VDP008: Khái Quát Về Tâm Thiện (T/T) - Sư Tinh Tuệ | Chùa Siêu Lý (22/4/2025)
Nội dung bài giảng
Trong bài Khái quát về tâm thiện này, hôm trước mình được giới thiệu bốn nhóm tâm thiện. Đó là tám tâm thiện dục giới kāmāvacara, hay mình còn gọi là tâm đại thiện kāmāvacara. Đó là nhóm thứ nhất.
Nhóm thứ hai là tâm thiện sắc giới, có năm tâm thiện sắc giới. Thứ ba là nhóm tâm thiện vô sắc giới, tức là có bốn tâm. Rồi mình có bốn hoặc hai mươi tâm thiện siêu thế, hay mình còn gọi là tâm đạo. Đó là phần bài học mà chúng ta cần phải nhớ.
Thí dụ, tám tâm đại thiện gồm có: tâm đại thiện thọ hỷ hợp trí vô trợ; tâm đại thiện thọ hỷ hợp trí hữu trợ; tâm đại thiện thọ hỷ ly trí vô trợ; tâm đại thiện thọ hỷ ly trí hữu trợ; tâm đại thiện thọ xả hợp trí vô trợ; tâm đại thiện thọ xả hợp trí hữu trợ; tâm đại thiện thọ xả ly trí vô trợ; tâm đại thiện thọ xả ly trí hữu trợ.
Rồi tâm thiện sơ thiền có tầm, tứ, hỷ, lạc, định. Tâm thiện nhị thiền có tứ, hỷ, lạc, định. Tâm thiện tam thiền có hỷ, lạc, định. Tâm thiện tứ thiền có lạc và định. Tâm thiện ngũ thiền có xả và định.
Rồi tâm thiện không vô biên xứ, tâm thiện thức vô biên xứ, tâm thiện vô sở hữu xứ, tâm thiện phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Tên gọi ở đây là tâm đạo dự lưu, tâm đạo nhất lai, tâm đạo bất lai, tâm đạo A-la-hán. Hoặc mình nói theo thiền thì: sơ thiền sơ đạo, nhị thiền sơ đạo, tam thiền sơ đạo, tứ thiền sơ đạo, ngũ thiền sơ đạo; sơ thiền nhị đạo, nhị thiền nhị đạo, tam thiền nhị đạo, tứ thiền nhị đạo, ngũ thiền nhị đạo; sơ thiền tam đạo, nhị thiền tam đạo, tam thiền tam đạo, tứ thiền tam đạo, ngũ thiền tam đạo; sơ thiền tứ đạo, nhị thiền tứ đạo, tam thiền tứ đạo, tứ thiền tứ đạo, ngũ thiền tứ đạo.
Nói tắt thôi, còn nói đầy đủ là phải giống như ở trong bài học cho pháp tử hôm trước. Nó ngắn để dễ nhớ, mà đầy đủ từ ngữ thì mình phải xem ở trong văn bản đó. Trong văn bản mà gửi cho lớp đó là phần cơ bản mình cần phải nhớ. Phải nhớ được bao nhiêu đó thì mình mới nghe những cái khác được.
Rồi, bây giờ hôm trước mình đang giảng dở trong phần tâm thiện sắc giới. Tâm thiện sắc giới đó là những tâm thiện lưu chủng tử, tạo thành tâm quả sắc giới cho chúng sinh tục sinh về cõi sắc giới. Cái phần này hôm trước mình đã nói rồi. Giờ mình xem lại để nói thêm phần chi tiết của nó.
Đây là năm tâm thiện sắc giới mà mình mới đọc lúc nãy. Mình có sơ thiền với đủ năm chi, đó là tầm, tứ, hỷ, lạc, định. Nhị thiền thì có bốn chi, đó là tứ, hỷ, lạc, định. Tam thiền có ba chi, là hỷ, lạc, định. Tứ thiền có hai chi, là lạc và định. Ngũ thiền có xả và định.
Cách trình bày theo ngũ thiền sắc giới này là cách trình bày trong Vi Diệu Pháp. Còn trong Kinh tạng, chúng ta đọc thì không có ngũ thiền. Trong Kinh tạng chỉ có ba loại, bốn loại, bốn bậc thiền, tức là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền.
Còn cách trình bày theo ngũ thiền ở trong Vi Diệu Pháp là trình bày theo chi thiền. Trường hợp thứ nhất có đủ năm chi, trường hợp thứ hai có bốn chi, trường hợp thứ ba có ba chi, trường hợp thứ tư có hai chi, trường hợp thứ năm cũng có hai chi, nhưng thay đổi từ thọ lạc thành thọ xả.
Đó là hai cách trình bày khác nhau ở trong Kinh tạng và trong A-tỳ-đàm. Một cách là trình bày theo sự tu tập thiền chứng, còn một cách là trình bày theo chi thiền. Cho nên nó chia ra thành năm trường hợp.
Trong tu tập thiền chứng, còn một cách trình bày theo các chi thiền. Cho nên, nó chia ra thành năm trường hợp. Đây là năm chi thiền mà mình nói lúc nãy, tức là tầm, tứ, hỷ, lạc, định.
Ngay cả trong tâm thiền đầu tiên, nó đã có đủ năm chi thiền, nhưng các chi thiền còn lại vẫn được liệt kê. Thường hành giả tu tập chứng đắc được sơ thiền thì đã có đủ năm chi thiền đó là tầm, tứ, hỷ, lạc, định.
Khi có tầm, hành giả đoạn trừ được hôn thùy. Lúc đó, hành giả mới chứng đắc được thiền định. Có tứ thì hành giả đoạn trừ được hoài nghi. Có hỷ thì hành giả đoạn trừ được sân độc. Có lạc thì hành giả đoạn trừ được trạo hối.
Chữ “lạc” ở đây mình cũng để ý. Trong trường hợp thân thức thọ lạc thì đó là quả thiền. Còn chữ “lạc” ở trong chi thiền, trong trường hợp này, không chỉ cảm thọ thuộc về thân. Chữ “lạc” ở đây khác. Nó chỉ cho trạng thái thọ lạc ở trong thiền chứng, cao hơn trạng thái thân thức thọ lạc là quả của thiện.
Chúng ta cũng để ý, nhiều khi mình thấy chữ “lạc” rồi nhầm lẫn. Khi trạng thái tâm an lạc thì nó sẽ đoạn trừ được trạo hối. Các Phật tử để ý, khi tâm mình bị sân chi phối hoặc bị phóng dật chi phối thì thân tâm mình không an lạc được, thấy mình rối tung lên.
Chỉ khi nào tâm lo âu, tâm hối tiếc được đoạn trừ, tâm phóng dật được đoạn trừ thì tâm mới an lạc được.
Còn định thì đoạn trừ được dục tham. Khi tâm mình mong mỏi, ước muốn trong việc thọ hưởng ngũ dục chẳng hạn, có được cái này rồi lại muốn có được cái kia, có được cái này rồi lại muốn có được cái kia. Nhưng định khắc chế điều đó. Định không cho phép muốn cái này, muốn cái kia nữa, mà chỉ an trú trong một đề mục thôi.
Cho nên, hành giả chứng đắc được thiền thì đã có chi định rồi.
Mình thấy trong sơ thiền đã có năm chi thiền này, nhưng trong nhị thiền thì lại liệt kê là tứ, hỷ, lạc, định. Giống như đã nói hôm trước, mặc dù tên vẫn là những tên đó, nhưng trạng thái tâm thì vi tế hơn. Thiền càng cao thì trạng thái tâm càng vi tế hơn. Mình hiểu như vậy.
Đây là năm chi thiền. Khi hành giả chứng đắc được thì mới có năm chi thiền này và đoạn trừ được năm triền cái. Năm triền cái tức là năm pháp ngăn che, làm cho tâm hành giả tu tập không tiến bộ được.
Phần này hôm trước mình cũng đã nói sơ qua. Bây giờ nói về đề mục tu tập thiền. Khi nói thiền sắc giới, thiền vô sắc giới thì mình sẽ biết đó là loại thiền gì.
Thiền chỉ tức là samatha. Nói về thiền sắc giới, thiền vô sắc giới thì đó là thiền chỉ. Thiền quán là gì?
Mình có bao nhiêu đề mục tu tập thiền chỉ? Mình có bốn mươi đề mục. Nhưng nếu nói đề mục thiền sắc giới thì có bao nhiêu? Có ba mươi sáu.
Cái này mình cần phải cẩn thận, vì rất dễ bị nhầm lẫn. Mình thường quen với việc có bốn mươi đề mục thiền chỉ. Nhưng nếu người ta hỏi có bao nhiêu đề mục tu tập thiền sắc giới, mà cứ nhớ thiền sắc giới là thiền chỉ rồi trả lời bốn mươi thì sai liền. Thiền sắc giới chỉ có ba mươi sáu đề mục thôi.
... mục tu tập thiền sắc giới. Cứ nhớ thiền sắc giới đó là thiền chỉ, cho nên để 40 cái là sai liền. Tức là chỉ có 36 thôi.
36 ở đây là gì? Tức là mình có 10 đề mục kasiṇa. Nếu nhớ được chữ kasiṇa, cố gắng nhớ cái chữ kasiṇa đi. Tại cái chữ này cũng phổ thông. Mặc dù nói là chữ Pāli, nhưng mà nó cũng thường. Ta đọc theo tiếng Anh là “ca-si-na”, kasiṇa đó.
10 đề mục kasiṇa, tức là 10 đề mục bất mỹ, hay là 10 đề mục asubha; 10 đề mục tùy niệm, anussati; bốn đề mục phạm trú, brahmavihāra; một đề mục tưởng nhàm chán vật thực, āhāra; một đề mục phân tích tứ đại. Thì đó là 36 đề mục tu tập thiền chỉ.
Giờ mình xem chi tiết nó. Đây là 10 đề mục kasiṇa, tức là có đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, ánh sáng, hư không.
Thường đó là đề mục mà người ta hay chọn, đó là đề mục đất. Đề mục đất là được hướng dẫn, hoặc là đề mục màu sắc, xanh, vàng, đỏ, trắng. Đó là đề mục mà các vị thiền sư thường hướng dẫn nhiều người trong cách tu tập thiền chỉ.
Trong Thanh Tịnh Đạo dạy mình, thí dụ lấy giấy, giẻ hay cái gì đó có thể cắt tròn, làm vừa tầm mắt để mình nhìn vào. Trong Thanh Tịnh Đạo nói rõ lắm về cách làm đề mục, tức là dùng giấy hay cái gì đó mà mình có thể cắt được. Hoặc đất thì mình có sẵn rồi.
Cái này là nói theo chế định. Cái này không phải đất, nước, lửa, gió giống như phần sắc pháp mà mình nói, mà là nói theo chế định hết. Tại trong thiền chỉ thì lấy đề mục chế định. Đất, nước, lửa, gió thông thường của mình, hoặc màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng, ánh sáng hay hư không để làm đề mục tu tập, thì đó là 10 đề mục tu tập thiền chỉ.
Cách tu tập đó, thí dụ như nếu được dạy chọn đề mục đất, khi làm đề mục đó xong thì người ta chỉ ngồi đó, niệm tưởng đó là đất, đất, cho đến khi nhắm mắt lại vẫn thấy được hình ảnh đó. Trong cách tu tập thiền chỉ, chỉ cần tâm mình đang tu tập đề mục đó mà hướng đến một cái gì khác, thì được xem là phóng dật. Đó là trong cách tu tập thiền chỉ.
Kế thứ hai đó là đề mục quán về tử thi. Quán về tử thi tức là mình có 10 hình thức tử thi để tu tập. Đề mục quán về tử thi này đòi hỏi hành giả phải có tử thi để làm đề mục. Nếu mình không có tử thi thì đâu có tu tập đề mục này được.
Sở dĩ ở Ấn Độ, Đức Phật dạy các đề mục này là vì người Ấn Độ ngày xưa, thí dụ như có những trường hợp người ta chết, nếu không bỏ dưới nước, không thiêu thì người ta đem vào bãi tha ma bỏ. Nhờ có xác chết đó mà hành giả tu tập quán niệm về sự chết mới có đề mục để tu tập. Còn nếu không có xác chết mà người ta bỏ thì đâu tu tập được.
Mình có những đề mục, thí dụ như tử thi sình trương, tức là sình lên đó. Chúng ta thấy con người mình mất, để khoảng hai, ba ngày thôi thì nó sình lên. Đó là một trường hợp. Hoặc là nó biến sắc, thấy màu xanh, mà mình thường gọi là tái mét. Hoặc là chảy nước đó.
Thứ nhất là nó biến sắc, thấy màu xanh, màu xanh mà mình thường gọi là tái mét. Hoặc là chảy nước.
