Xin chào các vị. Các vị nghe rõ không?
Sáng nay mình học bài kinh đầu tiên là kinh Sandaka. Có một vị du sĩ tên là Sandaka. Chữ Paribbajaka xuất phát từ động từ pabbajati, có nghĩa là từ bỏ, quăng bỏ. Từ đó mới ra chữ Paribbajaka, nghĩa là người ly gia toàn diện. Nghĩa là không còn cha mẹ, vợ chồng, con cái bên cạnh, cũng không có tự viện, đạo tràng, tịnh thất, thảo am hay lưu phòng nữa mà đi lang thang như vậy. Cho nên mới có chữ du sĩ, giống như là du phương du sĩ.
Có nhiều loại tu sĩ. Chẳng hạn như Tapasa là loại đạo sĩ sống trong rừng. Chữ Tapasa xuất phát từ chữ tapa nghĩa là thiêu đốt. Người tu là người thiêu đốt tất cả phiền não. Đó là xét về gốc từ ngữ, còn nghĩa đen bên ngoài là chỉ những người tu trong rừng sâu. Còn những vị du sĩ này là những người không theo một tôn chỉ tín ngưỡng nào đặc biệt, không có định sở, không có cương lĩnh tâm linh nào cố định sẵn.
Còn một loại tu sĩ nữa là Brahmana. Những vị này có học hành giáo điển Veda, có tự viện, thờ lửa và cúng tế thần linh mỗi ngày. Trong Veda chia ra làm hai nhóm: có nhóm thì vừa tu hành vừa có vợ con, có tài sản, trang trại, chuồng trại đầy đủ như một đại gia; còn có nhóm thì cả đời trì tụng Veda và thờ cúng thần lửa nhưng sống độc thân. Ở Ấn Độ có nhiều hạng tu sĩ như vậy.
Bây giờ, ông Sandaka này đến gặp ngài Ananda. Ông hỏi ngài rằng: Nghe nói con đường tâm linh mà các ngài đang theo đuổi, các giáo thuyết của Sa-môn Gotama, có nội dung là hướng tới sự lìa bỏ tham, sân, si? Ngụ ý của ông là muốn hỏi lìa bỏ là lìa bỏ như thế nào, chứ nói suông thì nghe đơn giản quá. Vì trong nội dung giáo pháp này hướng tới cứu cánh là lìa bỏ tham, sân, si, nên ông muốn nghe về điều đó.
Ngài Ananda nói ngắn gọn rằng: Lìa bỏ tham, sân, si vì đó là ba nguồn chính yếu của tội khổ nhân gian. Chính vì có lòng tham nên người ta sẵn sàng làm bao nhiêu chuyện hại mình hại người. Chính vì sân, vì si nên người ta đã làm bao nhiêu chuyện hại mình hại người. Chuyện kiếp sau đời khác, chuyện luân hồi quả báo chưa tính tới, chỉ nói chuyện trước mắt: sống trong tham, sân, si là đang đi trên con đường hại mình hại người. Từ vô số kiếp đến giờ, mình sống thất niệm, không có trí tuệ. Thường xuyên là như vậy, chín mươi chín phần trăm thời gian luân hồi là mình sống không có niệm, không có tàm, không có quý.
99 phần trăm thời gian luân hồi là mình sống không có niệm, không có tàm, không có quý, không có từ tâm, không có chính kiến. Cho nên mình không có nhận ra. Mình không nhận ra mới nảy sinh một số chuyện sau đây: đó là mình sống bằng triền não là dứt khoát là khổ. Chưa biết cái tội báo nó ra sao, chỉ biết trước mắt là sống trong triền não là khổ. Mà trong khi đó mình luôn luôn chỉ sống bằng triền não thì có nghĩa là mình luôn luôn sống trong đau khổ. Và hễ càng sống trong đau khổ thì mình càng tìm cái giải pháp giải cái đau khổ đó bằng cái khổ khác nữa, nghĩa là khổ chồng lên khổ.
Điều thứ nhất là lâu đời mình không nhận ra. Điều thứ hai nữa đó là chính vì mình không nhận ra cái khổ hiện tại thì làm sao mình đủ trí để thấy biết, để tin là cái đó lại dẫn đến cái khổ tương lai. Cái khổ trước mắt mình còn không thấy, cái khổ từ triền não ngay trong hiện tại là mình đã không tin rồi, không để ý rồi. Và điều nữa đó là từ chỗ không thấy cái hiện tại thì làm sao mình đủ sức thấy khổ trong tương lai do triền não tạo ra.
Từ hai cái đó, mình lại rơi vào cái thứ ba nữa là mình không nhận ra trong một ngày mình triền não bao nhiêu như vậy. Thứ nhất là mình không nhận ra nó dày đặc như vậy. Thứ hai là mình không ngờ được là mình đang sống trong đau khổ chỉ vì mình đang sống chung với triền não. Thứ ba, nếu không đủ sức thấy cái khổ của triền não hiện tại thì làm sao mình thấy được cái quả báo tương lai của nó.
Chính ba cái này: không ngờ mình đang sống trong triền não liên tục thường trực; không nghĩ ra được là hễ còn triền não là còn khổ trước mắt; và không thấy được khổ hiện tại thì làm sao thấy được tương lai. Lâu lâu mới có một người nhảy ra khỏi cái bóng tối của triền não để chứng đắc thiền định, có được Túc mạng minh, có được trí tư duy để thấy được đó là có đời sau có kiếp khác, thấy có tội báo, thấy được mối hệ lụy của nhân duyên với khổ. Một chút cũng làm mình khổ, rồi coi như thấy được toàn tập, trăm phần trăm, toàn diện mới thấy.
Đây là lý do vì đâu mà giáo pháp của Đạo sư chúng tôi luôn luôn kêu gọi lìa bỏ tham, lìa bỏ sân, lìa bỏ si. Tại sao mình phải lìa bỏ tham? Mình đã nghe không biết bao nhiêu lần: tham là chạy theo cái mình muốn. Có hai cái muốn: muốn có cái này cái kia, và muốn đừng có cái này cái kia. Mà các vị tưởng tượng trong cuộc đời của các vị, cái ước muốn này được toại nguyện bao nhiêu phần trăm? Chỉ cần nghĩ đến đó là biết tại sao tham là khổ. Mình khổ là bởi vì chuyện đơn giản: cái tham có hai là muốn có cái này cái kia và muốn đừng có cái này cái kia. Mỗi hai cái muốn này trong đời của mình mà được toại nguyện bao nhiêu lần, có bao nhiêu phần trăm? Cái mà mình muốn tránh mà mình tránh được có bao nhiêu phần trăm? Cái mà mình muốn có mà mình có được trong đời của mình là bao nhiêu? Có biết bao nhiêu người nhăn răng ra cười tưởng như sung sướng, nhưng mà thật ra là khổ vô vàn.
Trong đời của mình, có biết bao nhiêu người nhăn mặt cười tưởng như sung sướng, nhưng mà thật ra đó là khổ vàng. Có bao nhiêu cái bạn muốn mà không được, muốn tránh né cũng không xong. Hai cái đó làm cho ta thấy khổ trùng điệp.
Rồi tới cái sân si. Sân là cái gì? Là bất mãn trước cái trần cảnh. Cái tâm sân nó cũng có hai: một là nó khổ vì nó bất mãn, vì nó không có được cái mà nó muốn; và cái thứ hai là mình bất mãn vì mình phải chấp nhận cái mà mình ghét. Hai cái này làm cho cái đời của tâm sân luôn luôn khổ, quý vị thấy chưa? Ở đây, sân nó có hai: một là nó khổ vì mình phải chấp nhận cái mình ghét, hai là mình không có được cái mình thích. Sân là bị bất mãn trần cảnh. Chỉ riêng cái khoản sân này thôi, quý vị tưởng tượng nó khổ cỡ nào? Khổ vàng trời, khổ vô bờ vô bến, vô lượng vô biên. Chỉ riêng cái sân này là thấy nó khổ rồi.
Rồi qua cái si. Si là sống trong cái tâm thức bóng tối, có nghĩa là không thấy được cái bản chất thật của đời sống. Nó là cái nền cho hai cái ông kia. Chính vì sống trong cái bóng tối của nhận thức mà không thấy mọi thứ vô ngã vô thường, cho nên một đời cứ đi trốn chạy cái này, kiếm tìm cái kia. Đó là do ông si tác động cho tham, cho sân có mặt. Chính cái si này xui khiến cho tham có mặt, si sân có mặt. Vậy thì ông si này có phải là tội khổ hay sao? Dứt khoát rồi, ông là mẹ đẻ của hai ông kia mà.
Đây là lý do vì đâu mà tham, sân, si được gọi là tội khổ trầm luân. Nó chính là cái đối tượng tiêu trừ, đối tượng lìa bỏ của giáo pháp. Nhưng mà cách nào để lìa bỏ tham, sân, si? Quay lại bài học truyền thống, đó là Bát Chánh Đạo thôi chứ không có con đường nào khác. Tôi nhắc lại một ngàn lần, tu tập con đường thoát khổ là tu tập theo tinh thần Bát Chánh Đạo, chứ không phải là ôm con số 8.
Tu tập Tam học cũng là Bát Chánh Đạo. Tu tập Chỉ Quán cũng là Bát Chánh Đạo. Tu tập Thất Giác Chi, tu tập Ngũ Căn, Ngũ Lực (Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ), Tứ Như Ý Túc (Dục, Cần, Tâm, Thẩm), tu tập Tứ Niệm Xứ (Thân, Thọ, Tâm, Pháp) đều là Bát Chánh Đạo hết. Nhớ cái này, chứ còn cứ giữ con số 8 thì kẹt lắm. Tất cả 37 phẩm trợ đạo này chính là một, nhưng tùy duyên, tùy căn cơ chúng sinh mà Thế Tôn nói 37, có khi ngài nói còn có hai thôi, đó là Chỉ và Quán. Có khi ngài gom lại còn có một thôi, đó là không làm các điều ác, làm các hạnh lành.
Chớ nghĩ cái thiện này nó nhỏ quá mà mình không làm, cái ác kia nó nhỏ mà mình không thèm tránh. Làm gì có cái thiện nhỏ, làm gì có cái ác nhỏ? Cũng như là lửa, mình nhìn bằng mắt thì thấy có đốm lửa nhỏ, đốm lửa lớn, nhưng khi nó cháy thì đều là lửa cả.
Lửa thì mình lấy con mắt mình nhìn, thấy có đốm lửa nhỏ, đám lửa lớn. Nhưng tác dụng của mỗi ngọn lửa thì hình như không có lớn, không có nhỏ. Lấy mắt mà nhìn thì có đám lửa lớn, đám lửa nhỏ, nhưng trong tác dụng thực tế làm gì có lớn, có nhỏ. Quí vị không tin phải không? Quí vị cầm điếu thuốc mà lại cây xăng, mở nắp xăng ra thì tự nhiên biết ngọn lửa lớn nhỏ liền.
Có ông con trai nọ lại cây xăng, mở nắp bình xăng mình ra, bật quẹt coi xăng còn nhiều hay hết. Một trong những bản cáo phó ngắn nhất trên thế giới là bản cáo phó bên Cali: Đêm qua lúc 9:21 trên đường cao tốc 215 ở tiểu bang Cali, Nguyễn Văn Dương trong lúc đang chạy xa lộ nghe xe trục trặc, tấp lề đường mở nắp xăng bật quẹt xem xăng còn hay hết. Hưởng dương 21 tuổi. Lửa nó không có lớn, không có nhỏ; nhìn thì thấy có lúc nhỏ nhưng thật ra làm gì có nhỏ.
