Pháp Học Online
Bài 57 · Pháp thoại

Bài 57. Kinh Tăng Chi | Chương Ba pháp | Phẩm Lớn (tt4)

Bản transcript pháp thoại đã được chỉnh dấu câu và trình bày lại để dễ đọc. Video YouTube đặt bên cạnh để đối chiếu khi cần; phần đọc chính là transcript bên dưới.

1:24:4811.607 từƯớc đọc 45 phútĐã xuất bản
Vị trí trong playlistBài 57 / 163 transcript đã xuất bản

Thuộc Chương Ba pháp . Dùng các nút bên dưới để quay lại danh sách, lọc theo chương hoặc tiếp tục bài kế tiếp.

Mốc nội dungNhấn để mở/thu gọn
  1. Nhân vật và duyên sự

    Giới thiệu nhân vật nữ quan trọng và duyên sự liên quan đến Kinh Tăng Chi.

  2. Hạnh lành người cư sĩ

    Phân tích ý nghĩa thọ Bát quan trai và hạnh lành trong đời sống cư sĩ.

  3. Sức mạnh và trang sức

    Mô tả sức khỏe, sức mạnh và bộ trang sức đặc biệt của nhân vật nữ.

  4. Lễ Phật và nghe pháp

    Nhấn mạnh vai trò lễ Phật đi kèm với nghe pháp trong tu tập.

  5. Tứ niệm xứ và kiến thức tu tập

    Giải thích chi tiết về Tứ niệm xứ và các yếu tố tu tập cần thiết.

  6. Mục đích thọ trai

    Khẳng định thọ trai nhằm cầu giải thoát chứ không chỉ để sinh về cõi trời.

  7. Thực hành giới luật và chánh niệm

    Khuyến khích giữ giới, sống chánh niệm và phát triển tuệ giác.

