VDP010: Sự Tương Quan Giữa Tâm Thiện Với Tâm Sở (T/T) - Sư Tinh Tuệ (06/05/2025)
Nội dung bài giảng
Ngăn ngừa hoặc là kiêng tránh, tự mình kiêng tránh đó. Mặc dù họ không nói là thọ trì gì hết, thì có bản dịch là “ngăn trừ phần”. Chữ đó hơi xa với mình, không có gần gũi. Còn nói “giới phần” thì ai cũng biết, tại nó liên quan tới chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng.
Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng này nó nằm ở đâu? Nằm trong Bát Chánh Đạo. Mình nói vậy là mọi người đều biết hết. Nhưng mà thấy ở đâu? Thấy chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng được gọi là giới phần, nằm ở trong Bát Chánh Đạo. Thế ở đâu nói đó? Khi nói thì người ta hỏi, không biết ở đâu hết.
Kinh Chuyển Pháp Luân đâu có nói là trong Bát Chánh Đạo có giới phần, định phần, tuệ phần đâu. Nói chung là trong kinh mà đề cập đến Bát Chánh Đạo thì rất là nhiều. Nhưng mà mình, thí dụ trong Bát Chánh Đạo, chia ra đó là chánh kiến, chánh tư duy thuộc về trí tuệ; chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng thuộc về giới; chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định thuộc về định. Đó là mình được nghe giảng giống vậy.
Nhưng bây giờ người ta hỏi mình: “Ở đâu đề cập?”. Ở đâu đề cập? Thanh tịnh đạo cũng không có nói rõ. Thanh tịnh đạo chỉ nói chung lại là giới, định, tuệ thôi.
Thì ở đây, chúng ta có trong bài kinh, nhất là Tiểu kinh Phương Quảng. Tiểu kinh Phương Quảng, trong trường hợp ông thiện nam Visākha hỏi tỳ-kheo-ni Dhammadinnā, là trong đó có hỏi câu đó: Bát Chánh Đạo được thâu nhiếp vào bao nhiêu uẩn.
Trong trường hợp đó, giới, định, tuệ được sử dụng chữ “uẩn”, tức là giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn. Nhưng mà dù sử dụng chữ nào đi chăng nữa thì cũng cho mình thấy đó là chánh kiến, chánh tư duy được xếp vào phần tuệ. Chữ “uẩn” ở đây là nhóm thôi, tức là chánh kiến, chánh tư duy thuộc về nhóm tuệ; chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng thuộc về giới; rồi chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định thuộc về định.
Như là bài kinh 43, 44 gì đó. Tại cái đó có hai bài, nhớ không nổi theo thứ tự. Tức là có một bài Tiểu kinh, một bài Đại kinh. Bài Tiểu kinh đó là thiện nam Visākha hỏi bà tỳ-kheo-ni Dhammadinnā. Sau khi bà xuất gia xong rồi chứng được thánh quả A-la-hán, ông thiện nam Visākha trở về đó, hỏi những câu hỏi này. Trong đó có câu hỏi liên quan đến Bát Chánh Đạo được liệt kê trong ba uẩn.
Những câu hỏi đó, thật ra nếu không có đáp án hỏi mình, mình trả lời không nổi. Tức là câu hỏi rất là sâu. Tại ông là người chứng đắc được thánh quả A-la-hán, cho nên ông đặt những câu hỏi toàn là những câu hỏi liên quan đến việc chứng đắc thánh quả. Nếu mà không chứng đắc được thánh quả thì trả lời không nổi.
Nhưng mà bây giờ với mình thì mình có sẵn đáp án, cho nên mình đọc thấy vậy. Thật ra là rất khó, rất khó. Nếu mà có thời gian, các Phật tử trẻ cũng nên đọc lại bài kinh đó. Bài kinh rất hay.
Rồi một bài kinh đó là Đại kinh Phương Quảng. Bài kinh đó là do một vị nào đó hỏi ngài Xá-lợi-phất, ngài Sāriputta. Hai bài kinh rất hay. Và thật ra những bài kinh như vậy ở trong Kinh Trung Bộ không nhiều. Cách hỏi và vấn đáp rất sâu sắc.
Hoặc là chúng ta thấy như trong bài Kinh Trạm Xe, bài kinh số 26, ngài Sāriputta cũng rất là hay. Thì đó là trường hợp, nhóm thứ nhất. Tí nữa mình học chi tiết.
26. Mà ngài Sāriputta cũng rất hay, kinh đó. Đó là trường, nhóm thứ nhất; lát nữa mình sẽ học chi tiết.
Nhóm thứ hai là nhóm tâm sở vô lượng phần, tức là có bi và tùy hỷ. Cái này gọi là tâm sở vô lượng phần theo trường hợp khi hành giả tu tập bi và tùy hỷ đến lúc thuần thục, tức là tâm không còn phân biệt. Bi và tùy hỷ này, mới đầu tu tập thì còn liên quan đến chúng sanh có giới hạn, thí dụ như người thân của tôi, người mà tôi thương yêu, quý mến. Rồi từ từ nó mới được mở rộng ra, đó là vô lượng, tức là không còn giới hạn về mặt chúng sanh. Cho nên nó lấy cái tên đó, gọi là vô lượng phần.
Còn trong trường hợp mà mình gọi là bốn đề mục phạm trú, tức là Brahma, hôm trước mình học ở trong đề mục tu tập thiền, đề mục tu tập thiền chỉ, nhớ không?
Ừ, thì cái đó nói theo trường hợp đó là gọi là phạm trú, nói về bốn pháp mà Phạm thiên an trú. Thật ra, nó còn có một nghĩa khác, giống sư nói hôm trước đó, tức là pháp làm cho người an trú cao thượng. Chữ “phạm” nó còn có nghĩa là cao thượng nữa.
Rồi cuối cùng đó là tâm sở tuệ quyền. Như vậy, trong sáu tâm sở biến cảnh, nó được chia ra thành ba nhóm, tức là ba giới phần, hai vô lượng phần và tâm sở tuệ quyền, chia ra thành ba nhóm.
Rồi bây giờ, thứ nhất đó là tâm sở chánh ngữ. Chánh ngữ là gìn giữ sự thật, trong vai trò là tránh xa sự sai ngụy. Gìn giữ sự thật ở đây tức là nói lời chân chánh, không nói dối. Thường thì mình nói chánh ngữ là chỉ lời nói thật, không nói dối.
Dạ, nhưng mà thật ra, nếu mở rộng theo trong tạng kinh, giống như trong Bát Chánh Đạo đó, thì chánh ngữ đòi hỏi phải có bốn yếu tố. Tức là vừa nói lời chân thật, không nói dối, mà lời nói đó phải dịu ngọt, phải đúng thời và có lợi ích.
Trong bộ kinh Mangala, khi giải thích về lời nói thiện ngôn, lời nói thuộc về thiện ngôn trong bài kệ, tức là bậc học nhiều, hiểu rộng, khéo léo, người thông suốt giới luật, lời nói thuộc về thiện ngôn.
Trong trường hợp đó, bộ kinh Mangala giải thích về 38 pháp hạnh phúc, một bộ kinh cũng rất hay. Kinh giảng và đưa ra thí dụ rất ngắn gọn. Ở trong chú giải Pháp Cú, khi các tử đọc Pháp Cú xong, mình đọc những câu chuyện dài dài mà nhiều khi đọc xong câu chuyện đó, mình không hiểu bài kệ muốn nói về cái gì luôn. Lý do là ngài trích dẫn dài quá đi.
Dạ, nhưng ở trong bộ Mangala thì không như vậy. Khi nói một điều nào, ngài đưa ra thí dụ ngắn gọn, phân tích từ ngữ cũng rất hay. Mình thấy ở trong bộ 38 pháp hạnh phúc của ngài Thông Kham thì phải, ngài cũng lấy lại một ít ở trong đó, rồi ngài thêm chỗ này, chỗ kia thêm.
Dạ, nhưng ở trong bộ đó thì giải thích rất ngắn gọn. Nếu ai có học Pali, đọc Pali ở trong bộ đó thì cũng rất hay, tức là sử dụng cấu trúc văn phạm rất cao so với bộ chú giải Pháp Cú. Cái đó dành cho các học giả học Pali.
Ở trong đó nói là lời nói thuộc về thiện ngôn và được xem là chánh ngữ thì có năm yếu tố, tức là còn thêm lời nói được nói với tâm từ bi.
Thuộc về thiện ngôn, và nó được xem là chánh ngữ. Chánh ngữ có năm yếu tố, tức là còn thêm lời nói với tâm từ bi. Nói tâm từ bi như vậy là mình nói mở rộng theo Kinh tạng thôi. Còn ở trong Vi Diệu Pháp thì cái nghĩa rất đơn giản, tức là chỉ gìn giữ sự thật, đóng vai trò ngăn tránh sự hư ngụy. Tức là chỉ thuần túy không cho nói dối, ngăn sự nói dối thôi.
Nhưng mình nói rộng ra một chút theo Kinh tạng. Nếu mà nói về không nói dối thì nó liên quan tới điều học của các Phật tử, tức là điều giới thứ tư. Không nói dối thì nhiều khi các Phật tử mình nghĩ là giữ năm giới, chỉ cần cố gắng không nói dối là coi như giới đó mình được trọn vẹn. Không phải như vậy.
Giới nói dối còn liên quan đến khẩu thiện nghiệp hay khẩu ác nghiệp nữa. Tức là liên quan đến khẩu, có những gì thuộc về khẩu ác nghiệp? Đó là nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm. Nếu mình chỉ nói thật nhưng lại mắc phải những trường hợp đó thì vẫn được xem là mình giữ giới không được tốt đẹp.
Cho nên điều giới không nói dối đó phải bao hàm cả khẩu thiện nghiệp nữa. Tức là phải nói sự thật, không nói lời chia rẽ, không nói lời độc ác, nói lời có lợi ích thì mới được. Nó gần giống như chánh ngữ mà mình đề cập theo Kinh tạng lúc này. Nhưng trong chú giải nói thêm một phần nữa, đó là phần nói với tâm từ bi.
Lời nói này quan trọng lắm. Bình thường các Phật tử thấy khi mình nói được như vậy thì không thấy quý, cho nên nhiều người muốn nói gì thì nói. Nhưng các Phật tử biết, mỗi một lời nói mình có thể nói ra được cũng có phước để mình phát ra lời nói đó.
Sư thí dụ, nếu chúng ta mất cái phước đó, chỉ cần chúng ta bị bệnh, bị tai biến thôi, chúng ta sẽ thấy muốn nói cũng đâu có nói được.
Hoặc chúng ta nhìn thấy rõ nhất, thí dụ trường hợp người câm. Chúng ta thấy người câm có muốn nói không? Họ muốn nói lắm, nhưng họ nói không được.
Nhớ mọi lần ở phía sau chùa có một cô cũng lớn tuổi lắm, cô bị câm. Thỉnh thoảng lúc chùa đông, cô qua đây chơi. Mình nói thì chắc cô hiểu hay sao đó. Mình hỏi: “Sao không qua lễ, không thấy qua chùa?” Thì cô diễn đạt lên diễn đạt xuống, mình không hiểu. Cô càng diễn đạt thì mình càng không hiểu, cô càng giận, làm nhiều lên, nhiều lên, mình cũng không hiểu.
Cuối cùng cô mới biết là mình không hiểu. Ở trường phía trước này có dạy, nên thay vì nói, cô viết: “Hôm qua đi học, cho nên không qua chùa được.” Cô biết viết như vậy đó.
Chúng ta thấy, so với người nói được, so với người câm như vậy, chúng ta thấy phước của mình lớn lắm. Cái phước để mình có được lời nói, để mình nói, lớn lắm.
Hoặc các Phật tử suy xét, có những người bệnh đến khi họ không nói nổi. Thật ra khi họ muốn nói mà không nói được, họ giận dữ lắm, sống phần lớn với tâm sân, vì nói không được.
Cho nên mình cố gắng, tranh thủ trong lúc mình nói được thì nói những lời nói có lợi ích.
Dạ. Cho nên mình cố gắng tranh thủ trong lúc mình còn nói được, nói những lời nói có lợi ích.
Ở trong bài kinh Vương Tử Abhaya, bài kinh số 58 trong Kinh Trung Bộ, liên quan đến lời nói, Đức Phật chia ra sáu trường hợp. Tức là lời nói không thật, không có lợi ích, người nghe không thích thì Đức Phật không nói. Không thật, không có lợi ích mà người nghe cũng không thích, đó là trường hợp thứ nhất.
Trường hợp thứ hai là lời nói không thật, không có lợi ích, nhưng người nghe lại thích. Trường hợp này nguy hiểm cho mình, tức là cứ nói không thật, không có lợi ích gì hết, nhưng thấy người ta thích thì cứ nói. Trường hợp thứ hai này, Đức Phật cũng không nói.
