Hôm nay mình bắt đầu đoạn 42. Nội dung của đoạn này là ba đặc điểm của một người có niềm tin. Ở đây mình hiểu là Chánh Tín. Xin nhắc lại một điều quan trọng là chữ niềm tin trong những chỗ như thế này phải hiểu là Chánh Tín. Ngay cả niềm tin trong Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ cũng phải hiểu là Chánh Tín, bởi vì trong Phật giáo truyền thống, điều đó vô cùng quan trọng. Bởi vì niềm tin mà không có trí tuệ thì không xài được. Cho nên bà con hoan hỉ hiểu cái này, trong trường hợp như thế này, niềm tin hay lòng tin phải hiểu là Chánh Tín, tức là niềm tin đi đôi với trí tuệ.
Đặc điểm của người có Chánh Tín có nhiều lắm, ví dụ như đặc điểm, điểm nổi bật của một nơi chốn, của một món ăn, của một món đồ, của một con người … thì có nhiều cách để lưu ý. Cho nên đặc điểm của người có Chánh Tín có nhiều cách nói, nhiều cách phân tích tùy vào hoàn cảnh, tùy vào đối tượng.
Thì ở đây, trong bài kinh này, căn cứ vào căn cơ của người trước mặt, Đức Phật nói đến 3 đặc điểm của người có Chánh Tín.
1. Một là họ rất thích được diện kiến các bậc có giới hạnh.
- Chỗ này hơi dễ hiểu lầm vì có chút dễ hiểu lầm vì có chút tế nhị như vầy: có không ít Phật tử đến với Chư tăng vì thích cách nói chuyện, thích tăng tướng cao ráo, thích cách cư xử ý tứ, nhưng căn bản vẫn là vị có giới hạnh. Họ quan sát giới hạnh. Giới hạnh ở đây không phải là thu thúc cò, đạo đức giả. Giới hạnh ở đây là trong từng lời nói, đi đứng, từng bữa ăn, từ cách cầm ly nước uống, phẩm chất giới hạnh được biểu lộ ra. Chuyện đầu tiên của người có Chánh Tín là họ đặc biệt hoan hỷ với những đối tượng mà họ nhận xét là có giới hạnh. Giới hạnh ở đây là có tàm, có quý, có niềm tin, có trí tuệ, có chánh niệm. Tàm quý, niềm tin, chánh niệm và trí tuệ thì không thể thiếu rồi đó và dĩ nhiên có vị nhiều vị ít, nhưng căn bản là tàm quý và niềm tin. Đây là những điều bắt buộc phải có ở các vị có giới hạnh. Còn các vị hỏi tôi dựa vào đâu, thì rõ ràng trong Tứ thanh tịnh giới của Tỳ kheo, bất cứ ai có đọc hoặc có vào google đánh. Tứ Thanh Tịnh Giới thanh tịnh nhờ cái gì? Thì 227 giới thanh tịnh nhờ niềm tin, thu thúc lục căn thanh tịnh nhờ Chánh niệm, quán tưởng thanh tịnh nhờ trí tuệ, nuôi mạng thanh tịnh nhờ tinh tấn, tức là thà đội nắng đội mưa đi bát chứ không có lê la cư sĩ mua lòng để họ cung phụng thức ăn nước uống, thuốc men, cơm bưng nước rót thì không, thà cực khổ mà không có lệ thuộc ai. Cái đó là nuôi mạng chân chánh. Thì như vậy tôi nhắc lại:
+ Giới bổn thanh tịnh là nhờ niềm tin (giới bổn là 227 đó), phải có đức tin mới làm được, mà nếu thiếu Tàm Quý cũng không làm được;
+ Thu thúc lục căn nhờ chánh niệm;
+ Còn quán tưởng thanh tịnh nhờ trí tuệ;
+ Còn nuôi mạng thanh tịnh là nhờ tinh tấn;
Cho nên quan sát một vị Tỳ kheo có giới là quan sát những khía cạnh đó.
2. Tiếp theo, người có Chánh Tín rất thích nghe Pháp.
- Tôi nói cái này dĩ nhiên sẽ mất lòng nhiều người, mà tôi cũng phải nói luôn. Trong 100 người Phật tử tôi gặp, theo nhận xét của tôi, chỉ có nhiều lắm là một phần ba là thích nghe Pháp. Thì có nhiều người trong zoom nghe như vậy, quý vị có thể nói thầm rằng tại chắc họ nhìn sư sao cho nên họ không muốn nghe, thí dụ như vậy, đó là tùy quý vị. Nhưng theo quan sát của tôi, hai phần ba người cư sĩ mà tôi biết là họ thích cúng bái, tụng niệm, thích đeo tượng Phật, thích cầu an, thích cầu siêu, rồi thích cúng dường, thích hành hương, rồi thích gì đó. Chứ còn thích nghe Pháp thì theo tôi quan sát thi hai phần ba là không có. Cho nên nếu dựa vào điểm này, điểm thích nghe Pháp, thì coi như hai phần ba Phật tử Việt Nam không phải là Phật tử.
- Còn nếu nói rằng đến với Chư tăng mà quan sát rồi hoan hỷ với khía cạnh giới hạnh, tôi nghĩ số này không phải là toàn bộ. Tôi không dám đưa ra con số bao nhiêu phần trăm, nhưng theo tôi thì ông sư đó cư xử vừa lòng mình là được, còn ông sao cũng được hết. Rồi mai này nổi cơn bất mãn nhau mới phanh phui ra là ổng bla bla bla bla. Chứ nếu ổng đang cái lúc mà mặn mà với mình, mặn mà ở đây có nghĩa là tình nghĩa thầy trò thì khía cạnh giới luật không quan trọng. Như vậy, nếu dựa vào điều này mà nói thì không ít Phật tử Việt Nam không phải là Phật tử. Đó là hai chuyện.
3. Chuyện thứ ba là người có Chánh Tín là người rất hào sảng.
- Cái này rất dễ hiểu lầm, bởi vì khi giảng chỗ này, bà con nói: "Ồ, nếu tôi là người nghèo thì tôi đâu có gì đâu tôi cúng, như vậy chắc trong mắt Chư tăng tôi không phải là người có Chánh Tín". Không phải, cái này chỉ có quý vị tự biết thôi.
- Đức Phật dạy rằng ngay đến một Tỳ-kheo chỉ có tam y quả bát vẫn hoàn toàn có thể sống như một người hào sảng, hoàn toàn có thể sống với một tấm lòng hào sảng, hoàn toàn có thể sống với một bàn tay hào sảng. Tôi nhắc lại, đây là kinh nói chứ không phải tôi nói. Một Tỳ-kheo chỉ có tam y quả bát thôi vẫn hoàn toàn có thể sống với tấm lòng, trái tim và bàn tay hào sảng. Là sao? Bởi vì Ngài nói rằng chỉ cần biết chia sẻ bình bát khất thực của mình cho bạn tu, thì đó cũng là một sự hào sảng. Bởi vì cái hào sảng trong định nghĩa của Đức Phật không phải là giá trị vật chất, không phải số lượng vật chất, không phải kích thước, không phải trọng lượng, mà cái hào sảng ở đây được đánh giá trên chính bản chất nội tâm của mình. Mình dám cho ra 30%, 40%, 60%, 80% vật sở hữu, đó gọi là hào sảng. Chứ còn mà quý vị có tới một tỷ mà ngắt ra một trăm ngàn đô la thì chưa chắc là hào sảng. Bởi vì một tỷ là một ngàn triệu, quý vị móc ra một trăm ngàn thì quý vị coi nó là bao nhiêu phần trăm của một tỷ đó? Chưa chắc.
- Chưa kể quý vị móc ra bằng ý tưởng, bằng lý tưởng, bằng mục đích gì hay động cơ tâm lý nào: cầu danh, cầu lợi hay tình cảm riêng tư bla bla bla. Tôi biết bài giảng này chắc chắn động chạm đến rất nhiều người, nhưng nếu cấm tôi động chạm thì tôi nịnh quý vị sao? Nói cho quý vị vui thì coi như dẹp Phật Pháp qua một bên. Nếu nói đúng thì quý vị phải chấp nhận thôi.
Chuyện thứ nhất là phần giới hạnh này của Tăng Ni. Tuy nhiên, đối với người cư sĩ, nói ra nó hơi kỳ: tu hành là chuyện của Tăng Ni, không phải là chuyện của Phật tử, nhưng Phật tử không thể nào nói Phật tử không có trách nhiệm trong chuyện đó. Tại vì chính nhu cầu của Phật tử phần nào có ảnh hưởng đến Tăng Ni. Cái đó tôi nói thiệt. Nếu Phật tử đến với Tăng Ni mà coi nặng vấn đề giới luật thì tình hình nó khác. Còn nếu chỉ đến theo kiểu tìm một người bạn, một người sư huynh, sư đệ, một người bà con trong tình thân thiết rồi không lưu ý đến chuyện đó, thì lâu ngày sẽ khác.
