VDP011: Phân Tích Tâm Thiện Theo Tạp Phần Yếu Hiệp - Sư Tinh Tuệ | Chùa Siêu Lý (20/05/2025)
Nội dung bài giảng
Với lại, dự định lớp học của mình là còn sáu buổi nữa. Sáu buổi nữa thì mình kết thúc khóa học khóa một. Sư tính là, nếu không có gì thay đổi, ngày 20 tháng 6 sư đăng ký tham gia khóa thiền của ngài Kim Triệu.
Cho nên bây giờ lớp học dồn lại, mỗi tuần mình học hai buổi, học ba tuần là kết thúc. Bây giờ ai sắp xếp được thời gian đi học thì chúng ta đi, còn không thì chúng ta nghe lại online, nghe lại trên trang của lớp học.
Tạm thời tuần sau mình sẽ học thứ tư, thứ năm, hai buổi. Thứ tư, thứ năm ai bận thì chúng ta ở lại, nghe ở nhà. Tạm học hai buổi tuần sau, rồi sau đó chúng ta sẽ thông báo tiếp.
Tại lúc đầu mình học thứ ba, thứ tư, nhưng vì thứ ba mình không học được nên chúng ta tạm học thứ tư, thứ năm. Thứ tư, thứ năm, tại mình còn hai phần tâm: mình còn 52 tâm quả với lại 20 tâm tố. Mình cho 52 tâm quả đó là ba buổi, rồi 20 tâm tố ra ba buổi. Tại vừa học phần phối hợp, rồi phần tập phần, thì để nó kết thúc phần tâm hết.
Nếu khai giảng khóa mới thì chúng ta học lộ trình tâm luôn. Học vậy là mình học khá nhanh đó. Tại chúng ta dự định học khoảng bốn khóa. Bốn khóa là chúng ta tập đọc Vi diệu pháp được rồi. Ai muốn nghiên cứu sâu thì tự nghiên cứu thêm. Bốn khóa là mình cũng hơn một năm đó. Học bốn khóa thì mình bắt đầu học lại khóa một. Cái đó là sắp xếp thời gian tối đa cho các học tử, không phải ai cũng có thể có thời giờ để học lâu.
À, quên đọc tài liệu thêm rồi. Sư có cái lớp Đầu Đề đó, chúng ta cũng nên sắp xếp được thời gian thì đi học thêm. Tại chúng ta học xong phần cơ bản này là chúng ta học lớp Đầu Đề đó được.
Xong phần cơ bản này thì học lớp Đầu Đề. Nó là phần đầu tiên ở trong bộ Pháp Tụ. Chúng ta học bài bảy, đó là phân tích tâm thiện theo Tập phần yếu hiệp. Phần này thật ra các học tử thấy mình học từng bài, từng bài như vậy thì thấy tương đối dễ. Chứ phần này là phần khó, nó còn khó hơn cả phần tâm sở phối hợp với tâm. Nhưng vì sư chia ra từng mảnh nhỏ nhỏ để cho các học tử tiếp cận.
Nhiều khi chúng ta nhìn thấy cái này dễ quá. Thật ra nó không có dễ đâu. Phần này là phần khó, nhưng vì mình chia ra từng phần nhỏ nhỏ, cho nên sư thí dụ như các học tử thấy tâm bất thiện trong 14 công việc, tâm bất thiện nó chỉ làm một công việc là công việc đổng lực. Các em thấy dễ quá hả, cái phần này?
Hoặc là hôm nay mình học 37 tâm thiện. 37 tâm thiện, nếu nói về công việc của nó thì cũng chỉ có một công việc duy nhất là công việc đổng lực. Do người ta xé nó ra từng mảnh nhỏ như vậy đó, chúng ta thấy nó dễ. Nhưng nếu kết hợp hết 121 tâm, nói một lần thì chúng ta sẽ thấy nó rối tung lên liền.
Nghĩa là tách ra từng mảnh nhỏ như vậy, mình nắm bắt cho được, để mai mốt đến khi mình ghép lại. Tại đến khi mình đọc sách, không có sách nào trình bày giống cách mình học hết. Sách người ta trình bày nguyên, thí dụ 121 tâm có 14 công việc, nó làm công việc gì, công việc gì. Sách người ta trình bày theo trường hợp, chứ người ta không trình bày theo cách học của mình. Đó, thì chúng ta sẽ thấy nó khó.
Cho nên người ta tách ra từng mảnh nhỏ như vậy để mình làm quen, mình tiếp cận cho dễ. Hôm nay mình học xong bài này nữa thì mình sẽ biết cách tiếp cận bài học rồi.
Hôm nay học xong bài này nữa thì mình sẽ biết cách tiếp cận bài học rồi. Tức là, thứ nhất là phần khái quát; thứ hai là phần sự tương quan giữa tâm và tâm sở; thứ ba là phân tích Tập phần yếu hiệp, tức là sáu phần rời rạc với nhau, người ta gom thành một nhóm, một nhóm một phần đó.
Cứ mỗi một nhóm tâm, mình có ba bài. Ba bài như vậy thì mình có bốn nhóm. Cái này mình đang học là nhóm thứ hai.
Phần này, ở bài số ba, mình đã có nói: Tập phần yếu hiệp là phần tập hợp những nhóm pháp, trình bày các vấn đề rời rạc và phức tạp trong A-tỳ-đàm, có liên quan đến sở hành của tâm và tâm sở.
Phần này lại giống như phần tâm và tâm sở. Mình học để tìm hiểu, sau phần khái quát, người ta nói tâm với tâm sở kết hợp với nhau như thế nào. Tâm sở là nền tảng để mình xem tâm với tâm sở, sau khi kết hợp với nhau, nó làm việc như thế nào.
Phần Tập phần yếu hiệp này là những phần mở rộng cho kiến thức về sau. Thí dụ, mình học về duyên hệ, hoặc trong Đầu-đề thứ ba, Đầu-đề thứ hai gì đó, các phần này đều sẽ được đề cập lại, tại vì nó liên quan đến hành động của tâm và tâm sở.
