Kinh Tương Ưng Bộ (Buổi 1/211): Bài 1 - Bộc Lưu | Sư Toại Khanh Thuyết Giảng
Nội dung bài giảng
Kính thưa tất cả các vị, chiều nay tôi hy vọng có đủ thời gian để nói chuyện với các vị một chút. Sau đó, toàn bộ phần thời gian còn lại, chúng ta sẽ dành cho bài kinh đầu tiên, đó là kinh Bộc Lưu.
Xin thưa quý vị đại chúng, từ lâu và rất lâu rồi, tôi chưa bao giờ được nghe một vị pháp sư nào, Nam tông hay Bắc phái, giảng về Trung tạng Nikāya mà y cứ vào chú giải từ Atthakathā cả.
Để khỏi mất thời gian, tôi xin đi thẳng vào vấn đề kinh. Các vị đã xem bài kinh này rồi phải không? Rồi, hay quá! Các bạn có thấy vấn đề nằm ở đâu không?
Một ngày kia, có một vị trời, một vị thiên nhân, xuống đảnh lễ Đức Phật và hỏi Ngài một câu rất khó hiểu: Làm sao Ngài vượt qua bộc lưu?
Nếu dịch theo ngôn ngữ của mình bây giờ thì có nghĩa là: Làm sao Ngài chấm dứt phiền não? Ngài là một vị Phật, con biết. Nhưng bằng cách nào Ngài lại chấm dứt được phiền não? Bằng cách nào Ngài lại chấm dứt được sanh tử?
Bởi vì chữ bộc lưu ở đây, mình có thể hiểu hai nghĩa. Bộc lưu là một dòng nước lớn, một dòng nước mạnh, như cường lưu, bộc lưu, bạo lưu. Phiền não của mình cũng có chỗ được gọi là bốn dòng bộc lưu. Dòng sanh tử cũng là một dòng chảy, luôn luôn sanh diệt, vô thường như một dòng chảy.
Cho nên trong Duy thức có một câu gọi là hành chuyển như một lưu, để chỉ cho tình trạng sanh diệt không ngừng của danh sắc, của năm uẩn. Hành uẩn như bộc lưu cũng vậy.
Ở đây, ba chữ bộc lưu chỉ cho dòng sanh tử luân hồi, chỉ cho phiền não và cũng chỉ cho cái dòng chảy sinh diệt liên tục của danh sắc, của năm uẩn. Tùy theo cách sử dụng, trong kinh học, điều đó được gọi là bộc lưu.
Vị trời hỏi Đức Phật: “Thế Tôn, bằng cách nào Ngài chấm dứt được phiền não? Bằng cách nào Ngài chấm dứt được việc sanh tử?”
Đức Phật biết rõ rằng vị trời này, bên trong là một vị thiên nhân. Đôi khi tôi không thích dùng chữ “vị thiên”, bởi vì trong tiếng Việt mình cứ nói “chư thiên” thôi, nên nghe không được đúng. Cho nên tôi thêm một chữ nữa là “thiên nhân”.
Sẵn ở đây, tôi xin mở rộng ra nói một chút. Tôi là người Việt Nam và tôi thấy tiếng Việt Nam có một cái lỗi này, mình cứ nói hoài mà tưởng mình hay. Đó là chữ “chư thiên”, “chư Phật”. “Chư” có nghĩa là từ hai vị trở lên, đúng không?
“Chư Tăng” cũng được hiểu là từ hai vị trở lên, có chỗ là bốn vị, có chỗ còn được hiểu là hai vị trở lên. Như vậy thì “chư thiên” cũng vậy. “Chư” là số nhiều, “chư thiên” phải là từ hai vị trở lên.
Nhưng người Việt Nam mình lúc nào cũng nói một vị chư thiên, hai vị cũng chư thiên. Đêm hôm qua, tôi thấy có người nói: “Một vị chư thiên đã hiện ra đảnh lễ tất cả.” Đã là một vị rồi thì sao còn “chư” được?
Đó là một cái lỗi mà mình phải chú ý. Cũng giống như người Việt Nam mình bị cái này. Ở tiếng Thái, chữ “chư” và chữ “chủ” vốn giống nhau.
Đủ ý nha. Cũng giống như người Việt Nam mình bị cái này. Ở Đông Tiên Thái, chữ “chúa” và chữ “chủ” vốn giống nhau. Chúa và chủ biết nhau, nhưng đặc biệt bên Cơ Đốc giáo, họ hơi ăn gian một chỗ đó là họ gọi Chúa Jesus là “Chúa”. Thay vì họ gọi là “Chủ”, họ biết chữ “chủ” trong tiếng Hán, nhưng trong tiếng Việt họ đọc là “chúa”.
Cho nên chữ Sunday, họ đọc là “ngày Chúa nhật”, có nghĩa là cái ngày người ta bỏ hết mọi sự để về với Chúa. Nhưng nhiều người Việt Nam không biết chuyện này, họ cũng vẫn gọi là “Chúa”. Trong khi đó, tiếng Tàu hiện đại gọi là “tuần kỳ nhất”, “tuần kỳ nhị”. Chứ người ta không kêu là “ngày Chúa nhật”, không kêu là “Chúa nhật thứ hai” như mình đâu.
Cho nên mình quen gọi sao thì mình không biết. Thay vì mình gọi là một vị trời hay là một vị thiên nhân, mình gọi là một vị chư thiên, như vậy là sai. Cũng vậy, mình nên gọi là “một ngày Chủ nhật” hơn là “một ngày Chúa nhật”. Đó là cách gọi của người Cơ Đốc.
Cái thứ ba, “năm 600 trước Tây lịch” hay hơn là “năm 612 trước Công Nguyên”. Vì sao? Vì Công Nguyên là mốc trung, có nghĩa là khi nào mình nhìn nhận Ba Ngôi: Chúa, Thánh Thần; mình nhìn nhận chuyện Chúa Trời tạo ra muôn loài trong vòng sáu ngày; mình tin rằng có Adam và Eva; mình tin có những chuyện đó; mình tin mọi thứ do Đấng Tạo hóa, do Chúa Trời tạo ra, thì mình có thể gọi là Công Nguyên.
Chứ lịch sử nhân loại được bắt đầu từ trước khi Cơ Đốc giáo ra đời. Nếu như vậy, tại sao mình lại gọi lịch 2014 là Công Nguyên được? Cái chữ Công Nguyên đó là của người Cơ Đốc họ nghĩ ra. Cho nên, theo tôi, tôi vẫn dùng chữ Tây lịch hơn. Tức là nói Đức Phật Thích Ca Mâu Ni truyền đạo vào năm 623 trước Tây lịch.
Tôi không bao giờ dùng chữ “trước Công Nguyên” hay là “trước Thiên Chúa Giáng Sinh”. Bởi vì Việt Nam nói thì để là BC, tức là Before Christ. Nhưng mình cũng có cách dùng như vầy. Mình là người Việt Nam, mình là đạo Phật lớn. Mình không có dùng “trước Giáng sinh” hay là “trước Công Nguyên”. Mình dùng là “trước Tây lịch”. Tại vì sao? Vì mình gọi tên là lịch Tây mà.
Nước Việt mình có lịch riêng. Hồi giờ họ có lệ riêng thì mình cũng vậy. Mình là người Phật tử thì mình gọi là “trước Tây lịch”, chứ mình không nên nói “trước Công Nguyên”, “trước Chúa”. Cũng giống như mình nói là “ngày Chủ nhật”, chứ mình không gọi là “ngày Chúa nhật”; và mình gọi là một vị trời hoặc là một vị thiên nhân.
Điều đó là một vấn đề, bởi vì chương trình này rất là kỳ. Cũng như cách đây không lâu, tôi xem trong Aṭṭhakathā chú giải của Trường Bộ Kinh, tôi thấy có một câu rất là hay.
Hồi xưa, đã dạy thành tiếng ở Việt Nam, dạy tiếng là khó. “Mô Phật.” Còn năm câu mình niệm là cái gì? “Anh ơi, ai niệm ta-li?” Niệm cái chữ “Mô Phật”, còn niệm đồng chữ ta-li là chữ gì vậy? Làm ơn viết cho tôi chữ ta-li được không?
Người không biết chữ Phạm mà niệm là “Mô Phật”. Còn mình biết chữ ta-li, mình niệm sao? Ở trong chữ Pháp Linh đó, thuận theo giáo đẳng hay dạy mình niệm làm sao? Yes! Đúng.