Transcript đã chỉnh

Bữa nay mình sẽ học tiếp bài hôm qua. Các vị có nghe rõ không?
Duyên sự đầu tiên của bản kinh này là một nhân vật quan trọng trong Phật giáo. Chúng ta biết rằng cách đây 100 ngàn đại kiếp, bà là một tín nữ vào chùa và gặp được Đức Phật Padumuttara. Thấy Đức Phật tuyên dương một vị tín nữ là đệ nhất thí chủ, bà thích quá nên làm phước cúng dường và nguyện được như vậy trong đời một vị Phật tương lai.
Sau 100 ngàn đại kiếp luân hồi tu tạo ba-la-mật, đến thời Đức Phật Kassapa, bà là công chúa của một vị vua tên là Kiki. Do cái duyên trùng ngộ, hầu hết những nhân vật nữ lớn nhất thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đều sanh làm con gái của vua Kiki. Như bà Khema là đệ nhất trí tuệ, Uppalavanna là đệ nhất thần thông, Patacara là đệ nhất pháp sư, Visakha là đệ nhất thí chủ... tất cả đều là mấy chị em công chúa trong một gia đình. Sau đó tất cả đều sanh thiên, rồi đến thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni mới giáng sinh xuống đây.
Về vị này thì quý vị đã học rồi, năm 7 tuổi đi chùa nghe pháp đã đắc quả Tu-đà-hoàn. Sau đó nàng lấy chồng, đám cưới diễn ra trong vòng 4 tháng trời ròng rã. Riêng bộ trang sức của nàng phải được chuẩn bị trong một thời gian rất lâu, khoảng 12 năm trời. Vì nàng có một sức khỏe rất tốt, tuy người mảnh mai thon thả nhưng sức mạnh của nàng trong kinh nói mà mình dùng cái tâm phàm này thì khó mà tin: sức mạnh tương đương với năm con voi. Có nghĩa là nếu năm con voi đứng một phía, nàng đứng một phía kéo co thì sức mạnh cũng tương đương như vậy. Trên thế gian chỉ có ba người phụ nữ có sức mạnh như nàng.
Nàng Visakha có một bộ trang sức nặng tương đương với trọng lượng cơ thể mình. Cho nên bộ trang sức đó người phụ nữ bình thường không có sức khỏe thì không khoác lên được. Nó trùm từ đầu xuống tới gót chân, toàn bằng quý kim. Lai lịch của bộ trang sức này như sau: Một lần nàng Visakha đi chùa, nàng định đi chơi nhưng ghé ngang chùa. Nàng thấy mình đi chùa mà mang bộ trang sức này thì không tiện, nên tháo ra đưa cho cô người hầu cất giùm. Nhưng cô người hầu lại quên, để ở một góc chùa rồi cùng vào lễ Phật nghe pháp. Lúc đi ra, nàng hỏi bộ trang sức đâu thì cô người hầu mới hốt hoảng vì bỏ quên trong chùa. Nàng dặn: "Nếu chư Tăng chưa chạm tay vào thì mình lấy về, còn nếu chư Tăng đã chạm tay vào rồi thì ta không sử dụng nữa". Người hầu trở vô thì gặp ngay Ngài Ananda. Ngài nói thấy bộ đồ quý quá nên Ngài đã cất giùm. Người hầu về báo lại với nàng như vậy.
Vô thì gặp ngay ngày hôm nay, thấy nó quý quá cho nên người ta cất giùm. Người hầu báo lại, nàng nói nếu đã như vậy thì mình không dùng được nữa. Nàng mới phát mãi đem bán bộ trang sức đó, mà không ai mua nổi. Trị giá của nó lên tới 9 triệu đồng vàng, tính theo tiền bây giờ là mười mấy triệu đô la. Người mua đã hiếm, mà người mua về đeo nổi lại càng hiếm hơn. Cho nên nàng mới lấy 9 triệu đó cất cái chùa gọi là chùa Đông Cương. Chùa to, có 1.000 phòng, chia làm hai tầng, tầng trên 500 phòng và tầng dưới 500 phòng.
Trong chú giải ghi rõ, Đức Thế Tôn hôm nào nghỉ đêm ở chùa Kỳ Viên của ông Cấp Cô Độc thì hôm sau sẽ nghỉ trưa bên chùa Đông Cương của bà Visakha. Nếu ở qua đêm bên chùa Đông Cương thì sẽ nghỉ trưa bên chùa Kỳ Viên. Cứ như vậy ròng rã trong suốt 19 năm. Trong đời của Ngài có 45 năm hạ, thì có tới 19 năm là ở tại hai ngôi chùa này.
Còn hai bộ trang sức còn lại, một bộ thì trong kinh không ghi rõ tông tích, nhưng có một bộ của một cô chủ lúc Ngài tại Kusinara. Nàng đem bộ đó tới cúng dường để trang trí cho kim thân Đức Phật. Ngài Ananda nhìn thấy bộ trang sức đó để bên cạnh kim thân Đức Phật thì thấy nó tối thui. Dù bộ trang sức rất đẹp, nhưng hào quang của Ngài vẫn đẹp hơn. Cho nên nàng mới phát nguyện: "Hôm nay con cúng dường kim thân Thế Tôn bằng bộ trang sức này, nguyện đời đời con không đụng tới bất cứ một món trang sức nào mà nhìn vào vẫn đẹp".
Thường mình làm gì cũng nguyện đời sau được gấp 10 lần như vậy, còn nàng thì độc đáo ở chỗ: cúng bộ trang sức này và nguyện đời đời không đụng tới trang sức nữa mà nhìn vào vẫn đẹp. Không giống như người mới biết đạo sơ sơ, làm phước để nguyện đời sau được sung sướng, không khổ. Người biết hơn chút nữa thì làm phước và nguyện đời sau đừng khổ, đừng lạc nữa, không còn thiện ác nữa. Còn hạng người làm phước chỉ để nguyện đời sau được sung sướng thì mới đạt được chừng hai chục phần trăm thôi.
Bây giờ mình trở lại nội dung của kinh là buổi sáng an lành. Nàng đi lễ Phật, nghe Pháp. Ngày xưa, hễ lễ Phật, lễ Tăng là phải đính kèm với nghe Pháp. Còn mình bây giờ vô chùa lễ Phật, lễ Tăng, nhiều lắm là cúng dường, chứ nghe Pháp không phải là chủ yếu. Nghe được gì thì nghe, không nghe được thì thôi. Cái chính là lễ Phật để cầu nguyện đủ thứ, rồi gặp đồng hương, đồng đạo vui vẻ nói chuyện xong rồi về. Ngày xưa, hễ lạy Phật, lạy Tăng là để nghe Pháp, đó mới là cái chính. Bởi cho nên ngày xưa, đi gặp Phật xong đi về là có cái để bỏ túi. Còn mình đi chùa bốn chục năm mà cái túi vẫn trống không.
Tiếp theo là buổi sáng an lành, lễ Phật. Buổi sáng của Ngài, chỉ riêng chữ "giới" này thôi là đã có cả đống chuyện để nói với nhau.
Trai giới là ngày gì? Chỉ riêng cái chữ trai giới này thôi là có cả đống chuyện để mình nói với nhau. Bởi vậy tôi nói bữa nay tôi rảnh đúng một chuyên đề này thôi là vậy đó.
Đúng ra, ngày trai giới là ngày nào mà quý vị muốn phát nguyện thọ Bát Quan Trai cũng được hết, chứ không phải nhất thiết đúng vào những ngày này. Nhiều Phật tử cứ tưởng lầm là phải đúng mấy ngày này mới là ngày tu.
Việc mình giữ giới cũng giống như mình tắm rửa vậy. Có nghĩa là lúc nào mình thấy cần tắm thì mình cứ tắm cho thân tâm sạch sẽ. Ở Việt Nam mình có tục lệ đàn bà sinh con xong là không cho tắm, bắt nằm than cả tháng trời. Nhưng bên Mỹ hay các nước khác, người ta thấy khỏe là người ta tắm. Thọ Bát Quan Trai cũng y chang như vậy. Lúc nào mình thấy cần thiết, lúc nào giữ giới được thì mình cứ giữ.
Còn mình bây giờ kiểu tu mà lựa ngày, cho nên những ngày trai giới này là do mặc định thôi. Tại sao có mấy ngày trai giới? Bởi vì trong kinh ghi rằng vào những ngày trong tháng, như ngày mùng 8 âm lịch tính theo lịch trăng, các vị thiên tử là đại thần của các Thiên Vương đi tuần hành chung quanh thế giới này để xem có ai mà vợ ra vợ, chồng ra chồng, con ra con, cha mẹ ra cha mẹ hay không, để về báo lại với các vị Thiên Vương.
Nếu thấy có người tu hạnh như vậy, các vị sẽ báo rằng mai mốt thiên giới sẽ có thêm người. Còn nếu đến ngày mùng 8, các vị đi vòng vòng mà thấy con cái bất hiếu, vợ lăng loàn, chồng thì tâm bay bướm trăng hoa, cha mẹ thì lơ là không nuôi dạy con cái, thì các vị báo về là thôi rồi, cõi trời không có bổ sung dân số mà dân số này dồn hết qua bên đám A-tu-la rồi.
Nhớ là ngày mùng 8 là các vị đại thần, các vị tướng quân đi tuần. Ngày 14 là các vị thái tử của Tứ Thiên Vương đi tuần. Và ngày rằm là đích thân bốn vị Thiên Vương đi tuần để về báo lại cho Đế Thích. Như vậy, ba ngày đó có ý nghĩa đặc biệt một chút. Dựa vào chỗ này, Phật tử mình cứ chăm chăm vào những ngày đó để tu, giống như để trình diễn cho các vị Thiên Vương thấy vậy thôi. Còn 27 ngày kia thì mặc kệ cho Ma Vương theo.
Dần dần, các vị đời sau thấy ba ngày là ít nên tăng lên thành 8 ngày như mùng 5, mùng 8, 14, 15, 23, 29, 30. Nhưng trong kinh Nguyên thủy, Đức Phật chỉ kể duyên sự về ba ngày đó để mình biết vậy thôi, chứ không có ý bảo mình chỉ chọn đúng ba ngày đó. Ngài muốn mình thọ giới nguyên một đời luôn. Còn nếu tệ quá, năm dài tháng rộng không làm được thì một tháng được nửa tháng; tệ nữa thì xuống 8 ngày; tệ nữa thì dưới 8 ngày. Cho nên quý vị đừng có lầm tưởng chỉ có những ngày đó mới là ngày tu.
