Pháp Học Online

← Pháp thoại Kinh Tương Ưng Bộ

BÀI 2

Kinh Tương Ưng Bộ (Buổi 2/211): Bài 2 - Giải Thoát | Sư Toại Khanh Thuyết Giảng

Đang xem pháp thoại

Nội dung bài giảng

Một thời, Thế Tôn ở Sāvatthī, tại Jetavana. Một vị trời, khi đêm đã gần tàn, với ánh sáng chói sáng toàn vùng Jetavana, vị ấy đến Thế Tôn và hỏi Ngài như thế này:

“Thưa Thế Tôn, Ngài có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sinh hay không?”

Nói theo ngôn ngữ của mình, vị ấy đã hỏi Thế Tôn: “Ngài có biết cách nào giúp chúng sinh giải thoát hay không?” Vị ấy hỏi cách Ngài hướng dẫn cho người ta giải thoát như thế nào.

Ngài mới trả lời như thế này: “Hỷ được đoạn tận, tưởng thức được trừ diệt, các thọ diệt tịch tịnh. Như vậy, này Hiền giả, Ta biết sự giải thoát, thoát ly và viễn ly cho các loài chúng sinh.”

Có một chuyện rất quan trọng ở đây. Thứ nhất, mình đọc rồi mà không hiểu gì hết thì làm sao có thể tiếp tục đọc sang bài khác? Thứ hai, nếu mình hiểu như vậy một cách nghèo nàn, một cách khô khan, thì cũng khó mà có hứng thú để đọc sang các bài khác, rất là khó.

Trong khi đó, bài kinh này, nếu mình hiểu được trong chú giải, thì nó mênh mông, sâu rộng, có nhiều điều thú vị; và mình phát hiện qua đó rất nhiều vấn đề mà mình phải biết, phải hiểu, phải học. Cái đó không đơn giản như những gì mình thấy trên mặt chữ của bài kinh này.

Tôi sẽ giải thích cho quý vị một chút nha.

Thứ nhất là “hỷ được đoạn tận”. Cái chữ “đoạn” ở đây có nghĩa là như thế này. [Đoạn tụng Pāli.]

Cái chữ “giải thoát”, “thoát ly” ở đây, trong tiếng Pāli gọi là vimokkha, là danh từ; động từ của nó là vimuccati, nghĩa là giải thoát.

Giải thoát bằng cái gì? Giải thoát bằng tâm đạo, tâm thành quả.

Cái chữ thứ hai là chữ “thoát ly”. Các bạn hỏi: “Đức Phật có biết cách giải thoát, thoát ly và viễn ly cho chúng ta hay không?” Chữ “giải thoát” ở trong chỗ này, theo Ngài Minh Châu dịch, là “giải thoát”, từ Pāli là vimokkha, động từ của nó là vimuccati.

Còn chữ “thoát ly” ở đây, tôi dùng chữ này là pamokkha, động từ là pamokkati. Cái này cũng là sự giải thoát, nhưng phải dùng chữ khác thôi, là sự giải thoát bằng tâm thành quả.

Mình nghe, mình thấy hai chữ khác nhau, nhưng thật ra đây là một cách giải thích trên kênh thôi. Bởi vì tâm đạo và tâm quả dính liền nhau. Khi sát-na tâm đạo xuất hiện thì lập tức ngay sau đó là sát-na tâm thành quả. Cho nên ở đây, Ngài mới giải thích là nguyên cái danh từ quả thì nó vừa là tâm đạo, vừa là tâm quả.

Nhưng tôi nhắc lại, đó chỉ là một cách nói thôi. Cách giải thích thì đúng, chứ thật ra hai cái này là đồng nghĩa nhau.

Phải biết, mai này nếu có ai hỏi mình về chỗ này, ba thứ này nghĩa là gì, mình nói: “Ồ, cái chữ giải thoát là vimokkha, động từ là vimuccati. Còn cái chữ thoát ly ở đây tức là pamokkha, động từ là pamokkati, tức là nói về giải thoát bằng tâm đạo và tâm quả.”

Còn chữ “viễn ly” trong bài kinh đó là viveka, liên hệ đến các uẩn. Đó là một cái nhìn thấu kinh. Vừa thấy đó, mình biết mình nhìn thấu kinh bởi cái gì. Nhưng mà xuống tới đây thì mình đã thấy rõ ràng: À, thì ra là như vậy.

Thấy đó là biết mình nhìn thấu kinh. Bởi đó là cái gì? Nhưng mà xuống tới đây thì mình đã thấy rõ ràng: à, thì ra là như vậy.

Khi họ hỏi: “Ngài có biết cách làm giúp chúng sanh được giải thoát hay không?”, thì Ngài trả lời: “Biết, Ngài biết.” Ngài mới giải thích là nguyên cái bài kinh này đó, vì tại sao động tâm, có nghĩa là muốn thoát khỏi một chuyện, đầu tiên là mình phải bỏ được cái ý tái sinh.

Đây là một cái ý điểm rất, rất là quan trọng mà tôi nhớ ngày hôm qua đó, tôi có trình bày rồi. Không biết các bạn có nghĩ không? Là 95% những người mà nói mình là theo Phật, tin Phật, học Phật, con Phật, 95% những người đó không có sợ tái sinh.

Chẳng qua là vì hoàn cảnh nào đó, mình biết được chùa, miễu, trung tâm, rồi mình vào đó làm phước, nghe Pháp, rồi kể cả mình đi tu thiền trong nước và ngoài nước.

Nhìn quanh mình thấy kẻ nghèo, người giàu, người khỏe, người bệnh. Rồi thấy côn trùng, thấy những loài vật, thấy chúng sanh lúc nhúc, lôi nhôi mà mình thấy ớn, mình sợ. Cái đó có, mình sợ tái sinh, có.

Thấy cảnh sanh ly tử biệt, rồi chồng đánh vợ, rồi vợ phản bội chồng, rồi con cái bất hiếu cha mẹ. Rồi vô bệnh viện thấy người ta rên siết, rồi thương tích, máu me kinh dị, đúng không? Hoặc là ngay cả buổi trưa nắng chang chang mà mình đi ra ngoài đường, mình cũng thấy ghê cái chuyện tái sinh. Còn lấy sinh mạng, còn cầm máu phơi nắng dầm mưa như vậy. Mình tưởng cái sợ đó là đủ chưa? Đâu có. Nó gom về rất là nhiều.

Bởi vì mình thử một phút giây nào đó, thật lòng mình bình tĩnh suy nghĩ: nếu mà hôm nay, ngay bây giờ, tại đây, mình đang có mặt trong một căn hộ trị giá 15–20 triệu đô la, có kẻ ăn người ở, trong nhà, xe cộ, đồ đạc đều dát vàng, dát ngọc hết. Muốn ăn cái gì thì có cái đó, nước uống là do những tay đầu bếp thượng thặng chuẩn bị. Đàn bà muốn có trai đẹp thì có trai đẹp, đàn ông muốn gái đẹp thì có gái đẹp. Rượu thịt ê hề, đi đâu có xe đưa đón.

Tôi còn biết những gì còn độc đáo nữa: có những người đi nghỉ mát ngoài đảo mà mỗi ngày phải có trực thăng đem báo chí, trái cây tươi lên cho họ. Có những người tắm ngoài biển, họ đang trôi bồng bềnh trong nước như vậy đó, mà vẫn còn người đem rượu, đem thức ăn ra, thành hoa rót vô hầu cho họ.

Thì thử hỏi, nếu mà trong điều kiện như vậy đó, chúng ta có còn sợ tái sinh gì không? Có hay không? Thì cứ xét lại.

Rồi chưa hết đâu. Nếu chúng ta có khả năng đi đứng thoải mái như ý, Ngài vẫn đã nói rồi: muốn có mặt ở đâu thì lập tức có mặt ở đó. Mình có thể lên núi cao, ra biển xa, rồi những khu rừng, khu vườn tuyệt đẹp trên hành tinh này, những nơi có khí hậu trong lành, mát mẻ.

Rồi mình có được cái tưởng tượng mà phải nói là vô tận, sống nhiều tỷ năm, không biết cái chết là gì. Thì trong những điều kiện mà tôi vừa nói như vậy đó, thử hỏi chúng ta có sợ tái sinh hay không?

Đối với những bậc hiền trí, khi mà họ sống chánh niệm, họ thấy rằng khổ đau, hạnh phúc hay là đau khổ chỉ là ảo giác thôi.

Tại sao mình thấy hạnh phúc? Tại vì mình đói, mình được ăn. Không có đói, ăn mới ngon. Mình khát mà mình uống mới thấy ngon. Chứ không khát mà bắt mình uống một thứ nước thiệt là ngon, nó cũng khó lắm.

Khát mà mình uống thì mình mới thấy ngon. Chứ không khát mà đè ra bắt mình uống một thứ nước thiệt là ngon, nó cũng khó lắm. Mà khi mình khát rồi, uống nước lạnh cũng ngon, uống nước mưa cũng được.

Cho nên, một người càng khát dữ dội thì khi gặp nước, nó ngừng chứ. Có nghĩa là cái hạnh phúc nó là một mặt khác của đau khổ. Người Mỹ họ còn nói thế này: “Cái hạnh phúc chỉ là một giây phút tạm dừng của đau khổ.” Cái câu đó, tôi vừa nhớ tiếng Anh, tôi nghĩ họ sẽ sử dụng chữ pause. Hạnh phúc chỉ là giây phút tạm dừng của đau khổ thôi.

Và nếu mà nói cho rốt ráo đó, thì toàn bộ những cái mình gọi là hạnh phúc, nó không có thật, mà nó chỉ là những giải pháp cho đau khổ thôi. Các bạn cứ nghe những giải pháp đó. Cái món này không là hạnh phúc, mà chỉ là giải pháp thôi.

Thí dụ, như mình ngồi lâu quá, mình thay đổi cách ngồi, mình thấy nó đã. Rồi mình tưởng cái đã đó là hạnh phúc. Thật ra, cái đã đó chỉ là giải pháp thôi. Cái đau mà mình thay đổi đó là giải pháp thôi.

Rồi mình đói quá, mình mới có cái gì bỏ vô miệng của mình. Mình không còn thấy đói nữa, thì đó là cái giải pháp thôi. Nhưng mà nhờ lúc đó cái khổ này được giải quyết, cho nên mình gọi đó là hạnh phúc. Ai cũng thấy được.

