Pháp Học Online

← Vi Diệu Pháp — Sư Tinh Tuệ

BÀI 9 · VI DIỆU PHÁP

VDP009: Sự Tương Quan Giữa Tâm Thiện Với Tâm Sở - Sư Tinh Tuệ | Chùa Siêu Lý Q6 (29/04/2025)

⠿ Giữ và kéo thanh này để di chuyển video

Nội dung bài giảng

Bất thiện với tâm sở thì chỉ khác lại các hình thức, các loại tâm với các tâm sở nó phối hợp thôi, căn bản giống nhau.

Phần tâm sở ở bài trước chúng ta đã được giới thiệu rồi. Tâm sở được chia ra thành ba nhóm: 13 tâm sở tịnh hảo, 14 tâm sở bất thiện, akusala cetasika, và 25 tâm sở tịnh hảo, sobhana cetasika.

Hai nhóm tâm sở đầu mình đã học rồi. Tức là 13 tâm sở tịnh hảo, 14 tâm sở bất thiện, mình đã học rồi. Hôm nay mình học thêm nhóm 25 tâm sở tịnh hảo. Tại nhóm tâm sở này sẽ phối hợp với tâm thiện, tức là nó có liên quan tới tâm thiện.

Phần tâm thiện thì hôm trước mình cũng đã được giới thiệu về 37 tâm thiện. Mình có tám tâm đại thiện, mahākusala citta, hay còn gọi là tâm thiện dục giới, kāmāvacara kusala citta. Thứ hai nữa là năm tâm thiện sắc giới, rūpāvacara kusala citta. Thứ ba đó là bốn tâm thiện vô sắc giới, arūpāvacara kusala citta.

Hai nhóm tâm thiện này còn có một cái tên gọi khác nữa, đó là tâm thiện đáo đại. Như vậy thì tâm thiện đáo đại có bao nhiêu thứ? Có chín thứ.

Hoặc là nhóm này còn được gọi là nhóm thuộc về thiền hiệp thế. Thí dụ như người ta đặt câu hỏi: Có bao nhiêu tâm thiền thiện hiệp thế? Có mấy thứ? Có chín. Nó chỉ khác tên gọi thôi, để ý mấy cái đó.

Tâm thiện sắc giới, tâm thiện vô sắc giới, nó còn có một cái tên gọi nữa, đó là tâm thiện đáo đại, hoặc là tâm thiền thiện hiệp thế.

Rồi cuối cùng đó là 20 tâm thiện siêu thế, bốn hoặc là 20 tâm thiện siêu thế. Tâm thiện siêu thế nó còn được gọi là tâm gì? Tâm đạo. Nhớ cái đó. Mấy cái đó quan trọng lắm. Những chữ đó mà không nhớ là tại mình đang nói về tâm thiện, cho nên chữ nào mình cũng xài chữ thiện, nhưng thực chất nó còn có những cái tên gọi khác của tâm mà mình cũng cần phải nhớ.

Đây là phần mà chúng ta đã được giới thiệu khái quát về 37 tâm thiện. Cho nên nếu mà cho đến bây giờ ai mà chưa học thuộc được 37 tâm thiện này thì về nhà lật bài ra xem lại bài học. Cái này là phần bắt buộc phải thuộc lòng. Lý ra là bắt mọi người phải đứng lên trả bài cho thuộc lòng 37 tâm thiện này hết mới được.

Tại muốn học cao hơn nữa, muốn ứng dụng được thì chúng ta phải nhớ mấy cái này. Ngay cả trong thực tập thiền, các tử cũng cần nhớ mấy cái này hết.

Rồi, bây giờ sự tương quan. Sự tương quan ở đây mình nói về tâm thiện với tâm sở. Ở đây mình có 37 tâm thiện. 37 tâm thiện này tương quan với hai nhóm tâm sở, hay thuật ngữ chuyên dùng trong Vi Diệu Pháp đó là tâm nhiếp tâm sở. Tức là người ta xem xét mỗi một loại tâm như vậy nó có khả năng nhiếp phục bao nhiêu tâm sở.

Nếu dùng từ thông thường thì giống như một người có khả năng thuyết phục được bao nhiêu người cùng đi với mình. Thí dụ vậy. Trong thuật ngữ Vi Diệu Pháp thì người ta gọi là chữ nhiếp.

Trong hai nhóm tâm sở này, 13 tâm sở tịnh hảo mình đã học rồi, cho nên mình không cần phải học lại. Bây giờ mình chỉ tìm hiểu thêm về 25 tâm sở tịnh hảo. Sau đó mình sẽ xem coi 37 tâm thiện này nó nhiếp phục được bao nhiêu tâm sở.

Cũng vậy. Bây giờ mình chỉ tìm hiểu thêm về 25 tâm sở tịnh hảo. Sau đó, mình sẽ xem 37 tâm thiện này nhiếp phục được hai nhóm tâm sở này như thế nào. Bài này chúng ta sẽ học trong hai buổi, vì bài cũng khá dài.

25 tâm sở tịnh hảo, sobhana cetasika, được chia thành hai nhóm. Trong ba nhóm tâm sở, mình thấy nhóm tâm sở nào cũng chia ra thành hai. Thứ nhất là nhóm biến hành, thứ hai là biệt cảnh. Trong biệt cảnh, nó muốn chia ra làm sao nữa thì nó chia, nhưng thường sẽ có hai nhóm phổ thông.

Tức là trong tâm sở tợ tha cũng có tợ tha biến hành và tợ tha biệt cảnh. Trong tâm sở bất thiện hôm trước mình học cũng có bất thiện biến hành và bất thiện biệt cảnh. Hôm nay mình học 25 tâm sở tịnh hảo, cũng chia ra hai nhóm. Trong đó có 19 tâm sở tịnh hảo biến hành và sáu tâm sở tịnh hảo biệt cảnh.

Mình có hai nhóm như vậy. Tâm sở tịnh hảo biến hành tức là những tâm sở có mặt trong tất cả các tâm tịnh hảo. Trong trường hợp này, cụ thể là trong tất cả các tâm thiện. Tức là trong 37 tâm thiện, bất cứ một tâm thiện nào sinh khởi cũng có 19 tâm sở tịnh hảo biến hành này.

Cũng giống như hôm trước chúng ta học, bất cứ một tâm bất thiện nào sinh khởi thì lúc nào cũng có nhóm gì? Tức là lúc nào cũng có nhóm si phần. Dù tâm đó là tâm tham, tâm sân hay tâm si, khi sinh khởi lúc nào cũng có bốn tâm sở si phần chi phối, cùng sinh với nó.

Đó là lý do tại sao chúng ta thấy khi tâm tham sinh khởi, nó làm cho con người mình không còn đủ bình tĩnh để xem xét vấn đề. Lý do là vì nó có si chi phối. Hoặc khi tâm sân sinh khởi, mình không đủ khả năng để kiểm soát được bản thân. Lý do là nó bị si chi phối. Nó làm cho cái tâm mình bị mơ hồ, mê mờ hẳn đi, không xem xét được vấn đề đúng sai nữa.

Hôm nay mình học tâm tịnh hảo, chúng ta thấy để một tâm thiện sinh khởi thì có 19 tâm sở tịnh hảo hỗ trợ. 19 tâm sở tịnh hảo hỗ trợ.

Để mình nói sơ về tâm sở tịnh hảo trên bảng nêu cái này ha. Trên bảng, để chúng ta có học thuộc 19 tâm sở tịnh hảo chưa? Chưa hả? Cho bài rồi mà không chịu học trước ha. Học trước mới nghe mới dễ.

Sư muốn gửi bài trước cho các Phật tử là để mình có thời gian làm quen với thuật ngữ của nó. Nhất là lớp này phần lớn là người mới, gần như toàn là vở trắng. Cho nên gửi trước vậy để mình xem, mình làm quen với thuật ngữ. Vì pháp học có những thuật ngữ mà các Phật tử sẽ không tìm được, không thấy trong kinh tạng, hầu như là thuật ngữ chuyên môn của nó.

Đó là cái khó của người học, người tiếp cận môn A Tỳ Đàm, tức là môn Vi Diệu Pháp. Thuật ngữ của nó nhiều khi mình đọc kinh tạng cũng khá nhiều, nhưng đến khi học Vi Diệu Pháp, mình thấy từ ngữ lạ dữ lắm. Do đó, mình cần phải làm quen.

Khi mình không làm quen được với thuật ngữ thì người ta giảng, mình khó nắm bắt lắm. Khó nắm bắt. Cho nên phải tập làm quen. Trước tiên là học thuộc lòng nó. Thí dụ bây giờ mình có 19 tâm sở tịnh hảo, coi như mình có 19 từ ngữ mà mình cần phải học thuộc lòng. Bây giờ trước tiên thì học thuộc lòng tiếng Việt trước đi.

Coi như mình có 19 từ ngữ mà mình cần phải học thuộc lòng. Bây giờ trước tiên thì học thuộc lòng tiếng Việt trước đi. Rồi sau, nếu mà học được thì cố gắng học thêm từ Pāli. Học từ Pāli để sau này lỡ mà có bản dịch khác thì mình cũng còn có Pāli để đối chiếu và mình hiểu nó.

Và chắc chắn các bản khác thì có cách dịch khác, sử dụng từ khác. Do đó mình có Pāli để mình đối chiếu. Trong lúc học, nếu mà có chữ Pāli nào cần giải thích thì sẽ giải thích cho lớp để mình lấy cái nghĩa của chữ Pāli đó luôn. Rồi sau này mình học bản dịch thôi. Người ta muốn dịch như thế nào thì mình cứ hiểu theo cái chữ Pāli đó là được.

Tức là mình có 19 tâm sở tịnh hảo biến hành, nằm trong ba nhóm này, ba hàng này. Ba hàng này tại người ta phân vị cho nó gọn thôi, chứ thật ra 19 tâm sở thì nó có thể liên tục.

Mình có tín, niệm, tàm, quý, vô tham, vô sân, trung hòa, tịnh thân, tịnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích ứng thân, thích ứng tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm. Ai thuộc rồi là giỏi.

Còn đây là sáu tâm sở tịnh hảo biệt cảnh. Tức là mình có ba giới phần, đó là chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng; hai tâm sở vô lượng phần, đó là bi và tùy hỷ; và cuối cùng đó là tâm sở tuệ quyền, mà mình hay gọi nó là trí tuệ. Tâm sở tuệ quyền đó là phần mà mình phải học thuộc lòng. Muốn học Vi diệu pháp là phải thuộc lòng. Nó là phần cơ bản nhất.

Rồi, bây giờ mình xem ý nghĩa của từng tâm sở. Sau khi mình học thuộc lòng cái phần chính rồi, mình xem lại ý nghĩa của nó. Cái ý nghĩa đó cũng quan trọng hơn.

