Pháp Học Online

← Vi Diệu Pháp — Sư Tinh Tuệ

BÀI 13 · VI DIỆU PHÁP

VDP3/013: Thường Cận Y Duyên (Câu Pháp 4-9) - Sư Tinh Tuệ | Chùa Siêu Lý (06/05/2026)

⠿ Giữ và kéo thanh này để di chuyển video

Nội dung bài giảng

Giờ hôm nay chúng ta học tiếp bài Thường cận y duyên. Cho nên chúng ta đọc lại một lần. Xin mời lớp thứ mười đọc Thường cận y duyên.

1. Pháp thiện trợ pháp thiện bằng Thường cận y duyên: B xô một pháp thiện trợ pháp thiện bằng Thường cận y duyên. Thô la xá thm xá pệ na dô.

2. Hai pháp thiện trợ pháp bất thiện bằng Thường cận y duyên: Nam mô cá xá thm ma xá p ni x dệ chô.

3. Ba pháp thiện trợ pháp vô ký bằng Thường cận y duyên: Ú lô thô á da cá xá thm xá bắ ca tí xá phá ch dề á ch dô.

4. Bốn pháp bất thiện trợ pháp bất thiện bằng Thường cận y duyên: Ác quốc sá lô thô a x la xá thm xá p t ni x chá phá chế dô.

5. Năm pháp bất thiện trợ pháp thiện bằng Thường cận y duyên: A cú xá lô thm mô xá la xá thm ma xá bá t ni xá p dệ na chô.

6. Sáu pháp bất thiện trợ pháp vô ký bằng Thường cận y duyên: Á quá lô thô á da c tá xá thm m xá k t ni x diệ na chô.

7. Bảy pháp vô ký trợ pháp vô ký bằng Thường cận y duyên: Át da cá tô tham mô á gia tát xá thá quá ba t ni da phá ch diệ na phá chô.

8. Tám pháp vô ký trợ pháp thiện bằng Thường cận y duyên: A da cá tô thm mô x la xá thàm ma xá pha tù ni xá phá ch dê bá chô.

9. Pháp vô ký trợ pháp bất thiện bằng Thường cận y duyên: Á da cá tô tham mô á da c tá xá thm xá phá t ni x dạ sư.

Là cái câu số chín đúng. Pháp vô ký trợ pháp bất thiện. Đúng rồi đó. Xài cái hết. Trước mình đọc một lần rồi, không ai phát hiện. Cô em sửa lại cái đó, sư ha. Vậy là trong bài học chắc nó cũng bị lỗi. Mình phát hiện sai thì mình cứ nói chứ, phát hiện sai.

Có những cái sợ ông thầy, có cái không nên sợ, lúc nào cũng sợ chết. Phần học về Thường cận y duyên này, nhiều khi chúng ta quen với các bài trước, mình chứng minh bằng lộ trình tâm. Nhưng trong Thường cận y duyên này có cái mình lấy lộ trình tâm thì không có được.

Thí dụ như trường hợp thiện trợ cho bất thiện, cái đó không xảy ra trong một lộ trình tâm được. Nó phải là trước đó. Nếu mà lộ trình tâm thì là những lộ trình tâm khác nhau. Tức là lộ trình tâm trước đó với lộ trình tâm hiện tại, mình so sánh nó thôi. Chứ nó không diễn ra trong một lộ trình tâm.

Thí dụ như trường hợp thiện với thiện thì có thể ở lộ động lực, ở sát-na tâm động lực thì có thể. Nhưng mà với thiện với bất thiện thì nó không có. Hoặc là thiện với vô ký hay là bất thiện với vô ký, nó cũng không xảy ra. Nó chỉ một số trường hợp.

Một số trường hợp được gọi là Thường cận y duyên, tức là thường đã làm những hành động mà được làm thường xuyên, làm thành một cái thói quen. Hành động đó được lặp đi lặp lại nhiều lần trong quá khứ. Chỉ có một cái là nó không lặp đi lặp lại nhiều lần, đó là tâm đạo, tâm quả.

Tức là chứng một lần thôi, chứ không có chứng rồi mất đi, chứng lại. Chỉ tâm đạo, tâm quả thì không có trường hợp như vậy.

Trở lại từ đầu không?

Không, không phải trở lại từ đầu. Ngay cả là, cho nên có những cái người ta cũng đặt vấn đề đó. Thí dụ như bậc thánh, người chứng được thánh quả Dự lưu, sau khi chết thì cả năm uẩn đều diệt hết. Nhưng mà quả Dự lưu đó nó vẫn tồn tại. Tức là nếu sanh ở kiếp sống mới thì quả Dự lưu đó vẫn còn được tiếp nối, không có mất.

Nó vẫn được duy trì. Nhiều khi cái đó người ta cũng đặt vấn đề về cái “cái vua thường” với lại cái liên quan đến cái ngã của ta. Nhưng mà Đức Phật thì Ngài nói là nó do nhân duyên, do nhân duyên nó kết nối với nhau, chứ nó hoàn toàn không có ta, không có của ta.

Phật thì Ngài nói là nó do nhân duyên. Do nhân duyên nó kết nối với nhau, chứ nó hoàn toàn không có ta, không có của ta. Và nó cũng thay đổi, thay đổi theo cách đó là sanh diệt. Theo cách sanh diệt đó thì chỉ có giải thích theo cách đó, mình chấp nhận vậy.

Hôm trước mình học được ba câu rồi phải không? Ba câu, câu số bốn. Con số bốn là: pháp bất thiện trợ pháp bất thiện bằng thường cận y duyên. Bất thiện trợ bất thiện bằng thường cận y duyên.

Khi nói đến bất thiện thì nó liên quan đến ba pháp căn bản, đó là tham, sân, si. Tham, sân, si này ở trong đời sống của mình thì được chia nhỏ ra. Thí dụ như trong tham, sân, si mà mình chia ra theo nhóm tâm sở. Thí dụ vậy.

Chúng ta thấy trong si có bốn trường hợp. Trong tham có ba trường hợp, trong sân có bốn trường hợp. Trong các trường hợp mà mình chia ra thì bốn, tám với lại ba là mười một.

Ở trong mười một đó, thí dụ nếu nói về phiền não, như trong bộ phân tích nói về mười pháp phiền não, thì trong mười pháp phiền não đó đã lấy mười tâm sở, mười tâm sở thuộc mười bốn tâm sở bất thiện. Tức là mình nói cái gốc thì nó chỉ có ba như vậy thôi. Nhưng nếu mình phân tích rộng ra thì nó sẽ có nhiều trường hợp ở trong đời sống của mình.

Do đó, nếu nói về bất thiện, nếu chúng ta muốn phân ra thì chúng ta phân ra theo tâm sở. Phân ra theo tâm sở, nó kết hợp với tâm thì nó sẽ nhiều ra. Nếu mình muốn có nhiều trường hợp để hiểu rõ thì mình phân theo tâm sở.

Thí dụ như bây giờ liên quan tới tâm tham đi. Bất thiện trợ bất thiện. Trong bất thiện thì mình có tám tâm tham, hai tâm sân, hai tâm si và mười bốn tâm sở cơ bản phối hợp với nó.

Bất thiện thì trong câu này, bất thiện trợ cho bất thiện. Cho nên mười hai cái này trợ cho mười hai cái kia. Tức là mười hai tâm bất thiện này hỗ trợ cho mười hai tâm bất thiện kia.

Giống như nói lúc nãy, ở trong tâm bất thiện đó, tức là nói qua những hành động bất thiện được làm thường xuyên bởi các loại tâm này. Cho nên nó hỗ trợ. Chỉ cần gặp điều kiện hiện tại là tự động nó hỗ trợ cho.

Thí dụ như tâm tham. Người có tánh tham, muốn nhiều, làm gì cũng ước muốn là để được thọ hưởng. Giống hôm trước mình kể câu chuyện nhóm bà Trại Tí Nữ Khai gì đó, tức là mặc dù làm thiện nhưng mà tâm tham muốn để được thọ hưởng.

Trong trường hợp đó, nói là làm thiện, chứ thật sự trong thiện đó, nó thường bị xen lẫn bởi tham tà kiến, tức là làm để ta được hưởng. Trong đó, hành động thiện đó là vì tâm thiện sanh khởi, nhưng bên cạnh tâm thiện đó, các tâm tham len lỏi, các tâm tham sanh khởi.

Mỗi lần làm thiện pháp thì nó như vậy, tại cứ ước muốn là làm để có được. Giống như mình nói, có người làm thiện để mong được sanh về cõi trời, làm thiện để mong được sinh ở trong gia đình giàu có.

Phần lớn tâm thiện đó được thúc đẩy bởi tham, tà kiến, vô minh, với tham tà kiến. Trong lúc làm thiện thì tâm thiện vẫn sanh khởi, nhưng tâm thiện yếu lắm, không có sức mạnh nhiều, mà phần lớn bị chi phối bởi tham tà kiến.

À, tâm thiện nó yếu lắm, nó không thường, nó không có sức mạnh nhiều. Mà phần lớn nó bị chi phối bởi tham, tà kiến.

Vì chính hành động tham, tà kiến đó, cho nên ở trong đời sống hiện tại, khi mình lặp lại, tức là muốn làm một điều thiện nào đó, ví dụ muốn bố thí, thì lập tức cái tâm suy nghĩ: “Mình bố thí này, mình sẽ được cái quả như thế này, thế này nữa.” Tức là tham, tà kiến nó tiếp tục sanh khởi nữa, tiếp tục sanh khởi nữa.

Thường cận y duyên là như vậy. Tức là do trong quá khứ mình thường như vậy, cho nên ở trong hiện tại, hễ gặp tình huống như vậy thì lập tức nó hỗ trợ cho cái tâm đó sanh khởi. Gặp là lập tức tâm đó sanh khởi.

Trong Chú giải Pháp Cú còn kể lại câu chuyện của một ông bà-la-môn. Ông là người tin rằng hễ cái gì làm không được giống như ý của mình thì đó là xui xẻo, không có may mắn.

Lúc ở trong nhà ông có mấy con chuột cắn rách mấy tấm vải, mấy xấp vải, nên ông đem đi bỏ. Khi đó Đức Phật đi khất thực, thấy họ đem bỏ nên Ngài lượm về sử dụng.

Khi người hầu bỏ xong, họ thấy Đức Phật lượm về thì chạy lật đật về báo cho ông chủ của mình, là ông bà-la-môn. Ông suy nghĩ rằng tấm vải đó là tấm vải xui xẻo. Nếu Sa-môn Gotama lượm tấm vải đó về xài thì chắc chắn sẽ bị xui xẻo. Cho nên ông lật đật chạy đi tìm Đức Phật, nói Đức Phật bỏ tấm vải đó đi; nếu cần thì ông cúng tấm vải mới.

Vì tấm vải đó là tấm vải xui xẻo, tức là nó không đem lại may mắn. Ông không chỉ nghĩ là nó không may mắn cho Đức Phật, mà nó cũng ảnh hưởng tới mình.

Đức Phật nói cách suy nghĩ này là do nhiều đời nhiều kiếp ông đã từng như vậy. Hễ đụng tới cái gì không giống như ý của mình là ông suy nghĩ cái đó không may mắn cho bản thân. Cái đó là thường cận y duyên, tức là nhiều đời nhiều kiếp như vậy.

Nhiều đời nhiều kiếp như vậy thì cái đó liên quan tới bất thiện, mà bất thiện hỗ trợ cho bất thiện, liên quan đến tham hoặc là sân.

Thường cận y duyên cũng có trường hợp, thí dụ như ngài Xá Lợi Phất, thì nó không được xem là cái duyên gì mà bất thiện hết. Vì ngài là bậc Thánh A-la-hán. Bất thiện trong quá khứ thì có, nhưng hiện tại thì không có. Tuy nhiên, hành động đó được xem là hành động không đẹp.