Cái mầm ung thư đó, mình đâu đánh giá là lớn hay nhỏ, chỉ cần bác sĩ thấy nó có mầm ung thư là đủ rồi. Nhà vua còn sợ ung thư, đâu cần lớn nhỏ gì đâu, chỉ cần bác sĩ chẩn đoán ung thư, thấy các tế bào ung thư là được rồi. Các tế bào ung thư siêu nhỏ, nhưng quí vị có biết nó có thể ảnh hưởng đến thế giới hay không? Cái tế bào ung thư trong người của Steve Jobs - vua Apple iPhone. Sự ra đi của ông ảnh hưởng đến công nghệ điện toán thế giới kinh khủng. Cho nên đừng có chê tế bào ung thư nhỏ, bởi vì từ nó mà đánh gục một cá nhân và ảnh hưởng đến thế giới. Sự ra đi của ông ảnh hưởng đến bao nhiêu thị trường stock trên toàn cầu. Và chính người đang nói chuyện này cũng bị ít nhiều ảnh hưởng, rõ ràng từ ngày ông mất là di sản của ông để lại.
Cho nên Đức Phật dạy trên con đường tu học, mình phải nhìn nhận là Phật pháp có nhiều cách nói tùy duyên. Có khi Ngài nói là tám muôn bốn ngàn pháp môn, có khi Ngài nói là Ba tạng, có khi Ngài nói là Cửu phần giáo pháp, có khi Ngài nói là ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Rồi Ngài nói là Bát Chánh Đạo, có khi là Thất giác chi, Ngũ căn, Ngũ lực, Tứ niệm xứ, Như ý túc, Tứ chánh cần. Có lúc Ngài nói gọn là Tam học, có lúc Ngài nói là Chỉ Quán. Có lúc Ngài nói chỉ có mười bài thôi, mọi người học xong mười bài rồi giỏi rồi vào kiếm bài khác.
Bài kinh này nếu mình đọc chính kinh thì không có lớn chuyện như vậy đâu, nhưng tới hồi mình chú giải một chút thì nó sâu lắm. Bài kinh này có thể là khuôn vàng thước ngọc cho hành giả chứ không phải chuyện giỡn. Bài kinh số hai của buổi giảng hôm nay là kinh Bà Mẹ Đệ Tử. Nghe cái tựa đề nó hơi tối nghĩa, Bà Mẹ ở đây tức là tên gọi, một nghĩa là ngoại đạo đó.
Cái tựa đề nghe hơi tối nghĩa. "Mạt" ở đây tức là tên gọi, một nghĩa là ngoại đạo. Ở trong tiếng Hán, "Mạt-lợi" hay "Kỳ-na" là ngoại đạo, tà mạng, bàn môn tả đạo. Một vị đệ tử ngoại giáo có một ông tín đồ ở ngoài đạo đến gặp Ngài. Bài kinh này rất cổ, có những cái đặc biệt mà nếu mình có trí, có niềm tin thì mình nhìn về kinh điển gốc rất là đẹp, còn không đọc bài kinh này thấy kỳ lắm.
Ông hỏi Ngài câu hỏi này: Pháp của những ai được khéo thuyết? Những ai khéo hành trì ở đời? Những ai khéo vượt qua ở đời? Câu này mình diễn dịch ra tiếng Việt cho nó sáng: Ông hỏi giáo thuyết nào được xem là xuất sắc, đạo nào hay nhất, ai là người có khả năng đưa ra một đường hướng tu hành tốt nhất? Ông hỏi như vậy: Ai là những người tu hành tốt nhất và có khả năng đưa ra những đường hướng tu hành tốt nhất?
Nguyên một đoạn dài, Ngài chỉ trả lời một cách rất ngắn gọn. Ngài nói rằng tu hành gì đi nữa, nói hay cỡ nào đi nữa, thì ở đây có hai chuyện cần phải lưu ý: Người nào hành trì con đường dẫn đến việc diệt trừ tham sân si thì người đó được xem là hành trì con đường đúng đắn nhất. Giáo nghĩa nào, học thuyết nào dẫn đến mục đích đoạn trừ tham sân si thì giáo nghĩa đó được xem là giáo nghĩa đẹp nhất, tốt nhất. Chỉ có hai cái đó. Nghĩa là cá nhân nào hành trì hướng tới mục đích đoạn trừ tham sân si thì cá nhân đó được xem là tu hành tốt nhất, đủ tư cách hướng dẫn nhất. Và nội dung hướng dẫn nào có mục đích diệt trừ tham sân si thì nội dung đó, giáo thuyết đó, con đường đó đáng được xem là chân chánh nhất.
Tại sao vậy? Đọc nội dung này thấy bình thường nhưng nó quan trọng ở chỗ này: Có không biết bao nhiêu người mang tiếng là tu Phật, học kinh Phật, thờ Phật, là đệ tử Phật mà lại không biết bài kinh này đã đành rồi, mà cũng không biết nội dung mới là điều đáng nói. Có thể mình không biết tên bài kinh nhưng nội dung mình phải nhớ. Tôi e rằng có không ít Phật tử Việt Nam không đọc kinh điển, cũng không từng nghĩ tới nội dung này. Đó là: Người tu hành đúng đắn nhất phải là người đang hành trì con đường diệt trừ tham sân si. Giáo pháp được xem là hay nhất cũng phải là giáo pháp có nội dung diệt trừ tham sân si.
Vì sao? Tại vì nếu đi chùa, bố thí, cúng dường mà cầu quả nhân thiên thì không phải là đang đi trên con đường diệt trừ tham sân si. Bố thí, cúng dường, ăn hiền ở lành, giữ giới mà lại hướng đến chuyện cầu danh, cầu lợi, hướng đến việc sở hữu này nọ thì dứt khoát đó không phải là đang đi trên con đường diệt trừ tham sân si. Thêm chút nữa, giữ giới rồi thấy mình hay, học đạo rồi thấy mình giỏi, ngồi thiền rồi thấy mình đắc, rồi cảm thấy sung sướng, đam mê trong cái thiền chứng đó để rồi chết sanh về các cõi Phạm thiên, sống hết tuổi thọ đó rồi lại rơi trở lại địa vị cũ. Như vậy, nếu lấy mắt phàm nhìn lên thì mấy hạng này thấy ngon lành, giới luật trong sạch...
Quay trở lại vấn đề gốc, nói rằng lấy mắt mình nhìn lên thì mấy cái hạng này ngon gì chứ. Giới luật trong sạch, thiền định tinh chuyên miên mật, nhưng mà cái lòng thật sự chưa có chán sợ sinh tử thì như vậy vẫn chưa được gọi là người đang đi trên con đường diệt trừ tham sân si. Tại vì sao? Vì còn mê trong danh lợi, quyền lực, mê tiếng tăm, mê nhan sắc, vì đó là mê bằng ác pháp. Đúng rồi. Nhưng mà mê trong những cái thành tựu, những cái sự đắc sở chứng của mình thì nó lại là mê theo kiểu khác.
Tôi nói không biết là bao nhiêu lần, Tam giới như ngôi nhà đang cháy. Mình chui xuống gầm sàn cũng là một cách giải quyết vấn đề, mình leo lên nóc cũng lại là một cách giải quyết vấn đề, nhưng mà hai cách này không có cách nào là thông minh. Nó chỉ có cách thứ ba là đi ra khỏi căn nhà đang cháy, chứ còn leo lên cao hay là chui xuống thấp trong một căn nhà đang cháy thì nó không phải là cái giải pháp. Quý vị nghe kịp không?
Không biết bao nhiêu lần tôi đã nói, đã là bị xiềng thì dầu cho cái dây xích đó nó có bằng vàng, nạm kim cương hay là cái dây chuyền bằng đồng bằng sắt thì vẫn cứ là bị xiềng. Và phàm phu chúng ta nói thì lại không nhận ra cái này, cứ thấy cái gì sang là mình thích, cho đó là giá trị, nó sang cái là mình hào hứng. Nhưng mà thật ra cái xiềng nào cũng là cái xiềng, cái dây xích nào cũng là dây xích, miễn là nó cột mình ở lại một nơi thì đó gọi là bị xiềng.
Chúng ta đam mê những thứ rẻ tiền như là danh lợi, nhan sắc, sức khỏe, tiếng tăm, quyền lực, bao nhiêu hệ xã hội, tình cảm cá nhân, vân vân, thì tất thảy cũng đều là đang có mặt trên con đường tham sân si. Chúng ta đam mê trong những cái sở chứng, những cái thành tựu, những cái sở đắc của mình về tâm linh, về tinh thần như là giới luật, thiền định, kiến thức, vân vân, lại là một cái kiểu đam mê nữa. Nó cao hơn xíu, như nhà đang cháy mà leo lên nóc trốn vậy đó. Đợi lửa nó cháy cũng lên tới đó.
Cái nhà mà đang cháy, leo lên nóc có an toàn không? Thì nó bền hơn ở dưới gầm sàn chứ. Tôi nói thiệt, lửa ra ngoài cửa nóc thì nó cháy, mà nếu nó không cháy tới mà ở dưới nó sập thì cái nóc cũng rớt xuống, cũng là chết. Thành ra mình tu hành mà không có thấy chỗ này, mình cứ tưởng là lên nóc nhà an toàn. Thật ra mình đam mê trong thiền định, kiến thức Phật pháp thì nó là cái trên nóc đó. Nó ngon hơn cái đứa mà đam mê danh lợi, sắc tài tình ở dưới gầm sàn chứ. Nhưng mà cái con đường đạo lý của chúng ta chính là cái con đường mở cửa vọt ra ngoài sân, ra khỏi cái đám cháy, chứ không có loanh quanh luẩn quẩn. Nó cháy kệ nó, con đường ra khỏi nhà mới được. Con đường giải thoát không có vụ mình trèo lên hay tụt xuống, mà là mình đi ra. Bởi vì nhà đang cháy mà trèo lên tụt xuống cũng vậy thôi.
Như vậy thì để trả lời câu hỏi của ông tu sĩ, ngài đang nghe ngài nói, ông hỏi chứ con đường nào là con đường đẹp nhất và ai là người xứng đáng nhất để tuyên thuyết một cái giáo thuyết? Thì nhớ là cái giáo thuyết đẹp nhất chính là giáo thuyết dẫn đến sự lìa bỏ tham sân si, và người xứng đáng nhất để tuyên thuyết một cái con đường hành trì lại cũng là cái người tối thiểu đang trên con đường lìa bỏ tham sân si.
Nên biết một con đường thành trì lại cũng là cái người tối thiểu cũng đang trên con đường lìa bỏ tham sân si. Tôi nhắc lại lần nữa, tham sân si nó có nhiều cấp độ, nhiều chủng loại. Tham sân si cấp thấp thì đưa mình vào bốn ác đạo. Tham sân si cao đưa mình vào các cõi dục, cõi sắc, nhân loại. Tham bậc cao nữa nó đưa về các cõi Phạm Thiên. Đa phần chúng ta, biết đạo hay không biết đạo, là cứ quẩn quanh trong cái niềm đam mê. Hễ có đam mê thì là có khổ. Tập ở đâu thì khổ ở đó. Phải luyện tập khi nào hết Tập đó thì mới hết Khổ. Sống trong ba cái nhận thức này được gọi là đang có mặt trên con đường thoát khổ. Đây là nội dung vắn tắt, quý vị nghe kịp không?
