ô,

đ ã chạy thoát

đi, mang theo đầy các đồ vật trộm được. Khi

chạy đến địa phận trú xứ của Trưởng l ão, nó nghĩ rằng thế là

thoát được rồi, b èn nằm xuống tại

lối vào túp lều lá của Tôn giả. Trưởng lão thấy nó nằm

đó liền nghi ngờ ngay tư cách của nó v à

tự nhủ: "Nếu ta dính líu đến một t ên

trộm thì sẽ phiền cho ta lắm. Vì vậy, Tôn giả bước ra khỏi lều, bảo tên

trộm đừng nằm đó v à

đuổi nó đi".

Tên trộm nhanh như cắt vụt chạy trốn đi.

Mọi người đuốc tr ên tay, theo sát tên trộm mà

đuổi, đến nơi họ nh ìn thấy các chỗ

đất ghi dấu vết t ên trộm và nói:

- Nó đến đây theo lối n ày, nó

đ ã đứng

nơi đây. Nó không c òn ở đây nữa đâu!

Thế là họ đổ xô đến chỗ n ày chỗ

nọ và cuối cùng đ ành quay về vì

không tìm thấy tên trộm.

Sáng hôm sau, Trưởng lão đi khất thực ở

Vương Xá v à khi trở về, Tôn giả ghé

đến Trúc Lâm v à kể cho bậc Ðạo Sư sự việc

đ ã xảy ra. Bậc Ðạo Sư dạy:

- Này Mục-kiền-liên, ông không phải là người

độc nhất đ ã nghi ngờ trong một

trường hợp nghi ngờ là phải. Các trí giả ngày xưa cũng

đ ã nghi ngờ theo cách như thế.

Rồi do yêu cầu của Trưởng lão, bậc Ðạo Sư kể một chuyện

đời xưa.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát ra

đời l à một Thần cây Nimbo trong một

khu rừng nghĩa địa của th ành phố.

Bấy giờ, một tên trộm vừa phạm tội trộm trong một xóm lẻ kia trong

thành phố rồi chạy vào khu rừng nghĩa địa,

nơi đây có một cây Nimbo (cây có trái l àm dầu thơm) và một cây Ða

đều đ ã già cỗi mọc cạnh nhau. Tên

trộm đặt các đồ vật dưới gốc cây Nimbo rồi

nằm xuống đó. V ào thời ấy, bọn trộm cướp bị bắt

đều bị xử xi ên người treo trên một

cành cây Nimbo. Vì thế, Thần cây Nimbo tự nghĩ: "Nếu người ta

đến đây v à bắt tên trộm này, họ sẽ

chặt một cành cây Nimbo này để l àm

cái gậy mà xiên người nó. Thế là cây sẽ bị hủy hoại. Vậy ta cần phải

đuổi anh bạn n ày

đi".

Thần bèn đọc b ài kệ

đầu để nói với t ên trộm:

Anh trộm, dậy đi thôi,

Ngủ chi, gấp lắm rồi,

Người của vua sắp đến,

Tội anh họ quyết đ òi.

Thần lại còn nói thêm:

- Chạy đi kẻo người của vua đến bắt anh

bây giờ!

Thế rồi Thần đuổi t ên trộm

đi. T ên trộm vừa chạy trốn

đi th ì Thần cây Ða

đọc b ài kệ thứ hai:

Tên trộm táo gan ấy

Bị bắt hay thoát đi,

Thần cây Nimbo xin hỏi:

Với ng ài, đâu khác chi?

Thần cây Nimbo nghe thế liền đọc b ài

kệ thứ ba:

Ngài đâu biết ta lo thầm kín:

Quân nh à vua sẽ đến nơi đây,

Bắt t ên trộm, chặt cành cây

Phạt xiên tội phạm cây này còn chi!

Trong lúc hai vị Thần trong rừng đang

nói chuyện với nhau th ì những người chủ gia sản, tay cầm

đuốc theo dấu t ên trộm

đ ã đến

nơi, họ nh ìn thấy chỗ tên trộm đ ã

nằm và nói:

- Xem kia, tên trộm vừa thức dậy rồi chạy trốn ngay từ chỗ này. Chúng

ta chưa tóm được nó đấy, chứ nếu tóm được

th ì chúng ta sẽ quay trở lại đây, xi ên

người nó dưới gốc cây Nimbo này hoặc treo nó trên một trong những nhánh

cây này.

Nói xong họ đổ xô v ào chỗ này chỗ

nọ nhưng vẫn không tìm ra tên trộm, họ liền bỏ

đi.

Nghe mọi người bàn tán như trên, Thần cây Nimbo

đọc b ài kệ thứ tư:

Mối nguy chưa thấy, vẫn lo ngay,

Cân nhắc so đo kẻo muộn thay.

Kẻ trí bao giờ trong hiện tại

Cũng nh ìn tình trạng của tương lai.

*

Sau khi chấm dứt bài thuyết giảng, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:

- Bấy giờ, Xá-lợi-phất là Thần cây Ða và Ta là thần cây Nimbo ấy.

-ooOoo-

312. Chuyện Ẩn Sĩ Kassapa Chậm Trễ (Tiền thân Kassapamandiya)

Trẻ khờ dại có điều sai trái...,

Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo

lớn tuổi.

Tương truyền một nhà quí phái trẻ tuổi ở Xá-vệ thấy hậu quả xấu xa

của các tham vọng tội lỗi, được bậc

Ðạo Sư cho nhập Giáo đo àn, và do

tinh tấn tu tập pháp môn thiền quán, chẳng bao lâu

đạt Thánh quả. Về sau, khi mẹ mất, ông đưa

cha v à em trai vào Giáo hội và cả ba người cùng trú tại Kỳ Viên.

Khi mùa mưa bắt đầu; nghe nói tại một

trú xứ trong l àng kia họ có thể được

cúng dường pháp y dễ d àng, cả ba người

đều đến đó nhập hạ v à sau khi mùa

kiết hạ chấm dứt, họ về thẳng Kỳ Viên, vị Tỷ-kheo trẻ bảo chú tiểu yên

lặng đưa vị Tỷ-kheo gi à

đi, c òn chính ông

đi nhanh trước để đến Kỳ Vi ên sửa

soạn phòng xá. Vị Tỷ-kheo già đi thực chậm,

chú tiểu cứ thúc đầu v ào, dùng sức kéo thầy

đi v à la lên:

- Nhanh lên thầy!

Tỷ-kheo già nói:

- Người cứ ép ta mà kéo ta đi tới trong

khi ta không muốn đi như thế.

Rồi ông quay lại, bắt đầu đi từ khởi

điểm. Họ cứ c ãi nhau như thế. Mặt trời

đ ã lặn và bóng tối

đ ã kéo tới. Vị Tỷ-kheo trẻ sau khi

quét tước lều, đổ nước đầy các b ình

vẫn chưa thấy họ đến, liền cầm đuốc đi t ìm.

Khi gặp họ, ông hỏi vì sao họ chậm trễ như vậy. Vị Tỷ-kheo già cho biết

lý do. Ông bảo họ nghỉ rồi chậm rãi đưa họ

đi tiếp. Thế l à hôm ấy, ông không có thì giờ

để đến tham bái đức Phật. V ì thế,

hôm sau, khi ông đến tham bái đức Phật,

đảnh lễ Ng ài và ngồi vào chỗ xong, bậc Ðạo Sư hỏi:

- Ông về đến lúc n ào?

- Bạch Ngài, hôm qua.

- Ông về đến từ hôm qua m à hôm

nay mới đến tham bái Ta ư?

- Bạch Ngài, vâng.

Trả lời như thế xong, ông kể lại lý do. Bậc Ðạo Sư quở trách vị

Tỷ-kheo lớn tuổi kia:

- Không phải chỉ bây giờ ông ấy mới làm như thế. Ngày xưa ông ấy cũng

đ ã làm thế rồi. Giờ

đây chính ông bị ông ấy l àm phiền.