Trường hợp ngài Xá Lợi Phất, ngài đi rồi ngài nhảy qua vũng nước. Ngài đi tới đâu có vũng nước là ngài nhảy qua đó. Cho nên một số vị tỳ-kheo trẻ còn phàm phu nói: “Sao ngài Xá Lợi Phất là bậc Thánh mà sao kỳ vậy? Sao ngài đi mà ngài nhảy như vậy?”

Người ta không tin rằng bậc Thánh lúc nào cũng phải có sự thu thúc. Khi việc đó được trình lên Đức Phật, Đức Phật nói rằng trong quá khứ của ngài Xá Lợi Phất, ngài từng năm trăm kiếp liên tục sanh làm khỉ. Do thường cận y duyên của những kiếp khỉ đó, cho nên thỉnh thoảng gặp cảnh thì ngài vẫn như vậy.

Chúng ta thấy khỉ không ở yên được, cứ nhảy lên, nhảy xuống, nhảy lên, nhảy xuống như vậy đó.

Nó vẫn như vậy. Chúng ta thấy con khỉ không ở yên được, cứ nhảy lên, nhảy xuống, nhảy lên, nhảy xuống như vậy đó.

Về hành động thì mình có thể xem đó là hành động nhìn không đẹp, nhưng nói là bất thiện thì lại không được, tại ngài là bậc Thánh A-la-hán. Cái đó là thường cận y duyên. Nó thuộc về tiền khiên tật, nhưng đó cũng là thường cận duyên, thuộc về tiền khiên tật đó.

Đối với bậc Thánh A-la-hán thì thông thường còn như vậy, còn với Đức Phật thì ngài không có. Nhiều khi mình nghĩ Đức Phật cũng là bậc Thánh A-la-hán, nhưng thật ra Đức Phật khác hơn nhiều. Có những cái mà các bậc Thánh A-la-hán không làm được, nhưng về phiền não thì đúng là đã đoạn trừ phiền não giống nhau. Tuy nhiên, có nhiều cái mà các bậc Thánh A-la-hán không làm được.

Ví dụ về mặt thần thông. Có lúc ngài ngồi quan sát chúng sanh sau khi chết, từ chỗ này tái sanh ở đâu. Với trí tuệ của bậc Thánh Thanh văn thì cũng thấy, nhưng không thấy hết được. Cho nên Đức Phật mới ngăn, không cho làm. Đức Phật nói công việc đó không phải là công việc của vị Thánh Thanh văn, chỉ có bậc Chánh đẳng Chánh giác mới có khả năng đó.

Nếu muốn thì ngài có thể thấy tất cả các trường hợp, vì trí của ngài mạnh hơn. Còn với bậc Thánh Thanh văn thì chỉ thấy một số trường hợp. Đức Phật ngăn như vậy cũng là vì nhiều khi vị này làm được thì vị kia cũng làm theo. Nhưng bậc Thánh thì chắc chắn không hiểu sai được. Thấy bao nhiêu thì biết giới hạn của mình bấy nhiêu. Các ngài biết giới hạn của mình.

Có thể là Đức Phật, vì là bậc Chánh đẳng Chánh giác, nên có cái nhìn sâu xa hơn so với các bậc khác. Cho nên cái gì ngài không cho thì đều có lý do của ngài.

Hoặc là một vị trưởng lão có thói quen gọi người ta là nô lệ. Cái đó tôi cũng không nhớ tên, nhưng vì vị ấy cũng là bậc Thánh A-la-hán. Không những gọi người đời như vậy, mà gặp cả các vị tỳ-kheo đồng phạm hạnh với mình, vị ấy cũng gọi người ta là nô lệ. Cho nên các vị tỳ-kheo cũng phiền lòng, rồi đi đến bạch với Đức Phật.

Đức Phật nói là tại thường cận y duyên của vị này trước đây, tức là trong năm trăm kiếp làm chủ nô lệ. Cho nên thường cận y duyên đó giống như còn dính lại tiền khiên tật, còn dính lại như vậy. Đó là những trường hợp mà ngay cả bậc Thánh A-la-hán cũng không thay đổi được.

Còn ở trong câu này, nói bất thiện thì không được. Hành động lúc đó vẫn là hành động bằng tâm. Mặc dù tâm điều khiển, nhưng lúc đó là tâm tốt. Mặc dầu hành động đó nhìn không đẹp, lời nói không đẹp, nhưng là do tiền khiên tật, do thường cận y duyên tích lũy nhiều đời, nhiều kiếp.

Ở đây nói trường hợp bất thiện với bất thiện thì thường cận y duyên đó chỉ có với người phàm phu thôi.

Trong trường hợp bất thiện với bất thiện này, thường nó chỉ hiện khởi do duyên, chỉ với người phàm phu mình thôi. Còn với bậc Thánh thì không có.

Lý do tại sao bậc Thánh không có? Ví dụ như liên quan đến tham tà kiến đi. Thì bậc Thánh, ở bậc Thánh Dự Lưu, đã đoạn trừ rồi. Bậc Thánh Dự Lưu nếu mà chỉ còn tham thì chỉ còn tham ly tà kiến rồi tham ngã mạn.

Ngã mạn của bậc Thánh cũng khác hơn mình. Ngã mạn kiểu các ngài không phải là so đo để hơn thua giống như mình đâu. So đo hơn thua để có thể khiến làm điều ác thì không có. Tức là ở các bậc Thánh, như bậc Thánh Dự Lưu, tâm bất thiện thì có sinh khởi, nhưng mà không có hành động ác.

Tại cái hành động ác bằng thân và khẩu đó liên quan đến gì mà bậc Thánh Dự Lưu không vi phạm? Giới. Liên quan đến giới. Mình nhớ cái đó, mình thấy rõ.

Tức là tại bậc Thánh Dự Lưu là sao? Là đã thành tựu về giới. Tâm bất thiện thì có thể sinh khởi, nhưng mà không bao giờ làm điều ác. Tại cái điều ác đó liên quan đến giới.

Thì cái phần này cũng giúp cho chúng ta thấy là trong các điều giới mà Đức Phật quy định, thật ra Ngài quy định nhất là, thí dụ trong ngũ giới, về căn bản của người cư sĩ. Tại cái đó liên quan tới điều ác. Khi mình phạm cái đó thì mình tạo cái ác nghiệp. Trong khi đó, bậc Thánh Dự Lưu thì không có như vậy.

Nhưng mà tâm bất thiện thì vẫn có thể phát sinh. Thí dụ như trường hợp bà đại tín nữ Visākhā, tức là tâm hưởng dục nó vẫn có, cho nên mới có gia đình, có đến hai mươi người con, thí dụ vậy. Cái đó là bình thường. Tức là tâm tham ly tà kiến vẫn có thể phát sinh.

Hoặc là lúc ông Cấp Cô Độc, lúc người con mất; bà đại tín nữ Visākhā, lúc người cháu mất chẳng hạn, thì họ vẫn khóc. Trạng thái đó là trạng thái của tâm sân, tức là tâm bất thiện có sinh khởi, nhưng mà không làm việc ác.

Nó khác với người phàm phu mình. Khi tâm bất thiện sinh khởi là sao? Là thường nó thêm cái việc ác. Vì cái phiền não nó có sức mạnh. Còn các bậc Thánh, từ bậc Thánh Dự Lưu trở lên, thì phiền não nó yếu dần hết rồi. Tức là cái gì cũng được vào khuôn khổ hết rồi. Nó còn, nhưng mà nó nằm ở trong khuôn khổ hết.

Và cái điểm đặc biệt ở các bậc Thánh đó là, thí dụ như chúng ta thấy có một số vị sa di, giống như sa di Panṭa, sa di Tissa, hoặc là bốn ba, bốn vị sa di mới bảy tuổi mà Đức Phật nói là bậc Thánh A-la-hán đó.

Thật ra, nếu mà một đứa trẻ bảy tuổi bình thường thì chúng ta thấy sao? Có thể quậy chơi, làm theo cái gì mà mình thích. Nhưng mà những vị sa di bảy tuổi chứng đắc được Thánh quả A-la-hán là sao? Không có hành động đó.

Tức là khi phiền não được đoạn trừ hoàn toàn rồi. Và chỉ có Đức Phật mà Ngài biết cái đó, Ngài dám nói. Còn không, sao nói A-la-hán xong chạy giỡn được? [Tiếng cười] Tại con mới bảy tuổi mà nói A-la-hán xong chạy giỡn, cười giỡn là chết sao? Không có.

Tức là chỉ có Đức Phật, Ngài biết và Ngài nói. Đó là những điều kỳ diệu ở trong giáo pháp mà chúng ta thấy con người mình có khả năng làm được như vậy, tức là ngay cả người ta mới bảy tuổi thôi.

Giáo pháp mà chúng ta thấy con người mình có khả năng làm được như vậy. Ngay cả người ta mới bảy tuổi thôi, vì phiền não đã đoạn trừ hoàn toàn, cho nên thân tâm thanh tịnh, trang nghiêm. Chứ không phải mới bảy tuổi mà chứng đắc Thánh quả, thí dụ chứng đắc Thánh quả A-la-hán, mà vẫn chạy vui chơi. Không có trường hợp đó, không được.

Rồi bây giờ chúng ta xem lại phần chi pháp. Chi pháp thì tâm tham, nó hỗ trợ cho tâm tham sanh khởi, nhưng tâm tham, thông qua thường cận y duyên, cũng có thể hỗ trợ cho tâm sân sanh khởi.

Thí dụ, thường cận y duyên của mình đó là quen làm để có được những thứ mà mình thích, liên quan đến hưởng thụ ngũ dục. Nhưng khi làm mà không được giống như ý của mình, thì lúc bấy giờ, thường cận y duyên của tham đó trở thành cái hỗ trợ cho tâm sân sanh khởi. Cái này ở trong đời sống của mình, mình sẽ gặp rất nhiều.

Ngay cả trong ăn uống của các Phật tử mình. Thí dụ như cứ quen ăn ngon, cái đó cũng trở thành một thường cận y duyên. Thường ăn ngon đó là thường cái gì? Là tham. Thường ăn mà ngon đó là thường tâm tham sanh khởi, có thể hợp tà, có thể ly tà.

Nhưng lâu lâu nhà bếp nấu không hợp với khẩu vị, thì thường cận y duyên đó sẽ hỗ trợ cho tâm sân sanh khởi. Tâm sân sanh khởi. Rồi nó cũng có thể hỗ trợ cho tâm si, tâm si phóng dật sanh khởi. Tâm si phóng dật sanh khởi cũng có.

Còn liên quan đến hoài nghi. Hoài nghi này, thí dụ như liên quan đến việc gìn giữ giới. Thật ra, trong đời sống hiện tại, mình được như thế này, trở thành người Phật tử, quy y Tam bảo, gìn giữ giới, thì mình cũng đã nhiều đời nhiều kiếp gìn giữ rồi. Nhưng vì nó chưa đi đến đâu, tại thường mình có cái hoài nghi ở trong hết. Nó vi tế lắm, nhiều khi chúng ta không thấy nó.

Tức là trong việc thực hành các điều giới, thí dụ bát quan trai giới. Hễ thọ trì bát quan trai giới mà gặp bệnh là sợ. Tại sao sợ? Sợ giữ gì? Sợ lỡ đói chết rồi sao? Lỡ bệnh chết sao? Tức là mình không thấy được lợi ích của việc gìn giữ giới đó quan trọng hơn.

Thí dụ như trong chú giải Pháp Cú có câu chuyện, có người gìn giữ bát quan trai giới mà chỉ gìn giữ được một nửa thôi, một nửa mà cũng không trọn vẹn nữa, tức là giữ một đêm nhưng chưa tròn được một đêm. Do tuổi thọ, đời sống cũng chỉ được bao nhiêu đó rồi họ qua đời. Phước trì giới đó giúp họ được sanh lên cõi chư thiên.