Hoặc là tử thi có vết đứt, tử thi bị thú ăn. Tức là khi bỏ trong rừng rồi đó, bị thú ăn, tử thi rời rã chi thể; tử thi bị cắt đoạn; tử thi bị bê bết máu; tử thi bị dòi rút; tử thi còn xương cốt.
Những hình ảnh này thật ra, nếu ở trong bãi tha ma thì có đủ. Nếu thân mình đem bỏ trong bãi tha ma thì chắc chắn sẽ như vậy.
Rồi mình đọc mấy đề mục không thôi là cũng thấy ớn. Tức là nếu mình không phải là hành giả tu tập, đọc đề mục không thôi là mình đã thấy sợ. Nhưng với hành giả tu tập thì đây là cảnh trưởng của họ.
Nếu nói về cảnh, đó là cảnh xấu, vì hình ảnh tử thi không phải là cảnh tốt. Nhưng với hành giả tu tập thì hình ảnh này lại là hình ảnh tốt cho họ. Còn với mình bình thường thì chúng ta thấy sợ.
Đó là mười đề mục tu tập quán về tử thi. Nếu ai chọn đề mục này thì phải đi đến nơi người ta có bộ xác. Hoặc, thí dụ như không được thấy những trường hợp sau, nhưng ít nhất đó là tử thi bị sình hay biến sắc. Thí dụ người mới mất mà để một, hai ngày thì sẽ có những dấu hiệu đó.
Phần chi tiết này muốn biết thì chúng ta phải xem lại trong Thanh Tịnh Đạo. Còn ở đây mình không nói chi tiết được, tại nói chi tiết quá sẽ bị lạc đề trong quyển Vi Diệu Pháp. Cho nên chỉ giới thiệu qua các đề mục, để mình biết, thí dụ nếu muốn tu tập thiền chỉ thì sẽ tu tập đề mục nào.
Tại vì nhiều khi các Phật tử thấy mỗi một lần tu tập thiền thì mình chỉ được dạy một đề mục duy nhất, thường là gì? Cứ nói thiền là hơi thở. Thật chất là Đức Phật dạy rất nhiều đề mục tu tập.
Vì mình cứ được nghe giảng rằng theo đạo Phật là phải tu thiền, cho nên cứ xuất gia là đi tu thiền. Nhưng thật chất, nếu mình không biết gì thì mình có đi tu được không? Đâu có đi tu được.
Đó là lý do nhiều khi người nước ngoài đi tu tập. Thí dụ, Việt Nam mình qua Miến Điện, Myanmar, mình tu tập mà không học giáo lý. Đến khi mình trình pháp thì mình cũng không có học, cho nên thiền sư cũng đâu nói gì cho mình được. Vì vậy cứ nói: “Cố gắng chánh niệm”, tại chỉ nói được nhiêu đó thôi. Nói khác nữa mình không hiểu.
Bây giờ có giảng gì đi chăng nữa mình cũng không hiểu được, tại mình không có trang bị kiến thức căn bản. Cho nên người ta chỉ nói: “Cố gắng chánh niệm”. Cố gắng chánh niệm là biết rồi.
Với lại, trong cách trình pháp, nếu mình là người có kiến thức, có học kiến thức căn bản, thì mình nói, thiền sư cũng biết. Tức là trong cách trình của mình, người ta biết mình có học hay không.
Cho nên nếu mình có kiến thức, khi trình pháp người ta sẽ nói khác với mình. Còn nếu người không được học mà trình bày, mình nói tùm lum hết, không có thứ tự, không có cái nào ra cái nào hết.
Cho nên nhiều khi mình nói rất nhiều, lên nói còn nhiều hơn thiền sư nữa. Cuối cùng thiền sư nói: “Con tiếp cố...”
Mình nói rất nhiều, tức là nhiều khi mình lên, mình nói nhiều hơn thiền sư nữa. Rồi cuối cùng thiền sư nói: “Con tiếp tục cố gắng chánh niệm.” Thế là xong, chỉ có nhiêu đó hả? Dạ.
Nhiều khi mình tham gia cả khóa thiền một tuần lễ, mười ngày gì đó, mà lên lần nào sư cũng chỉ nói nhiêu đó. Nhưng mà mình không hiểu lý do tại sao, không nói gì khác cho mình. Tại người ta có nói, mình cũng không có… vậy đó.
Cho nên phải học, phải học để biết. Hoặc là trong lúc thực tập, nếu mình thấy mình thực tập đề mục đó không được, mình có thể thay đổi đề mục khác, và mình trình bày lại với thiền sư cái đó. Người ta hoàn toàn chấp nhận, tại người ta biết là mỗi hành giả cũng có một nhân duyên khác nhau.
Đâu phải sư, thí dụ, đề mục hơi thở, đâu phải ai vào cũng thực tập hơi thở được. Nhiều khi nói hơi thở chứ ngồi đó ngủ gục không à. Mà tập cái khác thì không biết gì để tập, cho nên phải ngồi chịu đòn đó, tức là ngồi mà trong hết giờ, không là ngồi gục lên gục xuống ở đó.
Còn nếu sư, thí dụ, nếu các Phật tử được học các đề mục này, thí dụ bây giờ mình tập hơi thở mà mình tập không được, mình có thể tập niệm ân đức Phật, hoặc là mình có thể rải tâm từ. Tâm mình khi mà nó không thích hợp với đề mục này thì nó sẽ thích hợp với đề mục kia.
Tại khi mà mình có duyên đến với Phật pháp là chứng tỏ mình cũng có tu tập chứ. Không có tu tập đâu ngồi yên được. Chứng tỏ có tu tập. Chỉ cần mình tiếp cận được cái hình thức giáo lý căn bản thì chúng ta sẽ biết chọn cái đề mục tu tập cho mình.
Ở đây, thí dụ như với người mới, với các Phật tử mới, cái đề mục niệm ân đức Phật, ân đức Pháp, ân đức Tăng, rồi các đề mục này rất có ích cho mình.
Thay vì đó là mình niệm, mặc dù ở trong Thanh Tịnh Đạo, thí dụ cũng có dạy cách đó là niệm đếm số, tức là đếm từ một tới mười rồi đếm trở lại. Cũng có cách dạy thực tập đó. Thì thay vì mình đếm số, mình niệm ân đức Phật, nó có lợi cho mình hơn. Tại sao? Làm cho mình được tăng trưởng về mặt niềm tin.
Sư nhớ lại, về niệm ân đức Phật này, các Phật tử biết là lúc mà chưa đi thực tập thiền, hiếm khi nhớ đến cái đề mục niệm ân đức Phật. Mình cứ nghĩ là cái này dành cho người chỉ có niềm tin.
Nhưng mà đến khi thực tập thật sự ở trong trường thiền, mình thấy là lúc mà mình ngồi ngủ gật, đề mục niệm Phật lại có hiệu quả. Tức là khi mình niệm thường xuyên như vậy, làm cho mình tỉnh lại. Tại vì với hơi thở, mình ngồi không được thì tâm nó đòi hỏi nó phải có cái cảnh khác. Lúc đó niệm ân đức Phật thì mình lại thấy tỉnh, rồi muốn thì mình có thể thay đổi lại đề mục hơi thở.
Cái đó mình trình bày với thiền sư là người ta biết liền. Người ta biết người này có học các đề mục tu tập thiền. Mình trình bày cho người ta, người ta sẽ chỉ mình.
Thì đó là trong mười đề mục này, đề mục tùy niệm, nhất là niệm phổ thông nhất, mình được dạy đó là niệm về ân đức Phật. Đó là thứ nhất. Thứ hai, mình gặp nhiều đó là niệm về sự chết.
Niệm về sự chết cũng được Đức Phật dạy rất nhiều ở trong kinh, bằng nhiều cách khác nhau. Thí dụ như có lần Đức Phật đến thành A-la-vi, lúc đó Ngài dạy cho người dân A-la-vi quán niệm về sự chết.
Ví dụ như có lần Đức Phật đến thành A-la-vi, lúc đó Ngài dạy cho người dân A-la-vi quán niệm về sự chết. Ngài nói: “Đời sống này là vô thường, nhưng cái chết là thường.” Tức là ta chắc chắn sẽ chết.
Đời sống này thay đổi: từ người trẻ trở thành người trung niên, rồi trở thành người già. Đó là sự thay đổi. Nhưng cái chết thì không thể thay đổi được. Đến một lúc nào đó, người ta chắc chắn phải chết.
Đó là một cách quán niệm sự chết. Trong chú giải, Đức Phật dạy ví dụ rằng cách quán niệm sự chết giúp mình khắc phục được sự sợ hãi, giống như một người băng qua khu rừng nguy hiểm, có nhiều trộm cướp, nên chuẩn bị sẵn vũ khí ở trong tay. Hoặc khu rừng có nhiều thú dữ nguy hiểm thì họ cũng chuẩn bị vũ khí sẵn ở trong tay. Khi băng qua khu rừng đó, họ ít sợ hãi hơn do đã có sự chuẩn bị.
Sự chết là một trong bốn pháp đem đến sự sợ hãi cho chúng sanh. Trong Tăng Chi Bộ Kinh, Đức Phật nói đó là sự sanh, sự già, sự bệnh và sự chết; bốn pháp này làm cho chúng sanh có sự sợ hãi. Nhưng nếu hành giả thường xuyên tu tập niệm sự chết thì sự chết sẽ giúp mình đỡ sợ hãi hơn.
Có nhiều bài kinh quán niệm về sự chết. Hoặc trong Tăng Chi Bộ Kinh, bài kinh mà các Phật tử mình thường xuyên tụng đọc trong lễ bái Tam Bảo, Kinh Năm Điều Quán Tưởng, cũng có trường hợp quán về sự chết: “Ta phải chết, không thoát khỏi sự chết.” Câu đó là câu quán niệm, câu suy xét để tu tập về sự chết, để biết rằng cái chết chắc chắn sẽ đến với mình và mình không thoát khỏi nó.
Dù mình có sống ở đâu, đi đâu, trốn ở đâu, mình cũng không thoát khỏi nó. Nó giống như là mình ở nhà xem tivi, thấy người ta đi máy bay, tai nạn máy bay chết nhiều quá, mình không dám đi máy bay. Rồi xem tivi thấy đi xe giường nằm, tai nạn nhiều quá, cho nên cũng không dám đi xe giường nằm. Đi tàu, thấy người ta chết nhiều quá; đi đường sông, thấy người ta chết nhiều quá, cũng không dám đi. Ở nhà, cuối cùng cũng bị xe đụng chết. Khi nó đến rồi thì mình chạy cũng không khỏi. Tức là khi nó đến rồi, mình có tránh đi đâu cũng không tránh được. Đó là cách quán niệm.
Ở ngoài đời, một số trường hợp họ nói rằng khi mình nhắc đến sự chết thì kỳ lắm. Có một sư học tiếng Anh ở bên Việt Mỹ. Thầy giáo nước ngoài hỏi mấy đứa nhỏ: “Mọi người có sợ chết hay không?” Hầu như phần lớn đều nói là sợ chết.
Ông thầy nói: “Bây giờ thầy giảng làm sao để cho mấy đứa này khắc phục được sự sợ chết?” Sư mới nhắc lại rằng, theo Đức Phật, cách khắc phục sự sợ hãi về cái chết là mình thường xuyên niệm nhớ đến nó.
Ông ấy không chịu. Ông ấy nói cách đó làm cho chúng ta sợ hãi hơn. Ông nghĩ rằng mình phải cố gắng làm một cái gì đó để quên nó đi.
Người ta sợ hãi hơn. Ông nghĩ như vậy thì người ta nói là mình phải cố gắng làm cái gì đó để mình quên nó đi. Nhưng mà thật sự các Phật tử biết là cho dù mình có cố gắng làm cái gì đi chăng nữa thì mình có quên nó được không? Mình có không sợ nó được không? Không có. Mình cũng sợ hả?
Dạ. Tại cái đó là phiền não. Khi mà con người còn phiền não, chấp thủ đối với thân này thì hễ cái chết đến là mình sợ hãi.
Còn Đức Phật nhắc cho mình là mình nhớ đến nó thường xuyên. Cái gì đem lại sự sợ hãi cho mình mà mình nhớ đến nó thường xuyên thì lâu dần nó trở thành bình thường.
Nó giống như cách mà các Phật tử, thí dụ mình làm một điều ác gì đó, đến khi mình ngồi thiền thì cái tâm ác đó sanh khởi lại, tức là cảnh đó tràn lại. Có người rất sợ cái đó, tìm cách khắc phục, không để cho nó sanh khởi. Nhưng mà trong cách tu tập thiền quán, đó là cách tốt cho mình.
