Pháp Học Online

← Vi Diệu Pháp — Sư Tinh Tuệ

BÀI 12 · VI DIỆU PHÁP

VDP3/012: Thường Cận Y Duyên - Sư Tinh Tuệ | Chùa Siêu Lý (29/04/2026)

⠿ Giữ và kéo thanh này để di chuyển video

Nội dung bài giảng

Rồi, hôm nay chúng ta học về phần cận y duyên, chính xác đó là bài Thường cận y duyên. Vậy chúng ta sẽ đọc phần bài học trước, sau đó chúng ta sẽ nghe giảng.

Mười pháp Thường cận y duyên:

Một, pháp thiện trợ pháp thiện bằng tự cận y duyên: C x lô, thô c xá, thm ma xá, b t ni say b ch, dê áp chá vô.

Hai, pháp thiện trợ pháp bất thiện bằng Thường cận y duyên: cú xá lô tham mô, a cú xá la, xá thm ma xá, bát tu ni xá, bá chê ná, bá chá vô.

Ba, pháp thiện trợ pháp vô ký bằng Thường cận y duyên: nghi lô thô, á da tá, xá thm xá, phá ph ni x, da vô.

Bốn, pháp bất thiện trợ pháp bất thiện bằng Thường cận y duyên: á xá lô thm mô, xá lá xá, xá thm xá, bát tha t ni, xá giá bá chá, nhệ nát bá chá vô.

Năm, pháp bất thiện trợ pháp thiện bằng Thường cận y duyên: áp cú xá lô thm mô, xá lá xá, xá âm ma xá, bát ma tù bát ni, x bá chế dệ ná chế dụ.

Sáu, pháp bất thiện trợ pháp vô ký bằng Thường cận y duyên: xá lô thâm mô, da cá tá thá, bá t ni, x dê phá chá dô.

Bảy, pháp vô ký trợ pháp vô ký bằng Thường cận y duyên: á da cá tô tham mô, á da cá tá, xá thm xá, ca tu x da pháp cha dê na, phát cha dô.

Tám, pháp vô ký trợ pháp thiện bằng Thường cận y duyên: di áp da tô thm mô, cú xá lá, xá thm xá, bát t ni, xá dach nhệ na, phá nhô chí.

Chín, pháp vô ký trợ pháp bất thiện bằng Thường cận y duyên: Á gi tá tm, á da tá tá, xá thm xá, t ni x b d.

Ai đọc lại Thường cận y duyên.

Một, pháp thiện trợ pháp thiện bằng Thường cận y duyên: cú xá lô tham, Nam mô xá lá, xá âm m, xá bắ tí, xá giá chá dê ná, chá vô.

Hai, pháp thiện trợ pháp bất thiện bằng tự cận y duyên: cú xá lô thm mô, cú xá lá, xá thầm m, xá tá ca tù ni, xá giá chệ ná chụ.

Ba, pháp thiện trợ pháp vô ký bằng Thường cận y duyên: cúc xá lô tham mô, á da tá, xá âm m, xá phá tá, tá ni, xá phá ch, dê phá chô.

Bốn, pháp bất thiện trợ pháp bất thiện bằng Thường cận y duyên: á bố xá lô tham mô, xá lá, xá th, xá tù ni, x dê na, cha dô.

Năm, pháp bất thiện trợ pháp bất thiện bằng Thường cận y duyên: á xá lô thầm mô, xá la, xá thầm ma, xá bát ca tí, x da.

Sáu, pháp bất thiện trợ pháp vô ký bằng Thường cận y duyên: á phá lô tham mô, á da cá tá, xá thâm, á xá bắ ca t ni, xá giá ch.

Bảy, pháp vô ký trợ pháp vô ký bằng Thường cận y duyên: áp da cá tô tham mô, áp da thát, xá thát, bát tha t ni, xá giá dệ, á tá chá vô.

Tám, pháp vô ký trợ pháp thiện bằng Thường cận y duyên: niên pháp da cá tô thâm mô, xá lá, xá thâm ma, xá bát tá, tá ni, xá phá dệ na dô.

Chín, pháp vô ký trợ pháp bất thiện bằng Thường cận y duyên: áp gia cá tô tham mô, á gia các tá, xá hm, xá tá, tá ni, xá giài.

Mười, Thường cận y duyên.

Có vài bài đó mình học hai buổi. Tại Thường cận y duyên là duyên mở rộng của cận y duyên. Theo thứ tự, trong hai mươi bốn duyên thì nay mình học đến duyên thứ chín, cận y duyên.

Về thuật ngữ, chúng ta thấy chữ này khác duyên trước là gì? Khác với y duyên là chữ gì? Chữ “cận” khác chữ gì? Cái chữ “ú”, tức là gần. “Cận” là đến gần, tiếp đầu ngữ “ú”.

Ví dụ, mình gặp ở trong kinh. Ở trong bài, phần đầu bài Kinh Hạnh phúc, có thêm chủ từ. Cái này là chủ từ mình thêm thôi, chứ trong câu dài quá, sư biết cắt ngắn lại.

Bắt đầu từ đây, mình thấy chữ này có chữ “ú”. Thì ở đây là “đến gần”, tức là sau khi đến gần, đã đảnh lễ Đức Thế Tôn và đứng một bên. Vị thiên ấy… Đoạn đó dài lắm. Tức là sau khi đến gần, làm cho hào quang chiếu sáng toàn vùng, chia tỏa quanh đó, rồi đi đến Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên.

Rồi làm cho hào quang chiếu sáng toàn vùng xung quanh gì đó. Rồi đi đến Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên.

Câu này sư hay giải thích cho các Phật tử đó là chư thiên, khi họ xuống ở cõi người mình, họ không bao giờ ngồi. Họ chỉ đứng thôi, họ không có ngồi. Ở trong chú giải giải thích tại sao, là tại vì cõi người thối quá, chư thiên họ chịu không nổi. Cho nên vì cần nghe pháp, họ xuống nghe pháp, nghe xong là họ lật đật đi chứ không chịu nổi.

Tại cái chữ này, chúng ta thấy về tánh thì đó là nữ tính. Nhưng mà ở trong chú giải giải thích là vị chư thiên đó là chư thiên nam. Ta xài nữ tính, nhưng vị chư thiên đó là vị chư thiên nam. Thiên nam như thế này chúng ta cũng gặp thường xuyên ở trong kinh lắm. Tức là mỗi lần vị chư thiên xuống gặp Đức Phật, nghe pháp rồi, sau khi đi đến đảnh lễ Đức Phật rồi đứng một bên. Kinh diễn tả là đứng một bên.

Ở đây mình muốn nói về cụm từ này. Ví dụ, upanissaya tức là đến gần, và ở đây mình dịch trong cái nghĩa đó là cận, kế cạnh. Cận tức là kế cận. Thì nó khác với duyên trước là nó chỉ thêm tiếp đầu ngữ upa, nhưng về mặt ý nghĩa thì nó cũng khác một chút.

Tức là về mặt nương nhờ thì nó vẫn là nương nhờ. Nương nhờ thì nó vẫn là nương nhờ, tại nó có chữ nissaya, nhưng mà có thêm tiếp đầu ngữ upa nữa. Nương nhờ mà cái năng duyên ở đây, tức là năng nương nhờ, nó giúp cho sở duyên. Bản thân của năng duyên nó có sức mạnh, cho nên khi giúp sở duyên mà nó nương nhờ cái năng duyên, nó trở thành cái pháp có sức mạnh vững chắc.

Nó khác với cái kia là nương nhờ, chỉ nương nhờ bình thường. Còn cái này là nương nhờ mà vững chắc và có khả năng lớn mạnh, thì đó là cận y duyên. Tức là chỗ nương ở đây, thay vì người ta sử dụng chữ “vững chắc”, thì ở đây là nương nhờ mà tốt nhất, chỗ nương tốt nhất.

Trong cận y duyên này, mình chia ra có ba duyên nhỏ. Đó là cảnh cận y duyên. Cảnh cận y duyên thì đồng nghĩa với chữ ārammaṇūpanissaya. Cái chữ này trùng với cảnh trưởng duyên, chi pháp của nó là cảnh trưởng duyên.

Chỉ ở phần này thôi, chúng ta cũng đã thấy nó khác nhau. Giống như lúc mình học cảnh duyên với cảnh trưởng duyên vậy đó. Nó không phải có pháp trưởng, pháp có sức mạnh vượt trội làm chỗ nương để pháp sanh khởi, mà cái cảnh cận y duyên này có chi pháp đồng với cảnh trưởng duyên.

Còn vô gián cận y duyên thì có chi pháp trùng với vô gián duyên. Rồi cuối cùng, câu thứ ba đó là thường cận y duyên. Đó là câu mới, chi pháp mới mình học ở trong bài hôm nay.

Còn hai trường hợp, trường hợp một và trường hợp hai, thì chúng ta lấy chi pháp theo câu cảnh trưởng duyên với lại vô gián duyên. Nếu ai siêng, viết lại thì mình xem trong cảnh trưởng duyên có bao nhiêu chi pháp, mình viết lại như vậy, và mình thay chữ cảnh trưởng duyên bằng cảnh cận y duyên.

Nếu siêng học cái đó, viết lại cho đủ chi pháp, để sau này mình có đủ các chi pháp vừa trong 24 duyên, vừa trong các duyên mở rộng. Đó là cách mà mình học thêm. Học thêm thì mình chỉ thay nó thôi, đâu có gì. Hôm nay mình học chủ yếu là mấy cách đó.

Đó là cách mà mình học thêm. Học thêm thì mình chỉ thay nó thôi, đâu có gì. Hôm nay mình học chủ yếu là mấy cách. Mình có “ô” là chủ cách, có “a” là chủ cách số nhiều. Rồi mình học thêm cách thứ ba, cách thứ tư và cách thứ sáu. Của sáu đó chỉ có mấy cách đó thôi. Hôm nay mình học thấy câu pháp đó thì mình chỉ thay đổi mấy cách đó là biết lại được.