Với phước trì giới mà được sanh lên cõi chư thiên đó, chúng ta thấy sao? So với con người mình là khác nhau xa lắm, xa một trời một vực. Tuổi thọ chư thiên, ít nhất ở Tứ Đại Thiên Vương cũng năm trăm năm, mà mỗi ngày đêm của họ bằng năm mươi năm tuổi người mình. Đó mới nói chư thiên thôi.

Rồi hạnh phúc chư thiên so với con người mình thì không có gì so bằng. Chư thiên mà về cõi người, họ chịu đâu nổi, tại hôi thối quá đi.

Nhưng mà mình sợ là vì sao? Tại mình còn nghi ngờ, tức là cái tâm của mình chưa dứt khoát. Mình còn nghi ngờ trong việc thực hành này.

Là tại mình còn nghi ngờ, tức là cái tâm của mình chưa dứt khoát. Mình còn nghi ngờ trong việc thực hành này. Và cái đó vi tế lắm, chúng ta không nhìn thấy được đâu.

Tại cái bất thiện, nếu lúc nào nó cũng thô giống như sân thì người ta dễ tháo gỡ, tức là dễ tránh nó. Nhưng cái bất thiện mà nó êm, giống như tham, giống như si, thì không dễ. Nó giống như trời lạnh mà mình nằm ở trong phòng có máy lạnh, có nệm êm gì đó, thì mình đâu thấy đó là cái trở ngại. Mình chỉ thấy là: “Sao nó hạnh phúc quá đi!” Hạnh phúc quá đi! Cho nên mình đâu thấy nó là cái trở ngại.

Nhưng thật sự, nếu mình nằm ở trong đó thì có khổ không?

Cũng khổ. Nằm hồi mà lạnh quá thì cũng đâu chịu nổi, phải tìm mền đắp. Rồi nếu mà nằm chỉ một tư thế hoài, trong phòng bít bùng hoài, thì cũng đâu có chịu nổi.

Tức là tâm nó cũng đâu chấp nhận, nó phải thay đổi. Lúc đó, người ta không nhìn thấy nó, người ta chỉ thấy là tại trời đang nắng nóng quá đi, cho nên được cái phòng như vậy là đã quá hạnh phúc. Người ta quên nó đi.

Ở người đồng tu mình cũng bị như vậy. Cái đó là cái bất thiện mà nó ở trạng thái tâm vi tế. Đó là trường hợp mình chưa tu tập. Còn nếu mình có tu tập nữa thì sao? Nó vi tế hơn nữa, vi tế hơn nữa.

Đó là lý do mà người ta bị nhầm lẫn, mà mình chứng đắc được thánh quả chẳng hạn.

Giống nhóm tỳ-kheo tu ở trong rừng. Đến khi tâm yên tịnh, phiền não không có điều kiện sanh khởi, họ nghĩ là mình đã chứng đắc được thánh quả, đi đến đảnh lễ Đức Phật. Nhưng khi đi đến, Đức Phật nói với Tôn giả Nanda, bảo mấy vị đó vào ở trong bãi tha ma chứ Ngài không tiếp.

Tại Đức Phật thấy trong bãi tha ma đó có một cô thiếu nữ mới mất, rất đẹp. Người ta đem bỏ ở trong đó. Ngài muốn các vị tỳ-kheo đó vào trong bãi tha ma để gặp cái tử thi đó.

Tại người Ấn Độ họ đơn giản. Họ không giống người Việt Nam mình, thấy nội cái hòm không thôi cũng mấy chục triệu. Người Ấn Độ không có như vậy, cho tới bây giờ cũng vậy. Ai đi Ấn Độ cũng thấy, họ rất đơn giản. Làm cái khiêng bằng cây gì đó rất đơn giản, bốn người khiêng, rồi đem đi tới sông Hằng, gần sông đó rồi thiêu. Phần lớn bây giờ là thiêu, còn dư chút đỉnh gì đó thì họ cho xuống sông, cho cá ăn luôn.

Theo người hướng dẫn du lịch nói, nếu ai chết mà được thiêu ở khu sông Hằng đó thì cũng đã có phước lớn. Không phải muốn thiêu chỗ đó là thiêu được đâu, cũng phải có tiền như thế nào đó thì người ta mới cho thiêu. Tức là rất đơn giản, rất là đơn giản.

Hoặc nếu bỏ trong rừng thì người ta cũng quấn tấm vải gì đó rồi bỏ. Cho nên hầu như chết là người ta đem bỏ, không có tang lễ gì giống như mình, chết là đem bỏ.

Nếu người chết lúc đang khỏe mạnh mà chết thì thi thể cũng còn đẹp. Các vị tỳ-kheo này chỉ nhìn thấy cái tử thi đó thôi là lập tức tâm tham sanh khởi liền. Tâm tham sanh khởi liền, thì lúc đó mới biết là mình chưa phải là bậc Thánh.

Là lập tức tâm tham sanh khởi liền. Tâm tham sanh khởi liền thì lúc đó mới biết là mình chưa phải là bậc thánh.

Thì cái đó là ở trường hợp khi chúng ta tu tập. Giống như các Phật tử thấy là bây giờ mình học được giáo lý một ít, mình cũng thực tập được một ít, mình thấy tâm của mình so với ngày xưa đã khác nhiều rồi. Khác nhiều rồi, nhưng xét về mặt phiền não thì nó vẫn nằm đó thôi, tại nó chưa có điều kiện.

Sư hay nói với Phật tử đó là giờ bình thường nhìn mặt người nào cũng dễ thương hết. Nhưng đến khi có chuyện thì sao? Thương không dễ chút nào. Nếu phải nói thì cũng nói ào ào lên đó. Tức là khi phiền não có điều kiện sanh khởi thì mình không kiềm chế nó được.

Nó cũng do thường cận y duyên mà mình tích lũy nhiều đời, nhiều kiếp. Như đời này, kiếp này, cái đó liên quan đến thường cận y duyên. Sự si mê, hoài nghi trong quá khứ hỗ trợ cho sự si mê, hoài nghi ở hiện tại sanh khởi, và cứ như vậy.

Mình đừng nghĩ là bây giờ mình không còn hoài nghi nữa. Không phải đâu. Nếu mà không còn hoài nghi nữa là sao? Là chứng được thánh quả rồi. Nếu mà không còn hoài nghi là chứng đắc được thánh quả rồi.

Cho nên, nó chỉ là không có điều kiện sanh khởi, hoặc là nó sanh khởi quá tế mà chúng ta nhìn không thấy.

Còn nếu mà không có hoài nghi thì là sao? Là chứng đắc được thánh quả. Cho nên có Phật tử khi nói chuyện với quý sư mà nói: “Con giờ hoàn toàn không có hoài nghi gì nữa với Phật pháp.” Nếu mình nói mình không còn hoài nghi là mình có thể hỏi thử. Nếu mà họ không có ý để khoe, thật sự liên quan đến thánh quả, tức là nói một cách hồn nhiên vậy thôi, chứ họ thật sự không có cố ý. Còn nếu mà họ nói với sự cố ý thì cái đó được xét vào trường hợp khoe khoang.

Nhiều khi nói vậy cũng là do thiếu sự hiểu biết. Mấy cái này, khi nào chúng ta được học giáo lý và hiểu thật chắc, chúng ta mới nhận ra cái đó. Còn không thì chúng ta nói bình thường.

Có người nói: “Giờ con không có giận nữa, sư. Con không giận nữa.” Tức là trạng thái tâm đó vẫn sanh khởi, chỉ là nó không thô thiển giống người khác thôi.

Sư thí dụ, Phật tử không cần giận với ai, giờ cứ ngồi lâu như vậy nè. Ngồi lâu đau lưng, tê chân quá, có khó chịu không? Khó chịu. Cái đó là trạng thái tâm sân. Tại người phàm phu mình chỉ cần thân xúc, thọ khổ sanh khởi thì lập tức tâm sân sanh khởi. Nhưng vì chúng ta không nhìn thấy nó thôi.

Đó là trạng thái thô thiển nhất mà mình còn không nhìn thấy, huống chi tham, tà kiến, hoài nghi, tâm si còn vi tế hơn, làm sao chúng ta thấy nổi.

Nhưng trong tu tập của mình, học ở bài này, chúng ta phát hiện khi một tâm nào liên quan đến bất thiện sanh khởi thường xuyên đối với mình thì chúng ta để ý để khắc phục nó. Chúng ta biết là cái này là thường cận y duyên của mình, đã từng tạo nó nhiều lần rồi, để mình tập khắc phục nó.

Chúng ta biết cái này là thường cận y duyên của mình, đã từng tạo nó nhiều lần rồi, để mình tập khắc phục nó.

Thí dụ, cứ mỗi lần làm phước là nghĩ: “Mình được làm phước, cái phước này sẽ giúp cho mình được sanh ở chỗ này, được hưởng thụ như thế này.” Lập tức, khi có suy nghĩ đó, chúng ta nhớ đến: “Cái này là tham tà kiến nè.” Tham tà kiến này được tích lũy thành thường cận y duyên. Nhiều lần mình đã từng suy nghĩ như vậy đó.

Tại cái tâm của mình, ở trong Kinh Song Tầm hay là Kinh An Trú Tầm, hai bài kinh số 19, 20 đó, Đức Phật nói là nếu trong đời sống của mình, mình thường hay có suy nghĩ nào, có khuynh hướng suy nghĩ như thế nào, thì tâm mình cứ theo như vậy.

Bây giờ mình học Phật pháp, mình biết rồi. Nếu mỗi lần nghĩ đến việc làm thiện mà tham tà kiến sanh khởi, thì lập tức chúng ta phải ngăn nó. Hoặc là trong lúc làm thiện, có những cái không được giống như ý của mình, làm cho mình muốn như vậy mà nó không được như vậy, thì tâm sân sanh khởi. Cái đó cũng là thường cận y duyên của tham, hỗ trợ cho sân sanh khởi.

Mỗi lần chúng ta phát hiện được như vậy, chúng ta tìm cách ngăn nó. Ngăn nó thì nó sẽ yếu dần đi. Cái bất thiện phải yếu dần đi thì tâm thiện mới có sức mạnh. Lúc tâm thiện ở trong trạng thái bình thường có sức mạnh thì tâm định mới có sức mạnh được. Cuối cùng, tuệ mới có điều kiện phát sanh.

Nếu tâm thiện yếu, thí dụ trong tâm thiện ly trí, chúng ta thấy trong tâm nào cũng có nhất hành. Nhất hành là trạng thái của tâm định. Nhưng nếu trong tâm thiện ly trí thì nhất hành đó yếu lắm. Nếu tâm thiện hợp trí, ví dụ trong lúc làm phước mà các tác ý mình có quan sát, giữ tâm ổn định, thì lúc đó tâm thiện có sức mạnh hơn.

Khi tâm thiện có sức mạnh, trước tiên chúng ta thấy gì sanh khởi cùng với nó? Đó là trạng thái tâm định. Tức là mình không giống người khác, ngó tán loạn lung tung, không có như vậy. Hành động cũng được kiềm chế lại. Lúc đó trí mới có thể sanh khởi được. Còn không thì khó lắm.

Bài học hỗ trợ cho chúng ta như vậy: bất thiện trợ cho bất thiện thì tìm cách ngăn lại. Ở câu số năm đó, bất thiện trợ cho thiện. Bất thiện trợ cho thiện là sao?

Bây giờ, Phật tử đang bất thiện trợ cho thiện nhiều nè. Nếu ai để ý, trước đây, nếu ai đó làm nhiều điều ác lúc mình chưa học hỏi, chưa biết Phật pháp, còn mấy anh thiện nam nếu làm được nhiều việc thiện thì bây giờ nghĩ lại sẽ rất là hoan hỷ.

