Bài 104 · Pháp thoại

Kinh Tăng Chi | Chương Năm pháp | Phẩm Hiềm Hận (tt)

Bản transcript pháp thoại đã được chỉnh dấu câu và trình bày lại để dễ đọc. Video YouTube đặt bên cạnh để đối chiếu khi cần; phần đọc chính là transcript bên dưới.

1:28:3815.794 từƯớc đọc 61 phútĐã xuất bản
Vị trí trong playlistBài 104 / 108 transcript đã xuất bản

Thuộc Chương Năm pháp . Dùng các nút bên dưới để quay lại danh sách, lọc theo chương hoặc tiếp tục bài kế tiếp.

Mốc nội dung

  1. Bối cảnh phẩm Hiềm Hận

    Giới thiệu sự kiện và nhân vật liên quan đến phẩm Hiềm Hận trong Kinh Tăng Chi.

  2. Im lặng trước cái ác

    Phân tích tác hại của sự im lặng của người thiện trước cái ác trong xã hội và tăng chúng.

  3. Chỉ lỗi đúng lúc

    Năm điều kiện để chỉ lỗi người khác một cách chính đáng và không gây lỗi cho bản thân.

  4. Trật tự trong tu hành

    Nhấn mạnh sự cần thiết của trật tự trong mọi hoạt động, đặc biệt là trong tu tập và truyền đạt giáo pháp.

  5. Vai trò của chú giải

    Tầm quan trọng của chú giải và ngôn ngữ trong việc hiểu và giảng giải kinh điển.

  6. Kết tập kinh điển

    Khó khăn và nguyên tắc trong việc kết tập tam tạng và chú giải.

  7. Nhận thức về thiện ác và chứng ngộ

    Quan điểm về khổ, lạc, thiện, ác trong tu tập và ý nghĩa của chứng ngộ.

Transcript đã chỉnh

Khi ra đời, cám ơn bà con. Khi ôn lại cái Singalovada, tức là khi ngài Xá Lợi Phất tuyên bố gần đây rằng, là một vị thành tựu tâm học, giới định tuệ, nếu ngay đời này không chứng A La Hán thì với sự thành tựu tâm học, tối thiểu cũng là A Na Hàm.

Để xảy ra cái có vị tỳ kheo, thì vị tỳ kheo đó không đồng ý, không đồng tình, vì cái lòng bất kính bất mãn thì thôi, chứ không chỉ đó cũng có biết chính xác rồi đó. Vị đó chống đối suông chứ không có lý lẽ. Sự việc được đem đến Đức Phật, và Đức Phật nghe ở nhà cũng đã nói rằng con thiếu trí tuệ. Xong rồi Ngài nói, Ngài nói câu đó là vì đâu, mà các tỳ kheo lại để cho một trưởng lão bị quấy rầy như vậy, mà im lặng không lên tiếng.

Rồi tiếp theo đó, Ngài Ananda, sau khi nói gì xong rồi, còn tin vào cốc thì vào cái hư. Nhắc nhở ngày nó thì nó bây giờ Ngài Ananda đi đến thủng hiệu của Bàna. Chị đến Ngài, ô tô của Ngài Ananda là một trong năm mẹ. Bỏ quên, Ngài là một trong năm vị trưởng lão hộ tăng, là thị giả của Thế Tôn trước khi Ngài Ananda chính thức trở thành thị giả. Đó là Ngài Bàna. Cái giả này ngày nay cái nón lá có anh nhá. Ngày mai Trung đá rồi.

Tới ngã năm ba có tổng công lâm vị nhé. Thì Ngài Ananda đang đến gặp lại Ngài Bàna là người kể lại cái chuyện đó. Kể gì nó xong xuôi rồi thì là cách xa. Đứa con Ngài gặp Ngài mới nói ở người quanh đây vậy, chứ một vị tỳ kheo trưởng lão được chư tăng cung kính thì vị đó phải thành tựu bao nhiêu cái điều kiện. Thì chư tôn trưởng của Bàna ngày mới trình bày năm điều kiện.

Tại sao có Pháp Liêm khi đó, là bởi vì chúng ta ôn lại từ đầu, chúng ta mới có nghĩa bối cảnh để nhớ nhé. Em thế là Ngài Xá Lợi Phất bị Ngài luôn lúc đối xử cách bất kính, và chuyện đến tai Đức Phật. Đức Phật nói một câu rằng Ananda em đem kể chuyện trên người của bạn. Vì sao nói buổi chiều nước một ngày gặp nhau, Ngài mới nhắn làm này chỉ có một lần nữa, nó là kỹ của ngày đó. Tại sao lại đầy đủ những có phát màn để cho anh em huynh đệ thương quý.

Mở đây chúng ta đọc, nếu mà chỉ đọc trên mặt giấy, chúng ta phải làm gì? Có cái chiến binh, có một cái gì đó tình riêng ở đây không? Phải mà ở đây Thế Tôn muốn dạy cái gì? Mai và mai sau, có nghĩa là khi một tỳ kheo bậc kính có chỗ để tăng chúng học hỏi, có chỗ để tăng chúng nương theo, thì tăng chúng nên xem vị đó là cái chỗ dựa tinh thần. Và giữa những vị tỳ kheo hiền thiện, giữa những vị trí cao trên tu, thì phải có cái gì bảo vệ nhau. Có như vậy thì chánh pháp mới được trường tồn ở đời, nhân thiên chúng sinh với được an tâm lợi lạc nha.

Chỉ còn đằng này là tôi nhớ bên tai có con trâu hay lắm, đó là bản thân cái ác là xấu, điều đó không bằng cái sống. Cần bằng cái nhé, nhưng mà nó có được thứ hai là im lặng của cái thiện. Lại cũng là cái em nha, cái biển. Anh nhớ về miền Tây con này là con rơm. Em à, lục được nguyên văn câu này thì là công đức vội vàng nha.

Tôi nhắc lại, bản thân cái ác đó là điều xấu thì không có gì có bàn cãi, nhưng mà cái sự im lặng của cái thiện nó lại cũng là một điều ác. Với bản thân cái sự im lặng nó cũng không điều ác, có nghĩa là sao? Có nghĩa là trong một cái xã hội mà người ta giết chóc cướp bóc, hà hiếp phụ nữ, trẻ con, người già, kẻ thất cô, có chuyện là chuyện xấu nên đương nhiên rồi, nhưng mà cái phần còn lại của xã hội lại gọi là mũ ni che tai, im lặng, im lặng, im lặng, im lặng trước cái cái cái cái

Nhưng cái phần còn lại của xã hội lại mũ ni che tai, im lặng, im lặng, im lặng trước sự hoành hành của cái ác, thì coi như cái phần còn lại ấy của xã hội cũng đáng bị xem là dễ sợ.

Cái đáng ngại nhất ở dưới quốc gia chậm tiến là gì? Có nghĩa là kẻ ác hoành hành mà người thiện thì im lặng. Đó là vú chỉ cho một cái xã hội tha hóa, sa đà, đang đi xuống, không hãm phanh được. Cái xã hội như vậy có nghĩa là cái ác kẻ nó làm, người thiện im lặng. Cho nên bản thân cái ác là điều xấu, mà sự im lặng của cái thiện cũng là một điều bất thiện. Nội dung chính là như vậy.

Trực tiếp theo là cái bài trang 167, kinh buộc tội ngày Minh Châu. Mình nhìn cái chữ trong tư liệu là buộc tội, nhưng mà ở đây cái chữ này nó có ý nghĩa khác mềm hơn, mà có thể dùng rộng rãi thường, đó là chỉ lỗi. Chữ chỉ lỗi nhớ nha, chỗ đó nay là chỉ lỗi, cảm ơn. Chỉ lỗi chứ còn buộc tội thì nghe nó hơi tiêu cực, nó hơi nặng, nó khó dùng trong đời.

Cái chuyện chỉ lỗi là sao? Có nghĩa là trong tăng chúng, mình nhìn thấy thấy có vấn đề cần phải được làm sáng tỏ, minh bạch, thì cũng phải đem nó ra tình bày. Chứ còn nếu lo mình ên, ai làm ai, là nguy hiểm. Mình không nói như vậy, lâu ngày cái nội bộ tăng chúng nó sẽ bị mục ruỗng, sẽ bị tăng hoại đi.

Tuy nhiên, tuy nhiên, mình muốn chỉ lỗi cho người ta thì mình phải là người như thế nào? Ở đây Nghĩa Sa Đại Phật ngài có đưa ra năm cái điều kiện, mà mình có đủ thì mình có thể chỉ lỗi cho người khác một cách vô tội. Còn nếu không, người ta có lỗi, nhưng mình chỉ lỗi người ta mà mình không thành tựu, không có đủ năm cái điều kiện này, thì mình chỉ lỗi cho người ta mà bản thân mình cũng có lỗi.

Nhớ nha, khi người ta có lỗi mà mình muốn chỉ lỗi cho người ta, mình cũng phải khéo, chứ nếu không bản thân mình cũng có lỗi. Năm cái điều kiện đó là cái gì?

Một là phải nói đúng lúc. Đúng lúc là sao? Tức là các vị tri điền địa phủ ai làm vườn, nuôi cá nuôi chim thì biết, làm vườn cũng vậy, phân bón tưới tập cũng phải có lúc có khi, có thời điểm chứ không phải lúc nào mình muốn tưới thì tưới.

Tôi ví dụ nha, thấy giữa giờ ngọ chang chang 12 giờ trưa đứng bóng rồi, mà bà con xối vô cái đám cà, lắm cơ là nó phải chết, đó. Trời đang nắng chang, cái gốc cây nó đang nóng, mà bà con tưới nước thì chết là cái chắc nha. Sân vườn cũng vậy, lúc nào, thời điểm nào thì mình mới vô phân cho cây cối trái nghịch.

Ở đây cho từng người chơi lan, chơi mai tết, vào cái thời điểm nào mình cần, mùa nào thì mình mới tốt cho lan, cảnh tỉnh đốt lửa, hoặc là mình thêm phân. Phật tử hướng dẫn cho mình, lỡ cắt nhớ vô chậu thì mình bỏ một cái gim vào trong đó, cũng như vậy. Thời điểm đi làm chuyện đó.

Nên ở đời, tôi có một câu riêng, ở đời chuyện gì cũng có thời điểm lý tưởng của nó. Cái câu này mới nghe qua việc ấy không có gì, nhưng mà khi nào bà con gặp chuyện thì con sẽ thấy cái câu đó là một cái khuôn vàng thước ngọc nha. Tôi nhắc lại, ở đời chuyện gì cũng phải có thời điểm thích hợp của nó.

Có rất nhiều gia đình tan nát là vì vợ chồng con cái anh chị em với nhau không biết, ngoài nói chuyện không biết lựa lời mà nói, nó còn có trường hợp không biết lựa lúc mà nói. Cái cây cái ớt mình tưới nước vô phân, mình

Chuyện không biết lựa lời mà nói. Cây cà cây ớt mình tưới nước vô, bón phân mình còn phải lựa khi lựa thời, tại sao con người với nhau mà mình lại không để ý những chi tiết quan trọng này.

Chuyện đầu tiên là mình muốn chỉ lỗi người ta thì cũng phải lựa khi lựa thời. Sau đó là cái thứ hai nữa, mình chỉ lỗi người ta thì mình phải trung thực, không có gian dối, không có bịa đặt, không có đơm đặt, không có thêu dệt, không có vẽ vời thêm. Phải trung thực. Thứ nhất là phải đúng lúc đúng thời, thứ hai là phải trung thực không có đơm đặt, cái thứ ba nữa là phải cam ngôn mỹ từ, có nghĩa là mình chỉ lỗi người ta mà mình dùng ngôn ngữ nặng nề châm chích, nhẹ thì ẩn ý, thì coi như không xong. Ngài muốn nói tới một ngôn ngữ được xuất phát từ thiện chí, nó không hề như vậy. Một ngôn ngữ, một câu nói, một nụ cười mà xuất phát từ thiện chí thì không có làm cho người ta bị đau, không làm cho người ta bị nhột, không làm cho người khác bị sốc, không gây phản cảm với người ta.

