Kinh Tương Ưng Bộ (Buổi 3/211): Bài 3 - Đưa Đến Đoạn Tận | Sư Toại Khanh Thuyết Giảng
Nội dung bài giảng
Nguyên nhân, cái yếu tố để chúng ta tiếp tục có mặt, tiếp tục hiện hữu như vậy, thì thứ nhất là không hiểu được rằng tất cả mọi hiện hữu đều là khổ, đều là khổ đế. Không hiểu được chuyện đó chính là vô minh trong khổ đế.
Thứ hai là không hiểu được tham ái là gốc tạo ra khổ đế. Đó chính là vô minh trong tập đế.
Thứ ba, không hiểu rằng có một cứu cánh, có một trạng thái nằm ngoài khổ đế và tập đế. Đó là Niết-bàn. Vì không hiểu rằng có cái đó, cho nên khi khổ hoạn, người ta mới mong sinh về thiên đường của Chúa Trời, sinh về thiên đường của Thánh Allah, rồi cầu sinh về cái cõi mà Hồi giáo nói là được trở về hợp nhất với Phạm Thiên, vân vân và vân vân.
Trong khi đó, cứu cánh giải thoát thật sự không phải là một sự hiện hữu như đó, mà là sự chấm dứt toàn bộ các hiện hữu, chấm dứt cả khổ đế và tập đế, tức là chấm dứt cả nhân sinh tử và quả sinh tử. Và chính vì không biết cái này cho nên được gọi là vô minh trong diệt đế.
Cái vô minh thứ tư, đó chính là những người khổ quá cũng muốn chấm dứt khổ, chấm dứt tái sinh. Họ cứ lây quay, lẩn quẩn, lòng vòng trong những pháp môn nằm ngoài Bát Chánh Đạo. Trong kinh ví dụ giống như mình khát nước mà uống nước muối vậy đó. Khát nước quá mà uống nước muối thì càng uống càng khát.
Vấn đề ở đây không phải là người Phật tử nghe giảng về Bát Chánh Đạo rồi tôn sùng pháp môn Bát Chánh Đạo, cho rằng đây là con đường duy nhất dẫn đến giải thoát. Không phải. Ở đây, tác dụng giải thoát của Bát Chánh Đạo không phải là vấn đề tôn giáo, mà là vấn đề khoa học. Tôi xin mọi người quan tâm, lưu ý đến chỗ này.
Sẽ có những người họ không tin Phật, họ nói với chúng ta: “Tôi có nhiều đường giải thoát lắm. Tại vì Đạo Phật chỉ biết Bát Chánh Đạo thôi, cho nên Đạo Phật cho rằng Bát Chánh Đạo là con đường duy nhất dẫn đến giải thoát. Chứ thật ra chúng tôi, các tôn giáo khác cũng có con đường, cũng có đường hướng tu hành dẫn đến giải thoát.”
Họ nói gì thì nói. Nhưng chúng tôi nói rồi, lý do tại sao trong Đạo Phật đặt nặng, xem trọng Bát Chánh Đạo là bởi vì một chuyện rất đơn giản, rất khoa học. Vì sao? Vì tất cả cái khổ của chúng ta khởi đi từ sự hiểu lầm. Bát Chánh Đạo là con đường giúp chúng ta lìa bỏ những hiểu lầm đó.
Hiểu lầm là sao? Mọi thứ trong trời đất này, từ bản thân của mỗi người cho đến trời đất, trăng sao, hoa lá, vũ trụ, sông hồ, biển cả, côn trùng, muông thú, con người, tất cả mọi thứ trong vũ trụ này chỉ là những gì rất đỗi mong manh. Nó có mặt một cách chớp nhoáng, tồn tại trong sự hư ảo, phù du, rất là ngắn hạn, như đầu hôm sớm mai. Và mọi thứ sẽ bị cuốn trôi như vậy.