Tiếp tục, tôi không biết nói như vậy quý vị có nghe kịp không, có theo dõi kịp không? Nội dung nó gọn như vậy đó. Nghe gọn như vậy mà cứ nghe đi nghe lại. Bây giờ quý vị để ý, mình đơn giản đang học phần ba pháp chi mà nó tăng dần lên mười một chi. Nếu học một thời gian mà mình không nhanh thì học mỗi ngày nhìn nó nản lắm. Nhưng sở dĩ trong thời gian này tôi dạy mỗi ngày là bởi vì tôi biết trước thời gian sắp tới đây có thể tôi sẽ vắng mặt. Không có gì mờ ám bí mật, mà bởi vì công việc, có những chỗ ở không được tiện, không có chỗ ngồi, những chỗ đó ồn người ta đang thi công, rồi chật chội không có chỗ ngồi như ý. Bối cảnh này thấy hay nè, tự nhiên nhìn thấy muốn nói, bối cảnh nào mới nói được.
Bài kinh tiếp theo là kinh Mahanama. Quý vị nhìn lại ông này chút xíu. Ông này là một người chú họ của Đức Thế Tôn. Chuyện đời của ông này cũng ba chìm bảy nổi. Ông là một người dòng Thích Ca mà bị tàn sát, ông tự trầm luôn. Tình trạng vẫn còn mái tóc, còn vợ chồng con cái cũng vậy luôn, xuống hồ nước mà chết. Nhưng do cái ba-la-mật của ông, kiếp đó là kiếp cuối rồi, bây giờ thì không có cách chi mà chết được. Khi chưa đắc thì không có cửa nào chết, đắc quả xong thì muốn chết kiểu gì cũng được. Nhưng hồi đó là khi chưa đắc, không có cách gì chết, cho nên ông cột cái búi tóc lên trên đầu, ông nhảy xuống hồ định tự trầm.
Nói tiếng Việt mình bây giờ, sau bao nhiêu năm, chữ nghĩa mình xài đôi khi chưa chuẩn. Tự sát kiểu gì cũng gọi là tự vẫn. Mình nên tra cái chữ tự tử và tự sát, chứ còn xài chữ khác dễ nhầm lắm. Chữ vẫn có nghĩa là rơi từ trên cao xuống. Tự vẫn có nghĩa là không phải do ngẫu nhiên, không phải do người khác xô đẩy mà do chính mình chọn chuyện rơi xuống để chết. Đó là tự vẫn, nghĩa là tự sát bằng cách gieo người xuống từ chỗ cao. Còn tự treo cổ mà người ta không thích, lúc đầu có người còn xài chữ tự khổ trong ngoặc kép. Có nghĩa là người xài biết mình xài sai như vậy mang tính hài hước, nhưng từ từ nó xóa ngoặc kép đi và bây giờ trong nước xài phổ biến chữ tự khổ, có nghĩa là mình...
Hoặc ép đi, và bây giờ trong nước xài phổ biến cái chữ cưỡng hôn. Nó có nghĩa là mình hôn người ta khi người ta không thích, forced kiss, mình hôn người ta. Các vị không tin thì vào Google đánh hai chữ cưỡng hôn coi có phải như vậy không nhé.
Còn chữ tự trầm có nghĩa là tự mình nhảy xuống nước để chết. Tự trầm, tự tử, tự vẫn, tự sát. Như ông Channa cũng nhảy như vậy, nhưng ông không chết được vì lúc đó vừa chứng quả, cho nên Long Vương mới rước ông xuống dưới thủy cung, sau đó mới trở lên rồi xuất gia. Đây là nói về ông này, ông là một trong những nhân vật đại đệ tử của Phật giáo. Ngoài việc hộ trì Đức Phật và Tăng đoàn, ông còn là tác giả của những câu hỏi rất hay, không chê vào đâu được. Đó là những câu hỏi thiết thực và rất quan trọng cho hàng cư sĩ nói chung và tứ chúng nói riêng.
Ví dụ, ông hỏi về cách hộ niệm cho người cận tử ra sao. Hiện nay, có một thực trạng là người ta đã đến hơn nửa tuổi thọ rồi mà không nghe kinh kệ, chỉ đợi đến lúc cận tử mới nhắc quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Cứ nhồi nhét vào tai vong linh, làm như vậy là kiểu ngoại đạo. Tôi nói thẳng luôn, việc hộ niệm cho người cận tử là phải giảng cho họ nghe. Còn nếu họ không nghe được thì nên giữ sự im lặng. Đằng này, người ta cứ đánh chuông, gõ mõ, làm náo động không gian yên tĩnh. Rồi con cháu khóc kể, kêu réo. Người tụng lẫn người nghe đều không hiểu gì hết, như vậy là bậy. Vậy mà đến bây giờ, người ta vẫn cứ tụng như vậy.
Ông hỏi Thế Tôn về cách thức hộ niệm cho người cận tử. Ông thưa: Bạch Thế Tôn, nếu vì tai nạn bất trắc mà con ra đi trong một tình trạng hoảng loạn, không kịp chuẩn bị, thì sự tái sanh của con sẽ ra sao?
Lúc đó, có một con voi đang trong mùa phát dục. Loài vật có mùa, như chó tháng bảy, mèo tháng ba, nhưng con voi khi phát dục thì rất kinh khủng. Có câu nói rằng trên đời này có ba đối tượng khó kham nhẫn nhất: một là vị vua khi bị xâm phạm lãnh thổ, hai là người phụ nữ khi bị cướp mất tình cảm, ba là con voi khi đang phát dục. Lúc đó, nó không kiểm soát được, phá phăng chuồng trại.
Có bữa đó, con voi đang lên cơn, nó phá chuồng, bứt xích chạy ra ngoài phố, quăng quật và giày xéo biết bao nhiêu người. Ông Mahanama đang trên đường đến lễ Phật nghe Pháp, vệ sĩ phải đưa ông vào chỗ an toàn để lánh nạn. Sau khi người ta khống chế được con voi, ông đến gặp Phật và kể lại chuyện đó. Ông nói: Nãy con có suy nghĩ thế này, không biết nếu mình ra đi trong tình trạng bất trắc và hoảng loạn như vậy thì con sẽ đi về đâu? Những câu hỏi đó đã được Đức Phật trả lời.
Nếu đi mà bị trong tình trạng bất trắc, hoảng loạn như vậy thì con sẽ đi về đâu? Những câu đó Đức Phật đã trả lời rõ ràng. Cái chết bất trắc thì làm sao mình nói trước được, không ai học được chữ ngờ. Nhưng với một người mà bình sinh liên tục sống hết mình ở trong Pháp, trong tâm luôn có Phật Pháp thì sao? Ngài nói rằng người này giống như cái lu dầu. Khi cái lu dầu qua sông, lỡ vì lý do nào đó mà cái lu bị bể, thì những mảnh vỡ bằng gốm sẽ chìm xuống đáy sông, nhưng dầu thì cứ nổi lên.
Ví dụ về kẻ tu hành giống như lu dầu vậy đó. Có chuyện gì xảy ra thì những mảnh vỡ cứ chìm xuống đáy sông đáy biển, thân xác có thể tan tành như tai nạn máy bay, xe cộ, nhưng phần dầu nó cứ nổi lên. Tôi đã nói không biết bao nhiêu lần, nước có ba dạng: chất lỏng, chất khí và chất đặc như là đá hay tuyết. Ở dạng lỏng, nước luôn có khuynh hướng tìm về chỗ thấp. Nhưng ở dạng hơi, dạng khí, thì nó luôn luôn bốc lên. Dù mình có đè nén cỡ nào, như trong cái nồi áp suất, mình che chắn kín kẽ đến mức nào đi nữa, mà đã là hơi nước thì nó tìm đủ cách để bay lên.
Tâm tu hành mà nhẹ nhàng thì chết kiểu gì nó cũng bay lên. Chết trên cạn, chết dưới nước, chết trên lộ, chết trong nhà, hay thậm chí chết trong nhà vệ sinh, thì tự nhiên nó cũng bay lên thôi. Cho nên, giả sử có phải ra đi đột ngột thì cõi tái sinh của con sẽ ra sao? Ngài nói rằng người nào có tu hành thì giống y chang như cái lu dầu khi đi qua dòng sông sinh tử. Mảnh vỡ gốm sứ có thể chìm xuống đáy sông, nhưng dầu thì cứ nổi lềnh bềnh trên mặt nước.
Đó là bài kinh Mahanama. Ông hỏi: "Bạch Thế Tôn, cư sĩ chúng con làm sao có thể giúp người cận tử?". Đừng có lựa mấy cái cao siêu, mơ màng. Ngài nói trải nghiệm thực tế là sao? Nếu người đó hôn mê không biết gì thì coi như không có chuyện để nói ở đây vì họ như khúc gỗ rồi. Nhưng nếu họ còn nghe được, hiểu được, nhận thức được thì hãy nói như thế này: "Bố ơi, mẹ ơi, việc nhà đã có người lo. Đừng nghĩ rằng mình ra đi thì thế giới này ngừng quay. Mình lo cho đã rồi khi mình mất đi, mặt trời vẫn mọc, nắng gió mưa sương vẫn xuất hiện, thế giới vẫn bình thường."
Trước khi ra đi, hãy nhớ rằng thân xác này đã quá mệt mỏi, quá cũ kỹ, đang đau đớn, già nua và xấu xí, không còn đáng để luyến lưu nữa. Bây giờ nếu bố mẹ có lòng tu hành thì coi như đang đổi đồ mới tốt hơn. Tôi nói thật với quý vị như vậy.
Bây giờ nếu bố mẹ có lòng tu hành thì coi như đang đổi đồ mới tốt hơn. Tôi nói thật, những lần đau đớn tôi nghĩ dù chuyện lâu quá không đổi qua hàng mới thì cái này nó cũng bị hư rồi, nó bị quá hạn rồi. Tám chục tuổi mà rệu rã hết rồi, còn tiếc sao? Mình có tu, mình có tin chứ. Nó rệu rã rồi, viêm gan, thận, khớp bù loong không còn tán nữa, nó tiêu dùng hết rồi còn cái gì nữa. Nếu tại mình sống u mê quá nên sợ chết, sợ bỏ con bỏ cháu.
Tôi biết một bà cụ ở bên Houston, bác sĩ kêu mổ nhưng nói phần trăm thành công hơi thấp. Bà nói như vậy chết làm sao được? Cuối cùng bà cũng đi, mà trước khi đi bà còn sang Florida. Chín mươi mấy tuổi mà không dám ngủ, quý vị biết không? Chỉ khi nào mệt lả tự đi vào giấc ngủ chứ bà không dám dỗ giấc ngủ vì sợ chết rồi bỏ lại con cháu. Bà thương đứa cháu cố lắm, thương hai đứa cháu nội lắm, mấy đứa con bà cũng thương lắm. Bà mất năm chín mươi tám tuổi. Những đứa con bà tôi thấy là muốn đi lúc nào thì đi rồi, vậy mà bà còn sợ. Khi mình chưa sẵn lòng ra đi thì đi nó nặng nề, khổ lắm.
Sẵn bài kinh này tôi nói lạc đề một chút nhưng có lợi. Hỏi hộ niệm sao cho người mất? Bây giờ dù có lo cho cố, dù trái đất ngừng quay thì cũng phải bỏ cái cục nợ này đi. Bỏ cái chén đất mà đổi lấy chén vàng, đó là một sự chuyển đổi thông minh đúng không? Cõi nhân loại này không đáng gì đâu. Trong kinh có kể, cõi Tứ Thiên Vương hơn cõi người trăm lần, cõi Đạo Lợi hơn cõi Tứ Thiên Vương gấp trăm lần, cõi Dạ Ma hơn cõi Đạo Lợi gấp trăm lần, cõi Đâu Suất hơn cõi Dạ Ma gấp trăm lần, cõi Hóa Lạc Thiên hơn cõi Đâu Suất gấp trăm lần, cõi Tha Hóa Tự Tại hơn cõi Hóa Lạc Thiên gấp trăm lần. Cõi Phạm Thiên thấp nhất cũng hơn cõi dục thiên cao nhất gấp trăm lần.