Đừng để đến ngày mới thấy mình cần tu, rồi tưởng rằng chỉ ngày đó mình mới tu, còn những ngày khác thì miễn tu. Không phải vậy. Tôi nhắc lại, việc mình giữ giới, bố thí, hành thiền giống như mình tắm rửa hay uống thuốc vậy. Có nghĩa là mình không có lựa ngày, lúc nào cũng là lúc để mình tắm rửa, lúc nào cũng là lúc cần thuốc men, lúc nào cũng là lúc mình chăm sóc cơ thể và sức khỏe.
Việc tu hành nghiêm túc cũng vậy. Phàm tâm vốn là một hình hài đầy bệnh hoạn, cần được chăm sóc thì cứ chăm sóc. Hãy chăm sóc cái tâm bằng giới đức. Điều này quan trọng lắm. Chỉ riêng việc kiểm tra giới xong rồi mình mất cũng mấy phút, riêng việc tuyên giới cũng mất mấy phút.
Bây giờ quay lại chuyện tìm Phật. Gặp Ngài, Ngài hỏi: Đi đâu sớm vậy? Mình thưa: Dạ, hôm nay con tới thọ giới. Thật ra, các vị thọ giới ở nhà, đóng cửa tắt đèn, thọ âm thầm cũng được, cũng thành tựu như thường, không cần phải kèn trống, đèn đuốc um sùm.
Bát Nhã là sự lặng lẽ. Mình nói mình tu Bát Nhã mà mình làm um sùm quá thì thành bát nháo. Quý vị nghe không? Tôi tu lặng lẽ là Bát Nhã, còn ồn ào là bát nháo. Hai cái bát này nó gặp nhau. Chúng ta vẫn tiếp tục với hai lựa chọn: Bát quan theo lối Bát Nhã hay Bát quan theo kiểu bát nháo. Bát nháo là vô ầm ĩ, có ông này bà kia, rồi thọ giới là phải la làng lên cho người ta biết.
Sở dĩ thọ giới phải có người chứng minh là vì một chuyện rất đơn giản: hình ảnh của các vị truyền giới ảnh hưởng và tạo cảm hứng đạo tâm, đạo lực cho mình rất mạnh. Nhất là những người truyền giới cho mình lại là những bậc như Ngài Xá Lợi Phất, Ngài Mục Kiền Liên. Chỉ cần nhìn tướng các vị đó ngồi thôi là mình đã thấy hoan hỷ rồi.
Cho nên bà Visakha mới tới gặp Phật. Phật hỏi: Bà đi đâu sớm vậy? Bà thưa: Bạch Thế Tôn, con đi thọ giới. Phật dạy rằng: Bà muốn thọ Bát quan thì nhờ một vị truyền Tam quy và Bát giới. Hãy như vậy mà thọ trì trong một ngày một đêm.
Chúng ta thường vừa vào là lễ bái Tam bảo, nhưng toàn là kinh kệ cầu cúng, không có lắng nghe nội dung tu học gì hết. Toàn là cầu nguyện, lễ bái, van xin, cầu khẩn. Rồi chúng ta cúng dường thực phẩm cho chư Tăng.
Đức Phật dạy rằng trai giới Bát quan có tất cả ba trường hợp. Trường hợp một là trai giới kiểu người chăn bò. Thứ hai là trai giới kiểu ngoại đạo. Thứ ba là trai giới kiểu của bậc Thánh nhân.
Trai giới kiểu người chăn bò là sao? Có nghĩa là mình là người Phật tử, nghe nói thọ giới có phước thì mình thọ Bát quan. Nhưng thọ giới chỉ có nghĩa là không ăn chiều, không nghe nhạc, không đeo trang sức, không sử dụng mỹ phẩm, không nằm giường cao chiếu rộng. Đó chỉ là hình thức thôi, còn cái tâm thì vẫn để chạy lung tung. Trong kinh này, Ngài giảng rất rõ: thọ Bát quan không chỉ là nguyện giữ tám giới mà còn phải tu tập nữa. Kinh nói rằng quý vị...
Nó cứ là nguyện giữ tám giới chưa có đủ. Trong kinh này nói, mình thọ Bát Quan Trai mà không phạm là mình mừng rồi. Quý vị còn nhớ không? Không phạm chưa chắc là giữ giới. Cái này là phải xăm lên trán nha: Không phạm chưa chắc là giữ giới.
Ví dụ như mình thọ Bát Quan xong rồi mình về mình chui vô phòng. Nếu mình online xem tin tức này, xem cái kia, rồi mình ngủ ngon giấc tới 3 giờ chiều. Thức dậy mình làm ly sữa, ly nước chanh, ly sinh tố uống vô. Xong rồi mình đi ra ngoài đi vòng vòng, đi chợ mua thức ăn về nấu để mai ăn. Quý vị tưởng tượng đi, đâu có phạm đâu. Ngủ trưa đâu có phạm, gọi điện thoại đâu có phạm, đi chợ mua đồ ăn đâu có phạm. Rồi mình về xuống bếp xắn tay áo nấu nướng, đâu có phạm. Nấu nướng xong rồi bắt đầu họp mặt gia đình nói chuyện, rồi bắt đầu leo lên giường ngủ ngon giấc. Như vậy thì cái này tuy không phạm, nhưng Bát Quan không có được ý nghĩa nguyên vẹn của nó. Bát Quan là cái ngày đó phải thanh tịnh. Chỗ này tôi giảng bằng kinh thật nha, Bát Quan là giữ sáu canh thanh tịnh. Cái giới đó mới là Bát Quan của các bậc Thánh.
Thọ xong rồi trông cho đủ 24 giờ để xả giới, nghĩa là không có giữ Bát Quan nữa. Đó là kiểu giữ giới của người chăn bò. Nghĩa là buổi sáng nhận của chủ ba chục con bò, lùa cho nó ra đồng, kiếm chỗ nào được được cho nó ăn thoải mái, còn mình leo lên gốc cây nằm ngủ một giấc. Chiều nắng rọi vào mặt, nóng quá mở mắt ra, lùa bò về giao cho chủ, đếm đủ 30 con.
Không phạm chưa chắc là giữ giới nha quý vị. Giữ giới là sao? Giữ giới là phải hội đủ hai điều sau đây mới gọi là giữ giới. Một là liên tục nhớ rằng mình đang thọ Bát Quan Trai, liên tục sống ở trong chánh niệm Bát Quan Trai. Chỉ cần mình quên là không phải là giữ giới. Tôi nhắc lại lần nữa, quý vị có đốt đuốc đi học với các ông thầy, xem có đúng vậy không. Nguyện xong rồi về quên mất tiêu, đi chợ mua đồ, nói chuyện này chuyện kia thì đâu phải là giữ giới. Nếu nói rằng mình quên mà vẫn là giữ giới, vậy mấy người nằm ngủ là giữ giới luôn sao? Đâu có chuyện sáng thọ giới xong rồi về đánh một giấc, chiều làm cái gì đó ăn uống cho no rồi ngủ giấc nữa là xong. Cho nên phải luôn nhớ, luôn sống trong nhận thức rằng hôm nay mình thọ giới, hôm nay là ngày giữ giới.
Đó là điều thứ nhất. Điều thứ hai, cái đó mới 50 phần trăm thôi. 50 phần trăm còn lại là trước những hoàn cảnh lẽ ra mình đã phạm nhưng mình không phạm, cái đó mới gọi là giữ giới. Ví dụ như đói quá, mình đi ngang nhà bếp, đi ngang tủ lạnh, nghe mùi thức ăn, trong túi có tiền mà đi ngang chợ không ghé mua, cái đó mới là giữ giới. Phải gặp bối cảnh đó mà không phạm mới là giữ giới. Còn mình nguyện giữ rồi mình quên mất thì không phải là giữ giới. Tôi nhắc lại lần nữa, nguyện xong rồi quên mất thì không phải là giữ giới. Cho nên giữ giới kiểu của mình là kiểu người chăn bò: nhận của chủ mấy chục con bò, buổi chiều trả lại cho chủ y chang số bò đó, không để mất con nào. Đó là giữ giới của người chăn bò.
Con bò ra sao thì buổi chiều trả lại cho chủ y chang số bò đó, không để mất con nào. Đó là giữ giới kiểu chăn bò.
Cái thứ hai là giữ giới kiểu ngoại đạo. Quý Phật tử có thể nghe giảng về loại giữ giới thứ hai này, nhưng nếu không nghe tới nơi tới chốn thì dễ hiểu lầm. Giữ giới kiểu ngoại đạo là sao? Họ giữ Bát Quan Trai nhưng lại hạn chế trong một phạm vi nhất định. Ví dụ như trong phạm vi bao nhiêu cây số vuông đó thì thọ giới không sát sinh, không làm hại chúng sinh, nhưng ngoài phạm vi đó thì họ vẫn có quyền sát sinh. Giữ giới kiểu ngoại đạo là giữ giới trong một sự hạn chế nhất định.
Mình cũng vậy, nếu mình giữ giới mà không hiểu ý nghĩa của Bát Quan Trai, cứ khư khư vào mấy điều mình được học, ví dụ như không nghe ca vũ nhạc kịch mà chỉ né tránh bên ngoài chứ không giữ cho tâm thanh tịnh, thì đó là giữ giới kiểu hạn chế. Mà giữ giới kiểu hạn chế là giữ giới kiểu ngoại đạo. Trai giới pháp của bậc Thánh là vô lượng. Tâm là vô lượng, không có hàng rào biên giới, còn giữ giới mà hạn chế là giữ giới kiểu ngoại đạo.
Cái thứ ba là giữ giới kiểu Thánh nhân. Trai giới của bậc Thánh có nghĩa là giữ gìn sáu căn. Không chỉ là chuyện không ăn phi thời, mà ngay cả chuyện nước uống, mình chỉ uống khi nào cơ thể cần. Khi uống cũng không cần uống ngon, không cần uống bổ, không cần uống thứ đắt tiền, mà tùy nghi có gì dùng nấy, cái gì thích hợp với cơ thể thì dùng. Ví dụ bao tử yếu, dễ bị chua thì tránh uống những thứ tạo men chua. Không nhất thiết nghĩ rằng mình không ăn chiều thì có quyền lựa những loại sinh tố đắt tiền, ngon miệng để uống. Như vậy không phải là thúc liễm lục căn. Giữ giới kiểu Thánh nhân là phải thúc liễm lục căn.
