Văn bản đã xử lý
Các vị có nghe rõ không? Kỳ rồi mình học về ba pháp bổn phận được các vị Hiền trí chân nhân nhắc nhở ở đời:
- thứ nhất là hạnh bố thí,
- thứ hai là hạnh xuất gia và
- thứ ba là hiếu thảo.
Ba hạnh này dường như không liên quan nhưng thật ra chúng có quan hệ rất lớn.
1. Thứ nhất hạnh bố thí: dù là đại gia hay triệu phú mà không có sự an lạc thì vẫn bất an trong đời này. Nếu hiểu đạo, hiểu đời là phù du, hiểu được rằng ăn thì hết, cho thì còn, hiểu mọi sự ôm ấp chấp giữ chỉ đem lại cái họa và cái khổ cho mình, thì tự dưng mình không còn lòng luyến ái. Khi không còn luyến ái, chuyện bố thí đối với họ là điều đương nhiên, rất tự nhiên. Chưa kể, người hiểu đạo khi thấy đời là phù du thì không còn ghét giận, mà tự nhiên có lòng trắc ẩn, sự quan tâm đến người khác, dù là con người hay con vật. Tự nhiên mình có bàn tay mở rộng. Cho nên, nếu hiểu bố thí theo kiểu nghèo nàn là để kiếp sau được hưởng phước lộc thì cái hiểu đó rất hẹp. Phải hiểu hạnh bố thí là một biểu hiện đương nhiên của một người hiểu đạo.
2. Thứ hai là xuất gia.
Trong đời có ba hạng người:
- Một là hạng cái gì cũng ôm, tức là người không hiểu đạo lại bủn xỉn, lớn nhỏ gì cũng ôm hết.
- Thứ hai là hạng tay nắm tay buông, nghĩa là hạng cư sĩ biết bố thí rộng rãi.
- Hạng thứ ba là cái gì cũng buông.
Xuất gia ở đây tôi đang nói là xuất gia thứ thiệt, còn hạng giả dối thì mình không bàn tới. Người xuất gia luôn có lòng buông bỏ mọi thứ: buông bỏ tài sản, buông bỏ năm dục hưởng thụ, buông bỏ đối với các cảnh giới. Thiền định thì cứ tu tập nhưng lòng không mong cầu sanh về cõi này cõi nọ.
Xuất gia gồm có ba bậc: Thượng, Trung, Hạ.
- Bậc Hạ là chỉ có hình thức xuất gia, tuy còn ham mê danh lợi nhưng dù sao cũng không có quyền sở hữu cụ thể như người đời, không chăn nuôi, không ruộng đất cày xới phiền phức.
- Bậc Trung là lìa bỏ đam mê danh lợi nhưng còn đam mê trong việc hưởng thụ các hỷ lạc thiền định, còn mong tái sanh về cõi này cõi kia.
- Còn bậc Thượng là xuất gia với ý chí lìa bỏ Tam giới.
Các vị có nghe rõ không? Có ba bậc như vậy. Về bố thí, chúng ta đã nói nhiều lần, có nhiều cách phân tích. Một công đức bố thí muốn được viên mãn cần tối thiểu ba điều kiện sau đây: đối tượng nhận, thí chủ và vật thí.
- Đối tượng nhận ở đây gồm có hai: một là bậc đức độ, người hữu ân; hai là người đang có nhu cầu.
- Thứ hai nữa là tâm thái của thí chủ, có nghĩa là người đang có nhu cầu là đối tượng nhận. Thứ hai nữa là tâm thái của thí chủ khi bố thí. Nghĩa là lúc đó mình cho với cái tâm buông bỏ thương người, hay là chấp chặt công đức, bố thí vì cầu danh cầu lợi? Tâm trạng của người bố thí có trí tuệ đi cùng hay là vô tri, sân si, hay do bị thúc đẩy tác động?
- Vật thí phải hợp đạo, hợp pháp, hợp luân, do mồ hôi nước mắt mà có và phải được bố thí đúng thời.
Như tôi đã nói, người ta đang đói mà mình lại cho một thứ không liên quan, đang đói mà tặng một bó hoa thì cũng không phải là tệ nhưng nó hơi tréo ngoe. Để việc bố thí có quả lớn thì vật đó phải hợp thời, hợp pháp, hợp đạo. Tổng hợp những yếu tố đó thì một công đức bố thí mới viên mãn.
Bố thí còn được phân chia theo đẳng cấp: một là Nô lệ thí, hai là Bằng hữu thí, ba là Chủ nhân thí.
- Nô lệ thí (Dasa Dana) có nghĩa là mình xài đồ tốt nhưng cho người ta đồ kém hơn.
- Bằng hữu thí là mình xài cỡ nào thì cho cỡ đó.
- Còn Chủ nhân thí là mình luôn luôn cho người ta đồ tốt hơn đồ mình xài. Nghe qua hình như ông thứ ba này hơi dại, cho đồ tốt hơn rồi mình xài đồ kém hơn thì nghe có vẻ hơi kỳ, nhưng đó là mình nghe vậy thôi, còn quả báo sẽ tương ứng như vậy.
Nếu mình cho vật tầm thường với một tâm lượng hẹp hòi thì mai này mình cũng được lợi lộc vật chất nhưng ở mức độ kém cỏi. Bậc trung là Bằng hữu thí, mình xài sao cho vậy thì sau này cũng nhận được mức tương đương. Còn thứ ba, mình luôn cho người ta thứ tốt hơn thì đời đời sinh ra, thiên hạ thấy cái gì tốt nhất là đem tới cho mình. Mình được ở vào những hoàn cảnh đặc biệt.
Quý vị còn nhớ sự tích viên ngọc bích họ Hòa bên Tàu không? Vua nước Sở có người tên là Biện Hòa đem dâng một hòn đá. Ông có kiến thức nên biết bên trong hòn đá này là viên ngọc quý. Sau này khi tách ra mới biết bên trong là viên ngọc quý giá vô ngần. Viên ngọc đó về sau, trong thời Chiến Quốc, đã trở thành báu vật thiên hạ mà ai cũng muốn giành lấy. Nó có giá trị liên thành, nghĩa là giá trị tương đương với mười lăm tòa thành trì. Khiếp như vậy.
Tôi muốn nói rằng, mình phải ở một vị trí hay vai trò đặc biệt nào đó thì người ta mới đem đồ quý đến hiến tặng. Xứ nào cũng vậy, như vua Thái Lan Bhumibol lúc sinh thời, trong một dịp sinh nhật, ông được một nhà buôn kim cương quốc tế hiến tặng viên kim cương có tên là Golden Jubilee. Các vị có thể tìm trên Internet với từ khóa Thai King sẽ thấy. Mình phải như thế nào đó mới sinh ra trong một hoàn cảnh đặc biệt để được người ta hiến tặng đồ quý, đồ hiếm như vậy. Cái này không phải ai cũng được đâu.
Những đồ quý, đồ hiếm như vậy không phải ai cũng có được. Kể cả bản thân tôi nữa, khi mình có một món đồ quý giá, trước khi chết mình cũng sẽ nghĩ đến đối tượng nào để để lại, trừ khi chết bất đắc kỳ tử thôi. Chứ nếu bây giờ mình có một pho tượng quý, một cổ vật quý, một viên ngọc hay viên kim cương lớn trị giá liên thành hàng triệu đô la, lúc mình còn sống thì mình giữ cho mình. Nhưng khi mình không muốn giữ nó nữa, thì đối tượng nào mình nghĩ tới để hiến tặng đây? Tập thể hay cá nhân? Tập thể là tập thể nào? Ai là người đứng đầu tập thể đó? Còn nếu là cá nhân thì cá nhân nào? Vì lý hay vì tình? Các vị thấy bảo vật trong thiên hạ rất nhiều, nhưng cuối cùng nó đổ về tay ai?
Theo trong kinh, điều này là do cách bố thí từ đời trước. Nếu mình bố thí bậc hạ, nghĩa là mình cho những đồ thấp kém, rẻ tiền với một tâm tư rẻ rúng, thì mai mốt mình cũng nhận lại được nhiều thứ, nhưng nó ở mức độ tương xứng như vậy. Rồi bố thí ở mức độ bằng hữu, tức là khá hơn một chút, tương đương với đồ mình dùng, mình có lòng với người ta, thì mai này mình cũng được người ta tôn trọng khi trao tặng. Và đáng nể nhất là cái cuối cùng, tức là mình dám cho người ta thứ quý hơn thứ mình đang dùng, thì đời đời sinh ra thiên hạ cung phụng mình mỏi tay luôn.