Tức là mình tập quan sát nó. Tập quan sát nó. Tại vì lúc mình khỏe, các Phật tử có thể ngăn chặn nó được. Nhưng đến khi mình không còn kiềm chế được, mình đâu có ngăn nó được. Tức là nó tự động phát ra, lúc đó mới nguy hiểm.
Còn mình tập nhìn nó, tập nhìn nó và mình biết: đây là bất thiện, đây là những phiền não, và nó đang có điều kiện sanh khởi. Tức là mình tập đối diện với nó. Đó là cách tập đối diện với các phiền não, các tâm bất thiện.
Và nhờ mình tập như vậy thì mình mới đoạn trừ nó được. Mình đoạn trừ nó được. Tại khi mà nó sanh khởi, mình có sự sợ hãi thì lúc đó sợ hãi lại là tâm gì? Lại là tâm bất thiện nữa. Cho nên nó đã bất thiện rồi, mình tạo điều kiện cho tâm bất thiện sanh khởi nữa thì nó trở thành có sức mạnh.
Còn khi chúng ta quan sát nó thì lúc đó chúng ta quan sát bằng tâm thiện, nó đâu có điều kiện sanh khởi nhiều. Nó bắt buộc phải dịu đi. Và cứ mỗi một lần nó sanh khởi, mình quan sát nó như vậy thì nó sẽ mất đi, trở thành bình thường đối với mình.
Mình đâu cãi với họ được, tại họ quan niệm gì thì mình chỉ nói những gì mà mình được học theo Đức Phật, Ngài dạy thôi. Mình cũng đâu cãi người ta được.
Rồi, đề mục Thân Hành Niệm cũng là một đề mục được hướng dẫn thực tập nhiều. Đề mục này các Phật tử cũng nên ứng dụng. Tức là Thân Hành Niệm ở đây là quán tưởng về ba mươi hai thể trược. Trong đó, mình thường nghe là trong hình thức xuất gia, quý sư thường dạy cho giới tử quán niệm: tóc, lông, móng, răng, da.
Ngày xưa người ta chỉ với năm chữ đó thôi. Nhiều khi trong lúc đang cạo tóc thôi là người ta đã chứng được Thánh quả A-la-hán, chỉ với năm chữ đó thôi. Tức là tóc, lông, móng, răng, da; chỉ niệm xuôi, niệm ngược là người ta chứng đắc được Thánh quả, tức là quán niệm để thấy nó là bất tịnh, dơ bẩn.
Còn các Phật tử mà quán niệm được đề mục này, suy nghĩ chắc cũng giảm bớt được số tiền chi phí cho nó, tức là chi phí phải làm đẹp cho tóc, chi phí phải làm đẹp cho da các thứ. Nó cũng đỡ cái đó.
Số tiền chi phí cho nó, tức là chi phí phải làm đẹp cho tóc, chi phí phải làm đẹp cho da các thứ. Nó cũng đỡ cái đó.
Ở trong Milinda vấn đáp mà vua Milinda hỏi về cái lợi ích của người xuất gia, trong cái cạo tóc, tại sao phải cạo tóc. Thì chúng ta thấy là thật ra đến một lúc nào đó, nếu mà các Phật tử mình thấy có nhân duyên được với đời sống xuất gia, hoặc là chưa xuất gia hẳn nhưng mà mình xuống tóc, thì nhiều khi nó cũng có cái lợi riêng cho mình.
Đó là thí dụ như là nếu mình phải cạo tóc như vậy thì mình sẽ bớt đi cái chi phí để hớt tóc. Hớt tóc rồi phải tốn chi phí đó, rồi phải đi chăm sóc nó nhiều lần. Ngài cũng nói nhiều về cái đó. Rồi nó cũng bớt cái bận rộn, phải lo cho tóc, tức là mỗi lần tóc bạc phải lo sao đi nhuộm chứ để thấy kỳ quá. Thí dụ tức là nó cũng có cái lợi trong đó.
Thì đó, cái lợi ích trong việc mà tu tập, mình chưa nói đó là chứng đắc được thánh quả, nhưng mà đó là cái lợi ích trước mắt mà mình tin ở lời Đức Phật dạy và trong tu tập mình ứng dụng được. Tức là chúng ta cũng tiết kiệm được một số.
Rồi niệm hơi thở thì mình không nói rồi. Niệm tịch tịnh ở đây chỉ ra trạng thái an lạc của Niết-bàn. Cái này mình ít có ai dạy mình về cái cách thực tập đó.
Thì mình có đề mục về niệm Phật là thứ nhất, niệm về sự chết là thứ hai, niệm về ba mươi hai thể trược, hoặc là niệm về hơi thở. Đó là trong mười đề mục này thì bốn đề mục này thường được ứng dụng thực tập nhiều.
Rồi mình có bốn đề mục Phạm trú, tức là từ, bi, hỷ, xả. Từ, bi, hỷ, xả này ở đây mình nói trong đề mục thiền, nhưng mà chữ Brahmavihāra này nó còn có một cái nghĩa khác nữa: bốn Phạm trú. Cái chữ Phạm trú này là gì? Tức là Phạm thiên mà an trú ở trong bốn pháp này. Nhưng mà chữ Brahma, nó còn có một cái nghĩa khác nữa, đó là cao quý. Tức là bốn pháp an trú mà làm cho con người cao quý.
Tại vì thí dụ như khi mà các Phật tử mình tu tập được bốn pháp này, thí dụ tu tập được tâm từ thì tâm của mình lúc nào cũng muốn mọi người được an vui. Tu tập tâm bi thì lúc nào cũng muốn mọi người thoát khỏi sự khổ đau. Tu tập tâm hỷ thì vui thích khi mọi người được thành đạt hoặc là sống được an vui các thứ. Còn tâm xả đó là sẵn sàng bỏ qua những lỗi lầm, thí dụ vậy, tức là không bắt lỗi.
Thì nếu mà một người sống với bốn cái pháp này, tức là an trú được bốn cái pháp này, thì chúng ta thấy rằng người cao thượng, không phải dễ làm. Và bốn pháp này, Đức Phật ngài ở trong Tăng Chi Bộ, ngài còn đặt ba hình ảnh, dùng để nói về ân đức của người cha người mẹ. Trong đó, người cha người mẹ được ví như là vị thầy đầu tiên của những người con; người cha người mẹ được ví như là vị Phạm thiên của những người con; người cha người mẹ được ví như là bậc thánh của những người con.
Thì đó, vị Phạm thiên ở trong trường hợp đó muốn nói là người cha người mẹ có tâm từ, bi, hỷ, xả. Và thật sự thì Đức Phật, chữ Phạm thiên thường được Đức Phật ngài sử dụng ở trong thời đó.
Có tâm từ, bi, hỷ, xả. Và thật sự thì Đức Phật, Ngài, cái chữ Phạm Thiên thường được Đức Phật sử dụng ở trong thời đó. Tại vì người Ấn Độ, hễ nói đến Phạm Thiên thì họ rất thích, họ rất kính. Giống như hôm trước nói với các Phật tử vậy đó. Tại phần lớn người ta tin là họ đều được sinh ra từ Phạm Thiên. Phạm Thiên là người sinh ra họ. Cho nên Đức Phật cũng thường hay sử dụng cái hình ảnh đó, rồi giải thích theo một cách khác.
Tức là thường Đức Phật sử dụng hình ảnh đó, ví dụ dùng Phạm Thiên, sau đó giảng về pháp từ, bi, hỷ, xả. Thật ra thì chỉ cần người ta chịu tu tập theo bốn pháp từ, bi, hỷ, xả này, họ có nhiều lợi lạc. Trong xã hội, mọi người đều có từ, bi, hỷ, xả hết, không có tranh cãi, giành tranh dành. Nó giống như người cha, người mẹ luôn mong muốn con mình được an vui; thấy con mình khổ đau thì tìm bằng mọi cách giúp con mình vượt qua khó khăn đó. Còn nếu thấy con mình thành đạt thì rất vui. Nếu thấy con mình có lỗi lầm thì sẵn sàng bỏ qua.
Cái đó không phải ai cũng có thể dễ làm được. Thí dụ như các Phật tử chơi với bạn bè bên ngoài, dù mình có thân nhau như thế nào đi chăng nữa, nhưng nếu mình phạm lỗi với họ thì họ có thể bỏ mình. Họ có thể bỏ mình, nhưng cha mẹ mình thì không phải như vậy. Không phải là không giận, cũng giận, tức là cũng đuổi đi, muốn đi đâu thì đi. Nhưng đến khi con trở về thì vẫn tiếp nhận, chứ đâu bỏ được.
Miệng thì nói như vậy thôi, chứ nhiều khi đi rồi lại nhớ. Lúc giận thì nói như vậy, nhưng hết giận là lại nhớ. Thậm chí những người con nào khó dạy, dạy không được, thì lại thương người con đó nhiều hơn, tại vì lo, thường lo cho người con đó, sợ gặp như thế này, gặp như thế kia. Đó cũng là từ bốn pháp này.
Nhưng ở đây mình nói về khía cạnh tu tập, đề mục tu tập, tu tập về thiền. Trong kinh thì mình thường gặp, ví dụ như hành giả có tâm từ vô lượng, vô biên, không hận, không sân; hoặc là tâm bi vô lượng, vô biên, không hận, không sân. Đó là cách tu tập mà mình trải đều đến cho tất cả chúng sanh.
Còn trong Thanh Tịnh Đạo dạy, trong cách tu tập tâm từ, tâm từ thì dễ. Nếu mình thực tập không đúng, nó dễ phát sanh tâm tham. Tức là nếu lúc nào mình cũng mong mỏi người ta được an vui, nó dễ phát sanh tâm tham lắm. Cho nên đối tượng tâm từ thường trước tiên là hướng đến người có ân đức cao. Thí dụ như những vị thầy, những bậc xuất gia, hay những người có tu tập, có ân đức cao, rải tâm từ đối với họ thì dễ.
Rồi khi mình tu tập lâu, tâm mình được tiến bộ, lúc đó trí cũng được phát sanh, rồi mình mới xuống dần. Tức là những người thân mà mình quý mến. Cuối cùng đó là kẻ thù. Mới đầu tiên là tu tập tâm từ đối với bản thân, tức là bản thân mình là người đầu tiên, làm sao bản thân mình phải được an vui. Sau đó mới hướng đến người thứ hai, đó là người có ân đức cao; tiếp theo đó là những người thân của mình; và cuối cùng là đến kẻ thù, tức là cho đến kẻ thù mà mình vẫn có tâm từ đối với họ.
Đó là những người thân của mình, và cuối cùng là đến kẻ thù, tức là cho đến kẻ thù mà mình vẫn có tâm từ đối với họ.
Dạ. Uy lực của tâm từ, mình thấy trong Mi Tiên Vấn Đáp. Ngài trình bày cũng có mười một trường hợp. Trong Chú giải Pháp Cú có kể lại, thí dụ như chuyện nàng Uttara, tức là một cô tiểu thư mướn người kỹ nữ về nhà chăm sóc cho chồng của mình.
Đúng rồi, ai nhớ câu chuyện này giỏi quá. Lúc về nhà chồng, nàng không có cơ hội để cúng dường đến Đức Phật và chư Tăng. Cho nên lúc bấy giờ, cô mới mướn người kỹ nữ đó chăm sóc chồng mình một tuần, hay mười ngày gì đó.
Trong lúc chăm sóc như vậy, người kỹ nữ quên mình. Một ngày kia, nàng Uttara đang chuẩn bị nấu nướng để cúng dường đến Đức Phật và chư Tăng. Cô kỹ nữ này thấy người chồng của nàng Uttara từ trên lầu nhìn người vợ của mình, với suy nghĩ rằng: “Cô này sống sung sướng không chịu, mà đi xuống nhà bếp cực, nấu nướng cái này cái kia”.
Trong suy nghĩ như vậy, người chồng mỉm cười. Người kỹ nữ này ghen. Người ta mướn mình để giữ chồng, vậy mà mình lại ghen với người ta.
Từ trên lầu đi xuống, lúc bấy giờ nàng Uttara đang nấu một nồi cháo sữa để cúng dường đến Đức Phật. Nồi cháo sữa đang đun sôi. Cô kỹ nữ tính múc nồi cháo sữa đang sôi đó tạt vào mặt nàng Uttara.
Nàng Uttara cũng biết. Khi mình giận ai, chúng ta thấy dáng đi của mình sẽ bất thường; người ta nhìn là có thể biết liền. Nàng nghĩ rằng: “Nhờ có cô này giúp chăm sóc chồng của mình mà mình có cơ hội tạo được công đức cúng dường đến Đức Phật và chư Tăng”. Do công đức này, nàng cũng hồi hướng cho cô được an vui. Nàng khởi tâm từ như vậy.
