Chúng ta trở lại bài hôm qua mình giảng chưa hết. Trong đoạn kinh đó, Đức Thế Tôn dạy các vị Tỳ-kheo, nếu có ai hỏi thế nào là điểm khác biệt của tham, sân, si thì ở đây chúng tôi phải nói rõ là câu hỏi đó có nhiều cách trả lời lắm. Nhưng trong một hoàn cảnh, không có đủ thời gian để nói tất cả. Tùy hoàn cảnh, từng đối tượng mà mình nói khía cạnh nào.
Ví dụ như khi mình nói chuyện với con về món bánh xèo. Tùy lúc mà mình nói về một khía cạnh nào đó của cái bánh xèo thôi, chứ nói tất cả mọi chuyện về bánh xèo thì thứ nhất là không có thời gian, thứ hai là không đúng chỗ. Cho nên mình chỉ nói một hai khía cạnh. Trong trường hợp này cũng vậy, chỉ nhắc một chuyện thôi. Nếu ai hỏi thế nào là sự khác biệt giữa tham, sân và si thì các người trả lời thế này:
Tham, nói theo quan điểm thế gian, thì không có biểu hiện gì ghê gớm đáng kể nhưng nó rất khó trừ. Còn sân thì có những biểu hiện ghê gớm nhưng lại dễ trừ hơn. Còn si cũng không có biểu hiện ghê gớm nhưng lại rất khó trừ, là bởi vì si là cái ngu, mà cái ngu là bóng tối. Đã là tối thì biểu hiện không có âm thanh, không có ồn ào, nhưng cái gốc tối của si rất khó bỏ.
Trong bệnh lý cũng vậy, có nhiều chứng bệnh mình thấy ghê gớm như sưng phù lên, chảy máu, chảy nước vàng, bệnh nhân lên cơn, thấy vậy nhưng cái đó lại không có gì ghê gớm. Còn có những bệnh âm thầm nhưng chữa hoài không hết. Chẳng hạn như trong y học hiện đại, có một vài chứng bệnh nhìn qua không thấy gì hết nhưng chữa một đời không hết. Ví dụ như bệnh Gout, thông thường nhìn vô không có gì ghê gớm, người bị bệnh thì mấy khớp tay sưng lên, có người thì hơi bóng một chút, nhưng mang nó cho đến khi đi vào quan tài.
Còn khó trị hơn nữa là một số bệnh ngoài da mang theo xuống mồ luôn. Bệnh ngoài da rất nguy hiểm, chữa hoài không hết như bệnh vẩy nến, bệnh da khô, bệnh chàm, mụn ngứa. Có vô số bệnh ngoài da mà trong đó có những chứng chữa hoài không hết. Ở đây cũng vậy, tham và si không có biểu hiện gì ghê gớm nhưng cả hai đều rất khó trừ. Còn cái sân biểu hiện ghê gớm, nhìn vô là thấy sốc liền, ai cũng nhận ra ngay những hậu quả của nó.
Còn cái sân, nó biểu hiện cái ghê gớm, nhìn vô là thấy sốc liền, ai cũng nhận ra. Nó để lại những cái hậu quả rõ ràng, nhưng thấy vậy mà nó mau lắm. Mọi chuyện không dừng lại ở đó. Từ đâu mà có tham, từ đâu có sân, từ đâu có si?
Tôi nhắc lại ý này, có tới 1001 câu trả lời cho các câu hỏi tham từ đâu đến, sân từ đâu đến và si từ đâu đến. Có một ngàn lẻ một cách trả lời, chẳng phải một cách, 100 cách hay 200 cách, mà là một ngàn lẻ một cách. Ở đây, chúng ta chọn câu trả lời phổ biến nhất và có tính ứng dụng cao nhất, đó chính là do Mỹ tướng.
Đây lại là một chuyện nữa, tại sao trong bản tiếng Việt để là Tịnh tướng mà ở đây chúng tôi lại dịch là Mỹ tướng? Các vị làm ơn đánh chữ Subha. Chữ Subha xuất phát từ chữ Beauty trong tiếng Anh, nghĩa là đẹp. Các vị đánh chữ Subha trong Google thì sẽ thấy có bao nhiêu người trên thế giới nghiên cứu Phật học, phiên dịch kinh điển Pali, người ta đã dịch chữ Subha là đẹp. Tại sao tôi không dịch là Tịnh mà tôi dịch là Mỹ? Tại sao không dịch là Bất tịnh mà tôi dịch là Bất mỹ?
Theo tôi, nhiều lần tôi đã nói rằng các dịch giả Trung Quốc ngày xưa có một kiểu làm việc rất gọn nhưng cũng rất hạn chế. Đó là họ lựa ra một số nghĩa căn bản của một từ tiếng Pali hay tiếng Sanskrit, lấy những nghĩa gốc, nghĩa phổ biến làm chuẩn. Cứ thấy chữ đó là họ đưa nghĩa đó vào, nên dịch rất nhanh, không cần phải tra cứu nhiều.
Cũng phải nói thêm là Phật giáo Trung Hoa không tận dụng khai thác kho tàng sớ giải Pali. Chúng ta hoàn toàn có cơ sở để khẳng định điều đó. Các dịch giả Trung Hoa như ngài Cưu-ma-la-thập hay ngài Huyền Trang không có khuynh hướng tận dụng các nguồn sớ giải Pali khi các ngài phiên dịch kinh điển Sanskrit. Kinh điển Sanskrit là do các vị luận sư, soạn giả của các bộ phái nằm ngoài Thượng tọa bộ Theravada biên soạn. Đó là kinh sách của các bộ phái đã xa rời kinh điển Pali mà các vị lại không tham khảo. Cho nên các ngài cứ dịch kinh điển theo văn bản chứ không phải theo kiến thức sớ giải.
Nói cái này là tôi chạm vào cả một núi kiến lửa chứ không phải là ổ kiến lửa, nhưng tôi vẫn nói và chịu trách nhiệm về điều mình nói. Tôi còn sống sờ sờ đây, ghi âm ghi hình còn đây, tôi chịu trách nhiệm để cho quý vị ném đá.
Trở lại từ Subha, bốn đặc tính của pháp hữu vi được Đức Thế Tôn nhắc đến là vô thường, khổ, vô ngã và bất mỹ (Anicca, Dukkha, Anatta và Asubha). Có chỗ thêm Sunnata nữa là năm, có chỗ chỉ có ba. Nhưng tại sao chữ Subha lại dịch là...
Vô thường, Khổ, Bất tịnh, Vô ngã. Tại sao chữ Subha lại dịch là đẹp? Thứ nhất là có nguồn kinh điển chứng minh. Thứ hai, xét về thực tế mà nói thì khía cạnh đẹp mang tính bao quát hơn là khía cạnh sạch.
Ví dụ, tôi thích bông hoa này mà không thích bông hoa kia, thì chuyện đầu tiên là tôi ngắm nó thấy đẹp, chứ không mấy khi ngắm nghía cái sạch. Quý vị nhớ giùm chỗ đó. Hoa hay phong cảnh cũng vậy, tôi thích phong cảnh Thụy Sĩ hơn là phong cảnh của Pháp cũng là vì ngắm cái đẹp chứ không phải ngắm cái sạch. Cái đồng hồ này so với cái hồ kia, núi này so với núi kia, kể cả người tôi thương, tôi thương cô này hơn cô kia thì chuyện đầu tiên là tôi ngắm tới khía cạnh đẹp chứ không phải khía cạnh sạch. Làm ơn ngẫm lại xem có đúng như vậy không.