Ngày xưa ông ấy đ ã làm phiền các trí

giả.

Rồi do yêu cầu của vị Tỷ-kheo ấy, Ngài kể một chuyện

đời xưa.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra

trong một gia đ ình Bà-la-môn, tại

một thành phố ở nước Kàsi. Khi ngài lớn lên thì mẹ ngài mất. Sau khi

thực hiện các nghi thức tang lễ, ngài đem

bố thí hết tất cả tiền bạc trong nh à, ngài mặc quần áo cũ rách

xin của người khác, mang cha và em trai đi

sống cuộc đời đạo hạnh của một ẩn sĩ tại v ùng Tuyết Sơn. Tại

đó, ng ài trú trong một khu rừng an

lạc và sống qua ngày bằng cách mót lượm, ăn

rễ cây, trái rừng.

Bấy giờ, ở vùng Tuyết Sơn, suốt trong mùa mưa, mưa rơi không dứt.

Không thể đ ào bới củ, rễ, không thể

hái lượm trái rừng gì được cả v à lá

bắt đầu rụng đi, các nh à tu khổ hạnh

phần lớn đều phải rời bỏ d ãy Tuyết

Sơn và tìm đến trú tại nơi có người ở.

Bồ-tát cũng thế, ngài cùng cha và em trai dời về sống nơi có người ở,

và khi vùng Tuyết Sơn bắt đầu ra hoa, kết

trái trở lại th ì ngài cùng cha và em quay về chỗ ẩn dật của mình

trong dãy Tuyết Sơn. Khi họ còn cách lều không xa thì trời chiều, ngài

rời họ và nói:

- Cha và em cứ thủng thẳng mà đi. Con

phải về trước để lo sắp xếp các thứ trong chỗ ở của chúng ta.

Vị ẩn sĩ trẻ kia cứ thấy cha tiếp tục đi

thật chậm, liền thúc đầu v ào hông cha. Người cha nói:

- Ta không thích cái lối ngươi đưa ta về

nh à như thế đâu!

Rồi ông quay trở lại và bắt đầu đi từ

chỗ hồi n ãy. Họ cứ tranh cãi như thế và trời

đ ã tối

đen. Bồ-tát quét lều, xách nước xong, liền cầm một cây đuốc v à

quay lại tìm. Khi gặp cha và em, ngài hỏi tại sao họ quá chậm trễ như

thế. Người em liền kể lại việc cha đ ã

làm. Nhưng Bồ-tát vẫn yên lặng đưa họ về nh à.

Sau khi đ ã cất chứa các vật dụng

cần thiết của người tu sĩ, ngài đưa cha đi

tắm, rửa v à xức dầu thơm vào hai bàn chân cha, chà tẩy lưng cha.

Rồi ngài đem ra một chảo than hồng v à

khi cha ngài khỏe khoắn trở lại, ngài ngồi bên cạnh cha và bảo:

- Thưa cha, bọn trẻ cũng giống như cái bình lọ bằng

đất, chẳng mấy chốc l à vỡ ngay và

khi đ ã vỡ thì không thể nào chắp gắn

lại được. Người gi à nên kiên nhẫn

chịu đựng chúng khi chúng có điều sai quấy.

Và để khuyến dụ cha ng ài tên là

Kassapa, ngài đọc hai b ài kệ sau

đây:

Nếu trẻ dại nói làm sai trái,

Phần người khôn nhẫn nại bền lòng

Người hiền tranh cãi chóng xong,

Kẻ rồ tan vỡ như hòn đất khô.

Kẻ cầu học biết cho m ình lỗi,

Chẳng hề phai, tỏ mối thân tình,

Như mang gánh của em anh,

Và làm nhẹ bớt xung quanh láng giềng.

Bồ-tát khuyên cha như vậy. Và từ đó trở

đi ng ài luôn luôn giữ mình trong giới hạnh.

*

Kể xong Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:

- Bấy giờ, vị Tỷ-kheo lớn tuổi này là người cha ẩn sĩ, chú tiểu là

chú bé ẩn sĩ, còn Ta là người con đ ã

khuyến dụ cha mình.

-ooOoo-

313. Chuyện Đạo

Lý Kham Nhẫn (Tiền thân Khantiv àdi)

Kẻ nào xẻo mũi, cắt tai...,

Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo

nóng giận.

Các tình tiết của câu chuyện đ ã

được tả trước đây. Bậc Ðạo Sư bảo

Tỷ-kheo ấy:

- Ông đ ã chấp trì giới luật theo

Giáo pháp đức Phật, người chẳng hề biết

nóng giận l à gì, thế mà sao ông lại tỏ ra nóng giận? Các trí giả

ngày xưa nghĩ rằng họ phải chịu tr ăm ng àn

đau đớn, bị chặt chân tay, bị cắt tai, mũi

vẫn không hề tỏ ra nóng giận người khác.

Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.

*

Ngày xưa, khi một ông vua Kàsi trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra

trong một gia đ ình Bà-la-môn, thừa

hưởng gia tài tám tr ăm triệu đồng. Bấy giờ,

ng ài là một thiếu niên tên Kundakakumàra. Khi lớn lên, ngài thành

tựu mọi kiến thức về các ngành khoa học tại Takkasilã và sau

đó trở th ành một gia trưởng.

Khi cha mẹ mất đi, ng ài nhìn

đống tiền bạc v à tự nghĩ: "Những

người thân của ta đ ã tích nên tài

sản này rồi lại ra đi m à chẳng mang

theo được. Giờ đây, ta lại sở hữu t ài

sản này và lại đến lượt ta ra đi." Thế rồi

ng ài cẩn thận chọn những người có

đức bố thí xứng đáng v à cho họ hết tất cả tài sản rồi ngài vào

vùng Tuyết Sơn tu khổ hạnh. Ngài trú ở đó

một thời gian lâu, sống bằng trái cây rừng. Sau đó ng ài xuống các

nơi có người ở để kiếm muối v à dấm

và đi lần đến Ba-la-nại, tại đó, ng ài

trú trong vườn cây của vua.

Ngày hôm sau, ngài đi khất thực trong th ành

phố và đến cửa nh à quan

đại tướng. Vị quan n ày rất bằng lòng

trước phong thái đặc biệt của vị ẩn sĩ liền

mời ng ài vào nhà, dâng ngài các thức

ăn d ành riêng cho chính ông. Sau đó,

ông đưa ng ài trở lại trú xứ của ngài trong vườn cây của vua.

Một hôm, vua Kalàbu bị khích động v ì

rượu mạnh, đến vườn cây với đầy đủ mọi nghi

trượng xa hoa, bao quanh ông l à một

đám vũ công. Ông cho đặt vương s àng tại

đó v à nằm gối

đầu tr ên

đ ùi một ái phi trong khi các nghệ nữ

thiện xảo về đ àn sáo nhảy múa trình

diễn. Cả một khung cảnh thật là tráng lệ chẳng khác cảnh của Thiên chủ

Ðế Thích, vua cõi trời! Rồi nhà vua ngủ thiếp

đi. Các phụ nữ kia bảo:

- Chính vì đức vua m à chúng ta

tấu nhạc, nay ngài đ ã ngủ rồi. Chúng

ta cần chi phải đ àn hát nữa?

Rồi họ ném bỏ đ àn sáo

đó đây, đi v ào vườn cây và mải mê

vui chơi với cây trái, bông hoa trong vườn.