Cho nên mình muốn chỉ lỗi người ta đó, thứ nhất phải đúng lúc đúng thời, thứ hai là phải trung thực không có đơm đặt, cái thứ ba là phải là cam ngôn mỹ từ. Cái thứ tư nữa là những gì mình đã ra tay, có lẽ chỉ còn mà mình quên cái cấp này, mình quên cái cảnh này, rất là mệt. Tức là Đức Phật dạy một vị Chánh Đẳng Giác cả đời bị chết cảnh giác ngôn ngữ nào, ngôn từ nào thì Chánh Đẳng Giác cũng hội đủ các điều kiện sau đây: đúng lúc, lợi ích, trung thực, bằng từ tâm. Bậc Chánh Đẳng Giác luôn luôn là như vậy. Bậc Chánh Đẳng Giác không có những câu nói thừa trong cuộc đời.

Đây là lý do vì đâu mà chúng ta thường thấy trong kinh có rất nhiều pháp thoại, có rất nhiều pháp thoại mà gom lại nên là cả một tủ kinh mấy chục cuốn. Tại sao có nhiều thời pháp thoại, có nhiều bài kinh, rất là lạ, chỉ một câu nói của Đức Thế Tôn cũng ghi lại là vì sao? Vì Thế Tôn không có nói nhiều như mình. Ngài khai khẩu là phải có lý do, phải có ý nghĩa. Đặc biệt như vậy, thí dụ tôi xin sám hối trước khi cho ví dụ. Cái gì ngài tào lao nói nhảm xuống niên ngày mai city nó bị nó làm cả kinh thì cũng bậy, bán đề mình tội lắm. Nhưng mà trong đời sống vẫn có những câu nói đùa, có những câu không cần phải ghi chép, không cần phải ghi nhớ, thậm chí mình cũng không nên để ý nữa. Tôi bảo đảm nếu mà mai xiu min tau, chắc chắn các vị Mai Xiu Min Tau chắc chắn có những câu nói mà điện tử cũng không nên ghi nhớ là làm cái gì, người ta nói đùa thôi.

Nhưng mà bậc vị Chánh Đẳng Giác thì không. Và ở đây nè, muốn đem cái bài học đó dạy cho các đệ tử hãy nhớ, bất cứ tình huống chỉ nói cái điều đó. Đây chính là lý do vì đâu mà từng câu nói của Thế Tôn trong mọi tình huống, mọi thời điểm đều được ngài A Nan Đà trung thành trung thực ghi nhận và ý nghĩa lịch đầy đủ, không sót. Người không biết cái chi tiết này sẽ lấy làm lạ lắm, cứ thấy ngộ lắm, chỉ đi một hai câu nói của Đức Phật thôi làm cả kinh, không có. Nói chuyện với bậc Chánh Đẳng Giác, khi chỉ là mở lời dứt khoát là phải có lý do, có duyên sự, có lợi ích, có được từ tâm vào đấy.

Chị muốn chỉ lỗi đứa em này cũng phải nhắm người ta, phải nói để cái chuyện mâu thuẫn giữa hai chị em luật sư và pháp ở

Cũng phải nhấn mạnh, người ta phải nói là cái chuyện mà dẫn đến mâu thuẫn giữa hai vị, vị luật sư và vị pháp sư ở chùa Kosambi, là do vị pháp sư ở trong toilet đi ra, quên đổ tất cả nước xuống, trong cái gáo còn một ít nước nó đọng lại trong đó. Vị luật sư đi vào sau đó, khi sử dụng gáo nhìn thấy như vậy thì chắc mười mươi cái gáo nước này cho cái sự kiện vừa rồi.

Vị Thái mới im lặng không nói gì, đi về kể cho đệ tử của mình. Đi về xong gặp vị pháp sư nói: ông pháp sư có sám hối lỗi này nữa không. Bởi vì theo luật, theo Tỳ-ni mà vào sử dụng cái toilet, phòng tắm, nhà cầu, phải tự quan sát qua trong đó cái gì cần lau dọn, cái gì cần thêm, cái gì cần bớt. Khi vào sử dụng phải như vậy, và khi đi ra cũng phải quan sát. Mà đặc biệt là cái gáo nước, phải đổ nước xuống, để không để nước nó đọng, nó nằm ngớt làm nhớt cái lòng gáo, và nó sinh ra muỗi, lăng quăng. Đồng thời nó làm cho cái gáo xa rời khỏi nước nguyên trong. Cứ ghi rõ cấm cái điều đó.

Sự việc với vị pháp sư có lẽ là do sơ ý chứ không phải cố ý, mà do sơ ý mà bị vị luật sư thiếu cái sự cảm thông. Người chút về đi trẻ, đi chơi điện tử, nghe cái chuyện người lớn với nhau đi kể cho người nhỏ, thì nó bắt đầu nó dính chuyện rồi. Mấy ông nhỏ mới bị nhỏ, nó đi đồn ra, đi ra cả làng, thì nó lọt đến tai các đám đệ tử của vị pháp sư.

Mà bị nhận xét, bị xúc phạm như vậy thì chịu không nổi. Đám đệ tử của vị pháp sư bao lâu vừa học biết được năm bằng luật, được ôm khư khư, ngon rồi, nên người ta giống như mèo rình chuột. Ok, bao lâu nguồn gốc của sư phụ tôi không đi học được mới luật, sương mà mày nói mày ăn rồi mày đi lên người ta, tao nói tắt bảo cháu nước luôn. Giờ thế là nó cứ phang nhau, phang nhau, cuối cùng nó giận, dẫn đến cuộc đại xung đột lớn nhất trong cuộc đời của Đức Phật.

Đức Phật chưa hề có, nhà A gọi là ngu xuẩn xung đột nào trong tâm trí, ngay cả cái vụ mà không được cài đặt ba mươi tám điều, năm trăm điều, năm trăm tỷ tấn theo mấy người kia kêu thì đi theo, chứ còn họ không có một cái bất đi rồi. Không hề có một cái xung đột mâu thuẫn gì hết. Nhưng mà riêng cái vụ mà hai đệ tử của hai vị pháp sư mà xung đột ở chùa Kosambi, đó là vụ lớn.

Các vị biết, lớn đến mức mà tôi thường ngại, tôi không dám kể cho bà con nghe, bởi vì bà con nghĩ là chuyện phong thần thôi. Lỡ tới đây có kẻ luôn, lớn đến mức mà trong chùa đó có mấy vị mà tu thành cũng chia sẻ ra một phe, dưỡng về với vị pháp sư, phe nương về với vị luật sư. Rồi từ đó dẫn đến chuyện chư thiên trong các khu rừng xung quanh, dẫn đến chuyện chư thiên Tứ Thiên Vương, Đao Lợi, Dạ Ma, Đâu Suất, Hóa Lạc, Tha Hóa Tự Tại cũng chia phe. Họ đứng về phía pháp sư, đứng về phía các luật sư.

Lớn chuyện như vậy đối với vị nha em ạ. Cho nên là nếu mà vị luật sư mà ngay buổi đầu nghĩ rằng ta vui chuyện này có lợi gì cho mình, có lợi gì cho vị pháp sư, có lợi gì cho tăng đoàn, cho Phật pháp hay không. Nếu vị ấy lúc đó mà chịu khó cân nhắc một chút nhẹ thôi, chỉ cần gấp ba nốt nhạc thôi, ta nó nhạc cân nhắc cho, thì nó đỡ biết bao nhiêu. Mà nặng mẹ đừng quên cần.

Cho nên nó mới đón em lên lớn rồi. Cái đường thứ năm, cái tiêu chuẩn thứ năm của một cái người, của một tỳ-kheo mà trước cây muốn chỉ lỗi cho ai nữa, thì phải tâm niệm rằng tôi sẽ chỉ lỗi khác với cái từ tâm, mong cho người khác được cái này được cái kia, chứ không phải là chỉ lỗi người ta vì các

Lỗi khác với cái tâm mong người khác được cái này được cái kia, chứ không phải là từ tâm chỉ lỗi người ta. Vì các lậu tâm nhìn ghen ghét, ác cảm. Một vị tỳ kheo mà như vậy đó, vị tỳ kheo mà muốn chỉ lỗi ai thì phải tự xét mình xem mình có đủ 5 điều kiện này không. Khi mình tự thấy mình không đủ 5 cái này, mình thấy rằng mình không có từ tâm trong cái vụ này, hoặc là mình thấy rằng lúc này không phải là thời điểm để mình nói ra chuyện đó, nếu mà vị tỳ kheo xét thấy như vậy thì không nên nói ra. Bởi vì nó là chuyện rất là tâm lý.

Vì ai cũng có cái chỗ, ai ai cũng có cái chỗ. Bởi vì trong thế giới này, có người hỏi cái gì lớn nhất, có một ông tướng sĩ đến hỏi vị thiền sư, hỏi cái này là cái gì to nhất lớn nhất, thì vị thiền sư nói cái tôi là cái lớn nhất, cái tôi là cái lớn nhất. Bởi vì núi thì có cao thiệt nhưng mà nó cũng không bằng cái tôi ảo tưởng của mình. Biển có rộng, sông có dài, mặt đất có bao la, không gian có vô tận, thì không có gì lớn bằng cái tôi của mỗi người hết. Cho nên ông tướng sĩ mới hỏi cái gì trên đời này là lớn nhất, ông nghĩ vị này tu hành đắc đạo, phát viên thâm kiến thức bách khoa bao la, bạn nghĩ thử coi vị này trả lời như thế nào, thì ông không ngờ gì nữa, trả lời một cái bất ngờ như vậy. Cái lớn nhất chính là cái tôi.

Cứ nói đơn cử cái vị này nè, cái gì cũng như một bà mẹ Việt Nam 45 ký, cao có thước rưỡi thôi, mà nếu phải có 6 đứa con thì coi như có 6 cái tôi. 6 đứa con ở 6 tỉnh, hoặc 6 tiểu bang, hoặc 6 quốc gia, thì mỗi lần nghe ở những tỉnh đó, tiểu bang đó, quốc gia đó mà có chuyện gì đó, là đầu tiên là lòng mình nó đổ dồn về yên mình. Mới có người thân người thương mà mới vừa bay, mà mình nghe loáng thoáng ai đó nói máy bay bị nạn, là mình lo, mà nó biết có phải chuyến bay của người thân mình hay không, có nghĩa là lúc đó cái tôi của mình nó dữ lắm, có nghe kịp không.

Cho nên Việt Nam có một câu đó là lấy chồng nghề biển hồn treo cột buồm. Lấy chồng nghề biển hồn treo cột buồm có nghĩa là mình là một người thiếu phụ trong cái làng chài thôi, chứ không có gì hết, nhưng mà chỉ vì chồng đi biển thì cái lòng mình nó trải ra ngoài khơi. Mỗi lần ở bên bờ mà nghe mưa to gió lớn, hoặc nghe radio mà dự báo thời tiết khí tượng thủy văn báo là ngoài khơi vùng Na, bão gió cấp 8 cấp 9, là mình bồn chồn. Bởi vì cái tôi của mình nó dán tới bãi biển. Lấy chồng nghề biển hồn treo cột buồm là như vậy đó.

Cho nên ở đây một vị tỳ kheo mà muốn làm cái việc chỉ lỗi cho người khác, thì cũng phải luôn luôn tâm niệm rằng tôi phải thành tựu đủ 5 điều kiện này nè, thì tôi mới nên làm cái chuyện đó. Còn nếu không, mình chỉ lỗi cho người ta mà mình lại không thành tựu, không được 5 tiêu chuẩn này, thì người chỉ lỗi cũng lại là người mắc lỗi.

Đó là nội dung kinh, đó là nội dung kinh. Thì ngài Xá Lợi Phất giảng, vừa giảng cho thầy A Nan nghe như vậy, thì thầy A Nan hỏi ngài Xá Lợi Phất nghe, hỏi vậy chứ những điều mà như vậy, ngài Xá Lợi Phất nói như vậy, nó có chắc là ai cũng hiểu được hết hay không, hay là có ai không hiểu được. Chắc là có. Chắc là ai cũng hiểu và cũng chấp nhận những điều mà ngài Xá Lợi Phất mới nói hay không. Ngài A Nan có ý đó, ngài mới thưa, bạch Thế

cũng hiểu và cũng chấp nhận những điều mà bác mới nói. Hỏi về nghề các bạn có gia đình ngày mới, thưa Bạch Thế Tôn, nếu một người đi xuất gia có lý tưởng cầu giải thoát thì dứt khoát là họ sẽ chấp nhận, sẽ tin nhận cái lời của con. Nhưng nếu họ là cái người giá áo túi cơm, mượn đạo để mà kiếm sống, không có một cái đời sống nội tâm, không có lý tưởng phẩm hạnh, không có sống để tránh những sa-môn nhạc, thì họ sẽ không có chấp nhận, sẽ không chấp nhận cái lời nói, những cái gì mà con vừa nói đâu.