Tương tự, ở câu số hai, phần thứ hai cũng vậy. Thay vì là vô gián duyên thì giờ mình thay đổi cho nó là bằng vô gián cận y duyên. Thay đổi câu pháp, thay đổi phần cuối đó thôi, còn chi pháp thì giống nhau. Chữ pháp thì giống nhau.

Để ý chữ B, nó là cảnh cận y duyên. Mình có gì thì mình tách nó ra là gì? Khi mình ghép lại, mình thấy nó là “nu” nè. Mình có “nu” thì hai chữ này là chữ ghép, tức là chữ “ác”. Chữ “ác” cộng với chữ “ú” thì có được chữ “u”. Ở đây là hai nguyên âm, hai đoản nguyên âm không giống nhau. Bài học của nó là: hai đoản nguyên âm không giống nhau, nếu xóa nguyên âm trước thì trường âm nguyên âm sau.

Cái quy tắc của nó, mình học phần hợp âm này. Bài học thì khó, nhưng đến khi mình hiểu rồi, mình chỉ cần nhìn trên cách ứng dụng là có thể nhớ được bài học. Chứ để học thuộc bài thì mình không thuộc nổi, tại nó nhiều quá. Nhìn trên cách ứng dụng mà người ta sử dụng lâu ngày, mình tự động nhớ. Chỉ nhìn thấy cái đó là mình nói được bài học. Mỗi lần thấy mà nhớ được bài học như vậy là mình nhớ nó thôi, chứ học thuộc lòng thì không thuộc hết được, tại nó nhiều quá.

Tương tự đối với chữ “an” thì mình có chữ gì? Nó giống y hệt nhau thôi, công thức y hệt nhau thôi. Rồi cái cuối cùng là gì? Tách nó ra là chữ ở đây. Cái gì mà mình làm thường xuyên, làm hoài, làm hoài thì người ta gọi nó là thuần thục. Đó là phần chia nhỏ, phần bài học chính của mình.

Giống như nói lúc nãy, bài số mười đó là thường cận y duyên, tức là cách trợ giúp bằng cách cho nương nhờ mạnh mẽ, bằng cách tác động do thói quen, do thuần thục hay là do ấn tượng.

Tác động do thói quen là sao? Tức là trong đời sống hằng ngày của mình, mình thường làm một việc. Thí dụ như mỗi buổi chiều mình tụng kinh, sau thời kinh mười lăm phút thì ngồi thiền. Hành động đó được lặp đi lặp lại trong đời sống hằng ngày của mình. Hành động đó được làm bằng tâm thiện, có thể là tâm thiện bắt đầu bằng niềm tin. Lúc đó, niềm tin sẽ trở thành pháp năng duyên, hỗ trợ cho các tâm thiện. Nếu nói chung lại thì đó là tâm thiện. Một tâm thiện này hỗ trợ cho tâm thiện khác sanh khởi bằng thường cận y duyên, tức là hành động đó được làm thường xuyên như vậy.

Bởi vì hành động được làm thường xuyên như vậy, đó là thói quen. Người ta gọi đó là một thói quen tốt. Cái gì làm thường xuyên thì sẽ thuần thục. Hoặc là do ấn tượng. Ấn tượng là sao? Giống như nói với các Phật tử, trong đời sống của mình, mình làm nhiều thiền sự. Nhưng vì mình làm mà không có sự cố ý, tâm mình không chú tâm nhiều, cho nên làm xong thiền sự nào thì mình cũng không nhớ được thiền sự đó. Cho nên phải làm một thiền sự gì đó trở thành một ấn tượng.

... như thiền sự đó, mình không nhớ được. Cho nên nó phải làm một cái thiền sự gì đó trở thành một cái ấn tượng. Mà cái ấn tượng thì nó cũng trở thành sức mạnh, là thường cận y duyên.

Tại sao khi mà nó là ấn tượng tốt thì mỗi lần mình nhớ là nó hiền liền? Tại nó có sức mạnh. Cái pháp thiện đó nó có sức mạnh. Nó tương tự giống như người làm ác vậy đó. Hễ nó làm cái gì, hành động nào ấn tượng, thì khi họ nhớ, họ lập tức nhớ đến cái đó.

Tương tự cũng vậy. Hành động mà hỗ trợ bằng thói quen, bằng sự thuần thục hay là bằng ấn tượng thì người ta gọi nó là thường cận y duyên. Thường cận y duyên, hay nói cách khác, đó là một hành động được làm thường xuyên, tác động đến hành động khác thì người ta gọi nó là thường cận y duyên.

Cái đó mình nói trên lý thuyết, còn thực tế trên tâm thì nó sẽ khác lại.

Rồi, câu pháp thì ở trong trường hợp này mình có tới chín câu pháp. Tức là mình có ba trường hợp liên quan đến thiện: thiện hỗ trợ cho thiện, thiện hỗ trợ cho bất thiện và thiện hỗ trợ cho vô ký, là ba câu.

Bất thiện mình cũng có ba câu. Đó là bất thiện hỗ trợ cho bất thiện, bất thiện hỗ trợ cho thiện và bất thiện hỗ trợ cho vô ký.

Rồi mình có ba câu liên quan đến vô ký. Đó là vô ký hỗ trợ cho vô ký, vô ký hỗ trợ cho thiện và vô ký hỗ trợ cho bất thiện.

Trước tiên, mình nắm căn bản như vậy rồi mới bắt đầu nắm câu pháp cho đúng câu chữ. Nhưng trước tiên là vậy để cho nó dễ nhớ, hình dung cho dễ nhớ.

Hôm nay, nếu gom lại thì mình học cũng khá nhiều câu pháp rồi chứ.

Để học xong, mình làm một cái tài liệu. Thật ra, trong đời sống, nếu các Phật tử tụng kinh Tam Bảo ngắn, xong tụng các duyên này, quan trọng hơn mấy lần. Tại sao? Tại duyên này là những gì đang diễn ra trong đời sống của mình. Mình tụng để trở thành một cái ấn tượng luôn, thành một thường cận y duyên luôn.

Mỗi một lần việc đó xảy ra thì lập tức cái pháp đó hiện khởi, nhớ nó. Ứng dụng trong đời sống này quan trọng hơn kinh tụng thông thường của mình nhiều.

Nói là kinh tụng, chứ thật ra là do mình từng đọc thường xuyên thì mình có kinh tụng. Thí dụ như những trường hợp tụng đọc như vậy liên quan đến lý pháp rất sâu. Và nhất là với các Phật tử mà mình có học nữa. Còn không có học thì chỉ tụng bằng niềm tin thôi, chứ mình không nắm bắt được ý nghĩa. Tại cái này rất khó.

Chỉ pháp tổng quát năng duyên. Vì ở đây mình có cả ba trường hợp, tức là mình có cả tâm, có cả thiện, bất thiện và vô ký. Cho nên năng duyên ở đây mình có tâm, tâm sở, sắc pháp. Sở duyên thì cũng là tâm và tâm sở sinh sau đó.

Rồi phi sở duyên, tức là không phải sở duyên, nó là sắc pháp, tức là nó không được hỗ trợ. Thì ở đây đó là cái sinh trước. Nó có thể là trước đó. Trong trường hợp này, nó có thể là kiếp trước đây nữa.

Thí dụ như trong cái nguyên nhân khiến tâm tham sanh khởi, trong đó có cái là do đời trước đa tham. Do đời trước đã tham, tức là trước đây mình sống với tham nhiều, cho nên trong đời sống nó trở thành thường cận y duyên. Vì vậy, trong đời sống hiện tại, chỉ cần gặp cảnh đó là tâm tham sanh khởi.

Đời sống nó trở thành thường cận y duyên. Cho nên ở trong đời sống hiện tại, chỉ cần gặp cảnh đó là tâm tham sanh khởi. Ở trong trường hợp đó là sao? Là bất thiện hỗ trợ cho bất thiện bằng thường cận y duyên.

Học bài này cho mình một bài học, cho mình thấy là nếu ở trong đời sống của mình, chúng ta thấy nếu mình gặp cái gì mà mình phát sanh tâm tham, nhất là gặp những thứ đẹp mà mình phát sanh tâm tham, thì chứng tỏ trong đời sống trước đây của mình thường gần gũi với tham. Hoặc là khi gặp nghịch cảnh, mình phát sanh tâm sân liền, thì cho mình thấy là thường cận y duyên của mình cũng gần với sân.

Biết vậy để làm gì? Để mình tập thay đổi nó. Để mình tập thay đổi nó. Đó là cái lợi ích ở trong việc học hỏi Phật pháp. Còn nếu mà chỉ biết để nói thôi thì cái đó khác. Nhưng mà biết để mình tập thay đổi bản thân thì cái đó mới có được nhiều lợi lạc trong đời sống của mình.

Còn nếu chỉ biết để nói thôi thì Đức Phật, trong bài kinh Ví dụ con rắn, Ngài nói giống như người bắt rắn vậy đó. Bắt rắn mà không khéo, nắm ngay cái đuôi hoặc là ngay giữa mình của nó, thì người đó sẽ bị rắn cắn. Nếu không chết thì cũng bị đau khổ.

Rồi, giờ câu pháp thứ nhất đó là pháp thiện trợ pháp thiện bằng thường cận y duyên. Pháp thiện tức là mình có các tâm thiện ở cả bốn lĩnh vực, đó là dục giới, sắc giới, vô sắc giới và siêu thế, rồi các tâm sở phối hợp với nó.

Hỏi thử câu hỏi: Bây giờ các tâm sở tợ tha, khi mà nó phối hợp với các tâm sở tịnh hảo thì tính chất của nó là sao? Nó sẽ trở thành tâm sở tịnh hảo, tức là nó có tính chất tốt giống như là tâm sở tịnh hảo. Đó là cái mình cũng cần để ý. Mình gọi nó là tợ tha, gọi theo cái gốc thôi. Nhưng mà thật chất, khi nó phối hợp với các tâm sở tịnh hảo, phối hợp với tâm thiện, thì lúc đó nó trở thành tính chất tốt. Nó giống như là các tâm sở tịnh hảo.