Thưa bố mẹ, dầu có tái sanh vào cảnh giới nào đi nữa thì so với quả vị Tu-đà-hoàn nó cũng không bằng một phần trăm. Còn sanh tử là còn đau khổ, bố mẹ hãy nghĩ đến sự sanh diệt của danh sắc để lìa bỏ sanh tử. Nãy giờ tôi giới thiệu các cõi cho vui, cái quan trọng là bố mẹ phải dọn đường luôn chứ đừng có lòng vòng. Cách hộ niệm là như vậy, từng bước dìu đi giống như hướng dẫn trẻ em.
Ông Nam-ma trong lúc chưa xảy ra tai nạn, chưa xảy ra vụ giết cha, ông là tác giả của mấy câu hỏi này. Phật tử mình thì sợ kinh điển, không dám cầm cuốn kinh. Cứ vô chùa nghe nói muốn có trí tuệ thì bỏ tiền thỉnh kinh, thỉnh xong đem về thờ cho vui, tới hồi chết mấy năm liền đi chùa mà chưa từng đọc một chữ nào.
Đi chùa mấy năm liền, chỉ muốn cầm mấy cuốn kinh mà coi như chưa có đọc tờ giấy nào luôn. Coi như mình giữ cái bọc bao nhiêu lâu chưa có xé, đem về chất đầy nhà. Bao nhiêu cái tinh hoa trí tuệ của Đức Phật nằm trong đó mà mình có nhìn tới đâu. Bao nhiêu những câu trả lời hay cho những cái thắc mắc ngàn đời của mình, mình không tìm ở đó, cứ đi tìm kiếm đâu đâu, chờ đến hồi chết rồi con cái nó xử lý.
Cho nên đây là những bài kinh rất là quan trọng. Hôm nay cũng như thường lệ, đến gặp Phật để mà thỉnh pháp, để mà vấn đạo. Vấn đạo là: Trí đến trước hay Định đến trước? Quý vị biết rồi, đối với người tu trong hành trình chứng đắc thì Trí đến trước hay Định đến trước? Ngồi thiền ngồi chưa tới cũng thắc mắc, không biết cái này có từ trước hay bây giờ mới có, cứ chuyển qua chuyển lại hoài câu hỏi này.
Ở đây có chuyện mình cần lưu ý. Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn vừa mới bình phục sau một cơn bệnh. Dầu là bậc Chánh Đẳng Giác nhưng Ngài cũng mang cái thân bốn đại. Cho nên ngày hôm nay, ngài A-nan nóng ruột. Ngài thấy câu hỏi này, thứ nhất là Thế Tôn cần nghỉ ngơi. Thứ hai là câu này biết là Ngài hoàn toàn có thể trả lời thỏa mãn. Thứ ba, ngài A-nan biết cái tâm của ông này không cần thiết phải làm phiền Thế Tôn. Nếu là mình, mình sẽ nói ngay: Thôi, để cho Ngài nghỉ ngơi.
Ngài A-nan thương Đức Thế Tôn vô điều kiện. Có những ví dụ như khi Thế Tôn khát, ngài A-nan đi tìm nước. Hay lúc đêm cuối cùng sắp tịch diệt, ngài A-nan hầu Phật, lo lắng cho Thế Tôn lắm. Quý vị nhớ chuyện con voi điên đến tấn công Đức Phật. Ngài A-nan là ai? Ngài là bậc đã chứng đạo quả chứ không phải tầm thường. Ngài hơn ai hết, nhớ rất rõ Thế Tôn là bậc bất khả xâm phạm, đao thương bất nhập, bách độc bất xâm. Không có gươm giáo vũ khí nào, không có loại độc nào có thể xâm phạm được bậc Chánh Biến Tri. Ngài biết chứ, nhưng bằng một phản xạ tự nhiên, bằng một tấm lòng hướng về Đức Phật, khi thấy con voi điên từ xa lao tới, phản xạ đầu tiên của ngài là bước tới chắn trước Đức Phật.
Thế Tôn bảo: A-nan, bước ra sau. Ngài A-nan không bước. Đó là lần đầu tiên mình thấy ngài A-nan cãi Đức Thế Tôn. Ngài A-nan cứ bước ra phía trước, Thế Tôn bảo bước ra sau mà ngài không bước. Quý vị biết, Thế Tôn phải thi triển thần thông để chuyển ngài A-nan ra phía sau. Ngài A-nan đang đứng yên làm như vậy, bỗng nhiên không nhìn thấy mình lại tiếp tục đứng ở phía trước nữa. Con voi thì to như cái núi, lao tới hung hãn vô cùng.
Nalagiri, nó to như cái núi, lông của nó lưa thưa. Cái lưng của nó nhìn mình liên tưởng đến cái đồi cao. Trên đời này không có cái gì đẹp bằng, nó xuyên qua những cồn cát, có những đồi cao đẹp lắm. Khi Nalagiri sần sùi tiến tới, Ngài rải từ tâm đến cho nó được an lành, đừng sống trong nhân xấu và quả xấu. Khi nó chạm vô bức màn từ tâm của Ngài, nó quỵ chân xuống. Quanh thân nó tràn ngập một cảm giác mát lạnh, dễ chịu đến mức nó mất đi toàn bộ các ý tưởng hung sát.
Nó đang lao tới với tốc độ của hai đoàn tàu hỏa nhanh nhất thế giới, nhưng khi chạm vào từ tâm của Thế Tôn, nó quỳ xuống, nghe mát lạnh. Nó quỵ xuống kiểu đó, Thế Tôn nói một câu: "Voi không thể hại Thế Tôn được. Vua của các loài voi không thể hại Thế Tôn." Từ đó nó hiền như một con mèo ướt.
Người ta trả lời chuyện Ngài Ananda trả lời thay vì hai lý do. Thứ nhất là Ngài thấy Đức Phật đang muốn nghỉ ngơi. Thứ hai là câu hỏi của ông này Ngài giải quyết được, không nhất thiết phải làm phiền tới Thế Tôn. Ngài biết rõ Ngài chỉ là vị Hữu học, Ngài biết là Ngài có thể trả lời trọn vẹn câu này, mặc dù Ngài chưa phải là bậc A-la-hán. Trong tâm thái khiêm tốn của một vị Thánh nhân, Ngài trả lời câu hỏi này một cách rất khiêm tốn. Ngài khơi mào câu trả lời đứng từ góc độ của một vị Hữu học.
Ông hỏi: "Con biết là không có Định thì không có Trí, nhưng con muốn hỏi cho chắc chắn là Định tới trước hay Trí tới trước trong quá trình tu chứng?" Ngài mới trả lời một đoạn dài, toàn là nói về Học và Tuệ. Ngài nói về Bát Chánh Đạo, về Định hữu học, Tuệ hữu học, Định vô học, Tuệ vô học.
Với một người học A-tỳ-đàm sẽ hiểu như thế này: Mình còn là phàm thì mình ác cỡ nào, mình thiện cỡ nào, mình cũng chỉ là những giọt nước mưa rơi xuống trong các khu rừng rậm. Khi mình còn là phàm, chuyện ác hay chuyện thiện giống như những giọt nước mưa rơi trong rừng. Mà nước mưa rơi trong rừng thì có bao nhiêu ngõ để nó đi? Nó dính lại trên cành lá rồi bốc hơi, hoặc nó thấm vào thân cây.
Nước mưa tủa xuống rừng nó có bao nhiêu ngõ. Nó đi thì nó dính lại trên cành lá rồi bốc hơi. Một mớ nó thấm vào thân cây, một mớ nó thấm xuống đất, một mớ thì nó đi vào sông ngòi suối lạch. Cho nên đối với hàng phàm và bậc Thánh hữu học thì sao? Một khi mà các vị đã chứng Thánh tối thiểu là Tu-đà-hoàn rồi, các vị chỉ còn có một con đường duy nhất để đi. Nếu mà phải tái sinh thì chỉ còn tái sinh vào các cõi lành, đó là Dục thiên hoặc là Phạm thiên. Còn nhân loại, Dục thiên và Phạm thiên, đường đi chỉ có một hướng.
Thứ hai nữa, nói về tái sinh rồi nói về tâm tư, thì vị này chỉ còn có một con đường duy nhất là hướng tới các tầng Thánh cao hơn. Đó là lý do vì sao tầng đầu được gọi là Sotapatti hay là Sotapanna, có nghĩa là người đã bước vào một cái dòng chảy không thể quay lui và không thể rẽ hướng sang lối khác. Sota là stream, còn Apannaka có nghĩa là không sai chạy, nghĩa là người đã bước vào dòng chảy thì không quay lui nữa, không thể tuột xuống thấp cũng không đi vào hướng khác, chỉ có một đường thẳng mà đi.
Cho nên Ngài không cần nói nhiều về quả vị Vô học A-la-hán mà Ngài chỉ nói về Tu-đà-hoàn hữu học là đủ rồi. Một khi đã vào dòng chảy thì không có đường quay lui. Trong khi đó, đối với phàm phu thì giống như là nước mưa trong rừng. Trên trời rớt xuống thì một hướng, nhưng xuống trái đất rồi thì nó đi tùm lum hết. Đứa thì quẹo vô đất, đứa xuôi theo sông ngòi suối lạch, đứa thì dính lên lá cành bông trái rồi bốc hơi. Nhưng riêng nước mà đã vào máng xối trên mái nhà thì nó đi đâu? Nó xuống xối. Mà đã vào máng xối rồi thì chỉ có một con đường đi. Chủ nhà muốn nó đi về hướng nào thì nó đi về hướng đó.
Cho nên mình mới nói bậc Dự lưu là đã vào dòng chảy là như vậy. Ở đây Ngài không nói theo kiểu máy móc là Giới có trước, Định có sau. Nếu trả lời Giới năng sinh Định, Định năng sinh Tuệ thì không phải là sai, nhưng nó rất cạn cợt. Đó là mẫu giáo mới trả lời một chiều như vậy. Ở đây Ngài lại nói thế này, các vị nghe kỹ: các pháp hỗ trợ cho nhau theo chiều ngang. Đôi lúc trong mô tả nghe chừng như chiều dọc, nhưng thật ra là chiều ngang, có nghĩa là đồng bộ, simultaneously. Vì khi mô tả thì mình nghe như có cái trước cái sau theo hàng dọc, nhưng thật ra nó là hàng ngang, là đồng bộ hết.
Tại sao? Do có trí người ta mới tu Định. Kẻ không có trí thì không có khả năng định tâm. Nhưng nhờ Định nên nó lại tạo ra cái trí cao hơn, cái biết trùm lên. Các vị hiểu giùm tôi, nhờ có trí tôi mới không đi săn bắn, câu cá, bài bạc, nhậu nhẹt mà đi ngồi thiền. Khi có Định thì mới có đắc, mà có đắc thì cái trí mới cao hơn.