Trường hợp thứ ba là nói thật nhưng không có lợi ích, và người nghe cũng không thích. Tức là nói thật, nhưng cái thật đó không có lợi ích gì hết, và người nghe cũng không thích, thì Đức Phật cũng không nói.
Trường hợp thứ tư là lời nói thật, không có lợi ích, nhưng người ta thích. Trường hợp này mình cũng dễ bị mất phải, tức là với người phàm phu, hễ người ta thích là chiều, không cần cân nhắc là có lợi ích hay không có lợi ích.
Trường hợp thứ năm là lời nói thật, có lợi ích, nhưng người ta không thích. Trường hợp thứ sáu là lời nói thật, có lợi ích và người ta thích. Nếu trường hợp thứ sáu thì quá tuyệt vời.
Nhưng kẹt một cái, trong đời sống thực tế của mình, thường nếu đi qua từ trường hợp thứ nhất đến trường hợp thứ tư thì còn lại trường hợp thứ năm. Đó là lời nói thật, có lợi ích nhưng người ta lại không thích. Trường hợp đó là trường hợp khó.
Đức Phật nói, với những trường hợp như vậy, Ngài suy xét; nếu thấy hợp thời thì Ngài sẽ nói. Nếu thấy hợp thời, Ngài sẽ nói. Những trường hợp đó, chúng ta thấy Đức Phật áp dụng rất nhiều.
Thí dụ như trường hợp Bà-la-môn Magandiya đem con gái của ông gả cho Đức Phật. Ông có một người con gái rất đẹp. Nhiều vương tôn công tử tới cưới hỏi, ông không cần xét về mặt dòng dõi. Ông chỉ xét đó là người không đẹp trai, cho nên không xứng đáng với con gái ông. Cứ vương tôn công tử nào tới hỏi, ông cũng nói vậy.
Nhưng đến khi gặp Đức Phật, ông thấy vị sa-môn này xứng đáng với con gái mình. Cho nên ông thỉnh Đức Phật đứng lại ở đó, rồi lật đật chạy về nhà kêu con gái mình đến. Rồi bà vợ của ông cũng đi theo.
Bà vợ biết một số bói toán trong kinh điển Bà-la-môn. Cho nên lúc đi đến, Đức Phật có để lại dấu chân. Bà nhìn thấy dấu chân thì nói: “Không, dấu chân này là của một người đã đoạn trừ hoàn toàn tham, sân, si rồi. Cho nên mình không thể gả con gái mình cho người này được.”
Ông không tin. Ông nói: “Thôi, bỏ mấy cái bói toán của bà đi.” Rồi ông đi vòng vòng, ngó nghiêng thì gặp Đức Phật. Ông cũng nói là muốn gả con gái mình cho Đức Phật.
Lúc đó, Đức Phật nói: “Lúc Như Lai chưa được giác ngộ, ở dưới cội cây bồ-đề, những người con gái của Ma vương còn đẹp hơn con của ông nhiều. Nhưng họ còn không cám dỗ Như Lai được, huống chi bây giờ Như Lai đã được giác ngộ.”
Đẹp hơn con của ông nhiều. Dạ. Nhưng mà họ còn không cám dỗ Ngài được, thì huống chi bây giờ Ngài đã được giác ngộ.
Rồi Ngài giảng: Vì cái thân này nó uẩn. Tức là nhìn bên ngoài thì nó đẹp như vậy, nó được bao bọc bởi lớp xương và lớp da bên ngoài, nhưng bên trong là nó chứa những thành phần hôi thối ở trong đó.
Dạ. Khi Đức Phật nói như vậy, cô con gái của ông rất là giận. Hai ông bà sau khi nghe bài giảng đó thì bà đã chứng đắc được thánh quả, nhưng cô con gái thì rất giận. Tức là trong suy nghĩ của cô đó là: Nếu mà không thích thì thôi, chứ làm gì mà chê thậm tệ như vậy.
Cô còn buộc oan trái với Đức Phật đó là sau này, nếu có cơ hội, sẽ trả thù. Cho nên sau này, khi mà cô trở thành thứ hậu của Đức vua Đê-nan, lúc Đức Phật đi khất thực ở trong thành Kosambi, cô muốn người chửi Ngài. Chửi rất là nặng, chửi giống như đồ trâu, đồ bò, loài chó, đủ thứ, rất là nặng.
Chửi đến nỗi mà Tôn giả A-nan bạch với Đức Phật: “Bạch Đức Thế Tôn, giờ mình đi chỗ khác, chứ ở đây họ chửi mình quá, chửi chịu không nổi.”
Thì Đức Phật nói: “Nếu mình đi chỗ khác mà người ta chửi mình nữa thì sao?”
Tôn giả A-nan nói: “Bây giờ mình cứ đi. Mình đi chỗ nào người ta chửi mình thì mình cứ đổi chỗ.”
Đức Phật nói: “Không được, không có làm như vậy được. Chỗ nào, chuyện gì xảy ra ở đâu thì chuyện đó phải được dàn xếp xong rồi mới đi.”
Và Đức Phật biết là những người này thật ra hoàn toàn không có oan trái gì với Đức Phật hết, nhưng mà vì thứ hậu Magandiya mướn họ chửi thôi. Tức là mướn họ chửi đủ một tuần. Cho nên họ chửi đủ một tuần, lấy tiền xong rồi họ nghỉ.
Giống như mỗi lần mình có một số trường hợp đám tang mà mình mướn người ta tới khóc vậy đó. Người ta khóc hết giờ rồi nghỉ. Thì đó là trường hợp mà Đức Phật xét là thấy hợp thời Ngài sẽ nói.
Dạ. Thì chúng ta sẽ thấy là Ngài nói với thứ hậu Magandiya là bị oan trái. Nhưng mà với hai người, người cha và người mẹ của cô, thì chứng đắc được thánh quả. Vì đó là trường hợp của Đức Phật.
Còn với mình thì rất khó, rất khó để các Phật tử có thể cân nhắc là nói hay là không nói. Trường hợp đó rất là khó. Cho nên trong ứng dụng Phật pháp, thật ra nếu mình ứng dụng đúng thì nó có hiệu quả rất cao, nhưng mà nếu ứng dụng mà không hợp thời thì nó cũng nguy hiểm cho mình.
Ngay cả bản thân quý sư. Phật tử biết là lúc mà ở dưới quê, trong một số trường hợp sư đi thuyết pháp, mình chỉ nói về trường hợp uống rượu thôi. Mình nói xong, họ lên cầm mi-crô là họ nói liền trước mặt mình luôn.
Đó, tức là mình nói về cái nguy hiểm và điều mà Đức Phật dạy trong việc sử dụng các chất say. Nói xong, họ lên nói trước mặt mình liền, mà lúc đó họ là người sai, tức là họ cũng đang say rượu, cho nên mình đâu có cãi với họ được.
Dạ. Thì cái đó cũng là một kinh nghiệm. Các Phật tử biết là đó là những nơi mà họ cũng rất kính trọng sư, mà mình còn thấy là họ còn dám như vậy. Còn nếu với các Phật tử thì sao? Lúc đó nhiều khi họ xách luôn cái chai rượu, họ đập vào mặt mình.
Dạ. Thật ra mình nói vì cái đó là nói đúng, nói lời nói đúng và có lợi ích, nhưng mà vì nó không hợp thời, cho nên nó nguy hiểm cho bản thân mình. Cho nên cái đó mình phải cân nhắc tối đa.
Nhưng vì nó không hợp thời cho nên nó nguy hiểm cho bản thân mình. Cho nên cái đó mình phải cân nhắc tối đa để có thể nói hoặc không nói trong việc ứng dụng lời dạy của Đức Phật.
Xin ví dụ, các Phật tử chơi với bạn đạo. Mình biết người bạn đạo của mình có cái tật hay nói dối, hoặc hay lấy mấy cái đồ lặt vặt, và cái tính đó rất khó bỏ.
Đến khi mình hiểu Phật pháp, các Phật tử sẽ thấy là bây giờ mình sẽ nói để bạn mình biết từ bỏ việc xấu đó, hay là mình cứ để như vậy? Ví dụ, nếu các Phật tử chưa hiểu rõ về bạn của mình, sau khi mình nói xong rồi, họ mất bạn, không dám lại gần mình, đi chùa xong cũng không dám lại gần mình.
Giống như trường hợp sáu, trường hợp lời nói. Lúc sư học ở bên học viện, khi lên thuyết giảng, người ta cho mỗi người mười lăm phút thuyết giảng, mỗi một đề tài.
Sau khi sư nói xong, có một sư cô đứng lên hỏi. Sư cô nói: “Bây giờ ở chùa con có một cô phục vụ trong chùa rất tốt. Nhưng những người biết về cô này báo cho sư cô biết là cô này có cái tính xấu, đó là trộm cắp, đi ăn cắp ở ngoài nhiều lắm. Cho nên họ nói với sư cô là phải cẩn thận. Nhưng khi vào chùa thì cô ấy làm rất tốt, công việc công quả trong chùa cũng làm rất tốt. Vậy sư cô phải nói như thế nào? Mình phải hướng dẫn cô ấy để cô ấy từ bỏ cái đó, hay là miễn sao cô ấy vào ở trong chùa, làm tốt trong chùa là được?”
Những trường hợp đó, các Phật tử biết là nếu mình nói liền thì chắc chắn họ sẽ bỏ chùa, tại họ ngại. Cho nên những trường hợp đó mình phải suy xét. Ví dụ như mình biết họ có tính xấu đó thì mình đừng nói về cái đó, mà nói về cái khác để thăm dò niềm tin của họ như thế nào.
Ví dụ, thay vì mình nói về điều giới trộm cắp, thì mình nói về điều giới sát sinh để xem phản ứng của họ như thế nào. Hoặc là mình nói về điều giới nói dối và nói về sự nguy hại của nó để xem phản ứng của họ như thế nào.
Giống ngày xưa có một nhóm Phật tử rất kính trọng ngài Xá Lợi Phất. Nhưng họ ở vùng biển, cho nên nghề nghiệp của họ là sống bằng nghề đánh bắt cá. Khi ngài Xá Lợi Phất tới, vì kính trọng ngài nên mấy ngày đó họ không đi làm, cứ tập trung nghe pháp và làm các việc khác. Nhưng khi ngài đi rồi, họ vẫn phải đi làm cái nghề nghiệp đó, tại không đi làm thì không có ăn.
Nó cũng tương tự như một số nghề nghiệp mà các Phật tử đang làm, là những nghề nghiệp không chân chánh. Để từ bỏ được thật sự rất khó với người Phật tử. Đòi hỏi mình phải có niềm tin, phải có trí tuệ suy xét về sự nguy hiểm của nó, thì mình mới có thể từ bỏ được.
Cái đó liên quan đến chánh ngữ, trong lời nói.
Thứ hai đó là chánh nghiệp, sammā-kammanta, chánh nghiệp, tức là thực hiện việc đúng. Chánh nghiệp đóng vai trò là tránh xa tà nghiệp. Thường chúng ta, ngay cả chúng ta đọc ở trong kinh tạng, cũng thấy nói ngắn gọn như vậy thôi. Khi nói về chánh nghiệp tức là tránh xa tà nghiệp, ít có bài kinh giảng về chánh nghiệp một cách rõ ràng.
Vậy thôi. Tức là khi nói về chánh nghiệp, tức là tránh xa ác nghiệp. Ít có bài kinh giảng về chánh nghiệp một cách rõ ràng. Chỉ có trong Tương Ưng Bộ Kinh có một trường hợp nói về chánh nghiệp, phải không ta? Nói về chánh nghiệp, xin lỗi, chánh nghiệp chứ không phải chánh mạng.
Chánh nghiệp đó tức là từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm. Trong kinh thường nói như vậy. Khi nói đến chánh nghiệp thì thật ra là từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm. Nó nằm ở đâu? Giới, tức là nằm ở trong Ngũ giới. Ba điều giới đầu tức là những ác nghiệp có thể vi phạm bằng thân.
Nhớ mấy cái này, họ phân biệt rõ lắm. Một là khẩu nghiệp, là lời nói. Trường hợp thứ hai liên quan đến hành động bằng thân, tức là nghiệp bằng thân. Nhưng mà nếu mình chỉ hiểu là có ba trường hợp đó thì mình có thể vi phạm. Chúng ta phải hiểu thêm, tức là hành động nào bằng thân mà được xem là ác, thuộc về điều ác, thì vẫn được xem là không phải chánh nghiệp, chứ không phải chỉ là không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm.
Thí dụ như mình không có giết nó, nhưng mà đánh đập, hoặc lấy nó làm thú vui, thí dụ vậy, thì những trường hợp đó cũng không nên. Đó là liên quan tới chánh nghiệp.