Chưa hết, giữ giới kiểu Thánh nhân là kể từ giây phút phát nguyện giữ giới, mình phải liên tục sống trong thiền định. Thiền định ở đây Ngài nói rất mềm, không phải là cố gắng đắc thiền này thiền kia, mà là để tâm an trú trong sáu pháp tùy niệm. Sau khi thọ trai giới xong, tâm an trú vào sáu pháp tùy niệm: thứ nhất là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Thí, niệm Giới, niệm Thiên. Trong suốt thời gian trì giới, tâm phải an trụ trong sáu pháp tùy niệm đó.
Người hành giả tâm an trú, an trụ ở trong sáu pháp tùy niệm (Anussati). Cái chữ "tùy" này có nghĩa là liên tục, có nghĩa là thường xuyên, thường trực, luôn luôn. Tùy niệm chứ không phải là thỉnh thoảng mới niệm. Sáu pháp tùy niệm, trước hết là tùy niệm Phật.
Niệm Phật là người hành giả suy tưởng rằng: Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
A-la-hán là bởi vì Ngài đã diệt trừ tất cả phiền não và là bậc xứng đáng cúng dường. Chữ Araha đó có hai nghĩa: một là "Ari" là kẻ thù cộng với "han" là giết, nghĩa là người đã giết chết kẻ thù phiền não, kẻ thù sinh tử; đồng thời nó cũng có nghĩa là xứng đáng, xứng đáng để lễ lạy cúng dường.
Còn chữ Sammāsambuddho là sao? Chữ Sammā ở đây có nghĩa là hoàn hảo, kiện toàn, chỉnh chu, tinh tươm. Chữ Sammā này đừng có đè từ điển ra dịch là "Chánh". Tôi ghét nhất kiểu hiểu theo từ điển, nghe ngoại ngữ mà cứ ôm chặt mấy quyển từ điển là chết. Người ta phải xài nhiều nguồn, đâu phải chỉ có một nghĩa. Chữ Sammā có nghĩa là kiện toàn, hoàn hảo, chỉnh chu, tinh tươm, không thiếu sót, đến đầu đến đũa.
Còn Sambuddho là từ chữ Sayambhū, có nghĩa là tự ngộ. Những vị Phật Độc Giác cũng là những bậc tự ngộ nên cũng được gọi là những vị Sambuddho, tức là tự mình thấy ra con đường giác ngộ để thực hành rồi từ đó chứng quả. Nhưng Phật Độc Giác chỉ được gọi là Sambuddho chứ không có thêm chữ Sammā phía trước, bởi vì Phật Độc Giác chỉ thấy ra con đường giải thoát thôi chứ không kiện toàn hoàn hảo như bậc Chánh Đẳng Giác. Bậc Toàn Giác mới thêm chữ Sammā phía trước, có nghĩa là tự ngộ một cách hoàn hảo, biết sạch sành sanh mọi sự.
Cho nên mới có kinh Simsapa. Đức Phật nắm một nắm lá Simsapa trong tay rồi hỏi các vị Tỳ-kheo rằng: "Nắm lá trong tay Ta và số lá trong rừng, cái nào nhiều hơn?". Chư Tăng bạch rằng: "Nắm lá trong tay Thế Tôn quá ít so với lá trong rừng". Phật dạy: "Những điều Ta hiểu biết nhiều như lá trong rừng, còn những điều Ta nói ra chỉ như nắm lá trong tay vậy".
Các vị nghe, nhưng sống chưa tới. Kinh Phật mình học cả đời chưa tới đâu, cho nên một vài kinh mình có thể đọc đi đọc lại tám trăm lần mà chưa hết nghĩa. Đa phần Phật tử mình cứ nghe là "biết rồi", "kinh đó nghe rồi". Đó là thái độ của người thiếu trí. Xin lỗi quý vị, cái bánh xèo quý vị ăn, quý vị chỉ biết đút vào mồm, còn người ta biết từ lúc đổ trên chảo cho đến khi vào miệng. Quý vị biết được bao nhiêu về nó? Người ta có cả những luận án tiến sĩ về ẩm thực, có cả một triết lý trong đó.
Quý vị có biết người ta có cả những luận án tiến sĩ về ẩm thực không? Chúng ta có cả một triết lý âm dương, triết lý y học, nhà nông trong vấn đề ăn uống như vậy. Quý vị biết không, vì sao mà ở nhà quê, món đó người ta lại bỏ loại rau đó vào? Tại sao người Đại Hàn ăn thịt nướng mà không sợ ung thư? Họ bảo nhờ kim chi.
Ông bà đời xưa ăn uống có một đạo lý, một triết lý ẩm thực rất cao. Món đó là phải ăn với loại rau đó, đòi hỏi phụ liệu nào đó; một là nó giảm mùi tanh, mùi hôi, hai là nó chế ngự một số độc chất của món ăn đó, nó làm tăng cái vị mình muốn và làm giảm đi cái không muốn. Người ta tính toán kỹ lắm.
Cho nên ngay như bánh xèo, tại sao có chỗ người ta bỏ giá đỗ, có chỗ bỏ củ sắn, có chỗ bỏ cái này, có chỗ bỏ cái kia? Tùy miền, tùy vùng, tùy khẩu vị mà người ta thêm bớt. Cho nên cái bánh xèo mà mình ăn, mình biết cũng không được nhiều lắm đâu. Quý vị biết cái bột nghệ pha trong bánh xèo là cả một vị thuốc. Có trường hợp người ta không pha bằng nước không, người ta pha bằng sữa tươi. Có người không dùng sữa tươi, người ta pha bột bánh xèo bằng bia cho giống như bột nổi. Có bao nhiêu thứ quý vị biết về cái bánh xèo?
Cho nên người bị một cái bệnh là kẹt vào cái độc của tưởng, mình hiểu rồi. Xin lỗi, cái bánh xèo ăn một lần chưa đủ mà nói giảng kinh là hiểu tào lao. Chữ Samma Sambuddha có nghĩa là Ngài hiểu sạch sành sanh, tuốt tuồn tuột. Samma ý nghĩa là tự ngộ một cách hoàn hảo, kiện toàn, chỉnh chu, tinh tươm.
Tại sao gọi là Thiện Thệ? Tại sao gọi là Thế Gian Giải? Cái này quý vị vào trong kinh điển, một người giảng về mười hiệu Phật thì người ta giảng rất kỹ. Thế Gian Giải là hiểu biết về thế gian, gồm ba thứ: thế giới không gian, thế giới chúng sanh và thế giới hành.
Thế giới không gian là các cảnh giới mà chúng sinh có mặt, từ địa ngục lên tới cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng. Thế giới chúng sanh gồm tất cả các loài noãn, thai, thấp, hóa; sinh ra từ tử cung hay sinh ra trong điều kiện thiên nhiên, tự nhiên xuất hiện. Chúng sanh gồm có phàm, có thánh, có chư thiên, loài người, dạ xoa, a tu la, ngạ quỷ, địa ngục, bàng sanh, càn thát bà, long vương, kim xí điểu. Chúng sanh còn gồm những người tham nhiều, sân nhiều, si nhiều, tín nhiều, trí nhiều; đó cũng là một cách phân loại chúng sanh. Trong vô số cách phân loại đó, gom chung lại gọi là thế giới chúng sinh. Còn thế giới không gian là các cảnh giới. Thứ ba là thế giới hành, có nghĩa là gồm có danh sắc, năm uẩn.
Ý nói chúng sanh này gồm các hạng chúng sanh. Thứ ba, nó làm cho thế giới phát hành có nghĩa là sao? Gồm có danh sắc, 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, 22 quyền, 37 phẩm trợ đạo. Lâm chung với nó là ai? Gồm có hai con đường siêu và đọa, được gọi là thế giới hữu vi, hành thế giới, hiểu chưa? Thì trong ba thế giới này, vị Chánh Biến Tri biết sạch sành sanh, không sót một mảy may nào hết, cho nên được gọi là Thế Gian Giải.
Nhân Thiện Thệ là sao? Thiện Thệ là chữ Sugato. Ở đây nó có hai nghĩa. Một là cái con người đã đi trên các con đường thiện, đạt đến cứu cánh thánh thiện. Và nghĩa thứ hai của Sugato, đó là chữ Sugato được đọc trại ra từng chữ: Su-ga-to là Thiện Thuyết, có nghĩa là vị mở miệng ra là giúp đời giúp người, mở miệng ra là lợi lạc cho quần sanh đời này kiếp sau. Cứ mở miệng ra là chúng sanh được lợi lạc, an lạc. Những việc đó được gọi là Sugato, là Thiện Thuyết.
Nhưng mà Phật tử Việt Nam sợ kinh cắn, cho nên chỉ có nghe thôi. Nhiều người không dám đọc kinh vì sợ kinh cắn, nghe tới đâu cũng thấy mình bệnh nặng, thấy bệnh này bệnh kia. Cho nên chữ Sugato có hai nghĩa. Một là Thiện Thệ, có nghĩa là người đã đi trên con đường thiện và đạt đến cái cứu cánh thánh thiện. Chữ Thệ này trong tiếng Hán có nghĩa là đi, là một đi không trở lại thì gọi là Thệ. Chỉ có vị La Hán mới gọi là người đi mà không trở lại thôi. Bởi vì cái hành trình của phàm phu là làm thiện làm ác để làm chi? Để đi loanh quanh vòng vòng trong luân hồi. Bữa nào xuống địa ngục, rồi từ địa ngục leo lên sinh thiên, cứ vòng vòng như vậy. Con đường của phàm phu không phải là con đường thánh thiện tuyệt đối. Nhưng riêng con đường của chư Phật đi là con đường duy nhất trên đời này có đi mà không có quay lui, đi mà không có quay đầu, được gọi là đường thánh thiện. Chư Phật mười phương, các bậc Thánh Hiền mười phương đều đi trên con đường này, đã đi là không quay đầu lại trong nẻo sinh tử nữa. Mấy người đi trên con đường đó được gọi là Thiện Thệ.