Chưa biết Phật pháp. Dạ. Còn cái này, mấy anh thiền nam, nếu mà làm được nhiều thì bây giờ nghĩ lại sẽ rất là hoan hỷ.

Thí dụ như ngày xưa, lúc còn đi làm, chiều hoặc cuối tuần là sao? Cũng rượu, bạn bè, nhâm nhi tí. [Tiếng cười] Đó, rồi nhiều khi nhâm nhi đó đâu về liền, còn đi thêm chỗ này chỗ kia các thứ. Dạ. Thì bây giờ, khi đã hiểu biết Phật pháp, nhớ lại cái đó, nếu trong cái nhâm nhi đó mà có liên quan đến cờ bạc các thứ, làm mất mát tài sản gia đình, cha mẹ, ông bà các thứ, thì bây giờ mình nghĩ lại, mình cảm thấy hối tiếc.

Dạ. Thì khi hối tiếc là sao? Thôi, bây giờ cố gắng một tí, học hỏi, tu tập một tí, để với cái suy nghĩ thường là sao? Để nó bù qua bù lại. Người đời thông thường họ nghĩ vậy. Tức là làm bất thiện nhiều thì bây giờ cố gắng làm thiện để cho nó bù lại.

Dạ. Thì ban đầu, nếu mình chưa học hỏi giáo pháp, cái suy nghĩ đó vẫn tốt. Tức là ít nhất, người ta cũng cố gắng làm thiện. Dạ. Nhưng mà đến khi chúng ta học hiểu Phật pháp thì sao? Mấy cái đó nó không bù nhau được. Nó không bù nhau được. Tức là cái nào bất thiện thì nó là bất thiện, cái nào thiện thì nó là thiện, chứ nó không bù nhau được.

Dạ. Cái suy nghĩ ban đầu thì được, nhưng mà khi mình hiểu Phật pháp, mình không nên suy nghĩ như vậy. Tại sao? Tại cái suy nghĩ bù qua bù lại đó sẽ khiến người ta có thể làm nhiều điều bất thiện khác nữa. Tại mình nghĩ sao? Tại mình có làm thiện rồi, cho nên có làm bất thiện chút đỉnh thì cũng không có sao. Cái suy nghĩ đó nguy hiểm.

Tức là mình tính theo cộng, trừ, nhân, chia thì không được. Tại trên thực tế là sao? Cái nhân bất thiện thì cho quả bất thiện. Còn nhân thiện thì cho quả thiện. Hai cái nó rất là rõ ràng, nó không thể bù nhau được. Nó chỉ có cái là gì? Cái nào có sức mạnh, có điều kiện trước, cái đó nó sẽ cho quả trước. Có sức mạnh, có điều kiện trước thì nó cho quả trước, chứ nó không bù nhau được.

Còn cái ban đầu, xin nói, nếu mà nhờ cái suy nghĩ đó mà người ta làm thiện thì cái đó xem ra cũng tốt. Nhưng mà với mình, người đã học hiểu giáo lý, thì chúng ta không nên suy nghĩ như vậy.

[Hắng giọng]

Dạ, sư suy nghĩ ngược lại rồi đó. Bây giờ mình nhớ lại những cái chuyện bất thiện làm không có cưới có điều, cái mình nhìn cảnh đi thì những hình ảnh hư, mà không tốt, cứ xuất hiện. Nhưng mà ngay lập tức, mình đắc ý, mình nói là: “May quá, bây giờ mình đã biết tới giáo pháp của Đức Thế Tôn rồi, thì những trường hợp bất thiện đó sẽ không còn diễn ra trong tương lai nữa”, và mình hoan hỷ. Cái trạng thái đó sẽ thiện, đúng không?

Cái đó làm thiện là nó giống cái này nè, giống trường hợp này nè. Tức là bất thiện hỗ trợ cho thiện.

Dạ. Nhưng mà tâm mình phải tu tập mạnh lắm thì nó mới không khơi lại. Tại vì ở trong người phàm phu mình, sư hay nói các Phật tử, tức là mình có sáu cái camera, lúc nào mình cũng quay, nó làm việc không ngừng nghỉ. Và nó là một bộ phim nhiều tập ở trong đây. Chỉ cần có điều kiện thôi là nó trình chiếu.

Dạ, có trình chiếu.

Ngừng nghỉ. À, và nó là một bộ phim nhiều tập ở trong đây. Chỉ cần có điều kiện thôi là nó trình chiếu.

Không cho nó có điều kiện để mà nó bị... thì còn. À, nó trình chiếu, nó trình chiếu. Cho nên, thí dụ bình thường, nếu mà chúng ta còn kiềm chế nó được thì chúng ta có thể... Thí dụ như bây giờ, khi mình nhớ gì đó trong quá khứ liên quan đến bất thiện, làm cho mình sợ hãi, xong mình cố gắng làm gì đó để cho nó mất đi.

Giống như ở ngoài đời, lúc đi học tiếng Anh, thầy người Mỹ hỏi: “Mấy đứa nhỏ đó sợ chết phải không? Thầy nói làm sao để cho nó không sợ chết?” Vị sư nói là Đức Phật ngài nói đó, phải thường xuyên suy nghĩ đến nó. Tại vì nó làm cho mình sợ. Do mình không thường xuyên nghĩ đến đó, cho nên mình thấy cái đó nguy hiểm. Nhưng mà đến khi mình nghĩ về nó thường xuyên đi, nghĩ cái chết sẽ đến với mình bất cứ lúc nào, và chúng ta không thể tránh nó được, thì ngày nào mình cũng suy nghĩ về nó. Nó trở thành sao? Cảnh đó trở thành bình thường đi.

Thì họ không chịu. Họ nói làm như vậy sẽ làm cho mình sợ hơn. [Tiếng cười] Thì đúng vậy. Tại họ không có tu tập, nên khi nghĩ đến thì họ càng sợ hơn. Giống như chúng ta thấy người ta đang vui mà khi mình nói đến sự chết là người ta chửi mình liền, vào đầu năm, đầu tháng gì đó. Người ta xem cái đó là không có may mắn. Không có may mắn.

Nhưng mà thật sự, khi mình hiểu Phật pháp, mình nghĩ đến cái đó thì nó làm may mắn cho mình. Tại sao? Giúp mình nỗ lực thực hiện các thiện pháp nhiều hơn. Tại mình biết sao? Mình có tránh đi đâu cũng không tránh được.

À, và nó có thể đến bất cứ lúc nào. Đâu phải đầu năm không chết đâu, phải trong Tết không chết đâu. Không có, lúc nào nó cũng chết được hết. Dù người ta có nói hay không nói thì cái chết nó đến là sao? Nó vẫn đến chứ. Đâu phải người ta nói chết... [Tiếng cười] Không phải cái họ nói sao? Họ làm, thí dụ như là làm công việc gì đó để quên nó đi. Làm công việc gì đó để quên nó đi.

Thì thật sự là đúng, lúc mình làm thì mình quên nó. Nhưng mà đến khi mình gặp cảnh đó thì sao? Mình sẽ rất sợ, mình sẽ rất sợ chứ mình không quên nó được. Mình không có quên nó được.

Thì đó là cái cách mà ở ngoài đời, nhiều khi người ta bị căng thẳng gì đó, người ta làm cái gì, đi chỗ nào đó, la hét lên cho nó xả ra được. Nhưng thật sự cách làm vậy nó có hết không? Nó đâu hết được, đâu có hết được.

Đức Phật ngài nói là phải tìm nguyên nhân của nó. Phải tìm nguyên nhân của nó rồi tập quan sát, suy xét nó. Tại sao nó như vậy? Như vậy nó mới hết được.

Giống như người ta thì người ta tìm cách giải quyết trước mắt thôi. Nhưng mà hết cái đó rồi thì sao? Nó vẫn trở lại bình thường chứ nó đâu có hết được. Nó đâu có hết được.

Cho nên đó là, sư thí dụ như cái thí dụ mà cô đây nói lúc nãy. Tức là nếu mà cái tâm mình còn yếu thì cái trạng thái đó nó có thể trở lại nhiều lần chứ nó không phải một lần đâu. Nó có thể trở lại nhiều lần, nhiều lần.

Thì mình, nếu mà tâm mình yếu, đúng là mình tìm cách ngăn cản nó bằng một suy nghĩ nào đó khác đi, để cho nó qua đi. Nhưng mà đến khi mình tu tập, cái tâm mình mạnh rồi thì mình nên tập quan sát nó. Tập quan sát nó thì cái cách tập quan sát nó sẽ hay hơn.

Tu tập cái tâm mình mạnh rồi thì mình nên tập quan sát nó. Tập quan sát nó thì cách tập sẽ hay hơn. Tức là khi mình tập quan sát, đồng nghĩa với tâm đã chấp nhận cái cảnh đó; cảnh đó không đem lại sợ hãi cho mình nữa. Còn mình mà tránh né, tức là mình còn sợ hãi nó.

Nhưng trạng thái tâm đó chúng ta cũng thấy nó rất là vi tế. Cho nên ở trong thiền quán, người ta không có tránh nó mà quan sát cái gì đang đến, dù cái đó thiện hay là bất thiện.

Và cái này cũng là sự nhầm lẫn của người thực tập. Khi lên trình pháp, trình toàn là cái tốt không à. Trong khi đó, cái mà mình cần khắc phục là gì? Cái xấu chứ, cái tốt đâu cần khắc phục làm gì.

Nếu thời đó có dạng như là sáu căn, sáu trần, thì ở những giai đoạn tu tập, mình phải thu thúc lục căn, có nghĩa là phải đóng cái căn đó, không nhìn tới nó. Không phải như thế. Cái thu thúc ở trong trường hợp này không phải là nhắm mắt.

Không có trường hợp nào Đức Phật dạy thực tập mà liên quan đến mắt là nhắm mắt. Tại Đức Phật nói là nếu mình nhắm mắt mà phiền não không sanh khởi, thì đồng nghĩa với người mù họ tốt hơn mình. Tại người mù họ đâu có thấy.

Cái thu thúc ở trong trường hợp này là quan sát nó, tức là có chánh niệm khi cảnh nó đến, chứ không có nghĩa là nhắm mắt. Hoặc là bây giờ nghe, muốn không nghe làm gì? Lấy bông nhét lỗ tai hả? Đâu có được. Nếu như vậy, người điếc có lợi hơn mình sao? Như vậy mình có muốn điếc không? Nó bất lợi hơn mình.

Đó, cái đó không phải là hình thức thu thúc, mà là quan sát nó. Thường đó là vì tâm mình yếu. Mình quan sát thì mình chịu nó không nổi, cho nên mình tìm… tức là nó lôi mình đi. Có người thiền, mình thấy cái đó không. Thí dụ như nếu mình quan sát hơi thở, mà có một cái cảnh nào đó mạnh hơn thì nó kéo mình đi mất tiêu.

Ở trong trường hợp đó, để khắc phục nó thì tìm một cái cảnh nào đó mạnh hơn. Thí dụ như suy xét, tìm một bài kinh. Nhưng mấy cái đó thiền sư họ không cho mình làm. Lên hỏi thiền sư, trình pháp, thiền sư họ không cho mình làm mấy cái đó.

Nhưng mà với mình, tức là từ bản thân mình, mình tự khắc phục. Thí dụ bây giờ nếu ngồi thiền, mình theo dõi đề mục hơi thở mà mình ngồi không được, thì chúng ta làm gì? Ngồi không được thì tâm chỉ trông chờ hết giờ, hoặc là chắc chắn ngủ gục.

Bây giờ, giữa cái ngủ gục, giữa cái tâm trông chờ cho hết giờ, thì mình thí dụ như ngồi rải tâm từ, ngồi niệm ân đức Phật, ngồi suy xét về một đề tài pháp nào đó, cái nào có lợi hơn? Nó vẫn có lợi hơn.