Cho nên, khi Đức Phật thành đạo, Ngài có thấy là cái đạo mà Ngài giác ngộ rất là khó khăn để mình có thể hiểu thấu. Rồi Ngài không có ý đi hoằng pháp, là bởi vì Ngài biết chúng sinh phần lớn, tuyệt đại đa số, không phải phần lớn mà tuyệt đại đa số, 99,9%, là chịu không nổi, họ hiểu không nổi lời dạy của Ngài.

Ngài nói rằng không có hạnh phúc mà chỉ có giải pháp, sao họ chịu nổi? Làm sao họ chịu nổi? Rõ ràng là tôi thương cô đó, rồi bây giờ tôi cưới được cô đó, đó mới là hạnh phúc. Mà tại sao Ngài lại nói không có? Tại sao Ngài lại nói không có?

Không phải là không có lạc thọ, không phải là không có hỷ thọ. Nhưng mà hai cái đó nó có được từ sự hiểu lầm.

Có một chuyện rất là kỳ cục. Ở ngoài đời, người ta nói rằng: “Tôi hiểu cô đó và cô đó hiểu tôi. Chúng tôi coi nhau là tri kỷ, chúng tôi yêu nhau và chúng tôi lấy nhau.”

Nhưng mà thật ra, nếu mình nói từ tinh thần Phật pháp là như vậy, vì mình không hiểu nhau, mình hiểu lầm nhau nên mình mới cưới nhau. Chứ nếu mình hiểu nhau tới nơi tới chốn thì mình không có cách gì mà lấy nhau được.

Bọn mình lấy nhau là nhờ mình hiểu lầm nhau hay là mình không hiểu nhau? Bọn mình hiểu lầm hay là không hiểu?

Chỉ phải rằng là nếu mình biết rõ mọi sự nó đang diễn ra trong cái tấm thân của người đó, mọi sự nó đang diễn ra trong cái tâm lý của người đó, thì khó lấy nhau lắm. Nhưng mà nhờ mình hiểu lầm nhau, mình cứ tưởng người kia là cái gì đó. Mình cứ nghĩ họ đẹp, mình thấy cái mũi nó đẹp, đôi mắt nó đẹp, cái ánh mắt nó đẹp, cái nụ cười nó đẹp. Thì mình sống cái ảo giác như vậy, mình cứ nguyên gần gũi đi một đời.

Cho nên, phải nói rằng niềm hạnh phúc, cái sự kiện niềm an lạc trong đời này của đời sống vợ chồng, là nó đi ra từ cái sự hiểu lầm, do tiền nghiệp và cái khuynh hướng tâm lý. Nó đẩy tôi về một góc trời nào đó trong cõi nhân gian này. Từ đó, do cái nghiệp, tôi phải chấp nhận cái hoàn cảnh mà tôi sống. Khi tôi chấp nhận được nó, thì tôi thấy hạnh phúc.

Con chim cú nó ăn được con chuột, nó sẽ hạnh phúc. Sở dĩ nó bị nghiệp đẩy nó làm con chim cú.

Thì tôi thấy hạnh phúc. Con chim cú ăn được con chuột, nó sẽ hạnh phúc, vì bị nghiệp đẩy nó làm con chim cú. Ngày xưa, ở Việt Nam, tôi nhớ có con chuột xạ, con chuột trù. Ở chùa Linh Thứu thì có mấy con chim cú, cú heo. Cứ lâu lâu, ngày nào không mưa, nó đi bắt mấy con chuột để ăn, rồi nó bắt, nó làm rớt. Sáng ra, nó nhìn tụi mình.

Nhưng mà mình thấy ở đó, nghiệp nó thúc đẩy. Cái nhìn đó khiến cho những người nghiên cứu nó cảm thấy rất là hạnh phúc. Nó ăn được những con chuột trù và nó rất là ngon miệng, nó biết ăn hoài, đặc biệt là...

Cho nên cái đời sống này mình thích là bởi vì mình không nghĩ tới nơi tột chốt của nó. Và chính vì vậy, mình mới còn có ý cầu muốn tái sinh, mong cầu tái sinh.

Cho nên điều đầu tiên mà Đức Phật dạy để chúng sinh thoát khỏi sinh tử, giúp chúng sinh được giải thoát, được thoát ly, được viễn ly tam giới, thì điều đầu tiên là bớt thích tái sinh. Tại sao phải nhớ? Khi mà nhận được cái vấn đề rồi, mình không muốn đi nữa.

Một đứa bé thích chơi mấy cái tượng trâu, tượng bò, nồi, chảo bằng đất sét là tại vì nó nhìn đất sét, nó nhìn những cục đất, nó nhìn những tượng trâu, tượng bò theo cái nhận thức non nớt và ngây thơ của nó. Một ngày nào đó, khi nó lớn, nó biết tượng đất sét chỉ là đất sét thôi. Rồi một cô trẻ đẹp, vô vị, vô nghĩa, vô ích, vô bổ, thậm chí vô duyên nữa, cho nên nó bỏ hết, nó trở thành người lớn.

Một ngày nào đó, một người tu đạo cũng sẽ thấy như vậy đối với tất cả các pháp ở đời.

Có những người nói, cái ngọt đó được gọi là ngọt là do so sánh với cái đắng. Thế vậy thôi. Ví dụ như tôi nhớ có một vị thiền sinh. Một hôm, vị thiền sinh đến hỏi một vị thiền sư:

“Thưa ngài, ngài có thể nói gọn Phật pháp trong một câu cho con nghe được không?”

Tôi nhắc lại: “Thưa ngài, ngài có thể thu gọn Phật pháp trong một câu nói cho con được không?”

Thì vị thiền sư đó lấy một cái que, một cọng gỗ nhỏ. Ông ấy vạch một đường lên trên đất. Rồi ông hỏi người thiền sinh: “Cái vạch này mà tôi vừa vạch trên đất, nó dài hay ngắn?”

Người thiền sinh xin vị thiền sư thu gọn Phật pháp trong một câu. Vị thiền sư vạch một đường lên trên đất rồi hỏi: “Cái đường này dài hay ngắn? Cái đường này có được gọi là dài hay không?”

Thì người thiền sinh suy nghĩ, một hồi lâu không trả lời. Tại vì mới chỉ có một đường thôi, thì làm sao mà biết nó dài hay không? Phải có đường thứ hai, thứ ba thì mình mới có thể so sánh.

Thì người thiền sinh nói: “Phật pháp là vậy đó.”

Lập tức ông ấy liễu ngộ luôn.

Trong khi chúng ta nghe câu chuyện này, chúng ta cứ bâng khuâng như vậy, chúng ta không hiểu ông ngộ ở chỗ nào. Thật ra câu chuyện đó rất là sâu. Nó sâu ở chỗ nào? Chỉ một đường kẻ thôi thì làm sao mà biết được nó dài hay ngắn? Đúng, nếu nó dài hay ngắn thì phải có đường kẻ thứ hai, thứ ba, mình mới có thể so sánh.

Thì trong đời sống riêng và trong cả vũ trụ này nói chung, đời sống của chúng sinh chỉ là sự so sánh thôi.

Cái này đừng có gọi là hạnh phúc, bởi vì so với cái kia. Cái này đừng có gọi là dài, là so với cái gì ngắn hơn. Cái này đừng có gọi là ngắn, là bởi vì đang so với cái dài hơn. Cái này được gọi là đẹp là bởi vì so với cái mà người ta thấy nó xấu hơn. Mà cái này được gọi là xấu là bởi vì người ta so với cái mà người ta cho rằng nó đẹp hơn.

Cái mà người ta thấy xấu hơn, cái này được gọi là xấu bởi vì người ta so với cái mà người ta cho rằng đẹp hơn. Trong khi đó, theo tinh thần Phật pháp, màu hình ra sao thì thấy như vậy. Thấy chỉ biết thấy thôi, nghe chỉ biết nghe thôi. Như vậy không có phiền não.

Tại sao chúng ta có tham, có ưu, có thích, thương, ghét, sợ? Là bởi vì chúng ta có so sánh. Có những người, tại sao tôi thích họ? Là bởi vì khi nhìn họ, tôi nghĩ họ là người thân máu mủ của tôi. Đây là một cách so sánh. Tôi so sánh với những người không phải máu mủ của tôi.

Rồi thậm chí là lúc tôi ghét một người, chỉ vì một lý do đơn giản thôi: vì cái mặt của người đó giống như gương mặt của một người mà tôi không yêu.

Rồi thương cũng vậy. Nhiều lúc tôi nhìn một người là rất có cảm xúc, mà tôi không biết tại sao. Cuối cùng tôi mới nhớ: “À, gương mặt này hình như giống gương mặt của một diễn viên Hồng Kông mà tôi thích.”

Vấn đề ở đây là như vậy đó. Tức là mình sống trong cái ảo giác. Và trong cái ảo giác đó, chúng ta mới tìm đến sự so sánh. Từ sự so sánh đó mới có thương, thích, ghét, sợ.

Mà một hành giả tu niệm xứ là người sống với một cái nhìn chân thật. Nó làm sao thì thấy đúng như vậy: không thêm bớt, không vẽ vời, không tô điểm, không suy diễn, không liên tưởng. Nhưng điều đó rất là quan trọng.

Cho nên khi mà biểu hiện sự việc một người nằm trên trần đất, mà biểu hiện đó khiến người ta nghĩ rằng đây là vật phạm, thì người tu sĩ này liễu ngộ là như vậy đó. Người ta nghĩ rằng: “À, làm sao để thấy nó như vậy?” Đó chính là con đường giác ngộ.

Tôi nhắc lại, nó ra làm sao thì thấy y chang như vậy, đó là con đường giác ngộ. Chỉ cần mình thêm mắm, thêm muối, suy diễn, liên tưởng, tô điểm thì lập tức phát sinh vấn đề ngay.

Cho nên cái chuyện đầu tiên để mình giải thoát đó là gì? Là không tái sinh. Mà muốn không tái sinh, chuyện đầu tiên là mình phải thực hiện cho bằng được con đường Tứ niệm xứ. Bởi vì chỉ có con đường Tứ niệm xứ mới cho mình thấy rằng cái hiện hữu của mình, cái sự có mặt của mình thật sự là cái gì. Thật sự nó là những tưởng lầm.