Chữ vua trời Đế Thích từ tiếng Phạn là Sakka. Tại sao vua trời Đế Thích, vua của cõi Đao Lợi, lại có cái tên là Đế Thích? Chính trong kinh Đức Phật giải thích, chứ không phải là chú giải, đó là bởi vì khi Thiên Vương còn ở cõi người, Ngài luôn luôn đối xử với mọi người bằng tâm tôn trọng. Bất kể là nam phụ lão ấu, sang hèn, giàu nghèo, trí ngu, hiền ác gì đi nữa, Thiên Vương luôn đối xử với người ta bằng tất cả sự trân trọng. Nói năng trân trọng, đối xử hòa ái trân trọng, bố thí hiến tặng thuốc men, nhà cửa, vật dụng cũng một cách trân trọng. Cho nên khi Ngài sanh về trời làm Thiên Vương, được chư thiên tôn trọng.
Và các vị có biết một chuyện đặc biệt nữa ở cõi Đao Lợi, có thể là duy nhất ở trong các cõi dục thiên, là mỗi nửa tháng trên đó người ta đều có pháp hội. Pháp hội đó có khi do một vị nào đó ở cõi Đao Lợi thuyết giảng những gì họ biết, hoặc thỉnh thoảng có những vị Phạm Thiên ở trên xuống. Chỗ đó giống như là diễn đàn chung của các cõi vậy. Đế Thích lại là người đứng đầu việc này. Vì sao vậy? Vì Ngài sống bằng tâm trân trọng thiên hạ, cho nên đi đến đâu Ngài cũng trở thành tâm điểm chú ý của thiên hạ.
Tôi nhớ mình có nói nhiều về hạnh hiếu thảo, thì bữa nay tôi chỉ ôn lại cho bà con thôi. Bây giờ mình học thêm một bài mới, đó là: Bậc giới hạnh ở nơi nào, có bậc xuất gia hiền thiện ở đó, thì thiên hạ ở đó được yên ổn. Chữ "người" ở đây phải hiểu là thiên hạ.
Chữ "các người" ở đây phải hiểu là thiên hạ nha. Dân chúng là thiên hạ ở đó, họ sẽ được an tâm. An tâm có nghĩa là nhờ có những bậc xuất gia này mà đời sống tâm linh, đời sống tinh thần của người ở đó sẽ khá hơn. Chuyện này có thiệt.
Thí dụ như tôi biết một chuyện, có thời gian tôi lui tới ngoài Huế, có các Ôn - tức là các vị Hòa thượng bên Bắc Tông - và bên mình có Hòa thượng Hộ Nhẫn là Tăng trưởng của Nam tông mình. Ngài là Nam tông nhưng ngài rất được người Bắc Tông kính trọng như một bậc thánh tăng vậy. Cái từ trường lan tỏa của ngài rất lớn. Nam phụ lão ấu ở Huế, đặc biệt là dân chúng khu vực Từ Hiếu hay đồi Quảng Tế, họ rất quý ngài. Dù họ có hung hăng, hờn giận, nhỏ mọn gì đi nữa, nhưng nghe tới ngài là ai cũng phải chùng lòng xuống. Gặp mặt ngài, ai cũng phải cởi nón tháo dép hết. Tại vì sao? Vì ngài có cái đức tu tốt lắm. Suốt đời ngài chỉ đi bát, sang hèn quý tiện gì ngài cũng nhận hết. Hạnh của ngài tốt lắm, không giữ tiền riêng, cũng không có cái gì đặc biệt cho riêng mình hết. Cả khu vực Nam Giao, Quảng Tế, Từ Hiếu ai cũng biết ngài, chưa kể các khu vực phụ cận nữa.
Sự có mặt của một vị chân tu, một bậc xuất gia hiền thiện, chân chánh, trong sạch như vậy ảnh hưởng đến người ta dữ lắm. Ảnh hưởng bằng cách nào? Ở đây Đức Phật nói cụ thể luôn: ảnh hưởng đến Tam nghiệp của người trong khu vực đó. Họ nói năng dễ thương hơn. Khi tâm hồn dễ thương hơn, sạch sẽ hơn, hiền thiện hơn, chân chánh hơn thì tự nhiên ngôn ngữ nói năng cũng dễ thương hơn. Trong Tam nghiệp, hễ cái ý nghiệp mà thanh tịnh, hiền thiện, dễ thương, đáng quý rồi thì tự dưng thân nghiệp và khẩu nghiệp phải dễ thương theo. Đây là quy luật. Ý nghiệp thanh tịnh hoàn hảo mà thân nghiệp, khẩu nghiệp có vấn đề thì tôi chưa hề nghe nói và cũng chưa hề nghĩ ra trường hợp nào lạ như vậy.
Cho nên, nhờ vào sức lan tỏa của những bậc xuất gia có đạo hạnh, có trí tuệ mà dân chúng được ảnh hưởng. Ảnh hưởng bằng cách là cái lòng của họ thay đổi đi, mà lòng thay đổi thì hành xử và ngôn ngữ thay đổi, đó là chuyện đương nhiên. Trong đời này có nhiều hạng người. Hạng thứ nhất là chết rồi để lại toàn là rác. Hạng thứ hai là để lại vừa rác vừa ngọc. Hạng thứ ba là không để lại rác mà cũng không để lại ngọc. Hạng thứ tư là chỉ để lại ngọc thôi. Nghĩa là khi sống, mình làm gương xấu, làm cho người khác phiền khổ, bực bội, khó chịu vì mình; tới hồi chết rồi, ký ức và kỷ niệm của người ta về mình toàn là chuyện tào lao, tầm bậy không à. Hạng này gọi là chết để lại toàn rác. Còn hạng người chết rồi để lại toàn là ngọc, chẳng hạn như các bậc hiền thánh. Đức Phật để lại toàn là ngọc cho người ta, không có một hồi ức hay kỷ niệm nào của thiên hạ về Đức Phật mà có tì vết cả.
Đức Phật để lại toàn là ngọc cho người ta, không có một hồi ức hay kỷ niệm nào của thiên hạ về Đức Phật mà có một chút vấn đề. Như vậy, hạng thứ nhất là để lại toàn ngọc. Hạng thứ hai là để lại toàn rác. Hạng thứ ba là để lại vừa rác vừa ngọc. Cái này thì mình thấy rồi, biết bao nhiêu danh nhân trên thế giới từ Einstein, Marie Curie cho đến Hemingway, đời tư của các ông cũng có cái này cái kia để người ta học, mà cũng có nhiều lỗi lầm. Đó là hạng để lại vừa rác vừa ngọc. Còn hạng thứ tư là không để lại rác cũng không để lại ngọc, đó là những vị thánh vô danh, không có hành trạng gì đặc biệt, gọi là những vị đi không để lại dấu vết.
Chuyện thứ hai nữa là những gì chúng ta có hôm nay, từ bầu không khí mình hít thở trong lành hay ô nhiễm, đến cây cỏ hoa lá, đường xá cầu cống, phong cảnh vườn hoa... tất thảy những thứ mình đang thừa hưởng về tinh thần và vật chất hoàn toàn là di sản của người trước để lại. Chuyện đó không ai trong phòng này hay cả thế giới này có thể phủ nhận được. Tất thảy, từ bầu không khí cho đến từng cái cây ngọn cỏ chung quanh, đều là di sản của người đi trước. Người đi trước có thể là người cách mình một tiếng đồng hồ, họ đi ngang qua mà không vứt rác, để lại một không gian sạch sẽ, đó cũng là một thứ di sản.