Chánh mạng, sammā-ājīva, là sự trong sạch đối với việc nuôi mạng. Chánh mạng đóng vai trò là duy trì sự sống. Trong Vi diệu pháp, nghĩa ngắn gọn như vậy thôi. Nãy giờ Sư nói thêm về danh ngữ chánh nghiệp, chánh mạng, theo cách được phát triển và nói trong Kinh tạng. Còn trong Vi diệu pháp thì nghĩa ban đầu của nó chỉ ngắn gọn như vậy.
Trong chánh mạng, ở trong Tương Ưng Bộ Kinh có liệt kê cho mình năm công việc, năm cái nghề được xem là nếu người cư sĩ vi phạm thì được xem là sống không có chánh mạng. Trong đó có buôn bán người, buôn bán các chất say, buôn bán vũ khí để giết hại, để sát thương, rồi buôn bán thuốc độc. Thứ năm đó là buôn bán thú để làm thịt. Năm nghề nghiệp đó được xem là năm nghề nghiệp không chánh.
Mình cũng có thể xem một số trường hợp khác nữa, tức là những nghề nghiệp, những việc nuôi mạng nào có thể liên quan đến ác nghiệp thì cũng phải từ bỏ, ngoài năm việc nuôi mạng đó.
Đối với người xuất gia thì còn khó hơn. Trong bài kinh Sa-môn quả, bài kinh số hai của Kinh Trường Bộ, Đức Phật liệt kê nhiều trường hợp liên quan đến việc nuôi mạng không chân chánh, mình gọi là tà mạng.
Thí dụ như xem bói toán, coi ngày giờ tốt xấu, rồi coi sao, xem sao. Sư đi taxi, thỉnh thoảng gặp mấy anh taxi, mấy ảnh cũng nói: “Sư coi giùm, năm nay con sao gì, sao gì đó.” Rồi xem ngày giờ tốt xấu. Thí dụ đám cưới thì phải ngày nào, giờ nào; đám tang thì phải ngày nào, giờ nào. Các vị biết là thật ra...
Xem ngày giờ tốt xấu. Thí dụ, đám cưới phải ngày nào, giờ nào; đám tang phải ngày nào, giờ nào. Quý vị biết là thật ra cái đó không phải chỉ bây giờ mới có đâu. Ngay cả thời Đức Phật, nó đã có những cái đó và đã có những ngày giờ tốt đó. Người ta đã xem những cái đó rồi. Mình học theo sau này thôi.
Cho nên mình mới có bài kinh mà Đức Phật giảng. Tại vì có những trường hợp nó quá nhiều, khi người ta hỏi như vậy thì chư Tăng cũng hay đi đến hỏi Đức Phật. Cho nên Đức Phật mới nói, tức là hễ ngày nào, giờ nào mình thực hành tốt thì ngày đó, giờ đó là ngày tốt, giờ tốt.
Và cái đó nhiều khi nó ám ảnh mình. Các Phật tử thấy ở Việt Nam mình, nhiều khi đi ra đường là ngày mấy, mấy không dám đi? Ngày mùng mấy? Mùng năm, mười bốn, hai mươi ba hả? Sư thích đi mấy ngày đó lắm sao? Xe nó trống, đi không có kẹt đường. Đã vậy đó, vì người ta tin như vậy.
Nhưng mà thật ra, thí dụ như ngày mùng năm, mười bốn, hai mươi ba đó mà mình làm xấu thì nó có xấu không? Nó vẫn xấu. Mình đánh người ta, người ta vẫn đánh mình. Mình chửi người ta, người ta vẫn chửi mình, chứ đâu phải mấy ngày đó nó mới xấu. Không có.
Chúng ta cũng thấy đó là thật ra ngày nào cũng có người bệnh, ngày nào cũng có người già, ngày nào cũng có người chết. Cho nên thật ra, theo Đức Phật, hễ ngày nào mình làm tốt thì ngày đó là ngày tốt rồi.
Chứ ngày tốt thì mình học ở trong kinh, thấy Đức Phật nói đơn giản. Nhưng vì con người mình, người ta làm cho nó phức tạp đi, làm cho nó phức tạp đi. Ví dụ, chỉ đám tang thôi. Hễ người thân mất là lật đật đi xem thầy, coi bây giờ phải giờ nào niệm, giờ nào động quan, rồi đem đến lò hỏa táng hoặc chôn cất gì đó phải giờ nào mới hạ huyệt. Có người họ kỹ đến nỗi đem cái la bàn đi theo để canh hướng cho đúng hướng, tịnh trí họ cũng không chịu nữa.
Thật ra các Phật tử biết là có những thói quen, những tà kiến đó khó bỏ lắm. Ở trong kinh có một bà-la-môn, có những sấp vải mà chuột gặm gì đó, nó cắn đứt hết, đem đi bỏ. Bỏ trong rừng, Đức Phật thấy như vậy, ngài đi lượm để sử dụng.
Khi ông phát hiện Đức Phật lượm tấm vải đó để sử dụng, ông đi theo, nói: “Phật phải bỏ tấm vải đó, vì tấm vải đó là tấm vải xui xẻo.”
Đức Phật nói, thật ra cái tà kiến của ông này không phải chỉ ở trong đời sống hiện tại mà nó nhiều đời, nhiều kiếp cứ như vậy. Tức là mình tích lũy nhiều đời, nhiều kiếp chứ không phải một kiếp.
Do đó, trong mười cách tạo phước, có một trường hợp đó là cải chánh tri kiến, tức là thay đổi cách hiểu biết của mình. Cái nào mà trước đây mình hiểu biết chưa đúng thì mình tập thay đổi nó. Có những cái mà người trước họ đã làm, nhưng bây giờ mình xem xét, thấy nó không hợp lý thì mình tập bỏ nó đi.
Giống như cách mà Phật tử cứ nghĩ, người chết là phải đốt tiền vàng bạc, phải mua vàng mã, nhà lầu, xe hơi hoặc đô la âm phủ gì đó rồi đốt, nghĩ rằng người mất sẽ sử dụng được cái đó. Nhưng trên thực tế, chúng ta thấy là mình lấy tiền thật mua đồ giả, đem về đốt. Ngay cả thí dụ nếu
Được cái đó. Dạ. Nhưng mà trên thực tế, chúng ta thấy là mình lấy tiền thật mua đồ giả đem về đốt. Rồi ngay cả, thí dụ, nếu mấy món đồ đó mình mua xong mà mình đem đi trả lại, những người bán họ còn không có nhận lại cho mình, thì làm sao người đã chết có thể nhận, sử dụng được những món đồ đó?
Dạ, nhưng mà không được, tại cái thói quen đó người ta tích lũy nhiều đời, nhiều kiếp rồi. Nếu không làm thì người ta cảm thấy không yên tâm. Hoặc là, thí dụ như đưa tang mà rải tiền vàng bạc dọc đường.
Dạ. Việt Nam mình nhiều khi là do tập tục truyền thống, cho nên nhiều khi người ta cũng bỏ qua. Chứ nếu mà nước ngoài, nhiều khi họ bắt phạt mình xả rác.
Dạ. Thì bây giờ mình thấy là càng ngày đất nước càng tiến bộ rồi. Cái nào mà nó không đúng thì mình bỏ bớt nó đi, đừng bắt nó đi. Đức Phật Ngài dạy đó là người mà mất đi, họ sinh ở một thế giới khác. Họ có thức ăn, thức uống khác; cái mặt của họ cũng khác với mình.
Dạ. Cho nên họ không thể nhận cái gì ở trong đời sống hiện tại mà mình nghĩ họ có thể xài được. Không có.
Dạ. Mà chỉ có một cái mà tất cả chúng sanh đều cần chung, đó là họ cần có cái phước. Tức là họ có thể ăn khác nhau, mặc khác nhau, sở thích khác nhau, nhưng chúng sanh nào họ cũng cần có cái phước. Và cái đó chúng ta thấy là hoàn toàn hợp lý.
Thí dụ với các Phật tử ở trong hiện tại nè, mình thấy là có người thích mặc đồ này, có người thích mặc đồ kia. Dạ. Rồi có người thích ăn món này, thích ăn món kia. Nhưng mà tất cả mọi người đều muốn được người ta quý trọng mình. Có phải vậy không? Ai cũng muốn được người ta quý trọng mình.
Dạ. Và muốn được người ta quý trọng mình thì mình phải có phước.
Dạ. Các Phật tử, thậm chí chúng ta thấy các loài thú, ví dụ bây giờ các Phật tử hay nuôi thú cưng, giống loài chó chẳng hạn. Chúng ta thấy là nếu ở nhà ai đó mà thương nó hay cho nó ăn thì sao? Nó rất thích người đó. Vì sao? Vì bản thân nó cũng muốn được người ta thương nó, nó cũng muốn được có cái phước riêng của nó.
Dạ. Thì từ cái thực tế đó cho chúng ta thấy là Đức Phật nói chúng sanh, từ kiếp này sang kiếp khác, họ có một cảnh giới riêng, thức ăn, thức uống riêng của họ. Nhưng mà tất cả chúng sanh đó, họ đều cần có phước.
Do đó mà Đức Phật dạy mình tạo cái công đức nào đó để mình hướng nguyện cho họ, nếu mà mình thương tưởng đến họ. Còn những hành động khóc lóc, thờ cúng các thứ thì nhiều khi cái đó là tập tục truyền thống của mỗi một quốc gia.
Cái nào mà mình thấy mình duy trì được, mà nó hay, nó có lợi ích, hợp với thời đại, tiến bộ, người ta chấp nhận được thì mình làm. Còn cái nào mình thấy làm nó không có lợi ích mà mọi người cũng không chấp nhận.
Thí dụ ở Sài Gòn này, nếu mà mình lấy vàng mã đốt, nhà kế bên người ta cũng phiền. Mặc dù người ta không có nói, vì người ta nghĩ thôi, có tang thì người ta cũng chấp nhận.
Dạ. Đó là liên quan đến chánh mạng. Chánh mạng đó là ba tâm sở giới phần. Ba tâm sở này nó có hai tên gọi. Thứ nhất là tâm sở tịnh hảo biệt cảnh, gọi chung; nhưng mà nó còn có cái tên gọi riêng của nó, đó là tâm sở giới phần hay tâm sở ngăn trừ phần.
Tiếp theo đó là tâm sở bi-karuṇā cetasika. Bi thì nó khác với từ bi chúng ta quen xài. Nó là bi, từ bi đó, từ bi.
Tiếp theo đó là tâm sở bi, karuṇā. Bi thì nó khác với từ, chúng ta quen xài là bi từ, từ bi đó. Thật ra, nếu mình học ở trong Vi diệu pháp thì từ với bi có thể đi chung với nhau hoặc không đi chung với nhau. Nhưng mà hễ có bi thì luôn luôn có từ ở trong đó, tại nó có tâm sở vô sân. Nhưng trong từ thì có thể không có bi. Nếu trong Vi diệu pháp thì nó khác nhau một tí.
Nếu phân tích theo Tạng kinh, tức là bi thì karuṇā, còn từ là gì? Mettā. Cái này mình giải thích theo Kinh tạng thôi, chứ Vi diệu pháp thì nó không có nghĩa dài dòng như vậy đâu.
Theo nghĩa của Vi diệu pháp, tâm sở bi, karuṇā, là sự mong mỏi, mong muốn chúng sanh thoát khổ, thoát khỏi khổ. Bi đóng vai trò là không chịu đựng nổi khi thấy chúng sanh khác đau khổ.
Còn mettā đó là mong mỏi tất cả chúng sanh được sự an vui. Đó là tâm từ. Nghĩa của chữ từ là mong mỏi chúng sanh được an vui. Còn bi là mong mỏi chúng sanh thoát khỏi khổ. Tức là chừng nào chúng sanh bị khổ, thấy chúng sanh bị khổ thì lúc đó tâm bi mới sanh khởi.
Nhưng mà với Đức Phật, hoặc là với các bậc Thánh, các ngài thấy chúng sanh luôn sống trong đau khổ. Tại sao? Tại lúc nào mình cũng bị sanh, già, bệnh, chết chi phối. Cho nên trong chú giải có giải thích rằng tâm từ của Đức Phật, khi ngài đi vào bất cứ một hội chúng nào, dù hội chúng đó là các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận sự nam, cận sự nữ, hay là một hội chúng hoàn toàn là những ngoại đạo, những người ngoài đạo, thì cái tâm của ngài xem họ giống như là con của ngài lúc còn thái tử vậy. Vì thấy chúng sanh đang bị đau khổ, mà chúng sanh thì không thấy điều đó.
Với các bậc Thánh, Đức Phật thấy mình đang đau khổ, nhưng mình thì lại thấy mình đang hạnh phúc khi có được chút ít hạnh phúc.
Nó giống như là chúng ta nhìn thấy loài thú. Thí dụ như lợn, trâu, bò, chúng ta nuôi nó, chúng ta thấy nó ở trong chuồng, lúc mũi cắn rồi ăn, nằm, đại tiện, tiểu tiện chung một chỗ như vậy thì chúng ta nhìn thấy nó dơ. Mình nhìn thấy nó dơ thì mình thấy bản thân mình sạch sẽ, để mình hạnh phúc hơn so với những con thú.