Chính bản thân tôi, tôi quan sát Phật tử là tôi biết mình phải nói năng, đi đứng như thế nào. Dĩ nhiên, nhiều người nghe tới đây sẽ nổi điên lên: "Quý sư tu thì phải trong sạch chứ mắc mớ gì tụi tôi". Nhưng quý vị không thể nói quý vị là zero. Nếu quý vị lơ đi với một vị bê bối thì bà cố họ cũng không dám gặp quý vị nữa. Đằng này, không ít người cứ chú ý đến chuyện đó, chê ông này nói chuyện không dễ thương, ông kia nói chuyện dễ thương, rồi cách cư xử .v.v… Thì cái đó quan trọng nhất là nhận xét của mỗi người thôi. Cho nên cái Chánh Tín ở đây, nói thẳng hơi nặng là mình tẩy chay, tẩy chay người ta thì tự nhiên người ta biết người ta sửa còn không người ta né mình luôn. Đằng này mình cứ duy di thì lâu ngày, những đối tượng mà mình thên quen thì họ trời ơi thì mình ráng mà chịu.
Rồi cái thứ hai, đặc điểm của người có Chánh Tín là thích nghe Pháp. Bởi vì sao? Vì tăng ni đối với mình, ngoài cái chuyện là đối tượng cúng dường để mình gieo phước bằng cách hào sảng, thì cái thứ hai vẫn là nghe Pháp. Thậm chí đối với một số người, tôi thấy nghe Pháp quan trọng hơn là cúng dường. Có người thì cúng dường nhiều hơn nghe Pháp. Còn có người thích gặp thôi, tôi có một sư phụ ngon lành là đủ rồi. Cách đây không lâu khi đi Cali, có một bà ở nhà cứ nói hoài, bả mê một vị nào đó chỉ vì theo bả là vị đó có giới bả mê. Bả không quan tâm nhiều đến vấn đề nghe cái gì, hiểu được bao nhiêu, mà bả chỉ quan tâm và cứ khen hoài vì vị đó có giới. Đó cũng là một cách Chánh Tín nhưng nó bị khiếm khuyết.
Một người phật tử Chánh Tín hoàn hảo là phải có đủ ba cái. Một là phải biết coi trọng khía cạnh giới hạnh, nhìn vị sư từ góc độ giới hạnh, đó là đặc điểm của Chánh Tín. Cái thứ hai là Pháp. Bởi vì giá trị của một tu sĩ nằm ở chỗ nào? Một là khả năng tự tu, hai là độ tha. Tự tu là vị đó phải có niềm tin, có giới hạnh, có tàm quý, có trí tuệ và phải có pháp học, phải có pháp hành. Khả năng thứ hai của một vị tu sĩ, dù ít dù nhiều, dù giỏi dù dở, là phải có khả năng độ tha. Độ tha ở đây có nghĩa là mình có thể giúp người khác có được niềm tin, có được nhận thức về giáo lý và từ đó dẫn đến chuyện hành trì. Có nghĩa là mình có thể hỗ trợ cho phật tử về niềm tin, về kiến thức và về hành trì. Dù ít dù nhiều, dù hay dù dở, người xuất gia phải có khả năng này.
Về phía phật tử cũng vậy. Nếu tăng ni trau dồi khả năng này thì có cung mới có cầu, có cầu mới có cung, hai cái này hỗ trợ cho nhau. Cho nên về phía tăng ni nên có khả năng này, nên có khả năng này. Cái quan trọng nhất là khả năng tự tu, còn nếu có thêm khả năng độ tha thì tuyệt vời.
Riêng phật tử đến với tăng ni mà ngoài chuyện cúng dường ra mà không có nhu cầu lắng nghe, thì theo nhận xét của riêng tôi, người cư sĩ chỉ thích cúng dường bố thí mà không thích nghe Pháp thì người này chỉ là phật tử chỉ có 10% thôi. Có nghĩa là thay vì lựa đối tượng đạo nào đó để cúng, họ lựa đối tượng Phật pháp để cúng thì đó cũng kể là phật tử rồi. Nhưng nếu không thích nghe chánh pháp dù ít dù nhiều - có thể cúng ông A mà đến nghe ông B cũng được, miễn sao có lòng thích nghe chánh pháp. Còn nếu phật tử không thích lắng nghe thì đối với tôi người này chỉ là phật tử có 10%.
Tôi nhắc lại, 90% còn lại không phải là phật tử. Vì sao? Vì chỉ thích cúng dường mà không nghe Pháp thì anh biết cái gì về Đức Phật mà anh quy y? Anh biết cái gì về Pháp? Anh biết cái gì về Chư tăng? Anh biết cái gì về chuyện nhận thức và hành trì? Nếu những cái này đều không có thì anh là phật tử kiểu nào? Anh chỉ được 10% là bởi vì anh lựa chúng tôi, lựa cái đám này này chứ không phải là mấy ông linh mục, mấy ông mục sư, mấy ông giáo sĩ bên đạo Hồi, đạo Do Thái. Chỉ khác có chỗ đó thì anh là Phật tử 10% thôi. Còn anh không có học hỏi giáo lý, anh không có thiết tha lắng nghe thì đối với tôi đó không phải là Phật tử.
Ngay cả ba má của mình, ông bà ngoại của mình, mình cũng phải biết ít nhiều về họ chứ. Làm sao mà mình mù tịt về má của mình mà gọi là người con chí hiếu được? Đó là tôi nói chuyện đời, chuyện đơn giản nhất. Đã là một người con chí hiếu mà mù tịt về má, không biết má là người Tàu hay người Việt, quê quán má ở đâu, hồi sống má thích cái gì, ghét cái gì, rồi cuộc đời thăng trầm của má qua những giai đoạn nào, qua những khúc quanh nào … Không chi tiết lắm nhưng cũng phải biết đại khái về má của mình, về bà ngoại của mình chứ. Tôi chưa từng biết tới một người nào gọi là đại hiếu, gọi là hiếu thảo mà mù tịt về ba má mình, ông bà ngoại, bà nội của mình. Tôi chưa từng nghe và tôi cũng không tưởng tượng ra cái người như vậy mà gọi là đại hiếu được. Thí dụ như có một trường hợp đặc biệt mà nó hiếm vô cùng là bị thất lạc từ nhỏ, tới hồi mình nhận ra thì ba má chết rồi hoặc là mình nhận ra ba má thì cũng chỉ còn có vài tháng rồi mất nhau luôn. Chỉ trường hợp này thôi, mà trường hợp này không có nhiều. 99% đại hiếu là gì, hiếu thảo là gì? Là phải biết ba má là ai, ba má ra làm sao, còn chuyện sống gần ba má được bao nhiêu, cái đó tôi không quan trọng. Nhưng ít ra anh phải biết ba má anh, anh mới gọi là người có hiếu chứ. Tôi nhắc lại, tôi chưa từng thấy và chưa từng nghe một người con hiếu thảo nào mà mù tịt về ba má mình.
Đối với Tam Bảo cũng vậy. Mình nói về Phật, về Pháp, về Tăng mà mình mù tịt thì làm sao gọi là Phật tử, làm sao gọi là có Chánh Tín được? Mà làm sao anh biết được Phật, Pháp, Tăng là cái gì nếu anh không có nghe, anh không có đọc, anh không có học?
Đặc điểm của Chánh Tín thứ nhất là quan sát đối tượng mà mình thờ cúng, hộ trì, là phải quan sát từ khía cạnh giới hạnh, không quan sát từ khía cạnh khác. Tôi nhắc lại, không quan sát ở khía cạnh khác mà chuyện đầu tiên là khía cạnh giới hạnh, rồi sau đó mới tới cái khác. Bởi vì người xuất gia khác người cư sĩ ở đặc điểm đó, mình phải quan sát từ khía cạnh đó.
Thứ hai là sự lắng nghe chánh pháp. Tôi ví dụ cái đầu mình giống như cái ao vậy đó, nếu nước không ra vô thì nó là ao tù, thậm chí nó là cái ống cống. Có lắng nghe là có nước ra nước vô, nó mới sạch, nước mới xài được. Chứ còn cái biết bẩm sinh của mình, cái biết do mình va chạm ngoài đời, nó không hỗ trợ cho giá trị tâm linh mình được.
Thứ ba là tấm lòng hào sảng. Hồi nãy tôi định nghĩa rồi, nếu không nói rõ là người ta dễ hiểu lầm là tôi đang kêu gọi cúng dường. Không phải. Hào sảng ở đây tức là tấm lòng của anh, anh có khả năng buông bỏ. Tiếng Pali Mutta có nghĩa là bàn tay rộng mở. Nếu nói cho rốt ráo, một người hiểu đạo là người cầm, chứ không có nắm, không có siết. Có nghĩa là sao? Vì nhu cầu ta phải có vật dụng để xài, vì nhu cầu ta phải có chỗ ở, phải có thuốc men, phải có thức ăn, phải có thức uống, phải có vật dụng. Một người hiểu đạo luôn luôn hiểu như vậy, vì nhu cầu mà ta phải có, chứ hoàn toàn không có một lý do nào để làm chuyện gọi là sở hữu. Bởi vì bản thân sự sở hữu nó rất là bạc.