Sống ở đời, mình cứ nhớ những gì mình hưởng bây giờ hoặc phải chịu đựng bây giờ đều là di sản của người trước để lại. Đó là điều bắt buộc. Nếu như vậy, anh phải có trách nhiệm. Anh đã thừa hưởng từ lớp người trước thì anh phải có cái gì để lại cho người sau. Anh có nhiều thứ để lại lắm: những giá trị vật chất có thể nhìn thấy, sờ chạm được; hoặc anh phải để lại cho đời những di sản tâm linh, di sản tinh thần. Bản thân anh đã sống ra sao để người ta noi theo, học hỏi, hoặc ghi nhớ điều gì ở anh.
Mỗi người chúng ta đều có một sức lan tỏa. Nhưng sức lan tỏa ấy có thể là độc hại, hoặc có những người sống như một đóa hoa thơm, như loài hoa quý, như ngọc quý. Các vị còn nhớ mình học: có những người ngôn ngữ như phân, nhưng có những người ngôn ngữ như hoa. Cho nên mình cứ nhớ câu này: những gì ta có được, dù tốt hay xấu, tinh thần hay vật chất, đều là di sản kế thừa từ lớp người trước.
Các vị có đồng ý với tôi không? Hôm nay các vị biết đọc, biết viết, thì kiến thức đó có phải là di sản của người xưa hay không? Học ăn học nói là ai dạy? Đó là kinh nghiệm bao nhiêu đời của nhân loại, của xã hội, của gia đình, cha mẹ, anh chị, bà con chú bác để lại cho mình. Chứ tự nhiên mình đẻ ra sao mà biết được. Những cái căn bản nhất như cộng trừ nhân chia, ăn nói gói mở, đi đứng nằm ngồi, ăn ngủ... toàn là di sản hết. Cho nên, mỗi người sinh ra đời đều có khả năng lan tỏa. Quan trọng là mình lan tỏa cái gì.
Cho nên bài kinh này nói rằng mỗi người sinh ra đời đều có khả năng lan tỏa. Sức lan tỏa đó đem lại cho đời cái gì? Nếu anh là viên ngọc, giá trị ảnh hưởng của viên ngọc đối với thế giới rất lớn. Có những viên ngọc trị giá hàng triệu đô la, không ai dám coi thường giá trị đó. Bài kinh này sâu ở chỗ: anh sống như thế nào để có được sức lan tỏa. Nội dung nền tảng của nó rất sâu sắc.
Trong bản dịch tiếng Việt có đoạn: "Này các Tỳ-kheo, ở đâu có vị Tỳ-kheo, vị xuất gia chân chánh, thiện trị, dân chúng ở đó được thân nghiệp tốt đẹp, khẩu nghiệp tốt đẹp, ý nghiệp tốt đẹp." Nếu chỉ hiểu theo tầm mức nông cạn thì thấy không có gì ghê gớm, nhưng tôn ý của Thế Tôn rất sâu. Tức là con phải sống như thế nào để có sức lan tỏa tích cực. Hành trạng của con tác động tích cực lên người khác, để người khác được cảm nhiễm cái thiện của con mà sửa đổi tâm ý. Khi tâm ý được sửa đổi, tự nhiên hành động và ngôn ngữ của người ta cũng được sửa đổi.
Quý vị nhìn dân chúng quanh các thiền viện, nhìn cách họ đi đứng là biết ngay, giống như một hành giả thực thụ. Ngay cả những người phật tử phục vụ trong chùa, cách đi đứng, nói năng của họ cũng nhỏ nhẹ, chậm rãi và tĩnh lặng, bởi vì họ đang ở trong môi trường thiền viện. Cho nên đời sống mỗi người tự thân đều có sức lan tỏa. Đừng nói mình vô danh bé bỏng rồi muốn làm gì thì làm. Nếu mình tiêu cực thì sức lan tỏa đó không tốt, còn nếu tích cực thì như hương hoa. Mỗi lần tôi về cái chùa gần đây, tôi ngắt vài bông hoa lài bỏ trong túi, nó thơm cả ngày. Một việc nhỏ xíu thôi nhưng sức lan tỏa của nó rất thật.
Bài kinh này sâu sắc ở chỗ đó. Bây giờ chúng ta sang bài kinh tiếp theo. Những gì không cần thiết thì mình lướt nhanh, cái nào cần tán rộng thì mình đi sâu, chứ nói dài quá bà con lại bảo "dai, dở, dài". Nếu không nghe giảng mà chỉ đọc bản dịch thì đôi khi khó thấu hết.
Có ba tướng hữu vi này: Thế nào là ba? Sanh được trình bày rõ, diệt được trình bày rõ, và sự biến dị trong khi đang trú được trình bày rõ. Có ba tướng hữu vi này. Bài kinh này, nếu các vị hiểu căn bản một chút, thì mỗi tháng chỉ cần nghe giảng một bài cỡ này thôi là đã đủ làm một người phật tử đúng nghĩa từ trong ra ngoài. Tại sao nó sâu? Có ba tướng hữu vi. Hữu vi là cái gì? Tất thảy mọi thứ ở đời, từ cái gọi là...
Nó cũng phải bị hủy diệt, đó là theo kết quả tính toán của nền vật lý hiện nay thôi, chứ còn chuyện xa hơn nữa thì mình khỏi bàn. Có thời gian ở trái đất này là 10.000 năm, rồi sau đó họ nghiên cứu 20, 30, 40 triệu năm, cho nên chuyện đó mình khỏi bàn ở đây. Khoa học biến đổi, biến dị không ngừng, thay đổi không ngừng. Chỉ có trí tuệ Chánh Giác là thấy tới nơi tới chốn, thấy không cần bổ sung.
Ở đây, quý vị thấy trên đời này không có cái gì còn hoài hết, nó phải thay đổi. Một là nó thay đổi bằng cách biến mất, hai là nó thay đổi bằng cách trở thành một cái khác. Cả hai trường hợp đó mình gom chung gọi là biến dị. Thực tế, hễ đã nói pháp hữu vi là nó phải có ba đặc điểm. Nãy giờ tôi mới nói sơ sơ, tôi hỏi quý vị muốn nghe kỹ hay nghe sơ sơ để qua bài khác? Dạ rồi, tôi cũng nghĩ là nên nghe kỹ đi, chứ mấy cái này không tự nhiên mà có đâu.
Bây giờ nếu nghe kỹ, tôi quay trở lại số 1: Hội đủ các duyên mới có mặt là sao? Ở đây vũ trụ mình chia ra thành ba cảnh giới thôi, đó là dục, sắc và vô sắc. Anh muốn có mặt trong cõi dục thì phải hội đủ các duyên. Hội đủ các duyên của cõi dục là gì? Nói nhiều lắm nhưng gom lại có hai thôi, đó là đam mê và bất mãn trong năm dục. Khi có đam mê và bất mãn trong năm dục thì tự nhiên ta có mặt trong cõi dục. Quý vị ghi giùm tôi, mình quay trở lại số 1: Khi hội đủ các duyên thì mới có mặt. Tôi phân tích thế nào là cái chi số 1 này.
Chuyện đầu tiên, muốn có mặt ở cõi dục là anh phải có niềm đam mê trong năm dục. Mà niềm đam mê trong năm dục đương nhiên dẫn đến sự bất mãn trong năm dục. Ai có được cái mình đam mê thì gọi là hạnh phúc, còn phải chịu đựng cái mình bất mãn thì gọi là đau khổ. Như vậy, cả đau khổ và hạnh phúc ở trong cõi dục chỉ quẩn quanh trong năm dục. Có nghĩa là tam giới này, dù trong vô lượng vũ trụ, mỗi vũ trụ cũng chỉ chia ra ba cảnh giới là dục, sắc và vô sắc.
Dục giới là cảnh giới của những chúng sinh đam mê và bất mãn trong năm dục. Đam mê ở đâu thì bất mãn ở đó, các vị nghe kỹ nha. Hễ có được cái mình đam mê, mình gọi đó là hạnh phúc; hễ phải chịu đựng cái mình bất mãn, đó là đau khổ. Đó là nhân tố thứ nhất để tạo ra cảnh giới dục: anh phải có đam mê, mà hễ có đam mê thì tự nhiên có bất mãn.