Nhưng mà điều đó không có nghĩa là mình cứ ngồi niệm Phật mãi suốt thời thiền đó. Tức là mình chỉ làm cho tâm mình định tĩnh lại, rồi sau đó mình quay lại đề mục. Mình quay lại đề mục, tại người ta không cho mình là quyền sao? Người ta sợ là mình cứ…

Rồi sau đó mình quay lại đề mục. Tại người ta không cho mình là quyền sao? Người ta sợ là mình cứ theo cái đề mục của mình mà không theo đề mục người ta chỉ dạy, thì như vậy nó sẽ không tiến bộ được ở trong thiền tập. Tại khóa thiền nó ngắn hạn, mình phải làm theo hướng dẫn của thiền sư thì nó mới tiến bộ nhanh.

Còn nếu mình đi tập thiền mà mình làm theo cách của mình, mình nói tiến bộ được, nhưng mà cách đó là cách để khắc phục.

Dạ, cách để khắc phục.

Thưa Sư, con trình bày về thường cận y duyên này theo góc nhìn của một người hoạt động, kiếm sống ở ngoài đời. Ở ngoài xã hội thì con thấy thường cận y duyên được những vị sale hay là quản lý sử dụng nhiều lắm. Ví dụ như người ta huấn luyện nhân viên của họ phải tinh luyện, phải có tay nghề thiện xảo, phải thuần thục, nghĩa là phải lặp đi lặp lại công việc đó. Hoặc là nhà quản lý phải lặp đi lặp lại suy nghĩ đó để trở thành thuần thục, trở thành phản xạ.

Thậm chí có những công việc mà người lãnh đạo sẽ hỏi nhân viên của mình: “Công việc của anh tiến bộ tới mức nào rồi?” Người đó nói: “Tôi lúc nào cũng suy nghĩ về công việc.” Vị đó nói: “Chưa đạt. Chừng nào công việc đó đi vào giấc mơ của anh thì mới đúng.”

Con chia sẻ như vậy. Thực sự có khi công việc đó mình bỏ rồi, không làm nữa, nhưng lâu lâu nó vẫn chạm vào giấc mơ mình, mình thấy mình đang làm công việc đó.

Đúng rồi, cái đó là thường cận y duyên.

Dạ.

Thật ra, những gì mình làm nhiều lần trong đời sống sẽ trở thành một thói quen. Nhiều khi mình không cần làm nữa, nhưng trạng thái tâm đó vẫn lặp lại. Nhiều khi nó trở thành một phản xạ tự nhiên, tại tâm điều khiển, mà tâm điều khiển sắc pháp, nên nó trở thành một phản xạ tự nhiên.

Thí dụ như người làm thợ may. Chúng ta thấy có người nghĩ đến việc may, rồi nhiều khi đến lúc nằm trên giường bệnh, cái tâm vẫn nhớ lại, chân tay vẫn vịn giống như đang cầm kim, chân vẫn đạp máy may vậy đó. Cái đó là thường cận y duyên hỗ trợ.

Giống như mình thường xuyên niệm, thường xuyên thực hành, đến khi mình ngủ, tự nhiên mình lại niệm danh hiệu Đức Phật.

Đúng rồi, cái đó bình thường.

Bất cứ một hành động nào mà mình làm thường xuyên...

Dạ.

Cho nên Sư nói với các Phật tử là phải làm một việc nào đó trong đời sống của mình. Mình làm nhiều công việc, nhưng phải có một công việc nào đó thành thường cận y duyên, để nó có sức mạnh.

Dạ.

Thưa Sư, thí dụ như mình tập mỗi ngày, tụng kinh, ngồi thiền, ngồi ít cũng được, mười lăm phút, ba mươi phút gì đó, nhưng phải làm mỗi ngày. Làm cho đến khi nào hôm nào mình không làm thì mình thấy nhớ, thấy thiếu nó là không được.

Cái đó sẽ thành thường cận y duyên. Cái đó quan trọng hơn. Có thể mình ngồi một ngày ba tiếng, nhưng ngồi ngày Chủ nhật này rồi chờ một tuần sau mới ngồi lại, không bằng một ngày chỉ ngồi mười lăm phút nhưng ngày nào cũng ngồi.

Dạ, tại cái tâm đó nó đã thành một thói quen.

bằng một ngày chỉ ngồi 15 phút, nhưng ngồi từ ngày nào cũng ngồi, tại cái tâm đó nó tạo thành một cái thói quen. Còn mình ngồi một lần mà ngồi ba tiếng là mình ngồi gượng ép. Nhiều khi tâm nó đâu có chịu, tại lâu lâu mình mới làm một lần, nó đâu có thành thói quen.

Bây giờ mình trở lại bài học một tí.

Cho con hỏi, giữa cái thiện với cái bất thiện thì hai cái đó có cản lại được không?

Bất thiện thì sẽ cho quả bất thiện, thiện cho quả thiện. Nhưng có trường hợp như vậy: nếu bất thiện nhiều quá, mà thiện cũng nhiều, số lượng thiện thường xuyên lặp đi lặp lại, thì nó lấn át được cái bất thiện, làm cái bất thiện yếu đi.

Ừ. Thậm chí có vị so sánh như vậy: cái bất thiện giống như một cục thuốc độc. Nếu cục thuốc độc đó mình bỏ trong nước rồi uống thì mình chết. Nhưng nếu mình bỏ vào một cái hồ thật lớn thì mình có thể uống được. Như vậy, nếu mức thiện lặp đi lặp lại, số lượng nhiều và mạnh, thì nó có thể làm cho cái bất thiện yếu đi. Nó cũng có, nhưng yếu, không mạnh. Đó là ý thứ nhất.

Ý thứ hai nữa là giữa thiện và bất thiện, có vị giảng như là cái chạy đua giữa thiện và bất thiện. Nếu mình lỡ làm việc bất thiện đó thì cố gắng làm việc thiện cho nhiều, liên tiếp, thì cái bất thiện nó đuổi theo không kịp.

Có một khái niệm xuất phát từ trường hợp của ngài Ương Quật Ma La. Ngài giết 999 người. Nếu nói theo nhân quả thì cái quả mà ngài phải trả khủng khiếp lắm. Thế nhưng may mắn cho ngài là ngài gặp được Đức Phật. Chỉ sau một câu nói với Đức Phật, ngài hối hận, sau đó chứng A-la-hán. Có người lý giải rằng trường hợp đó là một trường hợp chuyển nghiệp luân hồi. Xin thầy thấy điều đó có đúng hay không?

Như thế này. Trong cái thí dụ giữa thiện với bất thiện, sư thí dụ như việc pha thuốc độc vào trong nước lúc nãy. Cái thí dụ đó là để mình hiểu, và mình phải dừng lại, không nên suy diễn tiếp. Trong thí dụ Phật pháp là như vậy.

Tại sao? Khi mình pha thuốc độc vào trong nước thì cái bất thiện, cái thuốc độc đó, hầu như không còn nữa, người ta uống vào được, hầu như không có tác dụng gì. Cái đó bị sai đi. Tại sao? Tại bất thiện không còn kết quả. Trên thực tế không phải như vậy. Nó vẫn có kết quả.

Còn trong trường hợp của ngài Ương Quật Ma La thì thật ra cũng thường cận y duyên. Tức là ngài giết nhiều người rồi, gặp ai ngài cũng muốn giết. [tiếng cười] Nó đã trở thành cận y duyên rồi chứ.

Thật ra, trong truyền thuyết nói không phải 999 người đâu, mà nhiều hơn nữa. Nhưng trước đó, ngài giết xong rồi đếm, bị lộn đi lộn lại, nên ngài sợ là không thành tựu. Cho nên ngài bắt đầu giết trở lại. Mỗi người bị giết như vậy, ngài cắt một ngón tay.

Đến lúc đó mới được 999 người.

Dạ.

Cho nên lúc đó đã trở thành cận y duyên luôn rồi.

Dạ.

Nhưng trường hợp đó cũng giống trường hợp chúng ta đang học. Tức là đến khi ngài gặp được Đức Phật, nghe Đức Phật nói như vậy, ngài bắt đầu thấy sợ. Sợ vì cái ác nghiệp mà mình đã tạo.

Ngài gặp được Đức Phật, nghe Đức Phật nói như vậy đó, là ngài bắt đầu thấy sợ. Sợ vì cái ác nghiệp mà mình đã tạo. Cho nên lúc bấy giờ, ngài cố gắng, nỗ lực tu tập và chứng đắc được thánh quả. Thì trường hợp đó là trường hợp đặc biệt thôi.

Con nghĩ là ngài Aṅgulimāla rất là nhạy, do cũng là thường cận y duyên từ những đời trước, mà ngài có tu tập về trí tuệ. Tại vì theo kinh nói, Đức Phật chỉ nói là: “Ta đã dừng lại, ngươi chưa dừng lại.” Nếu là người thường thì không thể nào đặt vấn đề trong câu đó được. Cái đó cũng là tại kiếp cuối cùng của bậc thánh A-la-hán, thì phước trí cũng phải vượt trội, phải vượt trội.

Nhưng hành động giết người ở trong hiện tại trở thành thường cận y duyên trong hiện tại luôn. Tại sao? Sư thí dụ, nếu muốn giết nhiều người như vậy thì phải tìm cách này, cách kia. Ở trong chú giải thích là, khi ngài giết nhiều người như vậy, có người muốn đi đường này thì họ phải tìm cách này, tìm cách kia, chuẩn bị vũ khí này, vũ khí kia. Khi người đi đường mà họ chuẩn bị các thứ, thì người muốn giết cũng tìm cách này, tìm cách kia, để làm thế nào có thể giết người ta được. Tức là trở thành thường cận y duyên trong đời sống hiện tại.

Nhưng thường cận y duyên của ngài ở trong quá khứ là ngài có phước trí nổi trội. Tại bậc thánh A-la-hán ở kiếp cuối cùng thì phước trí mạnh lắm. Cho nên khi nghe là lập tức hiểu liền. Nghe lập tức hiểu liền.

Ở trong nghiệp, có một trường hợp đó là vô hiệu nghiệp. Vô hiệu nghiệp tức là có những trường hợp nghiệp không có điều kiện cho quả được. Do đó, thánh quả được chứng đắc, cắt đứt đời sống luân hồi. Những trường hợp đó là những trường hợp đặc biệt thôi. Chúng ta không nên lấy những trường hợp đó để sử dụng phổ thông. [Tiếng cười]

Sư thí dụ như cố gắng đi ăn trộm của người ta cho nhiều lên, rồi sau đó đi làm công đức ở các chùa. Tại sao? [Tiếng cười] Tại vì công đức nhiều thì nó sẽ làm cái ăn trộm đó mất đi, không có được. Cái đó không có được. Cho nên có những trường hợp, mình hiểu Phật pháp chỉ là thí dụ để mình hiểu thôi, nhưng không nên suy diễn quá nhiều. Không nên suy diễn quá nhiều, vì nó dẫn đến hiểu sai.

Còn bất thiện thì nó vẫn cho quả. Chỉ có một trường hợp là vô hiệu nghiệp. Vô hiệu nghiệp ở đây, thí dụ giống như trường hợp bậc thánh A-la-hán.

Còn các Phật tử ở trong đời sống hiện tại, thí dụ chúng ta cũng có tạo một số ác nghiệp, nhưng vì ác nghiệp đó không đủ điều kiện để cho quả trong đời sống hiện tại, người ta cũng xem đó là một dạng vô hiệu nghiệp. Nhưng vô hiệu nghiệp trong trường hợp này là vì nó chưa có đủ điều kiện để cho quả.