Trong kinh điển, chữ Subha có nghĩa là sạch, nhưng nghĩa bao quát hơn là đẹp. Tôi phải dành một ít thời gian nói nhiều để bà con đừng tiếp tục ngộ nhận. Khía cạnh đẹp - xấu phổ biến trong các phạm trù hơn là khía cạnh sạch - dơ. Chỉ có một vài trường hợp đặc biệt như đồ ăn thức uống thì khía cạnh sạch - dơ quan trọng hơn đẹp - xấu. Còn lại, từ cái mặc, cái ở, cái nhìn, cái ngắm, ngay cả trong âm thanh và mùi vị thì cái đẹp vẫn đi trước. Trong âm thanh không có khía cạnh sạch dơ, mà có hay dở, và mình hoàn toàn có thể dùng từ như "giai điệu đẹp", "làn điệu đẹp".
Lý do dẫn đến tâm tham chính là vì sự tác ý đến khía cạnh đẹp bên trong sáu trần, cho nên phàm phu mới có tham ái. Cảnh đẹp ở đây tức là cái vừa ý, còn cảnh xấu là cái nghịch ý. Ví dụ, phàm phu nghĩ đến cái ngon, ngọt, béo, bùi, thơm, thì đó chính là cái đẹp của sáu trần. Dễ nhìn, dễ nghe, dễ ngửi, dễ nếm, nhẹ nhàng, dễ chịu, cái đó gọi là cái đẹp của sáu trần. Chính vì chú ý đến những khía cạnh này mà chúng ta mới có tâm tham, thích cái này thích cái kia.
Trong nhận thức của một hành giả Tứ Niệm Xứ hay bậc Thánh, họ sẽ không lưu tâm đến tướng chung, tướng riêng của sáu trần, không lưu tâm đến cái đắng, ngọt, béo, bùi, chua, chát của sáu trần thì làm gì có cái thích. Mà không có cái thích thì làm gì có cái ghét.
Tôi hỏi mang tính kỹ thuật (technical) thôi chứ không có ý gì khác. Trong thời gian này tôi đang ở Virginia, mỗi đêm có giảng và có livestream, không biết bà con trong room có nghe, có xem hay không. Đêm hôm qua tại thiền viện Chân Lý ở Virginia, tôi có nói về bốn sự thật. Không biết quý vị có biết tới bốn sự thật này không, mọi thứ là do tích tụ.
Quên mất bốn sự thật này, không biết tới bốn sự thật này, mọi thứ thích, thụ, vui, buồn, cái gì cũng là khổ. Chính vì không biết thế này, không biết khổ cần biết, tập cần đoạn, từ đó mới có cái ý xác định cái này mình thích, cái này mình ghét. Khi mình quên mất rằng trong cái thấy đúng, dù mình thích hay ghét gì đi nữa thì cũng chỉ là các đống pháp, các cảm giác thôi. Chính cái vô minh trong đó cho nên chúng sanh mới xác định cái này là cái tôi thích, cái này là cái tôi ghét.
Vì đâu mà có cái xác định như vậy? Là vì nhiều lý do: tiền nghiệp quá khứ dẫn ta vào cảnh giới nào, môi trường sống nào, cộng với khuynh hướng tâm lý thích cái này ghét cái kia, cộng với môi trường sống mình chung chạ với ai, sống ở đâu. Chính vì mấy điều kiện và nhân tố này mới dẫn đến chuyện ta thích cái này, ghét cái kia. Từ cái thích nó mới dẫn đến cái ghét. Có thích là có ghét, bảo đảm một ngàn phần trăm. Tại sao vậy? Bởi vì khi tôi thích cái gì đó có nghĩa là tôi không chịu nổi cái ngược lại.
Tôi rất thích mát mẻ cho nên tôi chịu không được cái nóng nực. Tôi rất thích sự ấm áp cho nên tôi rất ngại cái lạnh lẽo. Tôi rất thích sự chung chạ cho nên rất ngại sự xa cách. Tôi rất muốn gần người đó cho nên tôi rất khổ khi phải xa người đó. Tôi rất ngại đói cho nên rất thích ăn. Vì tôi rất thích ăn cho nên để lâu mà thấy đói là khó chịu. Nghĩa là cái thích và cái ghét nuôi dưỡng lẫn nhau, quy định lẫn nhau, cái này tạo ra cái kia. Chính vì thích ghét quy định lẫn nhau cho nên cái khổ và cái vui nó quy định lẫn nhau, cái này nuôi cái kia.
Bây giờ cả bên Kinh tạng lẫn A-tỳ-đàm đều xài chung định nghĩa này: tất cả phiền não trong đời gom gọn lại cho dễ hiểu chỉ có thích và ghét thôi. Còn cái gốc là vô minh, tà kiến thì để riêng ra. Nói gọn cho người chậm nhớ, chậm hiểu thì phiền não đời chỉ có thích và ghét. Trong Kinh Tứ Niệm Xứ vẫn dịch là tham ưu, tức là thích và ghét. Phiền não đời chỉ có tham và ưu, tức là thích và ghét.
Thích có hai và ghét có hai. Thích có hai là gì? Tức là muốn có cái gì đó và muốn cái gì đó đừng mất đi. Còn ghét là sự khó chịu, nó cũng có hai: một là không muốn có cái này cái kia nữa. Cái tham và cái sân, tham có hai là muốn có cái gì đó và muốn cái gì đó đừng mất. Còn cái sân là cái khó chịu, nó cũng gồm có hai: một là mình bất mãn vì không có được cái mình muốn, hai là bất mãn vì né không được cái mình ghét.
Cái này thấy nó thường mà nó rất sâu. Tôi nhắc lại, phiền não gồm có tham và sân cho nó gọn. Tham là muốn cái gì đó có, thứ hai là muốn cái gì đó đừng mất, nó cũng là tham. Còn cái sân cũng có hai: một là mình bất mãn vì không có được cái mình muốn, hai là bất mãn vì né không được cái mình ghét. Từ đó suy ra khổ vui ở đời mọi thứ cũng có hai. Khổ có hai nguồn là có cái gì...
Thương ghét cũng là vậy nhé. Và từ đó suy ra, khổ vui ở đời mọi thứ cũng có hai. Khổ có hai nguồn là: có cái gì đó nên ta khổ, và không có cái gì đó nên ta khổ. Còn vui, bao nhiêu thứ hạnh phúc trên đời này, từ cõi Phạm Thiên xuống tới cõi A Tỳ địa ngục, con ong cái kiến, côn trùng, con dê, con chó, con heo, con trâu, con gà, tất cả hạnh phúc trong đời này nó cũng có hai nguồn thôi. Có nghĩa là: có cái gì đó nên ta hạnh phúc, và không có cái gì đó làm ta hạnh phúc.
Tôi chỉ ví dụ nhẹ, chứ kể ra thì nhiều lắm. Như bây giờ, có nhan sắc, có sức khỏe, có tiền bạc, có quyền lực, có tình cảm, có quan hệ xã hội tốt, thì tất cả được gọi là những cái có mà làm cho phàm phu hạnh phúc. Còn những cái không mà làm cho phàm phu hạnh phúc là: không nợ nần, không bệnh hoạn, không thù quán, không vấn đề pháp luật. Đó là những cái không mà là hạnh phúc.
Còn đau khổ nè: có những cái có mà làm cho phàm phu đau khổ, ví dụ như có nợ nần, có bệnh hoạn, có thù quán, có vấn đề pháp luật. Đó là những cái có mà làm cho phàm phu đau khổ. Và những cái không mà làm cho phàm phu đau khổ là cái gì? Không nhan sắc, không tiền bạc, không sức khỏe, không uy tín, không quyền lực. Đó là những cái không mà làm cho phàm phu đau khổ nha.