Cho nên, trong lúc cô kỹ nữ múc nồi cháo sữa đang nóng để tạt vào mặt nàng Uttara, lần đầu tiên cô múc lên thì không thấy gì, nghĩ chắc cháo còn nguội, nên múc thêm lần nữa. Đến lần thứ hai, lần thứ ba, người giúp việc trong nhà xông lại đánh cô kỹ nữ.
Câu chuyện đó muốn nói rằng người tu tập tâm từ có uy lực.
Trong kinh có nói, thí dụ như nếu trong thức ăn có chất độc, người ăn cũng không bị độc. Đó là một trường hợp, xin nhớ rõ, nhất là trường hợp dùng vật thực mà có quán tưởng. Trong chú giải nói rằng nếu trong vật thực có chất độc mà mình ăn với sự quán tưởng thì mình cũng không bị trúng độc.
Nhưng phần lớn mình ăn bằng tâm tham, cho nên độc tố mới làm hại mình. Những điều đó mình cũng thấy được uy lực của thiện pháp. Khi mình sống nhiều, an trú được nhiều trong thiện pháp, thật ra mình sống khỏe.
Nhưng vì người ta sống quá nhiều trong ác pháp, ngay cả trong ăn uống cũng suy nghĩ bằng ác pháp, cho nên tuổi thọ con người bị ngắn đi, sức khỏe cũng yếu đi.
Đây là bốn đề mục tu tập liên quan đến thiền chỉ.
Tuổi thọ con người bị ngắn đi rồi sức khỏe cũng bị yếu đi. Đây là bốn đề mục tu tập liên quan đến thiền chỉ, tức là từ, bi, hỷ, xả. Mình gọi đó là bốn phạm trú. Bốn đề mục đó, nếu mình chưa phải là hành giả thực tập thiền, nhưng ít nhất trong đời sống của mình có được bốn pháp đó thì cũng đỡ lắm.
Thí dụ như trong sinh hoạt, hay trong giảng pháp nói về tham gia giao thông. Khi đèn đỏ, mình dừng lại. Phần lớn ít ai dừng lại đèn đỏ mà có tâm bi hoặc có tâm từ. Phần lớn mình dừng lại đèn đỏ là chỉ sợ bị phạt, sợ vi phạm giao thông. Phần lớn là mình như vậy, cho nên mình chấp hành luật đó không được tốt.
Còn nếu mình dừng lại với tâm từ, tâm bi, tức là khi mình dừng lại, mình nghĩ rằng nếu mình dừng lại thì mọi người tham gia giao thông có thể được an toàn. Lúc đó mình có tâm gì? Tâm từ. Có tâm từ tức là khi mình dừng lại thì mọi người sẽ được an toàn hết, mong mọi người được an toàn khi tham gia giao thông.
Hoặc cũng có thể là tâm bi, tức là mong mọi người thoát khỏi đau khổ trong việc tham gia giao thông, không gặp tai nạn. Tâm từ, tâm bi ngay cả trong lúc mình dừng đèn đỏ.
Nếu mọi người chấp hành với chánh tư duy, với suy nghĩ như vậy, thì sẽ không ai vi phạm đèn đỏ hết. Vừa an trú được trong tâm thiện, vừa thực hành luật giao thông rất tốt.
Nếu người Phật tử, nếu người dân trong một quốc độ được giáo dục như vậy, thì việc vi phạm giao thông sẽ không có. Tại vì luật mà người ta thực hành do ép buộc với luật mà người ta thực hành bằng niềm tin, hai cái đó khác nhau xa lắm. Ép buộc thì người ta có thể tìm cách để lách luật, để vi phạm; nhưng bằng niềm tin thì không có như vậy.
Giống như các Phật tử thọ Tam bảo, thọ Ngũ giới. Bây giờ mình thọ Ngũ giới xong, về nhà mình muốn làm gì, có ai biết đâu. Mình có vi phạm gì cũng có ai biết đâu. Nhưng mình cố gắng gìn giữ là vì sao? Vì cái đó do niềm tin. Trong việc gìn giữ giới luật, niềm tin quan trọng lắm.
Giống người xuất gia vậy đó. Thí dụ, một vị tỳ-kheo có 227 điều học để thọ trì. Thật ra, để giữ được 227 điều đó giống như mình ở giữa bụi tre đầy gai, xoay bên nào cũng bị gai hết, rất khó để mình có thể tránh được. Lúc đó chỉ có niềm tin thôi mình mới có thể làm được. Đương nhiên, niềm tin phải kết hợp với trí tuệ, nhưng phải có niềm tin lắm mình mới làm được, còn không thì mình dễ vi phạm.
Thí dụ có vị thầy dạy mình, nhưng vị thầy cũng đâu phải lúc nào cũng chung sống với mình, lúc nào cũng ở cùng với mình được. Vị thầy cũng phải có thời gian tu tập riêng của mình. Thầy chỉ dạy mình như vậy, như vậy thôi, còn mình có làm được hay không thì tùy theo niềm tin của mỗi một người.
Cho nên trong việc hành trì giới luật, sẽ có nhiều cấp độ khác nhau, tùy theo niềm tin mà mỗi người thực hành được.
Với các Phật tử, thí dụ nếu nhìn thấy các sư, mình được học, được hiểu về luật chẳng hạn, thì Phật tử học hiểu về luật sẽ không dám khiển trách chư Tăng. Lý do là sao?
Luật chẳng hạn. Phật tử mà học hiểu về luật, người ta không dám khiển trách chư Tăng đến chữ Tăng. Lý do là sao? Người ta biết rằng, xin nói ví dụ như vậy, giống như một người ở giữa bụi tre đầy gai, rất khó tránh khỏi mà không bị gai đâm. Đặc biệt, với người phàm phu còn đầy phiền não, họ rất khó để không vi phạm.
Mình chỉ tùy hỷ. Họ làm tốt được phần nào thì mình cũng mừng được phần đó. Đó là cách hỗ trợ nhau. Chứ bây giờ, chúng ta thấy mỗi người sai là đưa lên Facebook một chút, mỗi người sai lại đưa lên Facebook một chút, lúc đó là cửa nát nhà tan.
Trong việc hộ trì Tam bảo, đâu phải chỉ có người xuất gia, mà còn có cận sự nam, cận sự nữ, tức là cả bốn chúng cùng hỗ trợ. Bốn hội chúng cùng hỗ trợ, giống như một gia đình có bốn anh em vậy đó, mà tối ngày cứ người này nói xấu người kia, người kia nói xấu người này, thì tan nát hết.
Hiểu được điều đó thì chúng ta không làm như vậy. Điều đó chúng ta cũng thấy ở Đức Phật. Đức Phật cũng rất khéo. Ví dụ, Ngài chia thời gian ra: thời gian nào là thời gian của người cư sĩ đến nghe pháp, thời gian nào là thời gian Ngài dành để khiển trách các Tỳ-kheo, để dạy các Tỳ-kheo liên quan đến giới luật chẳng hạn. Tức là Ngài chia ra hết, chứ Ngài không khiển trách các Tỳ-kheo trước mặt các Phật tử.
Qua cách đó, mình cũng thấy trong xã hội càng tiến bộ, người ta cũng áp dụng theo phương pháp đó. Tức là khi thấy mình sai, người ta sẽ gọi mình ra riêng để nhắc nhở trước. Đến khi nhiều lần mình cứ vi phạm thì lúc đó người ta mới khiển trách. Ít nhất, đó là cách khéo trong cư xử. Đức Phật đã làm như vậy từ trước đây.
Khi xã hội càng tiến bộ, người ta cũng làm như vậy, chứ không thấy mình làm sai là la ngay giữa hội chúng. Cách đó không có hiệu quả. Thậm chí la xong, người đó bỏ việc luôn. Nếu nhiều người bỏ việc thì sao? Không có người làm việc.
Cho nên, người ta gọi người đó đến để nhắc nhở riêng nhiều lần, đến khi nào thấy không được thì người ta mới nói chung lại.
Rồi mình còn có đại mục là nhàm chán tưởng, nhàm chán vật thực. Trong tưởng nhàm chán vật thực này, mình dùng vật thực mà không có tham đắm. Thí dụ như trong bài kinh Pārāmī, kinh số 91, 92 gì đó, Đức Phật dạy việc sử dụng vật thực không phải để vui đùa, không phải để có sức mạnh giống như lực sĩ, hoặc không phải để trang điểm, tức là không phải để làm đẹp thân này.
Đó là cách dùng vật thực, để mình dùng vật thực mà không tham.
Rồi thứ cuối cùng đó là đề mục phân tích tứ đại, tức là thân này là đất, nước, lửa, gió. Đó là các đề mục liên quan đến tu tập thiền chỉ. Mình có 36 trường hợp như vậy. Nếu ai muốn thực tập một đề mục nào đó thì mình lật lại trong Thanh tịnh đạo. Thanh tịnh đạo dạy kỹ lắm.
Mình muốn thực tập một đề mục nào đó thì mình sẽ lật lại ở trong Thanh Tịnh Đạo. Thanh Tịnh Đạo thì dạy kỹ lắm. Phải nói là trong các tài liệu Phật giáo mà dạy về tu tập thiền, mà liên quan đến thiền chỉ, mình khó tìm một bộ sách nào ngoài Thanh Tịnh Đạo dạy kỹ như vậy. Trong Thanh Tịnh Đạo dạy kỹ lắm.
Nhưng mà do cái bản dịch của mình, một phần là người dịch từ tiếng Anh, do đó nhiều khi nó thêm thắt làm cho mình đọc hơi khó hiểu. Thanh Tịnh Đạo là một trong những bộ sách dạy về thiền. Các Phật tử mà thích tu tập thiền phải có bộ đó để mình đọc, để xem coi người ta dạy thực tập thiền là dạy như thế nào, để mình thực tập. Ngoài việc mình tham gia các khóa thiền do thiền sư dạy thì mình phải có tài liệu để mình đọc thêm, mình hiểu biết thêm trong cái thực tập.
Rồi thì đây là các đề mục hướng dẫn thực tập để mình có thể chứng đắc được các bậc thiền nói lúc nãy.
Rồi mình sang phần nhóm tâm thiện thứ ba, đó là tâm thiện vô sắc giới. Tâm thiện vô sắc giới là những tâm thiện lưu chủng tử, tạo thành tâm quả vô sắc giới cho tục sinh về cõi vô sắc. Thì thật ra nó cũng giống như ở tâm thiện sắc giới thôi. Ở sắc giới thì cho sanh về cõi sắc giới, còn vô sắc giới thì cho sanh về cõi vô sắc giới.
Thì cái phần này mình nói chung chung, đi tới phần tâm quả mình sẽ nói chi tiết là tâm thiện nào nó cho quả nào. Tạm mình hiểu khái quát như vậy thì mình có bốn tâm thiện vô sắc giới, đó là tâm thiện không vô biên xứ, tâm thiện thức vô biên xứ, tâm thiện vô sở hữu xứ, tâm thiện phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Về đề mục tu tập, mình có bốn đề mục tu tập, và mỗi đề mục nó dành cho một tầng thiền. Ở trong 34 đề mục, 36 đề mục thiền chỉ lúc nãy, nhiều khi một đề mục có thể, thí dụ như đề mục hơi thở, giúp mình tu tập chứng đắc từ sơ thiền tới ngũ thiền. Hoặc là thí dụ như đề mục phạm trú lúc nãy, thí dụ như từ, bi, hỷ, xả, thì giúp mình tu tập từ sơ thiền tới tứ thiền. Tức là một đề mục có thể giúp mình tu tập chứng đắc ở nhiều bậc thiền.
Nhưng mà ở vô sắc thì không phải như vậy. Tức là mỗi đề mục chỉ dành cho hành giả tu tập chứng đắc một bậc thiền. Thí dụ như khi hành giả tu tập chứng đắc thiền sắc giới xong, muốn tu tập từ thiền sắc giới lên thiền vô sắc thì hành giả phải có tâm nhàm chán đối với thiền sắc giới, thì lúc đó mới tu tập lên được.
Thí dụ hành giả thấy là nếu mà còn thân này thì nó là một cái gánh nặng, cho nên phải tu tập như thế nào đó để bỏ hẳn cái thân này đi. Lúc đó hành giả mới bắt đầu tu tập bậc thiền vô sắc giới được. Còn nếu hành giả vẫn còn dính mắc với cái thân này thì không tu tập lên được.
Vậy cho nên mình thấy, dù tu tập thiền chỉ hay là thiền định, dù nó không đạt đến sự giải thoát hoàn toàn giống như thiền quán, nhưng mà chúng ta thấy cứ mỗi một bậc thiền, tâm hành giả cũng từ bỏ ghê lắm. Giống như mình bình thường, thí dụ các Phật tử có đầy đủ tay chân mà lỡ do một cái bệnh tật nào đó mình bị chặt một cái tay, một cái chân, thì chúng ta thấy sao? Nhiều khi mình buồn.