Chuyện thứ hai là khi anh muốn chạy theo đam mê và muốn trốn khỏi bất mãn thì phải làm sao? Anh có hai cách. Một là cắm đầu chạy theo cái ác: săn bắn, câu cá, nhậu nhẹt, gái gú, nhảy đầm, hưởng thụ khoái lạc, sa đà trác táng, đổ đốn. Nói chung là chuyện gì anh cũng làm hết, miễn sao cho anh thấy vui. Anh đi tìm hạnh phúc theo kiểu sống tào lao, sống tầm bậy, sống tội ác, không màng đến buồn vui, cảm xúc của người khác. Đó là một cách ở dục giới.
Tôi quay lại, các vị đừng quên dục giới có hai đặc điểm là đam mê và bất mãn trong năm dục. Để sống đúng với tinh thần trốn khổ tìm vui, người ta có hai cách sống: một là làm ác bằng cách nghĩ nông cạn, thích cái gì làm cái nấy; cách thứ hai thông minh hơn, họ trốn khổ tìm vui bằng cách làm các nghiệp thiện.
Thích cái gì làm cái nấy. Cách thứ hai thông minh hơn, họ trốn khỏi niềm vui bằng cách làm các nghiệp thiện, mà thiện ở đây là thiện dục giới. Cái thiện này nó còn quẩn quanh trong sự ảnh hưởng, chi phối của năm dục. Ví dụ như phục vụ, nghe pháp, hồi hướng. Tại sao mấy cái này có ảnh hưởng trong năm dục? Bởi vì chỉ ở cõi dục mới có đủ thập thiện. Chỉ có người sống ở trong cõi dục giới họ mới hành thiện theo kiểu tôi vừa kể, như phục vụ, cung kính, thuyết pháp, nghe pháp. Còn trên cõi Phạm Thiên không có đủ thập thiện.
Nhớ là giữ giới chỉ thành tựu khi có cám dỗ và thử thách mà mình vẫn an nhiên tự tại, trong sạch thanh tịnh, thì cái đó mới gọi là giới. Còn trên cõi Phạm Thiên có cái gì đâu mà gọi là giữ giới. Cho nên ở đây, do có đam mê trong năm dục mới có cái bất mãn trong năm dục. Do có cái đam mê và bất mãn, hai thứ cộng lại mới đưa anh trở lại cõi dục. Còn chuyện anh trở lại mà được sướng hay khổ là chuyện của anh.
Niềm đam mê nó là cái visa nhập cảnh. Còn chuyện anh vào trong cõi dục mà anh được cái gì, bị cái gì, cái đó là túi tiền của anh mang theo nhiều hay ít. Trong người anh có bệnh hoạn không, anh có nợ nần, có oán thù với ai không, đó là chuyện riêng. Cái visa nhập cảnh chỉ giúp anh có mặt ở sân bay thôi. Niềm đam mê đó chỉ là cái visa. Còn chuyện anh lọt vào xứ đó rồi anh sống kiểu gì thì anh phải coi kỹ anh mang theo cái gì trong túi, trong hành lý, trong thân thể và trong đầu của mình. Hành lý là một, thân thể là hai, cái đầu là ba. Trong ba cái đó mình chứa cái gì thì mình mới có mặt ở trong xứ đó theo kiểu mình muốn sướng hay là khổ.
Như vậy, đó là cái duyên thứ nhất. Các pháp không tự nhiên mà có, tức là do duyên nào anh có mặt ở cõi dục. Do những duyên đó anh mới có mặt ở cõi dục. Còn vì đâu mà người làm chó làm heo, người làm ông này bà nọ là hoàn toàn do lý do tôi đã giải thích.
Bây giờ qua cõi sắc. Do duyên thích thú, đam mê và hoan hỷ trong các loại thiền sắc giới thì người ta mới có mặt ở trong cõi sắc. Thiền sắc giới tầng thấp nhất là sơ thiền. Muốn đạt tầng này, anh phải bỏ năm triền cái. Đó là: niềm đam mê trong dục, sự bất mãn trong dục, trạng thái lười biếng buồn ngủ, trạng thái nghi hoặc hoang mang, và trạng thái râm rứt tiếc nuối khôn nguôi, bất an bất ổn tâm thần. Tổng cộng gọi là năm triền cái. Anh phải bỏ được năm cái phiền não thô này thì mới gọi là đắc sơ thiền được. Nghe kể thì thấy mơ hồ, không biết tại sao nó quan trọng, nhưng nếu các vị ghi ra, nghe chậm lại mới biết năm ông này dữ dằn lắm. Chính năm ông này đưa các vị lui sụt.
Các vị ghi ra để nghe chậm lại mới biết, năm cái ông này dữ dằn lắm. Chính năm cái này mới đưa các vị lui tới ở trong cõi Dục. Còn muốn đắc Sơ thiền, là tầng Sắc giới thấp nhất, anh phải lìa năm triền cái. Lìa bằng cách nào? Anh phải tu tập, trau dồi định học, tập trung tư tưởng.
Định có ba loại: Sát-na định là khả năng tập trung trong từng giây từng phút; Cận định thì khá hơn, có thể kéo dài một tiếng, năm tiếng, tám tiếng để làm nền cho mình đắc Kiên cố định, tức là từ Sơ thiền trở lên. Còn Kiên cố định, mang tiếng định cho vui chứ thật ra ngồi một năm hay tám tiếng cũng được.
Các pháp hữu vi đều do duyên. Tôi giảng về ba cõi, có nhiều cách chia cho rõ. Hữu vi có thể chia thành danh sắc, 12 xứ, 18 giới, 5 uẩn, hay 12 duyên khởi đều được hết. Bây giờ tôi lấy ba giới là Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới cho gọn, dễ nhớ. Cách phân tích này gắn liền với kiểu sống và kiểu tu của mình. Cách nào cũng được, tôi nhớ cách nào thì giảng cách đó. Nếu không thì mình phân tích theo cách khác. Bây giờ tôi phải lựa đại một cách, chứ giống như đãi phở rồi lại hỏi tại sao không cho ăn bánh canh, đem bánh canh ra lại hỏi sao không có bún riêu, bún bò Huế, cứ vòng vòng như vậy thì khó cho tôi lắm.
Hữu vi gồm có ba: Dục, Sắc và Vô sắc. Muốn vào cõi Dục thì phải có những điều kiện gì, vào cõi Dục mà vui hay khổ là do điều kiện gì, tôi đã nói rồi. Sắc giới cũng vậy, anh phải bỏ năm triền cái. Khi không còn bị năm triền cái chi phối, không còn bất mãn, không còn dục ái và sân thì anh mới sanh về cõi Sắc giới được. Nhưng chưa hết, còn tùy vào người độn căn hay lợi căn, người trí nhiều hay ít, nhanh hay chậm. Khi tu các tầng thiền này để sanh về cõi Phạm Thiên, nó cũng có những điểm sai khác nhau.
Tất cả những cái nhanh chậm, ít nhiều, cạn sâu, rộng hẹp trong tâm thiền của hành giả đều là những cái duyên khiến cho tầng thiền và chất lượng thiền định của vị này hơi khác vị kia một chút. Từ đó, cảnh giới tái sanh trên các cõi Phạm Thiên cũng khác nhau. Có người đắc Nhị thiền mà sanh về cõi Phạm Thiên cao, có người đắc Tam thiền mà phải sống ở cõi Nhị thiền. Đó là vì người đắc Nhị thiền mà xuất sắc thì vẫn sanh về cõi cao, còn người đắc tầng Tam thiền mà chậm quá, không phải lợi căn thì vẫn sống ở cõi Nhị thiền. Đây đều là các duyên, tất cả trong vũ trụ này đều là duyên.
Rồi tới cõi Vô sắc. Vô sắc là cảnh giới dành cho những người đã đắc thiền Sắc giới rồi nhưng họ lại chán. Họ thấy còn hào quang xẹt tới xẹt lui, người này nhìn thấy người kia mệt mắt quá. Dù cái thân đó cực kỳ vi tế nhưng còn thấy, còn nghe là còn phiền. Cho nên khi đã đắc thiền Sắc giới, đắc đến tầng thứ năm rồi, thì chia ra hai nhóm. Làm ơn ghi giùm cái này.
Khi đắc thiền sắc giới, hoàn tất các tầng thiền thì chia ra các nhóm. Người chán dục thì mới sanh về cõi sắc. Người đắc xong thiền sắc giới lại chia thành ba nhóm:
Nhóm một là đam mê trong tầng thiền mà mình đang đắc, cứ sống hết tuổi thọ rồi sanh trở xuống cõi dục như cũ.