Bây giờ tôi trở lại, cái nhân cần thiết, cái điều kiện tối yếu mà cũng là phổ biến để cho tâm tham nó có mặt, đó chính là sự tác ý, sự chú ý, sự quan tâm, sự lưu ý khía cạnh đẹp. Khía cạnh đẹp đó được gọi là Mỹ tướng (Subha-nimitta). Chính vì chúng ta có lưu tâm khía cạnh đó cho nên lỡ mà không thấy được cái đẹp đó là mình bèn khổ. Như thấy cảnh đẹp rồi mới đi chơi, hay người đang ngắm mưa mà một cái gì đó tôi không mong đợi nó làm cho cái cảnh không còn đẹp như tôi nghĩ nữa, thế là tôi khổ.
Ví dụ đi ngang một cánh rừng, chuyện đầu tiên quý vị lưu ý là gì? Hoa nhiều, cỏ đẹp, cạnh đó có sông, có suối, có ao, có hồ, gốc cây có đá có sỏi. Có người quá lưu ý với những cái cảnh này cho nên thích. Tôi quan sát một người khác phái, tôi thấy có mắt, có môi, có da, có tóc đúng như ý, thế là thực chất tôi lưu ý cái khía cạnh đẹp của sáu trần trong đó nha. Chứ nếu mà tôi không lưu ý đến những điểm đó, hoặc là tôi lưu ý khía cạnh mặt trái của nó thì làm gì mà tôi thích. Nhưng mà chính vì tôi chỉ lưu ý khía cạnh tích cực của nó thôi, cho nên tôi mới mê nó, quý vị nghe kịp không?
Cho nên cái chuyện đầu tiên, thấy cảnh đẹp của sáu trần người ta mới thích. Trong khi đó, nếu mà nói rốt ráo theo tinh thần của Phật pháp thì làm gì có cái khía cạnh nào gọi là đẹp đâu quý vị. Nếu mà nói rốt ráo, thí dụ như trong cái nhìn của một hành giả thì chỉ có danh và sắc, chỉ có tâm và duyên, chỉ có thiện và bất thiện. Chỉ có danh và sắc, chỉ có tâm và duyên, chỉ có thiện rồi bất thiện, chứ làm gì có cái đẹp cái xấu ở đây.
Cái khái niệm đẹp xấu là cái nhìn phân biệt của phàm phu. Mà tại sao có phân biệt đó? Là vì phàm phu không có nhớ rằng mọi thứ là khổ, không nhớ rằng mọi thứ chỉ là một cái đống, một cái đống giả lập. Được gọi là một đống là bởi vì đó là một cái khối tổng hợp của nhiều thứ rời rạc do nhân duyên hội lại mà tôi gọi là một đống. Chứ còn chẻ nhỏ ra thì một đống cát là do nhiều hạt cát, hay là do nhiều cái miếng con con nhỏ mình tạo nên. Trong cái nhận thức rõ ràng như...
Ví như nhiều hạt cát, vô số những mảnh nhỏ tạo nên. Với nhận thức rõ ràng như vậy, tinh tường như vậy, thì làm gì có đẹp có xấu trong một đống cát, trong một đống tro? Chính vì không thấy mọi thứ là đống cát, không thấy mọi thứ là đống tro sẵn sàng rời rạc, phân hủy, ly tán, cho nên hạng kẻ phàm phu không có tu tập mới nhìn thấy trong đó có cái này hay, cái này ngon, cái này đẹp, cái này hấp dẫn, cái này cuốn hút, cái này cần phải theo đuổi.
Mà hễ có thấy cái đẹp thì tự nhiên mình lưu ý đến cái xấu. Bên cạnh cái lưu ý đến cái đẹp để mà thích thú, để tâm tham có mặt, thì chúng ta lập tức có thêm cái chú ý thứ hai, đó là lưu ý đến cái xấu. Lưu ý khía cạnh đó được gọi là chướng ngại tướng đối với mắt phàm. Quý vị nhớ nhé, mình giảng đến cái thứ hai rồi đó, chữ ngại tướng. Nãy mình quan tâm đến cái mỹ tướng, quan tâm đến cái đẹp, thì hệ quả tất yếu là sẽ quan tâm đến khía cạnh xấu của nó.
Đương nhiên, hễ chú ý đến cái đẹp của đóa hoa nở thì tự nhiên ta rất khổ tâm khi nhìn thấy cánh hoa bắt đầu tàn úa. Khi chúng ta có lòng chú ý đến cái đẹp của một người, thì ta cũng sẽ khó mà cam tâm, khó mà đành lòng chấp nhận cái xấu ở người đó. Trong khi đó, nếu trong mắt mình cái đẹp của một người chỉ là đống cát thôi, thì dù có nhăn răng, rụng má, lưng còng đi nữa, trong mắt mình chuyện xấu đó không thành vấn đề.
Ví dụ như mẹ của mình đi, mình nhìn mẹ đâu có nhìn qua nhan sắc của mẹ. Nếu mình là con gái, mình nhìn ba mình không phải bằng cái nhìn của nam nữ, không nhìn bố bằng cái nhìn của người khác phái. Mình là con trai, mình đâu có nhìn má mình từ góc độ nam nữ, góc độ khác phái, mà mình nhìn những giá trị tinh thần đằng sau cái hình hài. Cho nên bố mẹ tuổi nào mình cũng thương như nhau, thậm chí bố mẹ càng bệnh dữ dội, càng già dữ dội, càng xấu dữ dội, càng mòn hao dữ dội thì mình càng thương dữ dội.
Còn khi mình nhìn người khác từ góc cạnh của phiền não, mình chạy theo khía cạnh đẹp ngoại diện, nhìn cái bề ngoài đó, thì mai này qua sự thử thách của thời gian, niềm tin yêu của mình đối với cái vẻ ngoài ấy sẽ từng bước từng bước bị thử thách. Vì đâu vậy? Là vì một thời chúng ta đã gửi gắm toàn bộ niềm tin yêu vào cái vẻ ngoài, nay cái vẻ ngoài đó không còn như ngày xưa nữa, thế là niềm tin yêu cũng không còn như ngày xưa nữa. Thay vào đó, lấp vào đó là một sự thất vọng, một sự chán ghét, chán chường. Cho nên, ở đâu có tham thì tham chính là cái nguồn của bất mãn nằm kế bên nó thôi.
Nhưng có một điều trong kinh nói rất rõ, đối với đối tượng của năm dục thì mới như vậy. Chỉ có đối với năm dục vật chất thì mới có chuyện đó, còn nếu thích trong thiện thì không. Thích trong thiện không có sự bất mãn, bởi vì cái cảnh thiện không có sự biến hoại, không có sự phân hủy tàn khốc như trong năm cảnh dục vật chất. Ví dụ như mình mê ngắm cái này, nghe cái kia, những thứ mình thích ngắm, nghe, ngửi, nếm, chạm sẽ bị thay đổi theo thời gian, thì lúc đó cái tham của mình sẽ nhường chỗ cho cái sân. Còn riêng...
Sắc, thanh, hương, vị, xúc chạm, nó sẽ bị thay đổi theo thời gian. Khi đó, cái tham trong mình nó sẽ nhường chỗ cho cái sân. Còn riêng cảnh thiền, sự vô thường theo cái cách đó nó chuyển biến theo kiểu là lúc có lúc không, chứ nó không có sự thay đổi tàn khốc, dễ ghét như là cảnh dục.