Bấy giờ, Bồ-tát đang ở trong vuờn n ày

dũng mãnh như một vương tượng. Ngài ngồi dưới gốc một cây Sàla

đang nở hoa, hưởng hạnh phúc tối đa của kẻ

từ bỏ thế tục. Các phụ nữ kia trong khi lang thang trong vườn, đến chỗ

Bồ-tát ngồi. Họ bảo với nhau:

- Này các chị ơi, lại đây, chúng ta h ãy

ngồi xuống nghe vị tu sĩ đang ngồi dưới gốc

cây n ày thuyết giảng cho đến khi đức

vua thức dậy.

Họ đến ch ào ngài rồi ngồi vòng

quanh ngài và nói:

- Xin giảng cho chúng tôi những điều

đáng nghe.

Bồ-tát giảng đạo lý cho họ. Trong khi

ấy, n àng vương phi sủng ái kia tr ăn

trở thân m ình làm vua thức dậy. Không thấy các phụ nữ kia

đâu, vua hỏi:

- Bọn tiện tỳ ấy đi đâu cả rồi?

Nàng ái phi đáp:

- Tâu Ðại vương, họ bỏ đi v à

đang ngồi quanh một nh à tu khổ hạnh.

Nhà vua cầm kiếm vội vã ra đi v à

nói:

- Ta sẽ cho tên ẩn sĩ giả hiệu kia một bài học.

Những người được vua sủng ái nhất trong

đám phụ nữ kia thấy vua giận dữ liền đến nắm lấy kiếm của vua xin vua

bớt giận. Vua bước tới đứng b ên cạnh Bồ-tát và hỏi:

- Này, nhà tu kia, ông giảng đạo lý g ì

thế?

Ngài đáp:

- Tâu Bệ hạ, tôi giảng về đạo lý kham

nhẫn.

Vua hỏi:

- Kham nhẫn là gì?

- Là không giận hờn khi người ta rầy la,

đánh đập, mắng chửi m ình.

Vua bảo:

- Ðược rồi, ta sẽ xem đức kham nhẫn của

ông thực sự như thế n ào.

Rồi vua cho gọi quan hành hình lại. Ông này

đang đi h ành sự, cầm một cái rìu và

một cái roi gai, mặc áo vàng, mang một tràng hoa

đỏ. Ông đến ch ào vua và thưa:

- Tâu Ðại vương, tôi phải làm gì để vừa

l òng ngài?

Vua phán:

- Tóm lấy và lôi cổ tên thầy tu xảo quyệt

đ ê tiện ấy

đi, ném nó xuống đất, d ùng roi gai

mà đánh nó đằng trước, đằng sau v à

cả hai bên, quất cho nó hai ngàn roi.

Lệnh ấy được thi h ành. Da trong,

da ngoài của Bồ-tát bị xé rách tới thịt, máu tuôn xối xả. Vua lại hỏi:

- Này thầy tu kia, ông dạy đạo lý g ì?

- Tâu Ðại vương, đức kham nhẫn - Bồ-tát

đáp.

- Ngài tưởng rằng đức kham nhẫn của tôi

chỉ nằm dưới da; không phải thế đâu, nó nằm b ên trong tim tôi,

ngài không thể trông thấy được đâu.

Viên quan hành hình lại hỏi vua:

- Tâu Ðại vương, tôi phải làm gì để vừa

l òng ngài?

Vua nói:

- Hãy cắt đứt hai b àn tay của tên

thầy tu giả hiệu ấy đi.

Thế là người kia xách rìu, đặt tội nhân

v ào bên trong vành tử tội rồi chặt

đứt cả hai b àn tay Bồ-tát. Vua lại nói:

- Chặt hai bàn chân luôn.

Thế là hai bàn chân của ngài cũng bị chặt

đứt. Máu vọt từ đầu các b àn tay chân

như nước tuôn từ một cái bình thủng. Vua lại hỏi ngài thuyết giảng

đạo lý g ì. Ngài

đáp:

- Tâu Chúa thượng, đức kham nhẫn. Tâu

Ðại vương, ngài tưởng rằng đức kham

nhẫn của tôi nằm tại các đầu b àn tay, bàn chân, thực không phải ở

đó đâu, nó nằm ở nơi khác nữa k ìa.

Vua nói:

- Hãy xẻo mũi và tai nó đi.

Viên quan hành hình làm theo như thế. Toàn thân Bồ-tát bây giờ nhuốm

đầy máu. Vua lại hỏi đến đạo lý của ng ài.

Vị ẩn sĩ nói:

- Ngài chớ tưởng rằng đức kham nhẫn của

tôi nằm ở chóp mũi v à chóp tai của tôi;

đức kham nhẫn của tôi nằm sâu trong tim tôi

kia.

Vua nói:

- Tên thầy tu giả mạo kia, nằm xuống đi

rồi h ãy ca ngợi đức kham nhẫn của

ngươi.

Nói thế xong, vua dẫm lên ngực, chỗ phía trái tim của Bồ-tát, rồi bỏ

đi.

Khi vua đ ã

đi rồi, vị đại tướng kia đến lau ch ùi

máu trên thân thể của Bồ-tát, b ăng bó các

đầu b àn tay, bàn chân, tai mũi ngài và nhẹ nhàng

đặt ng ài ngồi vào một chỗ,

đảnh lễ ng ài rồi ngồi xuống một bên.

Ông bảo:

- Kính thưa Tôn giả, nếu ngài có giận hờn kẻ gây tội ác với ngài thì

xin ngài hãy giận hờn đức vua, chớ đừng có

giận hờn một ai khác.

Ông yêu cầu Bồ-tát qua bài kệ đầu:

Kẻ nào xéo mũi, cắt tai,

Cùng là chặt đứt của ng ài tay

chân.

Xin hờn kẻ ấy riêng phần,

Tâm hồn oanh liệt, xin đừng hờn chung!

Bồ-tát nghe thế liền đọc b ài kệ

thứ hai:

Mong vua vẫn được mạng trường,

Tay hung hủy hoại chẳng thương thân n ày,

Nhưng lòng thanh tịnh, ta đây,

Chẳng hề căm giận kẻ gây ác n ào!

Khi vua rời khỏi vườn cây và ngay lúc ông vừa ra khỏi tầm nhìn của

Bồ-tát, vùng đất ki ên cố, dày hai tr ăm

bốn mươi ng àn dặm bỗng nứt ra làm hai, lửa từ ngục A-tỳ (Avìci:

Vô gián Ðịa ngục) vọt lên ập tới vua, trùm cả người ông như chiếc long

bào hổ hoàng. Như vậy vua chìm trong đất

ngay chỗ cổng vườn cây v à bị tống hẳn vào

đại ngục A-tỳ. Bồ-tát cũng chết v ào

cùng ngày ấy. Triều thần của vua và dân chúng mang các tràng hoa, dầu

thơm, hương liệu đến l àm lễ tống

táng Bồ-tát. Có người bảo rằng Bồ-tát đ ã

đi thẳng về d ãy Tuyết Sơn. Nhưng

theo bài kệ sau đây th ì người ta lại

bảo không phải như vậy:

Cổ thánh nhân - người đời truyền tụng

-

Vẫn tỏ ra đại dũng đại uy.

Thánh kia kham nhẫn ki ên trì,

Bị vua của xứ Kà-si giết rồi.

Ôi món nợ chẳng hồi tiếc nuối,

Vua kia đ ành trả lại liền sau.

Tháng ngày ân hận dài lâu,

Một khi trú địa ngục sâu tận c ùng.

Hai bài kệ trên được sáng tác từ Trí tuệ

to àn hảo của đức Phật.

*

Khi bậc Ðạo Sư thuyết giảng xong, Ngài tuyên thuyết Tứ Ðế. Ở phần kết

thúc Tứ Ðế, vị Tỷ-kheo nóng giận kia đắc

quả Nhất Lai, v à nhiều vị khác đắc

quả Dự Lưu. Sau đó, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:

- Bấy giờ, Ðề-bà- đạt-đa l à

Kalàbu, vua xứ Kàsi; Xá-lợi-phất là quan tổng trấn; còn Ta là vị ẩn sĩ,

người thuyết giảng về đức kham nhẫn.