Cho nên mọi thứ tùy duyên mà có, tùy duyên mà mất. Nói một cách rốt ráo, không có cái gì đáng để cho chúng ta ghét, và cũng không có cái gì đáng để cho chúng ta thích.
Trong con người cũng vậy. Không có con người nào đáng ghét, mà cũng không có con người nào đáng để yêu. Trong toàn bộ vũ trụ này chỉ có hai hạng chúng sinh thôi: một là người đáng thương, hai là người dễ thương, chứ không có ai đáng ghét hẳn.
Tôi nhắc lại, chỉ có hai hạng người thôi. Làm ơn đánh đủ cái chữ đó. Trong vũ trụ này, tất cả chúng sinh chỉ gồm trong hai hạng: đáng thương và dễ thương.
Đáng thương là sao?
Đủ cái chữ đó nha. Trong vũ trụ này, tất cả chúng sinh chỉ gồm trong hai hạng: đáng thương và dễ thương.
Đáng thương là sao? Đáng thương là những người đang chịu khổ, đang khổ, đang ác thì đáng thương. Còn những người đang thiện, đang sướng thì dễ thương. Như vậy, trong đời này chỉ có hai hạng đó thôi, chứ không có ai mà dễ ghét hết, không có. Chỉ có hai hạng đó thôi. Hẳn cái người ác đó là cái người đáng thương, còn người thiện là người dễ thương. Chỉ vậy thôi.
Cho nên, trong vũ trụ này, nếu nói cách rốt ráo, không có gì đáng để mình ôm ấp, mà cũng không có gì để mình bất mãn, không có. Mà chính vì không biết được Tứ đế cho nên mình cứ thích cái này, cứ ghét cái kia.
Cái từ chuyên môn trong đạo Phật gọi là tham ưu. Tham ưu có nghĩa là chạy theo, thích thú, đam mê. Còn ưu là chống đối, bất mãn, ghét sợ. Theo đuổi thích thú thì cái đó được gọi là tham. Với một người sống vô niệm thì không còn tham ưu nữa, có nghĩa là không có chạy theo, không có thích thú, mà cũng không có bất mãn, không có chống đối. Người đó được gọi là diệt trừ tham ưu ở đời là như vậy đó.
Và tại sao Bát Chánh Đạo được gọi là con đường dẫn đến giải thoát? Là bởi vì chính Bát Chánh Đạo là con đường duy nhất giúp cho mình không tiếp tục hiểu lầm nữa.
Tất cả những gì chúng ta vừa nói, chẳng hạn như tôi nói trên đời này không có ai dễ ghét hết, mà chỉ có người dễ thương và đáng thương thôi, thì ngay cái nhìn đó là cái nhìn chánh kiến. Chánh kiến là ở đâu nó ra? Ở trong Bát Chánh Đạo chứ đâu. Chỉ có Bát Chánh Đạo mới cho người ta một cái nhận thức đúng đắn về bản chất chân thực của vũ trụ, bản chất chân thực của thế giới. Đó là lý do tại sao Bát Chánh Đạo được xem là Đạo đế, là con đường duy nhất dẫn đến giải thoát.
Làm ơn nhớ dùm tôi đó. Chứ khéo là những người không tin Phật hoặc là những người ngoại đạo, chính vì cái vô minh trong Tứ đế đó. Tôi nhắc lại nha, chính vì cái vô minh trong Tứ đế đó cho nên chúng ta mới có ba hành.
Chúng ta giảng lại cái điều vừa giảng ngày hôm qua. Vì vô minh trong Tứ đế, vì vô minh trong Tứ đế nên mới dẫn đến ba hành.
Phi phúc hành là mình chạy trốn cái đau khổ bằng cách mình sống bất thiện. Mình sống bất thiện. Thí dụ như mình khổ quá thì mình đi sát sanh, trộm cắp, làm các điều bất thiện để mình chạy trốn cái khổ. Rồi tưởng sao hôm một mình chết bị sa đọa thì lại còn khổ hơn nữa.