Còn vô hiệu nghiệp của bậc thánh A-la-hán là sao? Là do ngài không còn đời sống luân hồi. Hai cái đó khác nhau. Còn mình thì nó có thể không cho quả ở kiếp này, nhưng kiếp sau nó có thể cho quả. Giống như ngài Mục Kiền Liên vậy đó.

Chúng ta thấy không? Một lần giết cha mẹ thôi.

Nó có thể cho quả, giống như ngài Mục Kiền Liên vậy đó.

Chúng ta thấy không? Chỉ một lần giết cha mẹ thôi, mà sau khi từ địa ngục sanh lên, nhiều đời nhiều kiếp, cứ có điều kiện là nó cho quả. Tức là hễ có điều kiện là ngài bị người ta giết.

Ngay cả cái đáng sợ chúng ta thấy, ngay cả kiếp cuối cùng mà nó vẫn đuổi theo kịp. Nếu mình so sánh trường hợp ngài Mục Kiền Liên với trường hợp ngài Ương Quật Ma La, chúng ta thấy nó khác nhau hẳn.

Tức là một cái nghiệp quá khứ đã tạo, đến thời chín muồi cho nên không tránh được. Còn cái nghiệp hiện tại của ngài Ương Quật Ma La thì chưa đủ điều kiện để chín muồi. Lúc đó, ngài đã chứng đắc được thánh quả.

Nhưng theo trong chú giải cho mình thấy là ngài cũng thọ nhận một số trường hợp. Trong lúc ngài đi khất thực, mấy đứa nhỏ hoặc người thợ săn, người giết thú gì đó, ở đâu đó họ bắn thú, tự nhiên viên đạn cũng rớt lại, trúng đầu ngài, làm bể chảy máu. Rồi bình bát ngài đi khất thực cũng bị bể. Có những buổi ngài đi khất thực về là đầu chảy đầy máu.

Đức Phật nói: “Thôi, cố gắng đi. Cái nghiệp đó không đáng gì so với cái nghiệp mà ông đã tạo. Nếu ông tiếp tục đời sống luân hồi thì...”

Ở trong đời sống hiện tại, ngài cũng bị, tức là cũng trả một số quả báo nghiệp. Nhưng so với việc ngài bị người ta giết chết như những người ngài đã giết, thì ngài cũng chỉ bị một số trường hợp như vậy thôi.

Thật ra, mình đọc những trường hợp đó thì thấy thương ngài, nhưng so với cái ác nghiệp mà ngài đã tạo, Đức Phật thấy cái đó không có gì để so sánh, tại nó quá nhiều.

Đó là một trường hợp đặc biệt. Chúng ta đừng đem trường hợp đó nói nhiều, tại trường hợp đó mình hoàn toàn không có...

Còn thí dụ pha nước lúc nãy rất là hay, nhưng chỉ hiểu vừa đủ thôi, chứ đừng suy diễn nữa. Tức là nếu mình pha càng nhiều nước thì cái độc đó mất hẳn đi, đúng không? Nó không mất đi được. Cái bất thiện không mất đi được.

Nước pha với chất độc thì mình có thể pha nhiều, nó có thể mất đi thiệt, đúng là nó có thể mất đi, không còn tác dụng gì nữa. Nhưng bất thiện thì không có như vậy. Tức là nếu thiện nhiều, và thiện đó có điều kiện, thì thiện đó cứ cho quả.

Nhưng nếu bất thiện có điều kiện, thì mặc dù nó ít, nhưng có điều kiện, nó vẫn có thể cho quả.

Ví dụ giống như Hoàng hậu Mallika. Bà tạo nhiều thiện lắm. Hoàng hậu Mallika cũng là một trong những người thông minh. Việc cúng dường Đức Phật mà trong thời Đức Phật chỉ có một lần, người ta gọi là bố thí vô song, tức là không có bố thí nào bằng. Và cái bố thí đó là người nữ làm. Trong thời Đức Phật của mình, bà Hoàng hậu Mallika làm được cái việc đó.

Và cái bố thí đó là người nữ làm. Trong thời Đức Phật của mình, bà hoàng hậu Maica Ca làm được cái việc đó.

Dạ, trong đời sống hằng ngày của bà, các vị hoàng hậu ngày xưa, người nào có niềm tin nơi giáo pháp rồi thì hầu như bố thí, cúng dường liên tục. Hoàng hậu cũng là một trong những người như vậy, nhưng chỉ có một sai sót nhỏ liên quan đến nói dối thôi. Chúng ta thấy không, khi có điều kiện thì nó vẫn cho quả.

Ví dụ như trong túi giấy, giống như một bao gạo, ở trên mặt nó chỉ có một tí lúa thôi. Nhưng vì một tí lúa đó ở trên mặt, cho nên khi đổ thì lúa chạy ra trước. Những thí dụ đó cho mình thấy cái bất thiện rất nguy hiểm. Nhưng đằng nào thì nó cũng có cái tốt, đó là cố gắng làm thiện được càng nhiều thì cái đó tốt rồi. Tức là hạn chế tối đa. Hễ mình làm thiện được nhiều thì đồng nghĩa là mình không vi phạm về bất thiện.

Rồi, bây giờ chúng ta trở lại câu pháp này. Đó là câu pháp liên quan đến bất thiện mà hỗ trợ cho thiện. Tức là do mình nhớ lại bất thiện trong quá khứ, cái đó là tội lỗi và giúp mình nỗ lực tu tập. Sự nỗ lực tu tập này dẫn đến cả chứng đạt thiền định và đạo quả luôn.

Khi thấy sợ hãi về bất thiện, giống trường hợp ngài Angulimala rồi đó, những trường hợp đó đều là trường hợp có sự nỗ lực hết. Tức là nỗ lực để chứng đắc được thánh quả A-la-hán ngay trong đời sống hiện tại. Tức là thấy sợ đời sống luân hồi mà tạo cái ác nghiệp đó. Cái đó là bất thiện mà hỗ trợ cho thiện, hỗ trợ cho thiện.

Ở trong đời sống người Phật tử, chúng ta hiểu biết được Phật pháp thì làm được những trường hợp này nhiều. Cái đó phát huy. Cái nào hỗ trợ cho mình được nhiều thì mình làm. Còn trường hợp lúc nãy, nếu có lo âu do nghĩ về bất thiện thì lập tức tìm cách dẹp bỏ nó đi. Lập tức tìm cách dẹp bỏ nó đi.

Đến khi tâm mình có sức mạnh thì quan sát nó. Quan sát nó để chấp nhận nó. Khi mình quan sát được thì lúc đó là thành công. Còn nếu bất thiện sanh khởi mà mình chưa quan sát được, mình tìm một pháp nào đó để áp chế nó đi, thì chúng ta để ý, cái đó chưa thành công. Tại cái đó chưa phải là hình thức thiền quán, chưa phải là thường cận y duyên, giống như câu pháp này.

Nó chưa trở thành thường cận y duyên, tức là chưa trở thành một thói quen để mình thấy và chấp nhận nó. Cái đó cũng chưa trở thành vipassana. Tại khi mình thấy sợ rồi lấy cái khác để áp chế nó, nhiều khi chúng ta không để ý, lúc đó nó có liên quan tới tham, tà kiến.

Tại sao? Tại cái này sanh khởi làm cho mình đau khổ, nó có liên quan tới cái đó, nhưng rất là vi tế, người ta đâu thấy nó.

Giống như khi các Phật tử ngồi thiền, chúng ta bị phóng dật chi phối. Thay vì hành giả thấy: “Cái này là tâm phóng dật”, thì hành giả đâu thấy. Phần lớn là thấy mình bị phóng dật. Những trường hợp đó rất là vi tế, hành giả không thấy được. Nhiều khi trong ngôn ngữ chế định, hành giả dính vào trong ngôn ngữ chế định đó.

Rồi, câu số sáu.

Hiểu là trong ngôn ngữ chế định, nhưng mà hành giả dính vào trong ngôn ngữ chế định đó. Chư định đạo rồi.

Câu số sáu. Câu sáu là bất thiện trợ cho vô ký. Bất thiện trợ cho vô ký. Nếu với trường hợp bậc Thánh A-la-hán thì, giống như nãy giờ mình cũng có nói sơ qua, với bậc Thánh A-la-hán thì cũng nhớ lại những bất thiện trước đây. Giống trường hợp này, Mục Kiền Liên vậy đó, tức là nhớ lại trường hợp mình giết cha mẹ ở trong quá khứ. Lúc bây giờ, bất thiện đó trợ cho tâm gì sanh khởi?

Tâm vô ký, tức là tâm tố sanh khởi.

Còn bất thiện trợ cho vô ký ngoài tâm tố, còn vô ký gì có thể sanh khởi được nữa?

Vô ký quả.

Vô ký quả. Thí dụ như khi tâm sân sanh. Có thí dụ như một người nữ do dính mắc vào hình thể, thành ra họ nhịn ăn. Nhịn ăn là thân thức thọ khổ, nhịn ăn để giảm béo.

Để cho gầy.

Tức là cái đó người ta gọi là gì?

Bất thiện.

Bất thiện là tâm tham.

Tâm tham.

Tâm tham, tức là liên quan đến tham tà kiến.

Tham tà kiến, thân kiến.

Thân kiến, tức là chấp thủ thân này.

Mấy cái đó làm gì bên ngoài mà người ta nắm biết được cái đó?

Tức là mình muốn cho thân mình đẹp thôi, thì làm sao bất thiện?

Nhưng mà cái đó là tham liên quan đến thân kiến. Liên quan đến thân kiến. Thân kiến thì cái đó cũng là tham tà kiến. Cái này chắc mấy cô bị nhiều lắm đó.

Cái đó là tham thân kiến mà tham tà kiến. Rồi trường hợp như vậy thì cái đó thường thường cần trợ duyên. Làm thế nào để thân được ốm đẹp thì phải nhịn ăn đó, nhiều lần, nhiều lần. Tức là tới giờ đó không dám ăn, tới giờ đó không dám ăn. Đó là thường cần trợ duyên.

Cái đó là tâm tham rồi đó. Tâm tham mà hỗ trợ cho thân thức thọ khổ.

Bây giờ thân thức thọ lạc thì là sao?

Thân thức thọ lạc thì là sao?

Tham thì sợ bệnh, uống rất nhiều thực phẩm chức năng để hỗ trợ bệnh. Thân thức thọ lạc sẽ là cái thân nó không bị đau hơn nữa. Nghĩa là thân thức sẽ thọ lạc. Ví dụ như mình bị đau dạ dày, đau bao tử, vấn này kia, mình tham và mình uống thuốc để thân mình không đau. Mình uống thuốc thì mình sẽ có được thân thức thọ lạc, đó là cái thân này nó không còn đau nữa.

Nhưng mà mình cần tâm tham, chứ không phải là mình muốn. Mình sẽ tìm nhiều loại thuốc phù hợp với mình.

Tức là cái đó nó tùy theo tâm, tùy theo trạng thái tâm lý, là mình muốn cho thân này khỏe đẹp, khỏe hoài. Thí dụ ăn nhiều chất bổ chẳng hạn, thì cái đó cũng là tâm tham. Tâm tham, nhưng mà thân thức bây giờ thì thân thức thọ lạc, tại làm cho thân khỏe mạnh.

Còn cái kia là sao?

Làm cho thân ốm yếu cho nó đẹp. Còn cái này là thân khỏe mạnh.

Như vậy là mình đã được vô ký. Tâm vô ký là tâm tố, rồi thân thức thọ khổ, thân thức thọ lạc.

Là thân thức. Như vậy là mình đã được tâm vô tâm vô ký, là tâm tố rồi. Thân thức thọ khổ, thân thức thọ lạc.

Trong thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng nè, con thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng, tức là người mà có thường cận y duyên, mà nhìn thấy cảnh đẹp, tức là thích cảnh đẹp, thì hễ có cảnh đẹp là tâm tham dính mắt, tức tìm để nhìn.