Nhóm hai là không muốn có tâm nữa. Tức là sau khi đắc hoàn tất tầng sắc giới, họ không muốn có tâm thức nữa vì thấy còn có cái tâm thì mệt quá, cho nên họ mới nguyện sanh vào cõi Vô tưởng. Cõi này giống như viện bảo tàng, toàn là những bức tượng, không có ai cử động nhúc nhích, đi đứng nằm ngồi gì hết.
Nhóm thứ ba là sau khi đắc xong thiền sắc, họ lại chán vật chất. Có người chán tâm, nhưng cũng có người chán sắc nên sanh về cõi Vô sắc. Nghĩa là họ lấy nền tảng của thiền sắc giới để hướng đến các đề mục vô sắc. Các vị hỏi tôi tu bằng cách nào? Xin thưa các vị trong room, làm ơn đắc hoàn tất thiền sắc giới đi rồi tự nhiên sẽ hiểu ngay. Các vị chưa lên tới lầu chín mà cứ hỏi cái cửa nào, cầu thang nào đưa lên lầu mười thì làm sao mà nói cho nghe được.
Cái này trong quyển A-tỳ-đàm tôi đã nói rõ lắm rồi, mà quý vị không chịu mua sách, thấy sách mắc quá. Hồi đầu tôi cũng tính cho không, nhưng người Việt mình có cái tính thế này: thấy cho không thì lấy nhưng đem về lót nồi. Thứ hai nữa là thấy cho không thì coi thường, nghĩ đồ này là đồ ba xu nên mới cho không. Một là mình coi thường không chịu đọc, hai là đem về lót nồi, sử dụng sai mục đích thì phí cuốn sách đi.
Thế là Trẫm mới quyết định đem đi bán, mà người ta chửi Trẫm không còn cái gì hết. Người ta nói ác, tại sao bao nhiêu người in sách đem cho mà tôi lại đem bán. Bởi vì có nhiều lý do. Thứ nhất, người Việt mình hiểu nhau rõ mười mươi, cho không thì dễ đem lót nồi, hoặc là coi thường không thèm đọc, chuyện nào tôi cũng chán. Thứ hai là, nói một câu đau lòng, tôi không phải trụ trì, không có học trò đệ tử, không có thu nhập cố định như các vị ở chùa. Tôi sống bằng nghề dịch sách, viết sách thôi. Nói nghe hơi đời nhưng đó là sự thật. Người ta chửi mình không còn gì hết, cứ mong tôi phải ở chỗ nào có treo bảng chùa mới gọi là tu. Nếu hiểu như vậy thì quý vị bệnh quá.
Sẵn đây tôi nói luôn, trong quyển A-tỳ-đàm đó có nói rõ tại sao và thế nào là trường hợp chán sắc mà sanh về vô sắc, làm kiểu gì trên nền tảng thiền sắc giới. Như vậy, các pháp đều do duyên. Các duyên nào tạo ra cõi dục giới và chúng sanh cõi dục giới thì đã nói rồi.
Các pháp đều do duyên. Vậy các duyên nào tạo ra cõi Dục giới và chúng sinh cõi Dục giới? Như đã nói, bởi vì có đam mê trong dục thì mới có bất mãn trong dục. Có dục ái và sanh thì mới sanh về cõi Dục giới. Hễ còn có người sống bằng cái tâm dục giới thì mới có cõi Dục giới. Chứ nếu không ai sống, không ai có cái tâm dục giới, không ai đam mê trong dục giới thì cõi Dục giới làm gì có. Các cõi có là do chúng sinh. Cho nên, các cõi của chúng sinh hay Dục giới có được là do các duyên.
Thứ hai nữa là từ cái duyên chán dục mà mới có cõi Sắc giới. Rồi trong cõi Sắc giới, nó là cái nền để mở ra ba hướng đi. Hướng thứ nhất là tiếp tục đam mê cái tầng mà mình đang đắc để sống hết tuổi thọ ở đó, rồi trở về cõi Dục. Nhóm thứ hai là đắc xong ngũ thiền Sắc giới rồi tự nhiên chán, không muốn có cái tâm vì thấy mệt quá, cho nên nguyện vào cõi Vô tưởng. Ở đó chỉ có cái tưởng, không có tâm thức suốt 500 đại kiếp.
Nhóm thứ ba là họ đắc xong thiền Sắc giới, họ chán vật chất, không muốn hình danh sắc tướng nữa, cho nên họ mới tác ý về cảnh giới Vô sắc. Có nghĩa là họ thấy rằng còn quẩn quanh trong những đề mục sắc giới như đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, hư không, ánh sáng thì còn mệt quá. Họ thấy còn quan tâm đến hơi thở, quan tâm đến thể trượt, quan tâm đến tử thi... nói chung là các đề mục vật chất, họ thấy nó tầm thường quá. Họ mới hướng đến cái gì vượt ngoài vật chất. Họ suy nghĩ rằng trong vũ trụ này, hư không mới là đề mục tốt nhất. Hư không có nghĩa là mình không thấy được, cũng không sờ chạm được, thì mới gọi là đề mục xuất sắc. Thế là họ cứ suy niệm một điều thôi. Trong cái định tâm của một vị đắc ngũ thiền Sắc giới, họ chỉ có một suy nghĩ thoáng qua: "Hư không là vô biên, hư không mới thật sự là đề mục tốt nhất cho mình". Họ vừa nghĩ như vậy, lập tức đắc Không vô biên xứ.
Những bậc đại căn đại duyên ấy, khi họ đắc được tầng Không vô biên rồi, họ mới nghĩ thêm: "Hư không là vô biên nhưng nó còn bị tâm biết, tâm mới là vô biên". Họ nghĩ đến đó, bèn đắc tầng thứ hai là Thức vô biên xứ. Đầu tiên là một đại thiên thế giới, rồi có vô lượng đại thiên thế giới như vậy trong vũ trụ này, và tất cả đều được vận hành bằng những điều kiện mà tôi vừa nói. Nhớ nhé, đam mê trong dục thì ở trong cõi Dục, chán dục sanh về Sắc giới, chán sắc sanh về Vô sắc giới. Sống hết 84.000 đại kiếp ở trên cõi Vô sắc cao nhất, rồi bèn trở về đường cũ. Cứ như vậy mà cuộc luân hồi của ta nó cứ liên tục và liên tục.
Tiếp theo đó là cái sanh. Cái gọi là sanh phát huy là như vậy, do hội đủ điều kiện thì tự nhiên nó có mặt. Có mặt xong rồi thì sao? Đặc điểm thứ hai là biến dị, có nghĩa là mỗi cõi có kiểu biến dị riêng. Cái biến dị ở cõi thiền thì đơn giản thế này: tâm liên tục sanh diệt, hồi nãy tâm này bây giờ tâm khác. Đó là cái biến dị ở trên các tầng đó. Cho nên mình thấy trong mỗi cảnh giới, nó đều lệ thuộc vào vô số điều kiện.
Đó là cái xứ gì ở trên các tầng đó, cho nên mình thấy trong mỗi cảnh giới, nó đều lệ thuộc vô số điều kiện nhân duyên mà có mặt. Thứ hai, có mặt rồi thì nó phải biến dị. Còn ở những cõi thấp như từ cõi người trở xuống các cõi đọa, sự biến dị mình nhìn thấy rất rõ ràng.
Con người ở trong bụng mẹ, tuần lễ đầu tiên đã khác, tuần lễ thứ ba khác tuần lễ thứ tám. Tháng thứ hai khác tháng thứ ba, tháng thứ năm khác tháng thứ chín. Rồi tới lúc ra đời, trong vòng một tháng đầu tiên nó khác lúc mới sinh, sáu tháng lại khác một chút. Cứ vậy mà 1 tuổi, 10 tuổi, 15, 20, 30, 40, 50, 60 tuổi. Cứ mỗi chặng như vậy là bắt đầu có những biến dị. Tôi nói như vậy cho nhẹ nhàng, chứ đúng ra có nhiều tình trạng sức khỏe mà chuyện biến dị diễn ra nhìn rõ lắm quý vị.