À, do một cái bệnh tật nào đó mà mình bị chặt một cái tay, một cái chân thì chúng ta thấy sao? Nhiều khi mình buồn. Nhưng mà ở hành giả, khi họ tu tập chứng đắc được thiền sắc giới rồi, thì họ thấy còn cái thân này là một cái gánh nặng cho họ. Cho nên họ quyết tâm tu tập để bỏ hẳn cái thân này đi.
Đó là bước đầu tiên, là thiền Không vô biên xứ. Đề mục tu tập để chứng được thiền Không vô biên xứ là hư không không giới hạn. Hư không không giới hạn, tức là họ chỉ niệm với đề mục này, niệm với đề mục này cho đến khi tâm họ thấy được hư không là không có giới hạn. Như vậy thì họ chứng được bậc thiền thứ nhất, đó là bậc thiền Không vô biên xứ.
Rồi từ thiền Không vô biên xứ đó, muốn chứng đắc tâm thiền thứ hai, đó là tâm thiền Thức vô biên xứ, thì hành giả phải nhàm chán với trường hợp thứ nhất, tức là trạng thái của tâm thiền thứ nhất, và cố gắng nỗ lực tu tập với đề mục là tâm thức không giới hạn, mà mình gọi là Thức vô biên xứ.
Cách tu tập đó là “thức là vô biên”, tức là tâm thức không giới hạn. Nếu niệm bằng tiếng Pali là “viññāṇaṃ anantaṃ”, thì cho đến khi nào hành giả niệm mà có tâm định thấy được tâm thức không giới hạn, lúc đó hành giả chứng được bậc thiền thứ hai này.
Ở trường hợp một, hành giả lấy hư không làm đề mục. Cho nên đề mục để chứng đắc thiền Không vô biên xứ là đề mục chế định, tại vì hư không là chế định. Nhưng ở đề mục thứ hai, hành giả lấy cái tâm thứ nhất làm đề mục tu tập. Cho nên khi chứng đắc được thiền Thức vô biên xứ, thì đề mục thứ hai này là đề mục pháp chân đế; người ta nói đó là lấy pháp chân đế làm đề mục.
Còn trường hợp thứ ba là Vô sở hữu xứ. Vô sở hữu xứ tức là hành giả lấy Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ làm đề mục để tu tập. Vô sở hữu xứ tức là không có chi cả. Ở trên là tâm thức không giới hạn, nhưng ở dưới thì không còn chi cả. Cho đến khi hành giả tu tập, an trú như vậy, thấy mọi thứ không còn gì cả, thì chứng được Vô sở hữu xứ. Vô sở hữu xứ tức là không còn sở hữu cái gì cả.
Rồi cuối cùng là đề mục Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Chữ Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nói theo từ ngữ thì rất là lượm thượm. Nhưng nói theo thí dụ ở trong Thanh Tịnh Đạo, tức là giống như một cái bát mà vị trưởng lão kia, vị sa-di lấy cái bát đến cho Ngài. Vị sa-di nói:
— Trong bát có dầu.
Vị trưởng lão nói:
— Nếu mà như vậy thì đem dầu đến cho.
Vị sa-di nói:
— Bạch Ngài, trong bát không có dầu.
Vị trưởng lão nói:
— Tại sao nói trong bát có dầu, mà bây giờ nói trong bát không có dầu?
Vị sa-di nói:
— Bạch Ngài, nó có dầu, nhưng mà số dầu đó rất ít, mình không thể nhìn thấy được.
Có dầu dạ thì, vì sao nói là bạch ngà nó có dầu? Nhưng mà cái số dầu đó rất ít, mình không thể nhìn thấy được.
Giống như sư thí dụ, như mình lấy nước sơn pha với dầu để sơn bát vậy. Nó chỉ có một tí dầu, có mùi, nó có dầu thật sự, chứ không phải không có dầu. Nó có dầu ở trong đó, nhưng để lấy dầu đó làm được cái gì khác thì không được. Nói không có thì cũng không được, mà nói có để lấy làm cái gì đó thì cũng không được.
Cho nên, người ta nói phi tưởng phi phi tưởng xứ là như vậy. Tức là nói có cũng không được, mà nói không có cũng không được. Hành giả tu tập cái đề mục đó là chẳng phải tưởng mà cũng không phải chẳng là tưởng. Tức là nói có tưởng cũng không phải, mà nói không phải không có tưởng cũng không phải. Trạng thái tâm đó rất là vi tế.
Khi hành giả niệm như vậy cho đến tâm định có được khả năng thấy như vậy thì hành giả chứng được thiền đó, là phi tưởng phi phi tưởng xứ. Đó là bốn bậc thiền ở vô sắc giới, bốn bậc thiền vô sắc giới.
Còn ở thiền vô sắc giới, nếu mình kể theo bậc thiền thì nó vẫn được liệt kê vào phần ngũ thiền. Ngũ thiền, cho nên chi thiền của nó vẫn là xả và định, vẫn là xả và định.
Nên để ý, sư thí dụ, lúc mình học chi thiền, mình chỉ được học chi thiền ở thiền sắc giới. Đến khi thiền vô sắc giới thì mình không có đề cập đến. Thật ra, thiền vô sắc giới này cũng thuộc về phần ngũ thiền, và chi thiền của nó cũng là xả và định, cũng là xả và định.
Rồi, bây giờ mình sang nhóm tâm thiện cuối cùng, đó là tâm thiện siêu thế, hay mình còn gọi là tâm đạo. Tâm thiện siêu thế còn được gọi là tâm đạo vì các tâm này tương ưng với tám chi đạo, gồm chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.
Tức là trong tâm đạo này, lúc nào nó cũng có tám chi đạo. Do trong tâm này lúc nào cũng có tám chi đạo này nên người ta gọi nó là tâm đạo.
Tâm đạo thì mình có bốn thứ, tức là tâm Tu-đà-hoàn đạo, tâm Tư-đà-hàm đạo, hay là tâm đạo Nhất lai; tâm A-na-hàm đạo, là tâm đạo Bất lai; tâm A-la-hán đạo, hay là tâm đạo Ứng cúng.
Tùy theo bản dịch ở đây mình lấy. Tại vì nếu mình lấy theo cách nào thì mình chỉ lấy một trường hợp. Thí dụ, mình lấy theo phiên âm hay mình lấy theo bản dịch. Ở đây mình lấy theo cách phổ thông, tức là dùng theo phiên âm: Tu-đà-hoàn đạo, Tư-đà-hàm đạo, A-na-hàm đạo, A-la-hán đạo.
Đây là cách trình bày tâm đạo có bốn thứ, trình bày theo cách không có thiền. Cách trình bày tâm đạo mà không có thiền thì mình không gọi là sơ đạo, nhị đạo, tam đạo, tứ đạo. Đó là trong văn bản gốc.
Nếu chúng ta xem lại trong văn bản gốc, cách trình bày tâm đạo có bốn thứ là trình bày theo cách này, chứ không trình bày theo cách mình quen nói là tâm sơ đạo, nhị đạo, tam đạo, tứ đạo. Cách nói đó là cách nói theo thiền thôi.
Nhưng không phải lúc nào hành giả chứng đắc được đạo quả cũng có thiền, và không phải lúc nào hành giả chứng đắc được đạo quả cũng có thiền cả.
Giả sử chứng đắc được đạo quả thì cũng có thiền, và không phải lúc nào hành giả chứng đắc được đạo quả cũng có thiền cả. Tức là có những trường hợp vừa chứng đắc được đạo quả, vừa chứng đắc được thiền. Nhưng có những trường hợp hành giả chứng đắc được đạo quả trước, sau đó mới đi tu tập thiền.
Và từ đó cũng có cách hiểu lầm, tức là khi chứng được A-la-hán rồi là không có tu tập nữa. Không phải như vậy, nó tùy theo. Tức là nếu hành giả chứng đắc được thánh quả A-la-hán rồi mà chưa chứng đắc được thiền, và nếu muốn có được thiền thì hành giả vẫn phải tu tập, vẫn phải thực tập. Chỉ có điều là vì bây giờ tâm phiền não đã đoạn trừ rồi thì cách tu tập sẽ dễ hơn. Nhưng khi tu tập, hành giả vẫn phải ứng dụng, thí dụ tu tập thiền chỉ lúc nãy, vẫn phải ứng dụng các đề mục, cách thực tập giống như hướng dẫn. Tại hai cái đó khác nhau.
Có những trường hợp chúng ta thấy, thí dụ như trường hợp giống như ngài Chakkhupāla, lúc mà ngài chứng được thánh quả A-la-hán xong thì ngài bị mù. Ngài bị mù, và vì ngài chỉ chứng được thánh quả A-la-hán, ngài không có thiền, cho nên lúc chứng thánh quả A-la-hán xong, ngài bị mù, ngài đâu có thấy được. Ngài cũng phải có người dẫn đi, tức là cũng phải có người dẫn đường ngài mới đi được.
Trường hợp đó nếu bây giờ mà xuất hiện thì chúng ta đâu tin. Tại sao vị A-la-hán mà không chịu bay đi, còn phải có người dẫn đường, mình đâu có tin. Trường hợp đó mình đâu có tin.
Tại vì trường hợp hành giả chỉ tu tập thiền quán, tức là thuần túy tu tập thiền quán, thì cũng chứng đắc được thánh quả. Tức là tâm có được cận định thì đủ sức mạnh để chứng đắc được thánh quả. Nhưng sẽ không có các loại thần thông. Tại muốn có được thần thông, giống như đi trên hư không, đi trên đất liền, đi qua biển, đi trên nước, thì trường hợp đó phải tu tập thần thông, hoặc có thiên nhãn, phải tu tập có thần thông.
Thì đây là bốn tâm đạo, bốn tâm thiện siêu thế. Còn nếu mình trình bày theo thiền thì mình sẽ chia nó ra. Tức là phân theo thiền thì mình có hai mươi thứ. Đó là tâm sơ đạo sơ thiền, tâm sơ đạo nhị thiền, tâm sơ đạo tam thiền, tâm sơ đạo tứ thiền, tâm sơ đạo ngũ thiền.
Thì đó là trường hợp tâm đạo Dự lưu, hay là tâm đạo Tu-đà-hoàn. Mình trình bày theo thiền thì cứ mỗi một thứ như vậy, mình chia ra năm cái, thì mình sẽ được hai mươi. Bắt đầu từ thứ sáu là tâm nhị đạo sơ thiền, tâm nhị đạo nhị thiền, tâm nhị đạo tam thiền, tâm nhị đạo tứ thiền, tâm nhị đạo ngũ thiền. Đó là phần tâm đạo, tâm đạo Tư-đà-hàm trình bày theo thiền.
Giờ thí dụ như bất ngờ người ta hỏi tâm sơ đạo sơ thiền có mấy chi thiền, thì mình trả lời sao? Nó vẫn là năm chi thiền, vẫn năm chi thiền. Cái này chỉ xuất hiện ở các bậc thánh thôi, bậc thánh Dự lưu thôi. Còn chi thiền thì nó vẫn còn đó, chi thiền vẫn còn đó. Chứ đừng nghĩ ở người phàm phu bình thường chứng đắc được thiền thì có năm chi thiền, bây giờ đến bậc thánh chứng đắc được thiền thì không biết có mấy chi thiền. Nó vẫn có các chi thiền đó.
Bây giờ, đến bậc thánh, nếu chứng đắc được thiền thì vẫn có các chi thiền đó. Có các chi thiền đó.
Tâm sơ đạo sơ thiền, tâm sơ đạo nhị thiền, tâm sơ đạo tam thiền, tâm sơ đạo tứ thiền, tâm sơ đạo ngũ thiền; rồi tâm nhị đạo sơ thiền, tâm nhị đạo nhị thiền, tâm nhị đạo tam thiền, tâm nhị đạo tứ thiền, tâm nhị đạo ngũ thiền; tâm tam đạo sơ thiền, tâm tam đạo nhị thiền, tâm tam đạo tam thiền, tâm tam đạo tứ thiền, tâm tam đạo ngũ thiền; tâm tứ đạo sơ thiền, tâm tứ đạo nhị thiền, tâm tứ đạo tam thiền, tâm tứ đạo tứ thiền, tâm tứ đạo ngũ thiền. Đó là 20 tâm đạo, hay là 20 tâm thiện siêu thế.
Ở trong văn bản mà sư trình bày cho các Phật tử thì mình còn có thêm: tâm sơ đạo sơ thiền có tầm, tứ, hỷ, lạc, định. Trình bày theo văn bản đầy đủ thì phải trình bày như vậy.