Khi mình hữu định, cái sự hiện hữu của mình có từ cái hữu lậu. Chánh định, cái sự hiện hữu của mình hữu lậu là do phiền não đó. Do phiền não, nó thích cái này, ghét cái kia, mình mới có tái sinh chứ. Và chính vì vậy thì nó không còn thích thú trong sự tái sinh nữa.

Vì tôi thấy rằng nhân duyên này, cái sự có mặt trong đời mình thật sự rất đáng sợ. Nó có nhiều lý do. Thứ nhất, nó vô thường, vô ngã. Thứ hai, cái sự có mặt của mình trong mỗi kiếp sống rất là mong manh: có ngay, mất ngay, đã đầy. Và cái chỗ đi về của một người phàm phu vô cùng bất trắc.

Cái kiếp người nó đáng sợ chứ. Ngay khi còn phải gánh tấm thân mấy chục ký lô này, chúng ta phải làm biết là bao nhiêu chuyện để sống ở đời, để có mặt ở đời, để gặp mặt với xã hội. Đó là cái khó thứ nhất.

Cái khó thứ hai là khi còn có mặt ở đời này, không biết nó có mặt được bao lâu. Sáng còn, chiều mất.

Và cái đáng sợ thứ ba đó là thiện khó làm hơn ác. Một ngày, tâm thiện ít hơn tâm ác. Cho nên biết mà đột ngột nhắm mắt ra đi thì phải nói cái cõi tái sinh của chúng ta là cả một vấn đề vô cùng khó lường. Cái thiện sao đó làm được tất cả, rất là tất cả.

Nói cái cơ hội tái sinh của chúng ta là cả một vấn đề vô cùng khó. Cái thiện pháp đó làm được tất cả, rất là tất yếu. Và trong dòng sinh tử luân hồi, gặp được minh sư, thiện hữu, thầy tốt, bạn tốt không phải là chuyện dễ. Cái cơ hội làm người không phải là chuyện dễ. Và bản thân mình, cái khuynh hướng ác luôn mạnh hơn hướng thiện, cho nên cái cơ hội sa đọa rất lớn.

Còn nếu kiếp nào chúng ta mang được thân người thì nó lại kẹt vào những điều tôi vừa nói. Có được thân người rồi mà sống cho nó đàng hoàng, cho nó vui vẻ thì cũng không phải chuyện dễ. Mà nếu được đàng hoàng và vui vẻ thì cũng không biết kéo dài được bao lâu.

Hiểu được những chuyện này mới có thể thấy tái sinh là một chuyện đáng sợ, rất là đáng sợ. Và nãy tôi đã giải thích rồi, cái nhìn về đau hay nhìn về nỗi đau khổ của mình, tự thân nó đã có vấn đề. Nó được gọi là hạnh phúc hay bị gọi là đau khổ là bởi vì cái hiểu lầm của mình thôi.

Cho nên khi thấy như vậy đó, thì vị hành giả không còn muốn tái sinh nữa. Và cái sau của bài kinh này nói gì? Tiếp theo đó, Đức Phật Ngài dẫn về, có thể thấy trong bài giảng kinh hơn, tưởng thức được từ biệt.

Các vị ở trong room, xin hỏi trong room này có bao nhiêu người học Vi Diệu Pháp? Trong room này có vị nào từng học Vi Diệu Pháp hay chưa, hay là hoàn toàn chưa từng học Vi Diệu Pháp? Các vị có nghe tôi hỏi không?

Nếu mọi người có học Vi Diệu Pháp, lướt sơ qua bài kinh này, các vị thấy rõ ràng phần đó đã thiếu một uẩn không? Tôi nói về uẩn bây giờ. Các vị thấy nè: tưởng ở đây là tưởng uẩn, thức ở đây là thức uẩn, hành ở đây là hành uẩn. Còn cái sắc uẩn nó nằm ở đâu?

Như vậy thì cái chỗ mà sắc, thọ, tưởng, hành, thức được từ biệt, chính là năm uẩn.

Như vậy thì mình thấy rõ ràng ở đây, tùy tình huống, có người thì Đức Phật dạy rằng chấm dứt năm uẩn là giải thoát. Ngài không nói gì khác cả hết. Ngài chỉ nói chấm dứt năm uẩn là giải thoát.

Có người thì Ngài nói là chấm dứt tham, sân, si là giải thoát. Có người nói rằng thấy rõ Niết-bàn là giải thoát. Có người nói rằng tu tập hoàn mãn Bát Chánh Đạo là giải thoát. Có người nói rằng tu tập hoàn mãn tất cả chi là giải thoát. Các nơi nào cũng có một ý nghĩa giống hệt nhau mà thuộc trong trường hợp này.

Trong bài kinh này, Đức Phật Ngài giải rằng giải quyết được bốn vấn đề thì là giải quyết toàn bộ hành trình sinh tử. Nghe lạ lắm, quý vị Pháp. Cái sâu của bài kinh này nó nằm ở chỗ nào? Dạ, không.

Cái hành uẩn trong trường hợp này đó: sắc uẩn là những gì thuộc vật chất; thọ uẩn là tâm sở thọ; tưởng uẩn là tâm sở tưởng; hành uẩn là năm mươi tâm sở còn lại. Và trong năm mươi tâm sở đó, một yếu tố quyết định tâm của một người là phàm hay là thánh, thiện hay là bất thiện, hoàn toàn nằm ở phần hành uẩn.

Một yếu tố quyết định tâm của một người là phàm hay thánh, thiện hay bất thiện, hoàn toàn nằm ở phần hành uẩn, chứ không phải tưởng, không phải thức, mà nằm ở hành uẩn.

Hành trong trường hợp này, hành uẩn là chỉ cho cái tâm thỏa mãn, thích thú trong sự tái sinh. Trong bài kinh này, ở chỗ này, hành uẩn phải được hiểu là như vậy.

Còn cái câu mà có một vị tên là Như Thật viết: “Hành là vô thường, là chết” nữa, thì chữ hành trong kinh nghĩa rộng vô cùng. Nó có trường hợp, ví dụ như hành uẩn là năm mươi tâm sở.

Ngoài hành, tưởng, còn nói khi nói “các hành là vô thường” thì hành ở đây ám chỉ tất cả danh sắc hữu vi.

Nói chung, ở trong bài kinh này, Phật giải rõ cái con đường dẫn đến sự thoát ly, dẫn đến sự giải thoát, chính là giải quyết trọn vẹn được năm uẩn.

Giải quyết là sao? Có nghĩa là bốn danh uẩn không còn nữa. Và trong chú giải chỗ này có nói thêm một điều, đó là sở dĩ không nói đến sắc uẩn là vì đối tượng được Đức Phật nói đến chỉ muốn nghe bốn danh uẩn thôi. Và các vị trời này đủ trí để hiểu rằng, hết bốn danh uẩn có mặt thì cái cơ hội sắc uẩn có mặt là hoàn toàn có thể.

Tôi nói các vị nghe kịp không? Nếu danh uẩn còn có cơ hội có mặt, còn có điều kiện để tồn tại, thì sắc uẩn hoàn toàn có cơ hội tồn tại, có mặt.

Tôi ví dụ, chỉ trừ trường hợp một vị A-la-hán ở cõi trời vô sắc mà thôi. Chứ đối với phàm phu chúng ta, sinh lên cõi Phi tưởng phi phi tưởng, là cõi Phạm thiên cao nhất của tầng trời vô sắc, rồi thì sao? Miễn là còn có điều kiện để có được bốn danh uẩn cho kiếp sau, cho đời sau, kiếp khác, thì chúng ta cũng còn có cơ hội có trở lại được sắc uẩn.

Hễ nói đến bốn danh uẩn thì không thể nào không nói đến sắc uẩn. Cho nên trong trường hợp này, chỉ cần nói bốn danh uẩn là đủ thôi.

Giống như mình nói “nhà cửa” vậy đó. Chỉ cần nói nhà cửa là đủ rồi. Bởi vì không thể nào nói đến nhà cửa mà người ta không liên tưởng đến những cái bên trong cánh cửa. Nó gồm có con cái, cha mẹ, ông bà, người già, người bệnh và những thứ tài sản lớn nhỏ trong đó.

Ở đây cũng vậy. Trong chú giải nói, trong trường hợp này mà chỉ bốn danh uẩn là được rồi, và tôi tuyệt đối đồng ý với cách giải thích đó trong chú giải. Nói vậy là đủ rồi.

Nhưng mà đây là một cách nói hợp cho người nghe. Đây là một chuyện bà con nên chú ý, rất, rất là quan trọng.

Có những bài kinh mình nghĩ: “Tại sao Đức Phật không nói như mình muốn? Tại sao Ngài nói lạ vậy?” Các bạn có bao giờ có cảm giác này hay không? Cảm giác đó với tôi ngày xưa rất là thường. Có những lúc tôi nghĩ: “Tại sao chỗ này Ngài nói khác một chút thì nó sẽ hay hơn? Nhưng mà tại sao Ngài lại nói như vậy?”

Ví dụ như có một lần, có một ông nông dân. Ông đến, ông nói với Ngài. Ông nói...

Mà tại sao Ngài lại nói như vậy? Tức là, ví dụ như có một lần, có một ông nông dân đến nói với Ngài. Ông nói:

“Con thấy Ngài còn có một mình, kế bên là cái bình bát mà không biết giờ ăn rồi. Cái bình bát phần này rửa sạch rồi để kế bên này đó. Ngài ngồi dưới gốc cây, con thấy Ngài, con nghĩ: ‘Tôi tưởng là tôi nghèo nhất rồi. Ai ngờ có người nghèo hơn tôi. Tôi nghèo thiệt. Đầu tắt mặt tối, một nắng hai sương, tần tảo sớm chiều. Ít ra tôi cũng còn có mấy căn nhà, tôi cũng còn mấy con bò, tôi còn có bà xã, còn mấy đứa con. Sớm chiều vui vầy. Tôi không ngờ trên đời này có một người mà khỏe mạnh, cường tráng như vậy mà không có một chút tài sản nào.’”

Ý của ông là: “Tôi hạnh phúc là vì tôi có bò, tôi có nhà, tôi có vợ, có con, có tài sản.”

Cái phần này, Ngài không thêm một chữ nào hết. Ngài dùng y hệt như cái chữ của ổng. Ngài chỉ thêm một chữ thôi:

“Ngươi hạnh phúc là vì ngươi có bò, có lúa, có ruộng, có nhà, có vợ, có con. Còn Như Lai hạnh phúc là vì Như Lai không có bò, không có ruộng, không có vợ, không có con, không có nhà, không có cửa, không có tài sản.”