Chỉ cần đi nắng ba ngày là da nám, có người lột da luôn. Tùy loại da, tùy tình trạng sức khỏe mà cơ thể chúng ta biến dị nhanh hay chậm, biến dị kiểu nào. Có người đang trắng bóc, đi tắm biển vài bữa về da ngăm ngăm như da trâu, nhìn lâu thấy mê, người ta gọi là da bánh mật. Có người đi nắng ba bốn ngày về nhìn thấy sợ luôn, da lột từng mảng, đó gọi là biến dị.
Vô số điều kiện khiến chúng ta biến dị. Tôi đang nói về phần thể chất, còn về tâm linh, nếu bản thân sống bằng tâm lành thì được an lạc, người khác ở gần cũng thấy thoải mái. Còn sống bằng cái tâm ích kỷ, nhỏ mọn, ghen tuông hay sợ hãi thì cái mặt của mình nhìn kỳ lắm, bản thân mình cũng khó chịu. Nếu mình sống bằng tâm thanh thản, nhẹ nhàng, thư thái, trắc ẩn, bao dung, vị tha thì tự nhiên cái mặt mình cũng dễ chịu và sức khỏe cũng tốt.
Thế giới này được gọi là biến dị vì nó lệ thuộc vô số điều kiện để có mặt, rồi lại dựa vào vô số điều kiện để liên tục biến đổi. Thứ ba, đã có mặt thì phải có lúc kết thúc. Đức Phật đã dạy rằng: Ngay giây phút cái bình gốm được đem ra khỏi lò, nó đã ngầm chứa trong đó cái mầm đổ vỡ. Kể từ lúc cái bình gốm đó có mặt ở trong cuộc đời này, nó đã mang sẵn tính chất đó rồi.
Các vị tưởng tượng đi, không lẽ cả vũ trụ này thành cái viện bảo tàng hay sao? Có một chuyện nữa, nhiều người nghe tôi nói xong chắc muốn mướn người chém tôi. Cái não trạng như thế nào mới mơ sanh về thiên đàng, sanh về cõi cực lạc? Bởi vì vô thường nó mới vui. Mặc dù cái vui nằm ở đâu thì cái khổ nằm ở đó, nhưng phải nói rõ là cái vô thường nó mới vui. Tất thảy hạnh phúc của ta đều là những giải pháp cho một nỗi khổ niềm đau nào đó. Câu này phải xăm lên trán, xăm cho cả họ luôn chứ không chỉ cả gia đình mình đâu. Phật tử cứ nhớ thế này: không hề có hạnh phúc...
Không hề có hạnh phúc, hạnh phúc nào cũng chỉ là giải pháp cho một nỗi khổ niềm đau nào đó. Thí dụ như ăn ngon là phải đói. Uống nước cho đã, cho sướng là anh phải khát. Tôi nói mất vệ sinh một chút, anh đi vệ sinh mà ra được là anh phải mắc dữ dội lên thì đi mới đã. Chứ tự nhiên đang ngồi vui vẻ mà hỏi đi không thì đâu có đã. Phải mắc thì đi mới đã, mới được gọi là tứ khoái.
Tôi đang nói chuyện rất chân thành. Vạn pháp là do duyên mà có, rồi do duyên mà mất. Khi mình hiểu rằng mọi thứ phải lệ thuộc các điều kiện mới có mặt là mình đã nản. Thứ hai, mình nên có một ngày ngồi lại suy nghĩ hạnh phúc thật sự là cái gì và đau khổ thật sự là cái gì. Đau khổ đơn giản thôi, cái gì chống lại nhu cầu sống, chống lại ý thích, chống lại điều kiện sinh tồn của mình thì đó là khổ. Mọi thứ có thể tạo điều kiện để tự biến dị. Biến dị là thay đổi, biến diệt là biến mất.
Các vị cho xin một đề tài nữa. Đến lúc này chỗ ngồi không thoải mái, ngồi hai tiếng là cực hình lắm, nói một tiếng là đủ rồi. Bây giờ qua cái Vô vi, cái này lớn chuyện lắm, cực kỳ lớn chuyện. Các vị còn nhớ tôi đã nói về quan hệ giữa Bốn đế với nhau không? Làm ơn ghi giùm tôi: Tập đế (Samudaya). Tập đế tạo ra Khổ đế, nhưng Đạo đế thì dẫn đến Diệt đế. Đang giảng về Vô vi đó. Tập đế tạo ra Khổ đế, nghe cái tên là mình thấy rồi. Nhưng Diệt đế thì Đạo đế dẫn đến, cho nên gọi là Magga (con đường). Con đường là dẫn đến chứ không phải tạo ra.
Như vậy Khổ đế là gì? Là danh sắc, là 12 xứ, 18 giới, năm uẩn, 12 nhân duyên. Mấy cái này được tạo ra bởi các điều kiện, các nhân duyên. Còn riêng về Niết-bàn, tức Diệt đế, thì không do một điều kiện gì tạo ra, không cần các nhân duyên để tạo ra nó. Cho nên không có cái gì tạo ra Niết-bàn hết, mà chỉ có tinh thần Bát Chánh Đạo dẫn đến.
Dẫn đến nghĩa là gì? Dẫn đến không phải là tạo ra, mà là giúp cho ta hiểu Niết-bàn là cái gì. Ở một người không còn sanh tử, không còn điều kiện luân hồi, không còn tái sanh, thì lúc đó trạng thái Niết-bàn chính là trạng thái mà người này nhìn thấy. Đó không phải là cảnh giới để người này bước vào, không phải là nơi chốn để tái sanh đầu thai vào trong đó. Không có hình thức cửu phẩm liên hoa hay bát phẩm liên hoa ở đây. Đây là một trạng thái mà chỉ có người đắc thánh trí mới hiểu. Họ hiểu được bốn điều: họ hiểu rằng mọi thứ ở đời là khổ, thích cái gì cũng là thích trong khổ, mà càng thích khổ thì càng bị khổ; muốn hết khổ thì đừng thích trong khổ nữa.
Thích cái gì cũng là thích trong khổ, mà càng thích khổ thì càng bị khổ. Muốn hết khổ thì đừng thích trong khổ nữa. Sống trong nhận thức này khác nhau chứ.
Cái kia tôi chỉ thấy, bây giờ tôi ngửi. Cái thứ ba, tôi banh nó ra, tôi mở nó ra thì bây giờ không phải vỏ nó mà tôi nhìn thấy cái múi của nó nè. Như vậy cái biết của tôi về trái sầu riêng bây giờ nó hơn hẳn. Hồi nãy là mới ngửi cái vỏ thôi, bây giờ tôi còn nhìn thấy được cái ruột của nó, nghe được cái mùi của nó nữa. Đó là một cách biết thứ tư, thứ mấy quên rồi.
Bây giờ tôi bắt đầu mở miệng tôi nếm nè. Chưa hết, tôi không có thích sầu riêng cho nên cái cảm nhận của tôi đối với sầu riêng nó không giống như là cái người thích sầu riêng. Chưa hết, cái biết của tôi nó còn tùy thuộc vào cái lưỡi, cái mũi của tôi nữa. Bữa nay tôi bị bệnh, tôi bị nghẹt mũi thì cũng cái mùi đó, nhưng ở cái người bị nghẹt nó phải có một chút gì đó khác chứ sao giống nhau được. Rồi cái lưỡi cũng vậy. Tôi đang bị bệnh dữ lắm, cái gì nó cũng đắng hết. Tôi chưa có cạo lưỡi cho nên tôi để cái miếng sầu riêng vô thấy nó kỳ kỳ, không có giống như là cái miếng sầu riêng mà lúc tôi khỏe.
Như vậy thì quý vị nghĩ giùm tôi, chỉ có trái sầu riêng thôi mà mình nhìn trên màn hình computer, tivi, hay nhìn trên mặt báo màu sắc, nó không bằng cái nhìn ở ngoài đời bằng mắt. Rồi tôi nhìn nó đâu có bằng tôi ngửi nó, mà tôi ngửi nó đâu đã bằng tôi nếm nó. Mà tôi nếm nó trong cái tình trạng nào nữa.