-ooOoo-

314. Chuyện Địa

Ngục Nồi Sắt (Tiền thân Lohakumbhi)

Ðúng phần của, ta nào ban bố...,

Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một vị vua xứ

Kosala.

Hồi ấy, nhân một đ êm kia, vua xứ

Kosala nghe một tiếng do bốn sinh linh ở

địa ngục phát ra, đó l à bốn âm, mỗi âm do một sinh linh phát ra:

du, sa, na, se. Truyền thuyết bảo rằng trong một

đời trước họ vốn l à bốn hoàng tử ở

Xá-vệ và đ ã phạm tội gian dâm. Sau

khi làm điều xấu xa với vợ của các láng

giềng vốn được trông giữ cẩn thận v à cứ buông mình theo tham ái

dục lạc, họ đ ã bị bánh xe của thần

chết cắt đứt ngang cuộc sống xấu xa kia gần

Xá-vệ. Họ tái sinh v ào địa ngục Bốn

Nồi sắt. Sau khi chịu đau đớn sáu ngh ìn n ăm,

họ trồi được l ên cao và trông thấy bờ miệng của cái nồi, họ liền

tự nghĩ: "Biết đến bao giờ chúng ta mới

thoát khỏi cảnh khổ n ày?". Thế rồi cả bốn người lần lượt phát lên

một tiếng kêu lớn. Vua sợ muốn chết vì những âm thanh ấy, cứ ngồi yên

không nhúc nhích và chờ cho đến sáng.

Lúc bình minh, các vị Bà-la-môn đến vấn

an vua. Vua bảo:

- Này các thầy, hôm nay chính ta đây

phải nghe những tiếng k êu kinh khủng như thế kia thì làm sao ta

khỏe khoắn cho được?

Các Bà-la-môn nhún vẫy tay. Vua hỏi:

- Gì thế hở các thầy?

Họ đoan chắc với vua rằng những tiếng

kia l à điềm rất hung xấu. Vua hỏi:

- Có cách gì chữa trị không?

Họ đáp:

- Tâu Ðại vương, ngài có thể bảo rằng không! Nhưng chúng tôi

đ ã lắm từng trải về các sự việc như

thế.

Vua nói:

- Bằng cách nào các thầy có thể xua tan

được các điều xấu ấy chứ?

- Tâu Ðại vương - họ đáp - chúng tôi vốn

có quyền năng chữa trị hiệu nghiệm v à nhờ cuộc tế lễ tứ phần gồm

đủ các loại sinh linh chúng tôi sẽ xua tan

hết mọi điều xấu.

Vua phán:

- Vậy thì nhanh lên, hãy bắt hết mọi sinh linh mỗi thứ bốn con:

người, bò, ngựa, voi xuống cho tới chim cút cùng các loài chim khác, và

nhờ tế lễ tử sinh như thế, tâm ta được an b ình

trở lại.

Các Bà-la-môn tuân lời, họ lấy đủ mọi

thứ họ cần rồi cho đ ào một hố để tế

lễ v à trói đủ loại sinh linh khốn

khổ kia v ào các cột. Họ bắt các vật hy sinh nhiều hơn số cần

thiết vì nghĩ rằng họ sẽ được ăn nhiều món

ngon v à hưởng nhiều lợi lộc. Họ đi

khắp chỗ n ày chỗ nọ và bảo:

- Này, tôi phải có thế này, thế kia...

Hoàng hậu Mallikà đến hỏi vua tại sao

các B à-la-môn lại vui mừng đến thế.

Vua đáp:

Này hoàng hậu, bà có liên hệ gì tới chuyện này chứ? Bà

đang say đắm trong vinh quang của ri êng

bà và chẳng biết rằng ta đ ã

đau khổ như thế n ào.

- Sao thế, thưa Ðại vương.

- Ta đ ã nghe những tiếng kêu

khủng khiếp và khi ta hỏi các Bà-la-môn rằng kết quả việc nghe những

tiếng kêu ấy là thế nào, thì họ bảo vương quốc của ta, tài sản của ta

đang bị đe dọa, nhưng nhờ tế lễ tứ sinh, họ

sẽ l àm cho tâm ta an bình. Giờ đây

họ đang theo lệnh ta, đ ào một hố tế lễ và

đang t ìm kiếm các vật hy sinh mà họ

cần.

Hoàng hậu nói:

- Tâu Hoàng thượng, thế ngài đ ã

hỏi ý kiến vị Bà-la-môn trưởng ở thiên giới về nguồn gốc của những tiếng

kêu này chưa?

Vua đáp:

- Hoàng hậu, ai là Bà-la-môn trưởng ở thiên giới?

- Tâu ngài, đó l à

đức Ðại Cồ

đ àm - hoàng hậu trả lời - là

đức Phật tối cao.

- Ta đ ã không hỏi ý kiến

đức Phật.

Hoàng hậu nói:

- Thế thì xin hãy đến hỏi Ng ài

đi.

Vua nghe theo lời hoàng hậu. Sau bữa ăn

sáng, vua l ên Vương Xá và đến Tinh

xá Kỳ Vi ên. Sau khi đảnh lễ bậc

Ðạo Sư, vua nói:

- Bạch Thế Tôn, trong đ êm gần

đây, trẫm có nghe bốn tiếng k êu và

hỏi các thầy Bà-la-môn, họ cam đoan sẽ l àm

cho tâm trẫm an bình trở lại bằng cách tế lễ tứ sinh

đối với mỗi lo ài và bây giờ họ

đang sửa soạn tế lễ. Sự việc trẫm nghe các

tiếng k êu như thế khiến điều g ì

xảy ra cho trẫm?

- Chẳng xảy ra điều g ì cả - Bậc

Ðạo Sư dạy - Một số sinh linh ở địa ngục v ì

phải chịu đựng thống khổ n ên kêu lớn

lên. Những tiếng ấy không phải riêng ngài nghe

đâu. Các vị vua ng ày xưa cũng

đ ã nghe như thế. Và họ cũng vậy, sau

khi hỏi ý các Bà-la-môn, đ ã nóng

lòng tổ chức lễ tế các vật hy sinh, nhưng rồi

được các trí giả chỉ bảo, họ không l àm

như thế nữa. Các trí giả giảng cho họ tính chất của những tiếng kêu này

và khuyên họ thả hết đám vật hy sinh đáng

thương kia ra, c ùng làm cho tâm họ an bình trở lại.

Rồi do yêu cầu của vua, bậc Ðạo Sư kể một chuyện

đời xưa.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra

trong một gia đ ình Bà-la-môn, tại

một làng nọ thuộc xứ Kàsi. Khi đến tuổi

trưởng th ành ngài từ bỏ các dục lạc và sống

đời tu h ành. Ngài phát huy những

thần lực do thiền định v à an hưởng

thiền lạc. Ngài trú tại một khu rừng tịnh lạc trong vùng Tuyết Sơn.

Vua Ba-la-nại bấy giờ rất kinh sợ vì nghe bốn tiếng kêu do bốn sinh

linh trú trong địa ngục phát ra. V à

khi các thầy Bà-la-môn bảo cũng y như thế rằng một trong ba tai họa phải

xảy đến cho nh à vua, vua liền thuận

theo đề nghị của họ l à cử hành tế lễ

tứ sinh để ngăn chặn tai họa. Vị giáo sĩ

của ho àng gia được các B à-la-môn

giúp chuẩn bị một hố tế lễ và một số lớn vật hy sinh

được mang lại, cột v ào các cọc.