Rồi, mình có sáu phần. Sáu phần này mình cũng phải nhớ. Tức là phần Thọ yếu hiệp là phần thứ nhất. Phần thứ hai là phần Nhân yếu hiệp. Phần ba là phần Tương ưng yếu hiệp. Phần bốn là phần Môn yếu hiệp. Phần năm là phần Vật yếu hiệp. Phần sáu là phần Cảnh yếu hiệp, ārammaṇa.
Phần Cảnh yếu hiệp thì mình cũng chưa trình bày chi tiết. Mình chỉ mới học sáu cảnh thôi. Thực ra, nếu trình bày chi tiết, nắm rõ thì chúng ta phải trình bày hai mươi mốt cảnh. Thôi, để bài cuối đi. Bài cuối mình sẽ nói một lần về hai mươi mốt cảnh.
Bây giờ thì mình cứ tạm học sáu cảnh đó. Mình làm quen xong rồi qua phần mới luôn.
Phần Thọ, trong ba phần này, là phần dễ nhất. Tại phần Thọ có lợi thế là mình có cái bản nêu của Ngài Hòa thượng Tịnh Sự, tức là có màu, chúng ta dễ nhận biết.
Thọ được trình bày theo hai trường hợp. Nếu mình học trong Đầu-đề thứ ba, cái lớp mà mình đang học đó, thì Thọ được trình bày theo ba trường hợp: thọ lạc sukha vedanā, thọ khổ dukkha vedanā, hoặc thọ phi khổ phi lạc adukkhamasukha. Hoặc ba loại thọ này, nếu trình bày trong Tạng kinh, thì mình cũng có thể gặp là thọ lạc, thọ khổ hoặc thọ xả. Thay vì thọ phi khổ phi lạc thì là thọ xả. Chữ cũng khác nhau.
Còn nếu mình xem trên bảng nêu thì Thọ được trình bày theo năm trường hợp. Đó là thọ khổ dukkha vedanā, thọ lạc sukha vedanā, thọ ưu domanassa, thọ hỷ somanassa và thọ xả.
Năm loại thọ này được trình bày rộng nhất là trong bài kinh Đa thọ, bài kinh số 59 ở trong Kinh Trung bộ, Bāhuvedanīya. Xin nhớ là bài kinh số 59 trong Kinh Trung bộ.
Mình có thể tham khảo thêm ở trong Kinh tạng để đối chiếu, mở rộng kiến thức cho mình. Mục đích của việc học Vi diệu pháp, bên cạnh việc thực tập trong đời sống, quan sát về tâm, thì cũng là để làm rõ trong Kinh tạng những gì chưa nói rõ. Tức là mình đọc mà chưa hiểu rõ thì Vi diệu pháp hỗ trợ cho mình phần đó.
Mà trong kinh tạng, những gì chưa nói rõ, tức là mình đọc mà chưa hiểu rõ, thì quý vị học pháp hỗ trợ cho mình phần đó.
Ví dụ như ở trong kinh tạng mà nói về thọ khổ, hiếm khi mình thấy kinh tạng giải thích thọ khổ ở đây là chỉ cho thân thức thọ khổ. Kinh tạng không có nói như vậy.
Mà nếu có chăng thì chỉ có trong chú giải. Hoặc nếu được học A-tỳ-đàm thì A-tỳ-đàm sẽ giải thích cho mình những phần đó, giúp mình hiểu rõ hơn những gì đã được nói ở trong kinh tạng.
Giống như các bài giảng mấy buổi trước mình nói, tức là trong kinh tạng, Đức Phật chỉ nói những gì vừa đủ cho người nghe. Đối tượng trước mặt Ngài nghe và họ hiểu, chỉ cần họ hiểu xong thì Ngài dừng lại. Tức là Ngài nói bao nhiêu đó đủ để họ nghe, họ chứng đạt được thánh quả thì Ngài dừng lại, chứ không có giải thích cặn kẽ.
Tại nói nữa, đối với họ thì giống như là bài kinh Chuyển Pháp Luân vậy đó. Ngài nói bao nhiêu đó thì năm vị tỳ-kheo, quen gọi là năm anh em Kiều Trần Như, đã chứng đắc được thánh quả. Cho nên Ngài đâu cần nói thêm chi nữa, nói thêm cũng dư.
Nhưng với mình, mình đọc qua bài kinh Chuyển Pháp Luân, nhiều khi mình đâu hiểu. Thậm chí có người đọc xong còn chưa hiểu bài kinh nói về gì nữa.
Ví dụ như khi mình đọc phần trình bày về Tứ đế, không có cách nào mà mình hiểu được Tứ đế được trình bày như thế nào. Tức là trong Tứ đế, mỗi một phần chia ra thành ba trường hợp, thì sẽ có mười hai trường hợp. Mười hai trường hợp đó được chú giải giải thích là trình bày theo ba loại tuệ, tức là bằng ba loại trí: sự thật trí, phận sự trí và tác thành trí.
Những cái đó mình hoàn toàn không hiểu. Nhưng những vị tỳ-kheo nghe trong thời đó thì phải hiểu được những điều đó, họ mới chứng đắc. Tức là cái trí đó phải phát sinh cho họ để họ thấy Tứ đế là như vậy, thì họ mới chứng đắc được thánh quả.
Nhưng mình đâu có hiểu cái đó. Cho nên mới nói là trong Tạng kinh, Đức Phật nói tùy theo đối tượng người nghe, Ngài chỉ nói vừa đủ cho họ. Còn mình thì đâu có hiểu, cho nên mình phải học thêm.
Bây giờ chúng ta xem ở trong A-tỳ-đàm, chúng ta trình bày theo năm loại đi. Trình bày theo năm loại. Cái này vừa nói năm, vừa nói ba.
Bây giờ, trong 37 tâm thiện, nếu mình trình bày theo hai loại thọ thì trong 37 tâm thiện đó có mấy loại thọ? Mình có hai loại thọ, tức là thọ lạc và thọ phi khổ phi lạc.
Nếu trình bày theo ba loại thì 37 tâm thiện có bao nhiêu loại thọ? Có mấy loại thọ?
Ba loại.
Trời ơi, tâm thiện mà cả lớp nhìn sao mà chỉ có mấy loại thọ. Học tâm thiện hết rồi, bây giờ hỏi tâm thiện có mấy loại thọ mà không được nữa.