Và điều đó không riêng gì những cái pháp thoại vừa rồi của tôn giả, mà ngay đến tất cả những cái Phật Pháp còn lại cũng thế. Một người mà đi xuất gia không có niềm tin thì làm sao mà có thể chấp nhận Phật pháp, như là một người lương gia nam tử mà nên xuất gia bằng niềm tin.

Chỗ này chúng ta cái đoạn cuối bằng kinh nghiệm cho chúng ta một bài học rất là hay, đó là mưa rơi xuống đất không phân biệt nơi chốn, nhưng không phải nơi chốn nào cũng nhận được những lợi ích từ cơn mưa ấy. Phật pháp được ban bố giữa đời không phân biệt đối tượng, nhưng không phải đối tượng nào cũng nhận được những lợi ích từ Phật Pháp. Là vì sao? Là vì cái tâm cơ, cái tâm địa, cái cơ địa tâm lý của mỗi người. Khi chúng ta phải có được cái nắm được cái mật mã, nắm được cái code, nắm được password của Hiền Thánh thì chúng ta mới có thể nghe được, đón nhận được và bước vào cảnh giới của các ngài. Còn nếu như chúng ta không có được cái tần số, cái làn sóng, không có được cái mật mã của các ngài, thì chúng ta không có lắng nghe lời của Hiền Thánh, chúng ta không thể tin nhận, chúng ta không thể chấp nhận.

Chúng ta cũng đã đọc những chúng ta cần có thể hiểu, đó là lời dạy của khách hiện. Ngài kể đây có lập tức giảng đến 5 điều rất là rõ, nhưng mà chính Ngài xác nhận được rằng là những điều ấy thấy đơn giản thế nhưng không phải người xuất gia nào cũng có thể hiểu được. Bởi vì nếu mà không phải là một cái người xuất gia với những lý tưởng phẩm hạnh nghiêm túc.

Tôi nhắc lại lần nữa là Phật Pháp ở đời được đức Thế Tôn ban rải không có dấu giếm, nhưng mà tùy vào phước duyên quá khứ, tùy vào cái nỗ lực hiện tại, tùy vào cái lý tưởng mục đích sống của mỗi người mà chúng ta đón nhận được bao nhiêu.

Ngày hôm qua tôi nhớ tôi nói bà con, mình tu là cái nhắm mắt tu, cấm cúi mà tu, thẳng đường mà tu, không có cần phải tìm hiểu là tôi có nhiều phước cách tức như mặt cứ lúc có đủ hay không, mình không có cần bận tâm tới điều đó. Tuy nhiên mình cứ tâm niệm như thế này, mỗi lần mình gặp một cái chuyện rồi phải khởi cái lên cái lòng bất kỳ nhiên mất, mình tự nhủ lòng mình, nếu mà có ba-la-mật mình yếu cái vụ này mình qua không nổi. Coi cái mình đứng trước một cơ hội làm phiền, mình tự nhủ lòng mình, nếu mà ba-la-mật của mình ngon lành thì cái vụ này mình sẽ làm được. Nhớ cái câu thần chú này, đứng trước một cái chuyện bậy bạ đó thì mình tự nhủ lòng mình sẽ không qua được cái vụ này. Đứng trước phước thiện cần làm thì mình tự nhủ lòng mình, thôi mình yếu mình cũng không thực hiện được chuyện này vì mình không có. Mấy giờ ba-la-mật nhiều ít, nhưng mà nó trong những tình huống đặc biệt thì mình phải làm công chuyện đó. Đi ba-la-mật mỏng hay dày, nhiều hay ít, sâu cạn cao thấp ít nhiều, nó thể hiện qua cái đời sống xuất gia của mình.

Ba-la-mật mỏng hay dày, nhiều hay ít, sâu hay cạn, cao hay thấp, nó hiện ra qua cái đời sống thường nhật của mình. Có những người mà nói với tôi, tôi nghe tôi cũng vừa ngạc nhiên mà cũng vừa buồn cho họ. Họ nói rằng họ có thể ngồi coi phim, phim bộ, khoảng ba ngày, trừ giờ ăn uống tắm rửa vệ sinh ra, họ có thể coi ba ngày, năm ngày không ra khỏi phòng. Nhưng họ nói lạ lắm, không tài nào ngồi nghe hết một bài pháp một tiếng được, không tài nào ngồi xếp bằng nhắm mắt theo dõi hơi thở được mười phút, ten minutes, không bao giờ làm được. Họ khó chịu lắm.

Có mấy lần họ cũng thử, người ta xếp vô đó thì hoặc là buồn ngủ, hoặc là đau nhức. Có ngày phóng tâm. Tự nhiên có tiếng ồn, rồi có mùi này mùi kia, bao nhiêu cái ngoại trần nó xảy đến làm cho họ phải đứng dậy đi. Ngộ lắm. Mà coi phim ba ngày, năm ngày không ra khỏi phòng, trừ khi tắm rửa vệ sinh, trong khi đó nghe pháp một tiếng thì không được. Chuyện đó dĩ nhiên không phải mình chỉ dựa vào đó mà mình nói rằng họ không có đủ phước duyên tu hành, nhưng mà mình cũng có thể thấy rằng người này có vấn đề khá lớn trong công việc tu học.

Rồi tiếp theo là kinh 168, giống viên kinh 24.000 phẩm ba, Kiên Giang mình giảng qua. Bữa nay kinh 169.

Tăng-già-na, ngài đang nói riêng về những bậc hiền thánh nói chung, có một cái thắng cảnh đặc biệt, một cái điểm đặc biệt. Có nghĩa là các vị ở ngoài chuyện thiền định ra, rất là thích các pháp hội, để được nghe, để được trao đổi pháp thoại, rất là thích. Đây là đặc điểm của vị tu hành tỉ mỉ. Cái để kết nối trong cái tôi nói tới, là khi ở một mình vị ấy có việc để làm, và khi không muốn ở một mình thì vị ấy cũng có việc lành để làm với người khác. Đó chính là cái dấu chỉ, là cái nhân duyên của người tu hành.

Cái câu này quan trọng nha, tôi nhắc lại lần nữa. Cực kỳ quan trọng. Khi ở một mình, họ có chuyện tốt đẹp để làm, và khi không ở một mình nữa, thì họ lại cũng có chuyện tốt đẹp để làm.

Còn mình thì sao? Mình ở một mình thì mọi chuyện có một trăm triệu chuyện tầm bậy để mình làm. Tới mà mình chán một mình, mình đi kiếm người khác, thì mình có thêm hai trăm triệu chuyện tầm bậy để mình làm.

Cái bậc hiền thánh trong đạo Phật lại khác. Ở một mình thì thiền định, suy gẫm. Một là thiền định, hai là suy gẫm giáo lý, lớp học. Còn không nữa, là khi họ không ở một mình, thì tìm đến người khác cũng để trao đổi và lắng nghe học hỏi. Đó là điểm đặc biệt giữa thư viện giảng viên ở chỗ này.

Bởi vì các vị sẽ thấy rất nhiều, có nhiều khi ngài Xá-lợi-phất đến tìm gặp ngài A-nan, thiết bị nghe. Ngộ không, ngài Xá-lợi-phất đi kiếm ngài A-nan, ngài đi kiếm ngài Mục-kiền-liên, ngài Mục-kiền-liên đi kiếm ngài Xá-lợi-phất. Mà cứ dòng sông, dòng sông, mày kiếm để làm cái gì? Hỏi giáo lý, để ý chuyện đó ra làm sao, để nghe. Vị kết nối lại như vậy. Là bởi vì các vị đó không có cách nào, pháp không thể nào tắt được. Vật chất đối với các vị đó không là gì, nhưng mà pháp đối với các vị rất là phản phất, nhu cầu rất là lớn.

vật chất đối với các vị đó không là gì, nhưng mà nó vẫn tinh tấn, vẫn pháp lạc, nhu cầu rất là lớn. Có một số cư sĩ Việt Nam học ta mới lên nhiên, cho rằng mấy vị thánh này không còn thích gì nữa hết. Bây giờ hiểu cái chữ thánh tao này nghĩa là tham, không phải cái tính cái tham dục, cái pháp dục.

Ngay cả Đức Tôn, với những lúc thì bị bệnh ấy, Ngài nói với người anh em, gọi mấy vị tỳ kheo ở bên cạnh, nhà nó rồi hình như lại, vậy muốn nghe lại cũng pháp thoại mấy ngày đó. Giờ nói nghe nè, hãy cho Như Lai nghe cái pháp thoại. Phải, Đức Phật giác chi chẳng ngại. Vị tưởng tượng Ngài là Phật, pháp nhất thiết trí, cái gì mà Ngài không biết. Và những cái gì mà các đệ tử đọc lại cho Ngài nghe, Ngài có ngại không? Nhưng mà không, bởi vì đối với các bậc tiền ký lạ như vậy, suy tư là một sự an lạc, trao đổi nó biết hỏi là một sự an lạc, được nghe lại cũng là sự an lạc. Đó là đạo của nó.

Ngoài đời những nhạc sĩ, những nghệ nhân mà yêu nghề thật sự, có tài thật sự, thì lúc sáng tác có vui, lúc thưởng thức cái tác phẩm công trình của họ cũng vui. Mà anh nhìn thấy người khác cứ tưởng tất cả không của mình, họ cũng buồn, cũng thực phẩm gì. Đúng còn Trống của viết trong hồi ký của nó, trong chả mấy trăm nhạc khúc của tôi, ai cũng nghĩ rằng chắc tôi rất là hạnh phúc khi người tôi nghe là những ca sĩ chuyên nghiệp hát trong phòng trà vũ trường, cá tính phong cảnh đại nhạc hội. Nhưng mà họ đâu có biết một chuyện, đó là tôi còn có những trường hợp vô cùng hạnh phúc mà không ai biết. Nếu tôi còn nói rằng, đó là những khi tôi đi đâu đó mà nghe người ta hát nhạc của tôi, ở bờ ruộng, ở giếng nước, ở bến đò, ở Hoa Kỳ, căn nhà lá nào đó, nhà nghèo nông dân, ngôn quê nông thôn mà hát trong cũng được. Nó nói nó HK cũng được, miễn là nghe hát làm họ thấy vui là bảo. Là công nghệ sĩ tiếng Việt, ông nghe lại nghe lời, cái giai điệu, nghe lời ca từ nó ra thấy sung sướng. Được sống lại một lần nữa trong cái cảm xúc của cái thời điểm sáng tác.

Các ca nhạc công tác đó là đời còn dũng cảm của mình thì sao? Một cái gì mà họ sống tương tác và hạnh phúc khi họp thành trì, hạnh phúc khi họ suy gẫm, hạnh phúc khi sự thay đổi học hỏi, và hạnh phúc khi được lắng nghe. Nói về tránh pháp, nhớ nha.

Cho nên ở đây là ngày hôm nay người đến thăm sao lại khác, để hỏi ngày sinh đó có bồ câu cái này nghe ở vậy chứ. Chứ tránh thiện pháp đúng là trái tim liêng, mà cái cao đẹp ai cũng phải học, ai cũng phải biết, ai cũng phải ghi nhớ. Nhưng mà sức người có hạn nhé. Tránh thiện pháp tối hảo không phải ai cũng có thể ghi nhớ cách dễ dàng. Tránh pháp với mẹ thì thưa tôn giả, bằng cách nào, bằng cách nào mình để mình có thể ghi nhớ tránh pháp dễ nhớ mà lâu quên?

Thì các vị cấp nhờ việc này sang nóc nhà trả lời ra sao? Nên tôi nhắc lại câu hỏi. Nhà em đang nhà nó, hành chánh pháp là những gì đáng được mình hình, gì đáng được ghi nhớ. Nhưng mà bây giờ cổ mong cháu làm sao, làm sao đây, làm sao mà để cho cho gọi là đúng rồi. Đúng này tao đang có bồ câu cái này, nắp bút cho tiền đi không có quên cái tầng dây. Nó còn muốn cho biết cũng có quên cái điều mà nó học, bằng cách nào đi tỷ lệ cho nó phát hiện ra, làm cái này sẽ để biết nhiều mà xứ để biết nhiều anh em nhiều.