Các vị biết không, tôi nhiều lần nghĩ cái chữ "của" là gì? Đó là một khái niệm hư ảo và rất đỗi phù phiếm. "Của" là gì? Mình bỏ tiền ra mình sở hữu một cách hợp pháp món đồ nào đó, thì trong cách gọi của dân gian người ta gọi đó là “của”, “của” mình. Chứ bây giờ mình bàn giao, sang nhượng, hoặc mình tắt thở rồi thì cái đó không còn là của mình nữa. Đây là ý nghĩa rốt ráo của chữ bố thí.
Bố thí có nghĩa là mình hiểu rất rõ, vốn dĩ nói theo chân đế thì tất cả đều vô ngã, mà nói theo tục đế thì cái gọi là quyền sở hữu nó rất là phù phiếm. Trong đời sống con người Phật tử, dù xuất gia hay tại gia, tôi gọi chung là Phật tử, có nghĩa là con Phật, thì bố thí là một chuyện đương nhiên. Đa phần Phật tử cứ nghĩ rằng bố thí là làm được thì tốt. Trong nhận xét của tôi, đa phần cứ tưởng bố thí hoặc trì giới là làm được điều tốt, nhưng không phải, đó là chuyện phải làm.
Thật ra một người hiểu đạo không có lý do gì họ không bố thí. Tôi nhắc lại, chữ bố thí hay tinh thần hào sảng hoàn toàn không dựa vào giá trị vật chất của món đồ, không dựa vào kích thước hay trọng lượng của món đồ đó mà dựa vào chính tấm lòng của mình. Ví dụ như hồi nãy tôi trích dẫn đoạn Kinh: một vị Tỳ kheo với tam y Bình bát hoàn toàn có thể sống với một tâm hồn hào sảng, một bàn tay hào sảng là vì sao, là bởi vì chỉ với một bình bát mà vị đó có thể chia sẻ được với anh em. Biết ông sư kế bên ổng đang bị bệnh, ổng không ăn cái món trong bát ổng được, bửa nay ổng đi người ta để cho ổng những món mà chỏi lại cái bệnh của ổng, okay nhường cho ổng cái món trong bát của mình; biết cái ông sư đó không có răng, ổng không ăn cái đồ trong bát ổng được, okay mình chia sẻ cho ổng; biết ổng bị cao máu, ổng ăn cái món trong bát mình tốt hơn, okay mình chia sẻ. Nói như vậy, quý vị có thể hình dung đươc ông sư đi bát hoàn toàn có thể hào sảng chứ đâu phải là không thể; nhường một món ăn cho người bị bệnh cáo máu, colesterol, tiểu đường, mình đổi cho ổng đó là hào sảng; thấy bình bát ổng ít, mình chia cái nhiều của mình cho ổng, đó cũng là hào sảng; nay ổng bệnh không đi bát được, thôi 2 anh em mình chia nhau cái bình bát, đó cũng là hảo sảng.
Nói thiệt kỹ về người xuất gia để thấy rõ người cư sĩ. Đối với người xuất gia, chỉ có một bình bát mà người ta còn hoàn toàn có thể hào sảng, thì nói gì là người cư sĩ, giàu nghèo, dù nghèo rớt mồng tơi cũng còn hơn cái bát của ông sư.
Cho nên đặc điểm của người có Chánh Tín là không có bỏn xẻn. Bởi vì nhiều lý do: Thứ nhất, người có Chánh Tín hiểu rất rõ một điều là sống nay chết mai, khỏe cách mấy, trẻ cách mấy thì cũng có thể sáng sống chiều chết. Điều thứ hai, người có Chánh Tín luôn luôn hiểu rõ một điều: ta ăn thì hết, mà người ăn thì còn. Các vị thì tôi không biết tin cỡ nào, nhưng tôi tin điều đó 100%: ta ăn thì hết, người ăn thì còn.
Đây là lý do mà người có Chánh Tín không muốn nắm giữ. Trong kinh Trường Bộ, bài kinh Phúng Tụng và Thập Thượng có nói đến bốn cách sử dụng tài sản vật chất của người cư sĩ. Tôi nói rõ địa chỉ luôn: Phúng Tụng và Thập Thượng, phần Bốn chi của kinh Trường Bộ, trong đó Đức Phật dạy 4 cách sử dụng tài sản vật chất:
- Một là trả nợ cũ, có nghĩa là mình dùng cái mình có để phụng dưỡng cha mẹ, trả ơn cho người hữu ân. Nghèo như người ăn mày cũng có thể làm chuyện đó.
- Hai là cho vay nợ mới, có nghĩa là mình có trách nhiệm với những người bên cạnh trong gia đình như vợ con, bạn bè, giúp đỡ họ trong khả năng. Cái đó được gọi là cho vay nợ mới, còn chuyện họ trả hay không là việc của họ. Chữ "cho vay" ở đây có nghĩa là phần mình, mình có để dành đó. Cho vay nợ mới có nghĩa là phần mình để dành. Ở đây có hai cách để dành: cách thứ nhất gọi là cho vay nợ mới, cách thứ hai gọi là chôn của để dành.
Trước hết là trả nợ cũ, có nghĩa là trả lại cái ơn của cha mẹ, của người nào đã từng giúp đỡ mình. Còn cho vay nợ mới là khi mình ban bố, chia sẻ cho những người trước đây chưa từng có ân nghĩa với mình.
- Cái thứ ba là đem liệng bỏ hố sâu. Liệng bỏ hố sâu có nghĩa là một phần tài sản mình sử dụng. Đức Phật gọi phần này là đem liệng bỏ ở hố sâu, vì mình dùng rồi thì hết, nó trôi tuột đi. Giống như mình bỏ vào trong bồn cầu rồi bấm nút dội nước vậy, nó không còn lại cái gì hết.
- Riêng phần thứ tư là chôn của để dành, có nghĩa là biết bố thí cúng dường. Ở đây tôi nhắc lại, không hẳn phải đem cho tăng ni, người xuất gia mới gọi là bố thí, mới gọi là chôn của để dành, mà là bất cứ ai.
Tôi kể cho quý vị nghe chuyện nhỏ xíu thôi. Có một vị trưởng lão thời Đức Phật Ca Diếp, được người ta mời về cúng dường tại nhà. Vị này giới luật trong sạch nhưng không có tài sản gì, chỉ có bình bát thôi. Trên đường về chùa, ngài gặp một con chó mẹ gầy gò trơ xương đang nằm cho bầy chó con bu quanh để bú, nhưng nó không còn sữa để cho bú. Vị này động lòng đại bi, mới nghĩ trong bụng rằng mình không có gì để cho nó ngoài bữa ăn vừa mới nuốt vào. Thôi thì mình đói một ngày cũng không sao, còn con chó mẹ này mà đói thì nguyên bầy chó con cũng đói, coi như cả đám đều đói. Ngài nghĩ mình đói một mình còn hơn để cả đám cùng đói. Chỉ vì nghĩ như vậy mà ngài móc cổ ngài ói cho nó ăn. Đối tượng bố thí ở đây chỉ là một đám chó hoang, nhưng chỉ vì tấm lòng đó mà đời đời kiếp kiếp vị này sinh ra không bao giờ biết đói. Thậm chí trong những hoàn cảnh ngặt nghèo không có ai để mà giúp thì chư thiên phải ra tay mà giúp. Trong kinh ghi rõ, những vị nào khuất mày khuất mặt mà gặp vị này gặp lúc khó khăn mà không giúp là nóng bức chịu không nổi. Mà họ không biết gì hết, tự nhiên gặp cái con người này, mà gặp lúc khó khăn, ví dụ vị này đang đi lạc đường, mà mặt mày xanh mét, đói bụng mà Chư Thiên có chánh kiến hay tà kiến gì đó không biết, hễ gặp mà không giúp thì họ bị nóng bức giống như bị bỏ vào lò, họ chịu không nỗi. Thế là họ phải làm sao, họ có thần thông mà, thì 3 giây thì vị này phải có đồ ăn, phải có nước uống, phải có áo quần, chăn mền qua ngày. Khiếp như vậy.