Giờ thứ nhất đó là tâm sở tịnh hảo. Tâm sở tịnh là gì? Đó là sự trong sạch, tính đóng vai trò thanh lọc tâm.

Điều này cho mình thấy là trong tâm thiện, nếu mà nó sanh khởi, nếu mà có tịnh tâm sở thì tịnh tâm sở sẽ làm cho tâm được gì? Làm cho tâm được cái gì? Làm cho tâm như thế nào? Tức là thanh tịnh, làm cho tâm trong sạch, thanh tịnh, không có mê mờ. Cho nên trong tâm thiện, nó không có mê tín. Trong tâm thiện nó không có mê tín. Sở dĩ mình tin mà mình bị mê tín là tại cái đó không phải là tâm thiện. Chứ trong tâm thiện thì nó không có mê tín, tại nó có tịnh tâm sở, làm cho tâm được thanh tịnh.

Ở trong bộ kinh Mi-lan-đà vấn đáp, ngài Na-tiên thí dụ tịnh tâm sở giống như là cái đồ lọc nước. Mình tạm hiểu nó giống như là công nghệ lọc nước ở Sài Gòn mình vậy đó. Các tử thấy là ở Sài Gòn mình, nếu bây giờ mà không có công nghệ lọc nước thì đâu có nước sạch đâu mà xài, đâu có đủ nước đâu mà xài. Nhưng mà nhờ công nghệ lọc nước, nó làm cho nước dơ thành nước sạch để mình có thể sử dụng được.

Tương tự, tịnh tâm sở làm cho tâm được thanh tịnh. Tức là nếu mà tâm có nhơ bẩn, bị cấu uế, bị ô nhiễm thì tịnh tâm sở thanh lọc phần đó. Tịnh tâm sở thanh lọc phần đó. Đó là nghĩa đầu tiên của tịnh tâm sở ở trong Vi diệu pháp. Khi mà nó có mặt ở trong tâm thiện, tức là nó làm cho tâm được thanh tịnh, được trong sạch.

Rồi nó được giải nghĩa rộng thêm theo nghĩa trong kinh tạng. Đó là, thí dụ, tin như thế nào thì được xem là niềm tin chơn chánh. Cái đó là nghĩa giải rộng theo kinh tạng rồi.

Đó là thí dụ như là tin như thế nào thì được xem là niềm tin chơn chánh. Cái đó là nghĩa giải rộng theo kinh tạng rồi. Thí dụ như là tin về nhân hay là tin về quả, tức là mọi thứ đều có nhân của nó. Nó không phải không có nhân, mà nó có cái nhân của nó. Rồi giống như là mình tạo cái nhân thiện hoặc là nhân bất thiện, thì nhân thiện, nhân bất thiện đó tạo ra cái quả.

Tức là tin là có nhân, có quả; rồi tin là mỗi chúng sanh có một cái nghiệp riêng của nó. Giống như là chúng ta sinh ra trong một gia đình, mình có năm, bảy anh chị em. Nhưng mà mình thấy là dù mình sinh ra trong một gia đình, người cha, người mẹ giống nhau, nhưng mà mọi người không có giống nhau, tính nết không có giống nhau. Dân gian người ta nói đó là cha mẹ sinh con chứ đâu có xin tánh nết, đâu có xin hết tánh của nó.

Lý do là sao? Tại mỗi chúng sanh nó có một cái nghiệp riêng của nó. Nó chỉ có duyên đến với mình thôi. Mình là người cha, người mẹ của họ thôi, nhưng mà khi sinh ra, họ có cái nghiệp riêng của họ.

Nhưng mà thí dụ như nếu thuận dòng thì mình nói người con đó dễ nghe, còn nếu nghịch dòng thì mình nói con đàng họ làm nẻo. Thì cái đó mình phải hiểu. Có những chúng sanh do thuận dòng mà sinh ở trong gia đình với mình, nhưng mà có những chúng sanh do một cái oan trái nào đó, họ sinh vào trong gia đình của mình cũng có.

Giống như là mình thiếu nợ người ta không trả, rồi bây giờ người ta lại sinh lộn trong gia đình mình để đòi lại cái nợ. Khi mà có người con đó là mất mát hết tài sản, tức là cứ bị hết bệnh này tới bệnh kia, hoặc là người con đó tìm mọi cách phá hết tài sản của mình. Mấy cái đó chúng ta thấy ở trong đời sống của mình gặp rất là nhiều.

Tức là không ai là người phá tài sản của gia đình bằng những người con ở trong gia đình phá cái tài sản đó. Thì mình có thể hiểu những người con đó giống như là chủ nợ trước đây mà mình mượn người ta rồi mình không trả, bây giờ người ta tìm cách đòi mình. Thì đó là niềm tin về mỗi một chúng sanh có một cái nghiệp riêng của nó. Dù mình là cha, là mẹ, nhưng mà mình cũng không có can thiệp được vào cái đó.

Và cuối cùng đó là tin về sự giác ngộ của Đức Phật. Thì đó là bốn loại niềm tin được xem là niềm tin chơn chánh, giải theo ý nghĩa của kinh tạng.

Còn cái ban đầu của chữ tín đó, theo trong A-tỳ-đàm, nó chỉ có vai trò là tâm được trong sạch. Nhớ cái đó. Cho nên lúc nào mà mình tin cái gì mà mình thấy không rõ ràng, thì mình phải xem xét coi cái niềm tin đó mình có tin bằng tâm thiện hay không, hay là mình đang bị che mờ bởi vô minh, bởi tâm bất thiện.

Ví dụ như năm nay năm tuổi, cái đi kiếm thầy coi: “Thầy coi coi con năm tuổi, coi năm nay có làm ăn được hay không?” Thí dụ vậy đó. Mình xem coi cái tin như vậy đó có đúng hay không.

Hoặc mọi người cứ nói: “Sư đó, sao con nghe người ta nói rằng hễ năm tuổi là mình hay gặp rủi ro này, rủi ro kia, phải không sư?” Tại mình để ý nó, cho nên mình rồi có một sự trùng hợp nào đó, mình cứ thấy nó như vậy. Chứ nếu mà mình không có để ý nó thì sao? Năm nào nó cũng như năm đó thôi. Khi mà ác nghiệp nó cho, có điều kiện cho quả thì nó cho.

Không có để ý nó thì sao? Năm nào nó cũng như năm đó thôi. Khi mà cái ác nghiệp có điều kiện cho quả thì nó cho. Lúc nào thiện nghiệp có điều kiện cho quả thì nó cho thôi.

Do mình đặt niềm tin sai. Mình đặt niềm tin sai. Do đó phải để ý. Nghe hộ, cái này hay lắm. Tức là khi mình tin một cái gì đó mà mình thấy nó không rõ ràng thì mình biết cái này không phải là tin bằng tâm thiện. Tâm sở tịnh tín có vai trò thanh lọc nội tâm, làm cho tâm mình được trong sáng. Mình thấy mình tin mà tâm mình bị mập mờ, không rõ ràng, nên mình biết là nó không đúng.

Thứ hai đó là tâm sở niệm. Niệm là sự ghi nhớ đối tượng. Niệm đóng vai trò làm cho tâm không nhầm lẫn.

Cái niệm này, khi mình được phát triển, thường được sử dụng trong tu tập thiền quán. Một từ ngữ mà thiền sư hay nhắc nhở mình đó là chữ gì? Chánh niệm. Tức là sự hiểu biết đúng trong chánh niệm. Đó thường còn thêm một chữ nữa, là đi thêm với trí tuệ. Còn niệm thì nó chỉ là ghi nhận đối tượng, không nhầm lẫn.

Thí dụ như khi thân mình đau nhức, niệm mà ghi nhận đúng thì lúc bây giờ nó là cái gì? Thân đau nhức đó. Nếu ghi nhận đúng thì nó là cái gì? Thọ. Là thọ khổ. Nó là thọ khổ. Đó là niệm, nó làm vai trò đó, không bị nhầm lẫn.

Đó là niệm ở trong tâm sở. Khi niệm được phát triển mạnh thì lúc nào nó cũng được hỗ trợ của trí. Còn nếu một mình nó thì nó không đủ sức mạnh. Hễ được thực tập thường xuyên thì nó sẽ có sự hỗ trợ của trí.

Cho nên khi mình thực tập, thí dụ các Phật tử thực tập thiền được nhiều một chút, mình tập quan sát tâm giống như sư nói lúc nãy. Lúc mình ngồi như vậy, thân ngồi đây nhưng tâm suy nghĩ cái này, suy nghĩ cái kia; suy nghĩ chuyện ngày sáng chưa làm, chuyện hôm qua chưa làm, ngày mai sẽ làm gì. Ví dụ vậy. Tí về có bị kẹt xe hay không? Ví dụ vậy.

Khi mình ngồi ở đây mà tâm mình suy nghĩ như vậy, nếu niệm ghi nhận đúng, có sự hỗ trợ của trí, thì mình sẽ phát hiện ra, mình thấy nó. Mình thấy đây là trạng thái của tâm phóng dật, đang chi phối.

Niệm kết hợp với trí tuệ khi nó được phát triển mạnh. Còn nếu không thì sao? Người ngồi đây chứ nhiều khi sư nói vậy, nói bên này lọt qua bên kia, niệm nó không có. Tức là nó phóng dật và chi phối hết trơn.

Cho nên các Phật tử nhiều khi nghe một bài pháp, lúc nghe thì nghe rất là hay, nhưng đến khi được hỏi lại thì không nói được gì hết, tại nó vô rồi lọt ra, nó không ghi nhớ được cái gì.

Do cái tâm tập trung của mình. Hễ mình có niệm nhiều thì nó cũng hỗ trợ cho tâm định, giúp cho mình nhớ tốt. Còn mình mà phóng dật nhiều quá thì mình không nhớ được cái gì. Sân giận cũng nhiều quá thì mình không nhớ được cái gì.

Cái đó là thứ hai. Thứ ba đó là tàm và quý, tâm sở tàm và tâm sở quý. Tàm và quý này, mình nhớ đến hôm mà mình học tâm sở bất thiện, cái nhóm si phần, thì mình có gì? Vô tàm, vô quý. Tức là hễ tâm bất thiện sanh khởi thì nó làm cho mình không có hổ thẹn, không biết ghê sợ điều ác. Bất cứ một tâm bất thiện nào sanh khởi thì nó cũng có hai anh đó hỗ trợ.

Ổ thẹn, không biết ghê sợ điều ác. Bất cứ một tâm bất thiện nào sanh khởi, nó cũng có hai anh đó hỗ trợ. Cho nên khi tâm bất thiện sanh khởi, người ta sẵn sàng làm bất cứ điều ác gì.