Nhưng mà ngược lại, khi mà nó phối hợp với các tâm bất thiện thì sao? Thì nó trở thành xấu, trở thành các tâm sở bất thiện, tính chất của nó xấu.

Giờ mình xem câu pháp, chi pháp trước, rồi chúng ta thử cho ví dụ. Năng duyên ở trong trường hợp này đó là 32 tâm thiện. 32 tâm thiện đó là trừ gì? Trừ năm tâm đạo, năm tâm quả đạo hay là năm tâm tứ đạo? Vì ở trong tiến trình tâm, sau tâm tứ đạo thì là tâm gì? Là tâm quả, cho nên nó không có hỗ trợ được.

Rồi, 38 tâm sở phối hợp. Thiện sở duyên ở đây đó là 37 tâm thiện và 38 tâm sở phối hợp, rồi thêm tâm thông thiện.

Bây giờ mình thí dụ ở trong trường hợp thiện hỗ trợ cho thiện. Ở lĩnh vực đó là tám tâm đại thiện. Thí dụ giống như gì? Khi mà nói đến tám tâm đại thiện thì mình nhớ đến lộ trình tâm gì? Lộ động lực.

Dù là hành động thiện đó được thực hiện trước đây hay mới diễn ra trong đời sống hiện tại, thì thiện hỗ trợ cho thiện vẫn nằm ở trong lộ động lực. Chính xác của nó.

... diễn ra trong đời sống hiện tại thì thiện mà nó hỗ trợ cho thiện vẫn nằm ở trong lộ động lực. Chính xác của nó là động lực. Thí dụ như ở trong lộ ngũ môn, cái gì để trở thành thường cận y duyên? Nó cần y duyên, và thiện hỗ trợ cho thiện.

Trong trường hợp này, giống như mình thấy tượng Phật rồi mình phát sanh tâm đức tin. Đức tin hỗ trợ cho các thiện pháp khác. Nói làm sao để thấy rằng, nếu chúng ta nói đơn giản thì dễ lộn với cận y duyên. “Thường cận y duyên” nói là sao? Để nó trở thành thường cận y duyên thì cần phải như thế nào?

Người có đức tin mạnh thì khi thấy tượng Phật hoặc những hình ảnh về Đức Phật sẽ dễ dàng phát sanh tín, thí hoặc giới. Nghĩa là tâm sở tín là năng duyên cho tám tâm đại thiện, làm những việc như bố thí, trì giới, tu thiền. Nghĩa là con vị đó hằng ngày... Không, hơn ngày đó thì tính đó... tâm sở tín.

Bây giờ nói gọn lại. Nói cách khác, trong lộ ý hay lộ ngũ gì cũng được, một người có tâm sở tín mạnh thì khi gặp những cảnh sắc, ví dụ như tượng Phật, sẽ dễ dàng phát sanh tâm thiện để làm những việc như bố thí, trì giới, cung kính, phục vụ, tùy hỷ hoặc hồi hướng phước. Nếu có đức tin mạnh thì sẽ tin vào Tam bảo, tin vào nhân quả, tin vào mười hai nhân duyên. Đó là ý của con, nói như vậy có đúng không?

Rồi, có ai nói khác hơn không?

Thí dụ như mình đi đặt bát, cái đó cũng là do thường xuyên. Nhìn thấy người khác là mình làm theo cái đó.

Cái đó là gì?

Cái thí dụ đó ngắn gọn, dễ hiểu nhất. Nhưng “chi pháp” là cái gì? Tức là chúng ta cho thí dụ thì phải nói được chi pháp, chúng ta mới hiểu. Thí dụ anh nói tâm sở tín là năng duyên hỗ trợ cho tâm thiện sanh khởi. Mình ví dụ xong thì phải nói ra được chi pháp. Trong trường hợp đó, nó là cái gì?

Là tâm sở tinh tấn thường xuyên.

Không, không phải. Nó cũng không hẳn là tinh tấn. Nói là tinh tấn cũng được, nhưng phải nói ví dụ khác một chút. Tức là phải có sự nỗ lực làm cái việc đặt bát đó thường xuyên. Cho nên khi thấy người khác làm, chỉ với một chữ thay đổi nhỏ thôi là cái thí dụ của mình đã khác đi, lúc đó nó là tinh tấn.

Còn cái thí dụ hồi nãy mình có thể lấy gì? Nếu cái nào đó cũng không rõ, nhưng hành động đó được thực hiện thường xuyên thì sao? Là tâm thiện hỗ trợ cho tâm thiện khác bằng thường cận y duyên, vẫn được. Tại vì không có tâm sở nào nổi trội, nhưng nó vẫn giúp thực hành các thiện sự thường xuyên. Cái đó là tâm thiện hỗ trợ cho thiện, thiện hỗ trợ cho thiện.

Nếu ở trong lộ trình tâm thì mình có thể... Tại nãy mình nói “thấy”, thì nó liên quan tới lộ ngũ môn. Cái thấy thì liên quan tới lộ ngũ môn. Cái tâm thiện mà mình có thể hoan hỷ được, thì hành động đó đã xảy ra nhiều lần đối với mình trước đây rồi. Nó trở thành thường cận y duyên rồi. Tức là nó vừa ở trong lộ tâm trực tiếp, nhưng mà vừa có từ trước đó.

H trước đây rồi, tại nó trở thành tương cận y duyên rồi. Tức là nó vừa trong lộ tâm trực tiếp, nhưng mà vừa trước đó. Dạ.

Nhưng mà nó hỗ trợ trong trường hợp này: nếu mà ở trong lộ tâm đổng lực thì cái tâm thiện trước nó cũng có thể hỗ trợ cho tâm thiện sau sanh khởi liên tục. Nó cũng được, đâu có sao. Rồi, đó là hành động bố thí lúc nãy.

Bây giờ sư giải thích thêm câu của anh Sơn nói lúc nãy. Liên quan đến niềm tin thì mình cũng phải nói rõ, tức là niềm tin cái gì?

Thí dụ như người mà có niềm tin nơi Đức Phật, cho nên người ta thấy hình ảnh Đức Phật, người ta mới hoan hỉ. Thí dụ như người mà có niềm tin nơi việc bố thí, vì họ thấy việc bố thí đó giúp đỡ được người khác vượt qua khó khăn, trong lúc đang khó khăn về mặt vật chất chẳng hạn, thì niềm tin đó khác đi.

Còn nếu mà có niềm tin nơi Đức Phật, niềm tin đó trở thành một sức mạnh, thì chỉ cần thấy hình ảnh Đức Phật thôi. Mặc dù nhiều khi có những nơi họ tạc tượng Đức Phật rất xấu, nhưng mà vì niềm tin, cho nên người này vẫn hoan hỉ. Tức là hoan hỉ với hình ảnh Đức Phật, với họ cũng vẫn đẹp.

Tại cái đẹp ở đó nó xuất phát từ niềm tin ở bên trong, chứ nó không phải chỉ là hình ảnh bên ngoài. Bên ngoài chỉ là tượng trưng thôi. Chứ thật ra, có người họ thấy nhiều cái tượng Phật rất là xấu, nhưng mà họ cũng vẫn chê. [Tiếng cười]

Tại hình ảnh đẹp của Đức Phật, nó đã có trong tâm của họ. Tức là những ân đức đẹp về Đức Phật đã có trong tâm của họ. Dạ.

Nhưng mà nhiều khi, nếu người không có hiểu, thí dụ như thợ mà họ làm tượng Phật xấu như vậy, mà mình cứ khen họ làm đẹp thì cũng không được. Tức là như vậy thì tay nghề của họ không thể thay đổi được. Mình phải nói: “Cái này phải sửa chỗ này một tí, chỗ kia một tí”, thì tượng Phật mới đẹp, hoàn hảo hơn. Phải nói như vậy thì mới được.

Còn người mà có niềm tin nơi Đức Phật thì lúc nào Đức Phật cũng đẹp, tại đẹp bởi những đức tính tốt của Ngài, chứ không phải là hình ảnh bên ngoài.

Dạ, thì đó là từ niềm tin. Niềm tin đó là niềm tin mà năng duy hỗ trợ cho các tâm thiện sanh khởi. Và niềm tin đó nhiều lần đã sanh khởi rồi. Ở trong lộ trình tâm này, nếu mà trong lộ tâm đổng lực thì tín tâm sở ngay ở trong sát-na đó hỗ trợ cho tâm thiện sanh khởi, rồi nó hỗ trợ cho hàng loạt các tâm thiện sanh khởi nữa. Nó có thể từ lộ ngũ môn sang lộ ý môn các thứ.

Thì đó là niềm tin mà liên quan đến thấy hình ảnh Đức Phật. Dạ.

Giờ anh Sơn còn nói rộng ra đó: từ niềm tin đó mà người ta làm phước, bố thí, trì giới các thứ, thì cái đó nó mở rộng hơn. Tức là với suy nghĩ của họ là: Đức Phật mà được như thế này là do Ngài đã tạo các công đức ba-la-mật, như là bố thí, trì giới các thứ. Cho nên mình cũng tập theo hạnh của Ngài, đó là làm phước, bố thí, trì giới. Cái đó khác nữa, tức là một giai đoạn khác nữa.

Ở đây thì nó vẫn là thiện hỗ trợ cho thiện, thiện hỗ trợ cho thiện. Nhưng mà cái đó là hai giai đoạn khác nhau rồi. Hai giai đoạn khác nhau đó. Mà cái đó là niềm tin. Niềm tin đó mình được hai trường hợp rồi, tức là liên quan tới niềm tin.

Đó là niềm tin. Niềm tin đó mình được hai trường hợp rồi. Hai trường hợp tức là liên quan tới niềm tin. Một trường hợp là liên quan chung chung, hoặc như nãy sư nói, thí dụ bây giờ nói một thí dụ khác, liên quan đến chữ “giới”.

Thí dụ như chữ “giới” cũng là niềm tin. Mình niềm tin vào việc giữ giới để ngăn chặn những ác pháp, để bớt khổ. Vậy thì sao?

Cũng được đó. Bây giờ thay niềm tin bằng cái gì khác nữa ngoài niềm tin?