Chuyện thứ hai, là ngài Angulimala, trước khi đi xuất gia là ngài giết biết bao nhiêu người, trong zoom biết mà. Trong đời Phật Ca Diếp, ngài là một Tỷ kheo, cũng đại khái là có tam y quả bát thôi. Tôi kể là tôi cố ý kể người nghèo không, chứ còn người giàu là tôi không thèm nhắc tới. Đi bát, cái ngày nào ăn xong, đi rửa bình bát thì trước khi rửa, lấy bàn tay vét. Không biết trong zoom có biết chữ vét không, vét, vơ vét đó, vét vét vét, vụn bánh mì, dăm ba hột cơm, chút rau cải vậy đó, tém tém tém tém lại được một bụm, một nắm, một góc nhỏ nhỏ vậy đó, rồi ngó ngó quanh quanh xem chổ nào được được thì để đó, chỉ để đó thôi với ý nghĩ đơn giản, không cao siêu gì hết, chỉ để đó xem con gì ăn được thì nó ăn. Mà suốt đời tu, ngày nào cũng tái bản chuyện đó hoài vậy đó. Trước khi rửa bát, lấy mấy ngón tay véo được chừng một nhúm, có bửa được một bụm vậy đó, cái kiếm chỗ nào đó để lại với ý là đứa nào ăn được thì ăn. Quý vị biết không, chỉ bấy nhiêu đó thôi mà đời đời sinh ra, nói nặng cho dù làm thú cũng không biết đói là gì, làm thú, làm chim, mèo, gà, chó cũng không bao giờ biết đói. Rồi đến khi mang thân người, đời đời không biết đói là gì. Đến đời Phật Thích Ca, tuy Ngài giết nhiều người như vậy, có nhiều bữa đi bát mà gặp gia đình của những nạn nhân mà Ngài giết ngày xưa. Họ còn hận quá, tuy không dám giết Ngài nhưng họ liệng đá, đánh đập, xô đẩy làm rách y, bể đầu, bể bát. Vậy đó, thằng Tèo đánh Ngài thì thằng Tý cúng dường, đặc biệt như vậy. Cứ thằng Tè đánh Ngài, chửi Ngài thì thằng Tý kéo cả nhà nó ra cúng dường. Cho nên, Ngài mình mẩy máu me bầm dập một thời gian như vậy, nhưng cứ tới giờ ăn là ông Sư nào cũng thấy Ngài luôn có đồ ăn, ăn no đủ, tràn trề như vậy. Chư tăng thấy vậy rất ngạc nhiên, Đức Phật mới giải thích rằng: Angulimala đúng là kiếp này mang nhiều nợ máu với thiên hạ thiệt, nhưng Angulimala đời xưa đã từng là một vị Tỳ-kheo có tâm hồn hào sảng trong một điều kiện vật chất cực kỳ khiêm tốn.
Người có chánh tín nhờ thích nghe pháp nên mới biết những chuyện này. Họ luôn ý thức được chuyện đời hư ảo, không thích sở hữu. Mà khi không thích nắm giữ thì tự nhiên là buông. Quý vị nghĩ xem còn động từ nào khác không? Không nắm thì buông, không kéo thì đẩy. Không muốn nắm thì phải buông, không muốn kéo vào thì phải đẩy ra, không muốn nuốt thì phải mửa, không muốn giữ thì đành phải cho.
Người cư sĩ có nghe pháp, có niềm tin và trí tuệ sẽ tự thấy rằng không có lý do gì mình cứ khư khư giữ lấy. Cái sai lầm nhất trên đời này là nghĩ xem có đáng để cho hay không, hoặc là để dành khi hữu sự. Nghe hai suy nghĩ đó rất hợp lý, nhưng quý vị tưởng tượng đi, giữ bao nhiêu để gọi là đủ cho cái hữu sự? Đó là chuyện thứ nhất.
Còn chuyện thứ hai, trong Tăng Chi nói rất rõ: Một bậc thánh cư sĩ, vị đó bố thí không có phân biệt. Nói như vậy không có nghĩa là tôi bắt các vị xem tôi với Ngài Hộ pháp ngang nhau, không có nha, ngàn đời không có ý đó. Nhưng mà tôi đang nói chỗ này: bố thí mà có sự lựa chọn thì có cái hay và cái dở. Mình nghèo thì có lẽ mình cũng có ý lựa chọn, bởi vì cúng cho ông tào lao rồi về lại hối hận. Nhưng cái dở là bố thí mà có lòng lựa chọn là bố thí bằng tâm hữu hạn. Mà bố thí bằng tâm hữu hạn thì công đức không thể vô lượng. Chỉ được công đức vô lượng khi anh có cái tâm vô lượng và vô hạn.
Tôi nhắc lại, không phải tôi bắt quý vị phải đi cúng dường cho những ông tào lao, bởi vì điều đầu tiên là mình phải có niềm hoan hỷ với những việc có giới hạnh. Nhưng trong tinh thần Phật pháp mà nói, đối tượng đáng cúng dường nhất gồm có hai:
- Một là bậc đó có đức độ, có ơn với mình;
- Hai là đối tượng đang cần và họ đang ở ngay trước mặt mình.
Nhiều Phật tử không biết điều này, nhiều phật tử nghe chỉ biết đối tượng đáng cúng dường, đáng bố thí chỉ biết có một thôi. Sẵn thời pháp thì tôi giúp cho các vị cái hạng thứ hai, mà tôi e rằng trong zoom có lẻ có rất nhiều người cần nghe cái này.
Tôi nhắc lại, đối tượng đáng sung dường, đáng bố thí có hai, không phải có một. Xưa giờ mình chỉ biết là cha mẹ là người xứng đáng, người có đức độ là xứng đáng, mà mình quên cái hạng thứ hai. Người đáng để chúng ta bố thí chính là người trước mặt mình đang có nhu cầu.
Vì sao vậy? Kính thưa quý vị, trong kinh ghi rất rõ điều này. Sau đây là những trường hợp bố thí đem lại công đức lớn: một là người có đức độ, hai là người đang có nhu cầu. Và người có nhu cầu ấy, trong kinh ghi rõ luôn: người đang bệnh hoạn không tự xoay sở được; người sắp đi xa; người ở xa mới về, gom chung lại là những người đang gặp khó khăn, đang có nhu cầu như vậy.
Tôi nhắc lại, đối tượng mà mình bố thí để có công đức lớn gồm có hai: một là bậc có đức độ, hai là mình bố thí đúng lúc, đúng thời, bố thí cho người đang có nhu cầu trước mặt mình. Nhớ cái đó, chứ đừng ngồi nghi ngờ ông này nói dựa vào kinh nào. Làm ơn vào Google tìm giúp tôi, trong đó có nói về việc bố thí cho người sắp đi xa, người ở xa mới tới, người đang bệnh hoạn không có khả năng tự xoay sở. Có nghe pháp mới biết cái này, chứ với cái đầu bư làm sao hiểu ra mấy cái này. Đây là đặc điểm của người có Chánh tín.
Cho xin bài mới đi, chứ giảng cái này một hồi chúng thù nữa.
Ở đây thấy rõ ba lợi ích cho một người thuyết pháp. Tôi đọc cái bản của Ngài Minh Châu.
Ba cái này hơi rối ở chổ này. Trong chú giải có nói đó. Liễu giải, trong đây nói hiểu về nghĩa là sao, còn hiểu về pháp là sao? Thì cô Giọt Mưa lấy dùm tôi đoạn cuối, hai câu cuối của đoạn 43, chú giải đoạn 43 đó. Trong đây giải thích rất rõ. Liễu giải nghĩa là sao? Có nghĩa là Atthakatha, tức là kinh điển giáo lý và chú giải. Thứ hai là Dhamma-patisambhida, có nghĩa là biết qua Chánh tạng. Chánh tạng đây là Tipitaka. Còn Atthakatha là chú giải. Tôi đang giảng là giảng theo Atthakatha.
Đây là lý do mà bà con phải học lớp này nếu bà con muốn học Kinh tạng cho okay. Tôi không nói quý vị phải học với tôi, nhưng nên học những lớp giống như vậy. Bởi vì nếu không đọc chú giải, nhất là bản Pali (chứ bản tiếng Anh, tiếng Thái tôi cho rằng vẫn chưa tới nơi tới chốn như bản Pali). Nếu không đọc bản Pali và chú giải thì mình chỉ tự tưởng tượng ra thôi. Rất nhiều phật tử Việt Nam đọc hiểu Kinh tạng bằng vốn liếng Hán Việt, rồi có người còn xài từ điển không phù hợp. Đọc kinh kiểu đó rồi tự lấy cái vốn Hán Việt để hiểu kinh điển thì thành ra con cháu của Tập Cận Bình rồi, không phải là con Phật. Là con Phật thiệt thì mình phải có kinh điển Pali.
Cái lợi ích của người giảng pháp là bản thân họ trước khi giảng phải biết qua Chánh tạng và chú giải. Người nghe nhờ vậy cũng biết thế nào là Chánh tạng, thế nào là chú giải. Ở đây Đức Phật kể có ba, nhưng mình gom lại có hai: một là người nói, hai là người nghe và ba là cả hai gom lại. Ngài chia rõ như vậy là vì muốn mình hiểu rõ, muốn vẽ ra cho mình một bối cảnh đẹp.
Ngài chia đều quá rõ như vậy là bởi vì Ngài muốn mình hiểu rõ, Ngài muốn vẽ ra cho mình một bối cảnh đẹp. Quý vị hình dung như một bức tranh, trong đó cả người nghe lẫn người nói đều hiểu hết bức tranh. Đây là lý do vì đâu mà Ngài kể nó thành cái thứ ba. Nhưng khi mình nói chuyện với nhau trong trường hợp này thì mình chỉ kể hai thôi. Đó là li ích của người thuyết giảng giáo pháp là bản thân họ có dịp nhìn lại Chánh tạng và chú giải, và bản thân người nghe cũng có dịp để biết được Chánh tạng và chú giải ra làm sao.