Nhưng mà trong chữ dạy đó, tôi không thấy năm bộ ca giáo. Mà là tôi thấy cái chữ này. Tôi thấy rất là hay, mà tôi tính có cái dịch nào đó mà tôi…
Tôi không thấy năm bộ Nikāya, mà là tôi thấy cái chữ này. Tôi thấy rất là hay. Mà tôi tính có cái dịch nào đó mà tôi… “Nam mô…”, năm 142 giáo là “con xin đảnh lễ Đức Phật”, mà năm 145 là “con xin đảnh lễ chư Phật”. Các bạn sẽ hỏi tôi chú giải kinh nào, tôi xin nói rõ: đó là sẽ giải Kinh Tự Hoan Hỷ trong Trường Bộ Kinh.
Cho nên bây giờ tôi nói nhanh nha. Bây giờ, tuy nói nhanh ở đây, có một vài cư sĩ họ đến thăm tôi. Bây giờ họ sắp sửa đi, bây giờ tôi giảng nhanh cho họ nghe trước khi họ đi. Ok, bỏ họ vô tù hay họ có cái gì, họ tha hay họ chết.
Thì trong đó nói thế này: thay vì những năm của thời giá, mà trong đó dạy là những năm mô cứ tha năng, tôi thấy hay quá. Vì năm của thời giá được có một vị, năm mô cứ tha năng được nhiều Phật, được chư Phật.
Bây giờ, Bàhiya đang hỏi Đức Phật thế này: “Ngài có biết bằng cách nào mà người ta vượt khỏi phiền não, vượt khỏi sinh tử?” Nói gọn lại là bằng cách nào người ta vượt khỏi bộc lưu?
Thì các bạn biết ý ông này. Ông muốn là một người từng gặp Đức Phật Ca-diếp, tức là Đức Phật trước Phật mình đó. Và ông có một lòng kiêu ngạo rất là lớn, ông rất là trí tuệ. Và khi ông đến hỏi Ngài thì cách hỏi của ông là cách hỏi của người trí. Ngài cũng trả lời theo cái cách mà vừa ý ông.
Ông hỏi như vậy thì Ngài trả lời một cách cũng đặc biệt. Ngài nói là: “Ngài vượt khỏi bộc lưu, tức là vượt khỏi sinh tử, vượt khỏi phiền não, thì Đức Phật dạy rằng: Ta vượt khỏi phiền não, ta vượt khỏi sinh tử, vượt khỏi bộc lưu đó bằng một cách rất là riêng. Đó là ta không có bước tới, ta cũng không có đứng lại.”
Bởi vì thông thường mình nói tu hành là việc tu hành là mình có mặt trên một đường, một con đường, đúng không? Hành đạo là gì? Hành đạo là đi, đúng không? Rồi đi theo một cái phương pháp. Mà mình sống đời là gì? Sống đời là mình có mặt trên một hành trình. Nói chung là sống đời hay hành đạo đều có nghĩa là đang có mặt trên một hành trình, dù là đường bộ hay đường thủy.
Bộ khôn bằng ngựa mà thủy khôn bằng thuyền. Ai mà có đọc “Chinh Quán” cũng phải biết đâu đó. Bộ khôn bằng ngựa mà thủy khôn bằng thuyền, tức là đi trên bộ thì phải đi bằng ngựa, mà đi dưới nước thì phải đi bằng thuyền.
Mà đằng này Đức Phật lại nói rằng: “Ta có mặt trên con đường đó. Ta có mặt theo cái cách của ta: ta không có bước tới, mà ta cũng không có đứng lại.”
Các bạn có biết không, cái trí tuệ của vị hiền nhân này sâu như vậy. Vị ấy lập tức chứng quả Tu-đà-hoàn, lập tức.
Còn chúng ta thì sao? Nghĩa là ở nhà qua đêm, “trú” tức có nghĩa là đầy đủ, mà “trú” cũng có nghĩa là ở nhà. Cho nên, ví dụ như chữ “túc” này có nghĩa là đầy đủ, nhưng chữ “túc” nó cũng có nghĩa là ở nhà. Đúng như là “túc túc”, mà chữ “túc” trong trường hợp “túc duyên” thì chữ “túc” này có nghĩa là trước.
Ở đây, Đức Phật dạy rằng: Ta có cái cách vượt khỏi bộc lưu mà không phải bước tới, không phải đứng lại. Vì sao? Bước tới thì bị trôi dạt, mà đứng lại thì bị chìm xuống.
Sau khi nói như vậy xong, Bàhiya, sau khi nghe được Phật dạy như vậy xong, đã lập tức chứng quả tối thượng, bèn lệch của tôi và biến mất tại chỗ.
Trong bài kinh chiều nay tôi đã nói rồi. Chúng ta chỉ có mấy phút. Bây giờ tôi không biết thời lượng của tôi đã kéo dài được bao lâu, cho nên tôi rất là ngắn, thưa các bạn.
Cái đoạn kinh của tôi đã kéo dài được bao lâu, cho nên tôi rất là ngắn thưa. Ở đây, các bạn đang viết ra giùm tôi.
Đến đấy thì bị trôi dạt, mà đứng yên thì bị chìm xuống. Ở đây, chú giải giải thích một cách rất rõ ràng là phiền não. Sự có mặt của phiền não là trôi dạt, mà sự có mặt của pháp hành là chìm xuống.
Các bạn viết xuống giùm tôi đi. Tôi có biết đâu, tại tôi lo, tôi bận việc, tôi có giảng này, tôi không có biết đâu. Tôi không có biết tôi có thể viết đúng không.
Sự có mặt của tham ái và tà kiến là trôi dạt. Sự có mặt của các phiền não còn lại là chìm xuống.
Từ từ, cứ mỗi bài kinh như vầy, mình học mà có chú thích chữ khó như vầy thì tôi tin rằng, thời gian ngắn sau, khi các vị mở ra một cuốn sách, các vị không cần thầy bà gì hết, cứ việc nhìn vô, liếc qua là phải khỏe quá rồi.
Sự có mặt của tham ái và tà kiến là trôi dạt, chứ không phải là dưới, là nào mà nói nha. Sự có mặt của tham ái và tà kiến là trôi dạt. Sự có mặt của các phiền não còn lại là chìm xuống.
Các bạn biết chậm quá. Các bạn biết chậm quá. Đó. Rồi, sự có mặt của các phiền não còn lại là chìm xuống. Đấy.
Không chơi. Sự có mặt của thường kiến là trôi dạt, mà sự có mặt của đoạn kiến là chìm xuống.
Các bạn có biết không? Các bạn học kỹ này nó rất là khôn nha. Nhưng mà lát nữa, khi mình đóng rung rồi về mở lại, tự nhiên nó sáng bừng lên.
Sự có mặt của tham ái và tà kiến là trôi dạt, còn các phiền não còn lại thì chìm xuống.
Sự có mặt của tham ái và tà kiến là trôi dạt. Sự có mặt của các phiền não còn lại là chìm xuống. Sự có mặt của thường kiến là trôi dạt. Sự có mặt của đoạn kiến là chìm xuống.
Thường kiến là thường kiến, còn đoạn kiến là đoạn kiến. Sự có mặt của thường kiến là trôi dạt, sự có mặt của đoạn kiến là chìm xuống.
Thái độ sống tiêu cực là trôi dạt, mà quá khích là chìm xuống. Thái độ sống tiêu cực là đối nghịch, mà quá khích là chìm xuống.
Thái độ sống này không có vấn đề hết. Có lúc mình buồn vui, mình không biết đi đâu, về đâu, làm gì, gặp ai. Rồi cũng có trường hợp là mình quá sung. Vậy là bồng sung đó, mình lấn át, lấn át.
Trong trường hợp đối tượng tốt, cái gì nó vừa phải thì ai nấu ăn biết, ai lái xe biết, không có được dưng. Mình lái xe đó, cái gì nó trơn tru thì nó mới an toàn, còn chỗ lái ở mỗi chỗ cần nhanh là không được, mà nhanh ở chỗ cần chậm là không được. Nấu ăn cũng vậy.
Lợi dưỡng là trôi dạt, mà khổ hạnh là chìm xuống. Lợi dưỡng là trôi dạt, mà khổ hạnh là chìm xuống.
Tôi sẽ đọc sớ giải, đọc cánh sớ rồi đó. Tôi sẽ nói sớ ra. Nếu mình thấy ổn thì tụi mình nói chuyện với nhau, còn không thì thôi.
Các bạn cũng có cái bỏ túi vừa.
Các bạn này chìm xuống đây. Ác pháp là trôi dạt, mà thiện pháp hiệp thế là chìm xuống. Ác pháp là trôi dạt, mà thiện pháp hiệp thế là chìm xuống. Nghe?
Ác pháp là trói buộc, mà thiện pháp hiệp thế là chìm xuống. Nghe? Thiện pháp hiệp thế là chìm xuống. Bây giờ, thiện pháp hiệp thế là thiện pháp gì? Cái ác pháp đây là ác pháp, cuốn sư mắc...