Mà lúc đó tôi nghĩ, lẽ ra Ngài phải trả lời cái gì đó cao siêu. Ngài trả lời cái gì đó rất là cao siêu cho ông này. Bây giờ ông này sau khi nghe xong, ổng trở thành Phật tử mà. Thì có nghĩa là ông này là một người có căn duyên ghê gớm lắm. Và mình phải hiểu ngầm rằng ông này cũng phải tu tập như vậy nhiều đời lắm. Thì ổng mới có duyên để gặp một vị Chánh Đẳng Chánh Giác để dạy đạo cho ổng.

Chứ nếu ổng thiếu duyên, ổng gặp được Ngài, nhiều lắm thì ổng được sinh ra vào thời này, ổng gặp mấy ông thầy bá vơ của mình thôi. Chứ làm sao mà gặp được Chánh Đẳng Chánh Giác, đúng không? Cho nên ổng cũng phải có căn duyên ghê gớm cái nào đó.

Mà đằng này, gặp một người căn duyên, phước báo như vậy, mình được trả lời rất là đơn giản. Người ta nói là: “Tôi tưởng tôi nghèo nhất, ai ngờ có người nghèo hơn tôi. Nghèo như Ngài, làm sao hạnh phúc? Trong khi tôi hạnh phúc là nhờ tôi có bò, có ruộng.”

Còn ngược lại, Như Lai hạnh phúc là vì Như Lai không có cái gì hết. Như Lai không có bất cứ cái gì mà ông có, mà Như Lai vẫn hạnh phúc.

Thì buổi đầu, ngày xưa, hồi còn bé, tôi khó chịu rất là tệ. Sợ mà, đơn giản là vậy. Nhưng mà thêm một chút tuổi nữa, tôi mới ngộ ra một điều: À, thì ra món ngon trên đời này chưa hẳn là món đắt tiền nhất, mà món ngon trên đời này là món mà mình thích ăn nhất, nó hợp với mình nhất. Thì đó chính là món ngon nhất.

Cái này tôi nói ngoài lề. Tôi nói nhỏ nha, tôi là gốc nhà quê mà. Tôi để ý, cái gì mà đắt tiền, tôi dòm ra, tôi không khoái. Tôi thích nhiều thứ lạ lắm.

Thí dụ như những cái bình hoa hồng thiệt là lớn, thiệt là đắt tiền. Cái bình đắt tiền hoài, mà tôi thích những cái rất là lạ. Thí dụ như tôi thích những bụi cỏ dại mọc trong tường. Hoặc là những nhánh hoa dại li ti mọc trên những thân gỗ mục, hoặc là những vách đá, những bờ đá dựng trong núi đó. Trong đó mọc ra những nhánh lan dại, lan rừng.

Tôi nhìn nó, tôi thích hơn là tôi nhìn mấy bụi hoa, mấy chậu hoa hồng người ta chụp hình trong mấy cái đại sảnh khách sạn, một, hai trăm đô la đó. Tức là một cái bình hoa mà người ta cắm trong đó đầy hoa hồng, lay-ơn, cẩm chướng, thược dược. Sao tôi nhìn nó, tôi không khoái được.

Bình hoa mà mấy người ôm, trong đó đầy hoa hồng, lay-ơn, cẩm chướng, thược dược, sao tôi nhìn nó không khoái được. Nó rất là xa lạ với cách tôi. Mà tôi lại nhìn những cái hoa dại, hoặc những cái cây hoa dại, hoặc những cái nhánh cỏ mọc lởm chởm trên đầu tường, trên những bức tường đổ nát, sương phong, tôi rất là thích.

Thì ra, Phật pháp cũng vậy thôi, rất là tùy duyên. Có những người thì Ngài giải thích rất là sâu, rất là rộng, nghe rất là đã. Nhưng có những người Ngài trả lời rất là nhẹ nhàng, rất là đơn giản, nghe quá không có gì hết. Nhưng mà đối với họ, như vậy là cả một bầu trời bao la thôi.

Vậy trong bài kinh cũng vậy. Cái sâu sắc, độc đáo và thú vị ở bài kinh này là nghe nói chỉ đề cập đến tứ danh uẩn thôi, cái đấy là giải quyết từ tứ danh uẩn. Nhưng mà tại sao tôi khen bài kinh này thú vị?

Thưa đại chúng, nó thú vị ở chỗ này. Tôi rất là muốn mượn cái buổi giảng sáng hôm nay để gửi đến quý vị những cái định nghĩa có thể rất là quen thuộc, mà cũng có thể rất là mới lạ, có thể rất là kỳ cục về tứ danh uẩn. Tôi rất muốn làm điều đó trong sáng hôm nay.

Có một ông Tài Văn Nông, là một ông Phật tử cũng thân quen với chúng tôi trên hai mươi năm ở Đà Nẵng. Bây giờ anh này đi qua Mỹ rồi, ảnh là một tiến sĩ toán. Ảnh hiền, hiền như con gái. Tôi nhờ ảnh vào làm, mở dùm cái..., mà ảnh loay hoay cả buổi, ảnh làm không được. Cuối cùng thì cô tên Hạnh, tôi vào cô làm giúp.

Mà tại sao tôi phải đi vòng như vậy? Thay vì giải thích thẳng vào trong tứ uẩn, tứ danh uẩn, thì tôi muốn nói một chuyện này.

Thứ nhất, trong đầu tôi cứ tưởng ông là tiến sĩ toán, ông giỏi ghê lắm, mà không được. Bây giờ chuyện chưa có quen thì nhớ dùm tôi chỗ này nha: loay hoay cả buổi, mà ông tiến sĩ toán loay hoay cả bữa, ông làm không xong.

Mà trong cái tưởng của tôi đó, cái tưởng lòng của tôi đó, là tôi áp đặt lên ông một cái kinh nghiệm. Tôi áp đặt lên con người đó một cái hồi ức, một cái biết cũ rằng đây là một người giỏi. Tôi sống ở đời bằng cái ký ức như vậy đó. Và đôi khi, cái ký ức nó đánh lừa tôi. Đó là một cái điều thứ hai.

Tôi có nói với ông Ryan Hùng, tôi nói cho đi ăn cháo. Các bạn biết, trong lúc tôi ngồi ăn cháo đó, tôi ngộ ra một chuyện rất là thú vị.

Tôi không phải là một họa sĩ, nhưng mà tôi có cặp mắt rất là lạ. Đôi khi tôi ngồi nhìn một cái sân, nhìn lên sân lá, một khoảng sân rộng có những chiếc lá rơi vào, tôi có thể rất dễ dàng liên kết những chiếc lá này. Tôi nhìn bằng mắt thôi, tôi không có ra tay, chỉ nhìn bằng một mắt. Mà tôi có thể kết hợp chiếc lá này với chiếc lá kia để nhìn ra một gương mặt một ông cụ, gương mặt một đứa bé, hay là một chiếc xe đạp, hay là một con chó con, vân vân.

Nhìn trên một cái thảm lá, tôi có thể liên tưởng rất nhiều hình ảnh. Nhìn lên trời, nhìn những đám mây bay, tôi có thể liên tưởng rất là nhiều hình ảnh.

Các bạn đừng tưởng tôi lạc đề. Tôi đang nói đúng bài giảng đó.

Tôi có quen với một anh. Ăn cái gì cũng xịt xịt dầu trước, rồi tụi nó ăn cái món kia sau. Có điều thú vị là tụi nó xịt xịt dầu trên cái dĩa cháo, nó tạo ra một bức hình rất là đẹp. Đẹp đến mức rất là muốn chụp lại cái hình đó, mà thấy nó kỳ quá.

Thì ra, cái gọi là nghệ thuật đó, nó là do sự áp đặt của mình thôi. Âm nhạc cũng vậy. Người mê cổ nhạc thà nghe Dạ cổ Hoài Lang, nhưng họ không có nghe được mấy bản concerto quốc tế phương Tây, mấy bài giao hưởng.

Người mê cổ nhạc thà nghe Dạ cổ Hoài Lang, nhưng họ không nghe được mấy bản concerto quốc tế phương Tây, mấy bài giao hưởng. Họ thấy cải lương là hay, nhưng họ nghe nhạc thính phòng thì giữ không nổi. Nghe Diễm Châu quen rồi thì không thể nghe Nguồn Thùy Miên hay Tùy Cương Phụng, Trịnh Công Sơn được, nghe không được.

Như vậy thì cái cảm thức về cái hay, hay là cái mỹ của mỗi người, rõ ràng là nó tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố, rất nhiều nền tảng:

Một, bản tính bẩm sinh.

Hai, giáo dục gia đình.

Ba, bối cảnh gia đình mình sinh trưởng.

Bốn, môi trường xã hội mình đang có mặt.

Tất cả những điều đó tạo nên một không gian cảm nhận thế giới của mình. Tôi nhắc lại, cái bản tính bẩm sinh của mình, môi trường giáo dục, trình độ kiến thức, bối cảnh gia đình, môi trường xã hội, vân vân; tất cả những thứ đó tạo nên một không gian nhận thức cho mình.

Và chúng ta biết rồi, cái chữ “tưởng”, tưởng trong “tưởng uẩn”, đó là sở hữu tưởng. Nó từ cái chữ saññā.

Chúng ta có nhiều cái biết lắm, thưa quý vị. Cái biết bằng trí, cái biết bằng thức và cái biết bằng tưởng.

Cái biết bằng trí là sao? Biết cái này là nhân, biết cái này là quả; biết cái này là thiện, biết cái này là ác; biết cái này là nên, biết cái này là không nên; biết cái này là tín, tấn, niệm, định, tuệ; biết cái nào là tham, sân, si, đồng ý, phóng vật. Thì những cái biết đó được gọi là cái biết của trí. Những cái biết phải do quân tốc từ trí văn, trí tư, trí tu cộng lại mới có được, thì cái biết đó được gọi là cái biết của trí.

Còn cái biết của thức là cái biết của mắt. Mắt mình nhìn cái đó, lỗ tai mình nghe cái tiếng đó. Cái biết của năm giác quan, mình gọi là cái biết của thức.

Còn cái biết của tưởng là sao? Là cái biết dựa trên hồi ức, dựa trên kinh nghiệm cũ.