Rồi cái thứ hai là hành thứ hai, phúc hành, có nghĩa là mình tạo nghiệp. Vì mình muốn hết khổ cho nên mình làm các nghiệp thiện, dục giới và sắc giới. Dục giới có nghĩa là mình làm các điều trong thập thiện, như là bố thí, trì giới, phục vụ, nghe pháp, v.v. Những cái đó được xem là nghiệp dục giới, tức là những việc thiện.
Trì giới, phục vụ, nghe pháp, v.v. thì những cái đó được xem là nghiệp dụng giới, tức là những việc thiện. Những việc thiện được tạo bằng tâm đại thiện và thiện sắc giới thì được gọi là phúc hành. Được tạo bằng tâm thiện vô sắc thì gọi là bất động hành.
Chính vì vô minh, ái và thủ bốn đế, cho nên ta nói là có một trong ba cái: hoặc là phi phúc hành, hoặc là phúc hành, hoặc là bất động hành, để tiếp tục tái sinh trong tam giới. Tam là ba, tức là tiếp tục tái sinh trong ba giới, nên là dục giới, sắc giới và vô sắc giới.
Vị Phạm thiên trong bài kinh này, như đầu bài tôi đã giảng, vì chạnh lòng thương, nhìn thấy chúng ta ở cõi dục, một số thọ mạng ngắn quá đi, cứ đầu hôm với ai là đã chết. Trong kinh tế có nhiều vị trời, chư thiên cũng có, Phạm thiên cũng có. Khi nhìn thấy những dấu hiệu báo tin là Bồ Tát vừa nhận lời để mà giáng trần tu hành thành Phật, đản sinh, thì những vị đó nghĩ rằng: “Ta sẽ đến gặp Ngài.”
Có những vị khi nhìn thấy Bồ Tát đản sinh ở vườn Lâm-tỳ-ni thì cũng nghĩ rằng: “Khi nào Ngài thành đạo thì ta sẽ đến.” Có những vị thấy Bồ Tát bỏ nhà đi tu, trong rừng khổ hạnh lắm, thì nghĩ rằng: “Khi nào Ngài thuyết pháp thì ta sẽ đến đây nghe.”
Mà các vị có tin rằng có rất là nhiều vị cứ nghĩ như vậy thôi, mà vì thọ tuổi của loài người nó ít quá, nó ngắn quá. Chẳng hạn như cái cõi trời Dục thiên mà thấp nhất là cõi Tứ Thiên Vương, người ta cũng sống được rất lâu. Có nghĩa là 50 năm ở cõi nhân loại bằng một ngày đêm ở cõi Tứ Thiên Vương. Một trăm năm của nhân loại mình bằng một ngày đêm ở cõi Đao Lợi. Rồi hai trăm năm của nhân loại thì bằng một ngày đêm ở cõi Dạ Ma. Cứ như vậy, đi lên càng cao thì thời gian nó càng dài.
Cho nên khi họ nhìn thấy Bồ Tát đản sinh, hay là nhìn thấy Bồ Tát đi xuất gia, thấy Bồ Tát đi vào bốn cửa thành, họ nghĩ trong bụng là: “Khi nào thành Phật thì mình sẽ đến nghe pháp.” Mà chính vì họ sống lâu quá, cái khái niệm thời gian của họ không giống như mình. Cho nên đến lúc họ nhận ra, nhớ rằng phải đến hầu Ngài, thì có khi đó là họ chỉ có dịp để nhìn thấy Ngài trong đêm cuối cùng trước khi Ngài nhập Niết-bàn mà thôi.
Cái này là trong chú giải nói như vậy, trong chú giải Trường Bộ Kinh. Bài Đại Bát-niết-bàn được giải thích như vậy.