Nhưng ngược lại, khi tâm thiện sanh khởi thì nó khác, nó đối lập lại, tức là nó có tàm và quý hỗ trợ. Cho nên chúng ta thấy, mặc dù tâm sanh khởi có nguyên nhân của nó, nhưng thông qua Vi Diệu Pháp này, nó cho mình thấy là chỉ với một tâm thiện sanh khởi thôi, nó có nhiều thiện pháp khác, nhiều đức tính tốt khác hỗ trợ cho tâm thiện đó.

Thí dụ như một tâm thiện liên quan đến tâm từ hoặc tâm bi mà có tàm và quý sanh khởi, nó sẽ giúp cho các anh chị thấy là lúc đó mình sẽ có suy nghĩ: Mọi người ai cũng muốn sống được an vui. Vì mọi người khi gặp trở ngại trong cuộc sống thì cũng muốn thoát khỏi sự trở ngại đó, muốn vượt qua sự trở ngại đó. Cho nên không có lý do gì mà mình làm cho người khác đau khổ.

Trong tâm từ, tâm bi, trong suy nghĩ đó, mình thấy là có tàm quý ở trong đó, tức là có hổ thẹn, có ghê sợ tội lỗi, làm cho chúng sanh khác bị đau khổ.

Hôm trước thì mình cũng có thí dụ về tàm quý, giống như là hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi, giống như hai cục sắt vậy đó. Một cục sắt dính đồ nhơ bẩn, còn một cục sắt được nung nóng.

Tàm ở đây giống như cục sắt dính đồ nhơ bẩn, làm cho mình ghê nó, không dám cầm, tức là không dám làm. Còn quý ở đây là sợ, giống như cục sắt đỏ, mình không dám nắm nó vì mình sợ phỏng.

Thứ năm đó là tâm sở vô tham, alobha cetasika. Ở trong nhóm tâm sở bất thiện thì mình nhớ là nó có nhóm tham, sân, si. Khi tham sanh khởi, nó làm cho tâm mình có sự dính mắc, đưa đến chấp thủ.

Hôm qua, Sư giảng thời pháp ở chùa, nói về một bài kinh trong Tương Ưng Bộ. Trong bài kinh đó, Đức Phật đưa ra ba thí dụ, trong đó có liên quan tới tham. Ngài đưa ra thí dụ giống như con chó bị cột vào một cái cọc.

Thật ra, có thể là ngày xưa ở Ấn Độ người ta nuôi chó rồi cột như vậy. Chứ thường ở Việt Nam mình ngày xưa, mình nuôi chó đâu có cột. Con vật mà mình hay cột nuôi là con gì? Con trâu hoặc con bò. Người Việt Nam mình đưa thí dụ đó thì hợp lý hơn. Tức là người ta đóng một cái cột, rồi người ta cột con trâu hoặc con bò.

Đức Phật nói trong kinh là con chó, hoặc con trâu, con bò đó bị cột vào cái cột. Cho nên nếu nó có đi thì nó cũng chỉ đi vòng vòng cái cọc đó. Nếu nó có đứng thì nó cũng đứng vòng vòng cái cột đó. Nếu nó có ngồi xuống thì nó cũng ngồi vòng vòng đó, và nếu nó có nằm thì nó cũng nằm vòng vòng đó. Tức là nó không thể đi đâu xa được.

Thí dụ đó Đức Phật muốn nói về khi người ta có sự nhận thức sai lầm đối với năm uẩn, trong đó có sắc uẩn chẳng hạn, cho rằng sắc uẩn là của ta, là ta, là tự ngã của ta.

Có sự nhận thức sai lầm đối với năm uẩn, trong đó có sắc uẩn. Chẳng hạn, cho rằng sắc uẩn là của ta, là ta, là tự ngã của ta.

Nội dung nằm trong bài kinh Vô ngã tướng, bài kinh mà năm vị tỳ kheo, thường gọi là năm anh em Kiều Trần Như, sau khi nghe xong đã chứng đắc được thánh quả A-la-hán. Khi mình có sự nhận thức sai lầm như vậy, nó dẫn đến sự chấp thủ. Trong đi, đứng, nằm, ngồi, trong đời sống hằng ngày đều có sự chấp thủ liên quan đến năm uẩn. Vì có sự chấp thủ đó nên làm cho mình bị đau khổ.

Thí dụ, khi mình chấp thủ thân này, liên quan đến sắc uẩn chẳng hạn, thì mình muốn nó phải luôn luôn khỏe. Nếu là người trẻ thì muốn mình luôn luôn trẻ và luôn luôn đẹp. Nhưng mọi thứ đâu có như vậy được. Nó phải thay đổi.

Nếu mình muốn trẻ hoài thì con cháu mình không có lớn lên được. Nếu mình muốn cứ đẹp hoài thì mấy tiệm thẩm mỹ cũng bị ế. Cho nên mình phải xấu đi, phải già đi, phải mất tiền; tức là nó phải thay đổi. Nhưng khi mình chấp thủ, mình sẽ đau khổ.

Nhất là đối với người phàm phu, cái đau khổ nhất là ở tuổi trẻ mà khi mình mắc bệnh, bệnh hiểm nghèo, tức là bệnh có nguy cơ phải bỏ đời sống này, thì lúc đó chúng ta đau khổ kinh khủng. Vì sao? Vì mình chấp thủ nó trong đi, đứng, nằm, ngồi, trong đời sống hằng ngày của mình.

Hoặc là khi mình có người thân, một người đang khỏe, khỏe vậy đó, rồi họ bệnh, rồi họ qua đời, thì đau khổ kinh khủng. Cái đó liên quan đến tham ái, tà kiến, dẫn đến sự chấp thủ. Đó là mình nói về khía cạnh tâm bất thiện.

Còn bây giờ, trong tâm thiện thì đối lập lại, đó là vô tham. Nhờ có vô tham sanh khởi cho nên mình làm được nhiều thiện sự, mà một trong những thiện sự các vị cư sĩ hay làm được là thiện sự bố thí.

Cho nên trong kinh, Đức Phật nói là đối với các bậc thánh, nếu phải bố thí mà các ngài chưa bố thí được thì các ngài không an. Vì vậy, trong luật mới có quy định: nếu biết nhà đó là nhà của người nữ cư sĩ hoặc nam cư sĩ là bậc thánh thì các vị tỳ kheo không được đi bát quá ba lần, tức là chỉ đi một hoặc hai lần thôi.

Tại sao? Tại vì mình đi, thí dụ trong điều kiện họ khó khăn như thế nào đi chăng nữa, nhưng hễ họ thấy chư Tăng là họ phải cúng dường. Mặc dù bản thân họ chưa có gì để ăn, nhưng hễ có gì là họ phải cúng trước.

Thí dụ, nếu buổi sáng đó chư Tăng đi bát ba, bốn lần thì coi như họ bị đói. Cho nên Đức Phật quy định như vậy. Tại vì cũng có những trường hợp các vị tỳ kheo biết chỗ đó người ta đã cho rồi mà cứ đi hoài. Người phàm phu mà, thay vì phải đi đâu xa thì đi chỗ đó gần, đến người ta cho đủ dụng rồi về. Cũng có những vị như vậy.

Cho nên Đức Phật quy định, nếu biết đó là nhà của người nữ cư sĩ hoặc nam cư sĩ là bậc thánh thì các vị tỳ kheo không được đi quá hai lần. Tức là biết chỗ đó đã có người đi rồi thì không đi nữa, để phòng trường hợp họ chỉ có bấy nhiêu đó thôi. Nếu họ cho mình hết thì họ không còn gì.

Là vì sao? Là vì họ hiểu được lợi ích của việc bố thí.

Nếu họ cho mình hết, họ không có gì. Em dạ là vì sao? Là vì họ hiểu được lợi ích của việc bố thí.

Thí dụ, nếu họ là bậc thánh Dự lưu thì họ hiểu đó là do khi bố thí, lòng tham của mình bị giảm đi, tâm tham của mình bị giảm đi. Nhờ giảm đi như vậy, cuối cùng họ mới đạt được sự giải thoát hoàn toàn.

Cho nên, mỗi một lần các Phật tử mình làm được phước bố thí, mặc dù mình có biết A Tỳ Đàm hay không biết A Tỳ Đàm, tâm sở vô tham có điều kiện sanh khởi rất nhiều ở trong đó, nhất là trong việc bố thí. Còn không thì nó bị tham trói buộc hết.

Cho nên, ở trong phước bố thí, thường chúng ta khi cho ai đó thì chỉ thấy là nhà mình có, mình cho, và họ nhận được phần quà đó. Mình chỉ thấy ở người nhận chứ mình không thấy bản thân mình là người được.

Còn nếu mình thấy mỗi một lần mình cho là mình được, nhất là được lợi ích từ sự vô tham, thì đó là cái nhân giúp mình thành tựu được thánh quả. Nếu không có cái này, mình không thành tựu được thánh quả.

Do đó, lợi ích bên trong của việc bố thí, bên cạnh việc bố thí giúp thành tựu về mặt tài sản, còn có một lợi ích lớn, đó là giúp mình dứt bỏ được tâm tham. Nhờ dứt bỏ được tâm tham, mình mới thành tựu được thánh quả.

Đó là vô tham, tức là sự không dính mắc. Vô tham đóng vai trò là không chấp thủ.

Rồi, cái thứ sáu đó là vô sân, adosa cetasika. Ở trong bất thiện, chúng ta cũng có nhóm sân phần, tức là sân do sự khó chịu, sân do ganh tị, sân do bỏn xẻn, sân do hối tiếc. Đó là tâm sân.

Nhưng khi tâm thiện sanh khởi thì sao? Nó dẹp bỏ được trạng thái sân đó, tức là có tâm sở vô sân hỗ trợ. Khi tâm sở vô sân hỗ trợ, chúng ta thấy vô sân tức là sự không tàn hại. Vô sân đóng vai trò xua đuổi sự tàn hại.

Tại mỗi một lần tâm sân sanh khởi, nó muốn hủy diệt đối tượng đó, tức là muốn cái trước mặt mình, cái mình thấy, cái mình nghe, cái mình ngửi, cái mình nếm, cái mình đụng trước mặt mình lập tức phải biến mất đi. Đó là tâm sân, cái nguy hiểm của nó.

Nhưng vô sân thì dẹp trạng thái tâm đó. Cho nên thường khi tâm sở vô sân sanh khởi, nó sẽ có tâm gì sanh khởi trong tâm thiện? Thường nó sẽ có tâm từ sanh khởi. Cho nên, ở trong nhóm tâm sở tịnh hảo, ở trong nhóm tâm sở vô lượng phần, nó chỉ có bi và tùy hỷ.