Từng giáo lý duyên khởi dạy rằng, do không biết mà hiện hữu là khổ. Do không biết, mọi hiện hữu là khổ. Dầu là làm con ruồi, con dòi, hay là làm một vị Đế Thích trong thiên giới, thì hễ còn hiện hữu là còn khổ. Dầu trong hình thức nào đi nữa, hễ hiện hữu là khổ.
Vì không biết mọi hiện hữu là khổ, không biết rằng ái là nhân tạo ra khổ. Ái là nhân tạo ra khổ. Có nghĩa là mình thích ở trong cảnh sắc, thích trong cái mình thấy, thích trong cái mình nghe. Không biết rằng có một cứu cánh vắng mặt cả hai cái này, không biết có bốn thứ vô minh.
Thứ nhất là không biết rằng mọi hiện hữu là khổ. Thứ hai là không biết rằng ái là nhân tạo ra khổ. Thứ ba là không biết rằng có một cứu cánh vắng mặt cả khổ và tập. Mọi hiện hữu là khổ, không biết rằng mọi hiện hữu là khổ. Đó là vô minh trong Tứ Khổ đế.
Không biết mọi hiện hữu là khổ, đó là vô minh trong Khổ đế. Không biết ái là nhân tạo ra mọi hiện hữu, thì đó là vô minh trong Tập đế. Cái thứ ba, không biết rằng có một cứu cánh chấm dứt cả khổ và tập, đó chính là vô minh trong Diệt đế. Và cái thứ tư, không biết rằng Bát Chánh Đạo là con đường dẫn đến cứu cánh Diệt đế, thì đó là vô minh trong Đạo đế.
Các vị còn nghe không? Các vị không biết thì để tôi đọc lại nha.
Có tất cả là bốn cái vô minh.
Thứ nhất là không biết mọi hiện hữu là khổ, đó là vô minh trong Khổ đế.
Thứ hai, không biết rằng ái là nhân sinh ra khổ, đó là vô minh trong Tập đế.
Thứ ba, không biết rằng có một cứu cánh chấm dứt cả khổ và tập, thì cái vô minh đó là vô minh trong Diệt đế.
Và không biết rằng Bát Chánh Đạo là con đường dẫn đến Diệt đế, đó là vô minh trong Đạo đế.
Người mà có bốn cái vô minh này, tự nhiên họ phải chọn một trong ba con đường sau đây.
Cái người mà có đủ bốn cái vô minh này, các bạn đừng có tưởng là phải đối với cái này quý hiếm. Tất cả chúng ta đang ngồi ở đây, kể cả đang nghe, mọi người đang nói, đều có đủ bốn cái vô minh này hết.
Nè, tôi đặt lại. Cái thứ nhất là không biết rằng mọi hiện hữu là khổ, đó là vô minh trong Khổ đế.
Thứ hai, không biết rằng ái là nhân dẫn đến khổ, thì đó là vô minh trong Tập đế.
Không biết rằng có một cứu cánh chấm dứt cả khổ và tập, thì đó chính là vô minh trong Diệt đế.
Và cái thứ tư là không biết rằng Bát Chánh Đạo là con đường dẫn đến Diệt đế, thì cái vô minh này được gọi là vô minh trong Đạo đế.
Người có đủ bốn cái vô minh này dứt khoát là phải chọn một trong ba con đường sau đây để đi.
Một là đi theo con đường phi phúc hành, có nghĩa là khổ quá thì sống trong bất thiện, mượn tham, mượn sân, mượn si để làm các điều bất thiện.
Phi phúc hành có nghĩa là khổ quá thì sống trong bất thiện, mượn tham, mượn sân, mượn si để làm các điều bất thiện. Ví dụ như họ đói quá thì đi câu cá, đói quá thì đi ăn cướp, đói quá thì đi lừa đảo. Đói quá rồi thì họ làm đủ thứ để đánh đổi, để kiếm sống. Ví dụ như vậy thôi thì được gọi là trốn cái khổ bằng cách đi theo con đường phi phúc hành.
Cái con đường thứ hai dành cho mấy người vô minh trùm tứ đế, đó là khổ quá nhưng có chút trí tuệ, cho nên họ không làm chuyện bất thiện mà quay qua làm thiện. Làm thiện có nghĩa là thấp thì bố thí, trì giới, hồi hướng, phục vụ; còn cao hơn chút nữa thì ráng mà đắc được sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Con đường họ đi theo là con đường phúc hành, có nghĩa là con đường thiện, thiện dục và thiện sắc giới.
Rồi có một số ít người cũng có vô minh trùm tứ đế này, nhưng vì họ là ít người, phải có trình độ. Trình độ là cái gì? Trình độ này gồm có bốn điều kiện sau đây:
Một là thân cận hiền trí. Hai là phước siêu sanh đã sẵn dành, họ có sẵn phước cũ. Điều thứ ba là họ có dịp để học hỏi, lắng nghe. Thứ tư là họ hành trì theo điều họ học hỏi, lắng nghe.
Đối với điều này, nó cho phép họ đi vào lưu dụng. Lưu dụng cấp thấp thì chỉ chứng được thiền sắc; lưu dụng cấp cao thì đạt được thiền vô sắc. Cái người mà sống bất thiện để trốn khổ, tìm vui thì đó là người sống theo con đường phi phúc hành. Còn người có trình độ hơn một chút thì họ trốn khỏi phiền khổ bằng cách tạo các thiện dục giới và sắc giới, thì được gọi là đi theo con đường phúc hành.
Con đường thứ ba khó đi nhất, ít người đi nhất, đó là chứng đắc các tầng thiền vô sắc giới. Đây được gọi là hành trình bất động hành. Chỉ có người Việt Phật khác, họ mới đi con đường này.
Ngoài ra, bốn uẩn, ngoài ra ba cõi, hữu sắc, thuộc về hữu sắc; thiền trong sắc, thuộc về thiền sắc; thiền trong vô sắc, thuộc về thiền vô sắc. Duyên cái người biết đạo, tu tập, tu niệm sự, thì họ thấy rằng đã là danh sắc thì ở đâu cũng vậy.
Các bạn có thể tìm hiểu rõ ràng lý do tại sao các bậc sĩ đã tìm hiểu. Còn đối với một người không biết đạo thì một là phải đi đường tệ nhất, chìm sâu vào con đường phi phúc hành. Còn hai nữa thì khá hơn một chút, tạo được cái phước, đi xong về các cõi nhân viên, ngạ quỷ. Còn về cõi cao nhất là cũng có vô minh trùm bốn đế, nhưng có trình độ nhất, khả năng ly dục cao nhất, thì ở sắc giới, rồi khỏi dục lên vô sắc. Mà dầu dục, sắc hay vô sắc thì vẫn là tam giới, tam giới như hỏa trạch, tam giới như ngôi nhà đang cháy.
Có hiểu được cái đó, có hiểu được chỗ ba hành này do vô minh trùm tứ đế, cho nên nó dẫn đến ba cái hành: phúc hành, phi phúc hành và bất động hành. Có hiểu được cái này thì chúng ta mới hiểu lại được bài kinh vừa rồi mà chúng tôi vừa nói hồi nãy.
Tức là vị này hỏi: “Thưa tôn giả, bằng cách nào tôi vượt qua được bộc lưu sinh tử, vượt qua được bộc lưu phiền não?” Đối phận người hiểu được tâm ý của vị này đó là người hiền trí.
Vượt qua được bộc lưu sinh tử, vượt qua được bộc lưu, về não phận người, hiểu được tâm ý của vị này, đó là người hiền trí. Mình phải trả lời theo cái cách mà vị này muốn. Tức là người trả lời theo một cách rất đặc biệt.
Người ta vượt khỏi bộc lưu, người ta vượt khỏi bộc lưu sinh tử bằng con đường rất là riêng. Đó là ta không bước tới, ta đi trên đường mà ta không bước tới, mà tuy không bước tới, ta cũng không đứng lại. Vì sao vậy? Vì bước tới là bị trói buộc, mà đứng lại là chìm xuống.
Thì ở đây, A-la-hán đã giải thích cho mình nghe: bước tới là bị trói buộc. Trói buộc là sao? Mà đứng lại là bị chìm xuống. Chìm xuống là sao?
Có nghĩa rằng, vì cái hành trình mình tu chứng với Đức Phật, Ngài không bị chìm, Ngài không có bị chìm ở trong lợi dưỡng và khổ hạnh. Các bạn nhớ rồi, các bạn nhớ ngay trong bài pháp đầu tiên, Đức Phật đã xác định rằng các bạn sẽ có hai con đường cực đoan mà mọi người cần phải tránh: một là lợi dưỡng, hai là khổ hạnh.
Ở đây, Đức Phật giảng con đường Trung đạo, gồm có Bát Chánh Đạo, tám ngành: chánh kiến, v.v.