Cảnh dục, ngoài chuyện lúc có lúc không, nó còn là lúc vầy lúc khác. Quý vị phải ghi giùm tôi cái này: cảnh dục có hai kiểu vô thường là lúc có lúc không và lúc vầy lúc khác. Còn cảnh thiền chỉ có một cách vô thường thôi, đó là lúc có lúc không. Mỗi lần nó có mặt thì nó y chang như cũ, và mỗi lần nó mất đi thì nó cũng giống như bao nhiêu lần không có trước đó. Khi nó có mặt trở lại, nó cũng y chang tiếp, không khác mảy may nào hết.
Đây là lý do vì sao mà vị hành giả dù có thích trong năm dục đi nữa thì cũng không còn tâm sân, vì vị đó tiếp tục thích trong thiền. Cảnh thiền không có kiểu vô thường lúc này lúc khác, mà nó chỉ vô thường theo kiểu lúc có lúc không, cho nên vị ấy không bị sốc, không bị tâm sân. Riêng trong năm cảnh dục, nó có hai kiểu vô thường: lúc vầy lúc khác và lúc có lúc không.
Tôi chứng minh nhé. Như bây giờ tôi thích ăn bánh xèo. Có người hỏi tôi sự thích ăn bánh xèo đó ra sao. Bánh xèo là một trong những món ngon, nhưng cái bánh xèo hồi mình mới đổ, dọn ra thì nó nóng, giòn, thơm. Nhưng trong vòng 5 tiếng đồng hồ là bắt đầu nó không còn nóng, không còn giòn, và mùi thơm của nó bắt đầu nhạt đi. Cái tâm của mình đối với nó bắt đầu thay đổi. Rồi từ 5 tiếng mà thêm 10 tiếng, 15 tiếng, 24 tiếng, 36 tiếng, lên tới 48 tiếng là cái bánh xèo đó đem đi liệng luôn. Cũng là cái bánh xèo đó thôi, nhưng mà nó lúc vầy lúc khác.
Còn riêng cảnh thiền, khi mình nhập vào đề mục đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, mỗi lần mình nhập vào đề mục với các trình độ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, thì cái hiện lên trong tâm của mình trước sau vẫn là tinh khôi. Có nghĩa là nó chỉ là như vậy. Ví dụ như mình nhập định trong 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ, một ngày, hai ngày, ba ngày thì nó luôn luôn như vậy. Đến khi mình xả định thì thôi. Ngày mai, ngày mốt, ba ngày, bốn ngày sau mình quay lại nhập định lần nữa thì nó vẫn tinh khôi như thuở nào, nó không có thay đổi.
Còn cái bánh xèo hay miếng gỏi cuốn, qua thời gian nó không còn giòn nữa, bắt đầu nó thiu, cái nhân bị thiu, nước chấm cũng đổi vị, nó có mùi hôi, vị chua, thậm chí là lên mốc lên meo nữa. Nhớ cái đó.
Nó đổi, có được cái chua, mùi thì nó hôi, vị thì chua, thậm chí là nó còn lên mốc lên meo nữa. Nhớ cái đó, cho nên đối với vị Tam quả, bậc A-na-hàm, vì hiểu mọi thứ là khổ, là vô ngã, vô thường, cho nên vị đó không còn như vị Tu-đà-hoàn. Vị Tu-đà-hoàn dầu cũng còn chút ít tham sân si, còn bậc A-na-hàm thì không còn tà kiến, không còn nghi và thân kiến nữa. Cho nên vị đó không nhìn mọi sự mọi vật như là phàm phu nữa.
Lên đến vị A-na-hàm được coi như dứt hẳn cái niềm đam mê trong ngũ dục, trong năm trần vật chất. Trong các pháp trần, vị này cũng chỉ còn lại cái niềm đam mê cảnh thiền thôi, chứ còn các pháp trần có nghĩa là những cái suy tư nào mà liên hệ tình dục cũng không đủ làm cho vị đó hứng thú, vì vị đó đâu có còn thích trong dục nữa đâu.
Còn mình thì sao? Dục đối với mình nó hiển hiện qua cả sáu trần luôn. Tôi thích ăn ngon, cho nên tôi nghe cái mùi đồ ăn nó cũng thích, tôi nếm vị cũng thích, mà từ dưới bếp mới dọn cái bánh xèo tôi cũng thích, mà tôi nằm ngủ tôi mơ thấy bánh xèo tôi cũng thích, mà tôi tưởng tượng đến cái bánh xèo cũng thích. Có nghĩa là cái bánh xèo nó biểu hiện qua cả sáu trần. Chỉ còn riêng vị A-na-hàm thì coi như năm trần là các ngài không có thích nữa, cho nên nó không biểu hiện vào bất cứ cảnh nào trong sáu trần hết. Các ngài chỉ còn lại cảnh pháp trần, nghĩa là cái đối tượng suy tư nào mà nó nằm ngoài năm dục vật chất. Nhớ cái này quan trọng lắm.
Cho nên ở đây, nguyên nhân dẫn đến tâm tham đó là sự lưu ý đến khía cạnh đẹp của sáu trần. Và hễ anh có lưu ý đến khía cạnh đẹp của sáu trần thì đương nhiên là có sự lưu ý đến khía cạnh xấu của năm trần vật chất. Như vậy thì cái điều kiện để có tâm sân chính là sự lưu ý đến khía cạnh mặt trái của các trần. Còn cái tâm si ở đâu ra? Nó do sự vụng suy tư, là suy tư không hợp lý, tiếng Pali là ayoniso manasikāra. Ở đây dịch là phi lý tác ý, có nghĩa là sai lầm. Nó rất là rõ: trong cái vô thường thì mình tìm cách để mình tin tưởng, hiểu lầm nó là còn hoài lâu bền; trong cái khổ thì mình tìm đủ mọi cách để tự chứng minh, tự thuyết phục nó là hạnh phúc, ngọt ngào, thơm ngon, béo bùi, hấp dẫn; còn trong cái vô ngã thì mình tìm đủ cách để tự chứng minh, tự thuyết phục với mình nó là tôi, nó là của tôi. Trong cái không đẹp thì mình tìm đủ mọi cách để chứng minh với riêng mình là nó đẹp. Sự suy tư không hợp lý, không nhìn thấy vạn hữu đúng như bản chất của chúng, chính là cái nguồn cho tâm si.
Người có học Abhidhamma thì biết có si phóng dật và si hoài nghi. Cái si ở đây là chỉ cho si hoài nghi và sự phóng dật. Vì sao có phóng dật? Nó có là do không có định, không có niệm thì gọi là phóng dật. Tâm nó lăn xăn giống như là cái đống tro mà bị liệng một hòn đá vô rồi nó tung lên vậy, đó là phóng dật. Nhưng mà ở đây ngài nói về cái si hoài nghi, nó mới là gốc của sinh tử. Cho nên ở trong A-tỳ-đàm nói rằng trong 12 tâm bất thiện, riêng cái phóng dật nó không có khả năng tạo ra cái quả tái sinh, nó không có tạo ra quả đầu thai. Đó là một chuyện. Chuyện thứ hai, chính vì cái tâm si phóng dật nó không có nguy hiểm.
Sinh nó không tạo ra quả đầu thai là một chuyện. Chuyện thứ hai, chính vì cái tâm phóng dật nó không có nguy hiểm, cho nên mãi đến quả vị A-la-hán mới chấm dứt. Nghĩa là nó cũng là một thứ phiền não, nhưng nó có thể đồng hành cùng vị Thánh lâu dài, cho đến khi đắc A-la-hán mới hết. Còn riêng cái hoài nghi, nó độc vô cùng. Cho nên khi đã đắc Tu-đà-hoàn rồi, dứt khoát là phải chấm dứt hẳn. Nó giống như lựu đạn, giống như thuốc độc vậy đó, là một thứ độc dược chết người. Cho nên chuyện đầu tiên khi chứng quả Tu-đà-hoàn là đương sự phải tháo gỡ, phải vô hiệu hóa nó liền vì nó là thứ độc chết người.