Tám tâm đại thiện có mấy loại thọ? Hai loại thọ, gì? Thọ hỷ, thọ xả.
Năm tâm thiện sắc giới có mấy loại thọ?
Ba loại thọ. Thọ gì? Thọ hỷ, thọ lạc, thọ xả.
Bốn tâm thiện vô sắc giới có mấy loại thọ?
Có một loại thọ.
Bốn hoặc là hai mươi tâm thiện siêu thế có mấy loại thọ?
Có ba loại thọ.
Hiện, vô sắc giới có mấy loại thọ? Có một loại thọ. Bốn hoặc là 20 tâm thiện siêu thế có mấy loại thọ? Có ba loại thọ: thọ hỷ, thọ lạc, thọ xả.
Như vậy, 37 tâm thiện có mấy loại thọ? Ba loại thọ. Có ba loại thọ. Ba loại thọ này người ta có thể hỏi thêm mình. Thí dụ, trong thọ lạc thì nó có gì? Trong thọ lạc ở đây nó chỉ có gì? Thọ lạc mà nằm ở trong tứ thiền. Cái nút đỏ đỏ này không phải thọ hỷ đâu. Nút đỏ đỏ này là thọ lạc. Còn ba cái nút đầu thì nó mới là thọ hỷ.
Để ý cái chữ này: thọ lạc này là thuộc về tâm. Còn nếu mình nói chung, ở trên mình còn có thân thức thọ lạc. Thân thức thọ lạc ở đây nó thuộc về thân, đó là cảm thọ thuộc về thân. Để ý cái đó.
Rồi, như vậy, 37 tâm thiện, nếu mình nói theo thọ, nói theo năm thọ, thì có ba loại, tức là thọ lạc, thọ hỷ và thọ xả. Còn nếu nói theo ba loại thọ thì nó có hai, đó là thọ lạc và thọ phi khổ phi lạc. Cái đó tự ghi nha, dễ quá rồi, sư đâu ghi cho. Mình tự ghi chú thêm.
Rồi, bây giờ phân tích theo nhân. Nhân thì hôm trước mình có sáu nhân, tức là nhân tham, nhân sân, nhân si. Ba nhân này hôm trước là thuộc về nhân gì? Nhân bất thiện. Thì hôm nay mình học về tâm thiện, mình chỉ nói tâm thiện, nhân thiện thôi. Đó là nhân vô tham, nhân vô sân, nhân vô si. Đây là ba nhân thiện.
Ba nhân thiện này nó nằm ở đâu? Trên bảng nêu, vô tham nằm ở đâu? Tín, niệm, tàm, quý, vô tham. Ở đây là nhân vô tham. Rồi nhân vô sân: tín, niệm, tàm, quý, vô tham, vô sân. Đó là nhân vô sân ở đây.
Rồi còn nhân trí tuệ, nhân vô si là ở đâu? Tâm sở trí tuệ. Cái đó chi pháp của nó rồi.
Như vậy thì 37 tâm thiện có mấy nhân? Ba nhân. Ba nhân tức là tương ưng với ba nhân. 37 tâm thiện tương ưng với ba nhân, đó là nhân vô tham, nhân vô sân, nhân vô si. Nhưng không phải trong tâm thiện nào nó cũng tương ưng với ba nhân.
Thí dụ như các tâm thiện mà ly trí, bốn tâm đại thiện ly trí, thì nó tương ưng với mấy nhân? Hai. Nó chỉ tương ưng với hai nhân thôi, đó là nhân vô tham và nhân vô sân.
Thí dụ tâm thiện sắc giới thì tương ưng với mấy nhân? Ba nhân. Trong tâm thiền thì lúc nào nó cũng tương ưng với ba nhân. Tại trong thiền lúc nào nó cũng phải có trí. Cho nên nó phải là ba nhân đó.
Rồi, vậy là được rồi. 37 tâm thiện thì tương ưng với ba nhân. Đó là mình nói tổng quát. Còn nói chi tiết ra thì các tâm thiện nào ly trí, nó tương ưng với hai nhân; còn tâm thiện hợp trí thì tương ưng với ba nhân.
Cái bài này, khi học Duyên hệ, là bài đầu tiên trong Duyên hệ, tức là bài nhân duyên, thì người ta sẽ nói về cái này. Còn nếu mình học ở trong A-tỳ-đàm thì nó cũng là đề mục đầu tiên, đó là nhị đề nhân. Cho nên phải nắm cái này.
Rồi, phần sự. Phần sự thì 14 sự. Bốn sự này hôm trước mình cũng đã nói sơ qua rồi. Tức là khai môn, là làm việc mở cửa. Sự ở đây chúng ta hiểu là công việc, công việc của tâm. Tâm nó có 14 công việc. Đó là khai môn, tức là mở cửa, gồm có lộ ngũ môn, ý môn. Có hai trường hợp. Rồi sự thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng, tiếp thâu, quan sát, xác định. Đó là mỗi công việc của tâm.
14 trường hợp: sự thấy, sự nghe, ngửi, nếm, đụng, tiếp thâu, quan sát, xác định. Đó là mỗi công việc của tâm. Rồi động lực, na cảnh, tục sinh, hộ kiếp và chết, tức là suy tử. Đó là trong tất cả các tâm, mình nói chung lại thì nó có 14 công việc như thế này.
Thật ra, mỗi một tâm có một công việc khác nhau. Thí dụ như sau này, bài sau chúng ta sẽ học về các tâm quả, thì có hai tâm nhãn thức. Hai tâm nhãn thức chỉ có một công việc duy nhất, đó là làm việc thấy, ngoài ra không làm công việc gì khác.
Hoặc hôm trước chúng ta nói về động lực, thì 12 tâm bất thiện chỉ có một công việc duy nhất, đó là công việc động lực. Động lực của 12 tâm bất thiện là xử lý cảnh, tích lũy nghiệp để đưa đến quả tái sinh ở đời sau hoặc cho quả ở những đời sau đó.