Ví dụ, tại sao mà mình biết đó là cái ly mà không phải là cái tô? Tại sao vậy? Bởi vì cái biết đó dựa trên ký ức cũ, dựa trên hồi ức, trí nhớ, kinh nghiệm; dựa trên những gì mình đã kinh qua, đã trải qua, đã duyệt qua.

Tại sao tôi gọi đó là cái ly mà không gọi đó là cái tô? Tại sao tôi nhìn, tôi biết đó là ông Tèo mà không gọi là thằng Tí? Tại sao tôi biết đó là bà Bê mà không gọi là bà A? Thì đó gọi là cái biết của tưởng.

Hiện tại, đa số chúng ta, trong phần lớn thời gian của cuộc đời này, chúng ta chỉ sống bằng tưởng thôi. Mà chính cái tưởng này là bi kịch nhân gian, thưa quý vị.

Thí dụ, tôi là một người có đạo. Từ bé tôi đã được học giáo lý ở nhà thờ. Cho nên từ đó, tôi nhìn ngắm thế giới này thông qua cái nhãn quan, thông qua cái lăng kính của một tín hữu Công giáo.

Tôi là một Phật tử Bắc tông. Từ bé tôi đã được dạy niệm Phật Di Đà cầu vãng sinh, được dạy niệm Quán Âm để mà thoát tai, thoát nạn. Tôi từ đó đi vào đời rồi, tôi có học bao nhiêu kinh sách, tôi có nghiên cứu bao nhiêu kinh sách gì nữa, thì cái ám ảnh trong đầu tôi là niệm Phật Di Đà cầu vãng sinh, niệm Phật Quán Âm cầu được thoát nạn; niệm Bồ Tát Địa Tạng để mai mốt xuống địa ngục kia cũng còn có đường thoát.

Tôi là một người tín đồ Hồi giáo. Tôi được hướng dẫn học Kinh Qur’an. Mỗi ngày tôi dành ra năm lần để quỳ xuống cầu nguyện, hướng về Thánh địa La Mecque.

Tôi là một người Do Thái giáo. Tôi học sách Talmud từ bé. Tôi không ăn các loại cá không có vảy.

Về Thánh địa La Mã kia. Tôi là một người theo Do Thái giáo, tôi học sách Talmud từ bé, tôi không ăn các loại cá không có vảy. Tất cả những suy tư của tôi phải dựa trên nền tảng của Thánh Kinh Torah.

Cũng như người Hồi giáo bao giờ cũng suy nghĩ dựa trên Thánh Kinh Qur’an. Người Công giáo lúc nào cũng suy nghĩ dựa trên lời giảng của các cha, dựa trên Tân Ước và Cựu Ước. Khá hơn một chút thì dựa trên các quan điểm thần học.

Người Phật tử Bắc Tông cũng vậy. Người Phật tử Nam Tông mà có học Vi Diệu Pháp, suy nghĩ cái gì cũng không ra khỏi A-tỳ-đàm. Người Phật tử Nam Tông mà không biết A-tỳ-đàm, chỉ biết kinh tạng, thì suy nghĩ cái gì cũng chỉ quẩn quanh trong kinh tạng.

Chúng ta được lớn lên, được đào tạo, được ăn học trong một môi trường nào đó, chúng ta không dám nghi ngờ điều đó. Có những lúc thấy kỳ kỳ, nhưng cứ sợ, sợ là mình lầm đường lạc lối. Cứ vậy mà sống cho đến ngày tàn hơi, không dám nghi ngờ cái đường dưới chân của mình.

Và người như vậy thì không có khác, nhưng mà khổ một nỗi. Nếu mà sống không dựa vào hồi ức như vậy thì chúng ta tự biết là mình không có kiến thức, không có học thức, không có đủ kinh nghiệm. Nó khó như vậy.

Mà toàn bộ kiến thức học đường cũng chỉ là kinh nghiệm thôi. Kinh nghiệm của người khác trao truyền lại cho mình. Rồi sau khi ra trường, mình trở thành bác sĩ, kỹ sư, luật sư, mình lại cộng thêm một số kinh nghiệm mới nữa, thông qua những cái biết mới.

Nhưng mà đời sống mình vẫn dựa trên những cái biết, cái biết cũ. Cái đó được gọi là tưởng.

Có một điều hôm nay, nếu mà tôi nói tưởng uẩn là những kinh nghiệm thì nhiều người không chịu, nhất là những người học A-tỳ-đàm. Cho nên đối với những người đó, tôi phải nói riêng vào tai của họ một lời thật thầm thì rất nhỏ rằng: Tôi vẫn giữ nguyên cái biết của anh. Đúng rồi, tưởng uẩn là tâm sở tưởng. Nhưng anh phải làm ơn nhớ rằng, hiểu như vậy nó nghèo lắm, anh biết không?

Anh phải hiểu rằng, nó là toàn bộ ký ức, kinh nghiệm, hồi ức của chúng ta trong đời sống này. Cái biết thuộc tưởng là như vậy đó.

Tại sao chúng ta nghe tiếng đó, chúng ta thích? Là vì dựa vào một ký ức nào đó, một kinh nghiệm nào đó, một cái biết cũ nào đó, chúng ta thích nó. Chúng ta nghe cái gì đó, chúng ta ghét cũng vậy. Nhìn cái gì đó mà thích, ghét, thương, sợ cũng đều do hồi ức.

Cả một hành trình mình sống toàn hiểu lầm không thôi. Hiểu lầm là vậy đó. Tức là nhìn cái này, mình nghĩ đến cái khác. Cứ như vậy mà sống.

Có người vợ chết rồi, đi lấy vợ mới, vẫn tìm bóng dáng người cũ trên hình hài của người mới. Cái chuyện đó tôi biết có.

Và có người họ thích một kiểu nấu ăn nào đó, một cách thức, một kinh nghiệm nấu ăn nào đó, cũng dựa vào những sở thích đặc biệt nào đó. Tại sao họ thích nấu như vậy? Họ biết nấu món đó mà lúc nào cũng bỏ một miếng lá chanh vào. Tại sao vậy? Nó không cần thiết.

Thì ra họ kể cho mình nghe một câu chuyện rất là cảm động. Họ nói rất là nhỏ: “Bởi vì ngày xưa mẹ còn sống, có thói quen như vậy.”

Để cho mình nghe một câu chuyện rất là cảm động. Họ nói rất là nhỏ, bởi vì ngày xưa mẹ con còn sống có thói quen như vậy. Mẹ nấu món đó, mẹ hay bỏ cái lá ở ngoài miền Trung. Không biết vì sao người ngoài đó họ thích cái lá đó. Món đó phải bỏ cái lá đó vào, hình như ăn cho ấm bụng, cho mau tiêu gì đó.

Nhưng đại khái, mẹ còn thì mẹ nấu cho con ăn từ bé. Bây giờ con lớn, con có bằng đại học, con đi ra nước ngoài rồi. Con học về chemical, về hóa chất rất là giỏi, nhưng con vẫn nấu ăn theo cách của mẹ. Vì mỗi lần con nấu món nào mà thiếu cái đó, con thấy con có lỗi với mẹ nhiều lắm.

Tôi hỏi làm sao mà chỉ có được cái này ở đây, thì cô nhờ trong nước đem ra. Bản thân tôi, mỗi lần ở trong nước đi về Mỹ, cô đem cả bịch thì cô để trong tủ đá, xài dần. Còn không có người quen về nước thì cô cũng nhờ họ mang ra. Cái lá rừng, lá riềng, mỗi lần kho cái gì cô hay bỏ luôn. Lâu ngày nó quen rồi, dễ sợ. Các bạn thấy dễ sợ chưa? Cái ám ảnh của quá khứ nó lớn đến như vậy đó.

Rồi có những nhạc khúc, có những loại nhạc mà người ta chỉ nghe vào đêm khuya thôi. Có người nói với tôi rằng họ thèm được một đêm mưa, nằm nghe Khánh Ly, nằm nghe Vũ Thành An, tự công phu, và phải nghe người đó vào thời điểm đó nghe nó mới đã. Đó là tưởng, đúng không quý vị?

Có những người rất là thích hoàng hôn. Có những người rất là sợ hoàng hôn. Có những người rất thích mưa khuya, và có những người rất sợ mưa khuya. Có những người rất thích mùa đông, tuyết trắng, mà có những người rất là sợ mùa đông, tuyết trắng.

Tôi yêu châu Âu vì tôi yêu mùa đông ở đây. Có rất nhiều người ở đây lại muốn bỏ châu Âu mà đi vì họ rất sợ mùa đông ở đây. Đó là tưởng. Vì ngày xưa, cái ngày lần đầu tiên mà tôi biết đến mùa đông của Thụy Sĩ, lúc đó tôi đang có một sự cố trong đời tôi, là lần đầu tiên tôi về Việt Nam. Chính cái ấn tượng đó đã thành ra một kỷ niệm đẹp trong đời tôi. Tôi ốm yếu, gầy gò, nhưng mà tôi rất thích mùa đông ở đây. Đó là tưởng.

Có người rất thích mưa khuya, có người rất là sợ mưa khuya. Có người rất là thích... Có khi nắng khuya chưa lên mà một lời hóa chật tim. Có người hỏi Trịnh Công Sơn nắng khuya là gì. Trịnh Công Sơn nói nắng khuya là đèn đường đó. Nắng khuya là đèn đường.

Từ lúc tôi đọc được câu trả lời đó của Trịnh Công Sơn, tôi yêu đèn đường hơn bao giờ khác. Và ở chỗ của tôi bên Đức bây giờ, phía trước nhà có bốn ngọn đèn đường. Thỉnh thoảng những đêm không ngủ được, tôi ngồi nhìn ra, tôi nghĩ: “Ờ, nắng khuya đang lên. Nắng khuya đang lên.” Rất là tuyệt, thưa quý vị.

Tưởng, toàn bộ đời sống mình là tưởng. Khi Đức Phật ra đời, Ngài thấy điều đó, và Ngài giải rằng thay vì chạy theo những kinh nghiệm, những hồi ức rất đời phàm phu, không có lợi, thì ta dạy cho các con, ta dạy cho các ngươi những cái tưởng có lợi hơn. Đó là tưởng bất tịnh, tưởng về sự chết, tưởng về hài cốt. Nó có lợi hơn.