Từ Thế Tôn bây giờ không phải là lúc mà tôi nói cho xin bệnh em a, là lúc tôi muốn nghe xứ để nấu rất là đặc biệt nhé, rất là đặc biệt. Xứ để là người biết nhiều mà. Đây không phải là lúc để mà tiêu để tao

nghe học để nói rất là đặc biệt. Rất là đặc biệt. Học để là người biết nhiều mà. Đây không phải là lúc để mà tôi để tao mà. Đây chính là lúc mà tôi muốn nghe học để nói. Nó là cái khiêm tốn của ngài, sẽ bắt bạn phải khiêm tốn, không mà là cái lòng cầu tiến, cái lòng hiếu học mỗi ngày đó, đặc biệt lắm nha, nghe đang cũng rất là tuyệt vời. Huynh nào thì kệ, mấy ngày nghe không có khiêm tốn, vờ như mình thì nghe như vậy.

Nếu mà sư cho phép thì để sư nói theo cái nghĩa của đại như thế này. Vị tỳ kheo thiện xảo về nghĩa, vị tỳ kheo thiện xảo về pháp, thiện xảo về văn cú, thiện xảo về địa phương ngữ, thiện xảo về liên hệ trước sau. Thành tựu được năm cái điều kiện này thì vị tỳ kheo ấy là hiểu biết chánh pháp một cách mau chóng, và thọ trì pháp một cách bền lâu, không có quên những thứ mình đã học.

Dĩ nhiên là tôi vừa đọc cho bà con nghe cái dịch tiếng Việt của ngài Hòa thượng Minh Châu, nhưng mà bây giờ mình nói nhiều cho bản Pali một tí. Ở đây tỳ kheo thiện xảo về nghĩa, chúng tôi gọi là ngôi sao chỉ. Số xảo về pháp là tạm của xem. Độ thứ ba là thiện xảo về ngôn từ, về ngôn từ. Hẹn ngôn tự lập doanh em về cái này nó có nghĩa là về ngôn ngữ học. Cậu bé đó chị cũng sao là virus chứ có sao đâu. Đây là địa phương ngữ.

Ở đây có nghĩa là sao? Có nghĩa là cái người xứ nào thì phải rành không có tiếng mẹ đẻ của mình. Nếu mà mình có sử dụng ngoại ngữ thì cũng phải sử dụng cho thành thông nha. Thành thông, bởi vì là mình giỏi bậc khác nhưng mà ngôn ngữ em heo nàng quá.

Cho tôi mở ngoặc nói thêm một chút. Là mình giỏi, mình là người Việt mà mình giỏi tiếng Tây, mà nhớ chừng tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Ý, tiếng Tàu, vẫn cần biết. Mà nó ghi mà mình diễn dịch lại ý nghĩa của một bộ sách, mình diễn dịch như thế nào mà người Việt mình mới gặp tôi bản dịch mình sắp xếp, hội trại đó là không xong. Không xong là vì sao? Là vì một cái lỗi các bạn của người mà dịch sách đó là anh phải hiểu rằng mỗi dân tộc nó có cung cấp đối khác nhau. Khi mà mình diễn dịch lại cho người ta, không thể dùng cái cách nói của dân tộc ấy.

Tôi ví dụ như Việt Nam mình có những cái chữ như mèo mả gà đồng, trên mọc trong dâu. Những chữ này mà muốn cho thằng Tây nó hiểu, tôi muốn cho thằng Đức hiểu, thì đừng nói tìm một cái thành ngữ tương đương trong ngôn ngữ của họ, tiếp tục không hiểu gì. Không ta? Alo? À cho Tây nó với chữ trên bộ trong dâu, là mình phải đi tìm ở trong cái ngôn ngữ đó một cái thành ngữ tương đương. Chém thế nào mình đi được dịch trên bọc trong dâu? Là bà cố luôn hiểu trên một trong vô là cái gì nữa. Cho nên tìm hiểu trên một, con mèo mả gà đồng là cái gì chứ? Bây giờ mày chơi con mèo ngoài nghĩa trang, con gà ngoài ruộng, thì làm sao thằng Tây nó hiểu mèo mả gà đồng là cái gì? Xác đi, đúng không? Ngoài ruộng thằng Tây nó hiểu mình nói cái gì? Cho nên mấy cái ngôn ngữ hết là quan trọng nha, không quan trọng lắm đang đậu rồi.

Cho nên ngài hai ngày nói là muốn người yếu được chánh pháp, muốn ghi nhớ thọ trì pháp tiền hoài cái ruột, cái nội dung, cái tinh thần, cái ý nghĩa của vấn đề giáo lý, với anh còn phải kể là có một cái trình độ nhất định về ngôn ngữ đó.

Thế này nhà tâm chú giả bây giờ thích cái này. Ở Aptech u Zalo có nghĩa là gì? Có nghĩa là vị này phải biết qua các chú giải, đáp phải cập hàng ngày để ai viết nhanh. Viết giùm nghĩa ở đây ám chỉ cách tắt cập hàng nhớ, nhà nhớ để, tức là sẽ giải cái là trái

cập hàng ngày để ai viết nhanh viết giùm. Nghĩa ở đây ám chỉ cách tắt cập hàng, nhớ nhà nhớ để, tức là sẽ giải cái là trái mà chúng tôi đang nhựa mà nó đi giải. Nhưng mà con nghe đó là sẽ dạy Nga, sẽ thành tài rồi.

Cái thứ hai nữa đó là chuyện sở Việt Pháp, thì cái chữ thăm đây làm chỉ cho tam tạng. Anh ở đây là ám chỉ tránh toàn, tránh toàn. Anh đêm qua đơn giản Nga tráng tàn máy đánh bài. Em gái chính toàn thiện sở về văn cúng.

Đây là cái nghĩa là gì? Có nghĩa là về văn, văn thảm hại phân xác. Bởi vì các vị thấy coi như là ngôn ngữ nào, thí dụ như mình thấy tiếng Tàu đi, tiếng Tàu cái khái niệm về việc chăm ma trong Vũng Tàu nó không giống như là trong ngôn ngữ Âu Mỹ. Việc tình yêu Vũng Tàu nữa không karaoke, nó không HTC là một. Và cái cấu trúc, cách trật tự các từ loại trong chuyến tàu nó không có giống như là tất cả ngôn ngữ Âu Mỹ.

Gia đình cái khái niệm được rơm ma trong những thứ tiếng thiện kia có thể khác nhau, nhưng mà cái quan trọng ở đây đó là dâu mình sử dụng, nói nghe đọc tiếng ngôn ngữ nào thì mình cũng phải nắm chắc được cái văn trọng của ngôn ngữ đó. Mặc dù giữa nhưng ông không giống nhau, nhưng phải có nóng là cái chắc.

Đây là lý do vì đâu mà ở trụ sở Liên Hợp Quốc người ta chỉ sử dụng của năm thứ ngôn ngữ lớn. Thì tại sao ví dụ năm ngôn ngữ đó là bởi vì Anh, Pháp, Đức, rồi Anh, Pháp, Đức, Nga, Tây Ban Nha. Là vì những ngôn ngữ định này, nên thứ nhất đó là ngôn ngữ của những nền kinh tế lớn, những nền công nghệ lớn mạnh. Đồng thời đó là cái ngôn ngữ hoặc là nó được sử dụng đặc biệt với văn phòng, nó chặt dự án không gây hiểu lầm trên những cái văn bản quan trọng của Liên Hợp Quốc. Phải được ký kết thành ngã năm kiến tiếng rồi mà, nhưng như vậy đó.

Rồi cái tiếp theo là cái là các địa phương nữ. Đây là nếu có nghĩa là viết càng nhiều nhẹ ngôn ngữ thì càng tốt. Mẹ vì sao? Vì chúng ta biết rồi, biết thêm được một ngoại ngữ là coi như nó lạ chúng ta, là có thêm một thế giới suy tư, có thêm một cái cách suy nghĩ. Và để nổi tiếng không riêng, nên nhớ không có riêng gì là về, không có riêng về ngoại ngữ, mà nó còn nghĩa chẳng tiếng mẹ đẻ của mình nữa.

Kích thước nhảy lên cái cái tiền sản và văn cú là giỏi về văn phạm. Còn nếu nước tí là cái cách, cách những cách diễn đạt trong truyền thống, là hiểu về cách diễn đạt hiện đại. Trên tụ có nhiều cái vấn đề lẽ ra thì người ta chỉ cần nghe qua là phải hiểu rằng mình nói cả trong dòng người, dòng kết nối, và nó mù mà nó không có trơn tuột.

Ăn uống có vô cái vị nước, mà cơ thể mình một ngày nó cần đến bao nhiêu cái sinh tốt, cần đến bao nhiêu cái trách nhiệm tốt amin mình cần bao nhiêu. Và những lúc đó có được từ cái gì? Từ những thứ thực phẩm chay mặn, cá thịt tôm cua rau cải. Tuy nhiên, tự nhiên cơ thể nào cũng cần có những chữ có, và những gì chúng nó nó cũng nằm trong các chứng cái thứ nguyên liệu nấu nướng.

Nhưng mà vấn đề nằm ở chỗ là nào nấu uống nước chưa có dọn ra là mình mình nghe hay, à xin lỗi dành cho mình đang nói rồi. Nhưng những cái người mà nó dọn lên, mình nhìn cái mâm mình là nó chuyên làm sao? Anh biết mày dưới thì khác, ở trên thì sống, vậy nhỉ? Có chịu nổi không? Hoặc nấu cơm, mày nấu kiểu cơm nhà lầu là khét sống, là coi như là ngày thì cũng chết.

Cho nên nó này, cái ngôn từ nó rất là quan trọng. Và tiếp theo nữa đó là, tiếp theo nữa nó đi nghệ trước sau, thì em đi chợ bóp tao nó vất vả là trước em còn đây. Là sao? Ở đây của năm cái ý nghĩa mà này. Mỹ thì nói con cái không.

Đi chợ búa nó vất vả. Đây là năm cái ý nghĩa mà này. Mình bây giờ có nghĩa là các vị có đồng ý với tôi là mọi sự ở đời nó cái gì cũng sẽ có cái trật tự nhất định. Cái cây cao nhất, cái phần cao nhất là cái ngọn, cái phần thấp nhất là cái rễ. Cây cỏ cũng vậy, nó có ngọn cỏ và có gốc rễ. Xin lỗi, bây giờ mình ăn cũng có cái trước cái sau. Mình ăn cái gì cũng phải có cái trước cái sau, cái nào trước cái nào sau.

Thế giới luôn luôn vận hành theo cái trật tự, mà quý vị bây giờ mình đảo lộn trật tự thì còn cái gì là trật tự nữa. Cái việc, sự kiện gì cũng phải có trật tự. Tu hành phải biết cái gì trước cái gì sau. Làm việc cũng phải biết cái gì trước cái gì sau. Ăn uống tắm rửa cũng phải biết cái gì trước cái gì sau. Chính vì vậy mà khi mình lên trình bày với thiên hạ cũng phải biết cái gì trước cái gì sau.

Cho nên một vị tỳ kheo mà muốn được gọi là nghe nhiều, được nghe cái ý nghĩa của Giáo Pháp và có thể ghi nhớ lâu bền thì phải nhớ năm điều này.

Thứ nhất, vị đó phải biết thế nào là chú giải. Chứ còn chánh tạng mà không có chú giải thì quý vị có cắn lưỡi cũng không cách nào hiểu nổi. Tôi thưa thiệt với bà con, nếu không có cái chú giải thì các vị có cho uống hai lít mật gấu cũng không nghe giảng kinh tạng nổi đâu. Tôi nói thiệt luôn, không có biết gì về kỳ đàm, không đọc được chú giải, thì xin lạy các bố, đừng có đụng đến kinh tạng. Một là các bố dễ bị lên máu chết, hai là có bố giảng tầm bậy các bố hại người ta thôi.

Cho nên muốn giảng kinh tạng mà không biết kỳ đàm, muốn giảng kinh tạng mà không có thể đọc hiểu được chú giải thì lại mình hại người ta.

Cái thứ hai, cái từ đó là cái văn phạm của ngôn ngữ mình sử dụng cần nắm chắc, nắm chắc để không gây hiểu lầm.