Chính vì không còn tà kiến, không còn thân kiến, không còn hoài nghi, cho nên vị Tu-đà-hoàn dù nói là phiền não mười kiết sử còn lại bảy cái, đó là nói trên lý thuyết cho vui vậy thôi, chứ thật ra vị này không còn khả năng sinh tử nữa. Với vị này, dù có lười biếng, có dễ duôi cách mấy thì cũng chỉ còn tối đa là bảy kiếp. Vì sao? Vì không còn thân kiến, không còn hoài nghi. Hoài nghi là gì? Hoài nghi là hoang mang về bản thân, không biết mình là ai, ở đâu tới, sẽ về đâu và bây giờ mình nên làm gì. Những hoài nghi đó không còn nữa.
Vị ấy không còn nghĩ về mình như là một cái tôi nào đó nữa, mà chỉ biết rằng danh sắc này do duyên mà có. Do duyên hỷ lạc nên có tâm hỷ lạc, do duyên khổ lạc nên có buồn vui, hạnh phúc và đau khổ. Mai này hết duyên rồi thì không còn tái sinh nữa. Vì hiểu như vậy nên vị ấy hoàn toàn không có nghi ngờ gì về bản thân mình hết. Chính vì vậy, khi đứng trước cái chết, vị này không có gì phải hoảng hốt. Vị ấy ra đi với một niềm xác tín sắt son rằng: đây là lúc cái khối danh sắc này tan rã để tìm về một hình thức hiện hữu khác. Vì nghĩ như vậy nên vị ấy ra đi trong sự tỉnh táo. Vị Tu-đà-hoàn dù sao đi nữa cũng không có khả năng sa đọa, và đồng thời vị Tu-đà-hoàn không có khả năng đầu thai kiếp thứ tám. Bởi vì cái hoài nghi nó độc kinh khủng. Hễ còn thân kiến, còn hoài nghi thì mới còn khả năng sinh tử bất hạnh triền miên.
Khi cái hoài nghi về danh sắc không còn nữa, thì vị Thánh không còn khả năng luân hồi. Mà con đường dẫn đến hoài nghi chính là sự không khéo tác ý, không khéo suy tư. Không khéo ở đây có nghĩa là: trong cái vô thường lại nghĩ là thường, trong cái khổ lại nghĩ là lạc, trong cái vô ngã lại nghĩ là có tôi và của tôi, trong cái không có vẻ đẹp lại nghĩ là có cái đẹp.
Ở đây, sẵn tôi nói luôn, có rất nhiều vị biên soạn, thuyết giảng lại hiểu lầm thế này: hành giả nên quán sát danh sắc không có đẹp, vậy là nó xấu. Tôi xin thưa, chính bản thân tôi đôi khi lỡ miệng cũng có nói như vậy, nhưng đúng ra, khi không có cái đẹp thì làm gì có cái xấu. Có rất nhiều vị giảng như vậy làm cho Phật tử hiểu lầm, rồi quán tóc, lông, móng, răng, da để thấy cái xấu.
Có rất nhiều vị giảng như vậy đó, rồi làm cho Phật tử cũng hiểu lầm là quán tóc, lông, móng, răng, da để thấy cái thân này nó là xấu. Nói như vậy không có sai, nhưng nó vô cùng nguy hiểm và vô cùng phi lý. Là vì sao? Là vì khi nó không có cái đẹp thì làm gì có cái xấu. Cho nên quán tưởng tử thi, quán tưởng về thể trược là để thấy nó không đẹp nữa là đủ rồi. Còn chuyện quán thấy nó là xấu, không phải sai, nhưng nó là bước đầu, là first step cho những người sơ cơ, hạ căn. Chứ còn nếu nói rốt ráo thì không có cái gì xấu, cái gì dơ hết. Quán tử thi chỉ để thấy nó không đẹp là đủ rồi. Khi thấy nó không đẹp thì mình không còn thích nó nữa. Không còn thích tức là không còn Tập đế. Không có Tập đế thì cái gì đẻ ra cái khổ?
Đó là cái thứ nhất. Thứ hai, khi mình thấy mọi thứ không có cái gì đẹp thì hành giả cũng thấy rằng không có cái gì xấu. Bởi vì hễ thấy có cái đẹp thì tham nó trùm ra, mà thấy có cái xấu thì cái sân nó bung ra. Cho nên ở đây, sáng nay tôi nói luôn chuyện này, có thể có những ý kiến trái chiều nhưng tôi vẫn nói. Rất nhiều vị hiểu lầm thế này, cứ đè Phật tử ra mà dạy: các vị nhớ nha, quán bất tịnh, quán tử thi để thấy rằng nó dơ dáy tùm lum. Nói như vậy không sai, nhưng nó rất nguy hiểm bởi vì đó là cái cách giải thích mà mình dính mắc vào. Tôi nhắc lại, quán bất tịnh, quán tử thi chỉ để thấy nó không đẹp là đủ rồi. Trước khi chứng ngộ, vị ấy không còn thấy nó dơ hay sạch, mà chỉ thấy rằng nó không đẹp, không có gì đáng để mình thích. Khi không có gì đáng để mình thích thì nó là zero. Mà đã là zero thì làm gì có âm, có dương. Nó nằm giữa cộng và trừ, nằm giữa âm và dương. Đó thật sự là giải thoát, nằm ngoài cả hai cái đó. Như vậy là quá đủ rồi.
Như vậy thì bài kinh này sâu là sâu như vậy. Quý vị làm ơn đọc chú giải, đừng đọc một kinh mà hãy đọc nhiều kinh để thấy rằng: vì đâu có tham? Vì lưu ý đến khía cạnh đẹp của sáu trần. Vì luyến khía cạnh đó nên mới có chuyện đương nhiên tiếp theo là lưu ý đến cái xấu của sáu trần để có tâm sân. Vì có lưu ý đến cái đẹp và cái xấu đó cho nên chúng ta mới rơi vào hoàn cảnh thứ ba là sự si tư, suy tư không hợp lý. Nền tảng của việc chú ý cái đẹp, chú ý cái xấu đó nảy ra cái thứ ba là chúng ta đi tìm cái thường trong cái vô thường, đi tìm cái vui trong cái khổ. Thực ra, nếu nói cho rốt ráo thì không còn khổ và vui, không còn đẹp và xấu, mà nó chỉ còn existence. Cách nói này cũng dễ bị phản đối, nhưng phải nói thôi. Khi mới đầu tu Tuệ quán, mình còn bị vướng ở chỗ là tôi ghi nhận, tôi thấy, tôi chánh niệm, tôi thanh tịnh...
Khi nói mới đầu tu Tuệ quán, mình còn bị ngứa ở chỗ là tôi ghi nhận, tôi thấy, tôi chánh niệm, tôi thanh tịnh, tôi phiền não. Thêm một bước nữa, biết rằng đây là ai, đây là sạch, đây là không sạch, đây là xấu, đây là thiện, đây là ác. Nhưng khi cao sâu hơn nữa, nó chỉ còn cái sinh diệt, chỉ còn danh sắc và sinh diệt. Lúc bấy giờ không còn đẹp xấu, không còn thiện ác nữa mà chỉ còn lại danh sắc sinh diệt. Nó chỉ còn là Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế. Chỉ còn lại bốn cái này thôi. Hãy nhớ giùm, ở trong cái Khổ, cái Tập, cái Diệt, cái Đạo có thấy cái thiện ác trong đó hay không? Đối với người sơ cơ thì có những nấc thang sơ đẳng, học kiểu em bé nằm ngửa bú bình thì thấy có. Nhưng nếu nói rốt ráo trong một sát-na chứng đạo cấp thiết thì làm gì còn thiện ác trong đó. Đây là Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế của tâm là đủ rồi.