Nhưng mà chư thiên nhìn lại mình thì mình giống y hệt như mấy con lợn, mấy con trâu, con bò vậy. Cho nên trong kinh, nhất là trong kinh B, các Phật tử thấy chư thiên khi họ xuống cõi người, họ không bao giờ ngồi. Mình chỉ thấy sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn xong rồi đứng một bên, chứ họ không có ngồi.
Trong chú giải mới giải thích, lý do là họ không dám ngồi vì ở cõi người quá thúi, họ chịu không nổi. Tức là hôi thúi, họ chịu không nổi. Cho nên vì có Đức Phật, họ cần hỏi pháp. Họ xuống hỏi xong rồi lập tức đi liền, vì họ chịu không nổi.
Nhưng mà với chư thiên thì họ thấy là họ đã hạnh phúc. Nhưng với Đức Phật và các bậc Thánh, các ngài vẫn thấy cảnh giới chư thiên cũng không có hạnh phúc, vì nó vẫn còn bị sanh, già, bệnh, chết chi phối.
Các ngài vẫn thấy là ở cảnh giới chư thiên cũng không có hạnh phúc, vì vẫn còn bị sanh, già, bệnh, chết chi phối. Ít nhất, thí dụ như chư thiên thì họ không có già cỗi giống như mình, nhưng trước khi lâm chung, họ cũng thay đổi. Điều đó cho thấy họ cũng bị sanh và bệnh chết chi phối.
Họ cũng đâu phải ở cảnh giới chư thiên hoài. Có thể kiếp này họ sanh về chư thiên, nhưng sau kiếp này thì chưa chắc họ còn ở lại cảnh giới chư thiên; họ có thể sanh lại ở cõi người.
Thí dụ như trường hợp của nàng Tiết Cô Chíica vậy đó. Lúc đang ở cung trời, cùng với những cô tiên nữ khác đi vào hoa viên với vị thiên tử là người chồng của mình, cô bị té từ trên cây xuống rồi chết. Cô chết từ cõi chư thiên ấy, tái sanh ở cõi người, rồi ngay trong thời Đức Phật, cô cố gắng làm phước. Cô có khả năng biết được kiếp trước của mình, cho nên cố gắng làm phước. Mỗi lần làm phước như vậy, cô nguyện: “Con nguyện cho gặp lại được người chồng trước của con.”
Trong đời sống hiện tại, cô đã có chồng và có con, nhưng mỗi lần làm phước vẫn nguyện như vậy. Sau đó, cô lớn tuổi rồi qua đời, sanh lại về cõi trời và cũng sanh lại trong hoa viên đó.
Những cô tiên nữ trước khi cô chết vẫn còn đang chơi ở trong hoa viên. Vị thiên tử, là người chồng của cô, mới hỏi: “Sao nãy giờ đi đâu mà không thấy?” Người vợ mới nói: “Tôi chết ở đây rồi sanh về cõi người. Tôi cố gắng làm công đức. Giờ tôi chết ở cõi người, tôi sanh trở lại ở đây nữa.”
Vị thiên tử giật mình: “Ở cõi người, tuổi thọ con người ít như vậy sao?” Người ta chơi chưa hết một ngày mà mình đã chết rồi. Mặc dù tuổi thọ chư thiên nhiều như vậy, hạnh phúc nhiều so với con người của mình như vậy, nó vẫn thay đổi.
Cho nên Đức Phật khuyên phải cố gắng nỗ lực để từ bỏ ngay cả cảnh giới chư thiên.
Đó là mình nói về từ bi. Từ là mong mỗi chúng sanh được sự an vui. Còn bi là mong mỗi chúng sanh thoát khỏi khổ đau khi họ đang gặp đau khổ. Nhưng bi là đối với chúng sanh còn sống. Chúng ta để ý, người chết rồi thì cũng không khởi tâm bi được. Người chết rồi thì mình có muốn họ sống lại được không? Không, không sống lại được. Cho nên lúc đó, mình thương, mình khóc lóc người chết, lúc đó là tâm gì? Tâm sân. Lúc đó là tâm sân, không phải tâm bi.
Để ý, lúc đó là tâm sân chứ không phải tâm bi. Đối với chúng sanh đã chết rồi thì tâm bi không khởi lên. Phần lớn, nếu khóc lóc thương tiếc thì đó là tâm sân.
Còn thí dụ như con cháu mình trong đời sống gặp tai nạn, chẳng hạn tai nạn giao thông, thì lúc đó mình mong sao tìm được bác sĩ điều trị cho nó mau khỏi bệnh. Cái đó là tâm bi. Tâm bi sanh khởi lúc đó, nên tâm bi chỉ có đối tượng là chúng sanh còn sống. Chúng sanh chết rồi thì không có tâm bi. Để ý cái đó. Đó là những lý nhỏ nhỏ mà nhiều khi mình không biết được.
Tâm sân chết rồi thì nó không có tâm bi. Để ý cái đó. Cái đó là mấy cái lý nhỏ nhỏ mà nhiều khi mình không biết được.
Rồi, cái thứ năm đó là tâm sở tùy hỷ, muditā. Tùy hỷ thì tùy hỷ với hỷ nó khác nhau một tí. Nói vui thì nó vẫn là vui. Nhưng mà cái tùy hỷ tức là vui thích với những việc tốt mà người khác đã làm thì người ta gọi là tùy hỷ.
Chữ tùy hỷ thường chúng ta xài chữ gì? Đúng rồi. À-nu-mô-đà-na, tập viết cho đúng ha. Chữ này tại thấy các Phật tử cũng hay viết trên mạng nên sư viết lại cho đúng, chứ nhiều khi thấy người ta viết rồi mình viết theo người ta. Nhớ, biết sai đừng nói học với sư nha.
Thường người ta sử dụng nó là anumodanā ha. Mặc dù nó vẫn có đó là anumoda, nhưng mà nếu là anumoda thì nó là dạng trung tính. Còn anumodanā là dạng nữ tính. Dạng nữ tính thì được sử dụng phổ thông hơn ha.
Cái này thì vui thích với sự yên vui của chúng sanh khác. Tùy hỷ đóng vai trò đó là không đố kỵ với chúng sanh khác.
Cái này nè, nếu mình phát triển được cũng hay lắm. Tức là, sư thí dụ thấy ai đó mà người ta khá hơn mình thì thường với chúng sanh phàm phu mình, khi thấy người ta hơn mình là sao? Ganh tỵ. Dạ, thường là ganh tỵ.
Các vị để ý những cái này ở trong đời sống của mình, trong đồng nghiệp của mình nè, trong công việc. Chỉ cần người ta hơn mình một chút thôi là mình ganh tỵ. Và những trạng thái tâm đó nhiều khi nó rất là vi tế.
Thật ra, bất cứ một cái hơn nào, bên cạnh sự cố gắng, người ta cũng có cái phước riêng của người ta. Cho nên mình phải tập tùy hỷ, tập tùy hỷ với người có khả năng hơn mình.
Ngay cả, sư thí dụ như những trẻ em sinh ra trong gia đình có quyền chức, có đầy đủ về mặt tài sản vật chất, rồi sau này họ lớn lên, họ được ăn học, có công ăn việc làm tốt hơn mình. Thì thật ra, những trường hợp đó, những em bé đó, họ có cái phước riêng của họ hết. Tại nếu mà họ không có phước riêng đó, họ sẽ không sinh ra được ở trong gia đình đó.
Sư thí dụ như một em bé sinh ra trong gia đình truyền thống là vua chúa, hoặc là gia đình có người quyền chức lớn, thì những em bé đó phải có phước, họ mới được sanh vào trong gia đình đó. Phải có phước mới được sanh ở trong gia đình đó. Còn nếu mình không có phước, mình không đi vô những gia đình đó được đâu.
Mặc dù sau khi sinh ra trong gia đình đó, do điều kiện hiện tại, mình có thể làm ác như thế nào đó, do thân cận bạn bè gì đó, mình có thể làm ác. Nhưng cái ban đầu để sinh được trong gia đình đó là họ có phước.
Cho nên nếu mình thấy họ hơn mình thì nên tùy hỷ, tập tùy hỷ. Và cái tùy hỷ nó có lợi cho mình. Đó là khi mình tùy hỷ thì tâm thiện phát sanh, đem lại niềm vui, hạnh phúc cho bản thân mình.
Cái thứ nhất, khi mình tùy hỷ, khi mình biết hoan hỷ thấy người khác hơn mình, nó sẽ là động lực thúc đẩy, giúp cho mình cố gắng thêm nữa.
Sư thí dụ như thấy bạn đạo mình đẹp hơn mình, thấy bạn đạo mình có điều kiện tốt hơn mình. Nếu mình biết tùy hỷ thì mình sẽ cố gắng, mình sẽ cố gắng làm những thiện pháp mà mình chưa có, thông qua sự học hỏi.
Thí dụ như Đức Phật, Ngài nói là người có được sắc đẹp, người đó thường an trú ở trong tâm từ. Người mà có được của cải vật chất thì thường là họ có cái phước bố thí. Người có được trí tuệ nhiều là do họ có cái phước học hỏi.
Về vật chất, thường là họ có cái phước đó là bố thí. Người có được nhiều trí tuệ là do họ có cái phước chịu khó học hỏi. Người có được sức khỏe, tuổi thọ là do không sát sanh, không làm hại chúng sanh khác. Tức là mọi thứ đều có nhân của nó hết. Cho nên, chỉ cần mình suy xét như vậy, mình tùy hỷ và mình cố gắng nỗ lực cho bản thân mình.
Và cái từ hỷ đó, nó có cái lợi đó. Sư thí dụ như là nếu trong lúc sắp lâm chung, mà các tử do một cái ác nghiệp nào đó khiến mình tái sanh ở khổ cảnh, và mình có khả năng nhận phước được từ những người bạn đạo, thì chỉ cần một buổi lễ trai tăng mà họ nhớ đến mình thôi, các Phật tử tùy hỷ phước, cái là mình thoát khỏi khổ cảnh liền, rất dễ.
Và còn ngược lại, trong cái yếu tố mà mình làm phước, người thân có thể nhận được, thì người đó bắt buộc phải biết tùy hỷ. Tại khi họ biết tùy hỷ thì lúc đó tâm gì sanh khởi? Lúc đó tâm thiện sanh khởi. Chúng sanh ở khổ cảnh khó có thể có tâm thiện sanh khởi lắm. Cho nên trong điều kiện mà họ có thể nhận phước được, họ cần phải tùy hỷ. Tâm thiện sanh khởi, lập tức họ thay đổi kiếp sống liền. Đó là cái lợi ích.
Còn cái bất lợi cho mình đó là khi mình không tùy hỷ được thì sanh tâm ganh tỵ. Mà hễ sanh tâm ganh tỵ thì làm cho mình sống bất an. Rồi hễ tâm ganh tỵ là tìm cách hạ bệ người khác, tạo thêm cái ác nghiệp cho bản thân.
Và do cái ác nghiệp ganh tỵ đó, nếu thí dụ như mình lỡ có giết người ta thì mình cũng vào cái tội sát sanh. Và cái người ganh tỵ với người khác đó, người đó không sanh được trong gia đình cao sang, không sanh trong gia đình sang được. Tức là Ngài nói cái tùy hỷ, cung kính, phục vụ; cái phước tùy hỷ, phước cung kính, phục vụ đó giúp mình sinh ra trong gia đình cao sang.
Cho nên nó bất lợi. Mà nếu sanh ở khổ cảnh, thân bằng quyến thuộc làm phước, người này không bao giờ nhận được tại không biết tùy hỷ, không biết tùy hỷ. Đó thì cái đó là cái nguy hiểm, cho nên phải tập.
Các Phật tử đi chùa làm phước, hoặc là đi chùa thường xuyên, thay vì mình nhìn cái tốt của người khác đã làm để mình tùy hỷ, không có nhìn đi, cố gắng soi mói mấy cái xấu xấu đó để nói. Các Phật tử biết, nguy hiểm lắm. Tức là mình không tùy hỷ được cái điều thiện mà người khác đã làm, mà mình còn tập thêm cái ác nghiệp cho bản thân, nguy hiểm lắm.
Hoặc là sư thí dụ như với chư tăng là người phàm phu ở trong đời sống hiện tại đi. Đâu giống như chư tăng mà các Phật tử đọc ở trong kinh điển là bậc Thánh, đâu phải giống vậy. Khác nhau xa lắm, khác nhau một trời một vực.