Trong khi đó, ở trong tứ vô lượng tâm thì mình có từ, bi, hỷ, xả. Nhưng ở trong A Tỳ Đàm, khi trình bày về nhóm tâm sở tịnh hảo, nó chỉ có bi và tùy hỷ, không có hỷ và xả, không có từ và xả.

Nhưng thật chất, khi mình kiểm tra lại, tâm xả, tâm từ, bây giờ vô sân này, khi không muốn sát hại, không muốn làm hại chúng sanh khác thì lập tức tâm từ sanh khởi, tức là mong chúng sanh khác được an vui. Tâm từ được nằm ở trong đây.

Rồi, trường hợp thứ bảy, chúng ta có tâm sở trung hòa. Cái trung hòa ở đây, thật chất đó là trạng thái của tâm xả, tức là nó dung hòa các pháp để ổn định lại, cân bằng lại các pháp.

Như vậy, chúng ta thấy mặc dù ở trong nhóm vô lượng phần chỉ có bi và tùy hỷ.

Các pháp cân bằng lại với nhau. Như vậy, chúng ta thấy là mặc dù ở trong nhóm vô lượng phần nó chỉ có bi và tùy hỷ, nhưng nếu xét cả 25 tâm sở tịnh hảo thì chúng ta thấy là nó có đủ từ, bi, hỷ, xả. Nó vẫn có đủ.

Đó là thứ sáu, mình nói về tâm sở vô lượng. Còn thứ bảy đó là tâm sở trung hòa. Trung hòa này đôi khi có bản dịch người ta dịch là gì vậy? Hành xả. Đúng rồi, có bản dịch là hành xả. Thật ra, dịch trung hòa hay hơn. Tức là trung hòa, nó dung hòa giữa các pháp lại với nhau. Sự cân bằng về mặt tâm lý.

Trung hòa đóng vai trò ngăn chặn tình trạng thái quá. Tức là nó cân bằng. Thí dụ như đôi lúc tinh tấn quá mức, lúc thì sao? Là bỏ hẳn sự tinh tấn đi. Cho nên cái trung hòa nó dung hòa lại, không cho trường hợp như vậy.

Tâm sở trung hòa ở trong tu tập, chúng ta thấy giống như trường hợp tôn giả A-nan-đà. Lúc cuộc kết tập Tam tạng đầu tiên sắp đến mà Ngài cố quán quá mức, chúng ta thấy sao? Là không chứng đắc được thánh quả. Bởi vì tinh tấn quá mức làm cho các pháp không cân bằng được.

Lúc đó, Ngài chỉ nghĩ: “Thôi, bây giờ mình thư giãn một tí cho nó khỏe. Mình cố gắng mấy tháng nay rồi mà cũng không chứng được.” Với cái tâm chỉ nghĩ là cho sự tinh tấn hạ xuống một tí, thì chỉ cần hạ xuống một tí, tâm sở trung hòa này làm công việc đó, tức là cân bằng lại các pháp. Trong oai nghi từ ngồi, Ngài chỉ nghĩ là ngả lưng một tí thôi, thì chỉ trong oai nghi vừa nghiêng mình, Ngài đã chứng đắc được thánh quả.

Thật ra, trong tu tập, chúng ta thấy mình cố gắng nỗ lực, thí dụ trong tu tập thiền, cố gắng ngồi ngày ngồi đêm, nhưng đến khi chứng đắc được thánh quả thì sao? Chỉ trong tích tắc, chỉ trong tích tắc thôi. Đó là tâm sở trung hòa, tức là nó cân bằng về mặt tâm lý, giúp cân bằng về mặt tâm lý.

Cho nên mới nói, tâm cũng có một phần tâm sở trung hòa. Ở trong tâm thiện, cái vui ở trong tâm thiện, thứ hai nói với các Phật tử đó là tại vì người ngoài đời, người ta cứ nghĩ là mình làm cái gì mà hễ mình vui, người khác vui là được. Người ta nghĩ cái đó là tốt.

Nhưng mà trong pháp, nó không phải như vậy. Tại có những trường hợp mình vui mà người khác cũng vui, nhưng mà vui trong ác pháp. Có không? Có. Có nhiều việc mà mọi người đều vui, nhưng mà vui trong cái ác, hoặc là không có giết hại ai nhưng mà nó không phải trong cái thiện.

Còn vui ở trong cái dễ vui thì tâm mình rất là dao động, rất dao động. Cho nên sau cuộc vui đó, nó có thể dẫn đến những hành động ác khác.

Cho nên các Phật tử thấy là ở trong năm điều giới của các Phật tử, trong Ngũ giới, mình có điều giới thứ năm. Ngày xưa, do các Ngài dịch để mình dễ đọc một tí thôi, tức là “sự dễ vui, uống rượu và các chất say”. Nhưng thật ra, câu đó nếu dịch cho đúng theo chữ Pali, thì “sự uống rượu và các chất say là nguyên nhân dẫn đến sự dễ vui”. Nghĩa của câu là như vậy, chứ không phải “sự dễ vui, uống rượu và các chất say”. Nó không phải.

Đến sự dễ vui. Cái câu, cái nghĩa nó là như vậy, chứ không phải sự dễ vui uống rượu và các chất say đâu. Nó không phải. Tức là sự việc sử dụng rượu và các chất say đó là nguyên nhân dẫn đến sự dễ vui khác nữa.

Cho nên mình thấy, khi mình sử dụng các chất say, mọi người rất vui. Nhưng từ cái vui đó, sao có thể khiến người ta hành động những việc ác khác? Những việc ác khác, đơn giản giống như là khi người ta sử dụng chất say mà người ta tham gia giao thông thì chúng ta thấy sao? Cầm tay lái thấy khác liền. Lúc đó không còn nghĩ tới ai mà chỉ còn nghĩ tới mình thôi. Đó là cái nguy hiểm ở trong cái vui, mà vui ở trong bất thiện.

Còn cái vui ở trong thiện pháp này, vì nó có tâm sở trung hòa này. Tức là khi mình càng vui ở trong thiện pháp thì tâm của mình nó càng lắng dịu. Nó càng lắng dịu chứ nó không có dao động.

Cái đó Phật tử mình cũng cần để ý. Cho nên, thí dụ như khi Phật tử mình có tạo các thiện pháp, ví dụ làm được một cái lễ nào đó mà tâm nguyện của mình đã ước nguyện từ lâu, bây giờ mình thực hiện được, thì chúng ta thấy sao? Cái niềm vui đó nó lạ kinh khủng. Người khác, nếu mà họ chưa từng trải qua, thì họ sẽ không có hiểu.

Và cái niềm vui khi Phật tử thực tập thiện pháp mà mình an trú được ở trong tâm định chẳng hạn, cái niềm vui đó nó sâu lắng và khó nói. Người không thực tập thì không thể nào hiểu được. Nếu mà họ có hiểu thì họ chỉ hiểu chung chung.

Thí dụ như mình nói về cái vị chua, thì me nó cũng chua, xoài nó cũng chua, cam cũng chua. Nó nhiều vị chua, nhưng mà mỗi cái vị chua của các loại trái cây đó nó có giống nhau không? Nó khác nhau, và chỉ có người ăn thôi, họ mới hiểu rõ được cái đó, họ mới cảm nhận được rõ cái đó.

Thì tương tự, ở trong thiện pháp đó, khi mà thiện pháp mình thực hiện là thiện, thì nó sẽ làm cho tâm mình càng ngày càng lắng dịu, chứ nó không có dao động. Một phần nó cũng có tâm sở trung hòa để hỗ trợ.

Rồi, phần số 7, số 8. Số 7, số 8 này, hai tâm sở này... À, số 8, 9, xin lỗi. Số 8, 9 có ý nghĩa giống nhau, cho nên gom lại. Tịnh thân là sự vắng lặng của tâm và tâm sở. Tịnh thân và tịnh tâm đóng vai trò là chế ngự sự dao động của tâm và tâm sở.

Ở đây có một từ làm cho mình dễ bị nhầm lẫn, đó là chữ tịnh thân. Chữ tịnh thân, sư muốn cho Phật tử coi lại kỹ. Đây rồi.

Sư muốn nói cái chữ thân này một tí, tại cái chữ tịnh thân này cũng có người học, họ cũng hiểu lầm. Họ nói trong tâm cũng có yếu tố vật chất, tại nó có chữ tịnh thân. Cái chữ kāya đó nó bị nhầm lẫn.

Thật chất là mình không tìm được chữ gì khác để có thể dịch thay cho chữ đó. Cho nên mình dịch là... mình thấy chữ kāya, mình dịch nó là thân. Nó dẫn đến sự nhầm lẫn. Cái chữ thân ở trong trường hợp này thật ra không phải là yếu tố vật chất, mà chữ thân này chỉ cho một dạng tâm sở. Nó chỉ là một dạng tâm sở, nhưng do mình không có chữ nào để dịch cho chữ kāya thôi, cho nên mình dịch là chữ thân, làm cho mình nhầm lẫn với cái thân.

Mình không có chữ nào để dịch cho chữ kāya, cho nên mình dịch là chữ “thân”, làm cho mình nhầm lẫn với cái thân. Đó là cái vật chất, tức là cái thân xác. Thực chất, nó là tên của một tâm sở và có vai trò làm cho các tâm sở đồng sanh với nó được yên tịnh, được lắng dịu.

Còn chữ tịnh tâm, tức là nó cũng là một loại tâm sở, nhưng có vai trò làm cho các tâm đồng sanh với nó được lắng dịu và thanh tịnh.

Liên quan tới chữ kāya này, chữ kāya có nhiều nghĩa lắm. Thí dụ, nếu các vị đọc ở trong đoạn kinh số 16 này: “Này các Tỳ-kheo, thế nào là hành? Có sáu tư thân hành này: sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư.” Đọc “sáu tư thân hành” này có hiểu không?

Nếu mình nói “có sáu tư này” thì dễ hiểu: sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư. Nhưng bây giờ mình dịch là “sáu tư thân hành”. Tại vì nó liên quan tới chữ Pāli này.

Trong chữ Pāli này, chữ kāya liên quan tới chữ này. Không phải chữ tư, mà là chữ kāya. Xin lỗi, sañcetanā, tức là tư. Ở dưới nữa, không phải nó là tưởng. Kāya, tại vì nó liên quan tới chữ này, cho nên Ngài dịch vậy. Nhưng thật sự, dịch như vậy thì đọc không hiểu.

Tức là, sáu tư này, thật ra chữ kāya trong trường hợp này không có nghĩa là “thân”, mà có nghĩa là “loại” hay là “nhóm”. Tức là có sáu loại tư, chứ nó không phải là thân. Cho nên dịch chữ “thân” thì đọc hoàn toàn không hiểu.