Có những vị mà họ muốn lắm, nhưng mà vì họ hẹn ước với nhau cho nên có người hỏi tôi: “Trên thế giới này, cái dân tộc nào mà cao sang nhất?” Thì tôi nói là cái dân tộc cao sang nhất không phải là người Mỹ, không phải là người Bắc Âu như Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan. Cũng không phải là dân Tây Âu như Thụy Sĩ, Pháp, Anh, Đức. Mà cái dân sang trọng nhất trong thế giới này đó là dân Việt Nam.
Là vì sao? Là bởi vì người Mễ có một câu, nó nói rằng: “Không ăn đậu không phải là Mễ. Không đi trễ không phải Việt Nam.”
Là vì mình từ cõi trời mình đi xuống. Mình từng sống ở trên cõi Phạm thiên, cõi Dục thiên quá lâu rồi, cho nên cái khái niệm thời gian của mình nó không có giống với các dân tộc khác. Mình rất là thong thả, thong thả lắm.
Khái niệm thời gian của mình không giống với các dân tộc khác. Mình có nghĩa là rất thong thả, thong thả lắm. Thế nên, người ta mời mình đi dự một sự kiện lúc 10 giờ, từ khoảng 12 giờ mình mới bắt đầu son phấn xong để rời khỏi tư gia.
Lớp đã thông báo rồi là 5 giờ sáng bắt đầu giảng. Mà trong khi đó, đến giờ này thì chỉ cái thân này ngồi giữ thôi. Chỉ cái thân này ngồi giữ thôi. Điều đó có nghĩa là một lát nữa, khi các vị vào thì tôi đã không còn nữa rồi. Ngày không còn nữa.
Mà cũng chính vì chỗ này cho nên vị Phạm thiên mới nói:
“Mạng sống chẳng là bao,
Bị già nua dẫn dắt,
Không có nơi dừng bước.
Ai đem tâm quán tưởng sự chết từ hôm nay?”
Mà cái này, tôi không nghĩ là ai đó nhắm vào, mà tôi nghĩ họ cố tình. Họ cố tình đóng cái vai trò giống như là cầm chịch, họ điều khiển đó.
Nhưng mà thật ra, các bạn biết rằng tôi chọn năm giờ là có cái ý chứ không phải không. Là bởi vì phải càng sớm càng tốt, để cho tôi có được nguyên vẹn một ngày mà không bận tâm. Càng trễ thì nó lỡ làng, dở dang, không đi đến đâu hết.
Cho nên, nguyên tắc là cách của người Âu Mỹ, có nghĩa là đúng giờ thì làm việc, dầu chỉ một người mà thôi. Thậm chí quý vị thử đi, ngày mai không ai vào lớp, tôi vẫn tiếp tục dạy. Tôi vẫn tiếp tục dạy là vì sao? Vì bên cạnh tôi cũng còn có người. Bên cạnh tôi còn có người thì tôi dạy cho một người nghe cũng được.
Tôi không dám so với Đức Phật, nhưng mà tôi học vui mỗi ngày là chỉ vì một người ngoại đạo tên là Upaka. Từ gốc bồ-đề, Ngài ra đi về thành Vương Xá để chuyển pháp luân, thay vì dùng thần thông mà đi, Ngài đi bộ để gặp cái người đó, gặp vị du sĩ ngoại đạo tên là Upaka.
Thực ra, ông này gặp Ngài không có một dấu hiệu gì đặc biệt hết. Ông thấy Ngài đẹp, ông chỉ hỏi thôi. Ông thấy Ngài hình như không phải là nhân loại. Ngài là một vị thánh, một ông tiên gì đó?
Ngài nói: “Không, ta không phải là ông thần hay gì hết, mà ta chỉ là một vị Phật, một người tỉnh thức, một người giác ngộ, vậy vậy thôi.”
Ông nghe vậy thì ông nói: “Cũng hay, cũng hay. Mong là đúng như lời Ngài nói.”