Nhưng mà chỉ cần các Phật tử biết là tùy hỷ với người ở trong đời sống hiện tại, người ta có đủ các thứ để hưởng thụ mà họ còn xuất gia được, là họ cũng hơn mình rất nhiều. Các Phật tử thấy các cháu nhỏ bên Myanmar, còn mấy sư nhỏ nhỏ vậy mà đi xuất gia, các Phật tử so với con mình ở nhà thì các cháu nó hơn rất nhiều.
Trong khi con mình ở nhà, nhiều khi sao, về cơm mình phải bới cơm cho ăn, quần áo là phải giặt, phòng ốc các thứ là mình phải lo cho hết. Trong khi đó, đi xuất gia là sao? Mọi thứ là phải tự túc, phải tự giặt y, ăn thì phải tự ăn, và cũng không được phép lựa chọn. Ở nhà, cha mẹ chăm mình, con này không ăn, con ăn kia, ăn kia, nhưng mà đến khi
Ăn cũng không được phép lựa chọn. Ở nhà cha mẹ chồng, món này không ăn, món kia ăn, nhưng mà đến khi vào trong đời sống xuất gia rồi thì không được phép đòi cái gì hết. Mà có đòi thì sao? Cũng không có. Không đòi cũng không có.
Chỉ với bao nhiêu đó thôi mà các Phật tử biết tùy hỷ thì công đức của mình cũng vô lượng. Thay vì nhìn cái sai của họ, cái nhân duyên tùy hỷ đó cũng là cái thiện tâm, mà sau này mình cũng dễ gặp được chư Tăng.
Thay vì mình cứ nhìn cái xấu của họ. Còn nói về cái xấu thì thời nào cũng có. Với người phàm phu thì thời nào cũng có hết. Nó cũng tương tự với các bạn đạo của mình, là những người bạn đạo với nhau vậy đó.
Thật ra, nếu mình biết nhìn cái tốt của bạn đạo thì mình có nhiều cái để tùy hỷ với họ. Nhưng mà nếu ngược lại, mình chịu nhìn cái xấu của họ thì bao nhiêu quyển tập mình cũng viết không hết. Tại họ còn phàm phu mà, cho nên có nhiều lỗi lầm lắm.
Cái gì cũng có hai mặt của nó. Xin nhớ là trong một bài kinh nào đó, Đức Phật có nói, trong chú giải cũng có nói, tức là khi mình khen một người, mình đừng có khen họ hoàn toàn. Tại mình khen họ hoàn toàn thì dễ khiến cho họ bị nhầm lẫn đi. Mình chỉ khen họ cái mà họ có thể làm được.
Ví dụ, nếu các Phật tử biết bạn đạo nào đó giữ giới tốt, không nói dối, hoặc giữ được điều giới không sát sanh, hoặc điều giới không uống rượu, không dùng các chất say, thì mình khen họ những cái tốt đó. Khi mình khen họ cái tốt đó thì họ sẽ phát hiện có những cái tốt khác mà họ chưa làm được, rồi họ sẽ cố gắng.
Còn nếu mình chê không thì sao? Thì họ nản. Cho nên ngay cả trong cái khen cũng phải có nghệ thuật của nó. Tức là khen cái tốt mà người ta có thể làm được, nhưng không khen hoàn toàn. Tại khen hoàn toàn dễ khiến cho người ta hiểu lầm. Họ nghĩ rằng mình cũng sắp ngon lành, sắp bậc Thánh chẳng hạn, có thể khiến họ hiểu lầm như vậy.
Những trường hợp đó chúng ta thấy ở trong kinh cũng có. Tức là họ tu tập một thời gian xong, họ tưởng đâu là bậc Thánh. Không biết nhớ ông nào đó mà đến nỗi chư thiên là người bạn của ông đó nhắc nhở ông, nói ông không phải bậc Thánh, phải đi đến gặp Đức Phật để Đức Phật chỉ dạy.
Tức là do trong tu tập, họ không gặp cái cảnh trái ý nghịch lòng. Hoặc là trong chú giải Pháp Cú cũng kể lại một nhóm tỳ-kheo tu ở trong rừng. Vì ở trong rừng không có cảnh khiến tâm tham sanh khởi nhiều, cho nên các vị nghĩ rằng: “Thôi, giờ mình chứng đắc được, thành bậc Thánh rồi.” Cho nên về đảnh lễ Đức Phật.
Nhưng mà đến khi về, cho thị giả vào bạch với Đức Phật là xin đảnh lễ Đức Phật, Đức Phật không cho. Ngài nói với các vị tỳ-kheo đó đi vào bãi tha ma.
Lúc đó có một xác của một thiếu nữ mới chết, người ta đem bỏ trong bãi tha ma. Cho nên Đức Phật nói như vậy có ý của Ngài. Các vị tỳ-kheo này nghe Đức Phật nói như vậy thì cũng không cãi, tức là các vị suy nghĩ: “Chắc là Đức Thế Tôn cũng có lý do của Ngài.” Cho nên các vị mới đi vào bãi tha ma.
Là các vị cũng suy nghĩ: “Chắc là Đức Thế Tôn cũng có lý do của Ngài.” Cho nên các vị mới đi vào bãi tha ma.
Nhưng khi đi vào bãi tha ma, thấy tử thi của cô thiếu nữ mới chết còn tươi đẹp đó, thì tâm tham sanh khởi. Lúc bấy giờ, các vị tỳ-kheo này mới nghĩ, mới biết là: “Mình vẫn còn là phàm phu.”
Ở trong sự tu tập của người phàm phu, nhiều khi mình cũng bị nhầm lẫn cái đó. Cho nên mới nói với các Phật tử rằng, nếu mình tu tập đã chứng đắc được thiền thì mình sẽ không đi hỏi thiền sư: “Có phải như vậy hay không?” Hoặc nếu mình chứng đắc được thánh quả Dự lưu chẳng hạn, thì mình cũng không đi hỏi thiền sư: “Có phải như vậy hay không?”
Tại vì sao? Tại vì có cái trí sanh khởi để mình biết bản thân đã đoạn trừ được phiền não ở cấp độ đó, chứ nó không thể nhầm lẫn được. Còn khi mình có sự nhầm lẫn đó là chứng tỏ mình chưa có cái trí để thấy được cái đó.
Rồi hai tâm sở bi và tùy hỷ này còn có cái tên gọi là tâm sở vô lượng. Và cuối cùng đó là tâm sở tuệ quyền. Chữ “quyền” ở đây là quyền hạn, tức là tâm sở có sức mạnh về mặt trí tuệ. Người ta gọi là tâm sở tuệ quyền. Chữ “quyền”, quyền hạn, là biết rõ pháp thực tính. Tuệ quyền đóng vai trò phá tan sự tăm tối của tư tưởng.
Biết rõ pháp thực tính là sao? Giống mấy hôm nay mình học đó, nó có liên quan đến pháp thực tính. Thí dụ như khi nói đến thọ, thọ là gì? Thọ là cảm giác, là sự thọ nhận. Tâm sở tuệ quyền đó có khả năng biết cái đó.
Hoặc khi mình nói đến đất thì đất là cái gì? Là cứng cứng, mềm mềm. Hay nói đến lửa là nóng nóng, lạnh lạnh. Tâm sở tuệ quyền có khả năng biết cái đó. Tức là nó không nhầm lẫn giữa pháp thực tính với cái chế định của thế gian.
Thí dụ, khi các Phật tử nắm cái tay mình hoặc chạm vào cái thân của mình, phần lớn tâm của mình suy nghĩ: “Cái này là cái tay của tôi, cái này là cái chân của tôi, cái này là cái đầu của tôi.” Chứ mình ít suy nghĩ: “Cái này là cái gì? Cái này là đất.”
Ít khi mình chạm như vậy mà nghĩ: “Cái này là đất” hoặc “Cái này là lửa.” Ở trong đầu mình hoàn toàn không có cái đó.
Cho nên điều đó cho mình thấy là người phàm phu sử dụng khái niệm tục đế đến nỗi mình quên luôn pháp chân đế. Nó bị trói buộc.
Cho nên ở trong bài kinh Dây trói buộc, hôm trước tôi giảng pháp lệ ở chùa, có nói về Đức Phật ví dụ con chó. Khi nó bị đóng cái cọc rồi người ta trói sợi dây vào nó. Trong kinh, Đức Phật nói về con chó, nhưng với người Việt mình, các Phật tử ở miền Tây, thì ví dụ con trâu, con bò mình dễ hiểu hơn.
Tức là con trâu, con bò khi người ta muốn cột nó lại, người ta đóng một cái cột xuống rồi cột nó lại. Đức Phật nói là khi nó bị cột như vậy, nếu nó có đi thì nó cũng chỉ đi vòng vòng đó. Nếu nó đứng lại thì nó cũng chỉ đứng lại ở một góc nào đó. Hoặc nó có ngồi xuống hay nằm xuống thì nó cũng chỉ ngồi vòng vòng hoặc nằm...
Nó chỉ đứng lại ở một góc nào đó, hoặc là nó có ngồi xuống, hoặc là nó có nằm xuống, thì nó cũng ngồi vòng vòng hoặc nằm vòng vòng đó, tại nó bị sợi dây trói rồi, nó không thể đi đâu được.
Cái thí dụ đó, Đức Phật muốn nói về chúng sanh bị trói buộc bởi năm uẩn, trong đó có sắc uẩn chẳng hạn. Trong đi, đứng, nằm, ngồi, trong cái đầu của họ lúc nào cũng nghĩ: “Sắc này là ta, là của ta, là tự ngã của ta.” Lúc nào cũng vậy. Và do bị suy nghĩ tà kiến chi phối, cho nên họ bị trói buộc mãi ở trong vòng luân hồi sanh tử.
Nó giống như con trâu hay con chó bị đóng vào một cái cột. Người ta đóng cái cột rồi cột nó lại, nó không thể đi đâu được. Đó, nó nguy hiểm vậy.
Vậy nên học Vi diệu pháp, cái nghĩa này là cái nghĩa cao của trí tuệ trong Phật giáo. Khi mình thấy rõ được cái này, thấy được rõ pháp thực tính, thì mình chứng đắc được thánh quả. Phần lớn trong đời sống của mình, mình sử dụng theo chế định và bị trói buộc bởi đó.
Đó là cái nghĩa cao nhất trong ý nghĩa của tâm sở trí tuệ thôi. Nhưng ngoài ra, mình còn dùng những ý nghĩa khác đơn giản hơn. Ví dụ như hiểu về nhân quả nghiệp báo, cái đó không phải có trí thì mới hiểu đúng được. Hoặc là quả báo của sự bố thí là giúp thành tựu về mặt tài sản, cái đó cũng phải có trí mới hiểu được.
Một số trường hợp, trong nhiều bài kinh ở trong Kinh tạng có nói, có người có tà kiến, cho rằng không có quả báo của sự bố thí, không có mẹ, không có cha, mọi thứ không có nhân duyên mà tự động có. Cái đó là tà kiến. Nhưng ngược lại, nếu mình có sự hiểu biết đó thì lúc đó có chánh kiến, tức là có tâm sở trí sanh khởi trong tâm thiện.
Cái nghĩa biết được pháp thực tính này hơi chuyên môn, nói theo Vi diệu pháp một tí. Tại vì mình học Vi diệu pháp, tức là mình học nói về pháp thực tính. Mình nói cái gì cũng phải nói lại pháp thực tính.
Ví dụ như năm uẩn, mình có sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nói theo Vi diệu pháp, sắc ở đây là gì? Tức là 28 sắc pháp. Hoặc thọ, thọ ở đây là gì? Là tâm sở thọ. Rồi tưởng ở đây là gì? Tâm sở tưởng. Rồi thức ở đây là gì? Tức là 121 tâm.
Ở trong Kinh tạng, người ta sử dụng dựa theo pháp chân đế để đặt tên cho các pháp. Trong Vi diệu pháp, trong trường hợp nào mình cũng liệt kê pháp theo pháp chân đế. Tức là khi nói về thọ thì người ta biết chi pháp của nó là tâm sở thọ.
Tâm sở thọ nằm ở đâu? Nằm trong 13 tâm sở tợ tha. Giờ này mà chưa nhớ được cái đó là không được nha, phải về nhà xem lại. Thọ, tưởng là nằm trong 13 tâm sở tợ tha. Trong nhóm tợ tha nào? Trong nhóm tợ tha biến hành. Tức là bất cứ tâm sở nào sanh khởi cũng có thọ; bất cứ tâm nào sanh khởi cũng có tưởng. Đó, mấy cái đó là nhớ bài thôi. Bài học đó phải nhớ.
Rồi, đó là phần tâm sở, 25 tâm sở tịnh hảo.
Bây giờ mình xem phần tương quan. Tương quan là thuật ngữ chuyên môn, người ta gọi là tâm nhiếp tâm sở. Cái chữ “nhiếp” đó mình dịch từ chữ “sahajāta” hả?
Của nó, người ta gọi là tâm nhiếp tâm sở. Tâm nhiếp tâm sở.