Tại sao Ngài vẫn xài chữ tưởng? Là bởi vì Ngài biết, trước khi giác ngộ, trước khi có được thánh trí, thì người hành giả vẫn phải tiếp tục xài lại cái hồi ức. Đấy, vẫn phải xài lại cái hồi ức. Mà thay vì sử dụng những hồi ức rất là phàm phu, không có lợi ích, thì bây giờ mình học hỏi hơn.

Tức là vị hành giả ngồi tưởng tượng đây là xương. Một cái tấm thân người đẹp cách mấy, trắng cách mấy, đen cách mấy, mặc ấm cách mấy.

Hãy giả ngồi tưởng tượng đây là xương. Một cái tấm thân người đẹp cách mấy, trắng cách mấy, đen cách mấy, mập ốm cách mấy, khi chết rồi thì một ngày, hai ngày, nó trương sình lên, nó chảy nước, nó bốc mùi. Rồi thì 70% cơ thể là nước, cho nên nó sẽ rã tan rất là nhanh. Sau đó chỉ còn lại là một bộ xương trắng và một nhúm nội tạng. Rất là lâu nó mới phân hủy hết.

Cái nhúm xương trắng đó lúc đầu còn là một bộ, sau đó nó rời ra từng khúc, từng phần nhỏ. Rồi theo thời gian, từ màu trắng, trắng muốt, trắng tinh, nó sẽ chuyển qua màu xám. Rồi trong nhiều năm, nếu mà nó không được ở trong một điều kiện thích hợp thì nó sẽ mau bị mục rã, nó trở thành bột và nó đi vào đất như là chưa từng xuất hiện bao giờ.

Cả những cái suy tư đó, nó là tưởng thôi, thưa quý vị. Nó là tưởng thôi. Nói theo ví dụ Pháp đó, chính là cái biết, thông qua khía cạnh tục đế, chế định, biến kế sở chấp, thì cái biết đó là đồ giả, tưởng ra. Nhưng mà Đức Phật dạy cái tưởng nó rất có lợi. Cứ niệm đi, quán niệm đi.

Quán niệm thân này từ đầu đến chân, nó gồm 32 thứ dơ bẩn: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước mũi, nước miếng, phân, nước tiểu và những thứ khác. Tất cả những thứ dơ này nó được gói gọn ở trong một cái thân mà có toàn thịt bên trong.

Mình tưởng tượng, mình nhai, mình nuốt, mình ăn món này, món kia. Mình cứ nhai xong, mình nhả vô cái bịch nylon. Mình uống nước xong rồi mình đừng có nuốt, mình ngậm vô họng rồi mình nhả vô nylon, làm thành một túi. Trong đó có thịt, có cá, có tôm, có cua, rồi có trái cây, có bánh ngọt, có xá xị, có Coca. Mình cứ nhai xong, mình nhả vào cái bịch, rồi mình đeo trước ngực của mình đó. Mình bảo đảm mình gớm chết, mình ngủ không được.

Nhưng mà đặc biệt, những thứ đó mà mình dọng hết vô miệng, mình nuốt vô bụng, rồi mình đánh răng cho sạch, ngậm thêm một viên kẹo bạc hà, rồi lên giường ngủ, mình cảm thấy mình sạch. Người nằm bên cạnh mình vẫn thấy mình hấp dẫn như thiệt. Trong khi nếu mà những thứ ăn, mới uống hồi nãy, mình đừng có nuốt, mình cứ nhả hết vô trong cái bịch nylon, mình cột nó lại để trước bụng của mình, chắc cái đêm đó mình ngủ không được. Không ai dám ngủ với cái bịch như vậy hết, nó bể ra rồi thấy bà.

Nhưng mà nhờ hồi nãy mình không có để trong bịch, mà mình nuốt hết vô trong người của mình, rồi mình đánh răng, rồi mình ngậm kẹo. Theo đó, có người uống trà nữa chứ. Nhưng mà ở đây tôi xin mở rộng, nói thêm nha: uống trà ngay sau bữa ăn không có tốt nha, bởi vì một số hoạt chất của trà nó làm ảnh hưởng đến men tiêu hóa của mình. Ở đây, cái phần này tôi mở rộng, nói thêm thôi, chứ còn nói mãi thì pháp hết.

Cho nên, tưởng thôi, quý vị. Chỉ là tưởng thôi. Có những pháp môn tu, nó chỉ là tưởng. Nhưng mà nếu mà được tu tập, được trau dồi nhiều ngày, thì từ cái tưởng tục đó nó chuyển qua cái biết và trí tuệ, để mình thấy được cái chân đế, thấy được cái bản chất thật của các pháp.

Bản chất thực ra, pháp vốn không có dơ, không có sạch, không có xa, không có gần, không có sớm, không có muộn, không có lớn, không có nhỏ, không có trong, không có ngoài. Nhưng mà bây giờ chưa được tới cái giai đoạn mình nhìn thấy pháp vốn như vậy. Trước mắt chúng ta phải tùy thuộc vào pháp tục đế. Chúng ta phải nhìn thấy mọi sự theo cái cách chế định, cái cách suy diễn, cái tự tưởng nó sao đó.

Nói tới tự tưởng, mình phải thừa nhận một điều là toàn bộ đời sống này sống y cứ vào ký ức.

Cái tự tưởng nó sâu chỗ đó. Nói tới tự tưởng, mình phải thừa nhận một điều là toàn bộ đời sống này sống y cứ vào hồi ức, sống y cứ vào kinh nghiệm cũ, sống y cứ vào cái biết cũ, sống y cứ vào cái suy diễn và liên tưởng. Cái suy diễn và liên tưởng là nội dung của tâm sở tưởng, tức là sở hữu tưởng.

Rồi cái thứ hai, đó là thọ. Thưa quý vị, nếu mình nói một cách đơn giản, thọ tức là tâm sở thọ, trong năm mươi hai tâm sở, thọ thì nó đúng chứ không sai, mà nó nghèo quá, nó nghèo lắm, tôi nghĩ.

Chúng ta phải nhớ rằng, nếu mà nói toàn bộ đời sống này là thế giới của liên tưởng và suy diễn, đó là thế giới của sở hữu tưởng, không sai. Mà nói rằng toàn bộ đời sống này là thế giới của cảm giác, cảm thọ, cũng không sai.

Bây giờ tôi nói ngoài một chút. Tại sao nói thế giới của tưởng? Tôi xin hỏi thiệt nha: hội họa, âm nhạc, thi ca, không phải tưởng gọi gì nữa? Nó là liên tưởng, nó là suy diễn, nó chỉ là vậy thôi. Một tòa nhà được xây dựng lên cũng y cứ trên sự suy diễn và liên tưởng của ai đó. Cho nên thế giới này trước hết có thể được gọi là thế giới của sự liên tưởng. Nói một cách chuyên môn hơn, thế giới này chính là thế giới của tâm sở tưởng và sở hữu tưởng.

Thứ hai, đối với một kẻ phàm phu thì họ thích cái này, cái kia trong tâm trạng. Còn đối với những người ly dục thì họ không thích cái này, cái kia. Họ muốn tu thiền. Mà tu thiền là gì? Là ngó vô đề mục, đúng không? Mà ngó vô đề mục có thể là tứ mục. Còn gì nữa? Cho nên thế giới này là thế giới tưởng tượng.

Nhưng mà nói như vậy có đủ chưa? Thế giới này nó còn là thế giới của cảm giác nữa. Nó còn là thế giới của cảm giác nữa. Từ lúc ở trong bụng mẹ đến lúc đi vào quan tài, chúng ta luôn trong cảm giác. Chúng ta theo đuổi những cảm giác.

Mấy bé tại sao nó khóc? Là vì nó cảm thấy một cái gì đó khó chịu. Một là nó đói, nó lạnh, nó bị cái gì đó đau. Tiểu ra trong cái tã của nó, nó khó chịu, nó ngứa, vậy là nó khóc. Nó đau bụng, nó khát sữa, nó cũng khóc. Rồi có lúc nó mát, nó cũng cười. Khi nó được thoải mái, nó cười. Ai hôn nó, ai nịnh nó, nó cũng cười. Vậy thì nó cũng có hỷ nộ ái ố như mình vậy đó.

Rồi từ đó nó lớn lên, từ hai tuổi, năm tuổi, mười tuổi. Rồi nó dậy thì, rồi nó trưởng thành, rồi nó trung niên, rồi nó xế chiều, rồi nó lão niên, nó già cả, lẩm cẩm. Thì trong suốt thời gian đó, đến lúc khi nó nằm liệt giường, nó là một cụ già chín mươi tuổi, thì toàn bộ đời sống của nó chỉ là những cảm giác, thưa quý vị. Hoặc là như ý, hoặc là bất toại, chỉ vậy thôi.

Cái quan trọng của đời sống này, đối với một hành giả, là tỉnh thức, biết cái gì đang xảy ra. Cái biết đó nó quý hơn kim cương. Tại sao? Là tại vì sao mình có tâm tham? Là bởi vì khi mình có được một cảm giác thích thú, cảm giác ngọt ngào thì mình thích. Mà tại sao mình có tâm sân? Là tại khi mình có một chuyện gì đó làm cho mình khó chịu, một chuyện gì đó bất toại, nó nghịch ý thì mình khởi lên tâm sân.

Mà đối với một hành giả đúng mức thì mọi sự nó diễn ra như thế nào, cứ nhìn nó như vậy, đừng chìm sâu trong cái tưởng. Mà cái người không bị chìm sâu trong cái tưởng thì người đó mới có thể tự chủ trong cái thọ được, trong cái cảm giác. Còn cái người mà họ sống để cái tưởng làm chủ của họ thì trong đời sống, cảm thọ không phải là không làm chủ được họ.

Ví dụ như, tôi có biết một vị sư quen. Sư này có một điểm đặc biệt mà tôi giải thích không được.

Có làm chủ được thọ không? Ví dụ như, tôi có biết một vị sư quen. Sư này có một điểm đặc biệt mà tôi giải thích không được. Cứ dọn cơm ra, năm, bảy vị sư là cái chỗ của vị này luôn luôn là cái chén mẻ. Tôi không biết tại sao. Nó lạ như vậy.