Thì Bốn Đế cũng vậy. Bốn Đế mà ở cái người lom com không biết gì hết, cứ nghe mấy ông thầy giảng, mà mỗi người giảng một cách mới ghê chứ. Nó khổ chỗ nào? Mỗi người mỗi cách rồi đó, đó là cái kiểu Bốn Đế mình nghe đó. Chuyện đầu tiên là mỗi người giảng một cách là mình thấy nhiều cách khác nhau rồi.
Ngay cả những vị thuộc lòng Tam Tạng, tôi xin thề là khi nói ra thì các vị nói giống nhau, nhưng trong thâm tâm của mỗi vị, tôi không tin là nó giống nhau. Nó phải khác một chút gì đó. Chỉ có Thánh mới giống nhau thôi, mới có cái hiểu về Bốn Đế giống nhau. Chứ còn phàm phu thì mỗi người có một cái nền tảng nhận thức riêng, mỗi người có nền tảng của một cái văn hóa tâm thức riêng.
Không biết các vị có nghe chữ văn hóa tâm thức không? Có nghĩa là cái nền tảng của hai người cùng thuộc lòng Tam Tạng hết, mà vị này biết ngôn ngữ Âu Mỹ, đọc sách báo nhiều, coi tivi nhiều, nó khác với vị mà từ nhỏ cứ vùi đầu học Tam Tạng. Nó khác chứ. Chưa kể là hai vị đó mỗi vị sống ở đâu, thường gặp ai, thường nghe gì, thấy gì, thường suy nghĩ gì. Nhớ nha, cái này quan trọng lắm.
Còn người Việt mình cứ nghe nói Pháp sư Tam Tạng là cứ thỉnh về rồi cứ tưởng ai cũng như nhau. Nhưng tôi muốn nói là mình mơ hồ, mình mù tịt, mình không ngờ được là nó thiên hình vạn trạng như vậy. Đó là nói về các bậc Pháp sư Tam Tạng đó nha, còn hạng như mình là mỗi người hiểu một kiểu. Cho nên cố ý giải thích một điều không thể giải thích thì đó là chuyện không tưởng. Ở đây mình chỉ cần biết mấy chuyện sau đây: thứ nhất, mình có thấy sự...
Đó là chuyện của người khùng. Cho nên ở đây mình chỉ cần biết mấy chuyện sau đây: Thứ nhất, mình có thấy sự có mặt của tấm thân này là khổ, là của nợ hay không? Mình có thấy sự có mặt trên đời này thật sự không cần thiết hay không? Nếu mình thấy như vậy thì làm ơn tu tập Bát Chánh Đạo để biết Niết-bàn là cái gì. Chỉ nhiêu đó thôi.
Bây giờ tôi bị bệnh trĩ, tôi đau quá sức rồi. Bây giờ tôi ráng làm sao để chích, đốt, cắt, thẻo, uống thuốc, làm sao để bắn, bịt, bó, đắp cho đừng còn bệnh trĩ nữa. Còn cái cảm giác lúc hết trĩ thì để mai mốt biết, chứ bây giờ đi hỏi người ta hết trĩ nghe nó ra làm sao thì tôi thấy vừa quởn mà vừa khùng nữa.
Bây giờ tôi hỏi anh một câu thôi: Anh bị trĩ nội và trĩ ngoại, có máu và không máu, anh có thấy khổ không? Mỗi lần ăn ớt nhiều, mỗi lần bị bón là anh thấy nó khổ tới đâu. Anh có thấy đó là cái bệnh nên dứt điểm hay không? Chỉ cần anh nói "ừ" một cái, rồi nhờ chữa cho lành cái trĩ của anh, tự nhiên anh hiểu cái cảm giác hết trĩ nó ra làm sao. Còn lần này anh không chịu chữa mà cứ ngồi bàn không à. Anh cứ hỏi tiếp bây giờ lúc hết trĩ nó ra làm sao, rồi trĩ nội đâu phải trĩ ngoại, cảm giác nó phải khác chứ, mà nếu khác thì khác như thế nào? Trong khi anh ngồi nói mà máu ở dưới nó rỉ ra ướt hết cái ghế của người ta như vậy. Phải chữa cho nó lành cái đã.
Bây giờ tôi mới quay lại, chúng ta gọi là Hữu Vi bởi vì nó còn do các điều kiện trợ tạo, hỗ trợ tác động vào. Do có các điều kiện dục giới nó mới tạo ra chúng sinh dục giới và cảnh giới dục giới. Do có các điều kiện sắc giới nó mới tạo ra cảnh giới và chúng sinh cõi sắc giới. Do có các điều kiện vô sắc giới nó mới tạo ra chúng sinh và cảnh giới vô sắc giới. Mà Niết-bàn là một trạng thái chứ không phải là một cảnh giới, nó là trạng thái nằm ngoài tất thảy những điều kiện ấy.
Cho nên Ngài Xá Lợi Phất, Đức Phật nói riêng và vô lượng Thánh hiền thời Đức Phật nói chung, khi được hỏi Niết-bàn là cái gì thì mỗi người trả lời một cách, nhưng nội dung là một. Hết ái là Niết-bàn, hết thủ là Niết-bàn, nói gọn hết vô minh là Niết-bàn. Nói sao cũng được hết, nhưng hỏi tại sao nói gọn như vậy thì câu trả lời đơn giản là anh cứ hết đi rồi sẽ biết nó là cái gì. Cứ hết ái, hết thủ, hết vô minh rồi tự nhiên biết nó là cái gì. Bản thân người được hỏi có thể là một vị A-la-hán, nhưng các ngài không có ngôn ngữ nào diễn tả được những cái không thể diễn tả.
Tôi nói không biết bao nhiêu lần, ngay cả thứ đơn giản nhất như ly cà phê hoặc một món ăn mà người ta chưa từng nếm qua, chưa ngửi qua, chưa thấy qua, mà mình giải thích thì đã không được rồi, chứ đừng nói tới Niết-bàn. Có nhiều người nói kỳ quá, đạo gì mà mục đích cứu cánh tu hành mơ hồ như vậy. Tôi nghe, có nhiều người tôi thầm nói: "Ông hiểu sao cũng được, đi chết đi". Còn người nào tôi có chút đại bi thì tôi nói thế này: Bây giờ người ta bảo ông làm sao đi đến Đà Lạt thì ông mới biết Đà Lạt nó đẹp cỡ nào, còn ông không chịu đi thì sao biết được.
Bây giờ người ta bảo ông làm sao mà đi đến Đà Lạt thì ông mới biết Đà Lạt nó đẹp cỡ nào, ông không chịu đi mà cứ đứng ngay chỗ ngã ba Dầu Giây rồi kêu trời là kêu kiểu gì? Anh nhớ chỗ đó nhé, không chịu đi. Bây giờ chỉ là một món ăn, một thức uống thôi mà anh chưa chịu nếm, mà anh bắt chúng tôi phải viết cuốn sách 8.000 trang để tả cái mùi vị của nó, thử nghĩ anh có điên không?
Bây giờ, pháp vô vi là gì? Đặc điểm của vô vi là không do các duyên tạo ra. Còn nó là cái gì thì anh phải có ba điều kiện sau đây mới biết Niết-bàn là cái gì. Một, anh đã chứng thánh thì anh thấy Niết-bàn rốt ráo nhất, chính xác nhất. Còn hai điều kiện còn lại là gì? Dựa vào hai điều kiện này thì chúng ta cũng có thể biết được Niết-bàn là gì, dĩ nhiên là biết theo cái nhận thức của phàm phu thôi. Có ba điều kiện để biết rõ Niết-bàn là gì, nhưng biết theo kiểu thánh hay phàm tùy chúng ta.
Điều kiện thứ nhất là anh phải chứng thánh. Điều kiện thứ hai là anh phải có cái trí để thấy được rằng anh đang bị khổ. Còn cái trí này ở đâu có thì đã nói rồi, có ba là Văn, Tư, Tu. Văn là do nghe, học, đọc từ người khác. Tư là phải do mình ngồi gặm nhấm, thấm thía, tiêu hóa. Còn Tu là anh phải có cái đời sống Chỉ Quán.