Bỏ câu cá, bài bạc, nhậu nhẹt đi ngồi thiền đúng không? Khi mà có giới thì mới có đắc, chứ không có giới thì đắc được sao? Cái đầu còn sân si thì chưa phát hiện được. Như vậy, giới mới tạo ra định, nhưng từ định nó lại tiếp tục đẻ ra trí. Trí của người sau khi thiền lại thấy được cái định của thiền. Từ cái định của thiền lại nảy sinh trí của người hành thiền. Từ trí thiền nó lại bảo hộ cái giới. Giống như câu: kỳ nhông là ông kỳ đà, kỳ đà là cha cắc ké, cắc ké là mẹ kỳ nhông, mà kỳ nhông lại là ông kỳ đà. Nó cứ đi vòng vòng như vậy. Cho nên mình không thể trả lời một chiều. Nếu trả lời một chiều thì những cái chung đó mình không bao giờ hiểu được. Nghe kịp chưa?
Cho nên Ngài không nói theo một mô thức mà mình hay nghe là Giới sinh Định, Định sinh Tuệ. Trong cách trả lời ngắn gọn này, nếu đọc bên chú giải mới thấy chúng hỗ trợ nhau theo các chiều. Chiều ngang một so với chiều ngang hai thì nó là hàng dọc. Chiều ngang một hỗ trợ cho chiều ngang hai bằng hàng dọc, nhưng những thiện pháp trong mỗi chiều ngang đó lại hỗ trợ nhau bằng sự đồng bộ. Lúc một sang lúc hai thì nó hỗ trợ theo kiểu hàng dọc, nghĩa là sự tu tập của tôi ngày hôm qua hỗ trợ cho sự tu tập của tôi ngày hôm nay theo kiểu hàng dọc. Nhưng những thiện pháp đang tu tập ngay bây giờ và tại đây, right here and right now, thì nó lại là hàng ngang. Không thể nào nói một chiều cái nào có trước, cái nào có sau.
Sáng nay không nghe bài kinh này, cứ ngồi đấy làm gỏi cuốn. Có một câu chuyện trong truyện phiếm là có một thiền viện rộng hai chục mẫu đất, ngẫu nhiên có một con suối cắt ngang. Ngài thiền sư Viện trưởng mới đặt một cái cầu bắc ngang con suối đó. Một bên là bờ mê, một bên là bến giác. Bờ mê thì gồm nhà bếp, phòng ngủ cho khách. Còn bến giác thì có thiền đường, thiền viện, chỗ ở của chư Tăng. Ngài hỏi ông thị giả: "Sao bây giờ đi đâu mất rồi?". Sáng nay qua bên bờ mê hết rồi, vì đang đổ bánh xèo. Tu là một chuyện, nhưng nghe nhắc tới ăn bánh xèo tập thể, người chuẩn bị bột, người lặt rau, người làm nước chấm, xôn xao trong nhà ngoài ngõ là vui lắm. Khoảng ba bốn chục người mà chuẩn bị đổ bánh xèo tập thể thì sung sướng lắm.
Ở đây, câu trả lời này nhắm đến hai, ba chuyện. Thứ nhất là Ngài trả lời rất khiêm tốn. Ai dừng nghe hoặc tình cờ nghe lại sẽ thấy Ngài trả lời khiêm tốn, không có huênh hoang, không nói vung vít để cho người ta mơ hồ. Ngài là bậc...
Trả lời rất khiêm tốn, ngài không có quan liêu, vung vít mà nói ào ào để cho người ta mơ hồ không biết ngài là ai. Ngài trả lời rõ ràng cho biết là: tôi chưa là La-hán. Ngài chỉ nói cho biết rằng tôi chưa phải là La-hán, đó là thứ dễ thương nhất.
Cái thứ hai của câu trả lời này là ngài không nói rõ cái nào đi trước cái nào, mà ngài chỉ vẽ một cái đường đi. Có thể chưa đạt được như vậy, đọc không hiểu vì sao cái nào trước cái nào sau. Mình thấy rõ ràng ở đây là giải pháp trong từng phút thì hỗ trợ đồng bộ, nhưng thành tựu trước hỗ trợ thành tựu sau bằng hàng dọc. Trong mỗi thành tựu đó, mọi thứ hỗ trợ nhau bằng hàng ngang. Bây giờ hiểu chưa? Nếu như vậy chúng ta không nên nói một chiều là cái nào có trước cái nào. Nghe kịp không?
Giải thích theo hàng dọc trước: Vị tỳ-kheo có giới hạnh, nhờ có giới thanh tịnh hỗ trợ cho sự vắng mặt của năm triền cái rất nhiều. Bởi vì sao? Vì có giới thì coi như trấn áp ít nhiều tham dục triền cái, sân triền cái, hôn thụy, trạo cử, hối quá. Nhờ sự vắng mặt của năm triền cái cho nên tuệ mới có mặt. Tuệ có mặt để soi rọi bằng cách hàng dọc là như thật quán tri: đây là Khổ, đây là Tập. Nếu một người còn sự chi phối của năm triền cái thì không thể thấy được mọi thứ là khổ. Nghe kịp không? Phải có sự vắng mặt của năm triền cái.
Khi có giới, có định thì vị đó mới thấy nên ngài mới nói là phải có định tâm. Chính cái định nó hỗ trợ cho niệm. Nếu mình nói tu mà không cần định là sai. Có thể không cần những tầng thiền định cao siêu, nhưng phải có khả năng định tâm tối thiểu thì cái niệm đó mới làm việc tốt được. Định và niệm là một cặp, định hỗ trợ cho niệm. Nhờ có định giúp cho năm triền cái vắng mặt, hành giả mới thấy ra những điều sau đây:
Thứ nhất, chính vì định có tác dụng đối trị năm triền cái nên nó mới làm nền cho trí tuệ. Trí tuệ thấy gì? Thấy cái gì mình thích cũng là khổ, cái mình ghét cũng là khổ, vui nào cũng là khổ. Thiện nào cũng là khổ, ác nào cũng là khổ. Hễ còn đam mê trong thiện ác buồn vui là tiếp tục tạo ra sinh tử. Muốn hết sinh tử thì không còn đam mê trong thiện ác buồn vui. Sống bằng nhận thức này được gọi là đang có mặt trên con đường thoát khổ. Trí tuệ này chỉ có được khi anh có định. Định hỗ trợ cho niệm, niệm làm nền cho tuệ. Nghe kịp không?
Nếu nói như vậy, rõ ràng quan hệ giữa định và tuệ là quan hệ hàng dọc, định có trước. Nhưng trước khi có định, một người không có trí tuệ thì có tu định được không? Một người không hiểu biết gì thì tu thiền khổ quá đi trời.
Nó có đi, nó có thủ lĩnh không ta? Tu định được không? Cái thằng nó ngu như chó thì tu thiền khổ quá đi trời đất. Người ta sẽ hỏi tôi như vậy: Tại sao con không đi đánh bài, tại sao con không đi theo trai, tại sao con vô đây nghe pháp? Đó có phải là do trí hay không? Không có trí thì làm sao mà mình chọn con đường tu.
Chưa nói đến việc nếu không có trí dụng thì làm gì có cái định hiệp thế, định đối đãi. Mà không có định đối đãi thì khó mà có cái trí siêu thế. Tôi nói cả buổi gãy cái lưỡi mà tôi hỏi ngược lại, trả lời ngu như vậy. Tại sao không đi đánh bài, tại sao không đi khiêu vũ, không đi nhậu nhẹt mà đã đi vô đây rồi, ngồi thiền ở đây làm cái gì? Thằng bạn nó xúi không? Chuyện đơn giản vô cùng.
Các con đường tu chứng, các điều kiện tâm linh nó hỗ trợ cho nhau theo cả hai hướng chiều dọc và chiều ngang. Nếu nói như vậy thì mình không thể trả lời một chiều là cái nào có trước. Quý vị nghe kịp không, hiểu được không? Cái quan trọng lắm đó là chuyện ngài Xá-lợi-phất. Ngài không có nói nhiều về cái trí, ngài chỉ nói là bậc Hữu học thôi. Đó là cách nói khiêm tốn, chứ thật ra ngài đã đủ rồi. Bởi vì Hữu học và Vô học cách nhau bao xa? Chỉ có ba phân, chưa tới bốn trăm cây số, chỉ có ba phân. Thời gian để đi qua bên kia chỉ có một sát-na.
Chúng ta cần biết là ngài Xá-lợi-phất và ngài Mục-kiền-liên đều là bậc đại trí ngang ngửa nhau. Nhưng sở dĩ ngài Xá-lợi-phất được xem là Đệ nhất trí tuệ, còn ngài Mục-kiền-liên là Đệ nhị, tại sao? Làm ơn mở Trung Bộ Kinh ra coi bài kinh Phân Biệt Thánh Đế để phân biệt giùm tôi. Trong đó nói rất rõ: Ngài Xá-lợi-phất giống như bà mẹ ruột của các tỷ-kheo, và ngài Mục-kiền-liên giống như bà vú nuôi của các tỷ-kheo.
Vì sao? Sở trường của ngài Xá-lợi-phất mà kể cả ngài Mục-kiền-liên cũng không sánh bằng, đó là chuyên gia hướng dẫn cho người ta từ phàm mà đắc Tu-đà-hoàn. Còn ngài Mục-kiền-liên thì có khả năng đưa người từ sơ quả lên tới tầng cao nhất. Hai vị này rất giỏi, cho nên hai vị này gần như một cặp bài trùng. Những người sơ cơ đưa vào là ngài Xá-lợi-phất làm việc trước, sau đó đưa qua cho ngài Mục-kiền-liên xử lý.
Cái mà mình nghe, mình thấy là người đắc quả Tu-đà-hoàn rồi thì chết ba trăm lần cũng dám chơi. Nhưng theo tôi, cái đó dễ hơn cái kia. Bởi vì khi đã vào trong dòng chảy rồi, mình chỉ cần nạp cái nữa là đi luôn. Nương theo dòng chảy thì nó dễ lắm. Nhưng cái khó nhất là đưa người từ bên ngoài dòng chảy vào được trong đó, cái đó là khó nhất. Còn khi đã ở trong dòng chảy rồi thì mình chỉ cần nhúc nhích ngón tay là đẩy nhẹ cái là vào luôn. Cho nên khi đọc kinh mình thấy tại sao hầu hết câu trả lời của ngài là như vậy.
Tại sao đoạn diệt? Nguyên cái câu trả lời mình thấy hầu hết là khi nó tận cùng rồi, không nhìn nó được nữa. Chỉ cần A-la-hán mà chứng vô, nó phải dừng hẳn là đủ rồi. Còn cái gì mảnh đất của ông được an khỏi, tận cùng nó bị ngăn không còn đường để đi. Cái người không còn thân kiến nữa thì còn đường nào để đi nữa? Nó giống như một chiếc xe luân hồi đã chạy mấy trăm ngàn triệu tỷ cây số, bây giờ xe lăn có vài mét nữa thôi. Cái xe đó đã thành sắt vụn, nó đã bị hỏng rồi, nó chết máy. Chẳng qua là do cái cớ của mấy trăm ngàn triệu tỷ cây số đó, bây giờ nó vĩnh viễn nằm lại.
Tôi còn nhớ đó là ở bên Thái Lan, khi xe nó không chạy nữa và cái đầu nóng khói, tôi nói với quý vị, lần đầu tiên tôi hiểu cảm giác mà tóc lông dựng ngược là thế nào. Khi cái số hữu lậu nó tràn tới đông như quân Nguyên vậy. Lúc này là bắt đầu mở cửa, làm trận đưa tay nhau là nó còn tra tấn, nhưng mà nó tiến lại gần cái chết, chỉ vừa đủ đưa mình ra giữa lộ thôi. Mọi thứ nó đã hư rồi. Tôi vẫn lặp lại: người đi trên bổn cũ, xe đã chạy mấy trăm ngàn triệu tỷ cây số rồi, bây giờ hết rồi. Chiếc xe nó đã hết xăng, hết nhớt, coi như khô máy, bao nhiêu bị hỏng hóc, bao nhiêu gãy nhíp gãy láp hết rồi. Bây giờ chỉ còn nhích thêm vài tua nữa, bánh lăn vài tua rồi là xong. Trong trường hợp đó, không còn chuyện gì để làm nữa hết. Cái này quan trọng lắm nha.