Hoặc thí dụ, ở trong Kinh Trường Bộ còn có chỗ Đức Bồ Tát, thật ra không phải Bồ Tát hiện tại mà là một vị Bồ Tát trong quá khứ, khi Ngài đi ra và gặp bốn thiên sứ. Trong trường hợp thứ tư, Ngài gặp một người chết. Lúc đó có một nhóm người khiêng quan tài. Ở trong đó, người ta cũng sử dụng chữ này, mahājanakāya.

Chữ kāya này không phải là “thân”, mà là một nhóm người, một nhóm đông người. Chữ kāya chỉ một nhóm, chứ không phải lúc nào cũng là thân.

Mình nghĩ “thân ngũ uẩn”, thân năm uẩn, là thuộc về thành phần sắc pháp. Sư muốn nói vòng vòng mấy cái này để các vị hiểu chữ kāya trong tâm sở. Trong trường hợp này, nó không phải là thân thuộc về vật chất, mà nó chỉ là một loại tâm sở. Nhưng do mình không có chữ nào khác để dịch thay thế cho nó, nên mình tạm dịch là chữ “thân”. Tuy nhiên, mình phải hiểu nó chỉ là một loại tâm sở.

Đó là từ một ngôn ngữ chuyển sang một ngôn ngữ khác. Nhiều khi mình phải hiểu như vậy, chứ mình cứ thấy kāya tức là thân, kāya là thân, rồi mình hiểu như vậy thì không được. Mình cứ hiểu một nghĩa, tức là kāya đó là thân vật chất, thì không đúng.

Thật ra, học Pāli nhiều khi mình phải nhờ có Pāli thì mình mới làm được mấy cái đó. Nó giúp mình hiểu rõ ý nghĩa; còn không thì mình bị khuyết điểm ở chỗ đó. Cho nên, khi chia sẻ Phật pháp, cố gắng chia sẻ với các Phật tử.

Ý nghĩa, còn không mình bị khuyết điểm cái đó. Cho nên thật ra là chia sẻ Phật pháp thì cố gắng chia sẻ với các Phật tử. Nhưng mà nếu các Phật tử không cố gắng học thêm một tí ngôn ngữ B thì cũng hơi lo cho các Phật tử đó, là sau này nhiều khi đến khi mình chia sẻ cho người khác, mình sẽ không nói thêm được những phần đó, có thể làm cho người ta bị hiểu lầm.

Và sợ nhất đó là khi mình không hiểu rõ mà mình cố gắng nói bậy. Sợ nhất cái đó, nhất cái đó.

Dạ. Đó là tâm sở tịnh thân, tịnh tâm, tức là làm cho tâm và tâm sở được lắng dịu. Nó dung hòa lại, rồi nó còn thêm cái tịnh thân, tịnh tâm, làm cho các pháp mà khi sanh khởi, cái thiện pháp mà sanh khởi, nó còn được lắng dịu.

Rồi, số 10, 11 đó là khinh thân, khinh tâm thì nó cũng tương tự. Loại tâm sở làm cho thân tâm, làm cho tâm và tâm sở được nhẹ nhàng.

Khinh thân cùng với tâm sở khinh tâm đóng vai trò dẹp bỏ sự nặng nề của tâm và tâm sở. Cái sự nặng nề của tâm và tâm sở này là nó nằm ở đâu, khi nào?

Thì tâm và tâm sở bị nặng nề là bất thiện. Trong cái ý nghĩa bất thiện hôm trước mình có một cái nghĩa là gì? Cái gì mà nó liên quan tới nặng nề, là tâm bệnh hoạn. Hôm trước mình nói cái nghĩa của bất thiện có một cái nghĩa đó là tâm bệnh hoạn.

Thì khi tâm bệnh hoạn là sao? Nó sẽ làm cho các pháp đồng sanh với nó cũng nặng nề, trạng thái nặng nề.

Cái này mình hiểu dễ hiểu đó. Mỗi một khi mà chúng ta thấy cơ thể mình không được khỏe thì mình thấy sao? Nó rất là nặng nề. Đó là về mặt vật chất mà mình thấy như vậy. Nhưng mà tâm mình cũng vậy.

Dạ. Tức là trong lúc buồn, các Phật tử thấy mọi thứ nó nặng nề hết. Đó là bất thiện.

Nhưng mà với thiện thì sao? Thì nó có cái khinh thân, khinh tâm này. Nó giải quyết cái đó. Cho nên thuyết pháp sư hay nói với các Phật tử, nhất là các Phật tử trẻ, trong lúc mà mọi thứ suôn sẻ với mình, mọi thứ đều tốt đẹp với mình, thí dụ như có công ăn việc làm, được thành tựu về mặt tài sản, thành tựu về quyền chức, danh vọng các thứ, thì trong lúc đó là lúc mình cố gắng thực hiện các thiện pháp.

Tại lúc đó tâm mình đầy đủ các yếu tố này. Thí dụ nó nhẹ nhàng, rồi nó còn có những tâm khác nữa, thí dụ như nhu nhuyến, mềm mại, mình dễ uốn nắn nó.

Còn lúc mà chúng ta bị thất bại các thứ rồi thì tâm nó nặng nề, mình không dễ để mình uốn nắn nó. Cho nên trong lúc thiện pháp đang cho quả, mọi thứ thuận lợi, thì trong lúc đó là lúc mình tu tập tốt nhất, hoặc là lúc mình thực hiện các thiện sự thì nó có hiệu quả nhất.

Còn trong lúc các Phật tử buồn rầu, lo âu rồi thì khó lắm. Thí dụ như khi mình có người thân mà mình thương yêu, quý mến, đến lúc họ mất, vì mình thương họ nên mình tới chùa, cố gắng làm công đức này, công đức kia. Thật ra cái hiệu quả nó rất ít.

Lý do sao? Tại lúc đó tâm của mình quá buồn, phần lớn mình bị chi phối bởi bất thiện không. Cho nên nói là thực hành thiện pháp, chứ thật sự tâm thiện của mình sanh khởi trong lúc đó rất ít.

Lúc đó mình chỉ trông chờ là nhờ quý thầy, quý sư gì đó cầu siêu, cầu an cho người thân của con, chứ mình không làm được.

Chỉ trông chờ là sao? Nhờ quý thầy, quý sư gì đó cầu siêu, cầu an cho người thân của con, cho mình, thì không có làm được. Tại lúc đó mình bị cái bất thiện nó chi phối quá mạnh.

Nhưng mà thật chất, trong việc làm phước để hồi hướng phước cho người thân, khi các Phật tử mình hiểu, người có khả năng hồi hướng cho người thân là các Phật tử mình. Tại vì mình là người tạo phước, cho nên mình có phước để mình hồi hướng cho người thân.

Còn Tăng chúng, ở trong cái ân của Đức Tăng, mình có gì? Tăng là phước điền, tức là cái ruộng phước, giống như cái thửa ruộng để người ta đem hạt lúa đi gieo. Người có được kết quả là ai? Là người nông dân, chứ thửa ruộng nó đâu được gì.

Đến khi mình hiểu là phải như vậy, tức là việc làm phước hồi hướng đó, thí dụ mình muốn làm phước hồi hướng cho ai đó thì bản thân mình, người thân của mình, mình tạo phước và mình có công đức, mình là người chính hồi hướng phước cho họ. Mình cũng là người hiểu rõ người thân của mình. Đó là trong việc hồi hướng phước.

Rồi, mười hai, mười ba, đó là tâm sở nhu thân, nhu tâm, kāya-mudutā, citta-mudutā. Đây là loại tâm sở làm cho tâm và tâm sở, là các pháp đồng sanh với nó, dẹp bỏ sự thô tháo của tâm và tâm sở. Ý nghĩa chung của nó là linh hoạt, nhu nhuyến.

Cái chữ “linh hoạt, nhu nhuyến” này, hoặc là chữ “nhu nhuyến” này, mình đọc trong kinh hay gặp ở trường hợp nào? Hay gặp khi mà tâm định tĩnh, dễ sử dụng, nhu nhuyến, dễ sử dụng, rồi hướng tâm đến túc mạng trí hoặc là túc mạng minh, sanh tử minh gì đó.

Tức là trong lúc chứng đắc được các thánh quả, lúc đó tâm nó mềm mại, dễ sử dụng. Tâm thiện nó được uốn nắn. Nó là những trạng thái tâm thiện, chỉ có trạng thái tâm thiện thôi nó mới làm được mấy cái đó.

Còn, ví dụ nếu mà sân thì sao? Cứng ngắc, tâm thô tháo. Tâm thô tháo thì từ tâm thô tháo đó, nó điều khiển hành động bằng lời nói hoặc là những cử chỉ bằng thân. Cái nào nó cũng thô tháo hết.

Các Phật tử thấy là trong lúc mình giận, mà mình làm công việc gì, chúng ta nhìn thấy sao? Thô tháo lắm. Chụp cái này quăng cái kia, cái nào nhìn thấy cũng không có được.

Ví dụ nếu mà chúng ta, ngay cả quý sư, trong lúc làm việc mà mình nhìn thấy người ta làm vậy là biết lắm, lúc đó không có vui. Tức là làm mọi thứ thấy rất nặng nề, từ đặt, cầm cái này rồi đặt cái kia xuống, mọi thứ đều rất là nặng nề. Tại đó là trạng thái của tâm sân và nó điều khiển qua hành động.

Sau này mà chúng ta học thêm phần duyên hệ thì nó nói mấy cái đó rõ lắm, tại sao khi tâm sân sanh khởi mà các hành động bằng lời nói hay là bằng thân lại thô tháo như vậy. Tại nó bị sự điều khiển của tâm. Tâm điều khiển.

Ngay cả trong cái đi đứng của mình, nó cũng là tâm điều khiển hết. Tại chúng ta thấy là lúc mà mình chết, khi tâm mình không còn làm việc thì chúng ta thấy cơ thể này sao? Nằm đơ đó, nó đâu làm gì được. Nhưng mà việc đi đứng và các thứ là do tâm nó điều khiển.

Cho nên nếu mà tâm thiện, tâm thiện thì trong trường hợp này, nếu mà nhu thân, nhu tâm thì nó sẽ dẹp bỏ được trạng thái thô tháo.

Ở trong trường hợp này, nếu nhu thân, nhu tâm thì nó sẽ dẹp bỏ được trạng thái thô tháo. Khi dẹp bỏ được trạng thái thô tháo ở trong tâm thì khi đưa ra hành động, nó sẽ mềm mại.

Nhưng mấy cái nhu thân, nhu tâm này còn đòi hỏi công việc đó được làm thường xuyên nữa. Còn không thì nó giống như thiện pháp được phát triển. Ví dụ như các Phật tử đi đến chùa đảnh lễ Đức Phật. Có ai lúc đó chưa biết đảnh lễ Phật mà vô chùa đảnh lễ không? Có không? Không có. Phật tử cũng có người biết, người chưa biết, ít nhiều cũng có người không biết. Tức là được kêu đảnh lễ mà không biết làm sao. Rồi nếu có làm được thì sao? Làm cũng chẳng giống ai.