Rồi, Minh Hạnh Túc là sao? Minh ở đây có nghĩa là Tam Minh, Bát Minh. Minh có nghĩa là Ngài biết rõ tất cả, không có gì che giấu được Ngài hết. Những tặng phẩm, lễ phẩm kính lễ ở đời là sao? Có nghĩa là các vị này, trong đời này có nhiều thứ lễ phẩm người ta chuẩn bị. Một là người ta chuẩn bị để dành cho người thân, hai là chuẩn bị để cúng bái cho các đối tượng linh thiêng nào đó. Thì trong trường hợp này, những thứ mình làm tặng phẩm, lễ phẩm này đều xứng đáng để dành cho các vị Thánh Tăng hết. Cái món quà đó mình tính đem về cho ba, cho má, đem về cho vợ, cho chồng, cho con, cho bạn bè, nhưng nếu mình gặp một vị Thánh Tăng thì Ngài xứng đáng nhận cái đó hơn là những đối tượng mà mình đã trù tính. Nên Ngài được gọi là Ahuneyyo.
Còn Pahuneyyo có nghĩa là sao? Có nghĩa là mình đang chuẩn bị một phẩm lễ ngon lành để cúng cho ông thần nào đó không biết, mà gặp một vị La Hán, một vị Thánh Tăng thì Ngài xứng đáng nhận nó hơn tất cả các vị thần nào trên đời này. Cho nên Ngài được gọi là Pahuneyyo. Còn Anjalikaraniyo có nghĩa là trên đời này mình gặp nhau mình chắp tay đúng không? Mình chắp tay mình chào người này, cúi đầu trước người kia vì nhiều lý do: vì mình trọng người đó về đức độ, tuổi tác, danh phận, địa vị, quyền lực.
Chắp tay cúi đầu trước người này người kia vì nhiều lý do: vì mình trọng người đó đức độ, tuổi tác, danh phận, địa vị, quyền lực. Nhưng Đức Thế Tôn dạy trên đời này không ai đáng để mình chắp tay cúi chào hơn là một vị Thánh. Cho nên "Anjali Karaniyo" là như vậy. Bởi vì tất cả những cái cúi chào kia đem lại lợi ích rất nhỏ so với cái cúi chào trước một vị Thánh.
Cho nên các Ngài là "Anjali Karaniyo". Điều cuối cùng đó là "Anuttaram Puññakkhettam Lokassa", có nghĩa là ruộng phước vô thượng ở đời. Cái này bà con xem ở trong Trung Bộ Kinh, dò trong mục lục xem giùm tôi bài Kinh Cúng Dường Phân Biệt. Trong đó Ngài dạy rằng đem bố thí cho một con chó, con heo, con trùng, con muỗi thì chỉ được trăm kiếp không đói. Cúng dường cho con người không có đức thì được ngàn kiếp không đói. Cúng dường cho người phàm có giới là mười ngàn kiếp không đói. Cúng dường cho người phàm đắc thiền định thần thông thì vô số kiếp không đói. Nói chi là cúng dường cho vị hành giả tu Tứ niệm xứ. Trong kinh nói rõ lắm, cúng dường cho vị hành giả Tứ niệm xứ phước rất là lớn.
Vì sao? Vì trong tiếng Pali, vị này được gọi bằng một từ rất sang là "Sotapannassa patipannaka", tức là người đang tu tập để trở thành Sơ quả. Chữ "Sotapanna" có nghĩa là đang tu tập để trở thành Sơ quả. Đó là hàng giả phàm phu đang tu tập Tứ niệm xứ. Nhưng tôi phải nói rõ là người này phải có kiến thức giáo lý, chứ đừng dốt đặc không biết cái gì thì không được gọi là "Sotapannassa patipannaka". Phải biết rõ, phải học về giáo lý, biết rõ phiền não là gì, 12 phiền não là gì, 10 kiết sử là gì, 5 triền cái là gì, 37 phẩm trợ đạo là gì, 12 duyên khởi là gì, Bốn Đế là gì. Mấy cái này bà con học trong vòng 3 tháng, nếu siêng năng thì đã có được kiến thức mười mươi về những điều này.
Tất cả là 9 đề mục mà mình phải học để trở thành hành giả Tứ niệm xứ. Đó là học về "process of mind and matter", tức là học về lộ tâm, lộ sắc; học về các hạng chúng sinh trong đời; học về các cảnh giới trong đời; học về phiền não, biết rõ phiền não là gì, thiện pháp là gì, danh là gì, sắc là gì, tứ đại là gì, duyên khởi là gì. Tổng cộng là 9 đề mục. Biết đại khái Chỉ là gì, Quán là gì; Chỉ là định, Quán là tuệ. Tất cả là 9 đề mục. Cái này nằm trong môn Abhidhamma mà chúng tôi đã dạy. Có nhiều người không biết, thắc mắc tại sao mình tu Tứ niệm xứ mà phải học mấy cái này. Thưa quý vị, kiến thức đó là cái nền để quý vị làm hành giả Tứ niệm xứ. Nếu không có kiến thức đó mà quý vị mịt mờ thì quý vị không được gọi là hành giả.
Nền để các vị là hành giả Tứ niệm xứ. Nếu còn cái miệng đó mà các vị mệt rồi, các vị không được gọi là hành giả Tứ niệm xứ. Hành giả Tứ niệm xứ ở đây được gọi là Sotapanna, nghĩa là những người đang trên đường đi đến với quả vị Tu-đà-hoàn.
Nếu có dịp thường xuyên cúng dường Chư tăng thì quá tốt. Còn nếu không, có một nơi chốn nào đó, mỗi tháng để bà con tự tới. Bà con không cần tốn tiền, tôi có bao nhiêu và họ cúng bao nhiêu tiền cũng sẵn sàng bỏ ra. Bỏ tiền nấu nướng buổi chiều hôm trước, nấu trước để đó. Bà con đến, sáng nghe pháp xong là ngồi thiền, đi kinh hành, nghe pháp thoại. Cứ quyết một ngày như vậy. Tôi nuôi quý vị một tháng 8 ngày đó là coi như tôi chết tôi khỏi cần cầu siêu. Kiếp sau thấy hành giả nào già già đi ngang qua là tôi đó. Cho nên, cúng dường, bố thí cho hành giả Tứ niệm xứ là họ vừa có giới, vừa có định, vừa có tuệ.
Chỉ có hành giả Tứ niệm xứ, dầu là xuất gia hay tại gia, mới đầy đủ Tam học. Người nào sống thất niệm thì người đó không đủ, ngay cả giới của người đó cũng không tròn. Vì sao? Vì tôi đã giảng rồi, không nhớ rằng mình là người có giới thì giới đó không thành tựu. Cho nên phải sống chánh niệm Tứ niệm xứ mới là người có đủ Tam học.
Nhớ lần trước khi Đức Phật dạy bài này, các vị xem trong kinh Đại Bát Niết-bàn, Ngài nói đi nói lại không biết bao nhiêu lần. Ngài nói rằng: Hãy tự làm hải đảo, hãy tự làm ngọn đèn, hãy tự làm chỗ nương nhờ cho mình bằng cách tu tập bốn Niệm xứ. Tôi nhắc lại lần nữa, trước khi Ngài nhập diệt, trong mấy tháng ròng rã, Ngài dạy rằng muốn có chỗ nương tựa, muốn sống theo giáo pháp, sống theo bậc Chánh Đẳng Giác thì chỉ có một cách sống đó là Tứ niệm xứ. Bởi vì chỉ có sống Tứ niệm xứ mới có đủ Giới - Định - Tuệ.
Cho nên hành giả, người Phật tử buổi sáng thọ Bát quan trai giới, một ngày đó đầu óc đầy ắp chánh niệm. Niệm Phật không phải là réo cái hồng danh, mà là suy tư về ý nghĩa hồng danh của Phật. Buddha có hai nghĩa: một là người thức giấc từ giấc ngủ vô minh; thứ hai có nghĩa là người hiểu biết lý Bốn đế và đem ra dạy cho đời. Buddha có hai nghĩa: một là tỉnh thức, giật mình thức dậy từ giấc chiêm bao; nghĩa nữa là hiểu biết, hướng dẫn lại, có nghĩa là knowing, understanding. Trong tiếng Hán có chữ Giác hội đủ hai ý nghĩa này của Buddha. Chữ Giác trong tiếng Hán có hai nghĩa: đang ngủ giật mình thức dậy cũng gọi là giác, mà nhận thức hiểu biết một vấn đề gì đó cũng gọi là giác. Trong chữ Buddha trong tiếng Pali cũng có cùng lúc hai nghĩa như vậy. Chỉ có chữ Giác trong tiếng Hán là hội đủ hai ý nghĩa này.
Trong tiếng Pali nó cũng có cùng lúc hai nghĩa như vậy. Cho nên chỉ có chữ Giác trong tiếng Hán là hội đủ hai ý nghĩa này. Còn trong tiếng Anh không có chữ nào, chữ enlightenment hay awakening không có chữ nào một mình nó mà mang đủ hai nghĩa này. Chỉ có chữ Giác của tiếng Tàu là có đủ hai ý nghĩa này.
Như vậy, hành giả suốt một ngày phải suy niệm về Phật, về Pháp, về Tăng, về Thí. Niệm Thí là sao? Nghĩa là dầu hành giả nghèo xác xơ cũng phải luôn Tâm Niệm: "Tôi sẵn sàng chia sẻ theo khả năng của tôi những gì mà người khác cần". Niệm Thí là tôi nghèo cách mấy nhưng tôi sẵn sàng chia sẻ trong khả năng cái tôi có cho người khác khi họ thật sự có nhu cầu. Mình nguyện như vậy nhưng mình cũng phải có khả năng làm, chứ không phải mình nguyện như vậy mà thấy người ngồi kế bên mượn cái gì đó của mình là mình lườm nguýt, không có cái tâm đó thì không được. Miệng thì nói mời khách nhưng ngồi đếm từng miếng sô-cô-la, từng hớp nước thì không được.
Rồi tới niệm Giới. Niệm Giới là sao? Hành giả xét xem giới của mình có cái nào bị mẻ, bị trầy xước hay không. Ví dụ như giới sát sanh, trong chú giải nói kỹ lắm thế nào là sự trầy xước của giới sát sanh. Mình không có đập muỗi, không có giết ruồi, giết kiến, không có cắt cổ gà, không có đập đầu cá, đâm heo, thuốc chó. Nhưng khi mình quét nhà, cầm cái chổi mà quẹt một cái làm chết một bầy kiến, nếu mình làm một cách vô ý tứ thì nó cũng kể là sát sanh mấy chục phần trăm. Rồi mình tạt nước sôi mà không thèm nhìn trước nhìn sau, nó cũng làm cho giới sát sanh bị mẻ. Có nghĩa là mình xâm phạm sức khỏe và tính mạng của chúng sinh khác một cách gián tiếp thì cũng gọi là làm cho giới sát sanh bị nhiễm ô.