Về cái thấy Bốn Đế, đây là tôi nhắc lại biết bao nhiêu lần. Buổi đầu chưa tu hành gì hết, mình không phân biệt thiện ác, sống trong cái thế giới thiện ác tối tăm. Đứa ngu thì chìm trong tham sân si phiền não. Đứa khá hơn nằm mê man trong thập thiện và cầu cái cõi người, cõi tiên. Rồi khá hơn chút, ví dụ mình thấy rằng còn có thiện ác là còn có siêu đọa, mà còn có siêu đọa là còn có sinh tử. Cái này ghê gớm. Nếu sống ác thì đi vào bốn cõi đọa. Còn nếu đi theo cái đường thiện thì quẩn quanh trong các cõi nhân thiên. Khá hơn chút là bỏ cái dục giới đi mà lên tầng Sắc, bỏ tầng Sắc lên được tầng Vô sắc. Nhưng mà nó lại là sự quẩn quanh. Hễ còn thiện còn ác là còn quẩn quanh trong ba cõi sáu đường và bốn dòng sanh năm thú.
Người tu tập Tứ Niệm Xứ thì bước đầu họ chỉ hiểu mơ hồ thôi: đây là thiện, đây là ác. Thêm một bước nữa, họ sẽ thấy rằng thiện ác đều là nhân sinh tử. Chỉ vì họ không còn đam mê, tính niệm đang có mặt. Bước đầu hành giả tu Tứ Niệm Xứ chỉ quan sát mình đang đi, đang đứng, đang nằm, đang ngồi, đang giận, đang buồn, đang thích, đang ghét. Sau đó biết thêm nữa là đây là thiện, đây là ác. Rồi sau đó bỏ luôn tất cả mà chỉ còn biết là: đây là cái đang sanh diệt. Cái biết đang sanh diệt chính là giai đoạn này hành giả mới thấy là mọi thứ đều là khổ. Khi mình xác định đây là Khổ, đây là Tập, thì lúc đó chỉ thấy đây là Khổ. Trong đó bao gồm cả thiện và ác.
Nhớ cái đó, trong Bốn Đế không còn thiện ác nữa, chỉ còn có cái gì là Khổ, cái gì là Tập thôi. Ngoài tham ái ra, tất cả đều là Khổ. Phải nhớ như vậy. Đạo đế xét rốt ráo nó cũng là Khổ đế. Để tôi giải thích cho quý vị rõ hơn. Đạo đế là gì? Đó là các tâm sở đúng không? Các tâm sở nó có phải là khổ, nó có nằm trong khuôn khổ vô thường không? Các tâm sở nó còn nằm trong danh và sắc không? Còn. Vậy thì nó vẫn nằm trong Bốn Đế.
Khổ, vô thường không quay lại sau lưng. Sợ nó cứ còn nằm trong danh, nhà sách còn không coi, bóng đã chìm trong đó. Khi nào cần thì mình đem đi trồng, chứ lấy cái hột mình cầu mà mình không có trồng thì không có bằng cơm xoài đúng không? Mà mình trồng hột cho đúng không? Nhưng mà mình gọi chung là nguyên trái xoài. Chỉ có cái là mọi thứ đều là khổ hết, nhưng mà trong nguyên cái khổ này, khi nào nói đến Tập đế là ta rút riêng cái tham, cái thích trong khổ ra. Lấy riêng cái đó ra thì gọi đây là nhân sanh khổ, nó có cái tên đặc biệt là Tập đế. Rồi trong cái đống khổ đó, mới rút riêng ra nói cái này là con đường thoát khổ, gọi là Đạo đế. Hiểu không?
Bây giờ hiểu chưa? Phiền não tức Bồ đề, sinh tử tức Niết-bàn là một là ở chỗ đó. Nguyên cái cục khổ này nó cứ lăn lăn lăn lăn, mà mình cứ đè cái phần Tập đế mình nuôi cho mập ú ù, còn cái Bát Chánh Đạo này mình làm lơ, để nó teo tóp. Mình chỉ phát triển nó vừa đủ để mình sanh về cõi nhân thiên. Chánh kiến của mình, người ta mới dùng có hai, đó là tin nhân quả và biết tam tướng. Thì mình chỉ có một mẹo nhỏ là tin nhân quả để làm lành lánh dữ, để trốn khổ tìm vui. Hiểu không?
Còn cái Chánh tư duy là người ta muốn đến cái cứu cánh giải thoát. Chánh tư duy của mình chỉ vừa đủ để sanh về cõi người này. Mà đã vậy, lâu lâu mới sanh làm người, cho nên mới có vụ con rùa mù, nhớ không? Cho nên đó là lý do tại sao mình nghe Đạo đế, mình nhận ra những điều mà trước giờ mình chưa biết. Nhìn cái đám mây tối nguyên cả một vùng, bây giờ cơm gạo áo tiền nó làm cho mình ảnh hưởng cái đường tu học rất là nhiều. Nhìn cái hiện áp, mình nói đến pháp bố thí. Mình nghèo quá mình cũng phải đi làm, đến khi già quá không muốn đi tu nữa. Lúc bấy giờ vấn đề không còn nằm ở chỗ giàu nghèo, mà nó nằm ở ý chí, niềm tin, tàm quý. Cho nên pháp là lúc nào cũng cần hết. Nghèo quá mà phải đi làm là do thiếu bố thí, đúng không?
Nhưng mà khi có phước bố thí rồi thì sao? Ta đam mê, không có chuyện đi tu học. Phải có các pháp khác để mình được thỏa mãn về tài chính, để mình đặt chân lên con đường cho thoải mái. Khi thoải mái về đời sống vật chất rồi thì mình lại có đủ điều kiện tâm lý để chuyên tu, tinh tấn miên mật. Hiểu chưa?
Bài giảng này nghe lại không bằng nghe trực tiếp. Cái giọng của tôi nếu gặp mặt trực tiếp thì khác, còn nghe lại qua máy thì giọng nó chua, giọng kim, khó nghe lắm. Tôi nói lớn thì cứ nói đi, tiếc là không có viết nội dung lại chút xíu. Cái giọng nó oang oang, không biết có truyền cảm hay không. Bây giờ Cát Bụi còn nghe không? Hai đứa có nắm được bài giảng sáng nay không? Tôi nói lần nữa, tôi không bao giờ dại dột kêu gọi người khác nghe tôi giảng. Chỗ nào chưa hiểu thì hỏi.
Thật ra nói chuyện mà kêu gọi người khác nghe tôi giảng vì cả thế gian này không có kể được, nhưng mà chỗ nào là nội dung cần thiết thì tôi cũng phải bấm bụng nói thiệt. Cái bài giảng sáng nay mình đọc qua Chánh tạng, nhìn thấy không có gì khó hiểu quá, nhưng mà nếu dựa vào chữ nghĩa mà hiểu được bản chất là nó sâu sắc luôn.
Bây giờ tới kinh tiếp theo là kinh Lỏa thể. Sáng nay mình học về các loại tu sĩ bên Ấn Độ. Ấn Độ có nhiều loại tu sĩ, có những dòng tu sĩ ăn mặc kiểu trang phục, màu sắc rất đặc biệt. Nhưng có những kiểu tu sĩ coi như không mặc gì hết, tiếng Pali gọi là Acelaka, có nghĩa là lỏa thể.
Lý do lỏa thể, điều thứ nhất họ nói rằng: xưa nay hễ ăn ngon mặc đẹp thì phiền não mới có cơ hội được nuôi dưỡng, nảy sinh. Còn bây giờ ăn uống khó khăn khắc khổ mà còn không mặc gì hết, cho mày lạnh, cho mày nóng, cho mày chết luôn. Bây giờ cái thân này nó khổ quá thì phiền não không có cơ hội sinh sôi, chỉ lo đối phó với cái lạnh, cái nóng, côn trùng chích đốt. Vì phải chịu đựng, tập trung như vậy cho nên cái đầu không còn vướng bận lo cái vụ thích cái này ghét cái kia, theo đuổi hay trốn chạy cái này cái nọ. Họ có niềm tin như vậy, chứ không phải là dở như mình đang thấy. Vì ngoài Bát Chánh Đạo còn có những hình thức cực đoan như vậy. Đó là thứ nhất.
Thứ hai, người ta cho rằng mình sống ở đời thì càng nên hạn chế chuyện nợ nần. Một miếng cơm bỏ vào miệng là mắc nợ bá tánh, một miếng áo khoác lên người là mắc nợ bá tánh. Bây giờ mình ăn hạn chế tối đa, còn mặc thì khỏi mặc luôn, coi như giảm tối đa nợ nần. Giống như quốc gia nào cũng vậy, nợ nhiều quá thì khó phát triển. Nợ ngân hàng quốc tế, nợ nhiều thì khó phát triển đúng không? Cho nên họ chủ trương bớt nợ là tốt hơn.
Cái thứ ba, họ nói rằng mình càng có nhiều nhu cầu thì càng xâm phạm quyền lợi và sức sống của chúng sinh khác. Ví dụ để có một tấm vải mặc, biết bao nhiêu chúng sinh bị giết chết. Để vận hành các nhà máy thì phải có điện, máy móc cơ khí hoạt động, theo họ là làm chết biết bao nhiêu chúng sinh. Cho nên bớt được cái gì thì bớt để tránh giết chóc chúng sinh.
Tôi vẫn còn ăn mặc ngon lành nha, đây là tôi đang nói lý do của họ. Thứ nhất là họ hành thân để cho phiền não nó tiêu. Quý vị có biết tiêu thổ kháng chiến không? Vườn không nhà trống đó. Có nghĩa là khi nhà không có gì để ăn, không có gì để hái thì địch tràn vào, địch chỉ có nước nhăn răng. Họ tu lỏa thể là kiểu tiêu thổ kháng chiến, làm cho cái thân này khổ dữ dằn. Tôi nói lung tung không biết có người hiểu không, mà tôi nói luôn như vậy đó. Không hiểu mới ghê chứ.
Nói lung tung mà có người hiểu hay không mới là chuyện quan trọng. Tôi luôn nhớ điều đó. Không hiểu mới ghê chứ. Mục tiêu của việc nói nhiều là để bà con hiểu chữ Ni-kiền-tử đó là sao.
Hiện giờ ở Ấn Độ có Lục Đại Môn Phái, giống như trong truyện Kim Dung có Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga Mi, Không Động, Thanh Thành, Hoa Sơn vậy. Ấn Độ thời đó cũng có Lục Đại Môn Phái do sáu vị giáo chủ đứng đầu, ông nào cũng tiếng tăm lừng lẫy. Một trong sáu vị đó là Ni-kiền-tử Nhã-đề-tử. Ông này có ngoại hiệu như vậy vì nhiều lý do. Thứ nhất, người ta nói chữ Nigantha nghĩa là không còn thắt nút. Danh từ Hán Việt dịch là Ly Hệ, tức là lìa bỏ mọi sự ràng buộc.