Để Phật biết được cái duyên của ổng, cho nên Ngài dặn rằng: “Mai sau, khi nào cảm thấy nhớ đến ta thì cứ đi tìm ta và hỏi như thế này: ‘Bậc Chiến Thắng đang ở đâu?’ thì sẽ có người chỉ đường cho.”
Chỉ dặn như vậy thôi.
Và về sau, cái ông Upaka này là một cư sĩ, không vợ con, không nhà cửa, đi lang thang. Ông được một người cư sĩ thương mến, đem về hầu hạ. Mà người cư sĩ này đã có một người con gái.
Đi lang thang, ông được một người cư sĩ thương mến đem về hậu đãi. Người cư sĩ này đã có một cô con gái. Nhiều khi vợ chồng ông cư sĩ bận rộn thì cô con gái chăm sóc, nấu nướng, bưng thức ăn ra vào. Cứ bưng riết như vậy, lâu ngày rồi ông nảy sinh tình cảm với cô này.
Ông cư sĩ nói cho cô biết thật ra ba má cô tuy mến ông, nhưng họ không có tu hành gì hết, họ làm nghề thợ săn. Còn ông thì tu cả đời, không có nghề nghiệp gì. Cho nên khi ông thương con gái người ta rồi ngỏ lời muốn cưới, người ta nói:
“Bây giờ ông không có nghề nghiệp gì hết. Tụi tôi làm thợ săn, tuy tụi tôi tu, nhưng đi đâu thì đi săn. Bẫy thú thường rải về, bẫy chim thường rồi xách về đây.”
Đại khái như vậy.
Bữa đó, cô vợ nói: “Con hát cũng hát rồi, mà không còn câu nào cao tao để hát.” Cô mới chế ra một khúc hát:
“Nín đi con, nín đi con,
Vì một chút tình, bỏ hết nợ nước mây.
Giờ trở về đi lượm thú, lượm chim trong rừng cây để mà sống.
Nín đi con, nín đi con.
Đứa con trai của người tu sĩ,
Ngày nào giờ đã bỏ mộng nước mây.
Trở về đây để mà đi nhặt,
Lượm cái xác chim, xác thú trong rừng cây.”
Ông nghe giọng hát, ông nói: “Trời đất! Ngày xưa thì trời đất bao la, lồng lộng. Bây giờ thương một người đàn bà dốt nát, quê mùa, không biết gì, quẩn quanh lôi chồng ra làm cái trò hề, mượn hình ảnh chồng để làm lời hát luôn.”
Ông buồn lắm. Ông chợt nhớ tới Đức Phật. Ông chợt nhớ tới Đức Phật, rồi theo đường đi tìm. Chẳng khác gì theo lời dặn xưa của Đức Phật, ông lại đi tìm bậc chiến thắng.
Khi ông vô Kỳ Viên, ông không hỏi như vậy, chứ ông không đến thì không gặp Đức Phật. Ông sống xuất gia, sau đó gặp bà A-la-hán. Người vợ của ông sau đó đi tìm chồng, dắt theo đứa con. Khi gặp ông rồi, ông cũng xuất gia và bà cũng gặp một vị A-la-hán.
Rồi một trường hợp nữa, chúng ta thấy nhiều lắm trong đời Đức Phật, tới hàng tỷ trường hợp như vậy. Một trường hợp cuối cùng là một chút giao tình, không phải giao tình mà một chút tùy hỷ thì đúng hơn, đối với người thợ rèn Châu Đà. Đức Phật đã về Câu-thi-na.
Phải nói là ông là một phần lý do. Đức Thế Tôn, trong bữa ăn cuối cùng đó, thay vì nhận lời của rất nhiều người tiếp tâm, như mình bây giờ đã là Hòa thượng, viện chủ, phương trượng một cơ sở nổi tiếng, thì trong những sự kiện trọng đại đó, người mà chúng ta nghĩ đến vẫn là những vị đại thí chủ hết.