Trong trường hợp đó được gọi là liễu giải nghĩa và liễu giải pháp. Liễu giải có nghĩa là hiểu suốt, hiểu thấu. Giải ở đây là hiểu chứ không phải là giải thích. Còn liễu có nghĩa là trọn vẹn, giống như kết liễu vậy, là hiểu tới nơi tới chốn. Tiếng Pali gọi là Patisambhida. Trong chú giải còn thêm một cái nữa là hiểu bằng trí tuệ chứ không phải hiểu do suy diễn. Bởi vì có ba loại trí: Trí Văn, Trí Tư và Trí Tu.
- Trí Văn có nghĩa là do học, đọc, nghe từ người khác.
- Trí Tư là do mình dựa vào Trí Văn đó mà mình suy tư, gặm nhấm và tiêu hóa cho riêng mình.
- Trí Tu là khả năng nhận thức chỉ có ở người có tu tập, nói thẳng luôn là Thiền Chỉ và Thiền Quán. Qua niệm, định và tuệ, nhận ra những điều không có trong sách vở, nhận ra điều nằm giữa 2 hàng chữ. Ví dụ, mình cứ lo học Danh Sắc là vô thường, thì vô thường là sao? Nhiều nhiều lắm là mình tưởng tượng thôi, là nãy vui giờ buồn, nãy thiện giờ ác, nãy đứng giờ đi, nãy ăn giờ uống nước, hiểu đó là vô thường. Còn xa xa chút, nhỏ thì trẻ giờ già, hồi đó khỏe giờ thì bệnh, đó là vô thường. Hiểu như vậy thì nó rất là cạn trong khi người có niệm tuệ, họ sống trong tỉnh thức thì cái vô thường trong danh sắc họ hiểu rất rõ. Họ hiểu bằng chính cái sự cảm nhận, sự thân chứng, sự cảm nghiệm, đó gọi là trí tu. Họ thấy rõ hơi thở ra không pahri là hơi thở vào, cái tâm mà biết hơi thở ra không phải là cái tâm biết hơi thở vào. Tâm luôn luôn sanh diệt, hơi thở luôn luôn sanh diệt. Hồi nãy thở ra dài, bây giờ thở vô ngắn. Hồi nãy thở bằng niềm vui, bây giờ thở bằng sự khó chịu. Hồi nãy thở bằng tâm thiện, giờ thở bằng tâm bất thiện. Cảm nhận này hoàn toàn không phải do nghe lại người ta, không phải do đọc sách, không phải do suy tư tưởng tượng mà chính mình thấy rõ như vậy.
Lúc đầu mình thấy tâm mình từng chập. Ví dụ mình chỉ nhận ra cái gì dài, nó thô, nó rõ. Còn khi niệm và tuệ đã bén nhạy, mạnh mẽ rồi thì mình kịp nhận ra trước khi nó kéo dài thành một vệt. Tức là khi chưa biết đạo, mình thấy đời mình là một cái line, một cái vạch dài. Biết đạo một mớ thì thấy đời mình là từng đốm. Nhưng hành Tứ niệm xứ mới thấy đời là từng cái dot, từng cái chấm chấm chấm chấm.
Trí Tu giúp cho mình nhìn thấy được cái chấm đó. Còn Trí Văn chỉ giúp cho mình thấy một cái line, một đường dài chung chung thôi.
- Đời hễ sanh ra là phải có bệnh, già, có chết, đó là mình hiểu cuộc đời qua Trí Văn. Trí Văn hiểu đời như một dòng chảy, một đường vạch dài thòn.
- Còn Trí Tư khá hơn, cho phép mình khi học về niệm xứ trên lý thuyết, mình mới hiểu không phải đơn giản là cuộc đời của một người nào đó, mà cuộc đời đó là từng giai đoạn thiện ác, buồn vui. Không có cái gì gọi là cuộc đời của một cá nhân hết, mà cuộc đời là sự lắp ráp của những phút giây thiện ác buồn vui. Đó là khi trí mới lên tới Trí Tư.
- Còn trí Tu là chính mình nghiệm ra đúng như vậy. Càng Niệm càng mạnh, Tuệ càng mạnh thì bén nhọn của mình càng nhiều hơn, kịp thời nhận ra khi Thiện tâm hay Ác tâm chớm có mặt. Nó chớm có mặt, như vừa khó chịu là biết liền, đây là ganh tị, đây là bủn xỉn nè, mình phải có cái gan.
Như hôm tôi giảng ở Los Angales, tôi có hỏi mấy người: theo các vị, 1 gram muối có mặn không. Có người họ nói nó quá í, khó nói lắm. Thì tôi nói: 1 gram đường nó ít thiệt nhưng nó vẫn là đường, 1 gram muối nó ít thiệt nhưng nó vẫn là muối. Một muỗng muối trong tay Mẹ vẫn là mặn, mà một muỗng đường trong tay kẻ thù giết cha mình vẫn là ngọt. Mình phải chấp nhận chuyện đó thôi.
Nghe đọc câu này rất kỳ, nhưng đọc 1001 lần là tâm nó khác: “1 gram muối luôn luôn là mặn, 1 gram đường luôn luôn là ngọt, tí muối trong tay Mẹ vẫn là mặn, tí đường trong tay kẻ thù vẫn là ngọt”. Rồi mới thêm “một chút phiền não vẫn là phiền não, một chút thiện tâm vẫn là thiện tâm”.
Mà cái này phải là người có trí tu, chánh niệm mạnh mới nhận ra cái này. Ví dụ mình thấy người tu, ông Sư đó mình không vừa ý. Mình tính cho thì mình rút tay lại, thì mình phải ghi nhận đây là bỏn xẻn, mình phải có cái gan cho là bỏn xẻn, chứ thường mình hay suy lý: không tôi thấy thằng cha đó không xứng đáng nên tôi không cho. Mình phải có cái gan nhìn nhận: tâm mình là bỏn xẻn, mình là bỏn xẻn. Bởi vì nếu mình là người hào sảng thì cái này có đáng gì đâu, cho cha nó cho rồi, phải nói thẳng nó như vậy. Nhưng mà cái này mình hơi chùng một chút, thì cái chùng có được coi là bỏn xẻn. Mình nghe cái tâm mình nó hơi kỳ một chút thì mình phải có cái gan biết đây là ganh tị, mình phải biết rõ cái tâm mình nó hơi kỳ kỳ thì mình biết rõ đây là tham. Ví dụ mình qua nhà người ta, mình liếc thấy cái tượng Phật đẹp quá, thì mình phải có cái niệm, cái tuệ để biết rõ cái thích đó do thiện tâm, cái thích đó là do tâm tham hay tâm thiện. Nhìn cái tượng mà mình nghĩ đến Thế Tôn có 32 hảo tướng, có 30 ba la mật, có nhất thiết trí, cái gì Ngài cũng biết, ai Ngài cũng thương, nét đẹp của bậc đại trượng phu là vẽ ngoài, đức hạnh là nét đẹp ở bên trong. Mình nhìn bức tượng đẹp quá, mình nghĩ đến nội dung đó, đó là mình hoan hỉ với tâm thiện. Còn mình nhìn cái bức tượng bằng ngà, bằng đồng, điêu khắc phải nói là cực kỳ tinh xảo chi tiết, mình thấy mình khoái. Mình phải biết rõ mình nhìn bức tượng đó thấy đẹp theo góc độ nghệ thuật hay góc độ niềm tin, cái đó là phải tình táo mình dòm.
Có người trong zoom nói sao cái chuyện nhỏ xíu đó sao cũng kể làm chi, thì đây là tôi mượn để tôi chứng minh thôi. Cái đó đâu có tội gì ghê gớm đâu, nhưng mà mình phải có cái gan nhìn nhận cái đó, đây là tham hay là thiện.
Tôi quay lại Trí có 3 là trí Văn, trí Tư, trí Tu. Trí Tu nó mới cho mình hiểu những cái chuyện mà tôi vừa nói, chứ trí Văn, trí Tư thì chưa chắc, chỉ có trí Tu, tu tập niệm và định nó mới cho phép mình có cái gan, can đảm nhận diện kẻ thù lấp ló. Quý vị biết mà cái chết nó có thể núp, lấp ló ở mọi nơi, mọi lúc, con nhện độc, con rắn độc có thể núp dưới cái lá. Thì cái phiền não nó có thể ẩn mình dưới biết bao nhiêu là suy nghĩ hợp lý. Quý vị phải học câu này: rắn độc, nhện độc, nói chung là cái chết có thể ẩn nấp sau 1 cái lá, thì cái tâm bất thiện hoàn toàn có thể ẩn núp trong một lớp vỏ hoàn toàn hợp lý. Chỉ có người có trí Tu mới sớm nhận ra cái này, còn người không có trí Tu, mà chỉ học cho biết thì đừng hòng biết cái điều tôi vừa nói.