Thế rồi Bồ-tát, do lòng từ thúc đẩy,

quan sát thế giới bằng thi ên nhãn. Khi ngài thấy sự việc xảy ra,

liền nghĩ: "Ta phải đến để lo an to àn

cho các sinh linh này".

Rồi do thần lực, ngài bay lên không và hạ xuống trong vườn cây của

vua Ba-la-nại. Ngài ngồi trên phiến đá của

vua, trông giống như một tượng v àng. Người

đệ từ trưởng của vị giáo sĩ đến gần thầy v à

hỏi:

- Thưa thầy, trong kinh Vệ- đ à há

chẳng viết rằng không có hạnh phúc cho những ai sát sinh

đấy sao?

Giáo sĩ đáp:

- Ngươi cứ việc mang phẩm vật của vua lại

đây v à chúng ta sẽ có lắm thứ ngon

để ăn. Cứ an tâm!

Ông nói thế và đuổi anh ta đi.

Nhưng chàng trai tự nghĩ: "Ta sẽ không dự phần vào việc này

đâu," rồi anh ta v ào vườn cây của

vua và thấy Bồ-tát nơi đây. Sau khi thân ái

ch ào ngài, anh ngồi xuống cách ngài một khoảng

để tỏ l òng kính trọng. Bồ-tát hỏi

anh:

- Này chàng trai, vua trị nước có công chính không?

Anh đáp:

- Thưa Tôn giả, vua trị nước rất công chính, nhưng trong

đ êm, ngài nghe bốn tiếng kêu và khi

vua hỏi các thầy Bà-la-môn thì ngài được họ

đoan chắc rằng họ sẽ l àm cho tâm ngài an bình trở lại bằng cách

tế lễ tứ sinh. Do đó, vua muốn lấy lại niềm

an lạc, đang chuẩn bị đem các lo ài vật tế lễ và một số lớn các

vật hy sinh đ ã

được mang lại trói v ào các cột tế

lễ. Bây giờ, đối với những đạo nhân như Tôn

giả, há chẳng n ên giải thích nguyên do của các tiếng kêu kia mà

cứu số đông sinh mạng đáng thương n ày

khỏi nanh vuốt của tử thần ư?

Bồ-tát nói:

- Này anh bạn trẻ, vua chẳng biết ta, ta cũng chẳng biết vua, nhưng

chính ta đây biết được nguồn gốc của tiếng

k êu la ấy. Nếu vua đến đây hỏi ta

nguy ên do, ta sẽ giải quyết mối nghi cho ngài.

Chàng trai đáp:

- Thế thì thưa Tôn giả, xin Tôn giả chờ một lát, con sẽ

đưa đức vua lại.

Bồ-tát chấp thuận. Chàng trai đến tr ình

với vua mọi sự và dẫn vua đến gặp Bồ-tát.

Vua đảnh lễ ng ài, ngồi xuống một bên và hỏi có thật ngài biết

nguồn gốc của các tiếng kêu ấy không. Bồ-tát

đáp:

- Tâu Ðại vương, thật thế.

Vua nói:

- Vậy thì thưa Tôn giả, xin ngài hãy nói cho ta nghe.

- Tâu Ðại vương - ngài nói - những người kia, trong một

đời trước đ ã phạm tội gian dâm với

những người phụ nữ ở gần Ba-la-nại, vốn là vợ của những người láng

giềng, được canh giữ rất kỹ lưỡng. V à

do đó về sau họ bị tái sinh v ào

địa ngục Nồi sắt. Nơi đây, sau khi phải

chịu thống khổ suốt ba mươi ng àn n ăm

trong một chất lỏng ăn m òn dầy đặc

được nấu sôi, có lúc họ bị ch ìm đụng

đến đáy nồi, có lúc họ trồi l ên đỉnh

như một cái bọt nước. Sau những năm như thế, họ thấy được miệng nồi v à

khi nhìn qua mép nồi, cả bốn người đều muốn

đọc l ên bốn bài kệ trọn vẹn nhưng họ không thể nào làm

được như thế. V à khi mỗi người chỉ

mới phát ra được một âm th ì bị chìm

trở lại trong nồi sắt. Bấy giờ một người trong bọn bị chìm xuống sau khi

phát ra âm "du" vốn muốn nói như sau:

Ðúng phần của, ta nào ban bố,

Lại sống đời nhiễm ố, t à gian,

Không tìm cứu rỗi vững vàng,

Giờ đây phước lạc một đường bay xa.

Người ấy không thể đọc l ên bài kệ

trên, nhưng Bồ-tát nhờ có trí tuệ riêng nên

đ ã đọc lại to àn bộ bài kệ ấy.

Và đối với ba người kia cũng thế. Người mới

chỉ phát âm "sa" vốn muốn đọc b ài kệ sau:

Sầu thảm thay, số này chịu cả

Ðến khi nào buông thả ra cho?

Qua vô số kiếp khôn dò

Cực hình địa ngục bao giờ ngưng đâu!

Còn trường hợp người phát ra âm "ha" thì

đây l à bài kệ ông ta muốn đọc:

Nào dứt được khổ sầu đau đớn,

Số phận kia đ ã gán cho ta,

Ở trần gian tạo ác ra,

Chính phần ta phải nhận mà đền đây.

Và người đ ã phát ra âm "se" thì

muốn đọc b ài kệ sau

đây:

Số phận này một mai thoát nhẹ,

Mang kiếp người, ta sẽ vươn lên,

Quyết làm nhiều việc thiện hiền,

Bằng công đức tự trang nghi êm lấy

mình.

Sau khi đọc trọn từng b ài kệ

Bồ-tát bảo:

- Tâu Ðại vương, kẻ ở trong địa ngục

muốn đọc cả b ài kệ trọn vẹn nhưng vì tội của họ nặng quá nên họ

không thể làm như thế được. V à khi

lãnh nhận hậu quả ác nghiệp của họ như vậy, họ la lớn lên. Nhưng ngài

chớ sợ; sẽ không một nguy hại nào đến gần

ng ài vì ngài đ ã nghe tiếng

kêu ấy đâu.

Ðược Bồ-tát làm cho an tâm, vua truyền

đánh trống v àng của ngài và tuyên bố rằng

đám đông các vật hy sinh kia phải được thả

ra v à hố tế lễ bị phá bỏ.

Còn Bồ-tát sau khi đ ã cứu bao

nhiêu sinh vật khổ nạn kia, ở lại đó ít ng ày

rồi quay về chốn cũ và không hề ngừng tu tập Thiền

định, ng ài

được sinh v ào cõi Phạm thiên.

*

Khi bậc Ðạo Sư thuyết giảng xong, Ngài nhận diện Tiền thân:

- Xá-lợi-phất bấy giờ là người tu sĩ trẻ tuổi, còn Ta là vị ẩn sĩ

kia.

-ooOoo-

315. Chuyện Miếng Thịt (Tiền thân Mamsa)

Ðối với kẻ cầu xin ân huệ...,

Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên, về cách Trưởng

lão Xá-lợi-phất đ ã kiếm thức

ăn ngon cho các Tỷ-kheo bị bệnh đang được

chữa trị.

Bấy giờ, một số Tỷ-kheo ở Kỳ Viên sau khi dùng dầu

để l àm thuốc xổ, muốn

được một ít đồ ăn ngon. Những người chăm

sóc bệnh đ ã đến Xá-vệ t ìm các

thức ăn ngon, nhưng sau một v òng

khất thực trên con đường tại các khu h àng

quán ăn, họ đ ành trở về, không có

được các thức ấy. Ðến gần trưa,

Trưởng lão Xá-lợi-phất vào làng khất thực, gặp các Tỷ-kheo ấy liền hỏi

họ vì sao quay về sớm như thế. Họ kể cho Tôn giả nghe. Tôn giả nói:

- Thế thì theo ta đây.

Rồi Tôn giả đưa họ đến cũng chính con

đường ấy.