Còn ở đây sẽ cắt bớt đi, tại trên PowerPoint trình bày nhiều quá thì nó bị rối. Cho nên chỉ trình bày lại tên của các tâm, cắt bỏ các chi thiền. Còn nếu nói đầy đủ theo trong văn bản thì phải thêm các chi thiền nữa. Nói như vậy thì mình mới nhớ. Mình học có nhiều khi ghi nhiều thì thấy mắc công.
Nhưng ở trong văn bản, đến khi trình bày, thật ra hồi đó sư học, sư cũng chỉ biết nhiêu đây thôi. Tức là các ngài cũng trình bày ngắn gọn như vậy. Nhưng bây giờ xem lại trong văn bản thì người ta trình bày đầy đủ. Tức là sơ thiền thì phải có tầm, tứ, hỷ, lạc, định; nhị thiền thì có tứ, hỷ, lạc, định. Tức là trình bày đầy đủ các chi thiền. Nó có cái hay riêng của nó.
Khi người ta nói tâm sơ thiền thì lập tức hành giả biết đó là tâm sơ thiền, tức nó có năm chi thiền. Còn bây giờ, sư thí dụ, đọc là tâm sơ đạo sơ thiền thì các vị đâu biết là mấy chi thiền, nếu mình không nhớ. Còn cái kia họ liệt kê sẵn con số.
Cái đó sư cũng thấy là cái hay trong Vi diệu pháp. Sư thí dụ, lúc mình học các tâm sở, nhóm tâm sở bất thiện, thì trong bản văn mà mình dịch, thường tâm sở bất thiện được chia ra thành năm nhóm: nhóm si phần, nhóm tham phần, nhóm sân phần, nhóm hôn phần và hoài nghi.
Khi mình đọc như vậy, mình có biết nhóm si phần có bao nhiêu tâm sở không? Bốn. Sao mình biết bốn tâm sở? Cái đó mình nhớ chứ làm sao có cách nào mình biết được bao nhiêu tâm sở, trừ khi mình nhớ thôi.
Nhưng mà trong Pali thì nó liệt kê cả con số đó. Thí dụ như trong tâm si, nhóm si phần, nó viết hẳn ra cho mình đó là: [đoạn phát âm Pali không rõ]. Nó có gì? Nó có “chá tuốc” là bốn, có “tí” là ba, có “chá tú” là bốn và có “đú” là hai. Tức là chỉ đọc chữ Pali thôi thì người ta biết ngay trong nhóm đó có bao nhiêu tâm sở.
Nó khác với cách dịch của mình ra. Cái đó là cái hay trong cách trình bày Vi diệu pháp.
Sau này, các Phật tử học trong phần sắc pháp, phân sắc pháp thành bốn, họ cũng liệt kê giống y hệt như vậy. Tức là mình dịch giống như là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân. Nhưng trong văn bản không có liệt kê cho mình như vậy. Khi nói nhãn thì có bao nhiêu, ở trong đó có con số.
Nhiều khi lúc đó, nếu các Phật tử có học Pali một chút, đọc chữ Pali còn dễ hơn tiếng Việt. Học chữ Pali còn dễ hơn tiếng Việt, tức là mình không cần nhớ thêm cái gì.
À, học chữ Pāli còn dễ hơn tiếng Việt. Tức là mình không cần nhớ thêm cái gì. Nhưng cái đó chỉ khi nào mình có một tí kiến thức Pāli thì lúc đó mình đọc trong văn bản, mình thấy vui, thấy vui lắm. Nhiều khi mình không muốn đọc văn bản dịch, mình xem văn bản gốc thì thấy đủ, ngắn gọn mà mình dễ nắm bắt hơn.
Trong bốn tâm đạo này, để hành giả tu tập chứng đắc được bốn tâm đạo đó thì phải đoạn trừ được mười kiết sử. Ở trong phần tâm thiền sắc giới, để tu tập chứng đắc được thiền sắc giới thì hành giả phải đoạn trừ được gì? Để tu tập chứng đắc được thiền sắc giới, hành giả phải đoạn trừ năm triền cái. Nhớ cái đó. Phải nhớ cái đó.
Tức là để tu tập chứng đắc được thiền sắc giới thì hành giả phải đoạn trừ được năm triền cái. Bây giờ, để tu tập chứng đắc được bốn đạo thì hành giả phải đoạn trừ được mười kiết sử. Đó, phải để ý cái đó.
Mười kiết sử ở đây là gì? Thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục ái, sân, sắc ái, vô sắc ái, ngã mạn, phóng dật, vô minh. Cái này là kiến thức căn bản mà chúng ta cần phải nhớ, để khi chúng ta chứng đắc được thánh quả thì chúng ta không đi hỏi thiền sư: “Không biết con có phải là con đã chứng đắc được hay không?”
Tại vì khi hành giả tu tập mà chứng đắc được, thí dụ nếu chứng đắc Tu-đà-hoàn, hành giả đâu đi hỏi. Tại mình đã dứt trừ được hoài nghi. Cái đi hỏi đó là thắc mắc, chứng tỏ hành giả chưa chứng đắc, mà chỉ tưởng tượng thôi. Trong suy nghĩ, học rồi tưởng tượng, hoặc nghe ai nói đó rồi tưởng tượng thôi, cho nên mới đi hỏi như vậy.
Còn nếu hành giả đã chứng đắc được rồi thì mấy cái đó không có thắc mắc. Giống như một số Phật tử khi nghe giảng liên quan đến việc chứng đắc thánh quả của các bậc thánh thì họ hỏi: “Sao mình biết mình chứng đắc được bậc thánh?”
Thật ra, khi hành giả chứng đắc được mà còn hỏi như vậy thì biết chắc là mình chưa chứng đắc. Sở dĩ người chứng đắc được biết đó là tại vì có cái trí sanh khởi. Cái trí đó đoạn trừ được phiền não và hành giả nhận biết được nó.
Nó giống như các Phật tử ngồi thiền, khi mình ngồi có tâm được định, có chánh niệm khá khá, thì lúc tâm tham, tâm sân sanh khởi, mình biết không? Biết. Mình biết. Hỏi lý do tại sao mình biết? Nó có cái trí sanh khởi, biết được cái đó. Có cái trí sanh khởi, phát hiện thấy được cái đó.
Trong tu tập bình thường của mình, khi mình an trú được trong tâm thiện thì cái trí phát sanh, nó thấy được cái đó. Bậc thánh cũng vậy. Khi các ngài tu tập, cái trí sanh khởi và nó sát trừ phiền não, thì có cái trí để nhận biết.
Cho nên, ở trong bài kinh Chuyển Pháp Luân, khi trình bày về Khổ đế thì có cái trí biết được đây là Khổ đế. Ví dụ mình nói Tập đế đi. Tập đế thì mình có cái trí biết được đây là Tập đế. Người ta gọi đó là sự thật trí. Sự thật trí, nó là trí biết sự thật.
Có được cái trí mà biết được đây là Tập đế, người ta gọi đó là sự thật trí. Phận sự trí nó là sự thật trí chứ sao. Trí tức là hành giả biết được: “À, cái này là Tập đế nè.” Hoặc là nếu mà Khổ đế thì hành giả biết: “À, cái này là Khổ đế nè.” Hoặc là: “Cái này là Diệt đế nè, cái này là Đạo đế nè.” Thì cái đó người ta gọi là sự thật trí.
Trường hợp thứ hai đó là phận sự trí. Thí dụ nói về Tập đế thì hành giả biết đó là Tập đế rồi nè, là cái pháp mà trong tu tập mình phải đoạn trừ. Và bên khi đoạn trừ thì cái trí này người ta gọi nó là phận sự trí. Cái phận sự này, nói theo chú giải, tức là trí mà có vai trò làm công việc cần phải làm. Ở trong trường hợp này đó là đoạn trừ Tập đế.
Rồi cuối cùng đó gọi là tác thành trí. Tác thành trí tức là khi hành giả đã đoạn trừ được Tập đế rồi thì có cái trí biết được. Từng trường hợp mà phiền não chưa được đoạn trừ, phiền não xuất hiện rồi, chưa được đoạn trừ, đã được đoạn trừ, đều có các loại trí sanh khởi để biết được nó.
Cho nên người mà chứng đắc được thánh quả rồi thì họ không có nghi ngờ với pháp mà mình đã chứng đắc được. Nhưng mà thường, thí dụ như nếu các bậc thánh mà mình hỏi: “Có phải hiền giả đã chứng đắc được bậc thánh ở bậc này, bậc kia không?”, thì thường là họ không có nói như vậy. Tại nhiều khi nói ra dễ bị người ta bắt lỗi, giống như khoe pháp vậy đó.
Thường thì họ chỉ nói là: “Có những người cũng đã chứng đắc được như vậy, như vậy.” Khi họ nói như vậy thì tự nhiên người hỏi phải hiểu đó là người này có chứng đắc được thánh quả. Họ không đi khoe giống mình. Khoe giống mình là tu tập chưa chứng đắc được thiền mà đi khoe là chứng đắc được thiền tùm lum. Họ không có như vậy.
Ở đây, mười triền cái tức là mười pháp ngăn ngừa, còn mười kiết sử là mười pháp trói buộc. Trói buộc thứ nhất đó là thân kiến. Thân kiến này chỉ cho hành giả chấp thân ngũ uẩn này là của ta, là ta chẳng hạn, thì người ta gọi nó là thân kiến.
Hoài nghi. Hoài nghi, thí dụ như hoài nghi về ân đức Phật, hoài nghi về ân đức Pháp, hoài nghi về ân đức Tăng chẳng hạn. Ở đây, hoài nghi này còn liên quan đến sự sanh diệt của các pháp nữa, tức là biết các pháp sanh khởi thì có nguyên nhân của nó.
Thí dụ bình thường mình thấy con người chết là phải có sự tái sanh. Nhưng đến khi hành giả chứng đắc được thánh quả, thí dụ như thánh quả A-la-hán, thì sự tái sanh bị chấm dứt hoàn toàn. Lý do là cái nhân đưa đến sự tái sanh không còn nữa, cho nên pháp đó không thể diễn tiến được. Cho nên hành giả không còn có sự nghi ngờ cái đó.
Rồi giới cấm thủ. Giới cấm thủ thì liên quan đến hình thức tu tập mà chấp sai, liên quan đến các nghi thức tu tập mà chấp sai. Thí dụ như chúng ta thấy ở trong kinh, như bài kinh Ví dụ tấm vải ở trong Kinh Trung Bộ. Khi người ta làm điều ác gì đó, người ta xuống sông Hằng để tắm, vì người ta nghĩ hình thức tắm như vậy sẽ giúp cho mình rửa sạch những tội lỗi.
Người ta xếp hàng để tắm, vì người ta nghĩ đó là hình thức tắm như vậy sẽ giúp cho mình rửa sạch những tội lỗi.
Hoặc hình thức chấp giữ, giống như là hình thức tu tập hơ lửa, nằm trên lửa, với suy nghĩ đó là khi mình tu tập như vậy thì cái lửa đó sẽ thiêu đốt phiền não. Hoặc là hình thức tu tập khổ hạnh bằng cách nhịn ăn. Họ suy nghĩ rằng khi mình không còn sức nữa thì phiền não cũng không có cơ hội sanh khởi.
Nhưng mà thật sự, đến khi mình không còn sức nữa thì sao? Thì lúc đó phiền não không vùng lên nổi, nhưng mà lúc đó mình cũng không làm gì nổi nữa.
Giống như là trong kinh, Đức Phật kể lại lúc ngài tu tập khổ hạnh. Lúc đó, ngài chỉ ăn một ngày một bữa, rồi nhịn dần cho đến một ngày chỉ ăn một hột gạo hoặc là một hột đậu. Ngài nói rất rõ với các tỳ kheo sau này, khi ngài được giác ngộ. Ngài nói: “Này các tỳ kheo, các ông đừng có nghĩ là hạt gạo hay hạt đậu trong thời đó lớn giống như trái dưa hấu, bằng trái dừa gì đó. Nó không có. Tức là nó chỉ nhỏ nhỏ giống như bây giờ thôi.”
Nhưng vì hình thức tu tập đó là như vậy, tức là người ta nhịn ăn như vậy. Và ngài nói là trong lúc ngài tu hành khổ hạnh như vậy, khi ngài tác ý đứng dậy để đi đại tiện hay đi tiểu tiện, chỉ cần tác ý như vậy, vừa nhúc nhích người là ngã liền. Tại lúc đó không còn sức nữa, không còn sức để gượng, để có thể đi đứng được nữa.
Đúng là lúc đó phiền não không có cơ hội sanh nhiều nữa, nhưng mà lúc đó mình cũng đâu làm gì được. Cho nên cuối cùng, ngài phát hiện là hình thức tu tập đó không giúp đoạn trừ được phiền não. Lúc đó ngài mới ăn uống lại, thực tập bình thường. Cái đó cũng là hình thức chấp thủ, tức là phải làm như vậy.