Cái chữ “nhiếp” đó mình dịch từ chữ saṅgaha. Chữ saṅgaha này đôi khi nó còn dùng với nghĩa là tế độ nữa.
Ở đây mình tìm xem trong 38 tâm thiện của mình. Hôm trước mình có nói rồi: 38 tâm thiện thì sẽ có 38 tâm sở phối hợp. Hiểu nôm na đó là 37 tâm thiện này có khả năng thâu phục được 38 tâm sở đi cùng với nó.
38 tâm sở ở đây gồm có 25 tâm sở tịnh hảo và 13 tâm sở tạp. Ai chưa nhớ thì phải học cho nhớ.
Cái này phải nhớ nằm lòng, giống như ăn chuối mà người ta lột vỏ sẵn vậy, không cần suy nghĩ gì nữa, cứ ăn thôi. Phải nhớ tới vậy mới được, chứ ăn chuối mà còn nhớ phải lột vỏ thì chậm lắm. Tức là phải nhuần nhuyễn.
25 tâm sở tịnh hảo là gì? 13 tâm sở tạp là gì?
25 tâm sở tịnh hảo thì mình chia ra thành hai nhóm, tức là 19 tâm sở tịnh hảo biến hành và sáu tâm sở biệt cảnh.
13 tâm sở tạp là cái gì? Đúng rồi, bảy tâm sở biến hành và sáu tâm sở biệt cảnh.
Sáu tâm sở biệt cảnh này chia ra thành ba nhóm là gì? Ba tiết chế, hai vô lượng và tâm sở trí tuệ. Ít nhất là phải nhớ cái này.
Công thức tổng quát là 37 tâm thiện nhiếp được 38 tâm sở. Tâm thiện nhiếp được 38 tâm sở đó.
Bây giờ chúng ta sẽ xem từng nhóm. 37 tâm thiện chia ra thành mấy nhóm? Bốn nhóm, tức là tám tâm đại thiện, năm tâm thiện sắc giới, bốn tâm thiện vô sắc giới, và 20 tâm thiện siêu thế.
Nhắc lại một tí. Xem bạn nói, chứ làm quen đúng ra cái này cho các Phật tử lên tập chỉ bài này. Hồi đó Sư học với Ngài Giác Giới, Ngài không cho lên tập chỉ. Nhiều khi nói được, nhưng đến khi chỉ mà chỉ không đúng một cái là thấy tối tăm mặt mày hết, không biết gì cả.
Bây giờ Ngài Giác Giới dễ nhiều á. Ngày xưa Ngài khó lắm. Nếu bây giờ Ngài dễ nhiều thì ngó lắm. Các Phật tử nghe thuyết pháp là biết rồi đó, nghe giọng là biết rồi đó.
Đâu, tám tâm đại thiện đâu đây? Tám tâm đại thiện, cố gắng nhớ. Nhớ tên, chứ không phải nhớ ở hàng này đâu. Phải nhớ tên của nó.
Năm tâm thiện sắc giới, cái tâm này là tâm thông thường thôi. Sau này mình sẽ nói. Tạm là nhớ cái này thôi.
Năm tâm thiện sắc giới, bốn tâm thiện vô sắc giới. Bốn tâm thiện vô sắc giới này sanh lên là thọ gì đây? Thọ xả. Bốn tâm thiện vô sắc giới, rồi bốn hoặc là 20 tâm thiện siêu thế.
Nói vậy để cho lớp thư giãn một tí, chứ học căng thẳng quá.
Rồi, giờ chúng ta sẽ xem nó phối hợp như thế nào. Bây giờ mình xem trước đó là tám tâm đại thiện. Xem tám tâm đại thiện có khả năng phối hợp được với bao nhiêu tâm sở.
Trước tiên là nhóm gì? Chắc chắn có 19 tâm sở tịnh hảo biến hành, chắc chắn có rồi.
Rồi chúng ta xem từ từ, nói từ từ. Cái này các Phật tử không thể nhớ số được đâu, mà phải nhớ bằng cách hiểu. Phải nhớ bằng cách hiểu, chứ không thể nhớ con số được.
19 tâm sở tịnh hảo biến hành chắc chắn có. Nhóm nào nữa chắc chắn có? Đúng rồi, bảy tâm sở biến hành.
Bảy tâm sở biến hành, như vậy là bao nhiêu rồi? Là 26. Sáu tâm sở biệt cảnh đối với tám tâm đại thiện thì sao? Tức là mình có gì đây? Có tầm, tứ, thắng giải, cần, hỷ, dục.
Trong sáu tâm sở này, cái nào chắc chắn có hết?
Tầm, tứ, thắng giải, cần, hỷ, dục. Trong sáu trường hợp này, sáu tâm sở này, cái nào chắc chắn có hết? Tầm tức là mình có tầm, tứ, thắng giải, cần. Hỷ thì không phải lúc nào cũng có, nó chỉ có ở trong tâm thọ hỷ thôi. Thọ xả thì đâu có. Cho nên nhớ, đó là năm cái thì chắc chắn có.
Nhưng mà hỷ thì nó chỉ có trong tâm đại thiện thọ hỷ thôi. Nếu tính tổng quát thì mình vẫn kể nó được.
Tương tự với ba giới phần, trong tâm đại thiện có giới, không có giới phần cũng có. Thí dụ, muốn nói chân thật thì lúc đó phải có gì? Phải có tâm sở chánh ngữ. Muốn hành động tốt bằng thân thì phải có gì? Chánh nghiệp. Rồi muốn sống đời sống chân chánh, nghề nghiệp chân chánh thì phải có chánh mạng. Cho nên ba tâm sở giới phần, nếu nói chung, thì nó cũng có.
Hai vô lượng phần, tức là có trong tâm thiện. Khi thấy người ta đau khổ thì mình cũng muốn người ta thoát khỏi sự đau khổ đó. Đơn giản, giống như mình thấy con cháu mình khổ quá thì mình cũng muốn cho nó thoát khổ.
Thí dụ như có ba người con. Người con thứ nhất, người con thứ hai làm ăn khá giả, còn người con út làm ăn hoài mà không giàu được. Cuối cùng thương người con út quá thì làm gì? Lấy của người con thứ nhất với người con thứ hai, đem cho người con út để nó đỡ khổ. Thí dụ người ta cho bao nhiêu tiền thì đem cho con út hết đó, mong nó thoát khỏi khổ. Nhưng mà cuối cùng có thoát khỏi khổ không? Không. Nhiều khi họ không có phước thì họ cũng phải chịu.
Rồi xong, xả, ly trí, vô trợ thì sao? Nó cũng có, nhưng mà có trường hợp tâm gì? Hợp trí. Hợp trí. Nhưng mà về tổng quát thì mình vẫn kể nó được.
Như vậy, về tổng quát thì tám tâm đại thiện vẫn có đó. Đó là ba mươi tám tâm sở phối hợp. Mình nói tổng quát thôi. Bây giờ mình sẽ bỏ nó dần đi.
Hiện giờ mình có nó là ba mươi tám. Bây giờ mình sẽ bỏ dần đi. Thí dụ như bốn tâm đại thiện thọ hỷ thì mình sẽ bỏ gì? Xả. Bỏ thọ xả, xin lỗi, thọ hỷ thì bỏ xả. Thọ hỷ thì bỏ xả.
Thí dụ như trường hợp bốn tâm đại thiện thọ xả mà còn thêm ly trí nữa thì bỏ gì? Bỏ trí tuệ. Nó còn lại bao nhiêu? Nếu tính tổng quát vậy thì còn lại bao nhiêu? Ba mươi sáu. Nó chỉ còn lại ba mươi sáu.
Trong tâm đại thiện không phải lúc nào cũng có giới. Thí dụ các Phật tử ngồi nghe sư giảng như vậy nè, vẫn là tâm đại thiện, nhưng mà có giới không? Không có giới. Có bi, tùy hỷ không? Không. Cũng không có bi, tùy hỷ. Đừng nói là có bi, tại thấy sư giảng mệt quá, mọi người cũng không có bi, tùy hỷ.
Như vậy thì nó chỉ còn lại bao nhiêu? Hồi nãy là còn bao nhiêu? Hồi nãy mình bỏ tuệ, bỏ hỷ, nó chỉ còn lại ba mươi sáu. Bây giờ mình bỏ thêm nữa thì nó còn lại ba mươi mốt. Nó còn lại có ba mươi mốt.
Như vậy cho mình thấy là nếu một tâm đại thiện thọ xả, ly trí, thì nó có khả năng chỉ có ba mươi mốt là chắc chắn. Ly trí nha, ba mươi mốt là chắc chắn. Nhưng mà nó có thể có một trong ba giới, hoặc là một trong hai vô lượng. Tức là năm cái này nè, nếu mà nó có thì chỉ có một trường hợp thôi, tại mỗi một cái tâm này có trạng thái khác nhau.
Tức là năm anh này, nếu mà có thì chỉ có một trường hợp thôi. Tại mỗi một cái tâm này nó có trạng thái khác nhau. Cho nên năm anh này nếu mà có thì chỉ có một thôi.
Thí dụ như bây giờ nó có chánh ngữ thì nó được bao nhiêu? Nó sẽ được 32. Như vậy thì một tâm đại thiện thọ xả ly trí mà có một trong ba giới phần thì nó có 31 hoặc là 32 tâm sở phối hợp.
Đó là đối với tâm đại thiện thọ xả mà ly trí. Nếu mà nó thêm hợp trí thì nó thêm gì? Tâm sở trí tuệ. Cho nên, trong trường hợp tâm đại thiện thọ xả, nếu tính tổng quát thì nó có thể là 31, 32 hoặc là 33.
Nếu mà có giới phần hoặc là vô lượng phần thì cộng thêm một, là 32. Nếu mà có thêm trí thì cộng trí vào, là 33. Nhưng mà chắc chắn là bao nhiêu? Chắc chắn là 31. Nếu mà có một trong các giới phần hoặc là một trong các vô lượng phần thì cộng thêm một là 32. Nếu mà có thêm trí thì cộng trí vào là 33. Cho nên nó có thể là 31, 32 hoặc là 33.
Đó là đối với tâm đại thiện mà thọ xả. Bây giờ, nếu với tâm đại thiện thọ hỷ thì nó có bao nhiêu? Chắc chắn là bao nhiêu? 32. Mình thêm gì? Thêm hỷ.
Tức là tâm đại thiện thọ hỷ ly trí mà không có giới phần, không có vô lượng phần thì nó là 32. Nếu mà có một trong năm anh này thì nó là bao nhiêu? 33. Nếu mà nó có thêm trí thì 34. Cho nên nó là 32, 33 hoặc là 34.
Tức là nếu một tâm đại thiện thọ xả sanh khởi thì chắc chắn có bao nhiêu tâm sở phối hợp? 31. Nếu mà thọ hỷ thì chắc chắn có bao nhiêu? 32.
19 tâm sở tịnh hảo, 12 tâm sở tợ tha. Mình kể chung nó đi cho dễ. 19 tâm sở tịnh hảo, 12 tâm sở tợ tha. Tại nó đang thọ xả thì mình bỏ hỷ đi. Nó là bao nhiêu rồi? 31 rồi. Còn nếu mà nó có giới phần hoặc là vô lượng phần thì cho nó thêm một nữa là 32. Đó là trường hợp ly trí. Còn nếu mà nó có trí thì sao? Kể thêm một nữa là 33. Cho nên nó có thể là 31, 32 hoặc là 33.
Đối với tâm đại thiện mà thọ hỷ thì chắc chắn có bao nhiêu? 32. Tức là 19 tâm sở tịnh hảo biến hành và trọn vẹn 12 tâm sở tợ tha, là 32. Nếu mà nó hợp trí thì cho nó 33. Nếu mà nó vừa hợp trí, vừa có một trong ba giới phần hoặc là một trong hai vô lượng phần thì cộng thêm một nữa, là 34.
Bây giờ mình cho một trường hợp thí dụ: tâm đại thiện hợp trí mà có giới phần. Thí dụ như khi thấy được sự nguy hiểm trong lời nói dối, cho nên người này tác ý sẽ không nói dối, hoan hỷ từ bỏ lời nói dối. Lúc đó mình sẽ có tâm đại thiện thọ hỷ hợp trí, có giới phần.
Nó có thể là vô trợ hay hữu trợ. Cái vô trợ và hữu trợ ở trong tâm đại thiện không có thêm phần tâm sở, nó chỉ bị khuyết điểm. Thí dụ như vô trợ thì nó cho quả nhanh hơn, hữu trợ thì nó cho quả chậm hơn một chút. Nó chỉ như vậy thôi.
Ví dụ như là nếu mà vô trợ thì nó cho quả nhanh hơn, hữu trợ thì nó cho quả chậm hơn một tí. Nó chỉ như vậy thôi đó.