Bi, hoặc là cái quan trọng là gì nè? Cái quan trọng là trí tuệ. Tại sư cũng hay nói với các Phật tử đó, là ở trong pháp của Đức Phật, khi mà nói đến niềm tin là phải có trí tuệ. Cái đó quan trọng.

Dùng thí dụ làm sao để có yếu tố trí tuệ?

Thí dụ như thấy được lợi ích của việc giữ giới. Giáo pháp của Đức Phật dạy về nhân quả: các hành động xấu tạo ra các quả xấu tiếp theo, giữ giới tạo ra các quả tốt.

Cũng được. Cái nào cho nó cao hơn một tí nữa?

Cao hơn một tí, tại cái đó vẫn là cấp độ luân hồi. Mặc dù có trí, nhưng cái trí đó phần lớn vẫn bị tác động bởi vô minh duyên hành. Mình phải đưa lên cao hơn tí nữa.

Học nhiều rồi, cao hơn tí nữa.

Bốn tâm đại thiện hợp trí, trong cái lộ đắc, lộ đặc biệt; hoặc là đắc thiền, hoặc là đắc đạo.

Dạ, thì bốn tâm thiện hợp trí là thường cận y duyên trợ cho tâm đạo, trừ tâm tứ đạo. Tâm đạo, hoặc là bốn tâm thiện hợp trí là thường cận y duyên trợ cho tâm thiền, tâm chứng thiền, loại chứng thiền đó.

Cái đó là tâm thiện ở lĩnh vực dục giới, hỗ trợ cho sắc giới, vô sắc giới và siêu thế rồi đó.

Dạ.

Cái đó thì cao quá, cho mình đi vừa thôi.

Thiện, thiện với thiện. Mình ở tám tâm đại thiện thôi. Tám tâm đại thiện thôi.

Thì học pháp thường xuyên là nó có cái độ...

Còn yếu quá.

Tu thiền, ngồi thiền...

Chưa rõ, chưa rõ, nói chưa rõ.

Xét thấy việc mình giữ giới giúp ích cho quá trình mình hành thiền, tâm tĩnh hơn. Cho nên vì thấy được lợi ích đó, nên tập ra một thói quen giữ giới để hỗ trợ cho việc hành thiền của mình.

Sư cũng chưa đủ. Cũng chưa đủ, nó mạnh hơn tí nữa.

Trời ơi, vậy là ít có suy nghĩ, cho nên nói không ra. Tức là để đạt được mục đích giải thoát, người ta phải thấy các pháp theo tam tướng. Cái đó quan trọng lắm. Nói đến trí ở mức độ cao là phải nói đến tam tướng.

Chắc ở trong này sống, chắc không suy nghĩ hả? Không nghĩ đến hả?

Sư kể lại câu chuyện. Những người bạn của bà Đại Tín nữ Visākhā đó, họ cố gắng gìn giữ giới, làm các công đức bố thí. Xong rồi bà Đại Tín nữ hỏi: “Cố gắng làm các công đức đó để làm gì?”

Trong nhóm đó có người nói là cố gắng làm các công đức này để nguyện sao cho có chồng, có được người chồng đàng hoàng, tốt.

Có người thì cố gắng gìn giữ, làm các công đức này để khi có gia đình, xin được người con trai đầu lòng.

Rồi có người cố gắng gìn giữ, làm các công đức này để sau khi chết được sinh về cõi trời.

Đó, thì nãy giờ cái thí dụ của mình mới vòng vòng cái đó.

Tức là nó không lên cao được. Vậy cái đó, nếu mà ở trong Kinh Tâm Hoan Hỷ, thì cái đó nó vẫn được xem là...

À, tức là nó không lên cao được. Vậy cái đó, nếu mà ở trong Kinh Tâm Hoan Hỷ, thì cái đó vẫn được xem là năm tâm trói buộc. Đó là cách tạo công đức mà vẫn bị trói buộc trong đó, bị trói buộc bởi việc hưởng thụ dục lạc hoặc là cảnh giới tái sinh. Cho nên phải cao hơn một tí.

Sư thường hay nói với các Phật tử, thí dụ như khi mình làm các công đức, đây là hành động thiện được thực hiện bởi tâm thiện, thì nó sẽ không có ta, không có cái của ta.

Sư ví dụ như có một bài kinh, sư quên mất tên bài kinh với lại nhân vật đó, nhưng mà một vị tỳ-kheo thường quán tử thi. Khi thấy những người khác di chuyển, vị đó chỉ do thường xuyên quán tử thi, thành ra thấy người khác thì chỉ thấy những bộ xương đang đi, đang sinh hoạt. Đó là thường cận y duyên. Hồi nãy sư muốn nói là về quán tử thi.

Về quán tử thi, tức là không có ta, không có cái của ta ở đó. Chỉ là một cái xác thân, một tử thi đang đi thôi, đang vận hành thôi. Hoàn toàn không có ta, không có cái của ta.

Khi đến mức độ như vậy thì người ta không còn chấp thủ nữa.

Hoặc là có trường hợp của ngài Giáp Phát, tức là thường cận y duyên của ngài trước đó là làm bên hỏa táng. Nhìn thấy tử thi, dù người già hay người trẻ gì đó, đến khi chết thì cũng hôi thúi, rồi thiêu đốt. Mùi hôi thúi, nặng nhẹ gì cũng giống nhau hết. Tức là lúc đó, tâm tham đắm đối với cái đó không còn nữa. Do suy nghĩ đó thường xuyên, thấy và suy nghĩ thường xuyên, nó trở thành một thường cận y duyên luôn.

Cho nên trong đời sống hiện tại, lúc đêm khuya, những người hầu toàn là những người đẹp không à, lúc uống rượu say, ca hát rồi ngủ quên đó, tóc tai xõa xượi, y phục cũng không còn trang nghiêm nữa, có người ngủ ngáy, chảy nước miếng các thứ. Lúc đó, do thường cận y duyên, chỉ cần một hình ảnh nào đó giống như vậy, lập tức cái tâm đó khởi lên liền, tức là tâm nhàm chán khởi lên liền.

Khi tâm nhàm chán khởi lên liền, chúng ta thấy sao? Đâu ở trong nhà được nữa. Mặc dù bây giờ sống trong đời sống gia đình đầy đủ các thứ, nhưng quyết tâm là bỏ gia đình, bỏ nhà đi xuất gia.

Trong đời sống của mình cũng vậy. Một phần là khi mình tạo các công đức, mình tác ý: đây là hành động thiện được thực hiện bằng tâm thiện. Đó là một. Thứ hai, tác ý rằng đời sống này là vô thường, cái chết có thể đến bất cứ lúc nào. Do vậy, có cơ hội như thế này thì thực hiện hành động thiện. Cái đó quan trọng lắm, tại nó liên quan đến cái vô thường của đời sống, của cái thân này.

Khi mình suy xét thường xuyên, đến khi chỉ cần gặp Đức Phật, Ngài nói: “Này các tỳ-kheo, sắc này là vô thường. Cái gì vô thường là khổ, cái gì khổ là vô ngã”, thì lúc đó chắc được thánh quả. Tại hành động đó mình nghĩ thường xuyên ở trong đời sống, cho nên chỉ cần ai lặp lại một cái là mình hiểu, nghe là mình hiểu liền.

Đó, mình nghĩ nó thường xuyên ở trong đời sống, cho nên chỉ cần ai lặp lại một cái là mình hiểu, nghe mình hiểu liền. Cái đó là trường hợp Đức Phật ví dụ như hoa sen vươn lên khỏi nước, chỉ cần chờ một tí ánh nắng mặt trời là lập tức nó nở liền.

Cho nên, trong các tạo công đức trong đời sống hằng ngày của các Phật tử, bất cứ làm công đức nào cũng tập suy nghĩ như vậy để trở thành thường cận y duyên. Và cái đó cũng là một ấn tượng tốt cho mình trong cách tạo các thiện sự. Hễ mình có cơ hội tạo được công đức là nhớ đến cái đó, tức là hành động thiện được thực hiện bởi tâm thiện.

Bên cạnh đó, đời sống này vô thường, cái chết có thể đến với mình bất cứ lúc nào. Thông thường, cái gì vô thường thì sao? Nó là khổ. Cái gì vô thường thì nó là khổ. Cái gì khổ thì sao? Nó sẽ không phụ thuộc vào ai cả, tức là vô ngã.

Cho nên, thật ra mình thường nói là vô thường, khổ, vô ngã. Nhưng thật ra, trong ba pháp đó, chỉ cần hành giả nắm bắt một pháp nào thì đều có thể tu tập và chứng đắc. Trong ba tướng trạng vô thường, khổ, vô ngã, ba cái đó gắn chặt với nhau, nhưng tùy theo căn cơ của hành giả và sự tích lũy của mình trong đời sống hằng ngày.

Hành giả thường tu tập quán về cái gì? Thí dụ như trong đời sống xảy ra chuyện gì đối với mình thì mình thấy đời sống này khổ quá. Cái khổ đó trở thành một đề mục tu tập. Trong đời sống luân hồi, có những người thường xuyên suy xét như vậy.

Còn nếu trong đời sống, khi gặp cái gì không được giống như ý của mình, ngay cả những cái liên quan đến thân này, thí dụ mình muốn nó khỏe mà nó cứ bệnh hoài, thì hành giả suy xét: tại nó không phải của mình. Hành giả đó sẽ có đề mục là vô ngã để tu tập trong đời sống của mình.

Nhiều khi mình cũng không biết thuật ngữ đó, nhưng do sự suy xét đó, nó trở thành thường cận y duyên. Những trường hợp này cũng tiếp cận nhiều người. Một số Phật tử ở ngoài Bắc không phải là người học hỏi về Phật pháp, nhưng khi họ gặp mình, họ chia sẻ theo cách nói của họ. Mình thấy họ cũng có những đề mục pháp như thế này. Họ thực tập, dù họ chưa biết, vì sự suy xét đó đã trở thành thường cận y duyên của họ.