Ngay cả giới trộm cắp, không phải mình đào tường khoét vách, cướp nhà băng mới gọi là trộm cướp, mà hễ có ý chiếm hữu cái không thuộc về mình, ngay cả ý niệm trốn thuế, khai y tế không trung thực cũng là trộm cắp. Cái gì là của công thì mình không được lạm dụng. Ví dụ đi máy bay, nhất là hạng thương gia, trong toilet có rất nhiều thứ như lotion, xà bông, khăn giấy. Mình chỉ lấy đúng thứ mình cần. Người ta phát cho mình một cái túi làm kỷ niệm là đủ rồi, còn đồ trong toilet mình thấy nó tốt quá rồi mình lấy hết, người sau vô không có gì xài. Đó là những cái tham lắt nhắt. Đời này mình tham lắt nhắt nhưng đời sau nó thành thói quen của kẻ trộm cướp. Ăn cắp được trứng gà sẽ ăn cắp được con bò, con trâu.
Rồi giới tà dâm, mình không chính thức nắm tay hay ngủ với ai hết, nhưng mình để ý người ta rồi về nằm tơ tưởng thì giới tà dâm cũng bị nhiễm ô. Tiếng Pali gọi đó là methuna-samyoga, nghĩa là mình chưa có làm nhưng có lòng tơ tưởng thì cũng kể là lấm lem cái giới thứ ba. Thứ tư là sao, mình không chính thức nói dối...
Có cái lòng tơ tưởng thì cũng kể là lấm lem. Cái giới thứ ba, thứ tư là sao? Mình không có chính thức nói dối, lừa gạt ai, nhưng mà mình có cách nói lửng lơ con cá vàng, mong người ta hiểu lầm, hướng dẫn sai lệch cái niềm tin và nhận thức của người khác, thì cái đó cũng gọi là làm cho cái giới nó bị lấm lem.
Ví dụ như mình ghét cái bà đó quá, ở chung nhà mình ghét quá đi. Bây giờ mình không nói thẳng, nhưng mình đợi lúc xuống nhà bếp, mình nói: "Tôi không biết ai sơ ý sao mà làm việc nhà bếp, nước trong nhà đổ dưới sàn đi dễ té. Ai biết được, lúc này chị Thảo làm như bị lóng ngóng tay chân lắm". Tôi không có đổ thừa ai hết, nhưng mà tôi có cách nói hướng dẫn suy nghĩ người khác, thì nó cũng làm cho cái giới mình nó lấm lem. Có nghĩa là mình có cái ý né tránh sự thật, mình hướng cái suy nghĩ, niềm tin, cái nhận thức của người khác theo sự sai trái mà mình muốn, thì ngay bản thân cái ý muốn đó đã làm cho cái giới nói dối nó bị lấm lem.
Đến cái giới uống rượu, là mình không có say sưa đến mức thiếu kiểm soát, nhưng mà mình lại thích cái cảm giác lâng lâng, xa rời thực tế, trên mây một chút. Nói chung là mình không có mặn mà lắm với cảm giác tỉnh táo, chánh niệm. Thì cái đó cũng là một cách làm cho cái giới lấm lem như những người kia thôi. Nhiều người lạm dụng thuốc, rượu. Bên Hồng Kông người ta rất cẩn thận với thuốc ho, vì không ít trường hợp trẻ em, học sinh bị nghiện thuốc ho. Một vài lần bị bệnh ho, bố mẹ cho nó uống thuốc ho, nó thích, cho nên nó lén bỏ vào cặp đem về luôn, rồi chia cho bạn bè của nó uống vô thấy người vui vui, cười hoài vậy.
Theo tôi được biết thì thuốc ho đó được chế bằng cái mẹo là chỉ làm cho nó êm, nó ngủ là nó hết ho rồi. Thường thuốc ho hay đi kèm với cái gì đặc biệt, chỉ cần cho yên tĩnh là nó không có ho nữa. Mà như vậy thì có nghĩa là vô hình trung mình sử dụng các loại dược chất gây ngủ. Có những loại thuốc ho mà phải có toa của bác sĩ, trong đó có một tí thuốc phiện, uống nó vô là ngủ đã lắm.
Thì mình lạm dụng những cái thứ đó cũng là cái cách mà chối từ sự tỉnh táo. Như tôi đã nói nhiều lần rồi, đời sống này vốn dĩ nó tràn đầy những bất trắc. Đầu óc tỉnh táo mình chỉ đối phó được một ít cái bất trắc, thì nói chi là mình không tỉnh táo, khả năng đối phó càng thấp hơn. Có người hỏi tôi tại sao phải giữ giới, tôi giải thích đơn giản: bản chất đời sống vốn là bất toàn, bất trắc. Một cái đầu tỉnh táo thì khả năng đề phòng, tự vệ nó mới có tác dụng. Đằng này mình lại tự từ bỏ cái khả năng tỉnh táo, thì coi như mình tự rước họa vào thân.
Thứ hai là chỉ cần mình sống mà thiếu tỉnh táo thì cái ranh giới giữa mình với con thú không còn nữa, mình không còn biết trời đất gì hết. Nếu mà nói về đời và đạo, chúng ta không có lý do để say sưa, không có lý do.
Nếu mà nói về đời và đạo, chúng ta không có lý do để ăn quá nhiều. Không có lý do để ăn quá nhiều có nghĩa là gì? Phải ăn đúng không? Nói về ăn tối theo khoa học, nhu cầu dinh dưỡng cần cho cơ thể mình chỉ cần mỗi bữa cơm trưa ăn đàng hoàng một tí, có protein, có vitamin, có calcium, có chất tươi, chất xơ (fiber). Chỉ cần bữa ăn trưa đàng hoàng là đủ sống một ngày rồi. Còn thêm một bữa nữa thì nó kéo theo một đống hệ lụy, mất thời gian và tác động tiêu cực lên tâm lý. Bởi vì khi có thêm các bữa ăn nữa, từ cái bận tâm kiếm tìm, nấu nướng, rửa ráy, bảo quản, làm vệ sinh, vân vân, rất là nhiều thứ.
Đặc điểm cơ thể của mình là nó lãnh đủ. Cái ngon mà mình gọi là ngon miệng chỉ trong một khoảnh khắc từ đầu lưỡi vào trong, nuốt qua khỏi đó rồi là coi như bao tử lãnh đủ, nguyên cái cơ thể nó sầu. Nào là đường, nào là muối, nào là cholesterol và bao nhiêu độc chất khác. Cho nên nói một cách đúng đắn là mình không có nhu cầu nữa. Còn chuyện ăn chiều là do thói quen, gọi là nhu cầu tâm lý hay nhu cầu sinh lý thực sự thì không có bao nhiêu.
Vấn đề ở đây là lý do vì đâu mà ta phải kiêng không ăn sau giờ Ngọ? Đồng thời, cứ thêm một nhu cầu ăn, mặc, ở và sử dụng một món đồ, cứ thêm một nhu cầu vật chất là chúng ta thêm một gánh nặng cho môi trường sinh thái. Thêm một chút nhu cầu là thêm gánh nặng cho trái đất, cho ecology, ecosystem. Cứ thêm một chút nhu cầu là tạo ra bao nhiêu hệ lụy cho nhân loại và cho thế giới. Nhớ cái đó quan trọng lắm. Câu thần chú là: cứ thêm một nhu cầu vật chất làm tăng thêm gánh nặng cho mình, cho đời, cho vũ trụ, cho trái đất, cho thế giới, cho nhân loại. Cho nên đó là lý do vì đâu mà người tu giảm bớt nhu cầu vật chất là vậy.
Tiếp theo là việc thưởng thức ca vũ nhạc kịch, rồi việc sử dụng hương liệu mỹ phẩm, tránh giường cao chiếu rộng. Mới đây tôi có giảng rồi, chỉ dẫn sơ sơ thôi. Hành giả trong khi thọ Bát quan trai là niệm sáu pháp để cho tâm mình không sa thấp: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Thí, niệm Giới, niệm Thiên.
Niệm Thiên có nghĩa là hành giả suy tư rằng để được về các cõi trên thì ta phải thành tựu các công đức căn bản như giới hạnh, bố thí, thiền định. Nếu ta có được những cái đó, có nghĩa là ta đã có thể là bạn bè cộng sinh, cộng trú, cộng hưởng với Chư Thiên các cõi. Chư Thiên có pháp lành gì thì ta cũng có pháp lành đó. Đây cũng là một phép tu thường xuyên. Cứ nhớ nó cũng là pháp tu. Ở trên đó có pháp lành gì thì mình cũng có pháp lành đó, mai này tắt thở rồi thì mình hoàn toàn có thể về với họ một cách dễ dàng và đơn giản. Nhớ như vậy cũng là một pháp tu thường xuyên. Nhớ như vậy, quý vị sẽ trở nên một con người dễ thương hơn, trở nên một con người thanh tịnh và trong sạch. Chắc chắn như vậy. Cứ nhớ hoài là mình có đủ những phước lành để có thể cộng trú, cộng sinh với Chư Thiên. Luôn nhớ như vậy thì tự nhiên mình nâng mình lên một đẳng cấp khác. Nói như vậy có nghĩa là mình tu tập.
Mình luôn nhớ như vậy, tự nhiên mình nâng mình lên một cái đẳng cấp khác. Nói như vậy không có nghĩa là mình kiêu ngạo, mình đi đua đòi, không phải. Nhưng mà mình ghi nhớ như vậy để mình không có sa xuống. Ghi nhớ như vậy không phải để kiêu ngạo, để thấy mình hơn người, mà ghi nhớ như vậy để mình không bị tụt xuống khỏi cảnh giới nhân thiên. Mình quên cái đó là coi như mình tự đánh mất hình ảnh của mình.