Cái thứ ba, đó là cái cách thức diễn đạt, diễn tả làm sao mà có thể hiệu quả hơn, súc tích, cô đọng, không để rơi rớt những điều mà cần truyền cho người ta.

Cái cuối cùng có nghĩa là biết được cái gì trước cái gì sau. Cái gì trọng tâm, có thể mà mình nắm vững được cái vấn đề. Với năm cái tiêu chuẩn này thì là dễ hiểu mà lại dễ nhớ. Còn cái thứ mà nói lộn tùng phèo hết thì rất là khó.

Khi mà ngài Ānanda trả lời ngài Sāriputta, vất vả lắm, ngài Sāriputta thật về vi diệu cần phải hiểu, và tôi cũng tin rằng hiền giả Ānanda cũng thành tựu được năm cái này, đó là cái chắc rồi.

Sẵn đây tôi mở ngoặc nói thêm là tại sao tôi nói chuyện kiết tập tam tạng mà các vị chỉ kiết tập lại có cái tam tạng mà không có dùng riêng cái chú giải. Chú giải rất là quan trọng mà tại sao khi kiết tập chỉ kết tập tam tạng. Ít nhất là ba lý do.

Thứ nhất, lời Phật chỉ có một, lời Phật chỉ có một. Đức Phật tức là vào thời điểm đó, vào cái thời điểm đó thì được chia trong quá khứ có vô lượng Phật, trong vị lai cũng vô lượng Phật. Nhưng mà bây giờ nói thiệt ngay trước mắt chỉ có một vị Phật Thích Ca Mâu Ni trong cái vũ trụ này. Trong cái Trung Hoa mình nói, mình nói nghe đâu có đủ, nhưng mà ở đây chỉ có một đức Phật. Cho nên lời Phật chỉ có một, nhưng mà cái chú giải thì có rất là nhiều. Không phải các vị A-la-hán môn đệ, không phải, nhưng mà mỗi vị tùy cái sở trường của mình mà đào sâu, tán rộng ra theo

Không phải các vị A-la-hán môn tử đâu, không phải. Nhưng mà mỗi vị tùy cái sở trường của mình mà đào sâu, tán rộng ra theo cái sở trường của mình. Nội dung lý tưởng chính không khác, nhưng mà cái cách triển khai rộng thì bởi vị trí khác. Cho nên cũng một bài kinh Phạm Võng mà đệ tử của ngài Xá-lợi-phất được nghe ngài Xá-lợi-phất giảng thì lập tức giải thích theo một hướng, hướng thì giống ra đó, nhưng mà theo một cái kết nối rất là chuyên biệt theo kiểu nhà mình. Còn các đệ tử của ngài Ca-diếp, của ngài Mục-kiền-liên, thì nhà ngài giải thích theo cái hướng rất là riêng.

Như vậy thì hơi bị, không nghe nói sai hết, nhưng có một điều là cái tập, tập kiểu gì đây, kết tập kiểu gì đây? Tôi sẽ làm một bài kinh Phạm Võng mà có tám chục cái vị giải thích, các vị tưởng tượng rồi, có phải mệt mỏi quá không? Vì cái chánh tạng của Đức Phật chỉ có một, như vầy tôi nghe một lời. Tôn giả Xá-lợi-phất lúc mới đi dọc theo con đường, đã thấy người thợ săn mới thấy con vì sao thế cô nói. Đại khái không được đẹp lắm lắm lắm lắm. Đáng lẽ chỉ có một cái thôi, nhưng mà bây giờ nếu nó chua dậy ra tám chục, 800, 8000, mỗi vị một cái, thì đều là do lan hết, không thể nào được. Đó là cái thứ nhất.

Cái thứ hai, các vị La-hán không muốn tạo ra tiền lệ, tiền lệ là bây giờ trong kỳ kết tập một là diễn trùng thuật, trùng tuyên lại lời của Thế Tôn mà thôi, để đời sau nếu mà có kết tập tiếp thì cũng chỉ trùng tuyên trùng thuật trở lại lời của các ngài. Còn những ai có lòng nghiên cứu Phật pháp thì sẽ đi tìm hiểu thêm. Chứ còn mà đời này kết tập mà có thêm với chú giải, lúc đầu thì chú giải các vị La-hán, rồi mấy thế hệ sau, lúc trước tập mà còn thêm chú giải của mấy vị, mấy vị có thể là mấy đời sau, nó là phải chuối rồi, mà phải lấy luôn cái lời của sư phụ. Có hợp những vị nó giống giống nhau là được. Và cuối cùng thì e là hỏng nhé, khẳng định nó là ngủ không biết xử vụ của họ, nên là không ra gì nữa, miễn là có trình độ có tiếng tăm là cũng nhét vô luôn. Thì cái miệng tưởng tượng Phật pháp bây giờ có diện nào ra làm sao? Cho nên các ngài lại muốn tránh cái tiền lệ, ngoài tránh tà ra còn có tên cái khác rất là phiền. Cho nên các ngài chỉ kết tập chánh tạng thôi, còn các hình chiếu giải quyết các vụ án thì không nghe.

Cho nên cái thứ nhất là trái nghĩa sát thật thằng luôn, chỉ có một. Thứ hai, các ngài không muốn tạo ra cái tiền lệ. Và cái thứ ba, cái này mới mệt, cái này nếu mà nói chậm lại còn nghe không, rồi xong luôn. Cái thứ ba nó mới mệt này, làm cái này tôi rất muốn viết ra, phải tìm được tôi, tôi đang giải mình cái cái cái cái cái, sao nói cho nó biết không được mà tôi không biết. Ngay tiết kiệm, cái lý do thứ ba này, không ai mà thuyết giảng chánh pháp hay hơn Đức Phật. Nói thiệt, chính xác. Mấy không, mấy nói hơn Đức Phật à? Ngài nói ngôn từ chặt chẽ, không thiếu không dư, cho nên không thể thêm bớt. Người hữu duyên, vì người hữu duyên nghe lời Phật chỉ cần hiểu đúng. Bắt buộc. Cái đứa vô duyên thiếu nước thiểu trí, hết chanh em yêu nhé, đứa chúng mã khô giống chuối, nghe lời Phật khói công nghiệp thì coi như vàng coi như không nghe. Còn người hữu duyên làm họ hiểu nhi lời Phật tuyệt đắc. Chứ còn bây giờ mà gọi là quay chứ phần chất bảng giá, cái khả năng lọc ngôn lập ngôn là cái khả năng mà Phật giáo là có khả năng mà đưa ra một cái vấn đề gì đó thì

giảng giá. Cái khả năng lọc ngôn, lập ngôn là cái khả năng mà Phật giáo, cô có khả năng đưa ra một cái vấn đề gì đó, thì ngoài Đức Phật ra, chỉ có vị đệ nhất trên chư tăng là Ngài Xá Lợi Phất là không thể bì với Đức Phật. Còn nói duy chỉ là những vị khác.

Cho nên cái con đường giải thoát tốt nhất là nên thu về một mối, đó là lời Phật tôi nói luôn đó. Là chẳng hạn như Kinh Tứ Niệm Xứ. Bây giờ có bao nhiêu thiền sư, có bao nhiêu sắp thiền, có bao nhiêu kinh nghiệm ghê gớm thế nào đi nữa, thì 2.563 năm lịch sử vượt qua của Phật giáo, trước sau các thế hệ môn đồ chỉ dựa vào Kinh Tứ Niệm Xứ của Trường Bộ và Trung Bộ. Còn ngoài ra tôi muốn đào sâu cách lộng gì đi nữa thì cũng vậy, nhớ đó là của đời sau.

Nhưng mà căn bản tất cả các thế hệ, như là Ngài Lê Đi hay là Min Gun, hoặc là Vinh Thái, rất là chân quen của người vẽ tranh sa mạc, tranh nếp, tranh quán, Ta Minh, Goenka, Mahasi, lập lập lập tất thảy, muốn dạy cái gì đi nữa thì vẫn đều dựa vào những cái căn bản sau đây.

Một là Kinh Tứ Niệm Xứ của Trường Bộ và Trung Bộ. Hai là phải dựa vào A Tỳ Đàm. Ba là dựa vào các bộ Thanh Tịnh Đạo. Bốn là dựa vào ba đầu nguồn này. Rồi muốn đào sâu cách lộng thì làm cái việc có biết.

Chừng rồi chúng tôi đi qua Thái, tôi mới gặp được có thể là bụng biển lên là trời. La la la la la, căn bản về quán của Ngài Nacy quyền, mở ra các vị tưởng thấy hết hồn cơm. Ở đây tôi thấy đúng điều kiện vô phước, làm người Việt mình làm sao có cơ hội được tiếp cận những cái tài liệu mình lên bậc một, cấp một, đắp mộ cuộc chiến này cao cấp bậc nhất, trong đó là coi như là Ngài cứ nói được có về vài hàng của nghề làng nghề, chứ quý một đoạn Pali dày thẩm thước của bộ này của bộ kia.

Cho nên có ba, tổng cộng là ba lý do tại sao không có tạng chú giải là vậy đó. Có nghĩa là lời Phật chỉ có một, nhưng mà tới lời xuống giải thì có thể vào tới là mua nhà nức vạn lật. Cho nên nó là làm đơn giản nhất, là tất cả quay về làm giang sơn thu về một mối. Còn ngoài ra thì để tùy duyên mẹ bà con, ai có nhu cầu thì tự đào giới kiếm tìm nghiên cứu học hỏi.

Để rồi bây giờ, để tôi ôn lại năm điều, dựa vào năm điều này thì một người không phải là thiền sư, không phải là Viettel, không riêng gì cho em, mà làm một người bây giờ cuối sạc đi, một người có được năm cái điều kiện, một người có thể dễ dàng hiểu được chánh pháp và có thể ghi với chánh pháp cách dễ dàng.

Một là có biết về chú giải. Hai là tránh bạn. Ba là nắm vững hơn gì cái. Bốn là người ôm gọn đi, biết rõ về văn phạm, biết rõ về cái cách, về ngôn từ, để tân phạm lại cách đặt câu, mà cái lutein là cái cách nói năng phát biểu, viết lách và các thứ. Năm là biết rõ trật tự cái gì trước cái gì sau.

Trong đây có nói rõ, ví dụ như là giới là trước, xi măng ở đường, K3 với thì trước định sau. Mà thế nào là trước, thế nào là sau, chứ không phải hiểu trước sau theo cái kiểu mà trật tự 1, 2, 3, 4, mà trước đây là sai, là thế nào mà sao xe tải xo có tác là trước, mà tại sao cái đó đang nằm chứ sao, tại sao nó biết cái này.

Rồi thì thành tựu được năm cái này, có được năm cái điều kiện này thì một người dễ dàng hiểu được Phật pháp và có thể ghi nhớ chánh pháp, cái tăng gấp tâm mua sắm chị, không quên được cái điều mình đã nhau.

Bằng cái này thấy vậy, mấy bạn nó khổ, cho bà con tự làm một mình nó thì nó làm biếng, mà nó có uống hiểu. Nhưng mình nếu mà có người mà đọc chung, mà đọc chú giải dùm cho mình, thì nó đỡ khổ biết.

Nó làm biếng mà nó có uống hiểu. Nhưng mình nếu mà có người đọc chung, mà đọc Chú giải dùm cho mình, thì nó đỡ khổ biết là bao nhiêu.

Tôi thiết tha mong mỏi hai điều. Một là đừng có bệnh, đừng có bị cái gì hết, để tiếp tục còn được chia sẻ Phật pháp. Thứ hai là có được chút xíu tích hợp, lâu lâu mới gặp bà con bao tháng. Bà con bên Mỹ qua châu Âu, qua Việt Nam, qua chỗ nào đó, chỗ mà mình 2-3 tháng trời, đất có muốn ăn gì, mỗi ngày thứ ba hai tiếng cho người ta nói chuyện.

Ví dụ như bữa nay từ nói về các bài kinh, tất cả những bài kinh nào mà tôi chọn để nói là đều liên hệ đến công phu mà bà con đang ra sức. Chứ bây giờ mình giảng những bộ kinh nào nói về nhân nghĩa lễ, gia đình xã hội, vợ chồng con cái, vua chúa quần thần, giống nhìn cũng dán. Lúc đó mình sẽ lựa ra những đề tài nào nó thiết thân, gần gũi, cần biết. Thì mình sẽ cùng nhau nói.