Cho nên chúng ta thấy là lúc ngài được giác ngộ, ngài trở về thành Ba-la-nại, ở tại vườn Nai để tế độ năm anh em Kiều Trần Như, năm vị tỳ kheo mà chúng ta thường gọi là năm anh em Kiều Trần Như. Năm vị đó đâu có đoán được Đức Phật. Họ nghĩ đó là Sa-môn Gotama. Lúc tu tập nhịn ăn đến đi không nổi mà còn không được giác ngộ, thì huống chi bây giờ ăn uống, hưởng thụ giống như người đời thông thường, làm sao có thể giác ngộ được? Họ đâu có chịu.
Nhưng mà do uy lực của một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, dù họ bàn với nhau rằng khi Đức Phật đi đến, họ cũng trải chỗ ngồi cho ngài. Tại vì đó giống như phép sự của người xuất gia trong thời đó. Họ trải chỗ ngồi nhưng mà không mời ngồi, không tiếp bát, không dâng nước rửa chân. Mấy điều đó sau này Đức Phật có quy định trong luật.
Nhưng đến khi Đức Phật đi đến rồi, người chạy đi tiếp bát, người mời Đức Phật ngồi, người dâng nước rửa chân, làm đủ các thứ.
Thông thường, tại lúc đó cùng tu chung với nhau, họ vẫn gọi nhau là “A-vô”, giống như kiểu gọi bạn bè vậy. Đức Phật nói không nên gọi ngài như vậy, tại bây giờ ngài là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Dạ. Đức Phật nói là không nên gọi Ngài như vậy, tại bây giờ Ngài là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Các vị cũng chưa tin, nhưng Đức Phật nói: “Các ngươi có thấy từ trước đến giờ, Như Lai có từng nói như vậy không?” Tức là trước đây, lúc tu tập chưa đắc được giác ngộ, gọi sao cũng được. Ngài không có nói. Nhưng bây giờ Ngài không cho gọi như vậy, tại Ngài là bậc giác ngộ.
Cho nên, dù không tin nhưng do kính trọng, tức là có những điều họ chưa biết. Họ chưa biết Đức Phật chứng đắc như thế nào, nhưng do cách sống của Đức Phật trước đây, họ vẫn cung kính.
Giống như các Phật tử mình quen những người bạn đạo, mình chơi với nhau. Có người trong việc thực hành các thiện pháp rất đâu ra đó. Cho nên dù một thời gian mình không gặp họ, sau này gặp lại, mình không biết họ tu tập như thế nào, nhưng tâm mình vẫn kính nể những người đó.
Giống như các Phật tử có những người sếp tốt vậy đó. Mặc dù sau này mình không còn làm cho sếp đó nữa, nhưng khi gặp ông, mình vẫn kính nể.
Năm vị tỳ-kheo đó cũng vậy. Dù không tin Đức Phật đã được giác ngộ, nhưng họ vẫn kính nể. Chính vì sự kính nể đó, cuối cùng họ chịu ngồi nghe pháp. Khi nghe pháp xong, chứng đắc được Thánh quả thì đâu còn nghi ngờ gì nữa, không còn nghi ngờ gì nữa.
Đó là hình thức của giới cấm thủ. Ba cái kiết sử đầu tiên này, chỉ cần bậc Thánh Dự lưu là đoạn trừ được.
Rồi đến dục ái và sân. Dục ái ở đây liên quan đến việc hưởng thụ ngũ dục, như hưởng thụ đời sống gia đình. Dục ái ở đây chỉ cho đời sống gia đình, hưởng thụ ngũ dục liên quan đến đời sống gia đình.
Rồi sân hận, hay là sân. Chữ “phiền não” này thật ra là sân, tức là trạng thái tâm khó chịu. Bậc Thánh Tư-đà-hoàn thì làm giảm nhẹ; còn A-na-hàm thì từ bỏ hoàn toàn, tức là đoạn trừ hoàn toàn.
Trường hợp dục ái liên quan đến đời sống gia đình, các Phật tử mình có thể xem lại trong Tiểu kinh Phương Quảng hay Đại kinh Phương Quảng, nói về thiện nam Bí-sa.
Thiện nam đó, sau khi đi nghe pháp xong và chứng đắc được Thánh quả, trở về nhà. Thông thường, tại vì nhà có điều kiện, nhà giàu, cho nên khi chồng đi đâu về, hay mỗi khi đi chùa về, người vợ ra tới cổng đón. Hai vợ chồng vừa nắm tay nhau, vừa nói chuyện vui rồi vào ăn cơm.
Nhưng bữa đó, sau khi ông nghe pháp và chứng được Thánh quả A-na-hàm, bà vợ đi ra nhưng ông không cho nắm tay. Không cho nắm tay mà cũng không nói chuyện vui giống như mọi khi.
Bà ấy nghĩ có thể là ông giận gì đó. Nhưng đến giờ ăn cơm, ông mới nói: “Bây giờ ông sẽ giao tài sản này hết cho bà. Nếu bà muốn thì bà có thể lập gia đình mới. Còn nếu bà sống lại tại gia đình này thì ông sẽ giao hết tài sản, ông chỉ xin giống như ngày một buổi cơm gì đó thôi.”
Bà nghĩ nếu người giận thì sẽ không cho tài sản. Nhưng nếu giao tài sản thì chứng tỏ ông không giận.
Thôi thì bạn nghĩ đó là nếu người giác ngộ thì sẽ không cho tài sản. Nhưng nếu giao tài sản thì chứng tỏ không chứng đắc. Bà mới hỏi, ông mới nói là ông nói đơn giản, tức là chỉ nói hiểu pháp của Đức Phật. Thường họ chỉ nói như vậy, chứ họ không nói họ chứng đắc được thánh quả, mà họ chỉ nói là họ hiểu được pháp của Đức Phật.
Khi ông nói như vậy thì bà Visākhā cũng có trí tuệ. Tức là bà suy nghĩ: không có ai đi nhận lại nước bọt mà người ta đã nhổ bỏ. Cho nên bà xin với người chồng đó là ông ra đi xuất gia. Sau này bà cũng chứng được thánh quả A-la-hán, tức là bà còn chứng được cao hơn ông.
Lúc mà bà chứng được cao hơn ông, bà về. Ông hỏi, lúc mà bà về thì ông cứ tưởng là chắc bà chịu không nổi, cho nên mới về nhà. Nhưng khi ông hỏi Phật pháp, ông hỏi câu nào bà cũng trả lời rốt ráo hết. Thậm chí ông hỏi đến câu liên quan đến Niết-bàn mà bà không trả lời. Lý do là trình độ của ông nghe cái đó không hiểu, cho nên bà không nói. Bà nói nếu muốn thì cứ đi đến hỏi Đức Phật.
Đến khi ông hỏi Đức Phật, Đức Phật cũng nói vậy. Đó là trường hợp ông Thiện Nam với bà Sakha. Trường hợp đó là bậc thánh A-na-hàm từ bỏ hoàn toàn đời sống gia đình. Mặc dù họ vẫn sống cư sĩ, vẫn sống đời sống cư sĩ bình thường, nhưng liên hệ đến việc hưởng thụ ngũ dục trong đời sống gia đình thì họ không còn mặn mà nữa.
Do đó, các Phật tử thấy ông xã đi chùa lâu mà về nhà không màng tới đời sống gia đình, hoặc ông xã thấy bà xã đi chùa thì cũng tùy hỷ công đức đó.
Rồi cái thứ sáu đó là ái sắc, ái vô sắc. Ái sắc, ái vô sắc liên quan đến người hành giả tu tập chứng đắc. Người đó không còn dính mắc với việc hưởng thụ ngũ dục, nhưng vẫn còn dính mắc với cảnh giới tái sanh. Cảnh giới tái sanh có sắc, hoặc cảnh giới tái sanh vô sắc, thì người ta nói là ái sắc, ái vô sắc.
Còn ngã mạn thì có nhiều trường hợp, giống như hôm trước mình học đó là trong tâm tham: tâm tham, ngã mạn, phóng dật, vô minh.
Năm kiết sử này người ta gọi là năm thượng phần kiết sử. Năm phần đầu là năm hạ phần kiết sử. Năm hạ phần kiết sử thì chỉ cần bậc thánh A-na-hàm là đoạn trừ được. Còn năm thượng phần kiết sử này thì phải bậc thánh A-la-hán mới đoạn trừ được.
Bây giờ chúng ta xem lại một tí trong mười kiết sử này. Chúng ta xem coi cái nào nằm trong tâm tham, cái nào nằm trong tâm sân, cái nào nằm trong tâm si, cái nào thuộc về nhóm si.
Thí dụ thân kiến, thân kiến nó thuộc về cái gì? Vì nó tà kiến, thì nó là tham. Hoài nghi thì nó thuộc về gì? Hoài nghi thuộc về si.
Giới cấm thủ là cái gì? Giới cấm thủ tức là chấp gì? Chấp sai. Mà hễ chấp thì nó là cái gì? Chấp là tham. Phải để ý cái đó.
Si là sao? Tức là mê mờ. Còn hễ cái gì liên quan đến chấp thì đó là tham. Còn sân tức là sao? Tức là không chấp nhận, không thích.
Cho nên để ý, có những chi pháp ở trong kinh tạng mà mình liệt kê qua vi tế pháp, mình liệt kê sai là do mình không nắm rõ cái ý của nó. Tức là thân kiến chấp sai, giới cấm thủ cũng chấp sai, nhưng hai cái chấp sai này khác nhau. Cái chấp sai của thân kiến liên quan đến năm uẩn.
Sai nè. Giới cấm thủ nó cũng chấp sai, nhưng mà hai cái chấp sai này khác nhau. Cái chấp sai này liên quan đến năm uẩn, còn một cái chấp sai đó là liên quan đến hình thức tu tập. Nhưng mà nó đều là tà kiến hết. Về tà kiến thì nó là tà kiến hết. Cho nên nó thuộc về tham hợp tà.
Hoài nghi thì nó nằm trong tâm si. Hoài nghi là được rồi.
Dục ái. Dục ái thì thuộc về cái gì? Dục ái thì thuộc về tham. Dục ái thuộc về tham hợp tà hay tham ly tà? Thật ra hợp tà, ly tà gì cũng được hết. Nó tùy theo. Tại dục ái nói chung đó là hưởng thụ ngũ dục, thí dụ như là liên quan đến ăn, thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng. Thí dụ như là liên quan đến ăn chẳng hạn, thì cái đó nó cũng thuộc về ái mà ở lĩnh vực dục giới. Ăn đó cũng có thể là tâm tham hợp tà hoặc là tâm tham ly tà.
Sân hận thì thuộc về sân.
Ái sắc, ái vô sắc thì thuộc về gì? Cái này thuộc về tham. Thuộc về tham.
Rồi ngã mạn. Ngã mạn thuộc về tham. Ngã mạn thuộc về tham gì? Ngã mạn thì tâm tham ly tà. Nếu mà có trong tâm tham ly tà, nhớ không? Tà kiến tức là chấp sai. Còn ngã mạn thì nó liên quan đến gì? Ngã mạn thì nó là cái gì? Tức là nó liên quan đến sự so đo, thường là tự cao, nhưng mà trong đó có sự so sánh giữa mình với người khác. Cho nên nó là ly tà. Tại hai trạng thái tâm này nó khác nhau.
Còn phóng dật, phóng dật thuộc về gì? Phóng dật thuộc về si. Phóng dật thuộc về si vô minh. Vô minh thuộc về si.
Như vậy, trong mười kiết sử này, có bao nhiêu thuộc về tham? Thân kiến, giới cấm thủ, dục ái, ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn. Có sáu thuộc về tham. Có sáu kiết sử thuộc về tham.
Có bao nhiêu thuộc về sân? Một, chỉ có một thuộc về sân.
Có bao nhiêu thuộc về si? Ba, có ba thuộc về si.
Sau này, khi chúng ta học hết rồi, mà chúng ta đọc lại trong kinh tạng, bất cứ chi pháp nào chúng ta cũng có thể liệt kê nó vào trong tham, sân, si hoặc là trong thiện, thì lúc đó chúng ta thành công trong việc hiểu khá tốt kinh tạng. Tức là mình tìm ra được cái này là tham, cái này là sân, cái này là si.
Thật ra, trình bày bằng nhiều cách khác nhau. Sở dĩ Đức Phật trình bày như vậy là vì do người nghe. Đức Phật phải nói cái đó, phải nói từ đó, phải nói dưới hình thức đó thì họ nghe họ mới hiểu. Cho nên Đức Phật trình bày cách khác, nhóm khác thì Ngài trình bày cách khác.