Tức là nhìn thấy cứng ngắc. Lúc đó tâm thiện có nhu thân, nhu tâm không? Nó có, nhưng mà nó chưa được phát triển. Cho nên, hễ một tâm thiện sanh khởi là các tâm sở này có mặt hết. Chỉ có điều là nó chưa được phát triển mạnh. Nói cái này nhiều khi mình hơi khó hiểu. Nó giống như niệm vậy đó. Khi tâm thiện của mình chưa được phát triển mạnh thì nó có mặt một chút rồi mất tiêu, không có sức mạnh.

Tương tự, nhu thân, nhu tâm cũng vậy. Khi các Phật tử đi đến chùa, mặc dù mình chưa biết gì nhưng được hướng dẫn, được nghe nói về Đức Phật thì cũng đảnh lễ. Nhưng lúc đó, hành động đảnh lễ của mình nhìn nó thô lắm, không có mềm mại. Mặc dù đó không phải là tâm bất thiện, nhưng vì nhu thân, nhu tâm chưa được phát triển cho nên nó không mềm mại được.

Rồi, 14, 15 đó là thích thân, thích tâm, là sự thích nghi của tâm và tâm sở. Thích thân cùng với thích tâm đóng vai trò làm tan biến sự không thích nghi của tâm và tâm sở.

Trong trường hợp này cho thấy, khi tâm thiện sanh khởi để thực hiện hành động thiện thì có những tâm sở này hỗ trợ. Ví dụ các Phật tử ngồi thiền. Thoạt đầu, khi mình ngồi thiền thì tâm mình đâu có yên được, tâm không yên. Cho nên chúng ta ngồi một lúc thì thấy cơ thể xao chuyển liên tục. Nhiều khi mới 15 phút mà mình tưởng như đã ngồi cả tiếng.

Tại nó không thích nghi được, tâm mình chưa thích nghi được. Đức Phật nói tâm của người phàm phu giống như con cá bị bắt quăng lên bờ vậy đó, nó nhảy nhót liên tục cho đến khi kiệt sức mới dừng lại.

Tương tự, vì tâm mình sống trong phóng dật, trong những điều bất thiện nhiều, cho nên khi bắt nó ngồi lại, an trú trong thiện pháp thì nó khó chấp nhận. Nhưng nếu mình huấn luyện nhiều lần thì ban đầu nó không chịu, nhưng mình cứ giống như em bé, mình vỗ về các cháu bằng cách cho bánh hoặc cho cái gì mà các cháu thích.

Tâm thiện của mình khi còn yếu thì đôi khi mình cũng phải tìm cách để nó chấp nhận. Giống như khi thực tập thiền, các Phật tử mới thực tập, mới ngồi khoảng 10 phút hoặc 15 phút đã ngủ gật. Vì sao? Vì tâm mình không thích nghi với cảnh.

Mười phút hoặc mười lăm phút là đã ngủ gật. Vì sao? Vì tâm mình không có thích nghi, không thích nghi với cảnh của thiền đó. Nhưng đến khi được huấn luyện nhiều lần, thực tập nhiều lần, có trải nghiệm, thì khi tâm thích nghi rồi, để nó làm được tốt, cái thích thân, thích tâm đó làm cho tâm, các pháp đồng sanh với nó, đó là thích nghi.

Mà thích nghi ở đây là thích nghi trong thiện pháp, trong tâm thiện rồi. Tâm sở thuần tâm, thuần thân, thuần tâm. Tức là ở đây đó là thuần thục, đi luyện. Thì tâm sở thuần thân, thuần tâm đóng vai trò là loại bỏ sự vụng về, yếu kém của tâm và tâm sở.

Cho nên ở trong tâm thiện, mình làm bất cứ hành động gì, nếu hành động với tâm thiện mà có đầy đủ chánh niệm, chúng ta thấy hành động đó rất là đẹp.

Và tại sao chúng ta thấy hình ảnh của bậc thánh, người ta nhìn vào trong kinh mà mình thấy hình ảnh của bậc thánh là người ta biết liền? Giống như trường hợp ngài A Chí. Ngay cả lúc đó ngài chỉ đi một mình thôi, mà ngài Xá-lợi-phất, lúc đó là một du sĩ, nhìn thấy ngài A Chí là biết ngay người này không phải là người bình thường.

Tức là chỉ trong tướng đi của người có chánh niệm thôi, sự thuần thân, thuần tâm được phát triển, người ta nhìn vào là biết liền. Mình thì có thể nhìn không biết, tại vì trí của mình yếu, mình không nhận ra được sự khác biệt. Nhưng với người có trí như ngài Xá-lợi-phất, ngài nhìn là biết liền. Ngài nhìn là biết ngay: Tướng đi này không phải là tướng đi của một người bình thường. Và lập tức ngài đi theo để hỏi, đúng như cách ngài suy nghĩ, đó là bậc thánh.

Còn một trường hợp cũng nhìn qua, nhìn ra, nhưng chưa sâu sắc do niềm tin. Người đầu tiên gặp được Đức Phật lúc Ngài vừa giác ngộ, khi Đức Phật đi bộ, tên là Ưu-ba-ca.

Nhìn thấy sắc mặt trong sáng và các thứ, ông mới hỏi Đức Phật: “Ngài tu với ai, là học trò của ai, xuất gia với ai?”

Thì Đức Phật nói Ngài không xuất gia với ai, cũng không có vị thầy nào hết. Bản thân Ngài tự giác ngộ, tức là tự thực hành và đạt được sự giác ngộ.

Ông ấy cũng gật gật đầu, nói: “À, đúng rồi.” Rồi ông mới nói: “Mong rằng mọi thứ như vậy.”

Tức là nhìn cũng biết có sự khác biệt, nhìn nét mặt của Đức Phật, ông cũng biết đó là một người khác hẳn với người bình thường. Nhưng đến khi hỏi Đức Phật và Đức Phật nói như vậy rồi thì ông không tin lắm. Tại vì giống như người ta học thì cũng phải có thầy, tu cũng phải có thầy. Còn Đức Phật nói Ngài không tu với ai hết, cũng chẳng có vị thầy nào dạy, tự Ngài thực hành và chứng đắc được sự giác ngộ.

Thì đúng như vậy. Ban đầu Ngài cũng có tu theo các vị đạo sĩ khác, cũng xuất gia với các vị đạo sĩ khác. Nhưng để đạt được sự giác ngộ đó thì các vị thầy đó không giúp Ngài được. Và giai đoạn cuối cùng là giai đoạn tự Ngài nỗ lực và chứng đắc được thánh quả.

Nó không giúp ngài được. Và cái giai đoạn cuối cùng đó là giai đoạn tự ngài nỗ lực, và ngài chứng đắc được thánh quả. Cho nên lúc đó không ai là thầy của ngài hết.

Đức Phật nói như vậy xong, ông cũng gật gật đầu, nói là mong một thứ như vậy. Họ cũng có khả năng nhìn thấy được một người khác hẳn với người thường, nhưng mà sự sâu sắc thì họ không có. Có thể là do nhân duyên của họ.

Những trường hợp đó cho chúng ta thấy một người thuần thục thân, thuần thục tâm thì loại bỏ được những cái vụng về trong đi, đứng, nằm, ngồi, trong công việc của mình.

Cho nên nếu học cái này, các Phật tử thấy là nếu mình làm một công việc gì đó mà còn vụng về, một là mình bị chi phối bởi tâm bất thiện, trong đó có tâm sân. Thứ hai là do mình còn thiếu cái này, còn thiếu cái kia, cho nên mình tập phát triển những cái đó cho nhiều lên.

Tại bây giờ mình biết rồi. Mình biết rõ từng trường hợp là mình đang thiếu cái nào. Thí dụ như xem coi tâm mình có mềm mại hay không. Mình tập uốn nắn đó. Nếu nó chưa mềm mại thì chỉ cần người ta nói một cái gì không vừa ý là mình giận liền, là biết mình chưa có mềm mại đó, thì tập nó.

Cái đó không ngoài khả năng của mình. Chỉ cần mình phát hiện nó thì mình có thể làm được.

Thật ra, bậc Thánh khác người phàm phu là các ngài phát hiện và các ngài làm được. Cái làm được đó là đoạn trừ được hoàn toàn. Còn cái dở của mình là mình không phát hiện nó. Nếu mình phát hiện nó thì mình cũng nghĩ nó là tốt, cho nên mình ủng hộ nó, mình không dẹp bỏ được cái bất thiện đó.

Còn nếu mình phát hiện mà mình quyết tâm từ bỏ nó, giống như người hút thuốc vậy đó. Thật ra người hút thuốc, họ biết cái đó xấu không? Biết. Biết cái đó xấu, nhưng mà bỏ không được.

Hoặc là giống người nghiện rượu vậy đó. Thật ra họ cũng biết cái đó không tốt, uống cái đó không tốt cho sức khỏe, nhưng mà bỏ không được.

Thậm chí giống người hút thuốc. Sư nhớ là có vị sư phụ mà hồi đó sư đi học, cũng là vị thầy giáo thọ dạy sư. Trước phòng, ngài dán viết một tấm giấy để đó: “Hút thuốc có hại cho sức khỏe”. Ngài nói: “Mình cũng biết chứ, nhưng mà hút thuốc nhiều quá. Tôi phải làm như vậy đó”. Nhưng mà cũng không bỏ được, tức là viết như vậy để tự nhắc mình, để giảm bớt đi tại hút quá nhiều.

Tức là vẫn biết cái đó xấu, vẫn biết cái đó xấu nhưng mà không bỏ được. Đó là cái nguy hiểm ở người phàm phu. Người phàm phu thì những cái xấu thô thiển mình có thể nhìn thấy được rõ. Còn người phàm phu, thật ra mình còn có nhiều cái xấu lắm.

Sư thí dụ như có câu chuyện mà khi sư thuyết pháp, sư hay kể, các Phật tử cười dữ lắm. Câu chuyện ông trưởng giả, ông nhà giàu lắm, nhà bảy tầng. Trong thời Đức Phật, nhà bảy tầng mà có lần đó ông đi vào hoàng cung. Ngày xưa, các vị trưởng giả giống như bây giờ mình, giống ngày xưa trưởng ấp, trưởng thôn hay…

Vào hoàng cung. Ngày xưa, các vị trưởng giả giống như bây giờ mình gọi là trưởng ấp, trưởng thôn hay điền chủ gì đó, cứ ba tháng một lần phải đi vào gặp đức vua để trình báo công việc ở địa phương của mình.