Tôi mong mỏi vô cùng. Có một ngày được, mỗi năm được gặp bà con. Giao trai nó nấu buffet tới giờ là không có phân biệt lớn bé, tăng tục, thầy trò gì, cứ xếp hàng, ai tới trước đứng trước, ai xuống sau đứng sau. Như bên Mỹ vậy đó. Học thì ai cũng người thấy không, chào good morning tùm lum hết. Tới hồi mà vô mà ăn buffet mình chả đi, toilet cũng vậy, nghĩa là trẻ cho nó chốt đùa với tao, nhưng mà phải chịu thích như vậy.

Ăn xong rồi mình đang nghe xong rồi về súc miệng đánh răng vệ sinh cá nhân, khoảng nửa tiếng vào ra, có một pháp thoại hai tiếng. Cho bà con gọi là dân tộc tự do, đi đứng kinh thành thoải mái. Có một ngày mà chúng ta sẽ ngồi lại với nhau, làm việc tinh vi kinh, thay vì dịch.

Tôi thương bà con tôi, tôi hết pin rồi, tôi hết pin, tôi không muốn làm gì đó nữa. Bởi vì sau này cho tôi nói câu hai phàm nữa không, không cho phép, cho nó khô xàm. Ép quá chắc tôi chết, cho tôi nói bữa đi, nói cho nó hết, nó hết tức. Đó là dịch trên nẻ, soạn cho đã, nó đem nó cắt khúc, nó cục pin nó xào, mệt quá, không có làm cái trò đó nữa.

Không làm nữa. Bây giờ nếu là người ủng hộ, tôi sẽ đem từng bộ kinh nói chuyện. Và nếu cần, tôi cũng đề nghị dẹp tất cả máy, biết cái máy kho đi, tất cả những cái máy thu âm ghi hình dẹp hết, chỉ có quý vị và chúng tôi. Nghe xong rồi là tay này qua tay kia xong.

Bây giờ tôi quá mệt mỏi. Thời gian gần đây tôi gặp các vị có ý nghĩa tiểu tâm nhỏ mọn, đàn bà, nhưng mà nó phiền chỗ này: họ lấy của mình, họ sờ tới xào lui, rồi thiên hạ nhìn vào nào biết cái đó của mình mà bạn, thấy nó kỳ kỳ là mình phải chịu trách nhiệm. Ví dụ như vậy, nhìn cái bánh xèo nào biết cái của bà Lê Thị Hương đã đổ, nhưng mà nói xui còn chỗ cái đứa nó cọp pi công thức bạn, nó đổ nó hơi khác chút xíu, thì bạn sẽ được ta sẽ đè cái bà Lê Hương Nguyễn Văn Tạo rồi chửi. Khổ như vậy. Khen mà phải, họ lưỡi mà chê chửi thì mình dám.

Cho nên bây giờ tôi quá mệt mỏi. Việt Nam không có cái win, Việt Nam không có cái thứ văn minh người anh là tâm thất nhảy. Cho nên tôi mong có một ngày tôi thấy ngồi tay nói chuyện với bà con về hai cái bộ Chu, lên đến sáng mai đến thị sát một bộ, máy mình bốc thăm bán.

Tôi thấy ngồi đây tiện nói chuyện với bà con về hai cái buổi chiều luôn đến sáng mai. Đến khi mà mình bốc thăm để biết lên cái xe nào, là chuyến nào của chương trình nào, và một buổi chiều hấp thu không phải sáng đi về. Chuyến đi của các vị phải tính toán vô cùng kỹ là làm sao biết đường đi.

Tôi nói chuyện thật là không thu âm, công khai làm gì hết. Thiết tha mong muốn của tôi cái ngày đó, mong là chư thiên cho bên được cái cơ hội để làm chuyện đó trong vòng ba năm trước khi mà tôi 55 tuổi.

Ngày trước tôi có cái mộng đó là tôi thọ ký với chính tôi năm 29 tuổi giống Bồ Tát xuất gia, nhưng mà số đưa đẩy tới năm 30. Từng có lúc tôi muốn tôi làm tính năm 45 tuổi tôi sẽ không còn liên hệ tới Phật học nữa, để giống số 45 của đức Phật. Nhưng bây giờ tình hình bây giờ mình tới giờ lên 50, giờ vẫn ý nghĩ 55 tuổi, có nghĩa là cái năm mà đức Thế Tôn chính thức có thị giả.

Cái vị nhớ trong đời đức Phật có những cái dấu mốc: 7 tuổi đắc sơ thiền, 16 tuổi lấy vợ, 29 tuổi có con và bỏ ngôi xuất gia, 35 tuổi thành Phật, 42 tuổi viết bạn diệu pháp. Rồi để cô tâm, 5 cộng 12 lại bao nhiêu, 35 cộng 12, 47, 54. 47 tuổi thì ngài có thị giả, có thị giả rồi 54 và 55 tuổi ngài chính thức có thị giả. Thị giả ngài Ānanda đó cho đến năm 80 tuổi đức Phật tịch diệt Niết bàn.

Thôi, tôi thọ ký với chính tôi ngày 5, suốt ra một năm là ngày hai chín ba mươi rồi. Bây giờ từ ngày 55 tuổi tôi có thị giả, tôi không giống thị giả, dù đã 55 tuổi tôi cũng lấy cái gió, cái tôi không có liên hệ tới thuyết pháp nữa, buông hết. Là tôi mong rằng có ít nhất là 2 hoặc là ba năm nữa làm cái chuyện đó.

Rất là mong, và bây giờ mình học qua cái kinh 170, kinh Phát Tài Trí. Tôi xin là con cho nên nói chuyện chút xíu, tức là 68, tức là trước cái thời đức Thích Ca Mâu Ni ra đời đó, cái vị Phật Di Lặc và đức Ca Diếp. Đức Ca Diếp Niết bàn rồi thì giáo pháp của ngài tồn tại thêm ít lâu, thấy nó cũng tồn tại cũng 20 ngàn năm, cái này gấp 4 lần đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Đến khi giáo pháp của ngài hết rồi đó, chỉ có lúc đó vị độc giác người ra đời. Chỉ có độc giác. Bởi vì sao? Bởi vì kinh nói nó định nghĩa độc giác chỉ ra đời trong cái thời điểm mà không có Chánh Đẳng Giác đã đành, mà cũng không có giáo pháp của Chánh Đẳng Giác.

Là vì sao? Là bởi vì các ngài là những vị tự ngộ, mà tự mình tìm ra đường giải thoát. Trong kinh nói rất rõ, pháp môn Tứ Niệm Xứ nói riêng và cái con đường Bát Chánh Đạo nói chung, nó rất rõ. Giờ tôi nói trong tạng kinh rất rõ. Pháp môn Tứ Niệm Xứ nói riêng và cái con đường Bát Chánh Đạo nói chung, nếu không có thầy dạy mà tự mình tu tìm á, thì tối thiểu mình phải mất hai A tăng kỳ và 100.000 đại kiếp.

Ngay cả tôn giả Xá Lợi Phất đệ nhất trí tuệ, mà thì quá khứ hiện tại vị lai vị Phật nào cũng đều có một đệ tử đệ nhất trí tuệ. Tuy nhiên cái vị đệ nhất trí tuệ ấy chỉ phải tu một A tăng kỳ và 100.000 đại kiếp.

Các vị hỏi tôi đại kiếp là cái gì? Đại kiếp ở đây là kiểu trái đất đến với việc nhà tinh tức là từ lúc nó thành tựu, tới hình thành tới lúc nó mất đi. Tôi trả lời vậy chứ. Có 4 giai đoạn thành trụ hoại không, đó gọi là 350.000 là nước mới giảng hiểu thế nữa.

Để tôi chỉ vì lòng từ bi chỉ ôn lại phân tích là đại kiếp, mà muốn trở thành một vị độc giác phải tu thì mình phải tu một A tăng kỳ và 100.000 đại kiếp trái đất như

đại kiếp mà muốn trở thành một vị Phật thì mình phải tu một A-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp trái đất. Như vậy có nghĩa là một trăm ngàn năm là số lẻ, còn cái một A-tăng-kỳ là số chẵn. A-tăng-kỳ là bao nhiêu? Đó là mười lũy thừa 140, có ý nghĩa là nó lớn hơn con số tỉ không biết là bao nhiêu lần. Con số tỉ chỉ có 9 zero, nhưng mà A-tăng-kỳ nó tới 140 zero.

Muốn trở thành một vị Phật như ngài Xá-lợi-phất, thì phải tu một A-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp. Tuy nhiên, chừng đó thời gian vẫn chưa đủ để một người có thể tìm ra, phát hiện ra con đường kiến tánh, mà phải gấp đôi thời gian ấy. Có nghĩa là phải hai A-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp thì mới có đủ trí lực, mới đủ năng lực mà tìm ra các pháp môn Tứ Niệm Xứ nói riêng và Bát Chánh Đạo nói chung để mà thành tựu Niết-bàn.

Cái này là kinh nói nha. Thì là lúc đó, là khi mà chưa có Đức Phật, có một số vị Độc Giác ra đời. Ngay khi đó có hai cha con làm cái nghề, nghe nói thì hơi đột ngột là họ đi đốn gỗ, họ là người đốn gỗ, gọi nôm na là thợ đốn gỗ. Chắc là vô rừng mình coi cái cây nào mà tốt đó, mình cưa rồi mình đem về mình bán, hoặc là của ai đó chọn lựa được cây tốt rồi thuê mình vô cưa, cắt rồi đem về. Trong hạn từ đó có thể gọi là thợ xẻ gỗ.

Thì có hai cha con làm cái nghề xẻ gỗ trong rừng, họ gặp các vị Độc Giác đang ở trong rừng, cho nên họ đã làm cốc, làm liêu, dâng giường cho ngài. Và sau khi chết rồi, nhờ cái công đức ấy, hai cha con được sanh về trời hết, sanh về trời hết. Thì trong hai vị đó, có một người con sanh về trời xong nó đừng nói, trở xuống cõi người làm chuyển luân vương, sống hết tuổi thọ rồi lại trở về trời.

Thì cái người con đó trong thời gian vận chuyển luân vương sống trong một lâu đài bằng vàng. Với cái vị này mà chết rồi để về trời đó, thì cái lâu đài bằng vàng ấy thay vì nó biến mất như bao nhiêu vị chuyển luân vương khác, thì do một cái sự ở ngay từ trong các mối quan hệ cha con, cho nên cái lâu đài của người con, sau khi người con mất đi, lâu đài nó không có mất, mà nó chuyển hẳn lên một cái tầng tột đỉnh.

Thì người con đó về trời một thời gian, đến khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời, vị người con ấy từ cõi trời mới sanh xuống làm một cậu thanh niên tên mà pháp là Cấp Cô Độc. Bây giờ nghĩ trở lại cái vòng mà nó biến vị Sơn-kê để chứng là bây giờ mới quay đó là làm Sa-di Tri-nhớ nha.

Rồi còn cái người cha đó thì là đang ở trên cõi trời. Đó là về sau này, khi mà Đức Phật Di Lặc ra đời, tiền thân người cha trở thành nên là một vị chuyển luân vương tên là Sankha. Sankha có nghĩa là vỏ ốc, vỏ ốc từ trong gương mặt đi vỏ ốc, từ hôm nay á lá cây kẹp cũng có nghĩa là che. Nghe cái kèn mình hỏi hài cái gì? Lên Sankha. Vị này cũng có đủ 32 tướng tốt, có 32 tướng tốt và vị này đi xuất gia với Đức Phật Di Lặc và trở thành một vị A-la-hán.

Chuyển luân vương Sankha ấy chính là người cha. Còn vị người con, chín mươi ngày phát tài trí, không biết trong đó trong rừng có con có thể ghi nhớ và theo kịp một cách liền mạch.

Hai cha con cúng dường Đức Phật Độc Giác, sau đó cả hai đều về trời. Khi người con thì xuống cõi người làm chuyển luân vương rồi có một cái lâu đài bằng vàng. Từ xa với người con chết, con lại quay về trời, thì cái lâu đài chuyển lên trong tầng đắc. Rồi đến thời Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời, ngài ấy trở xuống làm Tôn-rạch.