Cho nên điều kiện thứ nhất là có cái trí để anh thấy rằng anh đang khổ thật. Có ba điều kiện, điều kiện thứ nhất là anh chứng thánh là điều kiện tiên quyết rồi. Nhưng hai điều kiện sau là anh phải thấy anh khổ. Anh phải thấy anh khổ thì anh mới hiểu Niết-bàn là cái gì, là cái trạng thái không còn khổ này nữa. Chứ còn đằng này anh không thấy anh khổ. Tôi nói thẳng luôn, kỳ thực 90% phật tử mà tôi biết là không hiểu được Niết-bàn là gì. Bởi vì 90% phật tử mà tôi biết, chỉ cần dùng một phép lạ nào đó cho họ trẻ trở lại, đôi môi đẹp lộng lẫy như hoa hậu, thu nhập một tháng 50 triệu đô la, thì coi như họ đi ngang chùa họ không thèm dòm nữa. Phật pháp là cái gì họ không có care, không có màng tới luôn. Tại vì sao? Là vì cái khổ mà họ hiểu nó rất là buồn cười.
Khổ ở đây họ hiểu là sanh ly tử biệt, không tiền, không tình, không nhan sắc, không sức khỏe, oán thù, bị dây dưa pháp luật. Họ hiểu những cái đó cộng lại là hạnh phúc, còn bị những cái đó thì họ nói là đau khổ. Nói chung là tất cả phật tử Việt Nam thì hơi quá, nhưng mà 99% phật tử Việt Nam không được nghe giảng ba loại khổ mà chúng tôi vẫn ra rả.
Một là Khổ khổ, có nghĩa là sự khó chịu của thân tâm, sự có mặt của những gì làm cho thân tâm khó chịu. Hai là Hoại khổ, là sự vắng mặt của những gì làm cho thân tâm mình dễ chịu. Và cái thứ ba là Hành khổ, có nghĩa là tính cách lệ thuộc các điều kiện để có mặt, để mà khổ và lạc có mặt. Những tính cách lệ thuộc này được gọi là Hành khổ. Người phật tử không biết ba cái khổ này, mình chỉ biết cái khổ đầu tiên thôi. Chỉ biết cái gì làm cho thân tâm mình khó chịu như không có sức khỏe, không có tiền bạc, không có nhan sắc, không có tình cảm, không có quyền lực...
Khó chịu là cái gì? Không có sức khỏe, không có tiền bạc, không có nhan sắc, không có tình cảm, không có quyền lực, không có quen biết... Tất cả những cái đó đều nằm ở trong cái khổ thứ nhất, đó là khổ khổ. Trong khi gia tài có ba, quý vị chỉ biết có một phần ba. Khi anh không thấy được sự có mặt của mình trong tam giới này là khổ, thì anh đừng hòng đi theo tôi mà hỏi Niết-bàn là cái gì.
Bây giờ anh không thấy anh khổ, anh không biết là anh đang bị bệnh trĩ, anh không biết là anh đang bị tiểu đường, anh không biết là anh đang bị cao máu, bị cholesterol, thì tôi không có gì để nói với anh hết. Phật pháp không có gì để nói với anh hết. Chư Phật cũng không có gì để nói chuyện với con người không thấy mình đang khổ.
Kể cả những người mình thấy họ đang mê đời, tại sao Ngài vẫn độ? Là bởi vì Ngài biết người này trong nhiều kiếp quá khứ đã từng thấy, từng chán sợ, từng tu tạo công đức để nguyện hết khổ rồi. Chẳng qua kiếp này họ sinh ra trong môi trường sống không thích hợp để tiếp tục nhớ lại duyên lành cũ, nhưng khuynh hướng tâm lý của họ vẫn rất thuận lợi cho việc chứng đắc. Cho nên chỉ cần Đức Thế Tôn khai quang điểm nhãn nhẹ nhàng là người đó chứng đắc.
Muốn biết Niết-bàn là cái gì thì anh phải chứng thánh. Lối sống Tứ niệm xứ chỉ có Niệm và Tuệ. Điều kiện thứ nhất để biết Niết-bàn là gì thì anh phải chứng thánh rồi, nhưng hai điều kiện còn lại là anh phải có Tuệ để thấy rằng anh đang sống trong cái khổ, chung quanh anh cái gì cũng khổ; và anh phải có Niệm để cái biết ấy được kéo dài liên tục và chính xác. Nếu anh không sống chánh niệm thì tất cả những gì anh biết chỉ là cái biết của con két, con vẹt, con sáo, con nhồng.
Cho nên có ba điều kiện:
- một là anh chứng thánh,
- hai là anh phải có trí để thấy rằng anh đang sống trong khổ, và
- thứ ba là phải có Niệm để cái biết ấy được kéo dài liên tục.
Trong ba điều kiện để biết Niết-bàn đó, cái đầu tiên là biết Niết-bàn rốt ráo, còn hai cái sau là cái biết theo trí phàm phu. Nhưng thà biết còn hơn không, thà như giọt mưa rơi trên tượng đá. Chứ mình tu mà mình không biết cứu cánh của mình là cái gì thì làm sao tu?
Anh vô toilet anh cũng phải biết lý do tại sao anh vô. Tại sao mình làm cái động tác bất vệ sinh, khó nhìn thế này, mình phải biết chứ. Anh ngồi ăn, anh cầm cái chén, cầm cái đũa lên cũng phải biết mình đang làm cái gì. Mình làm cái gì cũng có mục đích. Chỉ có bốn hạng người làm việc không cần mục đích: con nít, người lẩn thẩn, người khùng và người xỉn. Mình phải biết rõ mình làm chuyện này vì đâu. Như vậy, muốn biết Niết-bàn là cái gì, làm ơn nhớ giùm tôi là phải có được ba điều kiện này.
Niết-bàn là cái gì? Làm ơn nhớ giùm tôi là phải nhớ, phải có được ba cái điều kiện này. Bây giờ mới phân biệt được. Chúc các bạn một ngày vui.
Idaṃ me puññaṃ āsavakkhayāvahaṃ hotu.
Sabbe sattā sukhi hontu.
Idaṃ me puñña-bhāgaṃ sabba-sattānaṃ bhājema.
Idaṃ me puññaṃ nibbānassa paccayo hotu.
Bài 50. Kinh Tăng Chi | Chương Ba pháp | Phẩm Nhỏ (tt2)
Bản transcript pháp thoại đã được chỉnh dấu câu và trình bày lại để dễ đọc. Video YouTube đặt bên cạnh để đối chiếu khi cần; phần đọc chính là transcript bên dưới.
Thuộc Chương Ba pháp . Dùng các nút bên dưới để quay lại danh sách, lọc theo chương hoặc tiếp tục bài kế tiếp.
Mốc nội dungNhấn để mở/thu gọn
- Ý nghĩa bố thí
Giải thích bố thí là hành động tự nhiên của người hiểu đạo, bao gồm các điều kiện và tâm thái đúng đắn.
- Ba đẳng cấp bố thí
Phân loại bố thí thành nô lệ thí, bằng hữu thí và chủ nhân thí, với mức độ và quả báo tương ứng.
- Cảnh giới thiền sắc và vô sắc
Mô tả các tầng thiền sắc, vô sắc và sự khác biệt trong tâm thức của hành giả.
- Ba điều kiện nhận biết Niết-bàn
Chứng thánh, nhận biết khổ và duy trì chánh niệm là ba yếu tố thiết yếu để hiểu Niết-bàn.
- Vai trò trí tuệ và chánh niệm
Nhấn mạnh sự cần thiết của trí tuệ và chánh niệm trong việc nhận thức và sống chung với khổ.
- Mối liên hệ giữa khổ và giác ngộ
Khẳng định chỉ khi sống tỉnh thức trong khổ mới có thể hiểu và chứng nghiệm Niết-bàn.
Giữ lại một điều có thể thực hành
Đừng cố nhớ toàn bộ transcript. Chọn một ý chính, quan sát nó trong sinh hoạt hôm nay, rồi quay lại đọc tiếp khi tâm còn sáng và dễ tiếp nhận.
- Ý nào liên hệ trực tiếp đến khổ và nguyên nhân khổ?
- Ý nào có thể đem vào lời nói, việc làm, hoặc chánh niệm hôm nay?
- Nếu cần đối chiếu, mở Kinh Tăng Chi Bộ để đọc bản kinh gốc.