Tôi nhắc lại, học cái cái câu thần chú nãy nữa: Cái chết có thể ẩn nấp sau một chiếc là nhỏ, thì tâm bất thiện hoàn toàn có thể ẩn nấp dưới một suy nghĩ là mình cho là hợp lý.
Cho nên, lợi ích của người thuyết pháp và người nghe pháp là:
- Bản thân người thuyết pháp có dịp nhìn lại Tam Tạng và Chú giải, và
- Bản thân người nghe cũng có dịp nhìn lại Tam Tạng và Chú giải.
Bây giờ xin qua một bài mới. Đoạn 43, 44 giống nhau cho nên tôi không giải thích riêng, gom chung lại. Bây giờ tôi nói về đoạn 45, là bổn phận. Này các tỳ kheo, có ba đức lành, ba pháp này được các bậc hiền thánh, chân nhân ở đời nói tới:
- Một là hạnh bố thí
- Hai là xuất gia
- Ba là hiếu thảo.
Cái này nếu đọc lướt qua thì thấy cũng dễ hiểu, mà hễ dễ hiểu thì nó là bình thường, mà bình thường có nghĩa là tầm thường. Thấy nó dễ hiểu nhưng ở đây có nhiều gợi ý mà tôi muốn gửi cho các vị trước khi qua bài kinh khác. Bài kinh này nội dung rất sâu, mà phải đọc rộng chổ khác thì mới thấy bài kinh này nó sâu. Tức là, cái sự ra đời của Chư Phật cực kỳ hiếm hoi. Các vị thấy lạ không, đang nhắc đến 3 hạnh mà hiền thánh hay nhắc đến, mà tôi đi bắt đầu bằng một cái chuyện rất kỳ. Có nghĩa là Chư Phật cực kỳ hiếm quý, có khi cả mấy ngàn, mấy trăm ngàn tỷ đại kiếp không có vị Phật nào ra đời hết, hiếm lắm.
Trong thời gian đó, trên đời này cũng có kẻ thiện, người ác, nhưng người thiện lúc đó coi như họ mù tịt, không biết Phật pháp. Như vậy người thiện lúc đó là ai? Người thiện lúc đó chính là những người sống bằng tâm hồn hào sảng, biết chán sợ đời sống ngũ dục, biết sống hiếu thảo với cha mẹ, bởi vì đối tượng đáng cúng dường lúc đó không còn là Tam Bảo nữa mà chỉ còn là những cá nhân đức độ không liên quan tới Phật pháp. Ví dụ như các vị đạo sĩ đắc thiền hay là chư Phật Độc Giác. Mà chư Phật Độc Giác là đắc rồi thì giữ cho riêng mình, không đi giáo hóa độ sinh như Phật Toàn Giác và Thinh Văn.
Cho nên bài kinh này sâu ở chỗ: khi thời kỳ không có chư Phật ra đời đi nữa, ba pháp này được xem là chỗ dựa cho người lành ở đời. Có nghĩa là dù không có chư Phật ra đời, bố thí vẫn được người lành thực hiện. Người lành là người hội đủ những điều kiện tâm lý để bố thí.
- Thứ nhất, họ biết rõ đời là hư ảo.
- Thứ hai, họ thấy nắm nhiều thường là khổ hơn buông.
- Thứ ba, họ biết ăn thì hết mà cho thì còn. Đây là những nhận thức tối yếu chỉ có được ở người lành.
- Thứ tư, chỉ có người lành mới có khả năng thương người khác, biết động lòng trắc ẩn, biết bất nhẫn khi thấy người khác cần mà mình lại có thể chia sẻ.
Chỉ có những người lành có những đặc điểm này: họ hiểu đời là hư ảo, hiểu bản chất phù phiếm của cái gọi là quyền sở hữu, biết rất rõ ta ăn thì hết, người ăn thì còn. Thứ tư là chỉ có người lành mới biết thương người.
Đặc điểm của con người so với loài thú là biết thương đối tượng khác mà không cần đến những điều kiện huyết thống. Con thú mẹ thương thú con, con thú đực thương con thú cái, nhưng ngoài hai đối tượng đó ra – một là tình dục, hai là huyết thống – loài động vật không có khả năng yêu thương như con người. Từ đó suy ra, một con người mà chỉ biết thương yêu trong lý do tình dục và huyết thống thì khoảng cách giữa người này với con thú không xa lắm.
Cho nên từ đó, động tác bố thí hay tinh thần hào sảng, nghĩa cử hào sảng, nghĩa cử bố thí là một đặc điểm của những con người lành, con người tốt, con người sống ra con người. Chữ bố thí rộng lắm, chứ không phải như Phật tử mình nghĩ bố thí có nghĩa là đem cho cái mình có để kiếp sau sinh ra giàu sang. Đó là cách nghĩ tào lao, không nên hiểu như vậy. Phải hiểu cho sâu, chữ bố thí rất rộng. Bố thí chính là đặc điểm của con người, bởi vì nó có cái thương người khác mà không cần đến hai yếu tố tình dục và huyết thống.
Loài thú chỉ có thể thương được nhau trong quan hệ tình dục và huyết thống thôi, còn con người mình thì khác. Con người mình biết động lòng, biết trao ra cho đối tượng không có quan hệ gì về tình dục và huyết thống hết. Cho nên đây là đặc điểm, là một pháp rất độc đáo mà các bậc hiền thánh ở đời luôn luôn nhắc đến.
Cái thứ hai là xuất gia. Trong thế giới loài người, đa phần là hạng ôm ấp nắm giữ. Hạng thứ hai cao siêu hơn một chút, nghĩa là vừa cầm mà vừa biết buông, là hạng biết bố thí. Vừa biết cầm vừa biết buông, vừa ôm mà vừa biết bỏ, ôm cái này bỏ cái kia. Tôi nhắc lại,
- Đa phần chúng sanh chỉ biết ghì chặt, ôm siết, nắm cứng, đó là hạng thứ nhất.
- Hạng thứ hai là tay nắm tay buông, đó là hạng biết bố thí.
- Nhưng hạng thứ ba mới ghê, chán rồi, chán rồi, cho được là cho, nhưng mà ôm thì không muốn ôm, nắm thì không muốn nắm. Hạng này là hạng có tâm lý xuất gia.
Ai mà siêng thì ghi lại để hiểu bố thí, trì giới cho tới, chứ hiểu nghèo quá thì uổng.
Chúng sanh trong đời vô số, rất đông, nhưng gom chung lại có ba hạng.
- Hạng một là chỉ muốn dùng hai tay hai chân ôm chặt vật mình muốn giữ.
- Hạng thứ hai là tay nắm tay buông, nghĩa là hạng biết sống bố thí, hạng cư sĩ biết bố thí.
- Còn hạng cao nhất là hạng xuất gia. Ở đây tôi đang nói loại xịn, chứ không phải loại giả. Hạng thứ ba là không muốn nắm nữa, không muốn ôm nữa, không muốn giữ nữa.
Như vậy chúng sanh trong đời có ba hạng: một là hai tay hai chân ghì chặt, ôm cứng; hạng thứ hai là tay nắm tay buông, tức là hạng cư sĩ biết bố thí; hạng thứ ba là loại xuất gia, loại chân chánh, loại xịn, loại 24k, thì loại này buông hết, thì đây cũng là một hạnh tu.
Trong thời kỳ không có Phật pháp, thì cũng có hạng xuất gia, đạo gì không cần biết, thậm chí trong kinh nói, thời kỳ không có Phật pháp, họ muốn xuất gia, sau khi họ buông hết, họ giữ 6 giới thôi, có nghĩa là 5 giới của người cư sĩ cộng với 1 giới ăn ngày một buổi, tức là đạo của đạo sĩ. Còn có những cha thêm những tín điều như thờ lửa, khổ hạnh, nhưng căn bản của người xuất gia thời không có giáo pháp thì họ giữ 6 giới thôi, đó là không sát sanh, không trộm cắp, không nói dối, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, không ăn ngày quá một buổi, ăn đúng tới giữa ngày là ngưng. Người này dù sao cũng gọi là người xuất gia. Dù có Phật pháp hay không có Phật pháp, người xuất gia chia làm bốn hạng.
- Hạng thứ nhất là người hoàn toàn không có hành trì tu tập gì hết.
- Hạng thứ hai là có một phần Giới học.
- Hạng thứ ba là có một phần Định học.
- Và hạng thứ tư là có Tuệ học.
Dù có Phật hay không có Phật, đa phần chúng sanh đều không có Giới, Định, Tuệ, phần này chiếm rất lớn. Nhưng hạn thứ hai khi không có Chư Phật ra đời, trong đời này cũng có một mớ, có nghĩa là họ có giới, họ có thể làm chủ và kiểm soát được một phần thân nghiệp và khẩu nghiệp bất thiện. Cách phân chia này là của kinh chứ không phải của tôi.