Đời thì tính lâu đài truyền nên trong tâm đắc, rồi đến thời Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời, mang ấy trở xuống nhà làm tôn rạch tài trí. Như chúng ta thấy, em còn đi, người cha thì sau này trở thành Chuyển Luân Vương, tân khá gặp Đức Phật Di Lặc. Và khi ấy thì cứ cái vị ấy tái sử dụng lại cái lâu đài bằng vàng. Là khi vị Chuyển Luân Vương tự nhiên nó lâu đài nó xuất hiện cho người ta sử dụng, và khi người ra đi xuất gia thì lâu đài ấy chứng thức biến mất vĩnh viễn, không còn tồn tại nữa, như là nó chưa từng.

Suy nghĩ nhé, đây là những chi tiết hay. Không thành mà bây giờ không kể mình, tao nói mình thiếu nó khổ vậy không. Nè, nói nhìn người nằm nghe, mẹ nó làm cái nghe không. Nói gì cũng được. Mẹ nói thì nó không thành rồi.

Có một lần đó, khi mà Đức Thế Tôn ở chùa Kỳ Viên, có một thanh niên tên là Tất Cả Trí đến gặp cho tôi nghe pháp. Cứ như là sức ra rồi, sau đó cảnh với tôi về cái cố sứ văn hóa của mình để hoằng pháp. Thì khi mà chỉ nó dài hai lớp, chỉ đứng dài nó không nói nhiều lắm, mà chỉ nó bán cắt cái con về đến cái ngôi làng với những lễ trai tăng. Xong rồi đi ra tới bến sông đó, thì mỗi người chuẩn bị tiền đề để đưa ngài qua sông. Thì lúc đứng trên bến sông này hỏi người ta, sẽ phát đây trí, đứng trên bến sông này người có ấn tượng gì hay không. Thì nhận sau thế chiến nó vẫn theo tôi, có trứng gà, phải xưa con là chuyện Dương Vương, con từng ở đây, con có cái lâu đài bằng vàng, cái gì nó đang nằm với cái đấy.

Xong thì người nói xong rồi, mới dùng thằng, không nói nhiều, kỷ niệm năng lực nghệ, mới lấy cái trán đỉnh của lô đề với nhất lịch. Giống như mình kéo cái lồng chim được, với nước da người đó giống như mình kéo cái lồng chim lên. Nhà tao nói nhẹ gì, chị tôm cua cá rùa nó rớt ra. Thì mày thì cứ cho tôi người làm đây đi, là được rồi, được rồi, đừng làm cho chúng sinh sợ, trả nó về cái cũ.

Thì nghèo có trang trí nhà máy để lâu đặt, một số bài tập nói người, hết thảy các vị lục thông ở đó điều tiết về các lâu đài này. Vì sao sẽ được người cha tái sử dụng. Đó là chuyện ngoài lề của bài kinh.

Bây giờ thì mình cũng lại nội dung để kinh, chỉ có một ngày đó, khi mà ngài nghề ngài anh em đang ở của tấm bi sân bay, là cái chỗ mà nãy không pháp sư với ông luật sư mà gai ngang tin mừng té mẹ rồi. Đức Phật ngài mới bỏ hồi sinh từ ngài, mới gặp Mua tao lên nhá cá. Vì sao trở thành một vị Bích Chi Phật, một trong 10 vị Phật gần mình nhất trong tương lại nhé. Đó là chuyện khác.

Gì mà chỉ nói là qua sơ mi mà thôi, chỉ có một lại mấy người ngày anh em ở chung chung một câu. Chứ cái chữ ra mấy khu chí tài làm ná thuộc chế tạo ra mắt cô Star đó, nên nó có nghĩa là tiếng vang. Là cô Mỹ giờ đây, cô là tiếng vang à, anh vàng. Còn cây rau má, nó tạm này vào nam và lam là sao, có nghĩa là thời Đức Phật hầu hết chùa truyền chỉ là những vườn cây, rời những cái công trình có mái che, có tường, có vách, có nền, đó là phụ. Mà cái chính là rừng cây, để mà chỉ tăng thì nhịn sinh hoạt với lần cây, nó chỉ có mùa mưa lý vào mấy chê con bình thường thì cứ đang sống chỗ không có mái che, như là hang đặn, là gốc cây làm vậy thôi chứ không có mái che Vũng Tàu nha.

Đây là lý do vì đâu mà đa phần các chùa trong thời Đức Phật nhiều được gọi là già lam, tại ông này già lam. Nhớ nha. Chứ mình thấy cái chữ u, chắc ông này nói chuyện với ông này nó giao hàng cho nó thâm thẫm nghe, nhưng mà thôi tôi.

nha. Chứ mình thấy cái chữ u, ừ, chắc ông này nói chuyện với ông này nó giao hàng cho nó thâm thẫm nghe. Nhưng mà thôi, tôi chỉ nói vậy thôi nha.

Em tìm về phía mình ở chùa này, thì ngài đến cái vị chứ được con mà hồi nãy làm Diễn Vương đó, bây giờ đến thăm. Ngài đến thăm, về chỉ nhanh nhẹn, anh về ngày hôm nay ngày mấy, hỏi người ta chiếc thế này: ra khỏi vị trí trên đời này đây, cái gì đáng thấy nhất, cái gì đáng nghe nhất, cái hạnh phúc nào là số một, cái kiến thức gì là số một, đời sống như thế nào là số một.

Tôi nhắc lại, tôi đang dùng bản dịch của tôi, dựa trên bản dịch của tôi đi. Tôi kính thương vô cùng Hòa thượng Minh Châu, nhưng mà trong chỗ này thì tôi lại dùng bản dịch của tôi nha. Bây giờ chúng tôi vì thằng Tân nó lý cho dịch lại nha.

Ngài đang hỏi, cái gì trên đời đáng thấy nhất, đáng được nghe, cái hạnh phúc nào là số một, kiến thức nào là số một, cuộc sống như thế nào là số một, cái hiện hữu nào là số một, tồn tại như thế nào là số một.

Phật trí, ngài mới nói rằng, nó nằm trong tam giới này, cái đám mà dục giới vì nó chụp với thì cái đứa mà tỏa nó bốn đường gọi khỏi nói. Còn mà nhưng Thiên giới với nó ăn là ngon hưởng dục trai gái ăn nhậu không, cho nên nó cũng đang kẹt trong cái tam giới này. Đáng kể nhất chính là những vị chứng gì mà lại sống trên cõi thiền nha. Đó chính là chư thiên mà còn chưa có gì số một nha, mà chứng thiền mà lại sống được cõi thiền đó là số một.

Ngài nói có lý, phải sọc. Tôi nhắc lại, cõi dục là cái chỗ mà sân si tranh đua, tỷ Hiền đấu tranh, mà em của ngày giỗ đám cưới, là những vị tắc khi người đã cãi kính mà lại sắp tôi cửu thì có cái gì bằng.

Đáng thấy nhất chính là thấy thực phẩm. Đi vài cái mà đáng nghe nhất chính là âm thanh của Phạm âm. Phật ngôn đó chính là cũng nói âm thanh của Phạm thiên. Nhắm mắt sáng hay dữ lắm. Ở trong thế giới loài người đó, là chỉ có Thế Tôn, Chánh Đẳng Giác có được cái giọng nói như là Phạm Duy, chỉ có chim ca lăng tần già, chỉ có chim cánh bằng ra, để có được giọng nói giống như vậy.

Em, kinh đối với con chim trong khi Malaysia, Hi mã lạp sơn, tiếng hay đến mức mà kia nó hót lên rồi đó nha, là thú lớn con thú dữ nó đang rượt uống nhỏ nên ăn, khi nó đang rượt mà nó nghe cái tiếng hót nữa rồi là nó quên, không ngồi nó đứng nó nhắn rồi đó nó nghe. Mà con rùa nhỏ đang bị rượt nhưng chạy hết sức chạy bắn, tùm anh cứ cái gì chả đi, buồn nhiều cái gì nước, nhưng mà khi nghe cái tiếng chim hót rồi, con thú nhỏ không thèm chạy nữa, đứng lại nghe, không sợ chết nữa, nó bị nghe nói như vậy nha.

Ông chú dạy nói là cái duyên ca lăng tần già nó hay cảm thấy như vậy. Có nghĩa là thú lớn mà đi rượt thú nhỏ, chim lắng nghe tiếng hát con chim, chị nó không có muốn ăn, muốn nghĩ tới việc tìm mồi nữa, mà nó muốn đứng lại nó nghe. Thú nhỏ bị rượt mà khi nghe tiếng này rồi cũng không còn sợ chết nữa, cũng đứng lại nghe.

Cho nên đời vua A Dục cô có, và hoàng hậu tên là Thăm Me, bữa đó cần có đã đi rừng đã bắt được một con chim ca lăng tần già đem về tới cúng. Nhưng mà hiếm vậy, bạn đừng nói như vậy. Cuộc đời người trăm năm gặp được cái chim này là đã quý rồi, chứ đừng nói mà thấy nó, mày nghe nó còn là hãn hữu thiên thu nha. Mà đằng này là chúng thần là rước được một con về để gọi là vi thị Lê hoàng hậu thì mừng lắm, mà nói giống như bao tử vào da ủ dột, không hát một lời gì đâu, không một lời cay đắng. Nó bảo mấy triệu với thằng cha tại sao, nhưng mà hỏi nãy giờ bây giờ sang nuôi nó.

Một lời gì đâu, không một lời cay đắng. Nó bảo mấy triệu với thằng cha, tại sao nhưng mà hỏi nãy gần bây giờ sang nuôi nó tới bữa nay, tôi quỳ lạy nó cũng hết, là sao? Thì nói chắc lên rồi, đúng rồi, quên quên quên quên, nó phải cho nên xài sẽ chính là nhiều, cho nên về chín ăn hết cần sáng mày qua cần giấy khác.

Thì bạn nhậu với chị với đám thợ săn có vô hỏi nó, kia cho nó sắp cái vườn xoài, nó nằm ở là sao? Thì em nó gà, nó mới gặp đồng loại đâu mới hết, thì bế nó trời nó bắt một con là nó le lưỡi, vì làm gì có một con nữa mà đồng loại hết trời. Thì có một ngựa xăng coi như là lão, là nó giờ không khó đâu, cho nó nhìn với con kiến thì nó tưởng tao đồng loại, là nó chơi.

Nghe điện thoại nó làm gì có kính thủy tinh ở lại cho người lao, Vương Đồng tuyển là to thì mà sáng để trước con keramika. Thế là anh chàng nhìn lấy cái bống, cái con khác ở trong tù tùng dương động đất, thế là nó cất tiếng hót, tao rồi tôi nó hót, mà con cả là cái khu Cẩm ông nội của Hoàng Thu được tất thảy luận trang bị, nghe có tên là ai đang đi làm bạn đứng, mẹ đang đứng là đứng đồng đó hay lắm.

Thì lúc đó bà hoàng hậu thăm Martin suy nghĩ thế này: tai nghe rằng thế thôi, có cái âm thanh y chang như là Phạm Thiên, trên đời này chỉ có thế, chỉ có là Phạm Thiên, chỉ có Phạm Thiên mới có âm thanh. Mình làm của anh là chết điếng. Chú em này mà đây là cái loài súc sinh rồi, bàn sâm loài thú loài vật, mà nó cố gắng tháng vi nhiều cái này, nó hóa bằng tâm tham, nó bằng tiền não, mà nó còn anh bình tiên miếng tên gì thì nói chi mà cảm thành của Phạm Thiên.

Là người kiếm tiền và càng nói chi là cam ranh của Thế Tôn, giáo án chấm trắng trên nghĩa bất cứ xem từ vụ thiên nhiên, khi đầu tiên của cái người đánh lìa xa tất cả phiền não, thì âm thanh với cuộc thi cỡ nào nữa. Bài nghĩ đến đó rồi bảo mới nghỉ thêm: hai cách mấy cũng vô ngã vô thường, mà chính của tủ quần áo của con chim hay gì vậy. Cho nên nó đi ngày có thể chí nó thấy được, làm theo là cái cái tánh mới nhất.

Nhé em mày nghe được cái giọng nói đầu tiên là một cái đáng nghe nhất, mà coi như là đời sống ở bên này từ hạnh phúc êm đềm, nghĩ là của Phạm Thiên á, là còn nhiều, là là hạnh phúc lớn nhất. Và có như nó là cái điện tử từ cái cái cái cái cái cái cái cái có thể có vụ coi được kiến thức. Mãi tên thiền là tưởng, nó thiên tưởng là cái của Phạm Thiên, thì cái gì của Phạm Thiên là so sánh gạch có mặt ở trên khỏi bù sắc, được xem là cái hiện hữu cao cấp nhất.