Nhắc lại niềm tin lên để tách mình ra khỏi cảnh giới sa đọa. Niềm tin để mình không có tụt xuống cái cảnh giới tăm tối của bốn cõi đọa. Đó là niệm thiên. Bản kinh này nó dài thăm thẳm, gồm có niệm thí, niệm giới, niệm thiên. Tiếp theo, Ngài giảng cho mình nghe người cư sĩ thọ Bát quan trai Tâm Niệm như sau: Ta có được các pháp lành giống chư thiên. Cái này nhớ nha.
Tiếp theo, người thọ trì giới luôn Tâm Niệm: Ta có các pháp lành của chư thiên, hạnh lành của chư thiên. Mà trong cái ngày thọ Bát quan trai này, ta đang học đòi theo gương hạnh lành, thánh hạnh của các vị La Hán. Nhớ nha, hôm nay ta không chỉ có được pháp lành của chư thiên, mà ta còn đang học đòi bắt chước theo một phần nào trong muôn vàn hạnh lành của các vị La Hán.
La Hán trọn đời không sát sanh. La Hán trọn đời không lấy của không cho. La Hán trọn đời không có ý muốn tình dục. La Hán trọn đời không nói dối. La Hán trọn đời không sử dụng các chất kích thích làm mê mang thần trí. La Hán suốt đời tự nhiên ăn ngọ. Ngay cả khi Phật mới thành đạo, Phật chưa có cấm giới, thì một vị sau khi đắc quả La Hán xong, tự nhiên thấy Phật đi đứng ra sao thì vị đó đi đứng y chang như vậy. Phật ăn mặc ra sao, vị La Hán đó ăn mặc y chang như vậy. Phật sinh hoạt ra sao, vị La Hán sinh hoạt y chang như vậy. Đó là giới tự nhiên của vị chứng La Hán.
Cho nên vị bậc thánh suốt đời không ăn quá ngọ. Vị La Hán suốt đời không sử dụng hương liệu mỹ phẩm, không thưởng thức ca vũ nhạc kịch. Vị La Hán suốt đời không tận hưởng giường cao chiếu rộng. Vị La Hán suốt đời không tích lũy tài sản vàng bạc, quý kim, bảo vật. Nếu mình giữ Bát quan giới, thì như vậy hôm nay thọ Bát quan, thọ trai giới này, ta đã học được một phần hạnh lành của La Hán.
Bản kinh này nó dài thăm thẳm, đại ý như vậy đó, các bạn nhớ. Rồi xong Ngài mới giải thích: Một người mà thành tựu trai giới một cách hoàn hảo thì chuyện sanh về các cõi dục thiên không phải là chuyện khó. Dục thiên là gì? Dục thiên là từ cõi Tứ Thiên Vương trở lên đến cõi Tha Hóa Tự Tại. Có người thọ Bát quan trai xong chỉ sanh được lên tới Tứ Thiên Vương, có người lên được tới Đao Lợi. Là vì sao? Vì lục căn của người này đã sạch được bao nhiêu. Khi giữ Bát quan trai mà lục căn mình còn bậy bạ thì mình ở dưới, mà nó sạch hơn chút thì lên cao chút.
Nhớ câu chuyện nhỏ xíu thôi, thầy kể thêm. Có hai anh bạn thân nhau lắm, một ông tên A, một ông tên B. Bữa đó ông A tới thăm ông B, nghe nói ông B đang giữ trai giới buổi chiều. Ông B nói: "Mình thọ giới là mình không có ăn uống, làm thịt thà cá mú thôi, chứ cơm bánh hàng ngũ cốc thì ăn. Nhưng mà nước xoài ngon ngọt biết bao nhiêu..."
Hồi đó ổng ăn cơm bánh, hàng ngũ cốc, nhưng mà ngửi xoài ngon ngọt, biết ổng đâu có sao. Nó được mệnh danh là có ngay cái gì đó, làm gì dữ vậy? Có miếng xoài ngon lắm, thử đi. Cái mùi thơm phức, xoài cát Nam Vang của Thái Lan. Vọng kia một mình để bản thân thấy cũng được, nể mặt với tình bạn tương thông mà nó cứ mời, cái này cũng được, làm một miếng. Chuyện đó bình thường, không có gì đặc biệt cả. Hai người bạn Phật tử gặp nhau rồi nói câu qua câu lại, mời đáp miếng xoài. Đừng nói chuyện đó không lớn, bởi vì cái kiểu ầu ơ ví dầu nó sẽ trổ ra cái quả ầu ơ ví dầu. Cho nên cái ông đó, ông ép ông bạn ăn, anh phá một cái giới của người ta vậy đó. Với cái yếu tố xoài ngon mời bạn, nhưng mà nó cũng còn cái lỗi nhỏ ở đây, nghe lời rủ rê vậy đó. Chỉ một tí việc làm như vậy mà nó cũng phản ứng ác nghe.
Người Do Thái nói thế này: Một giọt nước dơ làm hỏng một ly nước sạch, nhưng một ly nước sạch không cứu được một giọt nước dơ. Đúng không? Cái gì cũng vậy, hiểu được không? Cho nên ông này khi chết rồi, ông sang làm cái loại Á thiên. Á nghĩa là kém, là chưa tới. Như Á hậu là chưa lên tới Hoa hậu, còn Á khẩu nghĩa là chưa có nói được, có miệng để đó thôi chứ không có nói được. Rồi Á thiên là sao? Cái loại này nửa người nửa tiên. Có nghĩa là một nửa thời gian là sướng như tiên, một nửa thời gian là khổ như điên.
Mỗi người mỗi nghiệp, có người một nửa, có nghĩa là sáng vui tối khổ. Sáng ban ngày nắng lên là làm tiên, mà mặt trời lặn là khổ như ngạ quỷ vậy đó. Có loại thì một tuần vui một tuần khổ, có loại thì ba tháng vui ba tháng khổ, có loại thì nửa năm vui nửa năm khổ. Hiểu không? Có nghĩa là tâm tư mọi người không ai giống ai hết. Cái kiểu tâm tư không giống nhau thì nó mới dẫn tới cái quả không giống nhau. Vì cái nhân không giống nhau cho nên lúc hưởng quả nó không giống nhau.
Ông nội này mấy tháng vui mấy tháng khổ, mà nhờ cái phước mọn, đúng rồi, ông ăn miếng xoài đó, cũng sang làm một vị Dạ thiên làm chủ nguyên một cái rừng xoài bao la, sai trĩu quả, ngon lành. Làm chủ nguyên một cái vườn xoài bao la trong tự nhiên. Sẵn nghe tôi nói luôn, nhân loại hôm nay quá đông mà lại toàn là người phàm, cho nên trong thiên nhiên nó không có ghê gớm như thời xưa. Ngày xưa, thiên nhiên có những cái mà ngày nay có nằm chiêm bao cũng không tin được. Ví dụ như ngày xưa có những khu rừng toàn là trầm hương. Ngày nay làm gì có, người ta đốn sạch sẽ rồi. Ngày xưa có những khu toàn trầm hương, trong kinh kể có những hòn đảo ngoài Ấn Độ Dương toàn là trầm hương, chỉ có thú dữ ở đó thôi.
Có người em trai ruột đi buôn đường biển, buôn ngọc ngà châu báu, hương liệu, vải vóc gì đó, bị bão nó tấp vào cái hoang đảo toàn là trầm hương. Rồi ngày xưa có những khu rừng toàn là trái ngon. Trong kinh có biết một khu vực, năm nay tôi bảy mươi mấy tuổi rồi, cái thời mà...
Rừng toàn là trái ngon. Có một vị cư sĩ năm nay bảy mươi mấy tuổi, cái thời Bắc di cư, bố của ông làm ở Sở Công chánh Lục lộ. Hai vợ chồng ông ở vùng Dầu Giây, Bảo Lộc. Ông nói có những khu rừng mây, vào đó chỉ có mê thôi, những khu rừng mây trắng bạt ngàn, tưởng như Lưu Nguyễn lạc lối. Có những khu rừng bạt ngàn toàn là lan, quý vị biết không? Mà bây giờ dân tộc chúng ta phá, không còn nước non nào hết.
Tôi đọc hồi ký của những người thời xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai. Ông nói rằng có những đoạn đường Mỹ dội bom, mấy anh bộ đội ước mơ: Nếu mình không chết, mai này tớ và cậu trở lại đây, bỏ hết xã hội vào đây sống. Quý vị tưởng tượng, trên đầu là dây leo chằng chịt, lan rừng rủ xuống như chỗ nằm của đế vương. Dưới là nền đá xanh, nước tới đầu gối, tới mắt cá, cá lội từng đàn. Một cái nền đá, nước trong vắt, cá lội từng đàn mỗi con nặng hàng ký lô. Trên đầu là dây leo và lan rừng bện thành từng tấm la phông rủ xuống. Thế giới ngày xưa đẹp như vậy.
Còn ngày nay thì tan hoang, không còn nước non gì hết. Tôi nói lạc đề như vậy để quý vị nghe rằng tôi đang nói về vị chủ vườn xoài này. Ngày xưa trong thiên nhiên có những khu rừng đẹp lắm, chúng sanh người xưa phước nhiều. Còn bây giờ không còn những khu rừng mênh mông, rừng biến thành vườn hết rồi. Rừng thiên nhiên có những cây cổ thụ cả trăm năm tuổi, hình dáng quái dị, kỳ khu. Bây giờ tất cả bị tàn phá hết rồi.
Vị này do cái nghiệp xúi người ta nên bây giờ phải chịu quả báo nửa khổ nửa vui, làm chủ nguyên một rừng xoài thơm phức, ngon lành, ngọt lịm. Sau một ngày thọ trì Bát Quan Trai, chúng ta phải có đời sống tinh thần như vậy, củng cố niềm tin và tăng niềm hoan hỷ. Trong kinh có nói, với một người thành tựu Bát Quan Trai, việc cộng trú với chư Thiên không có gì khó. Ở cõi trời thấp nhất là cõi Tứ Thiên Vương, một ngày ở đó bằng 50 năm ở cõi nhân loại. 50 năm cõi người bằng một ngày ở cõi Tứ Thiên Vương. 30 ngày như vậy làm thành một tháng, 12 tháng thành một năm, và 500 năm như vậy mới làm thành tuổi thọ của cõi đó.
Ở cõi Tứ Thiên Vương, 50 năm ở cõi người bằng một ngày một đêm ở trên đó. 30 ngày như vậy làm thành một tháng, 12 tháng như vậy thành một năm. Và 500 năm như vậy mới thành tuổi thọ của chư thiên Tứ Thiên Vương. Cộng trừ nhân chia xong, chúng ta có con số là 9 triệu năm. Có nghĩa là tuổi thọ của chư thiên Tứ Thiên Vương, cõi trời thấp nhất, là 500 năm tuổi trời, tương đương với 9 triệu năm của nhân loại.