Trong tu hành, buông bỏ càng nhiều càng tốt. Trình độ tu chứng của một người thể hiện qua khả năng buông bỏ, chứ không phải anh ta có được cái gì. Thành quả tu hành nên nhìn vào việc anh đã bỏ được cái gì, chứ không phải đang có được cái gì, kể cả về tinh thần hay vật chất. Thay vì nói tôi có giới, có định, có tuệ, thì không bằng nói tôi đã bỏ được bao nhiêu tham, sân, si, ái, mạn, kiến, nghi.
Hiểu như vậy thì có hai cách nói về tu hành: một là tôi đã có được bao nhiêu thiện pháp, hai là tôi đã bỏ được bao nhiêu phiền não. Cách thứ hai này hay hơn: buông càng nhiều càng tốt. Bên Cái Bang, người ta đánh giá cấp bậc qua số lượng túi. Một túi, hai túi là bậc thấp, đến tám chín túi là hàng cao thủ võ lâm. Nhưng ở đây không dựa vào túi, mà dựa vào khả năng buông bỏ. Buông cho đến khi không còn gì hết.
Sẵn đây tôi nói thêm một chút, hơi lạc đề nhưng quan trọng. Có người cho rằng quan điểm giáo pháp của ông này cũng giống đạo Phật, rồi đem ra so sánh ngang nhau. Nhưng giống là giống thế nào? Kiến thức toán học của một đứa bé lớp một với một ông tiến sĩ toán có điểm giống nhau không? Có chứ, nhưng đừng nghe nói có điểm giống mà cho ngồi chung một chiếu thì hơi kẹt.
Bây giờ, có người theo học nhưng chỉ theo trong lòng thôi. Trời biết, đất biết, con biết và thầy biết. Về mặt mũi của các đệ tử, bây giờ kêu đi theo bên kia thì cũng khó. Những người có tiếng tăm mà bây giờ giải tán để về bên đó hết thì cũng mất mặt quá. Ông thầy mới kêu hai người đệ tử lớn vô, nói với người lớn nhất: Ta từng nói với con là mọi thứ đều là vô thường, nhưng thật ra có cái vô thường và có cái vĩnh cửu. Mình tu hành là hướng tới cái vĩnh cửu.
Thứ đều là vô thường, nhưng lại ra đó có cái vô thường, có cái vĩnh cửu. Mình tu hành hướng tới cái vĩnh cửu. Ông thầy kêu đệ tử lớn nhất, rồi đệ tử số hai. Ông bảo: "Này anh em, mọi thứ ở đời là vui, buồn, sướng, khổ, người tốt, kẻ xấu, buồn vui đều vô thường hết. Nhưng mà mình đi theo cái thiện, dẫu nó vô thường nhưng mình đi theo cái vô thường thiện nó vẫn tốt hơn là đi theo cái vô thường xấu."
Nói xong cái ông tắt hơi. Ông thầy chết rồi thì hai ông đệ tử lớn này phải đứng lên giám quản giáo chúng đúng không? Thế là hai ông giành giật, chọi nhau. Ông số một nói rằng sư phụ đã từng giảng là trên đời này có cái vô thường, có cái vĩnh cửu, chúng ta lấy cái vô thường này để mà đạt tới cái vĩnh cửu, đạt được cái đời đời bất diệt. Ông kia bảo buồn vui đều vô thường, có điều là mình nên theo cái vô thường thiện hơn cái vô thường ác. Thế là hai người chọi nhau.
Chính vì chọi nhau cho nên không nhìn mặt nhau được nữa, rồi mới chia đôi giáo đoàn ra. Cái ngụ ý của ông thầy đó là tại sao mình chia rẽ? Là bởi vì muốn phân tán lực lượng, mà khi phân tán ra thì nó mỏng yếu đi, để cuối cùng tự hủy tự hoại. Nghĩa là không còn khả năng làm việc đó, nội dung không có. Chia tám, mười là đã yếu rồi, nhưng mà bây giờ nhiều người còn chia hay nữa, xẻ thành ra làm bốn người, tám người, rồi 16, 32, 64 phải không?
Đạo Phật mình mất tại Ấn Độ cũng là do cái vụ đó, cũng do cái vụ mà khi thầy tịch rồi anh em mới chia hai, rồi chia bốn, rồi tám, rồi 16, 32, 64. Đạo Phật mất tại Ấn Độ cũng vì cái vụ mà anh em chia rẽ. Tình hình này bây giờ nó đang tràn qua Thái Lan. Bây giờ mình thấy về mặt nổi thì nó rất cẩn thận, nhưng về mặt chìm là sự chia rẽ cực lớn. Quý vị thấy không bao giờ phát triển nổi, chỉ phát triển về mặt thương mại, phát triển về mặt ngoại giao thôi, nhưng về mặt giáo lý đã bị làm loãng.
Thiền mình dạy bằng một cái kỹ thuật, tôi không bàn về kỹ thuật đó là chuyện cá nhân, nhưng mà cái lý tưởng, nội dung hướng dẫn của đức Thích Ca là hoàn toàn không có. Họ đưa cho anh em cục pha lê, nhìn vào trong đó, nhìn làm sao thiết thực hiện ra con heo đất. Cái đoàn đạo sinh anh em nào cũng cầm cục sáng trưng, nói kiểu đó dễ tu mà. "Con là phụ nữ, con ham đẹp, ham shopping, con ham ăn ngon, làm cái này chỉ để đắc đạo." Cứ đến giờ con đến gặp sư phụ là cứ để cục pha lê trước mặt, nhìn vào thấy nó rực lắm là thành Phật rồi đó.
Dĩ nhiên có những người hội chứng đó, giống cái đó chỉ vì bệnh hoạn, ganh tị. Đệ tử của tôi chửi tôi là vì đệ tử của tôi nói với người kia là phải kiếm cái cớ như vậy để làm cho bằng được. Chưa kể là những ngôi vị quan trọng, quyền lực, người ta còn thích lên. Người ta thành công không dựa vào đạo hạnh, mà chỉ dựa vào ba chuyện: Một là có bị mang tai tiếng hay không, nếu không mang tai tiếng là có một cái lý lịch sạch. Thứ hai là có những đóng góp lớn lao nào cho xã hội, cho Phật giáo mà mọi người nhìn vào đều thấy. Thứ ba là có những quan hệ tốt với chính quyền, với các thành phần có quyền lực trong chính phủ lẫn các đại gia ngoài xã hội. Chỉ cần ba cái này cộng lại là vị đó đương nhiên có mặt ở trong giáo hội.
Quyền lực trong chính phủ lẫn các đại gia ngoài xã hội, chỉ cần ba cái này cộng lại là vị đó đương nhiên có mặt ở trong cái hàng ngũ gọi là hội đồng tăng già trưởng thượng của giáo hội Kỳ Na giáo. Như vậy là chết rồi. Quý vị thấy điều kiện đầu có mùi đạo một chút, có nghĩa là vị này không có cái quá khứ xấu đúng không? Nhưng mà cái chuyện mình không có xấu không hẳn mình là tốt. Người ta thường nói: cái này nó không đen chưa chắc nó màu trắng, nó có thể là màu xám hoặc là màu hường. Kẹt cái vụ đó. Tôi nói như thế để quý vị thấy rõ hơn, có thêm chút ít hiểu biết về ông Ni-kiền-tử Nigantha Nataputta.
Tiếp theo, Nigantha Nataputta là vì sao? Là vì ông này xuất thân cũng là con trai của một người quý tộc. Gia thế của ông, cái tên Nigantha có nghĩa là nội dung, là cái cương lĩnh giáo lý tu hành. Còn bây giờ, một vị khác trong Lục đại sư ngoại đạo là Makkhali Gosala. "Go" là con bò, "sala" là cái chuồng bò. Ông này khi mẹ ông chuyển dạ là đẻ ngay chóc cái chuồng bò. Cho nên lớn lên, ông lấy cái tên mẹ đặt nhưng gắn luôn cái chữ Gosala vào, nghĩa là ông đẻ ở chuồng bò. Ở Ấn Độ là bình thường, mình ở Việt Nam có văn hóa, có tâm linh trong nhận thức, mình nghe thấy hơi kỳ. Để chứng minh, ở Tích Lan có tới một tỷ vị tên là Anuruddha, một tỷ vị tên là Ananda, một tỷ vị tên là Vimala. Bây giờ không biết làm sao, người ta mới gắn cái tên bản quán của vị đó vào. Ví dụ như Anuruddha ở vùng này, Anuruddha ở vùng kia để không đụng với ông khác. Người xưa, người bên gốc đó họ như vậy.
Ông này có quan điểm giáo lý như sau. Thứ nhất, ông tự nhận ông là bậc Toàn tri, cái gì trên đời cũng biết. Đó là quan điểm thứ nhất. Quan điểm thứ hai, ông nói rằng sự có mặt của mình trong cuộc đời này, những buồn vui đều là do nghiệp cũ quá khứ. Cho nên hôm nay mình hạn chế, từ hạn chế cho đến triệt tiêu, không tạo ra nghiệp mới nữa. Nghe qua thì thấy giống như đạo Phật, nhưng có điểm khác. Triệt tiêu nghiệp mới bằng cách nào? Là hạn chế bớt động tay động chân, không có làm gì hết, không có làm cái gì đặc biệt hết, không bố thí, không sát sanh, không trộm cắp, cứ trần truồng ngồi đó. Bất cứ khi nào đi đứng nằm ngồi, ngủ thức, lúc nào cái trí đó cũng ngự trị trong ông hết. Thứ hai là ông nói rằng tất cả mọi sự có mặt ở đời này, buồn vui khổ lạc, nó đều do tiền nghiệp. Bây giờ mình không muốn có mặt ở cái cõi tào lao này nữa thì mình đình công toàn diện, không có làm cái gì hết. Đó là cái giáo lý của ông.
Mình đình công toàn diện, không có làm cái giống gì hết. Đó là cái giáo lý từ bên kia. Rồi bây giờ bên đây, Đức Thế Tôn - Sư phụ của Ngài - nói làm sao về vụ này? Bên kia tôi nghe nói như vậy, còn bên đây làm sao? Thì Ngài Anandā mới trả lời. Ngài nói là ở đây có nói đến con đường giải thoát, nhưng mà thông qua Giới, Tâm, Tuệ.
Thứ nhất là thanh lọc thân nghiệp rồi khẩu nghiệp bằng Giới. Trên cái nền tảng sạch sẽ của thân nghiệp, khẩu nghiệp ấy thì tâm mới là trong sạch bậc một, có nghĩa là lìa bỏ năm triền cái để tu chứng đắc các tầng thiền định. Đó là trong sạch bậc một. Trong sạch bậc hai là lìa bỏ cái niềm đam mê đối với các tầng thiền định, thậm chí bỏ luôn cái niềm đam mê trong tất cả cõi tái sinh. Thì đây mới chính là cái con đường mà chấm dứt nghiệp cũ lẫn nghiệp mới. Bởi vì đắc đạo là gì? Đắc đạo là xong cái nợ cũ mà không vay thêm cái nợ mới.
Mỗi vị La Hán mà đắc quả đó là xù không biết bao nhiêu nợ cũ. Quý vị tưởng tượng ví dụ như nghìn kiếp mới dẹp xong. Đức Thế Tôn khi mà Ngài Niết-bàn là có bao nhiêu cái phước Ba-la-mật mà Ngài hưởng chưa hết. Bốn tăng kỳ mà làm sao mười tám năm mà xài hết? Nhưng mà có một điều, trong mấy chục kiếp gần đây, Ngài tạo một mớ nghiệp xấu, còn trong vòng vây đó là còn quả trả.