Cái đó vẫn nằm trong lĩnh vực tâm thiện, hỗ trợ cho thiện thôi. Nó vẫn là lĩnh vực tâm thiện. Khi đoạn trừ được phiền não thì mới vượt thế. Còn nếu không thì nó vẫn là lĩnh vực tâm hiệp thế, tức là tâm đại thiện.

Trong khi mình suy xét như vậy, hoặc thực hành, thực tập thiền trong đời sống hằng ngày của mình, các loại tuệ đó có thể sanh khởi, có thể sanh khởi các loại tuệ quán đó. Trong đời sống luân hồi của mình, những trường hợp đó có thể xảy ra rất nhiều lần.

Ở giai đoạn đó, nếu hành giả dừng lại thì mình không chứng đắc được Thánh quả. Cho đến khi nào tới tuệ thứ tư thì lúc đó mới không dừng lại.

Mình không có chứng đắc được thánh quả cho đến khi nào tới thuận thứ tuệ thì lúc đó mới không diệt lại. Khi tới thuận thứ tuệ là sao? Nó sẽ tiến đến sát-na, tức là các loại tuệ quán sẽ mất đi, tại nó giống như trong cái giới của mình vậy đó.

Tuệ mình cũng thấy là tuệ mà nó sanh khởi ở trong tâm thiện. Khi hành giả có sự suy xét thì lúc đó tuệ nó mới sanh khởi. Còn không suy xét thì nó chỉ là tâm thiện bình thường. Các loại tuệ quán cũng vậy. Chỉ khi nào hành giả tu tập mà quan sát thường xuyên đối với các pháp đang sanh khởi, đang sanh và diệt, thì lúc đó nó mới có mặt. Còn không thì nó sẽ trở lại trạng thái bình thường.

Và nếu mình bỏ lâu rồi thì hầu như là nó mất hẳn luôn. Nó giống như các Phật tử lúc còn trẻ đi chùa, được học hỏi giáo lý, được gìn giữ giới, thì niềm tin cũng khác. Nhưng đến khi có gia đình rồi, lo vợ con các thứ, nhiều khi cả chục năm quên cả chùa. Rồi sau đó do đời sống lận đận, khó khăn gì đó, mới tìm về chùa.

Thì chúng ta thấy, cái niềm tin trước đó mình đã có là mất hết rồi, mình phải bắt đầu lại từ đầu, chứ nó đâu còn. Bắt đầu lại từ đầu. Các loại tuệ quán cũng vậy.

Nãy giờ mình thí dụ đó là liên quan đến thiện hỗ trợ cho thiện. Thiện hỗ trợ cho thiện. Còn ở lĩnh vực cao hơn nữa, đó là thiện hỗ trợ cho thiện, nhưng ở lĩnh vực sắc giới, hoặc là dục giới hỗ trợ cho sắc giới.

Thí dụ như trong sát-na chứng đắc được thiền. Để chứng đắc được thiền đó, hành giả phải thực tập nhiều lần. Tức là tâm đại thiện, tâm đại thiện mà nó có sát-na định, có cận định, được lặp đi lặp lại nhiều lần. Các tướng đó sanh khởi nhiều lần, tức là từ sơ tướng, tợ tướng gì đó, nó phải sanh khởi nhiều lần, cho đến khi tâm đủ sức mạnh và họ chứng đắc được thiền định.

Như vậy thì ở trong tâm, trước tiên đó là tâm thiền. Tâm thiền đó được hỗ trợ bằng thường cận y duyên, bằng tâm gì?

À, tâm đại thiện.

Bằng tâm đại thiện thôi. Tức là cái tâm thiền đầu tiên mà họ có thể phát sanh được là do tâm đại thiện hỗ trợ. Cho nên chúng ta thấy là trong lộ trình tâm, tâm thiền đâu phải lập tức xuất hiện. Nó phải trải qua giai đoạn chuẩn bị, cận hành, thuận thứ.

Giai đoạn chuẩn bị, cận hành, thuận thứ đó thật ra trong đời sống của mình, lúc mình thực tập thiền, nó trải qua nhiều lần. Cho nên mới dẫn đến việc mình lầm tưởng là mình đã chứng đắc thiền rồi, đi hỏi thiền sư, hỏi coi như vậy có phải là con đã chứng đắc thiền rồi hay không.

Tức là trạng thái tâm định đó đã xảy ra đối với mình nhiều lần, nhưng nó chưa đủ sức mạnh để chứng đắc được thiền định. Có phải đó là thường cận y duyên không? Cái đó là thường cận y duyên, nó trở thành thường cận y duyên. Do mình thực tập thường xuyên, tâm đại thiện đó trở thành thường cận y duyên, và cho đến khi đủ sức mạnh thì nó hỗ trợ cho tâm thiện sanh khởi.

Tâm thiện sanh khởi thì đó là thiện hỗ trợ cho thiện, ở lĩnh vực dục giới hỗ trợ cho sắc giới. Rồi từ tâm thiện sắc giới đầu tiên đó, nó được xem là nền tảng. Tại nếu không có sơ thiền thì đâu có nhị thiền.

Rồi, từ tâm thiện sắc giới đầu tiên đó, nó được xem là nền tảng. Tại nếu không có sơ thiền thì đâu có nhị thiền.

Và chúng ta cũng thấy là để chứng đắc được tâm nhị thiền đó, hành giả phải thuần thục tâm sơ thiền này, tức là tâm phải có đủ sức mạnh, phải thực tập nó thường xuyên, phải ôn qua, ôn lại cho đến nhuần nhuyễn, cho đến khi tâm thiện sơ thiền có đủ sức mạnh để bước thêm một bước nữa.

Sư thí dụ như là nếu hành giả chứng đắc được sơ thiền rồi, mà không gìn giữ, không thực tập nó thì sao? Sơ thiền có thể mất đi không?

Mất đi. Nó bị hoại thiền. Chỉ cần gặp cảnh trở ngại thì nó mất đi liền. Cho nên, sơ thiền được xem là nền tảng để cho thiền thứ hai, thứ ba hoặc các bậc thiền ở vô sắc giới sanh khởi. Nó theo tuần tự: cái bậc thiền thấp thì được xem như là thường cận y duyên, hỗ trợ cho cái thiền cao xuất hiện.

Đương nhiên, trong tu tập thì vẫn tu tập bằng tâm thiện, chứ mình đâu tu tập bằng tâm thiền. Cho dù mình tu tập nhị thiền hay tam thiền thì vẫn là bằng tâm đại thiện.

Nhưng tâm đại thiện lúc giờ nó khác với tâm đại thiện thông thường, lúc mình chưa chứng đắc được thiền. Tâm đại thiện của người chứng đắc sơ thiền có sức mạnh hơn người bình thường, tại lúc giờ nó đã có định hỗ trợ.

Sư thí dụ như là bậc thánh A-na-hàm không có chứng đắc được thiền, nhưng vẫn tái sanh ở cõi Phạm thiên, là do trong tu tập bằng tâm đại thiện đó. Từ bậc thánh Dự lưu, bậc thánh Nhất lai, khi phiền não đã đoạn trừ thì tâm đại thiện đó cũng có sức mạnh, trong đó có sức mạnh của tâm định. Mặc dù không chứng đắc được thiền định, nhưng vẫn có sức mạnh của tâm định.

Tại bình thường tâm của mình bị phóng dật nhiều là do gì?

Bị phiền não chi phối.

Nhưng khi hành giả chứng đắc được sơ thiền thì phiền não bị áp chế rồi. Nếu hành giả chứng đắc được thánh quả, thí dụ như thánh quả Dự lưu, thì phiền não cũng bị áp chế, mà phiền não cũng bị đoạn trừ. Nó vừa đoạn trừ, mà những cái còn lại cũng giảm hẳn đi.

Mặc dù, thí dụ như bậc thánh Dự lưu chỉ đoạn trừ được thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ. Cả ba trường hợp đó chỉ nằm trong tâm tham. Nhưng tâm sân ở bậc thánh Dự lưu có giảm không?

Giảm. Thật sự là giảm. Bậc thánh Dự lưu đâu có đi chửi, đi đánh đập người ta đâu, không có trường hợp đó. Cho nên rõ ràng tâm sân có giảm đi. Mặc dù không rõ ràng là một trong hai tâm sân đó, nhưng rõ ràng tâm sân có giảm đi.

Rồi tâm si có giảm đi không? Cái phóng dật có giảm đi không?

Có giảm đi.

Thật ra, các phiền não kết hợp với nhau. Cái này hỗ trợ cho cái kia. Hễ một cái bị đoạn trừ rồi thì những cái kia cũng bị ảnh hưởng. Mặc dù không bị đoạn trừ hoàn toàn, nhưng nó bị ảnh hưởng, nó yếu đi.

Tương tự, trong thiền cũng vậy thôi. Dù tu tập các bậc thiền cao hơn thì vẫn bằng tâm đại thiện, nhưng tâm đại thiện lúc giờ, do hành giả có nền…

Tức là, dù tu tập các bậc thiền cao hơn thì vẫn bằng tâm đại thiền. Nhưng tâm đại thiền lúc này, do hành giả có nền tảng thiền định rồi, cho nên sức mạnh của nó khác đi. Khác đi đó.

Nhưng nền tảng để hỗ trợ cho các tâm thiền bậc cao hơn, thường cần y duyên, thì vẫn là các tâm thiền ở bậc thấp.

Tương tự đối với tâm siêu thế. Tâm siêu thế, ban đầu là tâm Thánh đạo đầu tiên, thì nó vẫn được hỗ trợ bởi các tâm thiện dục giới, các tâm đại thiện, mà đặc biệt là các tâm đại thiện hợp trí. Tại trong tu tập, để đạt được Thánh đạo, Thánh quả thì bắt buộc phải là hợp trí.

Cái đó cũng xảy ra. Các tâm đại thiện đó cũng xảy ra thường xuyên. Nó giống như Sư nói lúc nãy, tức là việc quan sát các loại tuệ quán để chứng đắc được Thánh quả cũng diễn ra nhiều đời nhiều kiếp đối với mình. Tại nếu mà không có thường cận y duyên đó thì làm gì có trong đời sống hiện tại? Giống như thí dụ mà mình nói lúc nãy, giống như hoa sen vươn lên khỏi mặt nước, làm gì có? Nó không có đâu. Nó cũng phải trải qua nhiều đời nhiều kiếp.