Tôi nhắc lại, thấy được Phạm Thiên, phạm thiên là hình ảnh bán vé nhất, tiếng nói là thứ tán nhanh ạ, hạnh phúc của Phạm Thiên là thứ hạnh phúc đáng kể nhất, cái thấy cây biết của Phạm Thiên là cái biết đáng kể nhất, và được sống trên của Phạm Thiên là sự hiện hữu cao quý nhất.

Thì nhà anh hai nhà nói rằng, sứ để à, chứ để nói đúng chứ không phải xa, nhưng mà nó là quan điểm của thế gian. Đây người Minh Châu chúng mình, đây là lời của quần chúng nha, ly kêu là người ta, tức là đây này, đây là cái quan điểm của thế gian thường, ta tào lao nói vậy đó. Chiếc áo đạo mình mới khác, chị nghề phát thanh chính à, dễ thương lắm.

Nhà nước sáng là sao? Kính thưa sư huynh, lối khác là sao ạ? Có nhiêu đó thôi, so với cái đám, nhìn cái đám nhân thiên cổ vùng chữ tào lao quá đi, cầm đi là số 1. Tại bây giờ để hiểu gì để nói như vậy, nhưng theo sư huynh là số 1 là sao? Khi ngày nào okay tới cái quan điểm của Thế Tôn này.

Hồi nãy siêu thị nó thấy thì Phạm Thiên hình ảnh, còn tiên là cái đáng thấy nhất, âm thanh Phạm Thiên là các

Ủa Thế Tôn, hồi nãy thì siêu thị nó thấy thì phạm thiên hình ảnh còn tiên là cái đáng thấy nhất, âm thanh phạm thiên là cái âm đáng nghe nhất, nhưng mà ở đây Thế Tôn mới nói khác. Bất kể mà mình thấy cái gì, bất cứ kẻ là cái hình ảnh gì.

Mà khi mặt nạ anh hello, các vị còn nghe không, alo, tới đâu rồi, tới đâu rồi, cứ nghe nghe không, các vị đã nghe đến đâu rồi, rồi đó. Không phải, nói như vậy cái cái cái người này, hai cái cái này nó cho nó thích cờ tướng nghe rồi, các quyển sách nhận nghe rồi, được rồi cảm ơn.

Nhưng mà rồi ở đây nó quan điểm Thế Tôn là gì? Đó là bất cứ hình ảnh nào, là đẹp xấu, sạch dơ, cao thấp, xa gần, không quan trọng. Quan trọng là hình ảnh nào mà ta nhìn thấy nó và nó trở thành đề mục niệm xứ để cho ta chứng thánh. Nói câu này đi, hình ảnh nào mà là đề mục niệm xứ cho ta chứng thánh thì hình ảnh đó là hình ảnh đáng nhìn nhất.

Âm thanh nào mà làm đề mục niệm xứ để cho ta nghe rồi mà ta lấy đó làm đề mục niệm xứ, còn nói gọn lại, âm thanh nào mà làm đề mục niệm xứ cho ta chứng thánh thì đó là âm thanh đáng nghe nhất.

Rồi tất cả cảm thọ nào mà là đề mục niệm xứ cho ta chứng thánh thì cái cảm thọ đó được xem là cảm thọ đáng có nhất. Như là nếu tôi nói ông vua có những chỗ hồi nào vô cần phải nhớ là gì? Chỗ mình sanh ra, chỗ mình thắng trận, chỗ mình lên ngôi.

Thì Đức Phật dạy tỳ kheo cũng phải có những chỗ đáng nhớ. Tỳ kheo cần nhớ chỗ mình xuất gia, chỗ mình lần đầu tiên đắc sơ thiền, dự lưu, đoán là gì, chỗ mình chứng thánh, thậm chí đây là ba chỗ tỳ kheo cần phải nhớ. Mình xuất gia chỗ nào, lần đầu tiên mình hiểu Phật pháp là gì, và tiếp theo mình chấm dứt phiền não để chứng A-la-hán chỗ nào, đó là ba chỗ.

Cho nên lấy lý do vì đâu mà trước khi Thế Tôn viên tịch, ngài nói nè, A Nan, khi ta sẽ không còn nữa, chỗ Lumbini, chỗ ta thành đạo, chỗ Phật chuyển pháp luân, chỗ ta niết-bàn, là bốn chỗ mà hàng tứ chúng nên lui tới. Vì người đời sau cứ đứng bốn chỗ này suy gẫm như sau, đây là chỗ Thế Tôn sinh ra, đây là chỗ Thế Tôn thành đạo, đây là chỗ ngài chuyển pháp luân, đây là chỗ ngài niết-bàn. Nghĩ như vậy với lòng dũng cảm nhận vào thì cái người chiêm bái ấy sẽ được sinh thiên.

Nhớ nha, cho nên cái quan điểm ở trong đạo Phật mình đó là tất cả vì giải thoát cho xong hết. Cảnh tiên hai cái nào đẹp cỡ nào nhưng mà có mập gì cho mình đâu. Cho nên quan điểm đạo Phật, khi nào mà trong mắt mình nó là đề mục niệm xứ để mình chứng thánh thì hình ảnh đáng nhìn nhất. Âm thanh nào mà là đề mục niệm xứ giúp ta chứng thánh thì âm thanh đó là âm thanh đáng nghe nhất.

Cảm giác nào mà nó là đề mục niệm xứ cho ta chứng thánh thì cảm giác đó được xem là cảm giác sướng nhất. Và cái tưởng nào mà khi ta có được, khi mình có được, nó trở thành ấn tượng để cho ta chứng thánh, tưởng là gì, vô ngã tưởng, khổ tưởng, vô thường tưởng, thở vào ra là tưởng, đi đứng nằm ngồi là tưởng, tử thi trong tứ niệm xứ chẳng có đi đứng nằm ngồi, trong đi đứng nằm ngồi chẳng có làm gì có thở vào ra.

Nhớ nha, ta nghe thật trong tứ niệm xứ làm gì có hơi thở, làm gì có tử thi. Cho nên những cái niệm xứ trong tứ niệm xứ toàn là ấn tượng nhà, nó thành công tất cả các tưởng. Dục tưởng, pháp tưởng, tiền tưởng, quán tưởng, thì trong đó cái quán tưởng người sẽ là số một. Có nghĩa là mình, những cảnh tượng nào mà mình dựa vào đó để mà tu tập tứ niệm xứ thì được xem là cứ tưởng đáng có. Những cách tưởng lên tới niết-bàn, kiến thức, kiến thức.

dựa vào đó để mà tu tập Tứ niệm xứ thì được xem, mà cứ tưởng đang có những cách thưởng lên tới mức kiến thức, kiến thức. Nói chuyện giữa cục thuế chế tình thôi.

Nhưng mà cái mà ta biết, cái chân đế, bản chất rốt ráo, không để chia sẻ hơn nữa của bậc hữu học, và cuối cùng danh sắc vô tà lúc chứng thánh được xem là cái giây phút đáng sống nhất trong đời. Nó rất là rõ. Cái danh sắc của cái gì? Danh sắc năm uẩn. Mà trong giây phút chứng thánh thì đó chính là cái đáng kể nhất, đáng quý nhất, mà đáng được nhân thiên quỳ lạy nhất. Cũng làm tóc đi tìm kiếm, mặt nạ mũ máu mà vẫn rất là 152 tâm xã, 28 tháng 8 lập làm.

Tuy nhiên ngay cái thời điểm mà ta chứng, ngay thời điểm đó, cái ngũ uẩn người đã được xem là đáng sống nhất, bởi vì nó là đẹp nhất và rốt ráo nhất, kết thúc cái dòng chảy luân hồi tử đồ thị nga cho nên.

Tôi nhắc lại, ngài Xá Lợi Phất người nói rằng ai nghe được tiếng nói Phạm thiên, nhìn thấy tượng Phạm thiên, sống chung hạnh phúc của Phạm thiên, có mặt thực phẩm thiên là số 1 mẹ nào nữa không. Cái này nó bị sai. Là cái này không, không có hình ảnh nào, âm thanh nào, cảm giác nào, kiến thức nào, phút giây hiện hữu nào mà giúp cho mình chứng thánh thì cái cảm giác, hình ảnh 550k. Nhớ nhà rồi.

Bây giờ tôi mới ôm lại, tôi chốt lại nội dung cái này quan trọng. Tôi mà là quý vị, hoặc quý vị là cái người tri thân của tôi, thì tôi sẽ đề nghị với vị xâm cái này nữa.

Phàm phu ta luôn khó chịu với khổ thọ, ta luôn trông chờ lạc thọ, ta luôn mặc cảm, luôn buồn khi thấy mình sống nhiều với bất thiện, ta luôn tự cao tự đại, khoái chí thích thú khi ta thấy mình sống nhiều với thiện. Cái mình niệm mạnh, khỏe mạnh, định mạnh, đức trên mạnh, mình thích lắm. Nhưng mà không, đó là phàm phu.

Đến một lúc mà là hành giả phường thuộc rồi đó, thì hành giả thấy rằng khổ lạc, hỷ ưu, thiện ác, nói gọn lại vui khổ thiện ác, không có cái nào đáng để mà mình trốn chạy, không có cái nào đáng để theo đuổi trông chờ. Tất cả bốn thứ thiện ác buồn vui chỉ có một ý nghĩa như nhau, đó là cái để tên, nhìn là biết ngay.

Kịp trong cái này vô cùng và vô cùng quan trọng. Thứ nhất, lại lần nữa, ngày ta chưa biết đạo ở đó chạy theo cái mình thích, trốn cái mình ghét, đó là chính đạo. Thời tiết nào rồi thì tiếp tục trốn cố niềm vui, như mình làm thêm một chuyện hay ho, đó là trốn cố niềm vui mà trốn ác tăng thiện. Nhưng mà lên tới một ngàn giai cao hơn nữa thì không tìm vui, không trốn khổ, không tìm thiện, mà lấy bốn anh đó gom về một mối, đó là xem một cả bốn. Năm lần cảnh, thiện tới biết thằng này là thiện, ác tới biết thằng này là ác, vui tới biết rằng này là vui, mà khổ tới biết là này là khổ. Cho nên một thằng giả thương tiếc của an toàn có thể chứng thánh khi quan sát cây thiện, quan sát các, quan sát cây cổ, và quan sát cái vui. Cả bốn cái này đều có thể là đối tượng để làm giả quán chiếu và chứng thánh hết.

Nhắc lại là nghịch chưa có tu, tá đi tìm còn phân biệt hoa và rắn, ngọc với đá. Tu tới nơi rồi tất cả chỉ là đối tượng để mà mình quan sát, hành giả không có lòng trốn chạy theo đuổi có bất cứ cái gì, tất cả chỉ là đấy. Nhìn, nhìn thấy rằng tất cả do duyên mà có, có rồi phải mất. Hành giả thấy rằng tam tướng chính là năm uẩn, và năm uẩn chính là tam tướng, chính là danh sắc, và danh sắc chính là Phạm tướng. Nhớ nha.

OK, bữa nào đi, nhưng mà đừng có ham nghe nhiều. Vấn đề này, anh nghe được cái gì, OK chúc mừng cái gì trong ngày vui. Hẹn gặp lại ngày mai. Đang nghe.

Ham nghe nhiều vấn đề này, anh nghe được cái gì nhé. Ok, chúc mừng. Cái gì trong ngày vui. Hẹn gặp lại ngày mai. Đang nghe, đang nghe nhạc Bolero, ca nhạc, nhạc. Đang nghe nhạc Mặt Trăng, sao sao á.

Sau khi đọc

Giữ lại một điều có thể thực hành

Đừng cố nhớ toàn bộ transcript. Chọn một ý chính, quan sát nó trong sinh hoạt hôm nay, rồi quay lại đọc tiếp khi tâm còn sáng và dễ tiếp nhận.

  • Ý nào liên hệ trực tiếp đến khổ và nguyên nhân khổ?
  • Ý nào có thể đem vào lời nói, việc làm, hoặc chánh niệm hôm nay?
  • Nếu cần đối chiếu, mở mục lục Tăng Chi để đọc bản kinh gốc.