Bấy giờ, dân chúng ở đó cúng dường Tôn

giả đủ mọi thức ăn ngon. Những thị giả mang thức ăn về cho các Tỷ-kheo

bị bệnh v à họ đ ã thọ dụng

chúng.

Thế rồi một hôm, cuộc bàn tán lại bắt

đầu trong Pháp đường, rằng các thị giả đ ã phải rời thành mà không

kiếm được thức ăn cho thầy của họ đang bị

bệnh như thế n ào, còn Trưởng lão Xá-lợi-phất trên

đường khất thực đ ã mang họ theo trên

một con đường thuộc khu quán xá thế n ào,

và Tôn giả đ ã gởi họ về với bao

nhiêu là thức ăn ngon...

Bậc Ðạo Sư bước vào và hỏi các Tỷ-kheo

đang b àn tán việc gì và sau khi nghe thuật lại, Ngài dạy:

- Này các Tỷ-kheo, chẳng phải chỉ riêng Xá-lợi-phất kiếm

được thức ăn như thế đâu, ng ày xưa,

các trí giả cũng đ ã có giọng dịu

ngọt, đ ã biết nói n ăng

vừa l òng người và đ ã nhận

được các thứ như vậy.

Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra là con

trai của một thương gia giàu có.

Một hôm, một người bẫy nai kia s ăn được

thịt, chở đầy xe, quay về th ành phố

định đem thịt ra bán. Bấy giờ bốn người con trai của các trưởng giả gi àu

có đang sống tại Ba-la-nại, ra khỏi th ành,

gặp nhau tại ngã tư đường. Họ ngồi xuống v à

nói chuyện với nhau về những gì họ đ ã

nghe thấy được. Một trong những ch àng

trai ấy trông thấy chiếc xe chở đầy thịt

kia liền đề nghị đến người bẫy nai kiếm một miếng thịt nai. Các ch àng

kia bảo anh ta cứ đến thử xem. Anh ta đến

gặp người đi săn ấy v à nói:

- Chào ông mãnh, cho tôi một miếng thịt nào!

Người đi săn trả lời:

- Người nào xin người khác thứ gì thì phải nói n ăng

lịch sự; bạn sẽ có một miếng thịt xứng hợp với cách nói năng của bạn.

Rồi ông ta đọc b ài kệ

đầu:

Ðối với kẻ cầu xin ân huệ,

Lời sao thô lỗ thế bạn ơi?

Món thô xứng đáng c ùng lời,

Chỉ xương da đấy, thứ tôi treo n ày.

Một trong những người bạn kia hỏi anh ta

đ ã dùng lời lẽ thế nào để xin một

miếng thịt, anh ta đáp:

- Tôi nói: chào ông mãnh!

Người kia nói:

- Tôi cũng sẽ đến xin ông ta.

Rồi anh ta đến người đi săn v à

nói:

- Này ông anh, hãy cho tôi một miếng thịt nai nào!

Người đi săn đáp:

- Bạn sẽ nhận được một miếng xứng hợp

với lời lẽ bạn d ùng.

Rồi ông ta đọc b ài kệ thứ hai:

Tên người anh, mối dây mạnh mẽ

Nối tình thân những kẻ với nhau...

Lời hay của bạn vừa trao

Khiến tôi tặng chỗ nối vào hai xương.

Nói thế xong, người đi săn ném cho anh

ta một miếng khớp xương nai. Ch àng trẻ thứ ba hỏi người vừa rồi

đã xưng hô thế nào khi đến xin thịt anh kia

đáp:

- Tôi gọi ông ta là ông anh.

Anh này nói:

- Tôi cũng sẽ đến xin anh ta.

Rồi anh ta đến gần người đi săn v à

kêu:

- Này cha thân, hãy cho con một miếng thịt nai.

Người đi săn nói:

- Bạn sẽ được một miếng xứng hợp với lời

bạn vừa nói.

Và ông đọc b ài kệ thứ ba:

Tim người cha xót thương động chuyển

Khi nghe k êu lên tiếng "cha thân"!

Ðáp lời bạn khẩn cầu ân,

Trái tim nai đấy tôi mang tặng liền.

Nói như thế xong, ông ta liền cho người ấy một miếng thịt ngon,

nguyên phần cả trái tim con nai. Thế rồi chàng trai thứ tư hỏi chàng thứ

ba rằng anh đ ã dùng lời lẽ ra sao mà

hỏi xin thịt. Người kia đáp:

-Ồ - tôi gọi anh ta là cha thân!

Người thứ tư bảo:

- Thế thì tôi cũng sẽ xin một miếng.

Rồi anh đến gần người đi săn v à

nói:

- Này bạn của ta ơi, hãy cho ta một miếng thịt.

Ông ấy bảo:

- Bạn sẽ nhận phần tùy theo lời bạn vừa thốt.

Rồi ông đọc b ài kệ thứ tư:

Tôi dám nghĩ: cuộc đời không bạn

Chắc phải l à hoang vắng đ ìu

hiu!

Gồm trong tiếng "bạn" niềm yêu,

Nên tôi tặng hết bao nhiêu thịt này.

Ông ta nói thêm:

- Này bạn, tôi sẽ chở cả xe thịt này về nhà bạn.

Thế là người con trai của thương gia ấy

được cả xe mang về v à anh ta đến lấy

thịt ra. Anh đối đ ãi với người đi

săn, đầy thịnh t ình và kính trọng. Anh cho gọi vợ con ông ta, và

đem ông ta ra khỏi nghề độc ác ấy v à

đến ở tại tư dinh chính anh. Từ đó, họ trở

th ành đôi bạn bất ly v à sống

thân ái với nhau suốt đời.

*

Khi bậc Ðạo Sư chấm dứt bài thuyết giảng, Ngài nhận diện Tiền thân:

- Bấy giờ, Xá-lợi-phất là người đi săn,

c òn Ta đây l à con trai của

người thương gia, kẻ đ ã

được chia trọn cả phần thịt nai ấy.

-ooOoo-

316. Chuyện Con Thỏ (Tiền thân Sasa)

Bảy cá hồng tôi đ ã gọn mang...,

Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về sự cúng dường

vật dụng cho các Tỷ-kheo.

Một người chủ đất nọ tại Xá-vệ cung cấp

đủ mọi thứ cần thiết cho Giáo đo àn,

đứng đầu l à đức Phật. Ông ta dựng

một cái rạp ở trước cửa nh à ông rồi mời các Tỷ-kheo cùng

đức Phật, Giáo chủ của họ đến ngồi v ào

chỗ trang nghiêm đ ã chuẩn bị sẵn và

cúng dường các vị đủ mọi thức cao lương

thượng hạng. Ông c òn nói:

- Ngày mai, xin quý vị trở lại.

Ông khoản đ ãi họ trọn một tuần và

đến ng ày thứ bảy, ông dâng cúng

đức Phật c ùng n ăm

trăm vị Tỷ-kheo của Ng ài đủ mọi thứ

vật dụng cần thiết. V ào cuối bữa tiệc, bậc Ðạo Sư nói lời tùy hỷ

công đức:

- Này cư sĩ, ông tạo sự thỏa lòng mãn ý do sự bố thí này thật là

đúng lý. V ì

đây l à một truyền thống của hàng trí

giả ngày xưa, những vị đ ã hiến cả

thân mạng mình cho bất cứ kẻ hành khất nào mà họ gặp, họ còn cho những

kẻ ấy ăn cả thịt của chính họ nữa.