Còn đằng này, Đức Thế Tôn đã chọn vào một nơi hẻo lánh, và bữa ăn cuối cùng cũng không có thông báo với ai hết. Thay vì người đại gia gì đó, Ngài về ở đây, Ngài nhận lời của một người thợ rèn.
Điểm đặc biệt trong đời Đức Phật, những hình ảnh đẹp nhất mà tôi lưu ý lắm, chính là những gì rất là bình thường, những gì nhỏ nhặt nhất. Chẳng hạn như trước khi Ngài viên tịch, mình cứ tưởng một bậc đại giác như vậy thì trước khi nhập Niết-bàn, sẽ có những sắp xếp, hướng về những đại sự về sau. Mà không, chủ yếu là những chuyện li ti, lỉnh kỉnh. Chuyện lớn đã giải quyết rồi.
Tức là tôi có mấy ngày liên tục thuyết giảng về các pháp bất thối, để gìn giữ những gì mới của Tăng già mai hậu.
Giảng xong rồi, tức là tui có mấy ngày liên tục thuyết giảng về các pháp, để nhìn những gì mới của Tăng-già mai hậu. Nhưng mà trong những ngày tháng cuối đó, tui nhắc đến những chuyện mà tui không có tưởng tượng được.
Lúc như thế này, ngài dặn ngài A-nan: “Sau này ta mất rồi, khi nói chuyện với nhau, nên rõ ràng một chút, nên có tôn ti một chút. Nhỏ gọi lớn là Bhante, mà lớn gọi nhỏ là Āvuso, chứ không nên kêu tên nhau như từ đó tới giờ nữa.”
Cái chuyện đó, đối với tôi, nghĩa là chuyện nhỏ thôi. Một bậc đại giác mà ngài còn bận tâm đến chuyện đó.
Rồi ngài còn bận tâm một chuyện nữa. Ngài dạy ngài A-nan: “Sau khi ta mất rồi, thế nào cũng có tiếng đồn xấu về ông thợ rèn Cunda. Người ta nói rằng Như Lai, vì ăn bữa cơm cuối cùng của ông Cunda, mà bị lâm trọng bệnh rồi viên tịch.”
Thì A-nan hãy nói, hãy an ủi cho Cunda rằng trong đời Như Lai chỉ có hai bữa cơm được xem là cơm có phước lượng. Đó là bữa cơm trước khi ta thành đạo. Nhờ bữa cơm đó mà ta có sức lực để thiền định và trở thành một vị Chánh đẳng giác. Bữa cơm thứ hai đó là bữa cơm cuối cùng trong đời một vị Chánh đẳng giác. Sau khi Như Lai nhập diệt, người ta sẽ nghi ngờ như vậy. Hãy nói với Cunda rằng đó là hai bữa cơm quan trọng nhất trong đời một vị Chánh đẳng giác. Hãy an ủi Cunda như vậy.
Chưa hết, ngài còn dặn ngài A-nan, ngài A-nan. Khi ta mất rồi, kheo Channa xưa giờ rất là kiêu ngạo. Chỉ vì cái công là người đánh xe, người nài ngựa đưa ta đi xuất gia, từ đó sinh tâm kiêu ngạo, không tôn trọng ai hết, không nhận lời nhắc nhở, dạy dỗ của ai hết.
Khi ta mất rồi, để giúp đỡ Channa, hãy dành cho Channa một thời gian. Chỉ phạt cho là phạm đàn đó, tức là đừng nói gì hết. Để cho đến lúc nào đương sự cảm thấy hối hận, đương sự muốn an năng sống thôi, thì lúc đó mình phải nhìn mặt ra mà làm. Đó chính là tôn trọng và bảo vệ pháp, trợ Bồ-đề, bảo vệ pháp Bồ-đề Phật.