Bữa nay mình học về 17 tâm thiện. 17 tâm thiện cũng chỉ có một công việc, đó là công việc động lực. Nó cũng xử lý cảnh. Đối với tâm thiện dục giới, tức là tám tâm đại thiện; năm tâm thiện sắc giới; bốn tâm thiện vô sắc giới, nó tích lũy nghiệp và cho quả, đưa đến sự tái sinh ở đời sau hoặc cho quả ở những đời sau.
Thí dụ như khi mình tạo thiện nghiệp, như bố thí, thì sau khi chết, quả thiện nghiệp đó cho quả, đưa mình tái sinh làm người, sinh ra trong gia đình giàu có chẳng hạn. Ví dụ vậy. Rồi những kiếp sau nữa, do nhân bố thí đó, khi có điều kiện cho quả thì nó giúp mình thành tựu về mặt tài sản.
Còn động lực của tâm thiện trong tâm thiền thì nó chỉ cho quả lạc. Tức là nếu hành giả chứng đắc được thiền, sau khi chết, tâm thiền đó tạo ra tâm quả đưa đến cảnh giới tái sinh. Ví dụ chứng thiền ở bậc nào thì sinh về cõi đó. Sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, ngũ thiền gì đó thì sẽ sinh về cõi tương xứng. Phần đó, đến khi mình học về các cõi thì mình sẽ nói chi tiết hơn.
Sắc giới và vô sắc giới giống nhau, tức là cho quả cũng vậy, chỉ cho quả một lần. Cho nên hành giả khi tu tập, chứng đắc được thiền rồi sinh về cõi thiền, mà về đó chỉ hưởng thụ pháp thiền thôi, không tu tập lại, thì sau đời sống đó họ sẽ tái sinh trở lại. Với phước còn sót lại, có thể tái sinh làm người hoặc vào cõi trời thấp hơn, chứ không được sinh về cõi thiền nữa. Tức là chỉ hưởng được một kiếp đó thôi.
Nhưng thường, ví dụ hành giả từ trên cõi thiền xuống thì phước của họ cũng hơn người thông thường mình. Cho nên mình thấy người nào trí tuệ khá, học giỏi rồi các thứ, chúng ta thường nói: “Này là ở trên xuống.” Cái đó thật sự là vậy. Tại vì chúng sinh ở cõi trên xuống thì phước của họ còn nhiều hơn mình. Mặc dù không đủ để sinh về cõi trời, nhưng khi về cõi người thì họ hơn mình.
Tương tự, nếu chúng sinh ở cõi khổ lên thì mình cũng dễ nhận biết, tức là cái gì cũng dở, cái gì cũng yếu. Đó là cái phước của thiền. Quả của tâm thiền chỉ cho quả một lần.
Còn ở tâm đại thiện thì cho nhiều lần. Tức là nếu cho quả tái sinh ở cõi người, rồi những kiếp sau đó, nếu tâm đó không cho quả nhưng có điều kiện thì nó cho lại kết quả khác.
Ở cõi người rồi những kiếp sau đó, nếu tâm đó không cho quả nhưng có điều kiện thì nó cho lại cái kết quả khác. Thí dụ như là nó đưa đến tái sanh, nhưng khi mình tái sanh rồi, nếu nhân bố thí có điều kiện cho quả thì do thành tựu được về mặt tài sản.
Tức là tâm thiện ở lĩnh vực dục giới, tâm thiện và bất thiện ở lĩnh vực dục giới, nó cho quả cho đến khi nào mình kết thúc đời sống luân hồi thôi.
Giống như trường hợp của ngài Mục Kiền Liên, trong chú giải nói là 91 kiếp trái đất về trước, ngài đã từng giết cha mẹ mình. Do cái nhân đó, khi có điều kiện cho quả thì ngài cứ bị người ta giết. Mãi cho đến thời Đức Phật, ngài đã thành bậc thánh A-la-hán, đệ nhất về mặt thần thông, nhưng khi cái quả đó theo kịp thì nó vẫn cho quả.
Đó là cái đáng sợ về quả của nhân thiện với bất thiện ở lĩnh vực dục giới. Tức là làm một lần thôi, nó theo mình hoài mãi vậy đó. Nó không giống như ở lĩnh vực thiền.
Cách cho quả của tâm đại thiện, tâm thiện sắc giới và tâm thiện vô sắc giới như vậy, người ta gọi đó là dị thời nghiệp duyên. Tức là làm thiện hoặc bất thiện ở trong lúc này, nhưng sau đó nó mới cho quả; dị thời tức là cho quả khác thời gian, cho quả ở kiếp sau.
Nhưng trong phần này, mình còn có tâm thiện siêu thế. Tâm thiện siêu thế hay là tâm đạo cũng làm việc đổng lực, nhưng tâm thiện siêu thế không cho quả ở kiếp sau, nên không gọi là dị thời nghiệp duyên. Nó cho quả sau đó, hỗ trợ cho tâm quả sanh lập tức ngay sau khi tâm đạo sanh khởi, người ta gọi đó là vô gián nghiệp duyên, tức là cho quả không gián đoạn.
Phần học về tâm quả, bài sau mình nói thêm một chút. Đó là thuật ngữ chuyên môn; khi mình học cao hơn thì người ta sẽ sử dụng những từ đó.
Bây giờ, để phần tâm quả đi, chúng ta sẽ nói thêm một chút về phần cho quả đó. Ở đây, mình chỉ cần nắm được đó là 37 tâm thiện, nó chỉ làm việc một công việc duy nhất là làm việc đổng lực. Đối với lĩnh vực dục giới, sắc giới và vô sắc giới, đổng lực ở đây tức là sự lý cảnh, tích lũy nghiệp để đưa đến sự tái sanh ở đời sau.
Còn đối với lĩnh vực siêu thế thì nó không tích lũy nghiệp để tái sanh ở đời sau, mà nó chỉ hỗ trợ tâm đạo, hỗ trợ cho tâm quả bằng vô gián nghiệp duyên.
Phân tích tâm thiện theo môn yếu hiệp. Môn hôm trước là cái gì? Môn là cái cửa, tức là cái cửa để cảnh đi vào và tâm sanh lên bắt lấy cảnh đó.
Giống hôm trước mình thí dụ, giống như cái máy ảnh. Để nó chụp ảnh được thì cảnh sắc đó phải lọt vào trong vòng của cái ống kính. Lúc đó người ta chụp thì người ta mới lấy được hình ảnh đó.