Ngay cái bài pháp đầu tiên, cái thông điệp đầu tiên mà Đức Phật nói đến nhân thiên, trong kinh nói là có đến mười tám triệu vị Phạm thiên đã chứng quả trong cái đại kinh này, trong thời gian Ngài thuyết dạy, không kể các vị trời thấp hơn. Các vị tôn giả tổ chức của nhân thiên, chỉ riêng Phạm thiên thôi mà đã có mười tám triệu vị Phạm thiên chứng quả trong cái bài kinh này, trong thời gian Ngài thuyết giảng.
Thì ở đó, Ngài phát định rõ. Ngay từ buổi giảng đầu tiên, Ngài đã xác định rõ là Ngài không đi theo con đường lợi dưỡng, rồi chưa hết.
Trong bài kệ Bọt Nước, trong kinh, Ngài cũng xác định là Ngài là người lìa bỏ cả thường kiến và đoạn kiến.
Tôi nhớ cách đây không lâu, trong một bài viết, tôi có nhắc đến điểm này. Hiểu được mọi sự do duyên mà có thì mình bỏ được đoạn kiến, đồng thời cho rằng chết rồi là hết. Nhưng mà nếu mình hiểu mọi sự do duyên mà có, có nghĩa là chết rồi chưa chắc hết đâu. Hễ còn duyên sinh tử thì mình còn đi nữa.
Cho nên, hiểu được vạn pháp do duyên mà có thì mình bỏ được đoạn kiến. Mình hiểu được vạn pháp do duyên mà diệt, mà mất, thì mình bỏ được thường kiến. Bởi vì thường kiến là cho rằng có một cái gì đó còn hoài, còn thiên niên, vạn đại, trường sinh bất lão. Nhưng mà thật ra, các pháp khi hội đủ duyên thì nó sẽ lập tức bị mất thôi.
Cho nên ở đây, Đức Thế Tôn không theo con đường lợi dưỡng, không theo con đường khổ hạnh đã đành, mà Ngài cũng không theo con đường thường kiến hay đoạn kiến. Đoạn kiến là vậy đó.
Mọi người nghĩ, hiểu được vạn pháp do duyên sinh thì chấm dứt thường kiến; hiểu được vạn pháp do duyên diệt thì bỏ được đoạn kiến. Hiểu được vạn pháp do duyên sinh thì bỏ được đoạn kiến; hiểu được vạn pháp do duyên diệt thì bỏ được thường kiến.
Mà ai bỏ được hai cái này thì người ta có được chánh kiến. Mà chánh kiến là gì? Chánh kiến là cái bước đầu tiên của Bát Chánh Đạo.
Đầu tiên ở đây, xin nói rõ, nó không phải là quan hệ hàng dọc nha, không phải là có cái này mà có cái kia, mà đầu tiên là cái được kể đầu tiên trong Bát Chánh Đạo. Bởi vì trong một chỗ nào đó, trong giáo giải, bạn sẽ thấy rằng chánh kiến được giải thích gần như thế. Mà hai cái đó lại có được từ đâu?
Ở chỗ nào đó, trong chú giải, bạn sẽ thấy rằng chánh kiến được giải thích gần như vậy. Mà hai cái đó lại có được từ đâu? Là có được từ sự bác bỏ thường kiến và đoạn kiến.
Bài giảng này hơi duyên sâu, sợ mọi người nghe buồn ngủ. Nhưng mà tôi đã nói rồi, giá nào mọi người ngủ, còn một người tôi vẫn nói, bởi vì không thể nói khác được.
Thì tôi chứng kiến vẫn có hai trường hợp. Một là trí hiểu danh sắc vẫn nằm trong tam tướng. Thứ hai, trí hiểu biết nhân quả là bản pháp, không phải nằm ngoài cái vực nhân quả. Trí hiểu tâm tướng và trí hiểu lý nhân quả gọi chung là tuệ.
Như vậy thì hồi nãy tôi có nói rồi, thấy được vạn pháp do duyên sinh thì đó, mình nhờ vậy mà bỏ được đoạn kiến. Hiểu được vạn pháp do duyên sinh thì ta bỏ được thường kiến. Mà bỏ được hai cái này thì ta có được chánh kiến.
Mà chánh kiến là cái gì? Tụi em đây, người ta đã giải thích rồi. Chánh kiến là trí hiểu được danh sắc. Danh sắc, ngũ uẩn, mười hai xứ, mười tám giới không nằm ngoài cái vòng chi phối của nhân quả.
Thứ hai, chính hiểu được rằng đã gọi là có mặt trên đời này thì danh nào, sắc nào, uẩn nào, xứ nào có mặt trên đời này, nó cũng phải đều nằm ở trong luật nhân quả hết. Chính hiểu được hai thứ này thì gọi chúng là chánh kiến.
Mà chánh kiến tôi đắc là giống như kỳ nhân là ông gì đó mà kỳ nhân là cha cái kệ này đó. Bỏ, tôi đắc lại nha.
Hiểu được rằng pháp do nhân sinh thì ta bỏ được đoạn kiến. Hiểu được vạn pháp do duyên sinh thì ta bỏ được thường kiến. Bỏ được hai tà kiến này thì ta có được chánh kiến.
Mà chánh kiến là gì? Thì lúc đó giờ mình nói tiếp: chánh kiến là trí hiểu được tâm, chánh kiến là trí hiểu được nhân quả.
Cho nên, dò kỹ về kinh này lại, cộng với những gì các vị vừa nghe, thì tự nhiên mấy bạn thấy kinh nó sáng ra.
Rồi chưa hết, kinh này có nói rõ một chuyện. Ngài không có để mình bị trôi dạt, không để mình bị chìm xuống. Để cái gì? Ác pháp là trôi dạt, mà thiện pháp hiệp thế là chìm xuống.
Là sao? Thì nãy tôi nói hết rồi. Do vô minh, chấp tà kiến, cho nên cứ tưởng rằng ở đây khổ, mình chạy về kia nó hết khổ. Chạy ông Mô mắc ông Mẻ, chạy thầy Cái mắc thầy Con.
Có nghĩa là mình sợ cái khổ này quá, cho nên mình đi đầu tư một cái khổ khác. Mình tưởng rằng tôi cô đơn quá, tôi đi tìm một cuộc tình. Người ta bỏ tôi đi, tôi thất tình, thế là tôi thương một người khác.
Như vậy thì chạy ông Mô mắc ông Mẻ, chạy về cái mặt người con.
Tôi ham tiền quá, tôi làm ăn bị trúng gạt. Buồn quá, tôi uống rượu, bị đụng xe, tai nạn, nằm một chỗ. Mình tưởng cái người đó là người ngu, mà thật ra không có ai là phàm phu bằng cái ngu hết.
Có nghĩa là mình là những người đi trốn cái khổ này bằng một cái khổ khác. Có một điều nó khác nhau ở chỗ là nhìn nó sang hơn.
Cái anh thứ nhất là anh tệ nhất, anh hèn nhất. Anh trốn cái khổ bằng cách nương xác thân trong cõi dục, anh trốn cái khổ bằng cách nặng đầu với tham, sân, si để anh sa đọa.
Còn thứ hai là anh sang hơn một chút, anh bảnh hơn một chút. Rồi anh trốn cái khổ bằng cách làm lành, để mà anh sanh về các cõi dục thiên hay là Phạm thiên hữu sắc.
Cõi vô sắc này ngon lắm, nhất là ông trốn khổ bằng cách chứng đắc cả tầng thiền vô sắc. Nhưng mà tầng thiền vô sắc, dù lâu cho lắm rồi, tám mươi bốn ngàn đại kiếp ở cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng cũng phải sanh trở lại, lọt cái dòng luân hồi của chúng sanh.
Bốn ngàn đại kiếp ở cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng cũng phải sanh trở lại trong cái dòng luân quẩn của luân hồi.
Trong tất cả chúng ta ngồi đây, cũng như tất cả chúng sinh mà chúng ta nhìn thấy, từ con người, các loài động vật cho đến vi khuẩn, không có một loài nào, không có một cá nhân, cá thể nào mà chưa từng đặt chân lên khỏi cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng.
Hôm nay, chiều nay và tối nay, các vị hãy đi gõ cửa, hỏi tất cả những người quen xem điều đó có phải vậy không. Các vị nói rằng, theo giáo điển nói rằng, không có một chúng sinh nào mà chưa từng sanh lên khỏi cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng.
Trong sáu cõi luân hồi thì chỗ nào mình cũng từng tới. Cõi vô sắc mình cũng chưa từng bỏ qua, mình đã từng ghé qua rồi. Chỉ có một chỗ là mình chưa từng tới, đó là cõi Ngũ Tịnh Cư, dành cho các vị A-na-hàm. Mình vô đó rồi mình mới ra ngoài này, mình đi luôn. Chỉ có một cái cõi đó là mình chưa từng vào mà thôi.