Sáng nay dường như tôi đã chạm vào đúng ổ kiến lửa rồi. Bữa nay tôi đứng trần thân giữa trời cho bà con ném đá. Vậy là xong, mình qua bài kinh khác. Bây giờ cho tôi xin hỏi là bài kinh sáng nay bà con có ghi âm đàng hoàng không? Bài kinh sáng nay mà không ghi âm là bà con mất trắng một đời. Bởi vì chiều nay, trưa nay mà kêu tôi giảng lại đề tài này với nội dung này thì tôi nghĩ rằng chỉ có một phần trăm tôi giảng được thôi. Bởi vì tôi bị ông ứng bà nhập, tôi chỉ nói trong một lần nào đó thôi. Có thể một năm nữa, một tháng nữa, một tuần nữa, đến khi nào nhập lại thì mới nói được. Khi nào bà đó xả rồi, đi rồi, đã tan rồi thì tôi không giảng được nữa. Đừng tưởng tôi nói là mai mốt gặp tôi bắt tôi nói nữa. Lúc nào cậu cũng có về, cô đã đi rồi thì cái xác này mới nói được. Ráng mà ghi âm.
Bài kinh thứ hai là kinh về gốc bất thiện. Này các tỷ-kheo, có ba căn bản bất thiện này. Thế nào là ba? Tham là gốc bất thiện, sân là gốc bất thiện, si là gốc bất thiện. Tại sao Tham, Sân, Si là gốc bất thiện? Bởi vì với sự tác động của tâm tham, ta làm tội ác hại mình hại người. Với sự tác động của tâm sân, ta làm vô số điều ác hại mình hại người. Với sự tác động của tâm si, chúng ta cũng làm vô số điều ác hại mình hại người. Tại sao gọi là vô số? Vì nó nhiều quá, kể không hết thì gọi là vô số.
Tâm tham là gì? Do tác ý đến vẻ đẹp của sáu trần, chúng ta mới làm bao nhiêu tội ác để có được miếng ăn, kiếm tiền, để đeo đuổi, để chiếm hữu, để bảo trì những thứ mình có. Ngay giai đoạn kiếm tiền là mình đã làm bao nhiêu cái ác rồi. Có được nó rồi, mình thưởng thức, hưởng thụ, mình tạo bao nhiêu cái ác. Để bảo trì, giữ gìn cái mình đã kiếm được, mình tạo bao nhiêu cái ác. Đó là cái tội khổ do tham mà ra.
Qua tới cái sân, do bất mãn cái này cái kia cho nên chúng ta mới tìm đủ cách để đối phó, để trốn chạy. Mà để đối phó và trốn chạy, ác gì mình cũng làm. Tôi kể bà con nghe chuyện vì sợ khổ, bệnh. Bệnh khổ quá, chỉ riêng cái bệnh mà khổ, tôi ở nhà quê tôi biết nhiều bài thuốc không thể tưởng tượng được. Như bắt con thằn lằn bấm đuôi cho nó chạy vào miệng, rồi cầu nguyện luôn miệng. Có ai biết người ta đâm tên con chuột chù mà chuột cắn...
Có ai biết người ta cứ truyền miệng, như con chuột chù, lấy nó bọc đất sét nướng cho thành tro, đập nát ra uống để trị bệnh tào lao nào đó. Vì sợ bệnh cho nên bắt con tắc kè móc mắt bỏ vô bình rượu ngâm uống. Rồi rắn, bìm bịp, cái giống gì cũng đem ngâm rượu uống để chữa bệnh thấp khớp, đau nhức. Nói chung là để chạy trốn cái mình ghét. Vì đối phó với những cảm giác mình sợ, mình ghét thì chuyện ác gì mình cũng làm. Chỉ vì chạy trốn cái mình ghét, tôi nói gọn là chạy trốn cái mình ghét, đó là Sân.
Chính vì để đối phó, để chạy trốn cái mình ghét mà chuyện gì mình cũng làm. Vì mình muốn giải quyết cái khó chịu của bản thân, của người thân mà chuyện gì mình cũng làm. Đó là tội ác của tâm Sân. Còn tâm Si là sao? Do không thấy Bốn Đế cho nên chúng ta mới làm đủ thứ tội ác bằng tâm Tham, bằng tâm Sân. Tội ác được tạo ra bằng tâm Si có nghĩa là do không biết Bốn Đế nên chúng ta mới chạy theo hai hướng hành động: hành động dưới sự tác động của Tham và hành động dưới sự tác động của Sân. Như vậy, bất cứ hành động nào cũng có nghĩa là đang chạy dưới sự tác động của Si. Do không hiểu Bốn Đế là gì nên ta mới có hai hướng hành động: hành động theo sự tác động của Tham và hành động theo sự tác động của Sân. Chính vì nó dẫn đến hai hướng hành động đó nên bản thân Si cũng gọi là gốc của tội khổ trầm luân. Quý vị nghe kịp chưa?
Tới đoạn thứ tư: "Như vậy, này các Tỳ-kheo, người này được gọi là người nói về Phật pháp". Vì sao vậy? Ở đây Ngài nói rằng ngoài chuyện hành động theo sự tác động, sai sử, điều khiển của ba độc, thì từ cái gốc của thái độ sống phiền não đó nó mới dẫn đến thái độ nhận thức, đánh giá và nhận xét về đời sống bị sai lệch. Sai lệch là gì? Chúng ta nói dối, chúng ta vu cáo người khác. Nghĩa là bản thân mình hiểu sai, thấy sai nên những phát biểu của mình về người khác cũng sai. Cũng trong kinh Tăng Chi này, Ngài dạy rằng: một người tán thán kẻ không đáng tán thán, bài xích kẻ không đáng bài xích, chỉ hai hạng người này cũng đủ sa vào địa ngục. Hồi nhiều năm về trước đọc tới chỗ này tôi thấy kỳ: mình chê người không đáng chê, mình khen người không đáng khen thì có gì đâu mà đi địa ngục? Nhưng đến tuổi này, già tóc muối tiêu rồi mới hiểu. Thì ra ở đây Ngài nói là khen người không đáng khen, chê người không đáng chê. Có nghĩa là mình thờ phụng đối tượng không xứng đáng và chà đạp đối tượng có đạo hạnh. Vấn đề nó lớn như vậy. Chữ khen chê này có nghĩa là thái độ tâm lý của mình đối với...
Có vấn đề lớn như vậy. Bây giờ chúng ta xem xét thái độ tâm lý của mình đối với người khác. Có nghĩa là mình thờ phụng, mình đi theo những người không ra gì, coi tà sư là minh sư, coi minh sư là tà sư. Việc đó là nguồn của tội khổ.
Ở đây là do có tham, sân và si mà chúng ta mới có nhận xét sai lầm, có các phát biểu sai lầm về người khác. Cái này quan trọng lắm. Đời sống này có những sự tuyên truyền tạo ra sự lây lan cảm nghĩ bậy bạ cho người khác, đó là cái đại họa. Mình tào lao đã đành, nhưng mình còn đem cái tào lao đó ra quần chúng để rao giảng thì hạng người đó còn nhiều hơn nữa.