Rồi, cái đó là tám tâm đại thiện. Tám tâm đại thiện. Tổng quát thì nó có 38, nhưng mà nếu chính xác thì nó chỉ có bao nhiêu? 31, 32, 33, 34. 31, 32, 33, 34. À, 31, 32, 33, 34. 31, 32, 33 là đối với tâm gì? Thọ xả, tâm đại thiện thọ xả nói chung. Còn 32, 33, 34 thì với tâm gì? Đại thiện thọ hỷ nói chung.
Bây giờ thấy dễ quá hả? Rồi, giờ qua phần thứ hai. Nói như vậy là đã nói quá kỹ. Thật ra người ta không dạy kỹ như vậy đâu. Tại dạy kỹ như vậy không có giỏi. Nói vừa vừa thôi để về tự tính đó, về tự tính.
Các tử biết là ngày xưa học với ngài Giác Giới, ngài cũng không có cho chép. Ngài nói mọi người về phải tự nhớ để chép lại, chứ không có cho chép. Lúc nói là chỉ nghe thôi, chứ không được chép. Cái này bây giờ mà không cho chép chắc bỏ lớp về hết.
Rồi, bây giờ với năm tâm thiện sắc giới, nhiếp được 35 tâm sở. Giờ mình ở trong tâm sắc giới là mình chắc chắn mình bỏ cái gì? Chắc chắn bỏ gì?
Giới. Tức là ở trong tâm thiện sắc giới, vì nó có cái cảnh đó là cái đề mục mà nó tu tập. Thí dụ như khi mà hành giả tu tập đề mục niệm đất và chứng đắc được thiền, thì tâm thiền thiện đó có cảnh là đề mục đất. Nó chỉ có cái cảnh đó, cho nên nó không có liên quan tới giới phần.
Còn nếu mà hành giả tu tập, thí dụ bi hoặc là tùy hỷ, mà chứng đắc được thiền, thì lúc đó cái tâm thiền thiện đó có bi hoặc là tùy hỷ là đề mục của nó. Cho nên nó không có cảnh khác nữa.
Khi mà nói đến thiền là chắc chắn không có giới, không có giới phần. Cái này đừng có nhầm lẫn. Tức là khi hành giả tu tập mà chứng đắc được thiền, trong tâm thiền đó nó không có giới phần, chứ không phải là hành giả tu thiền không có giới. Không phải như vậy.
Không có giới thì đâu có tu tập chứng đắc được. Phải nghe kỹ cái đó. Tức là trong tâm thiền thì không có giới. Nhưng mà khi hành giả tu tập để chứng đắc được thiền thì sao? Thì cần phải có giới, cần phải có giới. Tại cái giới nó là nền tảng. Nó giống như là cái căn nhà mà mình muốn cất hai, ba tầng, hoặc là chung cư, hay là cái tòa nhà cao tầng gì đó, mình muốn cất bốn tầng, năm tầng gì đó, thì nó phải có cái nền móng. Cái nền móng đó được ví giống như là giới.
Cho nên lúc nào tu tập cái nào cũng phải có giới hết. Ở đây, tâm thiền thiện nó chỉ xuất hiện khi hành giả tu tập và chứng đắc được thiền thì tâm này nó mới có. Còn mình gọi là tu thiền, tu thiền thôi. Nhưng mà tu bằng tâm gì? Tâm đại thiện dục giới, chứ nó không phải là tu tâm thiền. Tại mình quen gọi là tu thiền thôi. Nhưng mà tâm thì là tâm đại thiện dục giới, hay là tâm thiện dục giới.
Cho nên trong tâm thiền sắc giới nó không có ba giới phần. Như vậy mình bỏ được ba giới phần. Trong tu tập, trong tâm thiền thì cần có trí không? Có trí không?
Có. Có thiền thì phải có trí, tại nó là pháp cao, phải có trí. Còn bi và tùy hỷ thì chỉ khi nào hành giả tu đề mục đó, khi mà chứng đắc được thiền thì mới có. Còn nếu mà hành giả không tu thì nó không có.
Như vậy chắc chắn là trong tâm thiền chắc chắn có bao nhiêu? Chắc chắn mình có bao nhiêu? Tổng quát đi. Bây giờ nói tổng quát, tổng quát là mình có 35. Tổng quát 35 đi.
Nó có bao nhiêu? Không? Tổng quát đi. Bây giờ nói tổng quát. Giờ tổng quát là mình có 35. Tổng quát 35 đi ha.
Nhưng mà ở trong tâm thiền, tổng quát có 35. Ở trong tâm thiền mình thấy nó có mấy loại thọ? Hai loại thọ. Mấy loại thọ, nói lại coi. Tâm thiền có mấy loại thọ? Ba loại thọ nha. Thọ gì?
Màu thì nó chỉ có hai thôi, nhưng mà thật chất là nó ba loại thọ. Tức là thọ gì? Thọ hỷ. Hỷ nè, thọ hỷ nè. Còn ở đây mình thấy đỏ, chứ thật ra nó không phải là thọ hỷ mà nó là thọ lạc. Lý do sao mình biết nó thọ lạc? Tại vì trong tâm thiện tứ thiền á thì nó có gì? Có lạc và định. Tâm thiền ngũ thiền thì có xả, có xả và định.
Nhớ, thấy nó đỏ nhưng mà nó không phải là hỷ, mà nó là thọ lạc. Cho nên ở trong tâm thiền này, nó sẽ không có tâm sở gì? Thấy nó đỏ nhưng mà nó không có tâm sở này. Thấy nó đỏ như vậy chứ nó không phải có tâm sở này, do chi thiền của nó. Cái này dễ bị nhầm lẫn lắm. Còn màu xanh này thì dễ rồi ha. Cho nên nó có ba loại thọ.
Bây giờ mình xem coi, có ba loại thọ như vậy. Thí dụ như nếu mà tâm ngũ thiền, ngũ thiền thì nó có thể có bao nhiêu tâm sở phối hợp? Bỏ gì? Bỏ giới phần. Bỏ giới phần thì mình không tính nó nữa, tại giới phần là mình bỏ nó từ ban đầu rồi, cho nên mình không có tính nó nữa. Nó chỉ còn 35 thôi.
Bây giờ nếu mình bỏ thọ xả thì trước tiên mình bỏ gì? Bỏ hỷ. Bỏ hỷ. Như vậy nó còn lại bao nhiêu? 34.
Cái này, ngũ thiền thì thật ra đề mục bi và tùy hỷ á, nó không giúp hành giả tu tập chứng đắc được ngũ thiền. Cho nên bi và tùy hỷ nó chắc chắn không có ở đây ha. Không có ở đây, cho nên nó chỉ còn lại bao nhiêu? 32. Có 32 à? 32.
Rồi mình còn bỏ gì nữa ta? 32 là vẫn tính chung chung á. Tứ thiền, thí dụ như là ở đây thì mình có đủ tầm tứ. Ở đây thì mình bỏ gì nè? Bỏ tầm. Rồi ở đây là mình bỏ tầm tứ. Cả tầm tứ. Rồi ở đây mình bỏ thêm cái gì nữa? Bỏ thêm hỷ nữa không? Mình bỏ thêm hỷ nữa.
Bây giờ mình tính cái này trước. Hồi nãy cái này chắc chắn là mình có bao nhiêu ta? 35 mà mình bỏ hỷ, bi và vô lượng phần, bỏ ba, còn 32 hả? 32. Còn cái gì đó? Bỏ tầm tứ nữa. Bỏ tầm tứ, hỷ nữa. Đúng rồi, tầm tứ hỷ nữa. Vậy là còn bao nhiêu? 30.
Tại vì hỷ bỏ từ đầu rồi. Vậy mình chỉ bỏ thêm tầm tứ phải không? Tầm tứ. Vậy là còn lại 30. 30.
Bây giờ tính lại, bỏ giùm sư coi 30 là bỏ gì đây? 30 bỏ gì? Bỏ hỷ, bỏ hai vô lượng phần, bỏ tầm, bỏ tứ. Bỏ tầm tứ.
Tức là 35 mình bỏ ra 30. Vậy còn lại 30 ha. Phần ngũ thiền thì nó còn lại 30 ha. Cái này thì tâm thiện nó bao nhiêu, thì tâm quả, tâm tố nó cũng giống nhau ha. Ba loại này giống nhau. Nhưng mình mới học cái này thì mình tính cái này. Còn lại 30.
Còn nhóm này nếu mình tính chung nó thì nó bao nhiêu? Chung nó thì nó có bao nhiêu? Đâu có 36. Mình bỏ ba giới phần rồi nè. Nhóm nào cũng phải bỏ ba giới phần, thì nó còn lại 35. Quên bỏ có hỷ tổng hỷ vô.
Cái này thì như vậy, nó 30. 35 thì vẫn còn, vẫn bỏ hỷ. Tứ thiền bỏ hỷ, nhưng mà tam thiền đổ xuống thì bây giờ chung nó 35 còn nguyên phải không? Nhóm này 35 còn nguyên.
Bây giờ nếu mình tính cái này, cái này thì bao nhiêu? 35. Cái nhị thiền bỏ tầm, chỉ có nhị thiền thì còn lại 34. Cái này thì còn lại 33.
Nhiêu? 35.
Cái nhị thiền bỏ tầm, chỉ có là nhị thiền thì còn lại 34. Cái này thì còn lại 33. Cái này còn lại 32. À, vậy là biết hết rồi ha. Thấy có bị rối gì không? Nói lại tí ha.
Bây giờ chắc chắn là còn 35 rồi. 35. Bây giờ tâm thiện sơ thiền thì mình có đủ là tầm, tứ, hỷ, lạc, định. Như vậy là 35 đủ hả? 35 đủ, nhưng mà thật chất đó là 34 thôi.
Lý do là trong hai vô lượng phần này, nếu mà nó có mặt thì nó chỉ có một ha. Cái này người ta gọi nó là cái gì ta? Biệt cảnh. Cái này nó gọi là biệt cảnh này. Bất định biệt cảnh hả? Tại vì riêng cảnh gọi là bất định. Bất định biệt cảnh phải không? Tức là khi có, khi không. Chỉ khi nào hành giả tu tập thì nó có.
Cho nên là cái tâm thiện đầu tiên, tâm thiện sắc giới đầu tiên, thì nó chỉ có 34 thôi. Tổng quát thì nó là 35, nhưng mà chính xác của nó thì nó chỉ là 34. 34.
Giờ tâm thứ hai thì có bao nhiêu? Nếu trường hợp một thì có 34. Trường hợp hai, mình bỏ thêm bỏ tầm thì còn lại là 33. Trường hợp ba còn 32. Còn trường hợp bốn, bỏ hỷ thì còn lại 31. Tức là mình có 34, 33, 32, 31, và cái cuối cùng đó là 30.
À, như vậy là tổng quát thì 35, nhưng mà chính xác thì nó là 34, 33, 32, 31 và 30 ha. Tức là cứ mỗi một cái mình bỏ thì nó thêm một tâm.
Cái này để chúng ta dễ nắm bắt, đó là chúng ta phải nhớ gì? Phải nhớ cái gì mới dễ? Phải nhớ chi thiền. Phải nhớ chi thiền thì mình mới biết nó bỏ cái nào ha, biết bỏ cái nào.
Rồi, bây giờ bốn tâm thiện vô sắc giới. Ai chưa nhớ chi thiền, về nhà học chi thiền lại nha, để mai mốt tu tập chứng đắc thiền thì biết chứ.
Bây giờ vô sắc giới thì mình bỏ gì? Trước tiên là cũng bỏ gì? Giới phần. Giới phần chắc chắn rồi, bỏ nè. Xin lỗi, giới phần là chắc chắn bỏ. Hai vô lượng phần này sao? Bỏ luôn. Tại ở vô sắc giới thì hai vô lượng phần này không chứng đắc được, cho nên bỏ luôn.
Cho nên mình còn lại bao nhiêu? Bỏ hỷ luôn. Bỏ hỷ luôn nè. Bỏ tầm, tứ luôn nè. Tại nó ngủ thiền rồi, nó không có tầm, tứ nữa. Cho nên bỏ cả tầm, tứ, hỷ. Như vậy nó còn lại bao nhiêu đây? Có 30.
Như vậy thì tâm ngũ thiền sắc giới với tâm thiện vô sắc giới có số lượng tâm sở phối hợp bằng nhau, tức là chỉ có 30 tâm sở thôi. Nhưng mà trạng thái tâm nó khác nhau ha. Trạng thái tâm từ sắc giới đến vô sắc giới khác nhau xa lắm ha.
Vậy thì phần này dễ rồi ha. Cái tâm cuối của sắc giới hồi nãy có bao nhiêu tâm sở thì bốn tâm thiện vô sắc giới cũng có bấy nhiêu ha, tức là cũng có 30, giống nhau.
Ở sắc giới hồi nãy, cứ mỗi một cái mình bỏ một tâm sở, nhưng ở vô sắc giới thì nó không có ha. Tức là cả bốn trường hợp nó đều có 30 tâm sở giống nhau. Về mặt tâm sở, nó không có thay đổi.