Còn cái cõi mà chúng ta sống lâu nhất, tên Phạm Thiên, cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng, mình cũng đã từng vào ra không biết bao nhiêu lần. Cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng là cái cõi mà người ta sống đến tám mươi bốn ngàn đại kiếp. Chúng ta ở đây, từng người từng người, cũng đã từng vào ra trong đó. Đâu có chỗ nào, đâu có gì lạ với mình hết.
Có một điều là mình ở đó lâu quá, dài quá, cho nên mình không nghĩ là mình từng bị sa đọa trong những chỗ như vậy. Hoặc là mình bây giờ mình ngu ghê quá, mình ngu ngơ, đần độn, không ngờ một người lù đù như mình mà đã từng sanh lên cõi Phạm Thiên, cõi nào mình cũng đã từng vô rồi.
Nhưng khổ chỗ là phước lành thì ít mà nghiệp ác thì nhiều. Cho nên khi mình đến đó rồi, có cơ hội quay lại đường cũ để về phàm thế nữa là bị mất lối thôi. Hoàn toàn là gặp cái bạn đó thôi. Cho nên cái gì mình làm cũng tào lao, rồi cuối cùng mình cứ quẩn quanh trong cõi dục.
Phải nói như vậy. Chính Đức Phật cũng nói: Tòng thiện như đăng sơn, tòng ác như băng. Có nghĩa là làm thiện thì khó, giống như đi lên núi vậy đó; chứ còn làm ác thì dễ, giống như đi trượt tuyết vậy đó. Cái đường nào mà thấp thì nó nhào xuống, nó dính luôn.
Tòng thiện như đăng sơn, đó là làm thiện khó giống như đi lên núi; mà tòng ác như băng, giống như mình đi tụt núi, đi trượt tuyết vậy đó.
Chính vì lý do này cho nên mới dẫn đến một chuyện thứ hai, là chúng ta không thể có được tâm an lạc. Tại sao mình bước ra đường, mình nhìn quanh mình, thấy toàn là cảnh khổ nhiều hơn là cảnh vui?
Người nghèo ở các châu lục trên toàn hành tinh nhiều hơn người giàu. Người xinh đẹp thì ít hơn người xấu. Người khỏe thì ít hơn người bệnh. Rồi người có vấn đề về gia đạo thì nhiều hơn người có gia đình hạnh phúc.
Trong năm, hầu hết ai cũng có vấn đề trong gia đình. Chẳng qua cắn răng mà chịu đựng, ráng sống với nhau.
Tại sao vậy? Vì sao nhìn đâu cũng thấy toàn là cảnh khổ? Vì sao vậy? Nó rất là đơn giản, là bởi vì trong một ngày của mỗi chúng sinh, cái tâm bất thiện nó nhiều hơn cái tâm thiện. Chỉ một câu trả lời đó thôi.
Trong đời này, cái tâm thiện nó ít hơn tâm bất thiện, thì tâm vô minh cứ chi phối.
Chỉ một câu trả lời đó thôi. Trong đời này, tâm thiện ít hơn tâm bất thiện, thì tâm... sống trước... Tâm bất thiện nhiều hơn tâm thiện. Nếu tâm bất thiện nhiều thì làm sao chúng ta thấy cái nền vua nó nhiều hơn vợ vua. Một tập vua hết nghiệp nhiều thì khổ phải nhiều. Đó là lý do vì sao chúng ta gọi là bể khổ.
Có những cảnh giới mà người ta không có cơ hội để nhìn thấy những nỗi khổ. Nhưng đặc biệt ở cõi dục thì cơ hội nhìn thấy khổ nhiều lắm. Bởi vì đây là một cảnh giới có tất cả môi trường để cho ác nghiệp phát sinh.
Ví dụ như lên cõi trời, thì làm gì có đụng? Làm gì có tai nạn? Ngã xuống, ngã khói, tai nạn chỗ nào? Còn như mình ở đây, mình thấy mọi người bệnh hoài, bị vô trong bệnh viện, già yếu, đau đớn. Bệnh hoài, bệnh mãi. Chỉ là bệnh thôi. Còn họ mới vô mấy cái lò thiêu, vô mấy nhà xác, vô mấy nghĩa trang, già yếu, đau đớn, tự nhiên giờ nó đổ tới liền.
Còn cái kiểu mà mình cứ vô chùa một cách vui vẻ, nghe pháp trong tình trạng vui vẻ, gặp gỡ trong tình trạng vui vẻ, thì tâm tư mình đó, mình không có thấm được cái đời bốn khổ đâu.
Tại cái này rất là sâu. Cái này được phủ nhận toàn bộ. Phủ nhận lợi dưỡng là không chấp nhận được, phủ nhận luân hồi không chấp nhận được, thường kiến, đoạn kiến không chấp nhận được. Và cuối cùng là một phủ nhận nền tảng toàn kỳ, quyết định tuyệt đối đó là tất cả pháp phải bỏ, mà đến tất cả thiện pháp, thiện tâm cũng phải bỏ luôn.
Có nghĩa là thiện tâm gồm thiện dục giới, thiện sắc giới và thiện vô sắc giới, bỏ.
Đây có nghĩa là sao? Cái chỗ này khó hiểu lắm. Bỏ đây không có nghĩa là mình không làm, nhưng mà mình làm trong một ý thức rất rõ, trong một ý thức rất rõ rằng đây chỉ là phương tiện thôi.
Các bạn học, các bạn có chú ý không? Các bạn biết câu này không? Đồng tiền, nó là một ông chủ tồi, nhưng mà nó là một nô lệ tốt. Các bạn biết câu này không? Tôi nhắc lại: đồng tiền nó là một ông chủ tồi, nhưng mà là một nô lệ tốt.
Có nghĩa là sao? Có nghĩa là nếu mà mình coi đồng tiền là tất cả thì tệ lắm. Ai mà thờ đồng tiền thì cái người đó sẽ đổi người công vô, nói về biểu tình Bắc là người công vô, nói về biểu tình Nam Bộ là chơi công vô. Cái người mà thờ tiền, cho đồng tiền làm chủ, thì người nào sẽ ăn được.
Nhưng mà nếu người nào coi tiền là phương tiện sống thôi, nó chỉ là món đồ để mình sinh hoạt thôi, không có thờ tiền, thì đó là người rất là dễ thương.
Thì cái thiện pháp cũng vậy. Nếu mình coi cái thiện pháp đó là phương tiện mà dẫn đến cái bờ giải thoát, thì ok. Nhưng mà nếu mình lầm lầm, lầm phước, và với một cái tâm nguyện cầu được sinh về nơi này chỗ đó, thì đó là chúng ta đang đầu tư một cái khổ, mà hồi nãy tôi nói rồi, đó là ba hành đó.
Cầu được sinh về nơi này, chỗ đó, thì đó là chúng ta đang tìm một cái khổ. Hồi nãy tôi nói rồi, đó là ba hành đó. Do vô minh trong bốn đế, không biết hữu là khổ, cho nên người ta mới mong sanh về cõi này, cõi kia.
Nếu mà nói tận cùng thì có biết tại sao mình ăn ngon không? Tại sao mình ăn ngon? Trong kinh cũng rõ, rất là rõ. Tại vì mình đọc trong kinh sơ sài, cho nên mình không có thấm ở chỗ này.
Trong kinh có dạy là có những người họ ráng tưởng rằng món ăn này nó không dơ. Nhưng cơ thể của mình đã bất tịnh, cho nên nó chỉ chạm vào môi mình thôi, chỉ dính một tí nước bọt của mình thôi là nó đã trở nên ghê rồi. Nói gì là người ta mửa ra, nói gì là nó đã đi qua đường ruột già, đi qua đường bài tiết, thì nó còn ghê cái nào nữa.
Thì đó là dành cho người hạ căn. Người hạ căn là người thiếu ức. Họ nghĩ như vậy, họ mới lìa tham hết trong việc ăn uống. Nhưng mà nói với bậc thượng căn thì họ không có nghĩ như vậy. Họ nghĩ thế này:
Tại vì nghiệp dục giới sanh vào thân người, không ăn thì chết. Thế là con cú nó phải thích ăn thịt chuột, con cá thia thia nó phải thích ăn rong, con bò, con nai nó mới thích ăn cỏ, và con người thì ăn lung tung khác.
Như vậy thì cái ngon ở đây nó hoàn toàn tùy tụi nó. Nó chỉ là một thứ nhu cầu rất là sinh học, rất là khoa học và thuần túy mang tính kỹ thuật học thôi. Chúng ta thích nó ngon là bởi vì cái nghiệp nó đẩy mình làm thân người. Tự nhiên mang thân người thì mình phải có nhu cầu ăn uống. Và nếu mình ăn mà không thấy ngon thì làm sao mình chịu ăn được?