Tâm này cũng vậy, nó sanh khởi nhưng chưa đủ sức mạnh. Nó chưa đủ sức mạnh để tập trung đủ tám chi đạo, tám chi phần, để sinh khởi trong một tâm đạo.

Sẵn hỏi thêm Sư, thí dụ như trong tâm đại thiện thông thường, tâm đại thiện thông thường có các chi đạo không?

Thông thường thì nó không có đầy đủ tám chi đạo.

Đúng rồi. Tức là nó vẫn có các chi đạo, nhưng không có đủ. Nó có nhiều nhất là bao nhiêu?

Tám chi đạo là cái gì?

Tám chi đạo.

Chi pháp của tám chi đạo.

Đâu phải chi pháp của tám chi đạo. Tám chi pháp của tám chi đạo là gì?

Chánh kiến là gì?

Tâm sở trí tuệ.

Tâm sở tầm là chánh tư duy.

Tâm sở tầm.

Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng thì ba cái giống nhau.

Rồi gì nữa?

Chánh tinh tấn.

Chánh niệm.

Chánh định là sở hữu nhất hành.

Bây giờ làm sao mà người ta nói liền, mà mình biết được mấy chi đạo? Làm sao mình biết liền trong một tâm đại thiện mình có bao nhiêu?

Để coi. Sở hữu tịnh hảo biến hành thì sở hữu niệm nằm trong sở hữu tịnh hảo biến hành. Sở hữu tầm nằm trong sở hữu tợ tha. Sở hữu trí tuệ nằm trong sở hữu biệt cảnh tịnh hảo. Sở hữu giới phần nằm trong sở hữu tịnh hảo biệt cảnh. Sở hữu tinh tấn. Sở hữu tầm.

Sở hữu nhất hành nằm trong sở hữu tịnh hảo biến hành.

Để xin nói, để mình tính nhanh, tức là mình chỉ cần hai nhóm tâm sở, hai nhóm tâm sở là mình tính ra liền. Tức là nãy mình kể như vậy thì nó chỉ có hai nhóm tâm sở thôi. Một là gì?

Tợ tha.

Tợ tha có mấy?

Tợ tha có mười ba.

Cần nhất hành và tầm. Ba này lúc nào cũng có mặt.

Đúng rồi. Tại nó thuộc dạng tợ tha thì lúc nào cũng có mặt. Tại mình đang nói về tâm thiện thì ba này lúc nào nó cũng có mặt.

Như vậy là được ba rồi. Trong tâm thiện thì cái nào lúc nào cũng có mặt trong tịnh hảo?

Niệm.

Niệm lúc nào cũng có mặt. Còn tấn thì không phải lúc nào cũng có trong chi đạo.

Niệm lúc nào cũng có mặt, như vậy là mình đã được bốn rồi. Mình còn gì nữa?

Ủa, có tính nó không trong chi đạo?

Niệm lúc nào cũng có mặt, như vậy là mình đã được bốn rồi.

Mình còn gì nữa? Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng là sao?

À, lúc có, lúc không. Cho nên ba chi này không được kể.

Trí tuệ thì sao?

Ở trong trường hợp hợp trí. Nhưng mà nếu mình nói đến liên quan đến chi đạo thì nó phải có. Cho nên bắt buộc nó phải có năm.

Dạ.

À, nó có năm chi. Có năm chi. Năm chi.

À, có năm chi ha. Có năm chi rồi, nếu mà nhiều nhất là bao nhiêu?

À, nhiều nhất chỉ có sáu thôi.

À, nhiều nhất chỉ có sáu.

À, tại ba anh kia nếu mà có thì chỉ có một thôi.

À, đó. Nhiều khi mình không có đề cập, mình không có suy nghĩ, cho nên nói cái đó mình tính thấy lâu, phải không? Nhưng mà nói một lần thì chúng ta sẽ nhớ liền, nhanh liền.

Thì bình thường, các chi đạo nó cũng đã xuất hiện. Nó xuất hiện, và nhờ cái xuất hiện đó nó mới trở thành thường cận y duyên được.

Thường cận y duyên chỉ có điều là cái xuất hiện của nó không đủ các chi, giống như ở trong tâm đạo.

Dạ.

Nhưng mà nó, do thường cận y duyên, thí dụ như trong giới, một lần nó có cái này, một lần có cái kia, lần có cái nọ, tức là lần có chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng. Nó thay đổi.

À, thì nó có nhiều lần như vậy, nó mới trở thành thường cận y duyên, và cuối cùng nó có thể gặp nhau được, trở thành xuất hiện trong cùng một chi đạo.

Thì cái đó là trường hợp mà thiện hỗ trợ cho thiện ở lĩnh vực dục giới, mà hỗ trợ cho tâm siêu thế.

Rồi khi mà hành giả chứng đắc được tâm đạo đầu tiên, tâm đạo đó, tâm thiện siêu thế đó, nó là nền tảng cho các tâm thiện còn lại.

À, các tâm thiện siêu thế còn lại thì nó cũng tương tự giống sư nói lúc nãy. Khi mà tu tập để chứng đắc được các tâm đạo cao hơn thì vẫn tu tập bằng tâm đại thiện.

Dạ.

Nhưng mà tâm đại thiện lúc giờ nó cũng khác hơn cái đại thiện lúc mà còn phàm phu.

Dạ.

Nhưng mà cái nền tảng để chứng đắc được nhị đạo thì bắt buộc phải gì?

Phải là sơ đạo.

Phải sơ đạo. Đó, thì đó là thiện mà hỗ trợ cho thiện.

Tức là mình có dục giới hỗ trợ cho dục giới, dục giới hỗ trợ cho sắc giới, sắc giới hỗ trợ cho sắc giới, hoặc là vô sắc giới hỗ trợ cho vô sắc giới. Rồi mình có dục giới hỗ trợ cho siêu thế, và siêu thế hỗ trợ cho siêu thế.

Còn liên quan đến chi pháp của mình, mình còn có tâm thông thiện. Muốn có được tâm thông thiện này thì hành giả phải thực tập nó thường xuyên. Nhưng mà cái cơ bản để có được tâm thông thiện thì vẫn phải có gì?

À, tức là phải có tâm thiện ngũ thiền làm nền tảng. Thì cái đó nó được xem là thường cận y duyên.

Đó là câu pháp đầu tiên.

Trời ơi, nói câu pháp đầu tiên, sư tính học là bữa nay học cho hết chín câu pháp đó chứ.

Mà mình mới học được có một câu à. Nhưng mà nói mấy cái đó mở rộng để các Phật tử mình ôn lại, đồng thời mở rộng kiến thức của mình.

Chứ là từ pháp thiện...

Hả?

Đâu có pháp thiện trợ cho pháp bất thiện hả?

Thiếu chữ thiện.

Rồi, giờ câu thứ hai. Câu thứ hai đó là pháp thiện trợ cho bất thiện bằng thường cận y duyên. Nó cũng giống như nãy thôi, giờ mình thay thế cho nó thôi. Thay thế cho nó.

Nhưng mà chỉ có điều là bất thiện mà nó hỗ trợ cho thiện thì... À, không, thiện hỗ trợ cho bất thiện.

Thay thế cho nó. Nhưng mà chỉ có điều là bất thiện hỗ trợ cho thiện, thì thiện hỗ trợ cho bất thiện. Thiện mà hỗ trợ cho bất thiện thì nó chỉ có ở lĩnh vực thiện gì?

Thiền sắc giới có không?

Ví dụ như hành giả chứng đắc được thiền sắc giới, khi nhớ đến những tâm thiền sắc giới đó, tham có sanh khởi không?

Có, vẫn tham. Cho nên thiện ở lĩnh vực sắc giới hoặc vô sắc giới vẫn hỗ trợ cho bất thiện sanh khởi, ở lĩnh vực hiệp thế. Ở lĩnh vực hiệp thế thì vẫn hỗ trợ cho bất thiện sanh khởi.

Ngay cả trong lúc hành giả chứng đắc được thiền định, ví dụ người chứng đắc được thiền rồi sinh về cõi vô sắc, thì ở tại đó người ta hay bị một trở ngại, đó là thường kiến.

Như vậy, có phải cái thiền đó giúp cho tham và tà kiến sanh khởi không?

Cái đó là tham của chúng tà kiến sanh khởi. Tham giúp cho tà kiến sanh khởi. Tham giúp tà kiến sanh khởi, thì cái đó vẫn là thiện hỗ trợ cho bất thiện ở lĩnh vực sắc giới và vô sắc giới, giống nhau.

Như vậy, chi pháp ở đây là gì? Tâm thiền hiệp thế hỗ trợ cho mười hai tâm bất thiện sanh khởi.

Giờ, trước tiên là bất thiện hỗ trợ cho bất thiện. Lỗi thiện hỗ trợ cho bất thiện ở lĩnh vực dục giới giống như cái gì?

Do si bố thí cho những người ăn xin, trong lúc đó không có trí. Cho nên khi nhớ lại thì khởi lên cái tâm khó chịu.

Tại do gì? Bây giờ nói câu này cho dễ hiểu: Do thường xuyên bố thí cho những người ăn xin, trong những trường hợp mình không có đắc ý, không có trí trong đó. Rồi sau này khi mình nhớ lại, mình thấy họ gạt mình, bắt đầu mình khởi lên tâm khó chịu.

Cái đó cũng được. Nhưng mà ngay cả trong lúc mình có trí đi chăng nữa, tại đó là hành động trước đó. Cho dù việc thiện đó có trí đi chăng nữa thì sau này sao?

Ví dụ như lúc mình cho, mình cũng đã suy nghĩ, đã suy xét. Nhưng nhiều khi lúc đó họ chưa có hành động thô thiển để làm cho mình cảm thấy khó chịu. Sau đó, tại lúc mình cho, mình khởi lên cái gì? Tâm từ, tâm bi.