Đạo Gia-na ở Ấn Độ gần 3.000 năm rồi. Bây giờ ở Ấn Độ, họ cất cái nhà theo cách là cái chân tường phải trống được càng nhiều càng tốt để cho gió đi qua, cái sàn nhà khỏi quét. Vì quét là sát sanh cho nên họ không uống nước trà, chỉ uống nước lọc. Tín đồ và tu sĩ đều uống nước lọc hết. Bây giờ là họ dùng cái vải lọc, lọc nước bằng vải luôn.
Hồi nãy tôi ví dụ tôn giáo chia làm hai phe. Đạo Gia-na khi phát triển thì có một phe chủ trương là Digambara, có nghĩa là mặc áo da trời, cứ mẹ đẻ làm sao thì để nguyên như vậy, không thêm bớt gì hết. Thứ hai là phe Svetambara, nghĩa là mặc đồ màu trắng giản dị. Có nghĩa là không có kiểu dáng đặc biệt, chỉ cần áo có tay, quần có ống là được rồi, và đặc biệt là không có nhuộm màu. Bởi vì số chúng sanh chết do quá trình làm vải là đã đủ để mình mắc nợ rồi, còn tạo nên quá trình nhuộm, dệt này nọ thì còn biết bao nhiêu tội nữa. Cho nên các vị mặc màu trắng cho nó bớt tội.
Cho nên hôm nay Ấn Độ có hai phe: một phe Svetambara là mặc màu trắng, rồi Digambara là không có mặc gì hết, chỉ lấy cái tay mà thủ thân thôi, hè hay mùa đông vị này cũng chịu đó. Phe thứ hai là Svetambara như mình chủ trương như vậy.
Nói cái này nhớ tới câu chuyện. Cô giáo hỏi mấy em học trò trong lớp: "Muốn người ta tha lỗi, em phải trước hết làm gì?". Học trò nói: "Dạ, trước hết mình phải phạm lỗi". Chính xác. Ở đây họ chủ trương không làm gì hết là không có lỗi. Nhưng mà mình muốn không có lỗi không phải là đứng yên không làm gì, mà chuyện đầu tiên là không làm bậy và anh đã làm những điều tốt. Nhờ cái tốt này nó mới trở thành nhiên liệu để mà nó đẩy hỏa tiễn anh đi. Thiện pháp này chỉ là khí helium để mà đẩy...
Tiễn ác rồi dẫn tới thiện pháp. Thiện pháp này chỉ là cái đệm để mà đẩy qua Niết-bàn thôi, chứ còn nó thì không ai ăn nhậu được gì nó đâu. Nhưng dùng nó để phóng qua Niết-bàn, ra khỏi vòng sanh tử. Các vị còn nghe không? Chứ mình cứ nói đi, mình không thấy mặt nhau cũng hơi gớm nhỉ. Anh em gặp thì bao nhiêu cái thiện pháp mình làm, nó chỉ có giá trị là đẩy mình lên cái giàn phóng thôi, để qua bên kia nữa.
Không muốn có lỗi thì đừng làm gì hết thì nó kì quá đi. Các vị tưởng tượng có hai đứa con, mẹ nó nói: Tụi bây làm bây giờ má mệt quá, bây giờ tụi bây đừng làm cho má phiền nữa được không? Trong hai đứa con đó, nó có hai hướng hành xử. Một là nó vẫn sinh hoạt bình thường, vẫn rửa chén, vẫn quét nhà, hút bụi, nhưng mà nó tránh những chuyện làm má phiền. Còn đứa thứ hai là nó cứ ngồi yên như thế này, vì má dặn là đừng làm cho má mệt nữa nên nó không thèm làm gì hết. Nó ngồi như thế này thì các vị chọn đứa nào? Cái đứa ngồi yên đó bị đau lưng tôm, nó bị thần kinh phân liệt cấp một, coi như nó bị thiểu năng. Đó là bệnh, bệnh nhân sự.
Mình phải chọn cái thứ nhất kìa. Mày đừng làm cho má mệt nữa, thì nó vẫn hút bụi, nó vẫn quét nhà, nó vẫn nấu ăn, vẫn rửa chén, vẫn giặt đồ, vẫn đi học, nó vẫn làm mọi chuyện bình thường, nhưng mà nó rút bớt những cái làm cho má phiền, những cái có nguy cơ tạo nên nếp nhăn trên gương mặt của má nó. Như vậy là xong rồi đó.
Như vậy bài kinh này giải thích cho nghe: bên đây là vậy đó, bên kia là vậy đó. Cũng đồng ý là mọi thứ, một phần đời sống là do nghiệp tạo, sanh tử là do nghiệp tạo. Nhưng có một điều để giải quyết nó, không phải là mình cứ bó gối ngồi yên mà phải hành thiện lấn át. Có những đứa tào lao nó hành thiện để nó trốn khổ tìm vui, còn ở đây thì chúng tôi hành thiện lấn át để không còn chuyện buồn vui nữa. Cái này có hiểu không?
Giống như một người có tiền để đi trồng răng, có người để dành tiền đi nhổ răng. Khác nhau chứ. Giống như đi thẩm mỹ, để dành tiền để bơm cho đủ xài. Giống như mấy ngày Tết, chưng trái cây là cầu vừa đủ xài. Có người đi thẩm mỹ bơm cho đủ xài, chứ không có sợ vợ ăn cơm nhiều quá hết xài. Nhưng mà có cái nhà hàng xóm lại không tin, ở nhà nó làm nghề ăn trộm nên chôm đủ xài.
Bây giờ có người để dành tiền để lắp thêm cái này cái kia vào cơ thể, có người để dành tiền để bỏ bớt cái gì đó ra khỏi cơ thể. Có người để dành tiền đi nhổ răng, có người để dành tiền đi trồng răng. Có người hành thiện lấn át để trốn khổ tìm vui - chữ tìm này gạch dưới nhé - còn có kẻ hành thiện lấn át để không còn khổ vui, thiện ác nữa. Khác nhau.
Không biết các vị hiểu hay không, nội dung bản kinh này là như vậy đó. Mà nếu mình chỉ biết rồi mình ráng, một là không hiểu, hai là coi thường, thấy nghe hoài nhưng mà sai bét. Tôi nói cho các vị nghe chuyện động trời này: cái ly cà phê mình uống một triệu lần, có thể chỉ có một thứ cảm giác, không có phát hiện gì đặc biệt, nhưng mà...
Cái ly cà phê mình uống một triệu lần có thể chỉ có một thứ cảm giác, không có phát hiện gì đặc biệt. Nhưng một bản kinh Phật thì không phải như vậy. Mỗi một lần mình nghe, mỗi một lần mình đọc lại, nó lại một lần thấm thía khác. Nếu các vị không thấy cái gì mới, thì cái đó không phải do kinh mà do cái đầu của mình không chịu mới. Đạo nó lớn rộng lắm. Khi đó là lời dạy của vị Chánh Đẳng Giác, mắt nhìn thấu ba cõi, lòng nghĩ suốt ngàn đời, mình chạm vào, mình cảm được. Tôi thấy lần một nghe một thứ, lần thứ một trăm thấy ý khác. Không phải kinh cũ kỹ, mà cái đầu của mình nó cũ xì, các vị kịp chưa?
Chắc các vị biết những vị pháp sư Tam Tạng thuộc làu làu như vậy, mà các ngài vẫn lật kinh ra đọc. Thuộc trong đầu nó khác, mà coi bằng mắt nó khác. Cứ mỗi lần liếc vào, đâu phải chẳng phát hiện ra nhiều chuyện động trời trong đó. Tôi nói chuyện nghe nhẹ nhàng, như các vị nấu ăn, cũng chừng đó món, chừng đó nguyên liệu gia vị là đủ. Nhưng nếu một người chí thú đam mê nấu ăn, họ không ngừng cải tiến và phát hiện ra lắm chuyện về hột tiêu, về cọng hành, về củ tỏi. Nhờ hiểu sâu hiểu rộng về từng thứ, nghĩa là nhiều món xào tạo ra những kết hợp phải nói là thần thánh.
Có một lần tôi thấy một chuyện lạ, đó là rau húng quế, người ta đem nhúng vào dầu sôi rồi lấy ra, mấy cái lá nó giòn rụm. Húng quế tươi có mùi vị khác, mà húng quế giòn rụm có mùi vị khác. Cái đó là do người đam mê nấu ăn mày mò phát hiện ra. Nhiều phát minh của người nấu ăn đi ra từ những tai nạn. Lỡ tay rồi thấy hay quá, người ta làm thành công thức luôn. Có rất nhiều phát minh khoa học từ tai nạn. Penicillin được phát hiện từ một miếng bánh mì cũ lên nấm, lên men.
Cho nên mỗi bài kinh mình đọc càng nhiều lần thì càng phát hiện ra lắm điều thú vị. Nếu không phát hiện được, không phải kinh cũ kỹ mà cái đầu chúng ta cũ kỹ. Có những thứ giá trị của nó chưa được sử dụng thì vẫn còn nguyên. Bây giờ mình đọc, mỗi lần học là một chuyện khác, kinh khác, bằng chứng khác. Bữa nay mình nói quá nhiều rồi. Thôi mình ăn bánh xèo rồi đi. Xin lỗi để trở về bài một chút. Chúc quý vị một ngày vui, ngày mai mình gặp nhau. Giảng lâu dữ vậy trời. Cảm ơn chủ nhà.
Bài 58. Kinh Tăng Chi | Chương Ba pháp | Phẩm Ananda
Bản transcript pháp thoại đã được chỉnh dấu câu và trình bày lại để dễ đọc. Video YouTube đặt bên cạnh để đối chiếu khi cần; phần đọc chính là transcript bên dưới.
Thuộc Chương Ba pháp . Dùng các nút bên dưới để quay lại danh sách, lọc theo chương hoặc tiếp tục bài kế tiếp.
Mốc nội dungNhấn để mở/thu gọn
- Các loại tu sĩ
Phân biệt các hình thức tu hành và đặc điểm của từng nhóm tu sĩ trong bối cảnh Ấn Độ cổ đại.
- Ý nghĩa lìa bỏ tham sân si
Giải thích tại sao việc từ bỏ ba độc tham, sân, si là cốt lõi của con đường giải thoát.
- Nguyên nhân khổ đau
Phân tích tham sân si là nguồn gốc chính gây ra khổ đau và vòng luân hồi.
- Tu-đà-hoàn và dòng chảy tu tập
Khái niệm Sotāpatti như bước vào dòng chảy không thể quay lui trong hành trình giác ngộ.
- Tâm thức và thiền định
Mối liên hệ giữa chí, định và trí trong quá trình tu tập và phát triển tâm linh.
- Sự thấm nhuần giáo pháp
Tầm quan trọng của việc đọc, nghe và trải nghiệm nhiều lần để hiểu sâu sắc kinh điển.
- Khuyến khích tu tập kiên trì
Lời nhắn nhủ về sự cần thiết của lòng kiên trì và trí tuệ trong con đường tu học.
Giữ lại một điều có thể thực hành
Đừng cố nhớ toàn bộ transcript. Chọn một ý chính, quan sát nó trong sinh hoạt hôm nay, rồi quay lại đọc tiếp khi tâm còn sáng và dễ tiếp nhận.
- Ý nào liên hệ trực tiếp đến khổ và nguyên nhân khổ?
- Ý nào có thể đem vào lời nói, việc làm, hoặc chánh niệm hôm nay?
- Nếu cần đối chiếu, mở Kinh Tăng Chi Bộ để đọc bản kinh gốc.