Một cái nghiệp sanh tử, nó khiến hết tạo nghiệp dục giới rồi nó sinh làm người dục giới. Mình biết nghiệp dục giới là gì rồi? Nghiệp dục giới là nghiệp nhị nhân, nghiệp tam nhân, tức là tâm đại thiện đó, tâm đại quả. Tại tâm đại thiện tạo ra tâm đại quả. Đại quả nhị nhân cũng có, đại quả tam nhân cũng có. Còn tái sinh bằng cái tâm quan sát quả thiện hay là quan sát quả bất thiện, bốn loại tâm đó.
Do mình tái tục bằng một trong bốn tâm này, cho nên mình phải thích ăn cái này, thích ăn cái kia. Nếu mà mình không thích ăn thì làm sao mà mình ăn được? Cho nên chính cái nghiệp nó khiến mình phải thích. Nó khiến mọi cái cơ thể mình phải biết đói, phải biết đói. Đến một giờ nào đó, cơ thể mình cần thêm những dưỡng tố để nó sống.
Mình biết cái cơ chế đó không? Tức là cơ thể mình khi mà nó cần chất này, cần chất kia thì tự động nó phải đói. Mà khi nó đói như vậy thì tự nhiên mình muốn ăn, và khi mình muốn ăn thì mình ăn vào nó mới ngon.
Nếu mình hiểu được rằng ăn nó chỉ là một chuyện trả bài mà thôi, ăn chỉ là chuyện trả bài mà thôi, sở dĩ nó ngon là chính vì cái nghiệp sanh tử nó khiến mình phải thấy ngon mình mới ăn. Mà chính vì ăn vô mình mới sống. Để chi? Để tiếp tục sống, để mình trả cái nợ đời, thân phận của kiếp người.
Hiểu như vậy, bởi vì một thứ ăn đó là cả một cái cực hình. Ăn không phải là một thứ khoái lạc để mình hưởng thụ nữa.
Ở đây cũng vậy. Có người ở đời thấy rằng được sống trong nhung lụa, được sống trong điều kiện mình muốn đó là hạnh phúc. Phải bị sống trong một điều kiện bất toàn thì đó là đau khổ.
Nhưng có một người đặc biệt, họ thấy rằng hết có mặt trên đời này, tự thân chỉ có mặt thôi đã là một gánh nặng, đã là một gánh nặng.
Họ thấy rằng hễ có mặt trên đời này thì tự thân cái có mặt đó đã là một gánh nặng, đã là một gánh nặng. Cho nên, ở trong cái đại dương này, phần này có lắm. Đức Phật dạy một câu: bước tới thì bị trôi dạt, mà đứng lại thì bị chìm xuống.
Tôi không có lời giải thích cho các vị A-la-hán này. Cái lời giải thích sau cùng là: áp pháp thì trôi dạt, mà thiện hiệp thế thì chìm xuống ở chỗ đó.
Hễ mình còn mang thân người, dù trong điều kiện sống như thế nào đi nữa, 80 tuổi rồi thì giáo hoàng cũng phải đi lại khó khăn. 80 tuổi rồi thì một ông cựu quan chức cũng phát hiện những khó khăn. 80 tuổi rồi thì cơ thể không còn nghe lời mình nữa, cho dù đó là một vị cư sĩ hay là một vị hòa thượng trưởng lão. 80 tuổi rồi, mình có 15 cái bệnh, hay là mình không biết bao nhiêu thứ bệnh, thì nó vẫn giống nhau ở chỗ là cơ thể đã không còn nghe lời mình, bắt buộc phải vậy thôi.
Chỉ có người họ chán, họ chán đời hết. Họ chán ở cái chỗ là, thân thay người bản thân đó đã là một cái khổ.
Thế nên Van Derbeuf của Pháp có nói thế này: Nếu mà muốn khóc thì phải khóc khi một đứa bé chào đời, nhưng đừng có khóc khi một ông già nằm xuống. Đó là một câu nói rất thông minh, rất thông minh.
Cái chuyện đáng tiếc là tại sao mình biết đời là khổ mà mình vẫn lao vào làm cái gì? Điều đó, hễ sinh ra rồi thì phải già, phải chết; đó chỉ mới là một cái bình thường.
Cho nên tôi nhắc lại, ở đời này có những người trốn khỏi cuộc đời bởi vì một cái lý do rất là đơn giản thôi, là bởi vì họ không có được cái trí tuệ trong đối đãi. Họ tưởng rằng có mặt trong điều kiện này là vui, có mặt trong điều kiện kia là khổ. Như vậy thôi. Bây giờ mình làm sao? Mình đừng có mặt trong điều kiện vui, mình phải có mặt trong điều kiện này.
Nhưng mà một người hiểu lời Phật thì chúng ta sẽ thấy rằng có mặt ở trong điều kiện, hoàn cảnh nào cũng là cái khổ đó. Vì sao? Là vì ít nhất ba lý do.
Lý do thứ nhất: cái gì rồi cũng vô thường. Cái gì rồi cũng vô thường.
Cái thứ hai: cái chữ khổ mà mình hiểu từ xưa đến giờ đó toàn liên hệ với cảm giác. Nhưng mà chữ khổ mình hiểu ở trong Phật giáo đó, khổ nó là cái gì đó bị thúc đẩy, cái gì đó mà nó bị thúc đẩy.
Cái thứ ba: mọi thứ do duyên.
Như vậy thì phải học về vô thường, về khổ rồi. Tôi nhắc lại, chữ khổ ở đây nó không có nghĩa là liên hệ với cảm giác, mà khổ ở đây, các ngài nói, nó có nghĩa là không có kham nổi. Nó từ chữ “du” cộng với chữ “kha”.
Chữ “du” là khó, còn chữ “kha” ở đây có nghĩa là sự chịu đựng hay là sự chống đỡ. Các bạn biết mình có cái chữ “kham” đó. Chữ “kham” nó rất là hay.
Ví dụ như một tháng 500.000 đồng, đối với số người khó khăn, chữ “kham” này mọi người hiểu nó làm sao không? Chữ “kham” đó có nghĩa là, dù muốn dù không thì mọi thứ luôn luôn bị đẩy về phía trước. Dù muốn dù không thì nhân thiện cho quả vui, mà nhân ác cho quả khổ. Dù muốn dù không thì quả phải đến, mà cây phải trổ. Dù muốn dù không thì đêm ngày nó vẫn trôi qua, xuân hạ thu đông nó cứ xảy đến.
Không thì quả phải đắng mà cỏ phải trắng. Dầu muốn, dầu không thì đêm ngày nó vẫn trôi qua, xuân hạ thu đông cứ xảy đến. Dầu muốn, dầu không thì các pháp cứ tùy duyên mà diễn ra. Cái đó được gọi là khổ. Có nghĩa là mình không có cứng ở đây; mọi cái luôn luôn bị đẩy ra, trôi đi.
Rồi còn cái thứ ba là vô ngã. Vô ngã có nghĩa là, nãy tôi nói rồi, bạn Phạm Châu Nhi, vô ngã đây là không có cái gì thuộc về tôi, của tôi. Không có một ai ở đầu này, dù là Thượng đế chứ đâu, hay là bản thân tôi có một linh hồn bất biến nào đó. Không có Thượng đế, không có một linh hồn, không có một cái tôi cá thể đơn thuần nào mà có thể điều động, điều hành, điều phối, điều hợp mọi sự. Tất cả tùy duyên thôi.
Tùy duyên thì đủ duyên mình nói ra A, đủ duyên mình nói ra B; đủ duyên mình nói đen, đủ duyên mình nói trắng; đủ duyên mình nói vui, đủ duyên mình nói buồn. Tất cả là tùy duyên mà thôi, chứ không có một bàn tay can thiệp của ai hết. Thì một người hiểu được như vậy, họ thấy rằng mọi cái hiện hữu tự thân nó đã vận hành.
Và đó là vì học A-tỳ-đàm, biết được ba cái khổ. Cái khổ thứ nhất là cái khổ thông thường mình học. Ở đây mình vừa học là cái gì cũng vô thường, cái gì cũng bị thúc đẩy rồi mọi thứ đổi thay, vô ngã. Mà trong kinh điển thì có giải thích thêm về ba cái khổ nữa.
Một là khổ khổ. Khổ khổ có nghĩa là những gì khó chịu thuộc thân tâm, hay nói cách khác, sự có mặt của khổ là khổ khổ. Sự vắng mặt của hạnh phúc là hoại khổ. Còn mọi hiện hữu ở đời được gọi chung là hành khổ.
Cái khổ đó được định nghĩa nhiều cách: sự có mặt của khổ là khổ khổ; sự vắng mặt của hạnh phúc là hoại khổ; và mọi hiện hữu ở đời được gọi chung là hành khổ.