Mà ai không để ý thì thôi, chính vì vị này có thể để ý chứ. Nhiều khi mình nghĩ là cái người dọn có ác ý. Nhưng mà lạ là, cái chỗ của người gia đình Phật tử mình chưa quen biết thì mình cũng nghĩ như vậy. Nếu bốn, năm vị sư ngồi chung với nhau thì cái chén mẻ bao giờ nó nằm ngay giữa mình.

Vấn đề nó nằm ở chỗ mình để ý đó. Mình coi nó là quan trọng thì tự nhiên cái chén mẻ nó trở thành nỗi buồn với mình. Nhưng mà nếu mình không để ý nó thì nó không là cái gì hết. Nếu mình để ý nó, tức là mình dùng cái tưởng nhiều quá, thì lập tức cái thọ của mình nảy sinh vấn đề.

Cho nên, nếu ai đó hỏi tôi: “Sư ơi, tôi là cái gì?”, tôi nói: “Tôi là người không để mình bị cái tưởng đó làm chủ.”

Cũng là một cách nói. Cách nói thứ hai: tôi chính là làm chủ được cái thọ.

Nghĩa là sao? Tức là trước khi tôi biết đạo, cái niềm vui, cái mà làm cho tôi vui đó, toàn những cái tội lỗi không à. Nhưng mà bây giờ khi tôi biết đạo rồi, tôi học Phật pháp rồi, thì cái mà làm cho tôi vui nó khác. Cái nào tội lỗi thì tôi cũng có vui, nhưng mà rõ ràng là tôi có phải làm chủ được cái thọ của tôi hay không?

Cái thứ hai, trước khi tôi biết đạo, có nhiều chuyện làm cho tôi rất là bực mình. Nhưng mà bây giờ tôi biết đạo rồi thì nó lại khác. Những cái chuyện mà tôi bực mình đó, nó không giống như ngày xưa nữa.

Tất nhiên, ngày xưa mà ai chửi tôi là tôi chịu không được. Ngày xưa mà phải nhịn đói là tôi chịu không được. Nhưng bây giờ thì lại khác. Mình là ông sư mà có lúc không ai cho mình ăn thì mình cũng okay. Mình là ông thầy chùa, cái chuyện đói mà lăn ra đó là chuyện bình thường. Nhưng mà nếu mình là một người cư sĩ thì chịu không nổi.

Nếu như vậy có nghĩa là mình làm chủ được cái thọ của mình đó. Tức là những cái chuyện mà đối với người đời là chuyện rất là khó chịu, đối với mình là okay. Đối với người đời là những chuyện mà họ thấy rất là thích, nhưng mà đối với mình thì cái chuyện này mình thấy nó không nên, hoặc là mình không còn tiếp tục thích nữa.

Như vậy có phải là mình đang tu cái thọ hay không?

Cho nên, nếu mình đề cập đến sáu căn thì mình nói là tu cái xúc cũng được. Hồi xưa đó, con mắt mình muốn nhìn gì thì nó nhìn. Cái tai mình muốn nghe gì thì nó nghe. Cái chân mình muốn đi đâu thì đi. Nhưng bây giờ được không? Bây giờ mình hạn chế tối đa. Vậy đó gọi là tu xúc, gì gọi là gì nữa.

Rồi ngày xưa đó, cái gì làm cho mình vui thì mình bất kể. Nhưng hôm nay không có. Mình phải chọn lựa lại. Không phải cái nào mình muốn hưởng cũng được. Không phải. Có những thứ mà mình chỉ vui cái gì được phép, cái gì hợp pháp mà thôi. Cái gì có lợi ích, cái gì không có tội, cái gì không có lỗi thì mới được. Chỉ còn cái gì mà nó có lỗi là không được thôi.

Chỉ ví dụ một chuyện nhỏ xíu thôi. Làm một vị sư, có nhiều nơi sư chúng tôi không được phép đặt chân vào. Không được phép. Ví dụ như hôm đó tôi đi Thái, tôi đi ngang một cái siêu thị. Có ba món mà tôi đang muốn tìm.

Thứ nhất là tôi rất muốn đi mua sách. Tôi phải khoe với bà con tôi là một con mọt sách. Tôi đi Miến Điện, tôi đi Thái Lan, ngay trái tương đồ Việt Nam. Hay là tôi đi qua Đức.

Bản thân tôi là một con mọt sách. Tôi đi Miến Điện, tôi đi Thái Lan, hay là tôi đi qua Đức, ở Mỹ, ở Thụy Sĩ, ở Pháp, ở Anh cũng vậy, tôi đi đâu cũng vậy. Cái chuyện đầu tiên là tôi hỏi tìm sách trước. Tôi thích sách lạ lùng. Bao giờ tôi đi, trên Internet thì cái gì cũng có, nhưng cái gì mà tôi thích hoặc quen, cứ hễ đi đâu là tôi mua sách trước cái đó. Tôi nói ra ngoài chỉ đi mua sách thôi.

Tôi còn có hai món mà tôi rất muốn đi tìm. Thứ nhất là nó có nhiều tiểu phẩm đẹp lắm. Rồi cái thứ hai là bên đó có một vài món mà nếu là ở Mỹ thì tôi dám, bây giờ ở Thái tôi cũng dám. Ở Thái, mình xài nó khó lắm. Có một vài món bằng lụa đó. Tôi không xài, tôi không có xài lụa. Nhưng mà mình đi, người ta cho tiền mình mà. Mình cũng muốn kiếm một, hai cái về để mình... Giống như mình ăn nhiều quá, mình phải ở đó làm trả hay sao chứ.

Nhưng mà bây giờ, ông nghĩ là tôi còn ở bên Tây châu Âu là tôi dám nhau chứ rồi. Nhưng mà đằng này tôi không dám. Tôi nghĩ được một lần, tôi nói rồi: mấy người này xài rồi. Tôi đang đứng ở kinh đô của lụa mà tôi không dám bước đâu.

Có thể nói như thế này: anh nói kiểu gì, anh vui với cái gì? Anh có thấy buồn với cái gì, anh có thấy vui với cái gì, thì tôi sẽ nói về anh như thế đó. Cái điều đó rất là quan trọng, quan trọng lắm. Tôi muốn biết.

Cho nên thế giới cảm thọ, hay là thế giới cảm giác đó, mình phải nói xài đến thế giới là đúng hơn. Hành tinh này, thế giới này, vũ trụ này, toàn vô lượng vũ trụ khác, mình có thể nói đó là cõi giới của cảm thọ, hoàn toàn không sai. Bởi vì rõ ràng mình thấy người thiện có niềm vui khác kẻ ác. Cái niềm vui của người thiện dĩ nhiên khác với kẻ ác.

Rồi cái niềm vui ở cõi dục nó không giống như ở cõi Phạm thiên. Phạm thiên nó không có tâm dục, chỉ còn niềm vui. Mà cái vui ở cõi Phạm thiên nó không liên hệ đến ái dục như là ở cõi dục giới. Điều đó có nghĩa rằng chỉ duyên với trần dục thôi. Nó là cả một vấn đề rất, rất lớn.

Một người có giáo dục, có học thức, có nhiều niềm vui, họ nói là bên ngoài. Nhưng mà người không có hàm dưỡng, không có tu dưỡng thì họ không có thứ gì, bất cứ một niềm vui nào hấp dẫn; họ kết thúc là được rồi.

Cho nên đối với một người cư sĩ, đối với một vị xuất gia cũng vậy, có nhiều niềm vui của người cư sĩ, một vị xuất gia không thể đặt kiếp, không thể để thích, để kiếm tiền.

Và đây là điều thứ hai đó. Điều thứ nhất là phải nhớ là thế giới của tưởng. Thứ hai là phải nhớ là thế giới của thọ.

Còn thế giới của thức là sao? Thế giới của thức tự nhiên là con mèo đực chạy dạy vào nhà. Con chim mà chỉ cần có điều kiện, nó bay vào trời. Con cá mà có điều kiện, nó nhảy xuống nước. Trời nóng, có điều kiện thì nó sẽ trốn trong hang. Con rắn, nó có điều kiện là nó sẽ trốn trong đất. Vậy không?

Cũng vậy, sáu căn của một người không có tu tập thì luôn luôn có khuynh hướng đi tìm sáu cảnh.

Giờ chúng ta lại ăn trong cùng một nhà đây mà sở thích của chúng ta cũng khác nhau. Vậy không? Họ tìm niềm vui qua cái mắt. Có người tìm niềm vui qua những gì họ nghe được. Có người tìm niềm vui qua những gì họ nghĩ.

Tôi biết có những người họ coi nặng cái chuyện ăn mặc cho nó đẹp. Còn có người thì có tiền bao nhiêu cũng dồn cho âm nhạc. Bao nhiêu dàn loa họ cũng mua hết. Họ đầu tư cho chuyện âm nhạc rất là nhiều tiền, một cái cặp thùng loa của họ.

Âm nhạc, bao nhiêu ca sĩ họ cũng mua hết. Họ đầu tư cho chuyện âm nhạc rất là nhiều tiền. Một cặp thùng loa của họ, nếu ở Việt Nam, bây giờ tôi biết có những cặp thùng loa phải tính bằng tiền tỷ. Nó trên một trăm ngàn đô la.

Rồi có những người, quần áo, đồng hồ, mắt kính, dây nịt, giày dép, túi xách, họ bỏ ra bao nhiêu tiền cũng được. Đó là những người nặng về cảnh sắc. Có những người nặng về cảnh thanh, có những người nặng về cảnh hương, cảnh vị, có những người đi khắp nơi.

Bao nhiêu nước hoa họ cũng mua. Họ mua những cái chai cả ngàn đô la một chai, họ vẫn mua. Có những loại nước hoa mà cái chai và cái nắp của nó làm bằng vàng 18K. Có những loại nước hoa rất đắt tiền hơn nữa. Có những chai nước hoa như chai Chanel Number 5 này, nhỏ xíu, chỉ tầm một ngón tay cái thôi, mà một xúc động nó có thể lên tới mấy ngàn đô la.

Tôi nói rất nhiều, tôi biết, tôi hiểu rất nhiều. Nói với người ngoài, cái nước hoa nó là cảnh của thế giới.

Tôi biết ở Mỹ có một cô Phật tử. Cô nói: “Đối với tôi, ở nhà nhà nhỏ không thành vấn đề. Tôi đi xe tốt, xe xấu, xe đắt, xe rẻ không thành vấn đề. Ai muốn tôi mặc gì cũng được. Nếu đồ có xấu thì tôi mặc cái gì cũng không thành vấn đề. Nhưng mà đã nói ở thành phố này có một nhà hàng nào đó ngon lắm, nó ra đời, nó ra mắt mọi người mà tôi không biết tới, thì đó mới chính là vấn đề.”