Tâm nhãn thức muốn sanh khởi được thì đòi hỏi cảnh sắc phải đi vào sắc thần kinh nhãn; lúc bấy giờ nhãn thức mới sanh khởi được. Bài sau mình cũng có phần chuyên về cái đó, tại vì nó liên quan tới tâm quả.
Ở đây, mình chỉ nắm được chữ môn, tức là làm việc mở cửa để cho cảnh hiện vào và tâm nắm bắt cảnh đó sanh lên. Mình có nhãn môn, nhĩ môn, tỷ môn, thiệt môn, thân môn và ý môn, tức là có sáu môn.
Bắt cảnh đó sinh lên. Mình có nhãn môn, nhĩ môn, tỷ môn, thiệt môn, thân môn và ý môn, tức là mình có sáu môn.
Trong sáu môn này, tâm đại thiện và các tâm sở đồng sinh với nó nương sinh qua sáu môn. Tại sao tâm đại thiện nương sinh qua sáu môn? Hôm trước mình học, tâm thiện còn gọi là tâm đại thiện vì nó nương sinh được ở tất cả các môn.
Thí dụ, nó nương sinh ở lộ nhãn môn. Khi mắt thấy cảnh sắc, tâm tiếp thâu từ khai ý môn, khai ngũ môn, sau đó là tâm tiếp thâu, tâm quan sát, tâm xác định, rồi đến tâm na cảnh, tâm động lực. Lúc đó, tâm động lực là tâm đại thiện. Tức là thông qua tâm nhãn thức, nó biết được cảnh sắc, cho nên nó nương sinh ở nhãn môn.
Tương tự đối với nghe, ngửi, nếm, đụng, rồi đến suy nghĩ. Suy nghĩ thì đôi khi là suy nghĩ bất thiện, nhưng đôi khi cũng suy nghĩ thiện. Thí dụ, thấy hình ảnh Đức Phật, tâm suy nghĩ thiện, thấy được sự trang nghiêm, được trang trí đẹp đẽ. Lúc đó, tâm mình suy nghĩ thiện, và sự suy nghĩ đó nương sinh qua ý môn.
Cho nên, tám tâm đại thiện sinh khởi đủ sáu môn, tức là thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng và suy nghĩ đều có tám tâm đại thiện sinh khởi.
Nhóm thứ hai là nhóm tâm thiện sắc giới, tâm thiện vô sắc giới và tâm thiện siêu thế. Nhóm tâm này thuộc về thiền, cho nên nó chỉ sinh khởi ở ý môn.
Thí dụ, lúc các Phật tử tập thiền, mình tập thiền đề mục xanh, vàng, đỏ, trắng. Muốn có màu đỏ chẳng hạn, chúng ta làm đề mục bằng giấy, hoặc dùng một màu sắc nào đó, rồi ngồi quan sát và thực tập thiền. Cái đó gọi là thiền chỉ. Nhưng đó mới là ban đầu, mình còn nhờ cảnh bên ngoài.
Khi hành giả thuần thục rồi thì không cần thấy cảnh đó nữa, chỉ cần tâm suy nghĩ là cảnh đó lập tức hiện ra. Đến khi hành giả chứng đắc thiền, chỉ cần tâm khởi lên thì cảnh đó lập tức hiện ra. Khi cảnh hiện ra thì nó hiện ra ở lộ ý môn, chứ không liên quan đến nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân nữa.
Cho nên, các tâm thiền sắc giới, vô sắc giới hay tâm siêu thế chỉ sinh khởi ở lộ ý môn. Đó là lý do tại sao tâm đại thiện sinh khởi ở sáu môn, còn các tâm thiền hay tâm đạo chỉ sinh khởi ở lộ ý môn.
Môn và vật khác nhau. Môn là cửa, còn vật là chỗ nương. Mình cũng có sáu vật, tức là nhãn vật, nhĩ vật, tỷ vật, thiệt vật, thân vật và ý vật.
Trong 37 tâm thiện, đối với năm tâm thiện sắc giới và năm tâm sơ đạo cùng với các tâm sở đồng sinh với nó, thì nương ý vật nhất định. Tâm nào nương ý vật nhất định thì tâm đó chỉ sinh khởi ở đâu? Ý môn. Sinh khởi ở ý môn cũng chưa hẳn. Tâm nào nương ý vật nhất định, nếu nói về cõi, thì tâm đó chỉ sinh ở cõi nào?
Ở cõi nào? Vô sắc là sao, có ý vật không? Vô sắc có ý vật. Ý vật đó là sắc ý vật. Ý vật là sắc ý vật.
Ở cõi nào hả? Ở cõi nào? Vô sắc là sao, có ý vật? Vô sắc thì không có ý vật. Tại ý vật đó là sắc. Ý vật là chi pháp sắc, là thành phần vật chất, cho nên nó không thể có mặt ở cõi vô sắc.
Cho nên tâm nào mà nương ý vật nhất định thì tâm đó chỉ sinh ở các cõi ngũ uẩn. Cõi sắc giới cũng không có được, tại cõi sắc giới vô tưởng thì cũng đâu có tâm. Cõi sắc giới hữu tưởng thì có.
Nói theo uẩn thì đúng hơn. Cõi ngũ uẩn, trừ cõi vô tưởng và bốn cõi vô sắc. Trong 31 cõi, mình trừ ra bốn cõi vô sắc và một cõi vô tưởng, còn lại 26 cõi. 26 cõi đó, nếu tâm nương ý vật nhất định.
Còn ở đây, năm tâm thiện sắc giới thì nếu có mặt, nó có mặt ở đâu? Ở cõi người. Năm tâm thiện sắc giới, thí dụ người mà tu tập chứng đắc được thiền định thì năm tâm này chứng đắc ngũ thiền. Hoặc ở cõi chư thiên cũng có. Chư thiên họ cũng có thể chứng đắc được thiền định. Nó chỉ trừ bốn cõi khổ với cõi vô sắc.