Ông này đi trên đường thì gặp những đứa bé ăn bánh nướng. Trong kinh, các ngài dịch từ chữ “bánh...” đó là bánh xèo. Chắc mình dịch theo người miền Tây. Thật ra nó không phải là bánh xèo. Cố gắng nhớ chữ này để mai mốt đi Ấn Độ tìm cái bánh đó. [Tiếng cười]

Thật ra lúc đi Ấn Độ, sư thấy họ có một loại bánh đó, ăn cũng ngon. Nó giống như cái bánh xèo ở miền Trung mình. Ai có đi miền Trung rồi thì biết, bánh xèo miền Trung ăn lạ lắm. Nó không giống bánh xèo miền Tây, chỉ hơi giống một chút thôi. Hình dáng thì giống nhau, bánh cũng tương đối ngon. Đi Ấn Độ, nếu mình ghé nhà hàng nào đó, họ có làm loại bánh đó. Chắc là bánh đó thôi, chứ không phải bánh xèo giống như mình nói ở miền Tây. Tạm hiểu đó là một loại bánh nướng.

Ông thấy vậy thì thèm ăn bánh đó. Nhưng đến khi về nhà, ông suy nghĩ: nếu mình nói mình thèm ăn bánh đó thì ở nhà phải làm, mà không lẽ làm chỉ cho mình ăn, cũng kỳ. Ở nhà vừa có người giúp việc, vừa có vợ con, cháu chắt các thứ, cho nên ông không dám nói. Rồi ông nhịn, nhịn cho đến khi sự thèm ăn làm cho bệnh. Thèm lâu ngày rồi bị bệnh.

Bà vợ hỏi:

“Anh sao vậy? Nhìn thấy người xanh xao quá.”

Bà hỏi lên hỏi xuống, cuối cùng ông mới chịu nói là mình thèm cái bánh đó. Bà vợ nói:

“Anh chỉ thèm bánh đó thôi mà cũng không dám nói để em làm cho cả làng này ăn.”

Ông nghe sợ quá. Tức là ông không dám nói vì tính đến chuyện người giúp việc, con cháu trong nhà cũng phải ăn. Bây giờ nghe bà vợ nói vậy thì ông càng không dám nói nữa.

Bà vợ cũng biết tính chồng nên nói:

“Thôi, để làm cho con cháu ăn thôi.”

Ông cũng không chịu. Mấy đứa nhỏ ăn, người giúp việc ăn, ông cũng không chịu. Rồi bà nói:

“Thôi vậy làm tôi với ông ăn.”

Ông mới nói:

“Bà cũng ăn nữa sao?”

Cuối cùng bà nói:

“Thôi vậy làm cho ông ăn.”

Rồi bà đem lên lầu bảy. Tại làm ở dưới thì con cháu, người giúp việc thấy mà không cho ăn cũng kỳ. Cho nên hai vợ chồng đem chút bột gì đó lên lầu bảy.

Lúc đó, đức Phật ở chùa nhìn thấy, ngài quan sát chúng sanh, rồi ngài nói với ngài Mục Kiền Liên:

“Ông đi đi, hai vợ chồng đó đang làm bánh ở lầu bảy.”

Chỉ trong tích tắc, với thần thông, ngài Mục Kiền Liên đi tới. Lúc đó họ mới làm được cái bánh đầu tiên. Ông chồng rất giận, nói:

“Đã lên tới đây rồi mà cũng sợ mấy ông nhòm ngó, rồi nhòm lên nhòm xuống.”

Ông nói với ngài Mục Kiền Liên:

“Nếu ông giỏi thì ông làm cho khói chung quanh bay kín tòa nhà này đi.”

Với thần thông của mình, ngài làm cho khói mịt mù chung quanh. Ông chồng sợ quá, nói:

“Thôi, đừng có làm nữa!”

Cuối cùng, ông nói hoài mà ngài cũng không đi. Ông mới nói:

“Bà làm cái nào nhỏ nhỏ cho ổng một cái, cho ổng đi cho rồi.”

Bà vợ mới lấy bột. Thay vì một cái bánh làm ba muỗng bột, bà chỉ đổ có một muỗng.

Bà nói nhỏ nhỏ: “Cho ổng cái, cho ổng đi cho rồi.” Thì bà vợ mới lấy ra. Thay vì một cái bánh này làm ba muỗng bột, bà chỉ đổ có một muỗng.

Nhưng do thần thông của ngài, cái bánh nó lớn hơn. Ngài nói bà làm cái bánh nhỏ, mà bà làm cái bánh lớn hơn, chứng tỏ bà giống như đồng bọn với ngài vậy, tức là cùng phe. Cho làm nhỏ nhỏ mà lại làm bánh lớn.

Cho nên ông tự tay ông đổ một muỗng. Tức là càng ít bột thì bánh càng lớn, cho nên đổ cái nào bánh nó cũng lớn hết. Rồi cứ tiếc, để lại, để lại. Một hồi là bánh một đống, chưa cho cái nào được.

Rồi ổng mới nói: “Thôi, bây giờ lấy cái nào cho ổng cái đi, chứ cái nào nó cũng lớn.”

Đến khi nói là lấy cái nào cũng được thì bánh nó đã nhiều, mà ngài làm các bánh dính lại hết. Dính lại với nhau hết. Hai vợ chồng kéo để tách ra một cái bánh, kéo tới toát mồ hôi mà kéo không được, tách ra không được. Rồi cuối cùng nói: “Thôi, thôi, mệt quá, cho không hết coi ăn.”

Lúc đó, ngài Mục Kiền Liên mới nói, rồi mới giảng pháp cho nghe. Ngài nói là thật ra, lý do để ông có được đời sống ngày hôm nay, có được nhà sang, nhà cao cửa rộng như thế này, là do nhân bố thí trong quá khứ giúp ông thành tựu tài sản.

Do cái nhân nào giúp mình có được đời sống hiện tại thì mình không nên tự bỏ nó, mà phải tiếp tục tạo cái nhân đó. Rồi ngài mới giảng giải ý nghĩa của phước bố thí.

Ngài mới nói là bây giờ Đức Phật với chư Tăng ở chùa đang chờ ông bà đi đến để cúng dường. Lúc giờ có niềm tin rồi, nghe xong hoan hỷ, muốn đi đến cúng dường cho Đức Phật và chư Tăng.

Với số bột ban đầu dự định làm chỉ có ông ăn buổi sáng thôi, số bột đó đem về chùa cúng dường chư Tăng với Đức Phật. Cúng xong, với những người giúp trong chùa dọn xong mà vẫn còn. Thì người ta giải nói là khi làm xong mà còn dư, họ hỏi Đức Phật: “Bây giờ số bột bánh còn dư đó phải làm như thế nào?”

Đức Phật nói: “Bây giờ đem đi đổ chỗ nào đó để mấy loài sinh vật ở dưới nước không bị chết.”

Người ta nói là chỗ đó còn được ghi lại trong lịch sử luôn. Nhưng sau này sư đi Ấn Độ tìm cái chỗ đó thì không thấy.

Câu chuyện đó kể lại để cho các Phật tử mình thấy là mình không nghĩ một người giàu mà họ có thể bỏn xẻn như vậy. Tức là chỉ với một miếng ăn cho bản thân hoặc cho gia đình, những người thân của mình thôi, họ cũng không có cho được.

Từ hình ảnh câu chuyện đó, mình thấy kẻ thù bên ngoài, nhưng mà thật chất là những trạng thái tâm lý đó xảy ra rất nhiều trong đời sống của mình. Mà cái đó liên quan đến những thiện pháp, thí dụ như bố thí.

Mỗi lần mình muốn làm một thiện sự nào đó, cái tâm bỏn xẻn, cái tâm keo kiệt đó nó sanh khởi liên tục, liên tục mãi cho đến khi mình quyết định để làm được cái đó.

Cho nên mới nói là nếu liên quan đến việc bố thí mà các Phật tử mình làm được một lần như vậy thì cái vô tham phải mạnh lắm, nó mới có thể làm được. Còn không thì nó sẽ giống như trường hợp của ông đó vậy. Tức là nó trói buộc mình kinh khủng.

Và chỉ khi nào mình phát hiện được nó thì lúc đó mình mới thấy nó xấu. Còn không là sao? Mình thấy nó vẫn tốt. Lý do là khi ông suy nghĩ như vậy thì rất là hợp lý. Tức là sao?

Nó xấu.

Còn không là sao? Mình thấy nó vẫn tốt. Lý do là khi ông suy nghĩ như vậy thì rất là hợp lý. Tức là sao? Nếu mà làm cho người giúp việc, mọi người ăn các thứ thì nhiều quá, tốn kém. Tức là suy nghĩ cũng thấy hợp lý, tức là mất mát về mặt tài sản. Nó có cách lý giải của nó. Ở trong bất thiện, nó cũng có cách lý giải của nó.

Nó giống như là, thí dụ hôm nay là ngày Bát Quan Trai giới, các vị có nhiều lý do để mình không thọ Bát Quan Trai giới được. Trước tiên là lúc này đi làm mệt lắm, không thọ Bát Quan Trai giới được. Đó, cái đó hợp lý không? Rất hợp lý, nó rất hợp lý.

Rồi kế tiếp theo đó là mấy hôm trước đi khám bác sĩ, bác sĩ nói cố gắng ăn uống cho điều độ, chứ không thôi đau bao tử. Cho nên vì lý do sợ đau bao tử, mình không dám thọ trì Bát Quan Trai giới. Đó, nó cũng rất hợp lý.

Nhưng mà trong nhiều cái hợp lý đó, có những cái là do bất thiện chi phối mình, khiến mình phải suy nghĩ như vậy, mà mình hoàn toàn không thấy được lợi ích trong việc thọ trì giới. Có nhiều lợi ích ở trong đó. Mà vì mình không thấy được cái lợi ích đó, cho nên mình bị bất thiện chi phối hết.

Nhớ câu chuyện người giúp việc của Cấp Cô Độc, họ chỉ giữ Bát Quan Trai giới có nửa buổi, một đêm mà cũng không được trọn vẹn. Do cái phước đó, sau khi chết, người đó được sanh thiên. Cái phước Bát Quan Trai giới lớn như vậy. Trong khi đó, mình cố gắng làm các thứ, nếu mà chưa đạt được sự giải thoát thì ít nhất mình cũng được sanh làm người, hay là nếu thêm được phước thì mình được sanh làm chư thiên.

Người ta quyết định chỉ giữ Bát Quan Trai một ngày một đêm mà cũng không được trọn vẹn, vậy mà người ta đã được sanh thiên. Khi mà cái tâm thiện quyết định thực hiện một việc thiện thì nó mạnh lắm. Và mình cũng phải tập. Mình tập làm các thiện pháp, làm sao để có một thiện pháp nào đó mình làm thành một thường cận y duyên, tức là làm thiện pháp nào mà ngày nào mình cũng làm được. Mình phải tập làm như vậy thì mới được. Còn không thì khó lắm, nó bị chi phối cái này, bị chi phối cái kia, chúng ta làm không được tốt.