Rồi do yêu cầu của gia chủ, Ngài kể một chuyện

đời xưa.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra là

một con Thỏ sống trong một khu rừng. Một phía rừng này là chân một ngọn

núi, ở phía kia là một con sông và ở phía thứ ba là một ngôi làng biên

địa. Thỏ có ba bạn: một con Khỉ, một con

Chó rừng v à một con Rái cá. Bốn con vật khôn ngoan này sống với

nhau, mỗi con s ăn t ìm thức

ăn của m ình trong một khu riêng biệt

và đến chiều tối, chúng đến họp lại với

nhau. Thỏ rất thông tuệ, có t ài khuyến dụ, thường thuyết về Chân

lý cho ba bạn kia; dạy các bạn ấy nên bố thí, nên tuân hành luật

đạo đức v à giữ gìn ngày trai giới.

Chúng đều tiếp thu lời khuyến dụ ấy v à

mỗi con đến trú ở chỗ ri êng của mình

trong khu rừng ấy.

Thời gian trôi qua, một hôm Bồ-tát quan sát bầu trời, nhìn mặt tr ăng

v à biết rằng hôm sau là ngày trai giới liền dặn ba bạn kia:

- Ngày mai là trai nhật. Cả ba bạn hãy thực hành giới luật và giữ gìn

ngày trai. Ai tỏ ra kiên định trong việc

thực hiện đạo đức th ì việc bố thí sẽ mang lại cho vị ấy kết quả

xứng đáng. Thế th ì hễ có kẻ nào

đến xin bạn, bạn h ãy cho họ

ăn bằng chính thức ăn của bạn.

Tất cả đều đồng ý, rồi ai nấy về chỗ của

m ình.

Tờ mờ sáng hôm sau, Rái cá ra đi t ìm

mồi, xuống tới bờ sông Hằng. Bấy giờ có một người

đánh cá bắt được bảy con cá hồng, xâu cá v ào

một sợi mây rồi đem chôn chúng dưới cát tr ên

bờ sông. Sau đó, ông ta lại xuống sông để

bắt th êm cá. Rái cá đánh hơi được

mấy con cá đang được chôn v ùi kia, liền bới cát lên, trông thấy

cá liền lôi ra và kêu lớn lên ba lần:

- Cá của ai đây?

Không thấy chủ nhân đâu, nó liền lấy

răng cắn xâu cá ấy mang v ào rừng đem

về để v ào nơi nó ở, định sẽ ăn v ào

lúc thích hợp. Thế rồi nó nằm xuống suy nghĩ mình thật

đạo hạnh quá!

Con Chó rừng cũng ra đi kiếm thức ăn v à

tìm thấy trong túp lều của một người trông coi

đồng ruộng hai xi ên nướng thịt, một

con rắn mối và một lọ sữa đông. Nó k êu

lớn lên ba lần:

- Các thứ này của ai đây?

Sau đó không thấy ai l à chủ nhân,

nó tròng dây vào cổ mang cái lọ, dùng r ăng

cắn con rắn mối v à hai cái xiên mang về cất vào hang của nó. Nó

tự nghĩ: "Vào lúc thích hợp, ta sẽ ăn các

thứ n ày". Rồi nó nằm xuống, suy nghĩ vừa rồi nó giữ

đạo hạnh thật tốt.

Con Khỉ cũng vào trong lùm cây, lượm một cành xoài rồi mang lên cất

vào khu của nó trong rừng, định sẽ ăn các

trái xo ài ấy vào lúc thích hợp. Rồi nó nằm xuống, suy nghĩ nó

đ ã giữ

đức hạnh thật đúng.

Còn Bồ-tát vào lúc cần, ra ngoài để định

ăn đọt non tr ên bãi cỏ Kusa và trong lúc nằm trong rừng, ngài

chợt nghĩ: "Ta chẳng có dầu, chẳng có cơm, chẳng có các thứ như thế. Nếu

có ai đến đây xin ta, ta đâu có thể lấy cỏ

m à cho họ được. Nếu có người h ành

khất nào đến với ta, ta sẽ cho người ấy

thịt của chính ta vậy". Sự biểu lộ đức hạnh sáng ngời ấy l àm cho

chiếc ngai bằng cẩm thạch trắng của Thiên chủ Ðế Thích nóng lên.

Ðế Thích quán tưởng và khám phá ra duyên cớ, rồi quyết

định thử l òng con Thỏ chúa này.

Trước hết, Thiên chủ giả là một Bà-la-môn

đến đứng gần nơi ở của con Rái cá. Rái cá hỏi tại sao ông đứng đó, ông

đáp:

- Này Hiền giả, tôi vừa nhịn đói giữ

trai giới, nếu có được thứ g ì để ăn,

tôi sẽ ho àn tất mọi bổn phận của một

đạo sĩ.

Rái cá nói:

- Tốt lắm, tôi sẽ cho ngài thức ăn.

Rồi nó đọc b ài kệ

đầu để nói với Ðế Thích:

Bảy cá hồng tôi đ ã gọn mang

Từ dòng nước cả của sông Hằng,

Bà-la-môn hỡi, ăn cho thỏa,

V à ở lại đây chốn núi ng àn.

Vị Bà-la-môn bảo:

- Hãy để đến ng ày mai rồi tôi sẽ

tính.

Rồi ông đến với con Chó rừng. Khi được

hỏi v ì sao ông đứng đó, ông cũng trả

lời như trước kia. Chó rừng cũng sẵn s àng hứa tặng ông

đồ ăn v à nói với ông bằng bài kệ thứ

hai:

Người coi đồng d ành thức

ăn tối

B ình sữa kia; rắn mối nữa đây.

Hai xi ên để nướng thịt n ày

Tôi đây trót dại lấy ngay ấy m à.

Có bao nhiêu tôi đ à tặng

đấy,

B à-la-môn xin hãy ăn thôi!

Nếu ng ài hạ cố đến nơi

Rừng n ày ở lại cùng tôi một hồi.

Vị Bà-la-môn bảo:

- Hãy để đến mai rồi tôi sẽ tính.

Rồi ông đến với con Khỉ. Khi được hỏi v ì

sao ông đứng đó, ông cũng trả lời như

trước. Khỉ sẵn s àng cho ông đồ ăn v à

nói với ông bài kệ thứ ba:

Dòng nước lạnh với cành xoài mọng,

Chốn rừng xanh rợp bóng yên lành,

Ðể ngài vui hưởng, sẵn dành,

Nếu ngài thỏa ý, rừng xanh nương mình.

Vị Bà-la-môn bảo:

- Hãy để đến mai rồi tôi sẽ tính.

Rồi ông đến con Thỏ rừng tinh khôn. Khi

được hỏi v ì sao ông đứng đó, ông

cũng trả lời như tr ên. Khi nghe ông ta muốn gì, Bồ-tát rất thỏa

ý, liền nói:

- Này Bà-la-môn, ngài đến với tôi để

kiếm đồ ăn th ì thật là đúng lắm. Hôm

nay, tôi muốn trao tặng một thứ m à trước

đây tôi chưa bao giờ trao tặng, v à

ngài sẽ không phải phạm giới sát sinh. Này bằng hữu, khi ngài chất củi

và nhóm lên một ngọn lửa xong thì hãy đến

báo cho tôi biết, tôi sẽ hiến mạng sống của tôi v à nhảy vào trong

lửa. Khi thân tôi đ ã

được nướng chín, ng ài hãy

ăn thịt tôi rồi ho àn thành các bổn

phận tu sĩ của ngài.

Rồi Thỏ nói với ông bài kệ thứ tư:

Tôi chẳng có thức ăn m è,

đậu,

C ùng gạo cơm để hậu đ ãi

ngài.

Thịt tôi hãy nướng lửa thôi,

Nếu ngài sống với chúng tôi chốn này.

Thiên chủ Ðế Thích nghe bảo thế, liền dùng thần lực tạo nên một

đống than cháy đỏ rồi đến báo cho Bồ-tát

hay, Bồ-tát từ chỗ nằm bằng cỏ Kusa đứng l ên và

đến nơi ấy, ng ài lắc mình ba lần

để nếu có côn tr ùng vào nằm trong bộ

lông của ngài rơi ra mà thoát chết.