Tức là tâm thiện Không vô biên xứ cũng 30 tâm sở, tâm thiện Thức vô biên xứ cũng 30 tâm sở, tâm thiện Vô sở hữu xứ cũng 30 tâm sở, tâm thiện Phi tưởng phi phi tưởng xứ cũng 30 tâm sở ha.
Rồi cuối cùng đó là bốn tâm thiện siêu thế có 36 tâm sở phối hợp. 36, mình bỏ gì đây? Lý do là sao tâm thiện siêu thế bỏ hai vô lượng phần hả? Tại tâm siêu thế có cảnh là Niết-bàn. Tâm siêu thế chỉ biết cảnh là Niết-bàn, mà hai vô lượng phần là chúng sanh chế định.
Tâm siêu thế chỉ có cảnh là Niết-bàn, mà hai vô lượng phần là chúng sanh chế định. Tức là phải dựa trên chúng sanh chế định, phải có con người này, người kia, vật này, vật kia, thì lúc đó tâm từ, tâm bi và tùy hỷ mới sanh khởi.
Cho nên mình bỏ hai vô lượng phần. Các vị để ý, sách biết con số này nhiều lắm, nhưng con số đó không quan trọng. Quan trọng là mình phải giải thích nó như thế nào. Thí dụ, tại sao mình bỏ hai vô lượng phần? Cái lý đó mình phải nhớ. Tức là vì tâm siêu thế chỉ có cảnh là Niết-bàn. Mình lý giải như vậy thì sẽ bỏ được hai vô lượng phần. Vì hai vô lượng phần phải lấy chúng sanh chế định làm cảnh, tức là phải là người A, người B, người C gì đó. Cho nên nó chỉ còn lại 36.
Còn bỏ gì nữa ta? Ba giới phần thì sao? Ba giới phần hồi nãy ở trong tâm đại thiện, tức là khi có cái nào thì nó chỉ có một cái thôi. Nó chỉ có một cái thôi, tức là có chánh ngữ hoặc là chánh nghiệp hoặc là chánh mạng.
Nhưng mà ở tâm siêu thế thì nó hơi khác một tí. Tại tâm siêu thế, cả ba tâm đó chỉ được kể là nằm ở trong giới phần. Và giới phần đó hỗ trợ cho việc ngăn trừ phiền não. Ngăn trừ phiền não, tức là nếu nói về phần thế tục thì giới có phải là để ngăn ngừa những ác nghiệp bằng thân hoặc bằng khẩu không? Nó hỗ trợ phần đó.
Nhưng mà trong tâm đạo thì nó giống như một công việc, phải có đủ tám người thì mới làm công việc đó nổi. Cho nên ở trong tâm siêu thế, lúc nào nó sanh khởi thì cũng phải có đủ tám chi đạo. Tức là nó phải có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Lúc nào tâm siêu thế sanh khởi, nó cũng phải có đủ Bát Chánh Đạo.
Tại Bát Chánh Đạo là gì? Là phương pháp tu tập để đoạn trừ phiền não. Hoặc là ở trong Kinh Chuyển Pháp Luân, Bát Chánh Đạo được xem là gì? Trong Kinh Chuyển Pháp Luân, Bát Chánh Đạo được gọi là gì? Không nhớ à? Gọi là con đường trung đạo. Phải nhớ cái đó.
Cái đó quan trọng lắm. Bát Chánh Đạo được gọi là Trung đạo. Cái đó quan trọng lắm. Tức là trước đó Đức Phật tu tập theo hình thức khổ hạnh. Khổ hạnh thì ở trong bài kinh đó cho mình thấy là khổ hạnh có hai trường hợp.
Một là gì? Là lợi dưỡng, tức là sống hưởng thụ ngũ dục, ăn uống đầy đủ các thứ. Ngủ phải có nệm gì đó, phải có máy lạnh các thứ gì đó mới ngủ được, thí dụ vậy. Đó là lợi dưỡng.
Thứ hai là khổ hạnh, ép xác, tức là không chịu ăn, không chịu uống hoặc là ăn uống rất ít. Đó là hai trường hợp mà người xuất gia không được hành trì, tức là phải từ bỏ. Từ bỏ hai phương pháp đó thì hành giả phải thực hành con đường Trung đạo.
Con đường Trung đạo ở đây là gì? Nó là Bát Chánh Đạo đó, trong bài kinh đó chứ. Đọc mà không để ý, phải không? Mình cứ học, đọc Kinh Chuyển Pháp Luân. Bài kinh đó quan trọng lắm. Các Phật tử phải biết hết. Học cái gì thì học, chứ bài kinh đó mình phải biết, tại vì đó là bài kinh đầu tiên.
Các Phật tử này phải biết hết à? Học cái gì thì học chứ bài kinh đó mình phải biết. Tại vì sao? Đó là bài kinh đầu tiên mà Đức Phật thuyết giảng, với lại là bài kinh quan trọng, liên quan tới Tứ đế.
Chúng ta thấy, thật ra nói cách này, cách kia chứ nó không nằm ngoài Tứ đế. Dòng vòng đó, nhưng bằng cách trình bày cách này, cách kia, ta thấy ở trong Kinh tạng, chúng ta tìm lại, ngoại trừ Tiểu bộ đi, tại Tiểu bộ có thêm một số phần khác nữa ngoài những gì Đức Phật thuyết giảng. Còn bốn bộ còn lại, nếu như chúng ta tìm các bài kinh đó thì có trên một trăm bài kinh, một trăm mấy bài kinh trình bày về Tứ đế, và không có trường hợp nào nhiều giống như vậy.
Cho mình thấy là phần Tứ đế là một trong những phần rất quan trọng. Cho nên bài Kinh Chuyển Pháp Luân là bài kinh các Phật tử phải biết, và nội dung của nó cũng phải biết. Thí dụ như hai cực đoan là gì, trung đạo là gì, rồi Tứ đế là gì, phải biết hết những cái đó.
Rồi thêm phần ba loại trí. Ba loại trí đó trong kinh thì mình không có nói, nhưng nếu mình đọc ở trong chú giải thì chú giải giải thích cho mình. Để biết được Tứ đế, người ta biết qua ba loại trí đó.
Thứ nhất là sự thật trí, tức là biết đây là bốn sự thật.
Thứ hai là phận sự trí, tức là biết Khổ đế là pháp cần phải biết rõ; Tập đế là pháp cần phải đoạn trừ; Diệt đế là pháp cần phải chứng ngộ; và Đạo đế là pháp cần phải tu tập. Đó gọi là phận sự trí.
Thứ ba là tác thành trí. Đó là Khổ đế đã được biết rõ; Tập đế đã được đoạn trừ; Diệt đế đã được chứng ngộ; và Đạo đế đã được tu tập. Đó là người ta gọi là ba loại trí biết về Tứ đế. Đó là nội dung bài Kinh Chuyển Pháp Luân.
Sau bài Kinh Chuyển Pháp Luân đó, bài kinh thứ hai là Kinh Vô Ngã Tướng. Kinh Vô Ngã Tướng nói về gì? Nói về năm uẩn. Năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức; vô thường, khổ, vô ngã.
Bài Kinh Vô Ngã Tướng nói ngắn gọn là có bấy nhiêu đó. Nếu phân tích thì còn, thí dụ nói về sắc thì còn sắc ở quá khứ, hiện tại, vị lai, vì các thứ gì đó. Nhưng nội dung chính của bài kinh đó là năm uẩn, và năm uẩn được trình bày theo tam tướng, đó là vô thường, khổ, vô ngã. Đó là những bài kinh quan trọng các Phật tử cần phải nhớ.
Như vậy thì ở trong tâm sở, mình có đầy đủ 36 tâm sở. Ba mươi sáu tâm sở đó phối hợp đầy đủ. Mình để ý như thế này, tại vì quan trọng là ở ba giới phần mà mình hay bị nhầm lẫn.
Ba giới phần khi phối hợp với tâm đại thiện thì nó là bất định, đi riêng, tức là khi có, khi không. Nếu có thì nó chỉ có một trong ba, là bất định, đi riêng. Nhưng nếu nó phối hợp ở trong tâm siêu thế thì nó là nhất định và đi chung, tức là một lần có cả ba trường hợp.
Mình đừng phân tích theo kiểu ở trong phần tâm đại thiện, vì những hành động đó mình làm trong từng trường hợp khác nhau: chánh ngữ khác, chánh nghiệp khác, chánh mạng khác. Nhưng trong tâm đạo, tại vì nó sanh khởi chỉ một sát-na thôi, một sát-na thôi.
Chánh nghiệp khác, chánh mạng khác, nhưng mà trong tâm đạo, tại vì nó sanh khởi chỉ một sát-na thôi, một sát-na thôi. Cho nên nó cần có đầy đủ các yếu tố, đó là giới, định, tuệ; giới, định, tuệ để hỗ trợ, để trừ phiền não. Mà hễ ở trong tâm đạo có thì sao? Ở trong tâm quả nó cũng vậy. Tại vì trong cái nhân của nó có thì trong quả nó cũng có.
Tức cho nên, ba giới phần ở trong tâm siêu thế nhất định đi chung, đi chung. Đó là phần tâm sở phối hợp.
Tâm sở phối hợp, tức là 37 tâm thiện. Về tổng quát thì mình có 38 tâm sở phối hợp. Nếu mình chia ra thì tám tâm đại thiện, tổng quát thì nó vẫn có đầy đủ, đó là 38 tâm sở phối hợp.
Nhưng ở tâm sắc giới thì nó bắt đầu giảm dần. Tâm sắc giới thì nó chỉ còn lại 35 tâm sở phối hợp. Ở tâm vô sắc giới thì nó còn lại 30 tâm sở phối hợp. Tâm siêu thế còn lại bao nhiêu? 36 tâm sở phối hợp. Đó là phần tính tổng quát.
Muốn tính được chi tiết thì trước tiên chúng ta phải tính được tổng quát. Phải tính được tổng quát thì mới tính chi tiết được. Nếu không tính được tổng quát thì chúng ta không tính chi tiết được đâu.
Và tính được tổng quát là mình phải có cái lý giải thích. Thí dụ như tại sao ở trong tâm siêu thế không có hai vô lượng phần? Tại sao ở trong tâm thiền sắc giới và tâm thiền vô sắc giới không có giới phần? Hoặc là tại sao trong tâm vô sắc giới không có hai vô lượng phần? Tại sao ở trong tâm đại thiện, ba giới phần và hai vô lượng phần là bất định và đi riêng?
Đó là những cái lý mà mình cần phải nhớ, chứ mình không cần nhớ những con số của nó. Ai chưa thuộc cái lý đó thì về nghe lại, nghe chừng nào nhớ, hiểu nó và đưa ra thí dụ. Thì lúc đó mới thành công được.
Rồi, phần B này về tập đọc. Qua lễ, sư sẽ mở lớp online cho ai học được thì học tập đọc Pāḷi. Tạm rồi nhắc lại, tuần sau mình nghỉ một buổi. Tuần sau nghỉ một buổi, rồi tuần sau đó chúng ta học tiếp, rồi chúng ta làm một bài kiểm tra.
Bài kiểm tra 15 phút đó là bài tâm khái quát về tâm thiện và sự tương quan giữa tâm thiện và các tâm sở, rồi một hai câu về bài học ngay buổi hôm đó. Cho nên có thời gian, sư sẽ gửi bài trước để cho lớp xem trước, xem trước bài học mới. Còn bài cũ mình đã có hết rồi.
Rồi, xin mời lớp nghỉ.
Xa-dị-phê-na-ga-thô đ... chị-răng-rant-xăng-a, xa-chà-bum-ma-tha-đế-na-ga-ma-thị-pu-ô-a-x-đ-na-ma-ô-đ-chăng-ra-tá-tô-a-cá-tha-na-ga-thị-ca-nô-anô-đ-chăng-ra-thô-a-x-ma-a-đế-a-na-mị-tị-ca-nhă-lô.
Nam mô Đăng-ra thắng tụ-nô-ra-ta.
Chư thiên ngự trên hư không, địa cầu thượng ngự, rõ thông mọi điều; long vương thần lực có nhiều, đồng xin kinh hoan hỷ phước điều.
Chúng con hộ trì Phật giáo tăng bội, các bậc thầy tổ an vui lâu dài, quyến thuộc tránh khỏi nạn tai, chúng sanh được hưởng phước dài, bệnh lâu. Chúng con bồi đắp đạo, hầu tu hành tinh tấn, ngõ hậu vô sanh.
Y-trăng-tô-nhă-a-xa-khả-da-hăng-hô-tụ-na-gà-tế-ca-lên-a. Do sự phước báo mà chúng con đã trong sạch làm đây, hay là mối duyên lành để dứt khỏi những điều ô nhiễm ngủ ngầm nơi tâm trong ngày vị lai.