Thông thường, người ta ở ngoài đời mà không biết đạo, nghe nói đời là bể khổ thì họ chỉ hiểu khổ theo nghĩa rất hẹp thôi. Sự có mặt của khổ là gì? Là khổ thân, khổ tâm nói chung. Một là thân khó chịu, tâm khó chịu thì họ gọi: “Khổ quá!”
Thì cái khổ trong đạo Phật chỉ mới là một phần ba của cái khổ thôi. Tôi giới thiệu cho các bạn hiểu. Bữa trưa, trời nóng mà mình chưa mở máy lạnh thì cái nóng đó được gọi là khổ khổ. Mình mở cái quạt lên, thấy thoải mái quá, tự nhiên điện bị cúp. Sự mát mẻ lúc nãy đã trở thành hoại khổ, tức là sự biến mất của hạnh phúc.
Mình nóng, mình chờ mở quạt, đó là khổ khổ. Nhưng phần mát mẻ bị mất đi do cúp điện thì trở thành hoại khổ.
Còn hành khổ là gì? Đó là sự có mặt của mình tại Sài Gòn. Chỉ đơn giản là vậy thôi. Sự có mặt của mình tại Sài Gòn, sự có mặt của mình tại xứ nhiệt đới, đó là hành khổ. Đó là cách giải thích rất gọn và rất rõ.
Sự có mặt của mình tại xứ nhiệt đới, tại những xứ mà gần vùng xích đạo, thì sự có mặt đó được gọi là hành khổ. Rồi sự nóng nực ở đó là khổ khổ. Còn hoại khổ nghĩa là những khi máy lạnh hoặc quạt máy bị cúp điện. Trong trường hợp đó, sự mát mẻ đã mất đi, được gọi là hoại khổ.
Ở ngoài đời, những người không học giáo lý thì họ chỉ biết cái khổ đầu tiên thôi. Tức là họ thấy sự có mặt của khổ thì họ chịu không nổi.
Các giáo lý thì họ chỉ biết một cái khổ đầu tiên thôi. Tự nhiên là họ thấy sự có mặt của khổ thì họ chịu nổi. Nhưng họ không ngờ là hai cái khổ sau nó có ở đời một cách rất kín đáo.
Tự nhiên, sự có mặt của đau khổ, sự có mặt của hạnh phúc cũng là một cái khổ. Xa nhau, thấy mặt đó là khổ; gặp nhau ở đời, phải chia tay cũng là khổ. Và cái hành khổ trong trường hợp này, mình quen nhau làm chi vậy? Chính cái mối quan hệ, chính cái mối quen biết của hai đứa, nó chính là hành khổ. Có nghe được không?
Tuy khổ khổ và hành khổ thì định nghĩa khác nhau. Tôi nhắc lại trong trường hợp hồi nãy: nắng nóng là khổ khổ, điện tắt là hoại khổ, sự góp mặt ở dưới nóng là hành khổ.
Còn ở trường hợp thứ hai, trong tình cảm nam nữ: xa nhau là khổ khổ, gặp nhau rồi mà phải chia tay là hoại khổ. Mà sự có mặt trong thế giới này, nó chính là hành khổ.
Có nghĩa, hành ở đây có nghĩa là pháp hành. Tất nhiên là các pháp nó do điều kiện mà có, nó do điều kiện mà duyên. Thì nói chung là nó là như vậy đó.
Nên hễ có sanh thì phải có diệt từ bản thân. Cái sự lệ thuộc nhân, lệ thuộc duyên để sanh diệt từ bản thân, cái đó nó là khổ. Bản thân nó là khổ. Và một người học đạo có thể tưởng rằng, dù có sanh về cõi nào đi nữa, dù sống lâu bao nhiêu đi nữa, cũng phải có lúc lìa bỏ nó mà đi. Đó là điều thứ nhất.
Điều thứ hai, cái niềm vui, nỗi buồn ở cõi này, qua một cõi khác, nếu mà ở một điều kiện khác, môi trường khác, ta nhìn lại, ta thấy nó, ta nhìn nó không bằng ánh mắt, không bằng nhận thức cũ nữa. Như vậy thì cái hạnh phúc hay nỗi buồn ở trong cuộc đời này, nó là đồ giả.
Ví dụ, có người thấy mâm cỗ ê hề, họ không ngán, mà họ nhìn thấy rất là dễ thương, họ thấy họ thích. Ít nhất là nó không có mùi nồng, nó không có khó tiêu, nó không có bệnh hoạn gì hết. Mỗi người họ thích một món ăn. Tôi đã từng ăn cơm chung với những người như vậy. Họ nhìn thấy đồ ăn nhiều quá, họ sợ; mà trong khi đó, có những người họ thấy đồ ăn ít quá, họ sợ.
Rồi có những người họ thấy một đời sống lẻ loi, quạnh hiu là cả một cái cực hình. Nhưng có những người họ thấy có thêm người thứ hai thì họ thấy là cả một cực hình. Rồi có những người họ thấy lèo tèo là họ thích, nhưng có những người họ thấy lèo tèo, quạnh hiu thì họ sợ.
Nhưng mà rõ ràng rằng cái hạnh phúc và đau khổ đó là một chuyện rất là tương đối. Thứ nhất, nó là vô thường. Thứ hai, nó chỉ là những giá trị ước lệ, kiến lập trên các thiết chế giả định mà thôi. Ở đây thấy nó như vậy, bên kia mà không thấy nó như vậy nữa đó, nó là đồ giả.
Tôi nhắc lại, cũng món ăn đó mà lúc mình no, mình nhìn nó khác; mà lúc mình đói, mình nhìn nó khác. Cũng món ăn đó mà người ta dọn nó trong cái chỗ rác rưởi, ngửi ống cống, tâm hồi mình uống không vô. Cũng món ăn đó mà người ta đem lên cái chỗ mâm cao, đổ đầy, sạch sẽ trong nhà, máy lạnh, thì là ăn được.
Nói như vầy có nghĩa rằng, những gì trong đời sống mà mình thấy nó là hay, là giỏi, là ngon, là không ngon, là vui, là buồn, có thể là tự vô số cái nhà nghiệp.
Chính vì chỗ này, cho nên Đức Phật nói rằng ác pháp nên bỏ đã đành, mà đến cả thiện nghiệp thế này cũng bỏ. Là vì cả hai thứ này là những chất xúc tác, là những cái...
Mà đến cả thiện nghiệp này cũng bỏ là vì sao? Là vì cả hai thứ này là những chất xúc tác, là những tích tập, nó dẫn đến sự có mặt trong ba cõi, phải nói như vậy đó.
Rất là quan trọng. Tôi nói rằng cái này sẽ làm phiền lòng không dưới 95% những người thờ Phật, mà tôi không thể không nói. Miệng mình nói mình tu, miệng mình nói là mình cầu giải thoát, nhưng theo chỗ tôi nhận xét, 95% những người nói như vậy, 95% những người thờ Phật, còn thờ trên đầu hay là thờ trong lòng. 95% không có sợ sanh tử. Họ không có sợ cái chuyện các thứ từ kiếp này đi về kiếp khác, bất tận vô định.
Cho nên là tôi nhắc lại rằng tôi vừa nói một chuyện rất dễ làm phiền lòng mọi người. Đó là cái chuyện tự hỏi rằng mình tu tập làm lành lánh dữ là để được hay là để bỏ.
Một người mà tu hành với lý tưởng làm để được thì tôi xin thưa, họ là người khó yêu lắm. Họ giữ được giới rồi, họ thấy cái giới hay ghê lắm. Họ bố thí được bao nhiêu rồi, họ thấy họ hay ghê lắm. Họ quen biết với các vị cao tăng trưởng lão, họ thấy cái đó hay ghê lắm. Cái đó không được.
Khi mình tu, mình có ý là mình hướng đến cái được, mình dễ bị vấn đề lắm. Nhưng mà nếu mình cũng làm cái việc y chang như vậy, mà mình tu bằng lý tưởng bỏ, thì nó lợi lắm.
Thay vì mình thấy thành Phật, làm thánh, là được cái này, được trí, được phước, được tuệ, được cái gì đó, thì đằng này, nếu mà mình hiểu thành thánh là bỏ được phiền não, bỏ được tái sinh, nó lại hơn biết bao nhiêu.
Bởi vì nếu mình tu mà mình nhắm đến cái việc bỏ đó, thì chỉ cần mình có một chút chướng ngại là mình thấy tự xấu hổ rồi. Mình nói: “Ủa, mình tu là vì bỏ mà, tại sao mình để cái cuộc niềm vui trong lòng dưới mình?”
Còn nếu mình tu mà mình nhắm đến cái được, thì mình rất là trẻ con. Phải nói như vậy, rất là trẻ con. Được người lớn xoa đầu là nó vui, được người lớn khen ngoan là nó vui, được người khác khen là đứa trẻ nó vui.