Thôi, mọi người nói rồi, mấy thầy đang sợ quá. Nhưng mà cổ đặc biệt là trong năm cảnh trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, thì cái cảnh vị đó rất là quan trọng. Cô đó ăn mặc không thành vấn đề, giày dép không thành vấn đề, nước hoa, mỹ phẩm, mỹ thuật không thành vấn đề. Mà chỉ cần một nhà hàng ngon, ra đời mà cô không biết, đó mới chính là vấn đề.

Có những người là xúc, nặng về cảnh xúc. Thì đồ dùng của họ, áo quần của họ phải êm, phải ấm, phải mát, phải mịn. Đó là cái cảnh xúc, là vấn đề của người ta.

Rồi cảnh pháp của người có những người rất là quan trọng. Họ thích tư duy, thích thiền định, thích suy nghĩ.

Thì thế giới này là thế giới của sáu thức. Có người muốn nhìn thế giới này qua cái cửa mắt. Có người muốn nhìn thế giới này qua cái cửa tai. Mùi thì có nhiều người nhìn qua cái cửa mũi. Rồi cửa lưỡi, cửa thân, cửa ý cũng là cửa.

Phước gì này là phước gì của tưởng, phước gì của thức, phước gì của thọ. Còn phước gì của hành là sao? Tôi đã nói rồi, tôi không có dạy năm uẩn, tôi chỉ dạy căn bản nhân duyên thôi, cho những người có học tập về thiền.

Ở trong năm mươi tâm sở hành, tôi đã thấy rất là thiện và ác. Trong tâm của một vị A-la-hán thì cái thọ vẫn y hệt. Cái thọ của mình cũng bị A-la-hán giống thật đấy mà. Cái tưởng cũng giống hệt với mình, cái thức cũng giống hệt với mình, nhưng mà cái hành thì nó sẽ khác mình.

Cái hành uẩn ở đây, nó là những yếu tố thiện ác trong tâm thức một người. Cái vị của món ăn, các bạn biết, nó có những thứ mình bỏ vô thì không tạo nên mùi vị của món ăn đó. Nhưng mà có những thứ mình bỏ vô thực sự tạo ra cái mùi vị rất kỳ.

Trong một viên thuốc Tây, hoạt chất để trị bệnh của mình không có nhiều. Nhưng mà cái bột để làm thành thuốc thì nó nhiều. Cũng vậy, trong một dĩa cơm hay một món đồ mặn để mình ăn, thì nó nhiều bằng cơm.

Ấy, để mà làm phân tích thì nó nhiều. Nhưng trong một dĩa cơm, hay là một món đồ mặn để mình ăn, thì nó nhiều bằng cơm.

Trong tâm thức của mình có gần đủ bốn danh uẩn, là thọ, tưởng, hành, thức. Trong đó, thọ, tưởng và thức giúp cho chúng ta. Nhưng mà thật ra, có hai yếu tố quyết định.

Phàm, thánh thì cái danh uẩn mang yếu tố quyết định, tạm giữ vai trò quyết định cho thiện, ác, phàm, thánh, chính là cái hành uẩn.

Ở công thức của một phàm phu thì còn có mười bốn tâm sở bất thiện. Phải nói cho kỹ nha, mười bốn tâm sở bất thiện tùy lúc mình có hiện hành. Trong một tâm thiện cũng vậy, các tâm sở tịnh hảo tùy lúc mình có hiện hành.

Vì trong tâm vương vị A-la-hán thì không phải như vậy. Trong tâm vương vị A-la-hán, trước tiên là không có các tâm sở bất thiện. Các tâm sở xuất hiện trong tâm của Ngài cũng không phải là những tâm sở thiện, mà lúc bấy giờ nó là những tâm sở mang tính cách duy tác thôi.

Tâm của vị A-la-hán cũng có tâm sở tương ưng, nhưng mà nó không có tạo nghiệp. Tâm của vị A-la-hán vẫn có tầm, vẫn có vô lượng tâm, vẫn có tịnh niệm, tàm quý, y chang như là cái tâm thiện nhất.

Nhưng mà những cái này nó giống như một hạt giống bị luộc rồi đó. Nó không có để lại cái dư hậu, nó không có để lại cái kết quả. Cái chỗ này là một trường hợp rất khó. Bạn coi như rất là ngộ giác luôn, nhưng mà tôi không thể phân nó.

Tôi muốn nói rằng cái hành uẩn, nó là một thành tố tâm lý của chúng sinh. Và chính cái này quyết định tâm lý là thiện hay là ác.

Thế giới này là thế giới của sắc uẩn, thế giới này là thế giới của thọ uẩn, thế giới này là thế giới của tưởng uẩn, thế giới này là thế giới của thức uẩn, thế giới này là thế giới của hành uẩn. Điều đó đúng hết.

Nhưng mà đặc biệt, nói rằng thế giới này là thế giới của thọ uẩn thì mình cũng phải nhớ rằng, nói về uẩn thì nó luôn luôn có sự có mặt của hành uẩn. Nói rằng thế giới này là thế giới của tưởng uẩn, chúng ta cũng đừng quên rằng nó luôn luôn có sự can thiệp của hành uẩn. Nói rằng thế giới này là thế giới của thức uẩn thì chúng ta cũng phải luôn luôn nhớ rằng nó có sự can thiệp của hành uẩn.

Cho nên mình tu tập là mình tu với uẩn nào? Uẩn nào cũng tu được: thọ cũng tu được, tưởng cũng tu được, thức cũng tu được.

Tôi biết ở đây có người sẽ hỏi tôi: “Tôi tu với sắc thì tôi làm sao?”

Ví dụ nghe, tôi không phải là nhà sư, tôi không phải là người Phật tử. Tôi muốn nhìn gì tôi nhìn. Nhưng mà tôi là một nhà sư, tôi là một Phật tử, tôi là một người tin Phật, tôi là một người hành đạo. Cho nên tôi hạn chế việc nhìn.

Tôi sống trong thiền viện, hay là tôi sống trong chùa, hay là tôi sống trong nhà với vợ, chồng, con cái của tôi, tôi hạn chế tối đa chuyện lui tới để nghe, để nhìn những thứ mà tôi cho rằng nó không thật sự cần thiết cho đời sống chánh niệm của tôi.

Như vậy, rõ ràng là tôi đang tu với sáu thức đó chứ. Và cũng ngay vào điểm đó, ngay trong lúc đó, cũng giống như là tôi đang tu với sáu thọ đó chứ.

Trước đây, cái gì làm cho tôi vui là tôi chấp nhận hết. Nhưng bây giờ thì không. Có những điều mà tôi không còn mong muốn tiếp tục có nữa, bởi vì đó là con đường dẫn đến đoạn làng.

Rồi những ngày buồn cũng vậy. Thời xưa, tôi có nhiều cái chỗ mà tôi bận tâm, để làm gì được mình. Nhưng bây giờ tôi được đạo rồi, tôi là một hành giả rồi.

Thời xưa, tôi có nhiều cái phải bận tâm. Để nào được mình. Nhưng bây giờ tôi được đạo rồi, tôi là một hành giả rồi. Tôi không có bận tâm những chuyện này để phiền nữa. Chắc là tôi đang tu thọ đó.

Còn tôi tưởng là sao? Trước đây, tôi là người rất dễ nóng tính, rất dễ giận, dễ giận lắm. Tôi hay suy diễn, tôi hay liên tưởng về này, về kia. Trước đây, tôi là một người họa sĩ, trước đây tôi là một nhạc sĩ, trước đây tôi là một người rất thích tranh, rất thích nhạc. Và tất cả những cái đó rõ ràng nó có được từ sự liên tưởng và suy diễn.

Bây giờ tôi là một người Phật tử, tôi là một nhà sư rồi, thì những cái thích ở đó, nếu có hại, không có lợi thì tôi bỏ bớt. Đó chính là vì đang tu về tưởng. Tức là những cái hình ảnh, những cái gì không thật sự trong đời sống. Thì đó chính là mình đang tu tưởng, đang tu thọ, đang tu thức đối với mọi người.

Hẳn biết tôi nói, mọi người cũng có hiểu rồi. Tụi bây đã giải thích, ta nói nãy rồi, cuối cùng tôi nói gọn rồi, như vậy tôi gạn chung lại. Nhất là mọi người có hiểu rồi.

Ở bên thị xã, tôi có biết một người, tôi thương họ lắm. Mà chỉ vì cái chữ “dạ” này đó mà bây giờ họ không còn nhìn mặt tôi nữa.

Tôi hỏi: “Vậy chứ chiều nay cô rảnh không?”
“Dạ.”
“Có người cho tôi mấy trái xoài, cô có ăn không?”
“Dạ.”
“Xoài có chua không?”
“Dạ.”

Tôi hỏi cô chứ, cô có biết chữ “dạ” đó có nghĩa gì không? Cô bao nhiêu tuổi rồi mà cô thông minh quá vậy? Cái “dạ” đó không nghĩa gì hết. Tôi hỏi cô có ăn hay không thì cô nói “dạ ăn” hoặc là “dạ không ăn”. Vậy cô “dạ” thì bà mẹ cô cũng không hiểu nói cái gì nữa hết nha.

Cô, “dạ” chỉ có nghĩa là “dạ”. Cái “dạ” đó nó không có nghĩa lý gì hết. Mình không hiểu, mình nói mình hiểu. Còn mình hiểu, mình nói mình hiểu. Mà mình cứ “dạ” như thế là chết trong đời rồi nha.

Cho nên, với bài trình này, Đức Phật giải rằng cái con đường đi đến giải thoát chính là cái con đường, chính là cái hành trình giải quyết dứt điểm năm uẩn là vậy.

Và tôi đã giải thích rồi: Sắc uẩn là gì, Tưởng uẩn là gì, Thọ uẩn là gì, Thức uẩn là gì, và Hành uẩn là gì. Và tôi đã giải thích thế giới này vì sao được gọi là thế giới của Thọ uẩn, vì sao được gọi là thế giới của Tưởng uẩn, vì sao được gọi là thế giới của Hành uẩn, và vì sao được gọi là thế giới của Thức uẩn. Đã nói rồi. Chính là chúng.

↑