Rồi thôi, bây giờ chúng ta trở lại tiếp phần 18, 19. 18, 19 đó là chánh thân, chánh tâm. Chánh thân, chánh tâm ở đây là sự ngay thẳng của tâm và tâm sở. Chánh thân cùng với chánh tâm đóng vai trò loại bỏ sự cong vẹo hay là tà hoại của tâm và tâm sở.

Học cái này, chúng ta thấy hai tâm sở này sẽ hỗ trợ cho cái tâm bất thiện. Giống như hôm trước, thí dụ đó là nói dối mới bán được đồ, thế giờ vậy thì cái đó là sao? Nó là cái méo mó của bất thiện. Cái đó là nhân bất thiện, mà làm sao nó có quả bất thiện được? Không.

Chánh thân, chánh tâm loại bỏ những cái méo mó đó, tức là ngay thẳng, chánh trực. Cho nên nếu mà hành động nào mà mình hành động thiện thì nó không có che giấu, không có cong vẹo. Tại nó có những tâm sở này sanh lên, nó làm cái công việc đó.

Thì đây là 19 tâm sở. Trời ơi, hơn hết giờ hả?

Tại nó có những tâm sở này. Nó sanh lên, nó làm cái công việc đó. Đây là 19 tâm sở.

19 tâm sở này, khi một tâm thiện sanh khởi, thì cùng sanh với một tâm thiện. Điều đó cho chúng ta thấy là chỉ với một tâm thiện, một sát-na tâm thiện sanh khởi thôi, mà đã có 19 tâm sở này hỗ trợ. Như vậy, một tâm thiện sanh khởi rất khó, tại nó đòi hỏi nhiều yếu tố hỗ trợ để có thể sanh khởi được.

Để có thể sanh khởi được, tức là nó phải loại bỏ nhiều pháp bất thiện khác. Nói gọn là nó liên quan đến tham, sân, si. Còn nếu nói chi tiết thì nó liên quan đến 14 tâm sở bất thiện mà mình đã học hôm trước. Tức là nó phải loại bỏ được 14 tâm sở bất thiện kia thì một tâm thiện mới có thể sanh khởi được.

Một hành động thiện của các Phật tử mình làm thì có nhiều tâm thiện sanh khởi ở trong đó. Thí dụ, một hành động bố thí: các Phật tử mình đi đến chùa suốt một buổi sáng. Nếu mình an trú được ở trong tâm thiện thì tâm thiện đó sanh khởi nhiều vô số. Chỉ có điều là mình không an trú được ở trong tâm thiện, cho nên nhiều khi mình đi suốt buổi, nhưng thực chất thời gian mình an trú được trong tâm thiện rất là ít.

Nhưng sau này, nếu mình nhớ lại bài kinh Thánh Cầu, Đức Phật nói là khi mình gặp nhau, mình có hai công việc cần phải làm. Thứ nhất là đàm luận Phật pháp, tức là chia sẻ với nhau những điều liên quan đến Phật pháp.

Mình có thói quen là gặp nhau thì hỏi thăm sức khỏe một chút, sau đó hỏi thăm về công việc làm ăn. Nhưng bên cạnh đó, mình tranh thủ trao đổi Phật pháp với nhau. Muốn trao đổi Phật pháp được thì phải học, phải nhớ được một ít. Chứ không thì cứ đến chùa, mỗi người rút điện thoại ra, ngồi một góc không, không tranh thủ trao đổi Phật pháp.

Nếu các Phật tử trao đổi Phật pháp thì suốt thời gian đó, phần lớn là tâm thiện. Thứ hai, nếu không có ai để trao đổi thì tranh thủ ngồi thiền, thực tập thiền. Như vậy, nếu một buổi chúng ta đi đến chùa mà khéo thì chúng ta an trú được trong tâm thiện nhiều.

Còn ở nhà thì khó lắm. Ở nhà thì khó, nhưng nếu thời gian các Phật tử đi đến chùa, thí dụ ngày đó mình đi đến chùa để làm một công đức nào đó, thì cố gắng làm như vậy. Nếu muốn gặp vị sư để hỏi Phật pháp, cần trao đổi điều gì đó, thì tranh thủ soạn sẵn các câu hỏi. Phải soạn sẵn mới được, chứ không thì muốn hỏi, đến khi gặp mặt lại quên. Ở nhà thắc mắc cái này, thắc mắc cái kia, nhưng đến khi gặp sư thì hỏi một hồi lại không nhớ. Cho nên phải soạn sẵn những điều cần hỏi.

Còn không thì trao đổi với các bạn đạo, để mình tập an trú trong tâm thiện. Trong chú giải có nói, bài kinh Tứ Niệm Xứ mà Đức Phật thuyết giảng cho người cư sĩ, thật ra người dân xứ Kuru trong thời đó khi gặp nhau, họ thường nói về những điều liên quan đến các đề mục tu tập. Nhờ như vậy, họ mới tiến bộ được trong thiện pháp.

Thường nói với nhau về các đề mục tu tập đó. Và nhờ như vậy họ mới tiến bộ được ở trong thiện pháp.

Thì cũng vậy, mình tập. Khi mình làm được như vậy thì mình sẽ loại bỏ được nhiều cái bất thiện. Mà hễ mình loại được nhiều cái bất thiện, các Phật tử sau một buổi đi chùa về cảm thấy vui chứ không có buồn.

Còn nếu mình không làm được như vậy, nhiều khi sau một buổi đi chùa, không những không có được niềm vui mà còn buồn. Tại khi mà bị tâm bất thiện chi phối thì nó không giúp mình suy nghĩ chơn chánh. Không giúp mình suy nghĩ chơn chánh được. Tại khi mà bất thiện chi phối, giống như nói ở phần đầu, khi mà tham sanh khởi thì sân cũng sanh khởi. Khi mà sân sanh khởi thì si cũng sanh khởi. Đó, cho nên nó không thể giúp mình suy nghĩ chơn chánh được.

Thế là đi đến chùa mà thật sự bị bất thiện chi phối thì nó không mang lại niềm vui mà còn buồn. Như vậy thì mình không tiến bộ được trong thiện pháp. Đó là phần 19 tâm sở tịnh hảo.

Bây giờ mình về cố gắng. Trước tiên là phải học thuộc tên của 19 tâm sở này, sau đó là cố gắng xem một ít ý nghĩa của nó. Tại khi mà sau này, nếu các Phật tử nào có khả năng chia sẻ Phật pháp, thì khi mình nói về thiện, chúng ta không thể nói cái gì ngoài 19 tâm sở này. Nếu mà chúng ta nói cái gì ngoài 19 tâm sở này là chúng ta nói sai. Rồi nó còn kèm theo đó là 13 tâm sở thọ tha nữa.

Cho nên, thật ra lời dạy của Đức Phật là nhiều, nhưng có những cái cơ bản mà khi mình nắm được thì mình biết người này nói sai hoặc là nói đúng. Nó giống như là có cái chìa khóa của nó mà mình chỉ cần nắm được cái chìa khóa.

Ví dụ như Đức Phật dạy cho bà Gotami đó là để biết khi mà người ta nói cái này là lời dạy của Đức Phật, cái này không phải, thì mình phải làm như thế nào? Đức Phật nói là, thí dụ lời nói nào mà khi chúng ta thực hành làm cho tham, sân, si sanh khởi, thì mình biết lời nói đó không phải lời nói của Đức Phật.

Hoặc là lời nói nào mà khi mình làm, nó tích lũy cái nhân đưa đến sự tái sanh, đưa đến sự luân hồi, cái đó không phải là lời dạy của Đức Phật. Lời nói nào mà làm cho người ta học xong lười biếng trong việc thực hành, cũng không phải là lời dạy của Đức Phật. Lời nói nào mà khi học hỏi, thực hành đó làm cho người ta càng ngày càng mong muốn nhiều, cũng không phải là lời dạy của Đức Phật. Hoặc là lời nói nào mà khi học, thực hành xong làm cho người ta trở thành người khó dạy, thì nó cũng không phải là lời dạy của Đức Phật.

Đó, tức là chỉ có tám trường hợp cơ bản mà Đức Phật nói. Và người Phật tử chúng ta chỉ cần nắm tám trường hợp cơ bản đó là biết người ta nói đúng hoặc là nói sai.

Còn về mặt giáo pháp, khi mà nói đến thiện thì người ta phải nắm cho được đó là 25 tâm sở tịnh hảo, mà cơ bản đó là 19 tâm sở này, để biết người đó nói đúng hoặc là nói sai.

Vậy cho nên mấy cái này thật sự là nếu các Phật tử đọc các văn bản khác thì nó còn dài hơn nhiều. Còn cái này, tại sư thấy mình cũng không có nhiều thời gian, cho nên sư cố gắng gói gọn tối đa rồi.

Cho nên về cố gắng, thậm chí là mình phải học thuộc lòng nó. Tại cái này là đã ngắn tối đa rồi đó, tức là cố gắng tối đa để cho người không có thời gian thì chúng ta đọc. Thật ra, nếu các Phật tử gom lại thì nó có mấy trang à.

Tối đa để người không có thời gian thì chúng ta đọc. Dạ, thì nhiều. Đây thật ra, nếu các từ gom lại, nó có mấy trang à. Mấy trang mà mình có thể tổng quát được các thứ mình cần phải thực hành ở trong đời sống. Thì cố gắng đó, rồi thôi, tạm bấy nhiêu đây ha. Ra m lớp Mỹ thì sau chúng ta học tiếp một buổi nữa, ra mài lớp hồi hướng.

A s ma tha đếa na ra mê tị ca phú nhă nô.

Đ ch ma tha đ na ma h ca mô tụ chị răng rô a tawa na găัง nô chăng ra khะ a xa chum ma tha đế la ga ปุ อôุ a x ma tha đếa na m thăng nô anô đ chăng rô.

Xà-đa chư thiên ngữ, trên thông địa cầu, thượng ngữ rõ thông mọi điều. Long vương thần lực có nhiều đồng. Xin hoan hỷ phước điều. Chúng con hộ trì Phật giáo, Tăng hội, các bậc Thầy, Tổ an vui lâu dài, quyến thuộc tránh khỏi nạn tai. Chúng sanh được hưởng phước dài, bệnh lâu. Chúng con vui thú đạo, tu hành tinh tấn, ngõ hầu vô sanh.

Do sự phước báo mà chúng con đã trong sạch làm đây, hãy là mối duyên lành để dứt khỏi những điều ô nhiễm ngũ ngầm nơi tâm trong ngày bị la. Yeah.

↑