Nhưng mà đến khi chúng ta tuổi thành niên, tới 18 tuổi, sau đó có vợ, có chồng, có con, có cái, cho chúng ta tóc bạc pha râm, muối tiêu rồi, bây giờ có nhiều người đầu bạc, tóc trắng một đêm, thì từ từ, khi mà thấm tuổi đời, thấm thế chuyện đời, tình đời đó, mình thấy rằng: Thì ra trong cuộc sống, tất cả những cái mình có chỉ là để bỏ lại, chứ không phải để hưởng. Lý do, mình còn được bao lâu? Mình còn được bao lâu?
Mà phải nói rằng những cái mình có để bỏ lại sau lưng thì nó chắc ăn hơn. Chứ còn nói rằng mình có để mà hưởng thì mình hưởng được bao lâu? Nó tàn nhẫn lắm.
Cho nên, thưa quý vị, trong lúc mình viết trong Nam Tông, tôi có thưa mấy quý vị độc giả một điều, đó là chỉ hai động từ thôi: tu để được cái gì và tu để bỏ cái gì. Chỉ hai động từ này thôi, đủ để làm thay đổi lịch sử Phật giáo suốt 2.500 năm.
Các bạn để ý coi, ai mà tu nhắm nhiều đến cái được thật nhiều, làm nó đau mệt, nó ghê lắm. Mà nếu mà tu, mình nghĩ nhiều đến cái bỏ đó, mình bỏ được cái gì thì nó lợi lắm.
Thay vì nghĩ A-la-hán là được cái gì, thì phải hiểu rằng A-la-hán là cái vị đã bỏ được cái gì.
Hễ bỏ được cái gì thì nó lợi lắm. Thay vì nghĩ A-la-hán là được cái gì, thì phải hiểu rằng A-la-hán là cái vị đã bỏ được cái gì. Nó hay biết là bao nhiêu?
Chỉ có cái tâm mà nhắm đến chữ bỏ đó thì an toàn hơn, thưa quý vị. Trong hình thức, người nhắm đến chữ được hay nhắm đến chữ bỏ thì những hành vi không khác gì hết: cũng làm lành, lánh dữ, cũng bố thí, cũng làm điều gì đó. Nhưng mà người nào nhắm đến chữ được thì khó lắm.
Tôi dòm qua, tôi thấy Phật tử nói chung của mình nhắm đến chữ được nhiều. Chính vì vụ này cho nên từ cái chỗ đạo toàn Bát-nhã, nó thành ra bác ngã ở chỗ đó.
Tôi nhớ một câu chuyện cũ mà tôi kể hoài. Mình nhất là những em mà ngày đêm miệt mài ở bên cái chùa Phật Pháp đó. Chẳng hạn như câu chuyện này: có một hôm, ông thầy trụ trì thấy trong chùa gây rối nhiều quá, ông họp chúng lại. Ông nói:
“Bây giờ mình đúc cái chuông mới rồi, mấy con.”
Thì trong chùa nói: “Chuông tốt quá mà mình đúc bằng gì, mấy thầy?”
Mỗi ngày tụng kinh, một đứa đánh chuông, một đứa đánh khánh. Một cái chuông mình đánh ra, mình cứ nghe nó boong boong. Một đứa đánh khánh thì nó ra cheng cheng. Mình tu hành thì cái boong chen nó có khác.
Học trò nghe vậy, nó hỏi:
“Mình đúc cái chuông mới thì mình làm sao?”
Thường thời, mình đúc chuông mới, mình phải cẩn thận. Bỏ vàng, bỏ thiếc, bỏ gì luôn. Sau đó đánh vô không còn boong, không còn cheng nữa, mà nó còn tiếng buông.
Đánh là sao? Mình nghe tiếng buông. Thì là chuông đúng. Đánh làm sao mà nghe boong, khánh mà nó ra tiếng cheng; đánh làm sao mà chỉ còn là chữ buông thôi.
Chỉ buông thì có thằng này. Trời ơi, nó nghe cũng khổ lắm, nó cứ đúc chuông. Thời gian gần Tết thì ông thầy kêu mình hỏi:
“Tại sao mà con đúc chuông con khỏe, thầy đánh chỉ boong của ông ấy, mà bên đây con còn tiếng?”
“Dạ thầy, con quên.”
Thế là về đời con làm thương nhân.
Thế là thương. Cho nên, em nghĩ mấy cái tiệm tạp hóa, nghĩ đến hai cái điểm này. Nó là “No merchandise beyond this point”. Trong mấy tiệm tạp hóa, em nghĩ ở cái cửa restroom, toilet là toàn để cái câu này: “No merchandise beyond this point”. Họ sợ có những người khách đem đồ vô trong đó. Ví dụ như họ thấy một cái áo thun, một cái quần short, họ cầm đem vô đó, họ xé, họ lấy ra. Còn có những người tệ nữa, nghe nói họ vô đó thay đồ, họ tìm khách, họ thay đồ, họ tráo đồ ở bên trong cái toilet.
Cho nên trong mấy chỗ đó, người ta để cái chữ như là: “Đừng mang hàng hóa qua khỏi cánh cửa này.” Nhưng mà câu này cũng còn có nghĩa là bên trong cánh cửa này không có chuyện mua bán.
Thì cái câu này có thể là một câu rất hay. Câu này cũng có thể dùng ở trong chùa được, có nghĩa là người tu hành đừng có chuyện mặc cả, đừng có chuyện mua bán.
Có nghĩa là sao? Có nghĩa là mình mà nhắm đến chữ được là mình đã bắt đầu có cái buôn bán rồi, nghe. Mình mà nhắm đến chữ được, mình nghĩ: “Tôi bố thí, tôi được cái này, được cái kia”, nó là buôn bán đó. Giống như khi mình chơi chứng khoán, mình chơi số đề, mình chơi xổ số vậy đó.
Cái này được, cái kia là buông. Nó giống như khi mình chơi chứng khoán, chơi số đề, chơi xổ số vậy đó. Cho nên, trong lý tưởng nhà Phật, tôi là để buông. Và phải nói cho chính xác, cái cần thiết nhất trong đường sinh tử không phải là mình được mà là mình buông.
Nghĩ kỹ này. Ví dụ như bây giờ mình có thật nhiều thức ăn, để khi nào mình đói thì mình ăn. Nhưng mà bây giờ, nếu cho mình chọn: một là mình không biết cảm giác đói mà vẫn sống được, hai là mỗi lần đói mình có đồ ăn, thì nếu cho tôi lựa chọn, tôi sẽ chọn cái không đói mà vẫn sống được, chứ không phải mỗi lần đói thì có đồ ăn.
Tôi thích vậy thôi. Rồi tôi muốn là không mang dép, không mang vào đôi chân tôi. Tôi thích như vậy hơn là mỗi lần chân tôi có vấn đề thì tôi lập tức có giày dép.
Tôi nhắc lại là tùy cách. Đời sống là một sự lựa chọn. Nhưng mà tôi biết trong đời có hai hệ người. Có người muốn là mỗi lần chân của họ có vấn đề thì họ phải có giày dép mang. Có người muốn là không cần mang gì hết, nếu chân họ đừng có vấn đề.
Có người muốn là phải có những món ngon. Có người muốn thì đừng bao giờ đói. Tôi biết tôi nói cái này có thể sẽ làm xáo trộn tinh thần của một số người, nhưng mà xin thưa, tôi hoàn toàn tôn trọng một người như vậy. Không phải là tôi cao siêu gì hết, bởi vì tôi biết tôi thích người đó.
Cho nên đó, đúng rồi. Cái khổ này, tức là không oán thường, không bị vấn đề pháp luật, không cái này, không cái kia. Nhưng có người đồng nghĩa hạnh phúc là được. Hạnh phúc là mình có nhan sắc, hạnh phúc là mình có tiền, hạnh phúc là mình có quyền lực, hạnh phúc là mình có uy tín, hạnh phúc là mình có thiện tâm, hạnh phúc là mình có cái này, hạnh phúc là mình có cái kia.
Nhưng có người đồng nghĩa hạnh phúc là không có cái này, là không có cái kia.
Tôi nghĩ hôm nay, trong buổi học này, có nhiều vấn đề bà con nuốt không nổi. Nhưng mà dù sao tôi vẫn tin là có người hiểu tôi muốn nói cái gì, đặc biệt là câu tôi vừa nói đó: Có người nói hạnh phúc là được cái gì đó; có người nói hạnh phúc là mất cái gì đó, không có cái gì đó là hạnh phúc rồi. Có người nói tu là để được cái gì đó; có người nói tu là để bỏ cái gì đó.
Đó cũng chính là lời kết thúc của tôi trong buổi giảng truyền này. Chúc quý vị một ngày vô cùng an lành và hẹn gặp lại.