Tìm để nhìn thì trong trường hợp đó, nó vừa là bất thiện, vừa là tham hỗ trợ cho tâm tham sanh khởi, mà nó cũng liên quan tới nhãn thức. Nhãn thức, nếu cảnh tốt thì nó là thiện, nhưng cảnh xấu thì nó là bất thiện.

Bất thiện nó giống như trường hợp các Phật tử nghe nhạc vậy đó. Nghe một ca sĩ nào mà mình thích, cứ lên mạng tìm ca sĩ đó nghe hoài. Thì cái đó là thường cận y duyên, nó liên quan đến tham, hỗ trợ cho tham. Nhưng bên cạnh đó, nó còn có nhĩ thức. Nhĩ thức sanh khởi thì tương tự với các trường hợp còn lại. Cái đó là bất thiện mà hỗ trợ cho vô ký, bất thiện hỗ trợ cho vô ký.

Rồi bây giờ mình còn câu số bảy, đó là vô ký hỗ trợ cho vô ký. Vô ký hỗ trợ cho vô ký thì trong trường hợp này, nó cũng chỉ là các tâm vô ký. Các tâm vô ký thì tâm tố hỗ trợ cho tâm tố sanh khởi là được rồi. Các tâm tố hỗ trợ cho tâm tố sanh khởi, được rồi.

Bây giờ mình còn cái gì? Tâm quả nè. Tâm quả mà hỗ trợ cho tâm quả sanh khởi lại giống như gì? Tâm quả hỗ trợ cho tâm quả sanh khởi là cái gì, giống như cái gì? Giống như vị A-la-hán phải không? Tại vì cái này là quả, chỉ tâm quả, chỉ có các vị A-la-hán thôi. Ở trong tâm quả siêu thế thì cũng được, trong năm quả siêu thế, nhưng mà mình còn các tâm quả khác nữa. Tại trong 72 tâm vô ký này, mình có tới 52 tâm quả.

Hồi nãy là bất thiện hả? Nãy mình ví dụ là bất thiện. Còn bây giờ đó là ví dụ liên quan tới thiện, thiện, vô ký với vô ký. Đối với bậc thánh A-la-hán thì dễ rồi đó. Thường cận y duyên, thí dụ như các vị trưởng lão gặp các vị tỳ-kheo trẻ thì dạy Phật pháp, thuyết pháp cho nghe. Cái đó là thường cận y duyên, tâm tố hỗ trợ cho tâm tố sanh khởi.

Hoặc là đối với tâm quả, mình có gì ta? Thường cận y duyên, tâm quả. Sắc vật thực trợ cho tâm thiền quả hay thiền tố sanh khởi được không?

Đó là vô ký sắc rồi. Còn ở đây, người ta hỏi là sắc chỉ có quả, tâm quả, thiền tố hoặc là thiền, hoặc là đạo quả. Ví dụ như vật thực hỗ trợ cho vị đó, sắc vật thực, hoặc là sắc thời tiết hay gì đó, chung là sắc pháp. Cái này nó phải có thêm sắc pháp hả?

Dạ.

Không biết nữa, tại nó cũng là vô ký hỗ trợ cho thiện, không biết có vị đó.

Đúng rồi. Thật ra là cái đó được. Thí dụ như liên quan tới sắc vật thực. Sắc vật thực mà làm cho thân khỏe mạnh, sắc vật thực làm cho thân khỏe mạnh, thì cái đó là sắc pháp hỗ trợ cho vô ký, mà hỗ trợ cho thân thức. Hoặc là thí dụ như thời tiết nóng lạnh. Thời tiết nóng thì làm cho thân cũng khó chịu, hoặc là lạnh...

Hoặc là thí dụ như thời tiết nóng lạnh. Thí dụ, thời tiết nóng thì làm cho thân khó chịu, hoặc lạnh quá thì làm cho thân cũng khó chịu. Còn người chịu lạnh được thì thân dễ chịu. Ở trong trường hợp đó là sắc pháp hỗ trợ cho thân thức. Thân thức thọ khổ hoặc thân thức thọ lạc sanh khởi. Sư không biết cái này có sẵn trong hành lộ hay không, nhưng ví dụ đó là được.

Nếu ở trong một lộ trình tâm, nếu mình lấy theo ý đó, thì một lộ trình tâm, nếu là lộ trình tâm ngũ môn, nó có các tâm quả liên quan đến na cảnh gì đó, rồi đến tâm ý môn gì đó, thì các tâm quả nó làm việc đó cũng được. Cái đó là vô ký hỗ trợ cho vô ký.

Giờ mình còn một trường hợp nữa, trường hợp thứ tám, đó là vô ký hỗ trợ cho pháp thiện.

Vô ký hỗ trợ cho pháp thiện giống như gì? Thí dụ như nhìn thấy người khác có cái ăn, cái uống, ăn mặc đầy đủ. Cái đó vô ký là cái gì? Cái đó là quả của thiện, quả hữu thiện. Cho nên, cố gắng thấy người ta được như vậy. Thí dụ như người có học hỏi, thấy người ta có được kết quả giống ở trong đời sống hiện tại, là do mình biết: người ta bố thí, hoặc có sức khỏe tốt là do gìn giữ giới. Cho nên lúc bây giờ, mình cố gắng làm phước bố thí, cố gắng gìn giữ giới, hoặc cố gắng tu tập thiền gì đó để có được.

Nếu liên quan tới thấy người ta học hỏi nhanh nhẹn, thì cái đó là vô ký mà hỗ trợ cho thiện. Dùng hình ảnh để thí dụ. Giống như chúng ta có được mọi thứ thuận duyên ở trong đời sống hiện tại. Cái này là quả của thiện. Quả của thiện tức là vô ký. Nhờ đó mà thấy được như vậy, cho nên người ta nỗ lực làm thêm điều thiện. Cái đó là vô ký hỗ trợ cho thiện. Nó cũng giống như nãy, tức là việc hỗ trợ đó là cho đến khi tu tập chứng đắc được thánh quả.

Có thể là thiếu phần nãy. Còn Niết-bàn thì vô ký chỉ hỗ trợ cho gì? Hỗ trợ cho thiện. Niết-bàn mà hỗ trợ cho thiện thì chỉ có ở trong tâm đạo, ở trong tâm đạo.

Còn sắc pháp thì giống thí dụ lúc nãy. Sắc pháp thì thuộc về phần vô ký. Thí dụ như sắc vật thực. Sắc vật thực, khi mình ăn uống vào thì tâm cảm thấy thoải mái, dễ chịu. Nó sẽ có hai trường hợp.

Vô ký hỗ trợ cho thiện. Đây cũng là bất thiện. Cái này là thiện. Ba mươi bảy tâm thiện được, chín là bất thiện, tám...

Đang nói thiện mà, tại nãy Sư nói lộn. Câu số tám là vô ký hỗ trợ cho thiện. Sắc pháp thì giống thí dụ lúc nãy, thí dụ như sắc vật thực, liên quan tới vật thực. Vật thực mà ăn uống làm cho cơ thể cảm thấy thoải mái thì đó là thân thức thọ lạc, vô ký. Nhưng mà khi thân khỏe mạnh thì sao? Tâm cũng dễ dàng sanh, tức là tâm cũng có thể dễ dàng sanh khởi được. Thì ở đây là vô ký hỗ trợ cho thiện, cho thiền. Nó tùy theo trường hợp, tùy theo người đó, nó là thiền hay là bất thiện.

Cho thiện. Cho thiền thì tùy theo trường hợp, tùy theo trường hợp nó là thiền hay là bất thiện, tùy theo người đó. Nhưng ở câu này, tại mình đang nói về thiện thì mình nói về thiện.

Thí dụ như thân mà vô ký, thí dụ như sắc, sắc thời tiết nóng hoặc lạnh. Nóng và lạnh thì thân sẽ… Thí dụ lạnh thì thân cảm thấy thoải mái. Thân thoải mái thì tâm thiện dễ phát sanh hơn. Thân mà không thoải mái thì chỉ có trường hợp đặc biệt thôi, tâm thiện mới có thể sanh khởi được. Còn thân thoải mái thì tâm thiện dễ sanh khởi.

Nhưng mà nó sẽ có hai: một là tâm thiện, hai là cái gì? Hai là tâm tham. Nhưng trong trường hợp này thì mình đang nói về tâm thiện.

Tâm quả ở đây hỗ trợ cho 37 tâm thiện, các tâm sở hợp với tâm thiện luôn. Các tâm quả và sắc pháp. Các tâm quả và sắc pháp chủ yếu là mình hiểu phần cơ bản liên quan đến đời sống tu tập của mình đó. Còn phần liên quan đến đạo quả thì sau này chúng ta tìm hiểu thêm, tìm hiểu sâu thêm về đạo quả, thiền định gì đó.

Chủ yếu là chúng ta nắm được cái liên quan đến đời sống thực tế của mình, chứ không phải trong cái liệt kê đó là mình phải liệt kê đủ chi pháp. Liệt kê cho đủ thôi. Còn phần nắm bắt chủ yếu là cái thực tế trong đời sống.

Rồi, cái cuối cùng đó là vô ký mà hỗ trợ cho bất thiện. Vô ký hỗ trợ cho bất thiện. Đó là câu số chín: vô ký hỗ trợ cho bất thiện, chỉ 47 tâm quả. 47 tâm quả trừ năm tâm tứ quả, hỗ trợ cho bất thiện, đó là 12 tâm bất thiện, 32 tâm sở phối hợp.

Ở đây tùy theo trường hợp. Thí dụ như các tâm quả mà liên quan đến tâm quả siêu thế thì nó không có hỗ trợ cho tâm bất thiện sanh khởi được. Ở đây thì sao? 47 tâm quả trừ năm tâm siêu thế quả. Ở đây cứ lấy cả tâm siêu thế hả? Tứ quả mới được cả?

Hỗ trợ cho 12 tâm bất thiện sanh khởi. Tâm quả vậy chứ. Cái này nói theo người quá, nói theo người. Tại như vậy thì nói lấy cả… đó là 35 tâm quả, 35 tâm quả mà hỗ trợ cho 12 bất thiện sanh khởi. Các tâm quả mà liên quan đến… tâm quả mà hỗ trợ cho bất thiện ở người phàm phu mà mình nói lúc nãy thì được.

Có thể là vẫn còn sơ, mà chắc chắc liên quan tới cái này. Tâm quả mà hỗ trợ cho tâm bất thiện sanh khởi nó như thế này. Tức là tại vì ngay cả bậc Thánh, bậc Thánh Tam quả, sau khi chết thì vẫn còn đó là quả. Cái quả này là sao? Về cái quả này, mình nói ví dụ cái chia đó là liên quan đến tâm quả, thông qua cái hành động của thiện, bất thiện, cái kết quả trở như thế này, hỗ trợ cho bất thiện sanh khởi.

Một tâm tứ quả, nếu mà hành động thì hành động. Tại các bậc Thánh, nếu mà hành động thì đó là hành động bằng tâm thiện. Ở các bậc Thánh hữu học thì vẫn còn tâm bất thiện sanh khởi. Tâm bất thiện sanh khởi như là trường hợp của… Nhưng mà tâm quả hỗ trợ cho tâm bất thiện sanh khởi là sao? Hỗ trợ cho tâm bất thiện sanh khởi… cái này mình quên mất cái lý này.

Cái này mình có trừ nhân ngoài, nhân vô si, hoàng nghi, vô si không? Tại vì những cái này là các vị Thánh. Không, tại lý do nó lấy hết 12 tâm bất…

Nghi si, hoài nghi không? Hả? Tại vì những cái này là các vị thánh?

Không, tại lý do nó lấy hết 12 tâm bất thiện đó. Đâu phải các bậc thánh không có đâu, tại còn có các tâm quả khác đó. Tức là những tâm quả mà liên quan tới bậc thánh thì nó chỉ có 15 tâm quả thôi.