Mình suy xét, có tâm từ, tâm bi, lúc đó vừa có trí, vừa có tâm từ, vừa có tâm bi, thì mình mới cho. Nhất là với các Phật tử, mình muốn cho ai đâu phải dễ. Trời ơi, suy xét nát óc phải mới cho. Cũng không phải dễ cho đâu. Nhất là có học giáo lý nữa thì cho càng khó hơn. Suy xét đủ thứ, chứ không phải dễ cho đâu.

Cho nên phần lớn cũng có trí. Nhưng mà người nhận, khi họ biết mình kỹ, thì họ cũng có nhiều chiêu của họ. Tức là lúc mình cho, họ đến nhận, nhìn thấy dễ thương lắm. Họ cũng có cách cư xử để làm cho mình cảm thấy hoan hỷ.

Nhưng mà sau đó cũng có thể làm cho mình bị thất vọng. Những trường hợp đó chúng ta thấy nhiều. Cho nên trong trường hợp như vậy, chúng ta phải tập suy xét.

Dạ. Những trường hợp đó chúng ta thấy nhiều. Trong trường hợp như vậy, chúng ta phải tập suy xét. Nếu cái đó xảy ra đối với mình, tức là mình suy xét cái gì mà mình cho đi. Nếu liên quan tới bố thí, thì trong cái bố thí đó, mình giúp loại bỏ được tâm tham.

Trong hành động bố thí đó, dù các Phật tử có biết tâm tham hay không biết tâm tham, thì hành động bố thí đó giúp người ta dứt bỏ được tâm tham. Tâm tham là sao? Trạng thái của tâm tham là dính mắc. Trạng thái của tâm tham là dính mắc. Nhưng nếu mình có thể cho được một cái gì đến ai đó, thì tức là mình phải tháo được nó. Mình phải tháo được nó thì mình mới cho được.

Đó là cái trước tiên mình thấy, là lợi ích lớn của người cho. Nhờ cái tháo gỡ đó mà cuối cùng người ta mới chứng đắc được thánh quả. Đó là cái lợi ích lớn của người cho khi mà họ cho. Cho nên họ không quan trọng ở người nhận. Nó không quan trọng ở người nhận. Thậm chí là mình phải cảm ơn họ nữa, tại giúp mình đoạn trừ được tâm tham, giúp mình giảm đi được tâm tham.

Đó là cái thứ nhất. Thứ hai, nhân nào thì quả đó. Nếu mình tạo nhân thiện thì cái đó cho quả thiện. Nó không liên quan tới người nhận, hoàn toàn không liên quan tới người nhận.

Sở dĩ lúc đó mình bị sân lên, khi mình nhớ lại, là lúc đó mình bị gì chi phối? Hoặc là tham, tà kiến, tại nó liên quan tới ta, của ta đem đi cho; hoặc là tham ngã mạn vì không được tôn trọng. Vì không được tôn trọng, tức là cái tôi của mình không được nâng lên, giống kiểu làm cho mình bị bẽ mặt kia kìa. Tức là tham, tà kiến, tham ngã mạn hỗ trợ cho tâm sân sanh khởi.

Ngay cả trường hợp bố thí mà có trí, nhưng mà sau đó hành động sau, thường ở trong trường hợp đó nó liên quan tới, giống như xin nói lúc nãy đó, là vô minh duyên hành. Còn nếu người ta vượt ngoài cái đó thì nó không bị hết. Vượt ngoài cái đó thì nó không bị giống như trường hợp mà mình nói lúc nãy. Tức là hành động thiện được thực hiện bởi tâm thiện thì cái đó xong, chấm dứt ở đó rồi. Bất thiện không có cơ hội.

Sở dĩ bất thiện có cơ hội ở trong trường hợp này là nó liên quan đến tham, tà kiến, thường là tham, tà kiến và tham ngã mạn, hai cái đó thôi. Rồi nó mới dẫn đến sân sanh khởi. Hoài nghi nó cũng có thể sanh khởi trong lúc đó nếu mình thiếu sự hiểu biết. Khi cho rồi, thấy người ta làm như vậy thì mới nghi ngờ: “Trời ơi, không biết cho vậy nó có cái quả hay không, không biết có cái quả hay không.”

Cho nên sau này không bao giờ cho những trường hợp như vậy nữa, mà đi lựa. Nếu cho thì phải cho người nào nổi tiếng. Nếu người tu thì phải thuộc lòng Tam Tạng, thí dụ vậy, mới cho. Không cho, tại sao? Vì cho nó không có kết quả, cho nó không có kết quả.

Thì vô tình ở trong trường hợp đó, càng cho, tham tà kiến, tham ngã mạn càng nhiều. Cái đó nguy hiểm cho mình. Tức là cái dứt bỏ nó có, nhưng mà nó ít quá đi.

Cái đó nguy hiểm cho mình. Tức là cái thiện đó có, nhưng ít quá đi. Còn cái kia mạnh hơn, phiền não mạnh hơn. Nó mạnh hơn thì cái đó nguy hiểm cho mình.

Cái đó mình nói là thiện mà hỗ trợ cho bất thiện. Bất thiện ở lĩnh vực dục giới, sắc giới, vô sắc giới, thì hỗ trợ cho bất thiện giống như nói lúc nãy. Tức là người chứng đắc được thiền định, nhất là khi họ được sinh về cảnh giới thiền, thì hành vi ở cảnh giới đó, tuổi thọ của họ lâu quá. Nếu họ nhìn xuống cảnh giới con người mình, hoặc những cảnh giới chư thiên thấp hơn họ, thì thấy mấy người này chết liên tục. Chết liên tục, nhiều khi chưa kịp nháy mắt nữa là người này chết rồi.

Cho nên từ đó, khi họ suy nghĩ đời sống của mình là thường hằng, không thay đổi, thì cái đó cũng khiến cho tâm tham sinh khởi. Tâm tham sinh khởi, đó là trường hợp bất thiện.

Nó chỉ hỗ trợ ở thiện trong dục giới, sắc giới, vô sắc giới bằng cách đó thôi, chứ nó không hỗ trợ bằng cách khác. Nếu cho quả thì nó cũng cho quả thiện. Nó chỉ theo cách đó mà có thể sinh khởi ở lộ. Các bất thiện hỗ trợ cho thiện này cũng có thể sinh khởi ở lộ ngũ môn hoặc lộ ý môn. Thiện hỗ trợ cho bất thiện này cũng có thể sinh khởi ở lộ ngũ môn hoặc lộ ý môn.

Ở lộ ngũ môn, thật ra nó chỉ là trường hợp ngũ môn bất thiện hỗ trợ cho thiện. Thí dụ, trong trường hợp thấy, nếu thấy hình ảnh đẹp, hình ảnh đẹp đó là gì? Cảnh sắc đó là vô ký. Tâm thấy hình ảnh đẹp đó là kết quả của tâm thiện.

Dạ.

Đó là kết quả của tâm thiện. Giống như mình thấy hình ảnh Đức Phật, tượng to hay tượng nhỏ, hoặc hình treo. Mình thấy đẹp, nhưng mình thích lắm. Nếu mình muốn lấy nó về mua, phải kiếm mọi cách để mua nó. Hoặc nhà treo vậy, nhà mình nhỏ vậy, mình bày biện này nọ, mình bỏ đại đó cũng là cho có vậy.

Dạ.

Trong trường hợp đó, nó cũng là tham.

Dạ.

Tham. Thiền hỗ trợ cho tham. Cái đó mình có, xong rồi mình khoe với bạn cũng là mang cái tâm tham.

Tại vì ở trong lộ trình tâm, mình nói thì mình nói được, nhưng ở trong lộ trình tâm, thí dụ trong lộ trình tâm bất thiện ở lộ ngũ môn, nếu là bất thiện thì nó chỉ có tâm bất thiện thôi, nó không có xen tâm thiện vào được. Cho nên phải nói bằng cách diễn giải thì mới nói được.

Dạ.

Nhưng mà lộ ý môn thì sẽ dễ hơn. Tức là lộ ý môn thì sẽ dễ hơn, nhớ lại những hành động...

Tức là lộ ý môn thì nó sẽ dễ hơn. Tức là nhớ lại, nhớ lại những hành động, những hình ảnh nãy. Ví dụ nhớ lại việc bố thí đó thì nó dễ hơn. Nhớ lại việc bố thí thì lúc bây giờ tâm tham sanh khởi, tham, ngã mạn, tà kiến sanh khởi ở lộ ngũ môn thì nó dễ hơn. Còn ở lộ ý môn thì nó phải diễn giải. Ở lộ ý môn thì dễ, nhưng mà lộ ngũ môn khó.

Tức là nó liên quan tới thiện hỗ trợ cho bất thiện. Thiện hỗ trợ cho bất thiện. Cái câu này là thường cận y duyên. Thường cận y duyên thì về loại ngũ môn rất dễ, loại ý môn thì rất dễ.

Cái ví dụ này không có xác lắm, thầy cứ nói ra. Có một vị mà thường, có năm trăm kiếp làm thợ kim hoàn. Khi Đức Phật tế độ, Ngài dùng cảnh đẹp để cho vị đó quán.

Dạ, có thường cận y duyên. Nhưng mà trong cái ví dụ này có đúng không, thưa sư? Trong câu pháp này?

Không có đúng, tại vì phải là tâm thiện mà. Tâm thiện, cái đó là thiện hỗ trợ cho thiện. Trong trường hợp đó, nó có thể xảy ra.

Tức là hình ảnh bông sen đó cũng có thể là tâm thiện, nhưng mà cũng có thể là tâm gì?

Vô thường. Ở trong bông sen thì đó cũng là pháp thiện quán. Quán vô thường thì nó là thiện rồi. Ở trong trường hợp đó, thiện hỗ trợ cho thiện thì đúng hơn. Thiện hỗ trợ cho thiện thì đúng hơn.