Để chấm dứt trường hợp lây lan cảm nhiễm nguy hiểm này, bản thân mỗi người phải có cái đầu sáng suốt và bình tĩnh một chút. Ngày hôm qua mình học rồi, khi tai nghe điều gì đó, chớ nên bác bỏ mà cũng đừng vội vã chấp nhận. Chúng ta phải bình tĩnh ngồi lại để xem xét coi điều đó có thuận ứng với đạo lý thánh hiền hay không. Điều đó có giúp cho cái ác của mình hạ giảm, hay cái ác chưa hiện khởi nó tăng lên không? Nó có giúp những cái ác đã có mất đi, những cái ác chưa có đừng sinh khởi? Hoặc điều đó giúp cái thiện chưa có được sinh khởi, cái thiện đã có được phát triển hay không? Mình phải quan sát cái đó.
Những người học đạo phải học cái đó. Nếu mình không có khả năng giám thức, không có khả năng nhận xét tự thân, thì coi như mình rất dễ trở thành con bài cho người khác, trở thành nạn nhân của những sự tuyên truyền rao giảng sai lạc.
Cho nên ở đây, sau khi nói về tội khổ của phiền não, đến mục thứ tư này, Ngài mới nói đến chiều sâu và chiều rộng. Ngài nói rằng từ ba cái đó dẫn đến sự khác biệt giữa Hiền Thánh và phàm phu. Thế nào là ngôn ngữ của Hiền Thánh? Vì Hiền Thánh đã chứng ngộ, cho nên ngôn ngữ của người chứng ngộ không giống ngôn ngữ của người phàm phu. Thế Tôn nói riêng và chư Hiền Thánh ba đời nói chung, khi phát biểu điều gì phải hội đủ bốn điều kiện sau đây:
Một là Kāla-vādī, tức là phải nói hợp thời. Bởi vì mình muốn làm việc gì cũng phải có thời điểm thích hợp thì công việc đó mới có hiệu quả, mới có kết quả như ý. Cho nên điều đầu tiên là phải hợp thời. Thứ hai là Attha-vādī, có nghĩa là điều đó phải có lợi ích, chứ không phải là những điều phiếm vô bổ. Điều thứ ba là Bhūta-vādī, phải đúng với sự thật. Đúng sự thật, hữu ích và đúng thời. Thứ tư là Metta-vādī, tức là nói bằng từ tâm, bằng thiện chí, nói với ý xây dựng.
Cả bốn điểm này hội đủ trong mỗi câu nói dài ngắn của Thế Tôn nói riêng và Thánh Hiền ba đời mười phương nói chung. Vì đâu mà có được những ngôn ngữ này? Đó là bởi vì các Ngài đã sống ngoài vòng điều khiển, ngoài tầm ảnh hưởng tác động chi phối của phiền não. Còn ở trong sự chi phối của phiền não, người ta sẽ có kiểu nói năng ngược lại: nói phi thời, nói sai sự thật, nói vô ích và nói không bằng từ tâm. Nhớ cái này rất là quan trọng. Cho nên mình tu là mình tu cho đúng, mình phải thường xuyên xem coi...
Nhớ cái này rất là quan trọng. Mình tu là tu cho mình, đúng, nhưng mình phải thường xuyên xem coi tác động của mình đối với thiên hạ muôn phương đang ở tình trạng nào, tích cực hay tiêu cực. Bởi vì có nhiều vị bản thân thì ok, nhưng sự tác động đến người khác, một là rất hạn chế, hai là rất tiêu cực.
Có nhiều vị, mình nhìn mình thấy ghét lắm. Có nhiều người đi chùa làm phước mạnh tay lắm, nhưng cái kiểu làm khiến nhân gian ghét vô cùng. Bản thân người đó thì ok, nhưng sự xúc tác với thân nhân lại rất tiêu cực. Cho nên mình tu cho mình nhưng cũng phải lưu ý đến ảnh hưởng của mình đối với thiên hạ chung quanh. Mình sống có trách nhiệm một chút, mình đâu phải gỗ đá. Đừng có chỉ có mặt mà không màng đến người chung quanh, sống kiểu sỏi đá rồi nói "tôi mệt quá".
Bây giờ xét về căn bản của thiện, đó là không tham, không sân, không si. Không tham là gì? Không tham tức là không lưu ý, không quan tâm đến khía cạnh mỹ tướng của sáu trần. Không sân tức là không lưu ý đến khía cạnh mặt trái của sáu trần. Hồi nãy mình học rồi, không tham có nghĩa là không lưu ý đến những mặt phải, khía cạnh đẹp đẽ đó. Còn không sân là mình không lưu ý cái gì mang khía cạnh gây sốc.
Ở đây tôi chỉ đơn cử một khía cạnh, một trường hợp điển hình. Chẳng hạn như tu tâm từ, có tới 37 pháp dẫn đến mục đích cứu cánh để chấm dứt tâm sân, đó là 37 phẩm Bồ Đề. Nhưng nhiều khi tùy căn cơ của người ngồi trước mặt mà Đức Phật chỉ nói một trong 37 pháp đó thôi. Về việc trừ tâm sân, có nhiều người học đạo lơ mơ nghe như vậy cứ ôm chặt lấy, rồi nói muốn trừ tâm sân phải tu tâm từ. Đó chỉ là một trong nhiều cách tu. Cách rốt ráo nhất để trừ tham, sân, si thì nói gọn là Tứ Niệm Xứ, còn nói rộng là 37 phẩm trợ đạo: ngũ căn, ngũ lực, Tứ Chánh Cần, Tứ Niệm Xứ, Bát Chánh Đạo.
Khi tu từng nhóm trong 37 phẩm đó, mình sẽ trừ được phiền não qua các tầng thánh. Ví dụ mình nói 37 phẩm, thực ra đó là phương tiện thôi, chứ 37 chính là Bát Chánh Đạo. Nói rộng là 37 pháp, nói rộng là ngũ căn ngũ lực, nói rộng là Tứ Chánh Cần, nói rộng là Tứ Niệm Xứ. Các vị làm ơn nhớ giùm cái này: tu từng điều trong đó, nói rộng ra chính là toàn bộ những cái còn lại. Nói như vậy để thấy trừ tâm sân không phải chỉ có một cách, mà là cả 37 phẩm luôn. Nhưng tùy vào căn duyên của người ngồi trước mắt mà Ngài nói riêng về tâm từ.
Tôi nói lung tung có hiểu không? Tôi nói tùm lum có nghe không? Rồi, ngủ hết rồi, đang nghe tiếng ngáy luôn rồi. Giỡn cho vui thôi chứ đừng có buồn ngủ nha. Tôi nói mà tôi nhắm mắt là cái đầu tôi cũng buồn ngủ quá. Bây giờ kệ nó đi, tôi đã xong cái bài này rồi. Giảng bài ứng dụng tu tập mệt quá. Chính vì chúng ta không sống trong sự điều động, sai sử của phiền não nên chúng ta mới có được tác động tích cực lên thân nhân, lên những người chung quanh, chẳng hạn như...
Cho nên chúng ta mới có được một cách tác động tích cực lên thân tâm, lên những người chung quanh, chẳng hạn thông qua các con đường lời nói. Chúng ta là những người nói đúng sự thật, nói đúng thời, nói có lợi ích và cuối cùng là nói bằng từ tâm, có xây dựng để giúp người.
Điều độc đáo trong Phật pháp là gì? Khi anh sống tốt cho anh cũng có nghĩa là anh đang tốt với mọi người. Anh sống tốt cho mọi người cũng có nghĩa là anh đang tốt cho chính anh. Cho nên mình coi kinh, mình thấy Bồ Tát nhiều khi có vẻ quên mình để lo cho đời, nhưng thật ra lúc các vị đang lo cho đời cũng là các vị đang bổ sung cho chính mình. Khi mình sống đẹp cho người cũng có nghĩa là đang đẹp cho mình. Khi mà ngài bỏ hết mọi người vào rừng tu một mình, nghỉ dưới gốc cây một mình, cũng có nghĩa là lúc này ngài đang chuẩn bị một cái gì đó ngon lành cho cuộc đời mai này.