Cho nên chúng ta thấy là nhiều khi nó cũng là tham, sân, si thôi, nhưng mà Đức Phật trình bày bằng nhiều cách khác nhau. Tại vì nó tùy theo đối tượng mà Ngài phải nói chữ đó, từ đó, ngôn từ đó thì họ mới hiểu.
Nó giống như là, thí dụ sư đi giảng cho các Phật tử mình nghe mà những người đó hoàn toàn không học về giáo lý, thì phải nói cái gì gần gũi nhất và dễ nghe nhất để cho họ có thể nghe, mà họ ngồi cười được, không ngủ gục, thì mình cũng thành công.
Còn thí dụ như nhóm các học tử học trong lớp như vậy nè, mình đâu thể nói gì được. Tức là phải sử dụng từ ngữ Phật học để cho mình quen. Còn ai chưa làm quen thì mình tập học thêm một số thuật ngữ. Như vậy mình mới hiểu sâu được.
Giống như các Phật tử nào mà hay nghe Đại đức Giác Nguyên giảng nè.
Số thuật ngữ thì như vậy mình mới hiểu sâu được. Dạ. Giống như các Phật tử nào hay nghe Đại đức Giác Nguyên giảng. Thật ra, nhiều khi các Phật tử nghe giảng rất là vui, nhưng nếu không có kiến thức Phật học thì không bao giờ hiểu rõ được. Dạ, không hiểu rõ được. Cho nên nghe thì hay, nhưng nhiều khi hỏi lại, cho nói lại thì nói không được, tại mình không có kiến thức Phật học.
Sư giảng rất là sâu. Nhiều khi ngồi nghe, nghe cười vậy chứ thấy hay vậy, nhưng đến khi cho nói lại thì nói không được, tại mình không có kiến thức Phật học. Đó, cho nên nó tùy theo. Đức Phật Ngài cũng vậy, tức là tùy theo nhóm người mà Ngài sẽ nói cái gì liên quan đến tham, sân, si.
Đến khi các Phật tử đọc trong kinh tạng, chúng ta liệt kê ra được: cái này thuộc về tham, cái này thuộc về sân, thuộc về si, thì lúc đó chúng ta mới dễ tu tập. Nó giống như mười kiết sử này, chúng ta gặp nhiều trong kinh tạng. Nhưng nếu chúng ta không có học Vi diệu pháp thì chúng ta không liệt kê nó được. Cái nào thuộc về tham, thậm chí là tham học tà, tham ly tà; cái nào thuộc về sân, cái nào thuộc về si, chúng ta không liệt kê được.
Mà hễ mình không liệt kê được thì đồng nghĩa mình không hiểu rõ cái nào là tham, cái nào là sân, cái nào là si, thì làm sao mình tu tập? Mình không hiểu rõ thì đâu tu tập được.
Rồi còn về phương pháp tu tập lúc nãy, mình có năm thiền sắc giới. Khi tu tập, mình có năm triền cái để đoạn trừ và có 40, 36 phương pháp để tu tập. Còn bây giờ, bốn tâm đạo thì khi tu tập, mình đoạn trừ mười kiết sử. Hoặc phương pháp tu tập đó là Tứ Niệm Xứ. Dạ, Tứ Niệm Xứ.
Có người hỏi: Nếu nói Bát Chánh Đạo tu tập theo Tứ Niệm Xứ như vậy, chẳng lẽ mình bỏ Bát Thánh Đạo? Nhưng mà thật sự trong Tứ Niệm Xứ này có Bát Thánh Đạo không? Có, có đầy đủ, tại mình không chịu đọc hết thôi.
Ví dụ, mình đọc trong bài kinh Tứ Niệm Xứ này thì mình thấy trong pháp quán niệm xứ, Đức Phật Ngài có dạy về Tứ Thánh Đế. Trong Tứ Thánh Đế đó thì có gì? Có Bát Thánh Đạo. Đức Phật Ngài có dạy về năm uẩn, có dạy về sáu xứ, thì hầu như có đủ hết.
Nhưng vì mình không đọc, cho nên mình cứ hỏi: Nếu nói Tứ Niệm Xứ là phương pháp tu tập duy nhất, vậy mình bỏ Bát Thánh Đạo à? Thật ra là tại mình không chịu đọc. Với lại, khi người ta nói về Tứ Niệm Xứ thì cứ nói là thân quán niệm xứ, thọ quán niệm xứ, tâm quán niệm xứ, pháp quán niệm xứ, mà không chịu nói thân quán niệm xứ là cái gì, thọ quán niệm xứ là gì, tâm quán niệm xứ là gì, pháp quán niệm xứ là gì, cứ đọc tên bốn cái vậy thôi.
Cho nên dẫn đến việc người không được học thì không biết. Tứ Niệm Xứ nói thì biết là bốn như vậy, nhưng không biết bốn đó bao gồm những gì.
Thí dụ, khi nói về thân quán niệm xứ thì nó bao gồm gì? Cái gì mình gọi là thân quán niệm xứ? Thí dụ phổ thông đó là niệm hơi thở đi. Hoặc là tứ oai nghi, đại oai nghi, tiểu oai nghi; quán về 32 thể trược, quán về tử thi, rồi quán tứ đại. Đó, tức là mình có đến mấy trường hợp, sáu bảy trường hợp tu tập liên quan đến thân quán niệm xứ. Mình liệt kê ra hết.
Rồi thọ quán niệm xứ thì nó liên quan đến gì? Tức là ít nhất mình cũng trình bày được ba loại thọ.
Liệt kê nó ra hết. Rồi, thọ quán niệm xứ thì nó liên quan đến gì? Tức là ít nhất mình cũng trình bày được ba loại thọ. Hoặc bây giờ mình học với Vi Diệu Pháp thì mình có năm loại thọ để tu tập. Cái đó là thọ quán niệm xứ.
Rồi, tâm quán niệm xứ. Tâm quán niệm xứ thì mình có tâm gì? Tâm tham, tâm sân, tâm si. Thì cái đó là trường hợp liên quan đến bất thiện. Tâm có tham, hành giả biết là tâm có tham; tâm không tham, biết là tâm không tham. Bây giờ tâm có tham, biết là tâm có tham, thì biết là trường hợp đó liên quan đến tâm tham rồi.
Giờ tâm không có tham là tâm gì? Tâm thiện. Đọc cái đó phải hiểu cái đó nữa. Tâm không có tham thì đồng nghĩa tâm gì? Tâm thiện đang sanh khởi. Hành giả cũng phải biết tâm thiện đó. Tâm bất thiện đang sanh khởi đó. Hoặc là tâm có sân, hành giả biết là tâm có sân; tâm không có sân, hành giả biết là tâm không có sân. Tâm không sân đó tức là tâm thiện, chứ đâu có tâm gì gọi là tâm không sân.
Mình học Vi Diệu Pháp, mình đâu thấy tâm nào là tâm không sân. Nó chỉ có tâm sân, tâm tham, tâm si, và tâm thiện thôi. Mình đọc bài đó thì phải hiểu tâm không tham, tâm không sân, tâm không si tức là tâm thiện. Và tâm thiện lúc đó là tâm thiện ở cấp độ nào? Ở cấp độ nào trong bốn cấp độ tâm thiện? Thiện giới, tâm thiện dục giới, tức là phổ thông. Tâm thiện dục giới ở cấp độ phổ thông của nó. Tại hành giả mới tu tập, đâu có chứng đắc được các bậc thiền định gì. Cách tu tập của mình giống các Phật tử tu tập thông thường.
Rồi, trong tâm quán niệm xứ nó còn có đến mười sáu phương pháp tu tập. Tức là tham, sân, si; không tham, không sân, không si. Rồi tâm quảng đại, tâm không quảng đại, tâm thiền định, tâm không thiền định gì đó. Nó có đến mười sáu loại tâm tu tập liên quan đến tâm quán niệm xứ.
Nhưng mà phổ thông thì mình chỉ cần được ba, ít nhất là được ba phương pháp là được. Tức là tham, sân, si. Rồi trong tham, sân, si thì mình là không tham, không sân, không si. Đó là tâm thiện. Đó là ba phương pháp. Với các Phật tử mình, chỉ cần được bấy nhiêu đó cũng được.
Rồi, trong quán niệm xứ, trong quán Pháp Niệm xứ, nó có nhiều nhóm. Thí dụ như là quán về năm triền cái, quán về năm thủ uẩn, quán về sáu xứ, quán về bảy giác chi, quán về Tứ đế. Nó có nhiều nhóm pháp ở trong đó. Nói về Tứ Niệm Xứ là chúng ta phải biết mấy cái đó.
Còn bây giờ, ai chưa biết thì lật xem lại bài kinh Tứ Niệm Xứ. Trong Kinh Trung Bộ thì mình có bài kinh số 10, Kinh Tứ Niệm Xứ. Nếu đọc bài kinh đó chưa thấy đầy đủ thì lật thêm bài Kinh Đại Niệm Xứ, Trường Bộ, bài kinh số 22. Hai bài kinh đó sẽ cung cấp cho chúng ta phương pháp tu tập về bốn niệm xứ.
Phải về đọc, nhất là ai thích tu tập thiền thì phải về đọc các bài kinh đó. Nhiều Phật tử đi tu tập thiền, đến khi hỏi tu tập gì thì nói: “Tụi con tu tập theo Tứ Niệm Xứ.” Sư hỏi: “Tứ Niệm Xứ Đức Phật dạy ở đâu?” thì không biết. Không biết ở đâu nữa thì làm sao tu tập?
Như vậy là mình biết Tứ Niệm Xứ thông qua ai đó nói. Ít nhất mình cũng biết: “À, cái này Đức Phật dạy ở đâu?” Rồi nó giống như là người tu tập theo đề mục đó...
Ít nhất mình cũng biết là cái này Đức Phật, Ngài dạy ở đâu rồi. Nó giống như người tu tập và đề mục đó giống như hành trang mình phải mang theo. Mình đi đâu cũng phải có nó. Hành giả tu tập, người ta hỏi mình mà mình không biết nữa thì làm sao tu tập được?
Thí dụ, với các Phật tử ở đây, nếu ai chưa biết, chưa đọc về phần này thì phải đọc lại bài kinh Niệm xứ, bài kinh Đại Niệm xứ. Đã nói tu tập thiền quán với Pana đồ mà hỏi mấy cái này không biết thì đâu có được. Hỏi mà không biết thì đâu có được. Bản thân mình thấy khuyết điểm đó thì mình phải bổ sung hoài.
Đây là bốn đề mục tu tập, bốn đề mục tu tập. Còn ở đây mình học lớp Vi Diệu Pháp, sư không triển khai quá nhiều về phần này. Chúng ta về đọc thêm. Đến khi có lớp liên quan đến các bài kinh này thì mình sẽ học chi tiết.
Rồi cuối cùng là phần từ vựng. Phần từ vựng này chúng ta về tập đọc lại. Hôm nay không biết là đọc được số chữ Pali chưa nữa, tại mình cũng chưa có nhiều thời gian. Nhưng nếu sau này có thời gian, sư sẽ mở một lớp online để mọi người vào tập đọc các từ Pali.
Đó là phần tâm. Tâm thiện, khái quát về tâm thiện. Phần tâm thiện này mình còn ba buổi nữa. Ba buổi nữa thì chắc là mình sẽ học xong phần này, rồi mình mới làm một bài kiểm tra. Học xong một phần thì mình làm một bài kiểm tra cho dễ.
Rồi lớp nghỉ. Hồi hướng.
Ha ca xum ma thaa na mị ca lô mô đ chị rang tà nă ta x ma tha na ta m thô đ chị rang ra kh nô c a c.
[Vỗ tay]
X đ na Ma hô mô đăng rô a ta xa ch ma tha na ca m y th ca lô nam mô đ chị răng Ra khô ni nô a ta xa cham ma tha na ca mă nô đ chị răng ra.
Thụ nô xà ra.
Chư thiên ngự trên hư không, địa cầu thường hữu, rõ thông hội điều, long vương thần lực có nhiều, đồng xin hoan hỷ phước này. Chúng con hộ trì Phật giáo, chư hội các bậc thầy tổ an vui lâu dài, quyến thuộc tránh khỏi nạn tai, chúng sanh được hưởng phước lành, bệnh đau tiêu trừ.
Chúng con vui thú đạo ngầu, tu hành tinh tấn, ngõ hầu vô sanh.
Y trắng tô nhă a x da hăng hô tu a na gà tế ca.
Do sự phước báo mà chúng con đã trong sạch tạo đây, hãy là mối duyên lành để dứt khỏi những điều ô nhiễm muốn nằm nơi tâm trong ngày vị lai.
Giác Chơn - @BMH