Hoặc là việc ngắm nhìn cũng không cần. Ví dụ mình thích một món gì đó, ví dụ như hình thức Đức Phật quá đẹp. Mình hiểu về Phật pháp, mình thấy hình thức quá đẹp, nhưng mình lại bị một cái là tham đắm trong ánh nhìn. Nghĩa là mình cứ nhìn hoài, không dứt ra được. Trong khi mình phải nhìn nó như nó là. Mình phải làm những chuyện khác nữa, chứ không phải là mình chỉ tham đắm việc ngắm nhìn tượng Đức Phật, mình chỉ dồn tâm vào việc ngắm Đức Phật thôi.

Nếu mình ngắm hoài như vậy, không nhìn sang cảnh khác, thì nó sẽ là ở lộ ngũ môn, tham đắm trong cảnh sắc. Có cái ví dụ là một vị cư sĩ cứ đến gặp Đức Phật để ngắm Đức Phật, do tướng quá đẹp.

Đúng rồi, nhớ ông đó, ngài Sắc.

Cái đó là thiện hỗ trợ cho bất thiện. Do cái tâm hoan hỷ với Đức Phật, do thấy hình ảnh Đức Phật đẹp. Từ đầu cái đó là thiện, rồi đến khi nhìn thấy cảnh sắc đó thì tâm tham sanh khởi, tâm dính mắc, tâm tham sanh khởi. Trường hợp đó mới trở thành thiện hỗ trợ cho bất thiện.

Ở lộ ngũ môn thì chắc chỉ có vậy, tức là bằng diễn giải thôi chứ trực tiếp trong một lộ thì nó không có, nó không diễn ra được.

Dạ. Rồi, câu nữa đi.

Pháp thiện trợ pháp vô ký bằng thường cận y duyên.

Vô ký và các chi pháp vô ký. Vô ký ở đây đó là mình có bảy mươi, chỉ có bảy mươi hai tâm vô ký. Tâm vô ký thì mình còn có gì nữa?

Sắc pháp.

Và vô ký.

À, bây giờ mình chỉ có bảy mươi hai tâm vô ký. Giờ thiện hỗ trợ cho vô ký là sao đây? Thí dụ giống như cái gì? Bây giờ trước tiên nó là vô ký quả đi, vô ký quả. Bây giờ mình thí dụ, hay là cái nào cũng được.

Bảy mươi hai tâm vô ký thì nó có cả vô ký tố, vô ký quả, có cả hai trường hợp. Thí dụ giống như gì?

Cái nào cũng được.

Cái này, 72 tâm vô ký thì nó có cả vô ký tố, vô ký quả, có cả hai trường hợp. Thí dụ giống như gì? Thường mình lên chùa, mình hành tu thiền giới, thành tuệ quán, sư dạy đó. Cái ngũ môn, cái ngũ môn là cái mình thực hành phần vật lý là thân của… là cái gì không rõ, không rõ. Thí dụ vậy là không rõ.

Ví dụ như là vị đó, họ đắc đạo. Tâm vô ký quả nó là tâm thân thức thọ khổ. Nhưng mà cái tâm làm năng duyên là tâm thiện, tâm thiện thập trí hay là tâm thập trí để làm năng duyên cho vị đó thọ đầu đà. Cái tâm mà được trợ là tâm thọ duyên, là tâm thân thức thọ khổ.

Phải nói rõ một tí. Thí dụ như trường hợp của ngài Chakkhupāla, ngài thọ hành đầu đà. Trong ba tháng hành trì pháp đó, ngài nguyện không nằm.

Không nằm.

Tâm hành trì đó là tâm thiện. Nhưng mà vì ngài không có nằm, cho nên cái thân sao?

Khổ.

Thân nó khổ. Tức là tâm thân thức thọ khổ. Tâm thân thức thọ khổ như vậy thuộc cái gì?

Quả.

Là vô ký.

Vô ký. Đó là trường hợp thiện hỗ trợ cho vô ký. Thiện hỗ trợ cho vô ký. Tức là do cái hành thiện đó mà tâm thân thức thọ khổ sanh khởi.

Hoặc trường hợp khác, ví dụ như mình nhiều đời nhiều kiếp làm thập thiện, đời đời làm thiện, kiếp kiếp làm thiện, thành ra quả kiếp này khi sinh ra, việc gì mình cũng như ý. Nghe nói, nhìn các thứ kia, mình đều nhận được quả như ý. Cái đó cũng được.

Hoặc là, thí dụ như do hành trì giới mà thân được an lạc. Thí dụ như ngài thọ trì bát quan trai giới, an trú trong tâm thiện. Do an trú trong tâm thiện như vậy, thân mình cảm thấy nhẹ nhàng, thấy khỏe.

Hoặc là, thí dụ như người quen vừa ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, trước khi tối đi ngủ ăn thêm một phần nữa, cho nên đi ngủ cảm thấy khó chịu. Nhưng mà thọ bát quan trai giới thì nhịn ăn, sau khi ăn buổi trưa xong thì nhịn ăn xuống đêm đó, ngày hôm đó. Cho nên thân cảm thấy nhẹ nhàng, cảm thấy thoải mái. Trong trường hợp đó, thiện mà liên quan đến giới, làm cho thân cảm thấy thoải mái, thì cái đó cũng là thiện hỗ trợ cho vô ký.

Hoặc là, thí dụ như trường hợp ngài Xá-lợi-phất. Lúc Đức Phật hỏi là ai có thể tế độ cho thiện nam Raṭṭhapāla, lúc thiện nam Raṭṭhapāla lớn tuổi mà xuất gia đó, thì Đức Phật hỏi ai có thể đứng ra làm thầy tế độ cho thiện nam Raṭṭhapāla. Hầu như các vị tỳ-kheo không có vị nào nhận, tại thấy lớn tuổi quá, sợ.

Ngày xưa không phải giống như mình đâu, không phải xuất gia xong rồi muốn đi đâu thì đi. Xuất gia là phải có trách nhiệm dạy, chứ không phải xuất gia xong bỏ rồi.

Câu chuyện 500 vị tỳ-kheo mới xuất gia, là đệ tử của ngài Xá-lợi-phất với ngài Mục-kiền-liên đó. Lúc đi đến thăm Đức Phật, mới xuất gia xong, muốn đi đến đảnh lễ Đức Phật. Tại vì mới xuất gia mà, chỉ cần đi đến gặp nhau, nói chuyện một tiếng thôi. 500 người mà nói một tiếng thôi.

Là tại vì mới xuất gia, chỉ cần đi đến mà gặp nhau, nói chuyện một tiếng thôi. Năm trăm người mà nói một tiếng thôi, chỉ cần đặt bát xuống thôi mà mấy người xuất gia cũng làm ồn ào được. Cho nên Đức Phật mới hỏi Tôn giả Nanda: “Có chuyện gì mà ở ồn ào giống chợ bán cá?”

[Tiếng cười]

Tôn giả bạch với Đức Phật: “Bạch Đức Thế Tôn, có năm trăm vị tỳ-kheo là đệ tử của ngài Xá Lợi Phất với ngài Mục Kiền Liên, mới xuất gia. Các vị đi đến để được yết kiến Đức Thế Tôn, để được nghe pháp.”

Thì Đức Phật nói: “Sao, đi đuổi đi.” Tức là vị nào cho xuất gia thì vị đó phải có trách nhiệm dạy.

Và khi Đức Phật khiển trách thì ngài khiển trách cũng vì khiển trách thầy, cho nên người ta sợ. [Tiếng cười] Không phải giống như mình bây giờ.

Cho nên lúc đó ngài hỏi, không có vị nào dám. Thì lúc đó ngài Xá Lợi Phất mới nghĩ lại: “À, cái ông này, lúc mà ổng còn cư sĩ, ổng đã từng hộ độ cho mình, cúng dường chén cơm, chén canh gì đó.” Do suy nghĩ đến cái lòng tốt đó của ông, cho nên ngài xin Đức Phật làm thầy tế độ để cho ông xuất gia.

Ở trong thí dụ đó, khi ngài Xá Lợi Phất nghĩ lại ông này, lúc mà ông hộ độ cho mình, tức là lúc còn cư sĩ, nhớ lại cái tâm mà, thí dụ đi khất thực mà được ông này cúng dường, tâm ngài hoan hỷ, thí dụ vậy. Thì ở trong lúc đó, tâm thiện sanh khởi. Bây giờ ngài nhớ lại trạng thái tâm thiện đó, nhớ lại trạng thái tâm thiện đó bằng tâm vô ký. Lúc đó, thiện nó có thể hỗ trợ cho vô ký sanh khởi. Ở trong trường hợp đó, ngài đứng ra làm thầy tế độ cho vị thiện nam đó.

Thì trong trường hợp đó, nó cũng được xem là thiện hỗ trợ cho vô ký. Thiện hỗ trợ cho vô ký. Rồi, bao nhiêu đó thôi, tạm bao nhiêu đó nha. Còn ở trong tâm đạo, nếu mà ở trong tâm đạo thì thiện hỗ trợ cho tâm quả. Thiện hỗ trợ cho vô ký là tâm đạo, được rồi. Tâm đạo hỗ trợ cho tâm quả, là thiện hỗ trợ cho vô ký.

Ở trong tâm thiền thì tâm thiện hỗ trợ cho các tâm quả sanh khởi, thì nó cũng được. Giống cái thí dụ cô này nói lúc nãy, tức là nhiều đời nhiều kiếp mình làm các thiện nghiệp đó, nó cho các quả thiện. Trong trường hợp đó, nó cũng được xem là thiện hỗ trợ cho vô ký. Thiện hỗ trợ cho vô ký thôi. Mình tạm ba câu vậy ha, sau học thêm sáu câu còn lại.

Rồi, mời lớp hướng đề.

A s ma tha, đề na. Pu-nyăng a-nu-mô-đăng, rắc-cha p-hăm-ma. A-nu-mô-đi-chô.

A-ch-ma-tha-na-ma-tô-a-nu-mô-t-đệ-chị-rắng-ra-khô-nha-tô-a-tá-ch-ph-ma-tha-đê.

B-na-ma-h-tị-ca-nhô-a-mô-đệ-chị-rắng. Tam-độ-nô.

↑