Rồi để hiến dâng to àn cả thân

mình, Bồ-tát nhảy vọt lên, trong một niềm hoan lạc tràn trề. Ngài rơi

xuống đống than cháy rực giống như một con

thi ên nga vương giả đáp xuống cụm

hoa sen. Nhưng ngọn lửa tắt ngay khi chạm đến những lỗ chân lông tr ên

toàn thân ngài giống như ngài rơi vào vùng sương giá. Ngài liền hỏi Ðế

Thích:

- Này Bà-la-môn, ngọn lửa ngài vừa nhóm lên giá lạnh quá, nó chẳng

làm nóng được các lỗ chân lông tr ên

thân thể tôi. Tại sao thế?

Ðế Thích đáp:

- Thưa Hiền giả, ta chẳng phải là một Bà-la-môn, ta là Ðế Thích, ta

đến đây để thử đức hạnh của ng ài.

Bồ-tát nói:

- Thưa Ðế Thích, không những chỉ riêng ngài mà nếu tất cả mọi người

trên thế gian này đến đây để thử tôi về

cung cách bố thí như thế kia th ì họ cũng sẽ không bao giờ thấy

rằng tôi từ bỏ một ý định bố thí n ào.

Nói xong, Bồ-tát thốt lên tiếng reo sảng khoái như tiếng rống của sư

tử.

Bấy giờ, Ðế Thích nói với Bồ-tát:

- Này Thỏ hiền trí, mong cho đức hạnh

của ng ài được sáng tỏa muôn đời.

Rồi Thiên chủ ép một trái núi, lấy nước tinh từ

đó ra m à vẽ hình một con Thỏ tên mặt

tr ăng. Sau khi đặt Thỏ v ào chỗ nằm

bằng cỏ non Kusa, Thiên chủ quay về cung

điện của m ình ở trên trời.

Bốn con vật khôn ngoan kia sống hạnh phúc hài hòa bên nhau, giữ tròn

giới luật, tuân hành các ngày trai giới, rồi sau

đó đi theo nghiệp của m ình.

*

Sau khi kể xong Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết Tứ Ðế. Ở phần

kết thúc Tứ Ðế, người gia trưởng đ ã

cúng dường các vật dụng cần thiết cho các Tỷ-kheo kia

đắc quả Dự Lưu v à bậc Ðạo Sư nhận

diện Tiền thân:

- Bấy giờ Ànanda là con Rái cá, Mục-kiền-liên là con Chó rừng,

Xá-lợi-phất là con Khỉ, còn Ta là con Thỏ hiền trí ấy.

-ooOoo-

317. Chuyện Khóc Người Chết (Tiền thân Matarodana)

Khóc người sống hơn khóc kẻ chết...,

Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một người chủ

đất tại Xá-vệ.

Khi người anh của ông chết, ông quá đau

đớn đến độ bỏ ăn, bỏ tắm rửa, xức dầu thơm. Quá sầu khổ, cứ mỗi chiều l à

ông đến nghĩa địa khóc than. Bậc Ðạo

Sư vào lúc sáng sớm, phóng tầm mắt nhìn khắp thế gian, quan sát thấy

người có khả n ăng đắc quả Dự Lưu, liền

nghĩ: "Ngo ài Ta ra chẳng ai có thể làm dịu nỗi sầu

đau của ông ta v à

đưa ông đến quả Dự Lưu bằng cách kể cho ông

ta chuyện xảy ra thời xưa được. Ta phải l à nơi an trú cho ông".

Vì thế hôm sau, khi đi khất thực về, Ng ài

mang theo một Tỷ-kheo trẻ tuổi đến nh à

ông ấy. Nghe có bậc Ðạo Sư đến, người chủ

đất liền sai sửa soạn một chỗ ngồi v à mời Ngài vào. Sau khi

đảnh lễ Ng ài, ông ngồi xuống một

bên. Khi bậc Ðạo Sư hỏi vì sao ông sầu não như thế, ông bảo rằng ông

buồn khổ từ khi anh ông chết. Bậc Ðạo Sư dạy:

- Tất cả mọi hiện hữu do kết hợp mà nên

đều vô thường, cái g ì phải tan rã thì tan rã. Ta chẳng nên phiền

não vì điều n ày. Các trí giả ngày

xưa vì biết như vậy nên không hề sầu khổ khi anh họ chết.

Rồi do yêu cầu của ông ta, bậc Ðạo Sư kể một chuyện quá khứ.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát tái sinh trong

một gia đ ình phú thương, có gia tài

đến tám trăm chục triệu. Khi ng ài

trưởng thành thì cha mẹ chết. Thế rồi người anh của Bồ-tát quản lý tài

sản của gia đ ình và ngài sống phụ

thuộc vào ông ta. Chẳng bao lâu người anh cũng chết do một cơn bạo bệnh.

Bà con, bè bạn gần xa đ ã

đến than khóc thảm thiết. Chẳng ai kiềm chế

nỗi xúc động của m ình. Nhưng Bồ-tát lại chẳng sầu chẳng khóc gì

cả. Mọi người đều bảo:

- Coi kìa, anh nó chết mà nó vẫn thản nhiên như không, thực là một kẻ

tâm hồn quá sắt đá. Chắc l à nó muốn

anh nó chết để mong được hưởng gấp đôi phần

gia t ài đấy.

Một người thân thích cũng trách cứ ngài:

- Này, anh của anh chết mà anh cũng chẳng nhỏ một giọt nước mắt nào

cả ư?

Nghe thế ngài bảo:

- Do ngu dại mù quáng, chẳng biết gì đến

Tám pháp ở thế giới (được - mất, khen - ch ê, vui - buồn, vinh -

nhục) các người khóc than: Ôi anh ta đ ã

chết! nhưng tôi và cả các người đều cũng sẽ

chết hết. Tại sao các người lại không khóc khi nghĩ đến cái chết của

chính m ình? Mọi sự hiện hữu đều giả

tạm, do đó không một vật kết hợp n ào có thể giữ nguyên

điều kiện bản chất của nó được. D ù

các ngươi, những kẻ ngu dại mù quáng, do vô minh không biết

đến Tám pháp ở thế giới" m à cứ khóc

than sầu khổ, còn tại sao tôi đây phải khóc

chứ?

Nói xong, ngài đọc các b ài kệ

này:

Khóc người sống hết khóc kẻ chết,

Mọi sinh linh đều kết một thân,

Lo ài chim, loài thú bốn chân,

Rắn, người, thần thảy bước chung một đ àng.

Chống số phận, ta càng bất lực,

Vui chết không khổ lạc th ăng trầm.

Sao ch ìm trong mối thương tâm

Vì người anh chết, lệ đầm đ ìa rơi?

Chuyện lừa đảo, chuyện đời phóng dật,

Kẻ dại cuồng hay bậc h ùng oai,

Khôn ranh, chẳng biết điều ngay,

Khôn ngoan như thế cũng t ày ngu si.

Bồ-tát thuyết giảng Chân lý cho những người kia như thế và giải trừ

mọi phiền não cho họ.

*

Khi bậc Ðạo Sư chấm dứt bài giáo lý, Ngài tuyên thuyết Tứ Ðế. Ở phần

kết thúc bài giảng Tứ Ðế, người chủ đất đắc

quả Dự Lưu. V à Ngài nhận diện Tiền thân:

- Bấy giờ, bậc trí giả giải trừ phiền não cho mọi người bằng cách

thuyết giảng giáo lý kia chính là Ta.

-ooOoo-

Đầu

trang | Mục

lục | 01 | 02 | 03

| 04 | 05 | 06

| 07 | 08 | 09

| 10 | 11 | 12

| 13 | 14