Hạng thứ nhất là trớt quớt, là zero trên zero. Còn hạng thứ hai là phần có giới. Có nghĩa là dù có Chư Phật hay không có Chư Phật, trên đời cũng có hạng người làm chủ được thân và khẩu ở một phần nào đó. Sở dĩ gọi là một phần nào đó là vì trên đời này chỉ có vị hoàn tất Tuệ học thì mới gọi là hoàn tất Giới học. Mặc dù xưa nay mình nghe nói Giới năng sinh Định, Định năng sinh Tuệ, mình tưởng nhờ Giới mới có Định, Giới là cái thấp nhất. Xin thưa không phải. Giới được xem là nền tảng cho Định và Tuệ, tuy nhiên chỉ có người hoàn tất Tuệ 100% thì mới có sự hoàn tất 100% của giới. Đừng tưởng tượng Giới là giai đoạn đầu rồi Định là giai đoạn hai, hiểu như vậy là sai lầm. Đúng là Giới là nền tảng của Định và Tuệ, nhưng chỉ có vị hoàn tất Tuệ học thì Giới học của vị này mới hoàn chỉnh 100%.
Cho nên ở đời có bốn hạng.
- Hạng thứ nhất là không có Tam học.
- Hạng thứ hai là có một phần Giới học. Ví dụ khi không có Phật ra đời, vẫn có những người có thân nghiệp, khẩu nghiệp tốt đẹp.
- Hạng thứ ba là Định học, nghĩa là dù có hay không có Chư Phật ra đời, trên đời vẫn có những người tu thiền, đắc thiền, đắc định, khi chết sanh về cõi Phạm Thiên. Nhưng Tuệ học trên đời này chỉ được biết đến khi có bậc A-la-hán.
A-la-hán có ba hạng: một là Toàn Giác, hai là Độc Giác và ba là Thinh Văn. Khi không có Chư Phật Toàn Giác ra đời thì dứt khoát không có Thinh Văn. Như vậy chỉ còn có Độc Giác, mà các ngài đắc xong là im lặng, không thuyết pháp. Không phải vì các ngài không có lòng đại bi, không thương chúng sanh, mà tại vì khả năng của các Ngài chỉ tới đó, mà cố ý nói nói cái điều khó nói không khéo lại gây hiểu lầm, gây hậu quả cho chúng sanh nữa, thêm nữa bổn nguyện của các Ngài là không có nói.
Như vậy, chúng sanh trong đời có bốn hạng:
- Hạng thứ nhất hoàn toàn không có Tam học
- Hạng thứ hai chỉ có Giới
- Hạng thứ ba tu tới Định
- Hạng thứ tư là có Tuệ.
Hạng hoàn toàn không có Tam học thì khỏi cần giải thích xa xôi, là cái đám mình nè, đám mình không có Tam học nè, chứ ai vô đâu mà giải thích làm chi, cứ vô nhà tắm đóng cửa lại nhìn gương, đó cái mặt đó là mặt không có Tam học. Ông đang nói chuyện là ông không có Tam học nè, nó dễ ẹt, khỏi phân tích chi cho mệt. Rồi tới hạng thứ hai là hạng có Giới thôi, thì cái hạng này dù trong thời có Phật hay không có Phật đều có, tuy nhiên, Giới đó cao hay thấp thì tùy thuộc vào thời kỳ có Phật ra đời hay không và tùy thuộc vào 3 trí của một người mà Giới đó đi đến mức nào. Giới là nền tảng của Định và Tuệ, nhưng Giới cao thấp, sâu cạn là do sự hỗ trợ của Định và Tuệ. Định có 3 từ sát na định, cận định và định. Giới luôn là nền tảng của nhiều cái khác, nhưng do đang nói về Tam học nên tôi nói Giới là nền tảng của Định và Tuệ. Không cần giải thích thì quý vị cũng tự hiểu ra, giới của vị A-la-hán cao hơn giới của mình là vì Định và Tuệ của các Ngài hơn mình. Cho nên nhớ chỗ này.
Chúng sanh trong đời có bốn hạng. Một là hạng không có Tam học. Thứ hai là hạng có Giới. Giới và Định này có thể có trong thời không có Chánh Đẳng Giác, nhưng gọi là đỉnh cao thì không. Ngay cả Phi tưởng phi phi tưởng xứ người ta có thể đắc, nhưng cái Định của người biết Phật pháp và người không biết Phật pháp hoàn toàn khác nhau. Bởi vì người biết Phật pháp, cái Phi tưởng phi phi tưởng của họ có thể làm nền tảng để chứng đạo; còn cái Phi tưởng phi phi tưởng của người không biết Phật pháp thì tối đa chỉ dừng lại ở việc sanh về cõi Phạm Thiên. Khác là khác chổ đó, chứ còn chất lượng thì tương đương. Nó giống như một cọc tiền trong tay người biết buôn bán và một cọc tiền trong tay người không biết gì hết, cả hai đều là tiền nhưng giá trị sử dụng khác nhau. Ví dụ khác, khúc cây trong tay của võ sư khác với khúc cây trong tay bà cụ, khúc cây trong tay một bà cụ chỉ là cây gậy chống, nhưng khúc cây nằm trong tay võ sư thì nó là cái côn. Khúc cây trước sau vẫn là khúc cây thôi. Phải hiểu như vậy mới đúng. Trong tay võ sư, nó là trường côn, đụng vô là mệt. Như vậy, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng trong tay người không biết Phật pháp, nó tối đa chỉ là cây gậy của bà già, đưa họ lên tới hai khả năng: một là nhập định, hai là nhập định Vô sắc. Hết tuổi thọ rớt xuống là trở về đơn vị gốc, hoàn toàn bất định, bất trắc và bất toàn. Cho nên người có Định học có thể có trong thời không có Phật pháp, nhưng đỉnh cao của nó chỉ tới cây gậy thôi.
Thứ ba là người có Tuệ học, cái này chỉ có ở bậc Thánh, tức là ở chư vị Chánh Đẳng Giác, Độc Giác và Thanh Văn Giác.
Như vậy, có ba hạng mà chư Phật, chư Hiền Thánh nhắc đến. Một là người có tâm hồn sạch sẽ, hạng này thời không có Phật cũng có. Nhưng dĩ nhiên, người biết Phật pháp thì sự bố thí của họ có quả báo lớn hơn người không biết Phật pháp. Tại vì nhận thức của mình lúc đang bố thí quan trọng lắm.
- Một người tin vào lý nghiệp báo lớn hơn người không tin lý nghiệp báo, họ cho vì tiện tay, cho vì thấy thương thì cho vậy thôi chứ họ không biết, không tin lý nghiệp báo, thiếu cái trí nhân quả.
- Thứ hai, người mù tịt về Tam tướng, mù tịt về Duyên khởi, mù tịt về Niệm xứ, dốt đặc mấy cái này thì coi như họ không có trí tuệ về Tam tướng. Chánh kiến gồm có hai, đó là trí tuệ Tam tướng và trí tuệ nhân quả. Cho nên nếu không được học Phật pháp thì mình không có được hai cái trí này. Nếu có, chỉ có được trí nhân quả nhưng rất mờ nhạt, rất nông cạn.
Cho nên Bố Thí có quả báo lớn hay không là do: một là người thí, hai là người nhận, ba là vật thí. Vật thí phải đúng thời đúng lúc, có hiệu quả, có tác dụng thì việc bố thí mới đem lại quả báo lớn được. Nhớ cái này, cái này quan trọng lắm.
Đó là pháp thứ nhất là hạnh Bố thí, thứ hai là hạnh Xuất gia, thứ ba là hạnh hiếu thảo. Cho nên 3 cái này nãy tôi nói rồi, nếu bà con tự mình liếc mắt thì thấy nó cạn, nó không có gì để nói, nhưng vấn đề nó không phải như vậy, tại vì Bố thí mà hiểu tới nơi tới chốn thì nó sâu lắm. Bố thí nhắc lại bài học cũ, bố thí mà có quả báo ngon lành thì: một là người cho như thế nào, người nhận như thế nào và vật thí đó ra sao. Tôi đang bị tiêu chảy mà các vị cho thuốc ho thì các vị nghĩ phước đó nhiều hay không, tôi đang bị ho mà các vị cho thuốc sổ có phải là hại bạn hay không? Các vị tưởng tượng đi, cho nên vật thí nó cực kỳ quan trọng.
Rồi cái thứ hai, đó là hạnh xuất gia, khi có chư Phật ra đời hay không có Chư Phật ra đời cũng có nhưng hạnh xuất gia chỉ ngon lành khi có Chư Phật ra đời, là vì sao? Là vì, tôi có nói rồi, có bốn hạng người ở đời: hạng không có Tam học, hạng thứ hai là hạng chỉ có Giới, hạng thứ ba là hạng chỉ có Định, hạng thứ tư là có Tuệ. Người xuất gia trong thời Chư Phật ra đời thì có Giới, có Định và có Tuệ. Còn hạng xuất gia lúc không có Phật ra đời thì tối đa họ chỉ có Giới hoặc có Định thôi, chứ không có thêm cái Tuệ.
Rồi cái cuối cùng, cái pháp thứ ba mà truyền thống nhắc nhở, dẫu không có Chư Phật ra đời mà có được ba cái này cũng gọi là người hiền, người lành, đó là Hiếu Thảo. Bởi vì ngay trong tinh thần của Nho giáo là phải chánh tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.