Tôi ghét nhất cái chuyện tào lao, dùng tiếng Việt chửi người ta là Tiểu thừa, tu chỉ ích kỷ cho mình. Tại sao mà nói chi mà nó trẻ con, nó "bú bình" dữ thần vậy trời? Khi mà bản thân anh ngon lành thì thế giới mới có được một tấm gương ngon lành, có một vị minh sư ngon lành. Ăn rồi cứ chạy ra ngoài là sao? Cho nên nhớ, anh tu tốt cho ai cũng có nghĩa là anh đang hoàn bị con người ngon lành của anh. Anh đến ngồi dưới gốc cây, anh đào hố anh chui xuống anh ngồi thiền, cũng là anh đang chuẩn bị một món quà tặng ngon lành cho đời. Theo kịp chưa?
Cho nên một người sống bằng cái thiện tâm ý là coi như người đó đã là một sự đóng góp cho đời. Tôi nhớ câu của nhà thơ nào đó quên tên: "Xin cảm ơn hoa đã vì ta mà nở, trái đất vui từ những lẻ loi". Nó vô danh, có thể nó không có mùi, không làm thuốc, nhưng nó lặng lẽ âm thầm vươn lên từ mặt đất. Rồi ai đó là khách qua đường nhìn thấy nó, cho cái lòng nhẹ đi một tí. Có phải từ đóa hoa vô danh đó, tuy nó nhỏ thôi, nhưng chỉ cần nó đẹp cho riêng nó là tự nó đã đóng góp cho đời rồi. Cứ thử nó là cái bụi mắt mèo, có phải mình có hại đời hay không? Cho nên đừng có sống dại, chỉ cần niệm cái này: "Tôi sẽ là một đóa hoa đẹp, dầu vô danh đến mấy, chứ tôi dầu chết cũng không làm cái bụi mắt mèo".
Đây là lý do vì đâu chúng ta phải sống thiện. Bởi vì một người sống thiện, nội bản thân con người đó đã là một đóng góp vào thế giới. Nhiều lần tôi nói rồi, mình thấy một con kiến, một con ruồi nó bé mọn, tầm thường thiệt, nhưng nếu mình nghĩ con ruồi ấy trong cái dòng chảy miên viễn của luân hồi, chắc chắn có lúc nó lên làm ông hoàng bà chúa. Nó sẽ là Ngô Tam Quế, là Từ Hi Thái Hậu, là Hitler, là Pol Pot, là Mao Trạch Đông, là Bin Laden...
Cho nên hôm nay mình nhìn ở khía cạnh hiện tại thì đúng là con ruồi nó nhỏ thiệt, nhưng xét trên bản chất vấn đề, một người tu hành đàng hoàng rồi chứng Thánh, rồi Niết-bàn không còn sân dữ nữa, thì sự vắng mặt của một chúng sanh dầu là vô danh cách mấy cũng đã là đóng góp cực kỳ to tát, đáng kể cho cuộc đời. Tôi nói lại lần nữa, một con ruồi mà theo dòng chảy luân hồi, nó tu hành nó đắc đạo thì nó đáng kể lắm. Bởi vì từ nay trên thế giới vĩnh viễn mất đi một cái mầm mống tai họa.
Dòng chảy luân hồi nó dừng hẳn, nó đắc đạo thì nó đáng kể lắm. Bởi vì từ nay trên thế giới vĩnh viễn mất đi một khách lạ, một con khổ. Quý vị hiểu không? Lớn chuyện lắm. Cho nên bữa nay tôi chấm luôn câu xác định ở đoạn này, nhưng mà tôi ghi cho quý vị cái note này. Ghi xong thì ngày mai mình học tiếp cho nó sang, cho nó đủ.
Bài kinh Sa-môn Quả trong Trường Bộ là bài kinh đầy đủ nhất để mô tả hành trình tu trì của một Tỳ-kheo. Tôi nói lại, bài kinh Sa-môn Quả trong Trường Bộ là bài kinh mô tả đầy đủ nhất về hành trình tu trì của một Tỳ-kheo. Và bài kinh Trai Giới, đoạn 70 này, là bài kinh mô tả đầy đủ nhất về cái gọi là con đường hành trì của người cư sĩ.
Cho nên người nào muốn nghiên cứu về đời tu của một Tỳ-kheo thiệt sự, Saman chứ không phải Brahman, thì đọc cho kỹ bài Sa-môn Quả. Còn quý vị nào mới lung tung mù mịt, cư sĩ mình phải làm gì, làm ơn đọc giùm bài kinh Trai Giới này, đoạn 70. Đoạn bài kinh này nói toàn bộ hành trình của một người cư sĩ, từ con số không mà lên tới con số một tỷ trong thang giá trị tâm linh. Chính là kinh này.
Ngày mai tôi giảng đến đầu đến đũa, tới nơi tới chốn. Bữa nay quý vị về nghiên cứu. Nghiên cứu bài kinh này rất có chiều sâu. Nhắc lại, trong bài kinh này có tới ngàn lẻ một chuyện để chúng ta nói với nhau. Thôi thì chúc các bạn một ngày vui, buổi đêm nằm nhiều mộng đẹp. Hẹn gặp lại ngày mai. Chứ bữa nay ngưng bài kinh này thì nó uổng, bởi vì đây là một bài rất sâu. Chúc quý vị ban ngày vui.
Bài 56. Kinh Tăng Chi | Chương Ba pháp | Phẩm Lớn (tt3)
Bản transcript pháp thoại đã được chỉnh dấu câu và trình bày lại để dễ đọc. Video YouTube đặt bên cạnh để đối chiếu khi cần; phần đọc chính là transcript bên dưới.
Thuộc Chương Ba pháp . Dùng các nút bên dưới để quay lại danh sách, lọc theo chương hoặc tiếp tục bài kế tiếp.
Mốc nội dungNhấn để mở/thu gọn
- Phân biệt tham, sân, si
Giảng về đặc điểm và mức độ khó trừ của ba phiền não căn bản.
- Nguồn gốc ba độc tố
Giải thích tác ý tướng và sự lưu ý đến khía cạnh đẹp-xấu của sáu trần.
- Suy tư không hợp lý
Phân tích tâm si phát sinh từ sự suy nghĩ sai lệch và phóng dật.
- Thân kiến và hoài nghi
Vai trò của thân kiến, hoài nghi trong phiền não và sự chấm dứt khi đắc quả Tu-đà-hoàn.
- Ý nghĩa sống thiện
Sống thiện là đóng góp tích cực cho đời, dù nhỏ bé hay vô danh.
- Hành trình tu tập
So sánh bài kinh Sa Môn Quả và bài kinh Trai Giới về con đường tu hành của tỳ-kheo và cư sĩ.
- Khuyến khích nghiên cứu
Mời gọi tiếp tục tìm hiểu sâu sắc để thấu hiểu con đường giải thoát.
Giữ lại một điều có thể thực hành
Đừng cố nhớ toàn bộ transcript. Chọn một ý chính, quan sát nó trong sinh hoạt hôm nay, rồi quay lại đọc tiếp khi tâm còn sáng và dễ tiếp nhận.
- Ý nào liên hệ trực tiếp đến khổ và nguyên nhân khổ?
- Ý nào có thể đem vào lời nói, việc làm, hoặc chánh niệm hôm nay?
- Nếu cần đối chiếu, mở Kinh Tăng Chi Bộ để đọc bản kinh gốc.