Trong khi đó có 15 tâm quả nữa. Xin lỗi, mình có 15 tâm quả thôi. Mà trong 15 tâm quả đó còn các tâm quả còn lại, thì nó hỗ trợ cho 12 tâm bất thiện sanh khởi được.

Tức là các tâm quả còn lại, giống hồi nãy là liên quan đến thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng. Thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng thì nó làm cho 12 tâm bất thiện sanh khởi. Những cảnh thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng ở trong quá khứ thì nó cũng có thể hỗ trợ cho 12 tâm bất thiện này sanh khởi.

12 tâm bất thiện sanh khởi, nhưng là ở trong các tâm quả. Chưa nhớ được cái thí dụ để làm cho 12 tâm bất thiện sanh khởi.

Ví dụ tâm quả bậc thánh hỗ trợ 12 tâm bất thiện sanh khởi. Nếu mà với bậc thánh Dự lưu, mà hỗ trợ cho bất thiện sanh khởi, thì bất thiện sanh khởi đó không có tham tà kiến, không có si hoài nghi. Nếu mà sanh khởi ở bậc thánh Dự lưu thì nó chỉ hỗ trợ như vậy.

Còn ở bậc thánh Nhất lai, bậc thánh Nhất lai thì cũng chỉ còn tham ly tà, tham có ngã mạn. Còn ở bậc thánh Bất lai thì đã diệt hẳn sân. Diệt hẳn sân, tức là nếu ở bậc thánh Nhất lai hỗ trợ cho bất thiện sanh khởi, thì bất thiện đó không có sân. Trong bất thiện của bậc thánh Nhất lai, tại bậc thánh Nhất lai chỉ còn lại tâm tham ly tà mà liên quan đến cảnh giới tái sanh. Tức là tâm vẫn còn dính mắc với cảnh giới tái sanh. Tham ly tà vẫn còn cảnh giới tái sanh, rồi vẫn hỗ trợ cho bất thiện sanh khởi. Đó là trong trường hợp tâm tham mà có ngã mạn.

Nếu mình phân tích từng trường hợp như vậy thì ra.

Dạ, đúng rồi.

Nhưng mà để nhớ thí dụ thì không nhớ được thí dụ gì. Mà hữu học bất quán, tức là những phiền não mình đã diệt trừ, có cái pháp này không phải quán xét nó là thiện, bất thiện?

Nếu mà quán xét thì là bất thiện rồi. Có gì chứ?

Quán xét những phiền não.

Quán xét những phiền não.

Dạ.

Không, khi mà quán xét những phiền não thì cái đó tâm thiện nó sanh khởi chứ.

Tại cái phiền não thì nó là bất thiện, nhưng mà hỗ trợ cho tâm thiện sanh khởi là không đúng cơ pháp.

À, là nó không đúng theo cơ pháp. Còn cái này nó là vô ký trợ thiện, vô ký trợ bất thiện.

Vô ký trợ bất thiện.

Làm sao đó mà bất thiện nó phải sanh? Tức là làm sao mà bất thiện nó phải sanh? Làm sao mà bất thiện nó phải sanh? Đó, làm sao mà nó sanh, mình chưa tìm được thí dụ đó.

Còn nếu mình phân tích từng trường hợp thì nó có thể hỗ trợ sanh khởi được, nhưng mà chưa tìm được thí dụ để dùng. Cái ví dụ của bên sắc pháp hoặc là những cái tâm quả thì có thể rõ hơn không?

Mấy cái đó thì được rồi. Sắc pháp thì làm cho tâm bất thiện sanh khởi, cái đó dễ rồi. Nó chỉ còn kẹt ở 15 tâm quả thôi. Còn mấy cái kia là được hết. Mấy cái kia nó giống phần trên lúc nãy thôi.

Chỉ còn lại kẹt là đang kẹt ở 15 tâm quả thôi, còn mấy kia là được hết. Mấy kia cũng giống phần trên lúc nãy thôi.

Mấy bên kia giống phần trên lúc nãy. Thí dụ như phần sắc pháp. Sắc pháp hồi nãy mình thí dụ giống như sắc thời tiết gì đó. Khi thời tiết nóng thì thân cảm thấy khó chịu. Cái đó là phân tâm vô ký, rồi thân thấy khó chịu thì tâm sân có thể sanh khởi.

Cái đó là vô ký, liên quan đến vô ký sắc hỗ trợ cho bất thiện sanh khởi. Còn nếu thời tiết mát mẻ, dễ chịu thì thân thức là thọ lạc, nhưng tâm vẫn là tâm bất thiện, tâm tham có thể sanh khởi ở đó. Cái thí dụ đó thì dễ, nhưng trong trường hợp 15 tâm quả thì chưa tìm được thí dụ. Chắc để tìm thêm, đọc lại tài liệu xem có thí dụ không.

Đó là phần pháp thứ chín: vô ký hỗ trợ cho bất thiện sanh khởi. Phần tâm quả liên quan đến các bậc Thánh, nếu mình chưa rõ thì mình cứ nắm phần căn bản trước. Còn cái tâm quả thông thường hỗ trợ cho bất thiện sanh khởi thì cũng dễ rồi.

Giống như mình thí dụ lúc nãy: thấy đời sống của người ta tốt hơn mình thì sanh tâm ganh tỵ, hoặc sanh tâm tham muốn được giống như người ta. Cái đó đều là vô ký hỗ trợ cho bất thiện hết.

Trường hợp đó là vô ký hỗ trợ cho bất thiện hết. Mình có thể thí dụ theo người vô nhân, người nhị nhân, người tam nhân, hay các bậc Thánh tạo quả. Thí dụ như người vô nhân, các vị thích hưởng thụ, ăn uống hay mặc đẹp, thì đó cũng là vô ký sắc hỗ trợ cho bất thiện sanh khởi hay sao?

>> Vô ký sắc hỗ trợ cho bất thiện sanh khởi. Cái đó cũng là vô ký sắc hỗ trợ cho bất thiện sanh khởi.

>> Thưa Sư, thường trong các trường hợp ở bậc Thánh, ví dụ khi một người thân mất, thì vị Thánh có khác không? Hình như cũng có một chút sân, nhưng vì là bậc Thánh nên cái khóc, cái sân của vị ấy sẽ không như người bình thường khi tiếc thương một người.

Mình có thể dùng đấy để làm ví dụ không? Con không nhớ rõ ví dụ Sư phụ đầu trong khóc gì, Thánh học thì đến Tam quả, đến Tứ quả mới hết chi pháp này.

>> Nghĩa là vô ký cho phép phát sinh thiện, mà thường cận y duyên thì sẽ dừng đến bậc Thánh Tam quả?

>> Bậc Thánh Tam quả.

>> Thánh Tam quả thì em vẫn nhớ là... Tức là mình tìm từng trường hợp, nói từng trường hợp thì nó ra, nhưng để có ví dụ cụ thể giống mục của mình... Ví dụ như Sư xem cái trường hợp...

Mình nói từng trường hợp thì nó ra, nhưng để ví dụ cụ thể giống mục của mình.

Ví dụ như, sư xem cái trường hợp này: nó có là do thường tận nhiều đời tật, chứ còn tật đố kỵ với Đức Phật, thành ra ý con nói là nhìn thấy sắc pháp, sắc tướng của Đức Phật đã phát sanh sự đố kỵ, thì thành ra sanh cái tâm bất thiện.

À không, không phải vậy. Trường hợp này, cái hình tướng của Đức Phật, tại cái hình tướng đó là tâm tố. Hình tướng diễn ra bằng tâm tố thì cái đó là thiện ký mà trợ bất thiện?

Không phải. Cái đó là vô ký hỗ trợ cho bất thiện. Câu sư nói là vô ký hỗ trợ cho bất thiện. Vô ký hỗ trợ cho bất thiện, tại các tâm quả nó không làm việc tục sinh. Tâm quả siêu thế không làm việc tục sinh, nó không cho quả giống như tâm quả thông thường. Nãy giờ mình ví dụ là tâm quả thông thường thì được, nhưng mà tâm quả như thế nó đâu có làm công việc đó. Nó chỉ sanh khởi trong lộ trình tâm thôi. Nó sẽ sanh khởi trong lộ trình tâm thôi. Đó, nó khác ở chỗ đó, sư.

Thí dụ nãy mình nói đó: thấy người khác khấm khá hơn mình, thì cái khấm khá hơn mình đó là quả của nhân thiện. Cái đó là vô ký được. Vô ký sanh tâm ganh tỵ thì bất thiện sanh khởi. Hoặc là thấy người ta được vậy, mình cố gắng để giấu người ta, thì cái đó cũng là vô ký hỗ trợ cho bất thiện, nhưng mà...

Sanh khởi, nhưng mà ở tâm quả siêu thế thì làm sao tâm quả siêu thế hỗ trợ cho bất thiện sanh được?

Sanh được như vậy đó.

À, sư muốn hỏi thí dụ đó là như vậy đó. Mình đặt cho ra được thí dụ đó.

Vị đó mà có cái đó thì được chứ? Tâm quả ánh sư quản, tâm quả rồi?

Không. Hành động khóc đó không phải là tâm quả. Hành động khóc đó là tâm sân bất thiện.

Bất thiện, ví dụ cái đấy không nhớ.

Sân bất thiện.

Dạ, nhưng mà cái sân thì, bởi vì vị thánh, cái sân của họ sẽ yếu đi, không có như người thường. Tại vì đến tam quả thì mới lại trừ được sân.

Sư bị... Không? Nhưng mà ở trong trường hợp đó, tại sao chứng minh được quả hỗ trợ? Làm sao mà mình chứng minh được tâm quả nó hỗ trợ? Tại tâm quả nó không làm việc tục sinh, tức là tâm quả nó không đưa đến hành động như vậy.

Thấy là tâm trong cái ấy mà mình là tâm quả siêu thế, thì tâm siêu thế đâu có trợ cho tâm bất thiện. Tâm hiệp thế mà bất thiện thế được chưa?

Nghe câu pháp số tám á, con: vô ký trợ thiện, thành ra mới trừ tâm tứ quả. Tại vì còn ở đây là...

Ý sư nói là ở câu chín này, trên mười lăm tâm quả của các bậc thánh, bởi vì có tâm quả nữa, lấy bốn mươi bảy trừ mười lăm, đó phải không?

Đúng rồi.

Nghĩa là những cái tâm siêu thế không có trợ cho bất thiện, thì...

Ờ, sư cũng nhớ vậy mà không biết có phải bị lộn ở câu pháp trước không ta. Nếu mà như vậy thì số mười bảy đó nó trở thành số ba mươi hai. Tại siêu thế nó không có hỗ trợ bất thiện. Hồi nãy mình cũng có nói vậy, nhưng mà...

Vậy thì số 17 đó nó trở thành số 32. Tại siêu thế nó không có hỗ trợ bất thiện. Hồi nãy mình cũng có nói vậy, nhưng mà sao? Để xem lại cái phần này đi, để xem lại đi.

À, nó bị cấn. [tiếng cười] Này, mình tìm thí dụ nó không ra được. Nhiều khi mình soạn lộn bài thôi. Tại... bao nhiêu đây đi ha.

À rồi, nếu thì sao, có gì thì mình sẽ sửa lại phần này, sửa lại chi pháp á, sửa lại chi pháp. À, tìm... tìm hiểu lại. À, tìm hiểu lại rồi...

Thầ bao nhiêu đây chúng ta hướng xa ch ma đế phị ta chăng ra xa đ ปุย อนุโมท จะ พุม thaา đô anัง ปะโย xา na mắ nô an chị răng rิô a ca xà b tha na ปุยัง อนุโม Mô đ chị ra kh tô x.

↑