Rồi tâm sơ đạo, tức là sơ đạo, không có mặt ở cõi vô sắc, nhưng sơ quả thì có. Thí dụ như hành giả tu tập chứng đắc được sơ đạo, chứng sơ quả rồi, sau đó chứng đắc được thiền và sinh về cõi vô sắc thì được. Nhưng nếu hành giả chưa chứng đắc được đạo quả thì ở cõi vô sắc, hành giả không thể nào chứng đắc được sơ đạo.
Cho nên sơ đạo thì không có ở cõi vô sắc. Bởi vì nó không có ở cõi vô sắc, cho nên nếu nó có mặt thì nó chắc chắn nương ý vật. Nó chỉ có mặt ở cõi ngũ uẩn. Cõi ngũ uẩn cụ thể ở đây là cõi người và các cõi trời sắc giới, ngoài năm cõi Tịnh cư. Năm tâm thiện sắc giới với tâm sơ đạo nương ý vật nhất định. Đó là vì nó không xuất hiện ở cõi vô sắc với cõi vô tưởng.
Bây giờ các tâm thiện còn lại thì mình còn lại là bốn tâm thiện vô sắc, tâm nhị đạo, tâm tam đạo, tâm tứ đạo. Ở đây mình liệt kê như vậy thì chúng ta phải hiểu tâm đạo ở đây là tâm gì? Tâm thiện siêu thế. Tại mình đang liệt kê tâm thiện, tự nhiên liệt kê tâm đạo, thì phải hiểu nó là tâm thiện siêu thế.
Tức là mình có tám tâm đại thiện, bốn tâm thiện vô sắc giới, tâm nhị đạo, tâm tam đạo, tâm tứ đạo, cùng với các tâm sở đồng sanh, nương ý vật bất định.
Nương ý vật bất định là sao? Tức là khi nó sinh ở cõi ngũ uẩn thì nó nương ý vật. Nhưng nếu nó sinh ra ở cõi vô sắc, tại cõi vô sắc không có ý vật, thì lúc đó nó không có nương. Khi nương, khi không nương, người ta gọi nó là nương ý vật bất định.
Còn ở phần trên, năm tâm thiện sắc giới với tâm sơ đạo, nó không sinh thì thôi; còn sinh thì lúc nào nó cũng bắt buộc phải nương ý vật. Cho nên người ta gọi nó là nương ý vật nhất định.
Nếu nó không sinh thì thôi. Còn sinh thì sao? Lúc nào nó bắt buộc phải nương ý vật. Cho nên người ta gọi nó là nhất định. Đó là cái chữ “nhất định và bất định”.
Nói lại cái chữ này một chút. Tám tâm đại thiện cùng với các tâm sở đồng sinh nương sáu môn. Năm tâm thiện sắc giới, bốn tâm thiện vô sắc giới và hai mươi tâm thiền siêu thế cùng các tâm sở đồng sinh nhất định nương ý môn.
Như vậy, nhóm pháp ở dưới, tức là tâm sắc giới, tâm vô sắc giới với tâm siêu thế, thì nhất định nương ý môn. Nhưng ở trên, người ta không nói gì hết, tức là tám tâm đại thiện cùng với các tâm sở đồng sinh với nó nương sáu môn. Nó chỉ nương sáu môn thôi.
Nếu mình muốn dùng “nhất định và bất định” thì mình phải nói đó là nương sáu môn, phải nói từng cái. Thí dụ như nó nương nhãn môn bất định. Tại sao nương nhãn môn bất định? Tại vì nó vừa nương nhãn môn, mà nếu trường hợp là nhĩ môn thì nó cũng nương nhĩ môn; tỷ môn thì nó cũng nương tỷ môn. Và nếu ý môn cần thì nó cũng nương ý môn.
Nếu mình muốn nói nó là bất định thì mình phải nói từng trường hợp ra. Cái này, khi chúng ta đọc tài liệu, người ta cũng có thể liệt kê cho mình bằng cách đó. Tức là ở đây mình không thấy nói bất định hay nhất định, tại mình nói chung. Còn nếu mình nói từng trường hợp ra, thí dụ như tám tâm đại thiện thì nương nhãn môn bất định. Lý do là sao? Tại vì nó vừa nương nhãn môn, mà nó cũng vừa nương tỷ môn, thiệt môn, thân môn, ý môn các thứ. Tức là vừa cái này vừa cái kia, đôi khi nương môn này, đôi khi nương môn kia. Cho nên người ta gọi nó là bất định.
Còn nhóm ở phần dưới, hồi nãy mình đã nói rồi, vì nó đã cố định, thì đó là phần môn với vật. Phần môn với vật liên quan đến nương nhất định và bất định.
Rồi phần cảnh. Phần cảnh thì tạm mình sẽ học sáu cảnh, đó là cảnh sắc, cảnh thinh, cảnh khí, cảnh vị, cảnh xúc, cảnh pháp.
Tám tâm đại thiện thì nó cũng biết đủ sáu cảnh. Cùng với các tâm sở đồng sinh với nó, nó cũng biết đủ cả sáu cảnh. Cái này là cái đặc biệt của tâm đại thiện, tức là lúc nào nó cũng nhiều hơn các tâm thiện còn lại.
Còn năm tâm thiện sắc giới, bốn tâm thiền vô sắc giới và hai mươi tâm thiền siêu thế cùng với các tâm sở đồng sinh thì nó chỉ biết được cảnh pháp. Tức là trong sáu cảnh, các tâm này chỉ biết được cảnh pháp.
Giờ mình đặt trường hợp đó là tại sao tám tâm đại thiện mà nó biết được sáu cảnh. Thí dụ như khi mắt thấy cảnh sắc, chúng ta sẽ thấy là đến khi học tiến trình tâm, chúng ta sẽ thấy nó có tiếp thâu, quan sát, xác định, sau đó là tâm đổng lực.
Tâm đổng lực đó, thí dụ như thấy hình ảnh Đức Phật, mà thấy hình ảnh Đức Phật thì lúc đó tâm đổng lực thiện sẽ sinh khởi. Tâm đổng lực thiện sinh khởi, từ trường hợp đó cho thấy tâm đại thiện biết được cảnh sắc thông qua lộ nhãn môn, tức là thông qua con mắt.
Tương tự đối với nghe, ngửi, nếm, đụng. Nghe, ngửi, nếm, đụng, tức là quá trình đó nó ở trong hiện tại, chứ nó chưa qua giai đoạn suy nghĩ.
Thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng. Đấy, nghe, ngửi, nếm, đụng tức là quá trình đó nó ở trong hiện tại, chứ nó chưa qua giai đoạn suy nghĩ.
Tại khi mà nó qua giai đoạn suy nghĩ là sao? Suy nghĩ là lúc đó nó đã lộ ý rồi. Tức là trong lộ ngũ môn, tâm đại thiện, trong sát-na tâm đổng lực đó thì tâm đại thiện đã xuất hiện.
Còn đến khi mình suy nghĩ thì cái đó chuyển từ lộ ngũ môn sang lộ ý môn. Rồi ở đây mình chỉ nói là trong trường hợp nó thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng và tâm đại thiện này biết được các cảnh đó.
Tương tự, từ thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng đó rồi nó được tiếp nối bởi suy nghĩ. Nếu mà suy nghĩ thì nó biết thêm được cảnh pháp. Cảnh pháp thì đó là đối với tâm đại thiện mà nó biết được sáu cảnh.
Còn với tâm thiện sắc giới hoặc là vô sắc giới, hay là với tâm siêu thế, ví dụ như với tâm thiền sắc giới mà mình nói lúc nãy, tức là ở tâm thiền sắc giới, khi hành giả tu tập mà đề mục được thuần thục, chứng đắc thiền, mà tâm thiền đó sanh khởi, thì lúc bây giờ đề mục đó là cảnh pháp. Tức là nó đã hiện ở trong tâm, chứ nó không còn bên ngoài nữa.
Lúc mà hiện bên ngoài thì lúc đó là do mắt thấy. Do mắt thấy thì cái đó là cảnh sắc. Nhưng mà đến khi hành giả tu tập, đến khi chứng đắc được thiền rồi thì đề mục nó hiện ở trong tâm. Vì hiện ở trong tâm, cho nên ở tâm thiền hay là ở trong tâm siêu thế cũng vậy.
Tức là ở trong lộ trình tâm mà hành giả tu tập thiền Vipassana, thấy được sự vô thường, khổ, vô ngã, tức là thấy bên trong nội tâm diễn ra trong lộ ý môn, chứ không phải là thấy bằng con mắt.
Cho nên mới nói là, thí dụ mình đọc ở trong kinh, mình thấy khi vị tỳ-kheo quan sát, ví dụ cái câu chuyện mình hay kể đó là vị tỳ-kheo đệ tử của Ngài Xá Lợi Phất, mà Đức Phật cho quan sát cái hoa sen, xong vị đó chứng đắc được thánh quả.
Hoặc là trong Chú giải Pháp Cú kể lại nàng Patacara, lúc mà nàng thắp đèn, ánh sáng của ngọn đèn do gió thổi cứ ngả qua ngả lại, lúc sáng lúc mờ, leo lét. Từ đó, cô quan sát ngọn đèn đó mà chứng đắc được thánh quả.
Hoặc là hình ảnh lá rơi, hình ảnh lá cây, có màu vàng với màu xanh, người ta so sánh và thấy nó là vô thường. Tức là từ trên cây, chiếc lá màu vàng rơi xuống, người ta thấy đó là sự vô thường. Ở trong kinh nói như vậy.
Nhưng mà thật chất, sự vô thường để thấy được và chứng đắc đạo quả đó là hình ảnh để so sánh, để hành giả quan sát lại ở trong cái thân này, thấy nó là vô thường, khổ, vô ngã. Tức là bằng cái tâm thấy được. Lúc đó nó sẽ di chuyển qua lộ ý môn, rồi lúc đó tâm đạo mới sanh khởi, mình gọi nó là tâm thiện siêu thế. Lúc đó hành giả mới chứng đắc được thánh quả.
Tức là lấy hình ảnh bên ngoài để so sánh lại với hình ảnh bên trong, với thân năm uẩn đang diễn ra ở bên trong, thông qua ý môn, thông qua cảnh pháp mà hành giả chứng đắc được thánh quả.
Cho nên cái hình ảnh mà các Phật tử thấy là lá rơi, mình nói vô thường. Thật ra mình nói đó chỉ nói trên gì? Tức là trên trí văn với trí tư thôi, chứ hoàn toàn mình chưa thấy được cái gì là vô thường.
Tức là chỉ nói trên trí văn với trí tư thôi, hoàn toàn mình chưa thấy gì là vô thường. Chứ nếu mà thấy là vô thường thì sao? Lúc đó thay đổi dữ lắm.
Trí tư thôi hoàn toàn mình chưa có thấy gì, nó là vô thường. Chứ nếu mà thấy là vô thường là sao? Lúc đó thay đổi dữ lắm. Thấy thật sự cái đó là vô thường thì thay đổi lắm. Tại cái đó đã rơi vào trường hợp là một trong 16 tuệ minh sát. Nó đạt được tuệ minh sát rồi, trong thiền quán gọi là sammāsana lakkhaṇa, tức là tuệ thấy được tam tướng của pháp hữu vi.
Thường nếu đạt được tuệ đó rồi thì hành giả sẽ tiến dần, tiến dần cho đến cuối cùng chứng đắc được thánh quả. Còn nếu chưa đủ thì cũng đến gần. Lúc đó cái tâm nó mạnh. Còn mình nói trên trí văn và trí tư, cái suy nghĩ của mình thôi, đó là cảnh.
Vậy chỉ có bao nhiêu đó hả? Bài học này ngắn quá hả? Tại vì mình đọc hơi lướt đi. Lớp có gì thắc mắc bài này không? Bữa nay còn thời gian, bữa nay cho hỏi. Có thắc mắc gì không? Nếu thấy bài này dễ thì kỳ sau mình sẽ gom lại, học nhiều thêm một chút.
Thật ra, nếu ai đó đã nắm được bài đầu thì bài này, đầu tiên, nó khó ở chỗ chúng ta phải nhớ rất nhiều chi pháp. Mình phải nhớ gì? Nhớ thọ: năm loại thọ, ba loại thọ, hoặc là năm loại thọ, đó là cái mình cần nhớ. Thứ hai là nhân, mình có sáu nhân tương ưng. Cái thứ ba là gì? Sự, mình phải nhớ 14 sự, phải nhớ 14 sự đó. Rồi tiếp theo, mình phải nhớ sáu môn, sáu vật, sáu cảnh. Tức là mình phải nhớ rất nhiều.