Nói theo khía cạnh khác, cái chân đứng có vững, thân thể có khỏe mạnh thì mình mới đi đứng, leo trèo, sinh hoạt và giao tiếp xã hội được. Cái chân không vững, cái tay không đủ mạnh, cơ thể bệnh hoạn thì làm sao mà mình có thể đi đứng, làm việc và giao tế với xã hội. Nghĩa là cái gì gần mình nhất, thiết thân nhất thì cái đó phải được mình chăm chút trước.
Ở đây cũng vậy, hiếu thảo là gì? Cái nguồn gần mình nhất chính là cha mẹ, mà mình không tròn thì mình còn tròn với ai? Có nhiều người ngạc nhiên khi nghe tôi nói đến chuyện hiếu mà tôi lại đem vấn đề tay chân, thân thể ra là vì sao, là tôi muốn nói đến cái chuyện gần đó, có nghĩa là mình phải chăm sóc tay, chân, thân thể, sức khỏe lục phủ ngũ tạng của mình nó okya rồi mình mới nghĩ đến chuyện đi đứng, làm việc, giao tế.
Ở đây cũng vậy, đối tượng để mình hướng tới trong đời nhiều lắm, nhưng cái gốc vẫn là cha mẹ - hai người đã mang ta vào đời, đã giới thiệu ta với thế giới này. Đây là hai người không ngừng nghĩ về ta bằng tấm tình không vụ lợi. Cha mẹ thương con không vì danh, không vì lợi, không vì tình cảm nam nữ, không vì nhu cầu gì hết, mà thương chỉ vì thương. Thậm chí nó đâm mình, mà trước khi chết cha mẹ còn nói một câu: "Bữa nay trời lạnh, nhớ mặc thêm áo ấm", rồi mới tắt thở. Đó là tâm hồn của người cha, người mẹ. Đụng tới hai nhân vật này mà mình bất hiếu là coi như mình tàn, mình đi đời rồi. Cái gốc là họ đem ta vào đời, họ nâng bước ta vào đời. Đến một tuổi nào đó ta không còn nhờ họ nữa và ta cũng không còn nhớ tới họ, nhưng riêng họ đối với ta thì không. Cha mẹ nghĩ về con không cần tuổi. Bây giờ nó nằm trong bụng thì mình thương kiểu khác, nó còn bú bình thì mình thương kiểu khác, nó đi lẩm bẩm thì mình thương kiểu khác, nó biết đi, biết đi, biết chạy, biết leo, biết trèo, mình thương kiểu khác. Nó có vợ có chồng, nó là bác sĩ, kỹ sư, nó đã trung niên, mái tóc hoa râm mình thương kiểu khác, bây giờ nó già nó lụm cụm, mà miễn mình còn sống mình tiếp tục thương nó. Còn nó đối với mình thì khác. Hồi nào nó nằm trong tay mình, nó cần hơi ấm, cần nhịp tim của mình; nó lớn lên rồi, nó biết ăn biết chạy rồi nó cần ngửa tay nó xin tiền mình, nó xin bánh xin cơm của mình; tới hồi nó thương được người dưng rồi thì Ba Má thông cảm đi nha, thông cảm, con chỉ có bạn trai bạn gái, còn Ba Má có quởn con về con thăm. Thăm Ba Má giống nhà quê nó thăm lờ vậy đó, thăm có cá không nó dọt mất. Cho nên, cha mẹ là gốc, chỉ có cha mẹ mới thương mình vô điều kiện, vô vụ lợi và tuổi nào cũng thương. Còn mình đối với cha mẹ thì có tuổi, mỗi tuổi mình thương, cái tuổi này còn nhớ chút đỉnh, còn tuổi kia là xù luôn. Chưa kể già mà có tật nói nhiều, già mà hay quên, già mà hôi hám, trây chét là nó quên luôn. Cho nên là chư hiền thánh có dạy như vầy: dù có Phật hay không có Phật ra đời, thì ai có lòng hiếu thảo với mẹ cha, đây chính là cửa vào thiên đường. Vì đó là hai vị Phạm Thiên mà, và dĩ nhiên là Phạm Thiên của riêng con cái thôi, nhưng phải nói là Phạm Thiên. Bởi vì trên đời này, làm sao tìm ra được kẻ vẫn tiếp tục thương mình khi mình đánh, mình chửi họ? Quý vị tìm giùm hạng người nào như vậy, trừ ra bậc A-la-hán. Quý vị tìm giùm hạng người nào mà họ vẫn tiếp tục thương mình, lo cho mình lúc đói lạnh, bệnh hoạn khi mình đối xử tệ với họ? Hạng người nào đây, thì trừ các bậc Hiền Thánh ra, chỉ có hai cụ thôi, đó là cụ cha và cụ má của mình. Cho nên, đối xử tốt với hai cụ chính là cửa vào thiên đường.
Đây là ba cái pháp rất đặc biệt mà tôi gom lại trong bài giảng này. Một là hạnh bố thí. Ở đời này, nói tới bố thí là phải nhắc tới ba hạng người: hạng thứ nhất là cái gì cũng ôm, hạng thứ hai là tay buông tay nắm, hạng thứ ba là cái gì cũng buông. Nói về bố thí muốn hoàn chỉnh thì người cho phải có niềm tin, phải có trí; người nhận cũng phải có đức độ; và vật thí phải hợp thời, đúng lúc, cho cái mà người ta xài được. Đừng cho cái người ta không xài được, vì đó là đi xả rác.
Rất nhiều người cứ đồ cũ không dùng được thì đem bỏ vào chùa, ai gặp thì nói đem cúng, không gặp thì xách xe vọt luôn. Cho nên rất nhiều chùa trở thành chỗ chứa rác. Ở bên Thụy Sĩ, tại mấy cái tiệm đồ cũ, họ ghi dòng chữ to đùng phía trước: Ở đây không phải là chổ để đồ, xin đừng để đồ ở đây, nghĩa là ở đây chúng tôi chỉ nhận khi nào người đưa và người nhận cùng có mặt thì mới được, còn khi chúng tôi vắng mặt thì vui lòng đừng đem lại chất đằng trước, nó ghi rõ ràng là đừng có chất đằng trước, nó ghi rõ như vậy, nếu các vị đem đến bán thì không nói rồi, còn đem đến cho chúng tôi thì làm ơn người cho và người nhận phải thấy mặt nhau. Mà đa phần, ở Thụy Sĩ, bên Đức ác thế này nè, cái mà đi bỏ rác tốn tiền le lưỡi quý vị biết không, le lưỡi luôn. Cái bàn mình mua tốn tiền đã đành, mà đến ngày nào các vị không muốn giữ nó nữa thì có hai cách: nếu còn mới thì để trước nhà cho ai cần thì lấy; nhưng nếu nó đến mức độ không xài được nữa thì một là phải chờ đến hạn người ta tới người ta lấy, hai là phải tốn tiền để người ta tới giải quyết, mà nó nhỏ nhỏ còn được, chứ nó to đùng thì chỉ có chết thôi.
Như vậy, bố thí gồm phải hiểu rõ như vậy. Bố thì cần có ba điều kiện để được vẹn toàn: người cho, người nhận và vật thí.
Thứ hai là xuất gia. Xuất gia có nghĩa là mọi người ôm vào còn mình buông ra hết. Tôi đang nói về sự buông xả chứ không phải là sự bám víu. Xuất gia có nghĩa là mọi người ôm, mình buông ra hết. Tôi đang nói, đó gọi là really chứ không phải là hình thức.
Thứ ba đó là Hiếu. Hiếu là cái gốc của đạo làm người. Hồi nãy tôi có nói rồi, đặc điểm của thiện pháp là gì? Thiện pháp có nhiều cách định nghĩa lắm. Thứ nhất, thiện pháp chính là linh hồn, là tinh hoa của hiền thánh. Thứ hai, thiện pháp là lằn ranh, là biên giới, là sự phân biệt giữa người và thú.
Tôi nói lại, Thiện pháp thứ nhất đó chính là nội dung của hiền thánh. Thiện pháp là lằn ranh để phân biệt người và thú. Từ việc bố thí, loài thú không làm được; hạnh xuất gia, loài thú không làm được. Và thứ ba đó là hiếu thảo, loài thú nhiều lắm là nó thương con, nghĩa là nó thương ba mẹ của nó là thương trong cái quan hệ hoàn toàn mang tính sinh lý: cái mùi đó, nhịp tim đó, hơi ấm đó. Chứ nó không có hiếu như con người mình, đi kèm với vô vàn những nhận thức: Đây là người đã mang ta vào đời để giới thiệu ta vào cõi nhân sinh; đây là người thương ta bất vụ lợi; đây là người có thể chấp nhận ta vô điều kiện. Con thú nó không hiểu nhiều như vậy, quý vị không tin thì đi hỏi tụi nó thì biết.
Bây giờ nghỉ, rồi mệt rồi không nói nữa. Chúc các vị một ngày vui, một đêm an lành.