Lên một chút nữa là cõi Đao Lợi. Một ngày một đêm của cõi Đao Lợi bằng 100 năm ở cõi người. 30 ngày như vậy làm thành một tháng, 12 tháng như vậy làm một năm. Tuổi thọ của cõi Đao Lợi là 1.000 tuổi, nhưng thật ra nó bằng 36 triệu năm ở dưới này.
Căn cứ như vậy đi lên, cõi Dạ Ma thì 200 năm của cõi người mới bằng một ngày một đêm trên đó. Họ sống 2.000 năm theo tuổi của họ. 400 năm của nhân loại mới bằng một ngày đêm của cõi Đâu Suất. 800 năm của nhân loại mới bằng một ngày đêm của cõi Hóa Lạc.
Và 1.600 năm của nhân loại mới bằng một ngày đêm của cõi trời Tha Hóa Tự Tại, cõi dục thiên cao nhất, cõi của Ma Vương. Có nghĩa là ở trên đó, tuổi thọ của họ tính ra thì đức Phật của mình nhập diệt chưa được hai ngày, mới có hôm kia hôm qua thôi, chưa được 48 tiếng đồng hồ. Trong khi ở dưới mình đây là đã 2.500, 2.600 năm rồi.
Đây là sáu cõi dục mà người thọ trì Bát Quan Trai có thể sanh về. Còn chuyện các vị thọ Bát Quan Trai tinh tấn cỡ nào thì chuyện đó trời biết, mình biết. Tùy vào mức độ thanh tịnh của Bát Quan Trai ở mỗi người mà chúng ta sanh về cõi nào trong sáu cõi này.
Sẵn đây tôi nói luôn một số đặc điểm đặc biệt. Nghe có vẻ kỳ nhưng đó là sự thật: Càng ly dục chừng nào thì điều kiện hưởng dục lại càng nhiều chừng đó. Đó là điều đặc biệt. Trong Bát Quan Trai, người nào càng tinh tấn trong sạch, lục căn càng thanh tịnh thì vị đó sanh về cõi trời càng cao. Mà cõi càng cao thì năm dục càng vi diệu. Khổ ở chỗ là bởi vì chính mình không ham nên mới lên được trên đó. Càng lên cao thì càng có điều kiện ăn ngon, nhưng khi đã lên cao rồi thì không còn ăn tạp nữa.
Bây giờ họ bắt đầu ăn salad, ăn táo, uống nước trái cây, uống nước suối vậy thôi. Tôi không có giàu nhưng tôi có biết một vài người sống như vậy. Họ giàu quá nên không muốn ăn tạp nữa vì nhiều lý do. Thứ nhất là họ sợ chết. Thứ hai là họ có kiến thức y tế. Những người giàu thường lo cho sức khỏe, từ răng hàm mặt đến mắt, tai... Càng giàu chừng nào thì thời gian mà họ...
Càng có phước đức, có điều kiện thì thời gian tiếp xúc với những gì tốt đẹp càng nhiều. Những người giàu có điều kiện để tiếp xúc với những chuyên gia dinh dưỡng, chuyên gia ẩm thực. Còn nhà nghèo thì có gì ăn nấy, thấy cái nào ngon là ăn, cộng với việc không có được lời hướng dẫn của ai hết, cho nên càng nghèo càng tệ, mà càng tệ và bệnh tật thì lại càng nghèo.
Trong kinh nói, anh càng ly dục thì cơ hội hưởng dục càng nhiều. Quái gở là càng ly dục thì cơ hội hưởng dục càng nhiều. Cho nên kinh ghi rõ, chỉ có chư thiên cõi Tứ Thiên Vương và cõi Đao Lợi thì nam nữ mới gần gũi nhau theo kiểu nhân loại. Còn lên tới cõi Dạ Ma, họ chỉ ôm nhau một cái là xong. Cõi Đâu Suất chỉ nắm tay nhau là xong. Cõi Hóa Lạc chỉ mỉm cười với nhau, ẩn ý là xong. Cõi Tha Hóa Tự Tại là ngôi cao nhất, chỉ nhìn nhau bằng cái tâm dục nhiễm là xong. Chỉ cần nhìn nhau, biết người kia thích mình và mình thích người kia là đã thỏa mãn rồi.
Có nghĩa là càng lên cao thì sự hưởng thụ càng nhẹ nhàng. Chính vì vậy, cõi dục thiên cao nhất mới là ranh giới của cõi Dục và cõi Sắc. Khi đã qua ranh giới đó, lên đến cõi Sắc giới thấp nhất là cõi Sơ thiền thì không còn khái niệm nam nữ nữa. Mặc dù tất cả Phạm Thiên đều có thân tướng của nam nhân, nhưng trong đầu họ tuyệt đối không còn khái niệm nam nữ. Đó là chuyện thứ nhất.
Chuyện thứ hai, tất cả Phạm Thiên từ cõi thấp nhất đã không còn hưởng thụ năm dục, và họ cũng không có các giác quan như khứu giác, vị giác và xúc giác. Họ chỉ còn thị giác và thính giác. Tuy nhiên, dù không có khứu giác và vị giác nhưng họ vẫn có mũi, vẫn có lưỡi bình thường. Họ vẫn có mũi rất đẹp, mũi cao dọc dừa, đẹp lộng lẫy. Cái nét đẹp tiêu chuẩn của tam giới chính là vẻ đẹp của Phạm Thiên. Giọng nói hay nhất trong tam giới cũng là giọng nói của Phạm Thiên.
Trong kinh gọi là Phạm âm. Âm thanh của Đức Phật cũng được gọi là Ngài nói chuyện bằng Phạm âm, tức là âm thanh của Phạm Thiên. Cho nên Phạm Thiên tuy không còn hưởng dục nhưng hình dáng của họ lại tuyệt vời. Nhớ điều trong kinh dạy: anh càng ly dục thì càng có điều kiện hưởng dục, mà khi có điều kiện hưởng dục thì anh lại càng rời xa những điều kiện đó. Nó lạ đời như vậy.
Đó là lý do tại sao đời là biển khổ. Những vị đại phước thì khả năng hấp dẫn người khác rất cao, nhưng chính vì họ đại phước nên họ lại có tâm ly dục. Trong kinh nói ngài Xá Lợi Phất, ngài Mục Kiền Liên, các vị này nếu nói theo ngoài đời là những người đệ nhất đào hoa, nhưng các ngài lại là những bậc thánh ly dục.
Vị này, nếu mà nói theo ngoài đời là hạng đệ nhất đào hoa, nhưng đối với các bậc Thánh, các Ngài xem chuyện đó là chuyện tào lao nhất đời. Có nhiều người còn nhầm lẫn trong cái đó, lại là những kẻ bất hạnh. Đối với người mà sắc dục nặng quá thì đời đời trầm kha trong những cảnh giới thấp kém. Cho nên bữa nay mình chỉ học riêng bài kinh này thôi là đã hết thời gian rồi.
Chúc các vị một ngày vui. Tôi đã nói rồi, kinh Sa-môn Quả trong Trường Bộ là bài kinh đầy đủ nhất về hành trình tu hành của một vị tỳ-kheo. Còn hôm nay chúng ta học về kinh này, đây là bài kinh đầy đủ nhất về hạnh lành của người cư sĩ, đặc biệt là việc thọ trì Bát quan trai giới. Tôi nhắc lại, ngày thọ giới, nếu có chư Tăng hay một vị sư sãi nào đó mình tới mình xin, có người đó làm chứng trong việc thọ truyền giới để củng cố tâm lý, có tác động tích cực tới tâm lý. Nhờ làm chứng cho mình thọ giới đó.
Chuyện thứ hai nữa, không phạm chưa chắc là giữ, bởi vì mình phải thường xuyên ghi nhớ hôm nay mình sống trong trai giới mà mình đã nguyện. Chính trong kinh này cũng dạy, khi thọ trì giới ấy, vị cư sĩ phải suy xét để cái tâm mình chìm sâu, gắn chặt trong các đức lành của Phật, Pháp, Tăng, Giới, Thiên. Để mình nhớ rằng hôm nay mình có trai giới. Mình đã học được một phần hạnh lành, cuối cùng mình phải nhớ rằng mình đang từng bước củng cố, trang nghiêm đức tin và đang chuẩn bị hành lý để mai này về cộng trú với chư Thiên. Mặc dù mình tu tập không phải mục đích để về trời, nhưng mình cũng phải chuẩn bị đầy đủ.
Nhắc lại, thu thúc lục căn không phải để sanh về cõi nhân thiên mà là để cầu giải thoát. Nhưng có một điều là khi chưa được giải thoát thì chính cái chuyện thu thúc lục căn đó nó đẩy mình về các cõi nhân thiên cao cấp. Người Phật tử hiểu đạo, bố thí, trì giới, tu tập công đức không phải để cầu quả nhân thiên, nhưng trong thời gian chưa được giải thoát như nguyện thì kết quả nhân thiên đó nằm trong tầm tay, bởi vì đó là kết quả đương nhiên. Cũng giống như đâu có ai muốn mình đi địa ngục, nhưng cứ làm các việc ác là tự nhiên nó đẩy xuống địa ngục thôi. Có người hỏi tôi: Thưa sư, mình không có nguyện về trời thì mình có về hay không? Tôi hỏi lại: Mình sát sinh, mình đâu có cầu sanh vào địa ngục mà mình có sanh không? Quý vị hiểu không? Đâu có ai khùng mà nguyện xuống địa ngục, nguyện làm súc sinh, nhưng cứ cắm đầu làm ác thì tự nhiên nó tới thôi, không cần nguyện. Cho nên có nhiều cái phải nguyện, còn có những cái không cần nguyện. Chúc các vị một ngày vui vẻ.

Sau khi đọc

Giữ lại một điều có thể thực hành

Đừng cố nhớ toàn bộ transcript. Chọn một ý chính, quan sát nó trong sinh hoạt hôm nay, rồi quay lại đọc tiếp khi tâm còn sáng và dễ tiếp nhận.

  • Ý nào liên hệ trực tiếp đến khổ và nguyên nhân khổ?
  • Ý nào có thể đem vào lời nói, việc làm, hoặc chánh niệm hôm nay?
  • Nếu cần đối chiếu, mở Kinh Tăng Chi Bộ để đọc bản kinh gốc.
↑