Bây giờ tại mình nhìn trên bảng thì nhớ dễ quá. Để kỳ sau, nếu có bài kiểm tra, kỳ này trong bài sư cũng có cho vài câu để thử xem mình có làm được hay không. Kỳ sau mình sẽ nâng cái level lên một chút, để xem mình có làm được như thế nào. Kỳ sau mình sẽ nâng lên một chút, liên quan đến cái này.
Thật ra các Phật tử thấy sư giảng thì thấy: “Ồ, cái này dễ quá!” Mà sao sư nói khó, thấy dễ quá? Ví dụ 14 sự, cái này đâu có gì, chỉ cần nhớ là 37 tâm bất thiện làm việc đổng lực là xong. Còn nói về sáu môn, 37 tâm thiện, nếu nói chung lại thì nó cũng nương sinh qua sáu môn. Sáu vật thì mình thấy 37 tâm đại thiện cũng nương qua sáu vật rồi. Sáu cảnh thì 37 tâm bậc bất thiện cũng biết được sáu cảnh.
Tại sao nó dễ quá? Là vì mình đang nói chung chung. Cho nên mình phải xem lại. Trước tiên là phải nhớ hết các chi pháp đó, rồi sau đó mới nói ra chi tiết.
Thí dụ nãy mình nói về môn đó, tám tâm đại thiện với các tâm sở đồng sinh, nó nương sinh qua sáu môn, nhưng chưa nói nhất định và bất định. Bây giờ mình phải tự suy nghĩ: Tại sao phần năm tâm thiện sắc giới, bốn tâm thiện vô sắc giới, 20 tâm thiện siêu thế lại nói là nương ý môn nhất định, mà ở trên không nói nhất định, bất định? Mình phải tự đặt vấn đề ra, rồi tìm hiểu. Mình thấy là vì người ta nói chung, cho nên không nói được.
Nhưng bây giờ nếu chia ra thì tám tâm đại thiện nương nhãn môn chỉ nương nhãn môn bất định. Lý do tại sao nương nhãn môn bất định? Vì khi nó nương nhãn môn, khi nó nương nhĩ môn, khi nó nương tỷ môn, thì nó sẽ ra nhất định và bất định. Phải xem lại những cái đó.
Tức là phân ra từng trường hợp nhỏ, nhỏ, nhỏ như vậy. Thật ra nó khó là khi mình phân ra từng trường hợp nhỏ như vậy.
Từng trường hợp nhỏ nhỏ ra. Thật ra, nó khó là khi mình phân ra từng trường hợp nhỏ như vậy. Ông thử về xem, phần tài liệu mà người ta trình bày về Vi Diệu Pháp, chúng ta thấy rối tung lên chứ không phải đơn giản.
Nhưng mà mình học ở đây, mình thấy xé nhỏ vậy thì thấy dễ. Thật ra, nó không có dễ. Bây giờ, nếu không có thắc mắc gì thì mình đọc bài một tí đi. Đọc bài một tí, rồi mình sẽ làm bài kiểm tra. Làm bài kiểm tra sớm một tí, rồi kỳ sau chúng ta coi như thầy giảng, nghỉ sớm một tí. Kỳ sau mình học hai buổi học bù.
Tạp phần yếu hiệp, tạp phần yếu hiệp, có kinh, có xăng, ngã, hát bất kinh, có xăng, ngã, hát thọ.
Thọ yếu hiệp, thọ yếu hiệp, đ na xăng á hát quê đ na sá há. Nhân yếu hiệp, nhân yếu hiệp, hê tú sng ngá há, hê tú sng há. Sở yếu hiệp, sở yếu hiệp, kí chá sá há, chá sngá há. Môn yếu hiệp, môn yếu hiệp, ha ra xăng á há, ra sng á há. Vật yếu hiệp, vật yếu hiệp, quá thu sá há, quá thú sng há. Cảnh yếu hiệp, cảnh yếu hiệp, a ram sá há, a rá sng g hát. Thọ yếu hiệp, thọ yếu hiệp.
Xin lỗi. Thọ hỷ, thọ hỷ, xá sa. Thọ phi khổ phi lạc, a đúc khúc khá hyệt na. Thọ phi khổ phi lạc, a sự khai môn, a chí chá. Sự khai môn, a chí chá. Sự tiếp thâu, sam tiếp thâu.
Thọ Phật trả giá giả giả ý vật ha. Đ giáo bá thú ý vật hai. Đ giáo bát thú thiệt vật chi hoa, hào bá thú. Thiệt vật chi hoa hú. Cảnh xúc phố tháp ra, cảnh xúc phố tháp ra. Nhãn môn chắc khú đa rá, nhãn môn chắc khú đa rá. Sự quan sát sanh ti, sự quan sát sanh ti. Sự na cảnh ta đà l, k na cảnh ta đa l k. Tương ưng nhân hê tú sam t, tương ưng nhân hú s tá. Nhân vô tham a lô phá hê t, nhân vô tham a lô phá hê t.
Đọc cái này lát không biết có bị lộ đề kiểm tra không nữa chứ. Mời lớp đọc lại.
Tập phần yếu hiệp, tập phần yếu hiệp.
Thọ yếu hiệp, quê đ sanh gá hát. Nhân hiệp, thê tú sanh gá hát. Sự yếu hiệp, ra sanh giá hát. Môn yếu hiệp, ra sanh giá hát. Vật yếu hiệp, thú sanh ra hát. Cảnh yếu hiệp, a ma ha sanh ra há.
Họ xô đ th ai xê sự m a cha. Sự thâu sĩ cha đã phn thú thì Phật chỉ là đối cảnh xúc của nhãn môn. Chá thúa bát. Sự quan sát san đán kiếp trá. Sự ngà cảnh đà làm bá kiếp trá. Tương ưng nhân hề thú sanh phá dua. Nhân vô thà a lô phá thê cú.
Rồi, bây giờ lớp làm bài ha. Lớp lên hỗ trợ phát bài.