Thì phải nói là những giây phút cuối cùng của mình sẽ đáng giá, đẹp như vậy đó. Đẹp không phải là vì những chuyện ghê gớm, to tát, mà đẹp là vì người quan tâm đến tất cả những việc cần thiết. Còn nó lớn hay nhỏ là trong mắt của người đời thôi.
Cho nên, trong tinh thần đó, trong lý tưởng đó, tôi nghĩ rằng mỗi người trong chúng ta, cái gì cần làm thì làm, còn điều kiện, bối cảnh ra sao thì tùy duyên vậy.
Bây giờ mình nói với nhau là năm giờ mình bắt đầu. Thì giờ, có một điều mình cũng nói thật là, tôi nghĩ rằng cho đến hôm nay tất cả mọi người đang run. Có nhiều người vẫn không hiểu lý do tại sao có lớp học này. Có người còn ngờ những lý do rất là bất thiện nữa.
Tôi xin thưa rằng chỉ có một lý do nghiêm nét thôi. Hơn mười năm nay, thỉnh thoảng tôi vào room, tôi vào trong YouTube hoặc các trang web có phần audio giảng pháp đó, tôi có một chút nhịp mình, sợ hãi, bối rối, chạm lòng. Thấy rằng rất là khó hiểu, nghi Phật, tự Nam tông, Bắc phái. Cái số người mà hiểu Phật pháp, tôi nghĩ đâu có nhiều lắm.
Ấy vậy mà rất là khó hiểu. Nghĩ Phật tử Nam Tông, Bắc Phái, cái số người hiểu Phật pháp, tôi nghĩ đâu có nhiều lắm.
Có những người biết ngoại ngữ nhiều lắm, mà tôi hoàn toàn không hiểu vì sao khi đọc kinh tạng, người ta hoàn toàn không đề cập gì đến cái gọi là chú giải hết. Tôi rất lấy làm lạ. Họ cứ lật trong bộ kinh ra, nhìn bản dịch của Hòa thượng Minh Châu, rồi dùng những kiến thức tiếng Việt của họ để nghĩ ra làm sao thì họ giải y chang như vậy.
Chẳng hạn như bài kinh sáng nay. Bài kinh sáng nay là một bài kinh, trong đó có chữ “công đức”. Có cái chữ “công đức” trong bài của ông Phạm Thiên: “Ai đem tâm quán tưởng sự hoại tử bóng này, hãy làm các công đức...” Ai mà đem tâm nghĩ thật kỹ mà không hiểu chữ “công đức”, cho nên chỗ này mình cứ đè ra giảng “công đức”, tức là bà con làm bố thí, trì giới. Thiệt, giảng như vậy cũng không đến nỗi sai, nhưng mà nó không sát với nội dung bài kinh. Phải nói như vậy.
Chưa hết đâu. Chỗ này, tôi nói rõ, mình có lệch một chút cũng không sao. Nhưng mà có những bài kinh rất là quan trọng, mà mình cứ trình bày theo cách nghĩ cá nhân thì kẹt ghê lắm, kẹt ghê lắm.
Thứ nhất là bản thân mình không có điều kiện để tiếp xúc với cái gọi là pháp ngữ Phật thân. Mà điều thứ hai là mình cũng không cho người nghe một cơ hội để tiếp cận với lời dạy nguyên thủy của Đức Phật. Mà không có gì đáng biết bằng tuệ giác của một vị Chánh Đẳng Chánh Giác được diễn giải bởi trí tuệ phàm phu. Phải nói đó là một trong những điều thật là đáng tiếc, phải nói như vậy đó.
Chính Hòa thượng Làng Mai, Hòa thượng Thích Nhất Hạnh, trong một bài viết, tôi nhớ không lầm là bài “Đi như một dòng sông”, hình như vậy, không biết có lầm không. Trong đó, Hòa thượng nói một câu mà tôi rất là tâm đắc. Hòa thượng nói: “Cái điều đáng tiếc nhất là những tuệ giác, những suy tư sâu sắc và cực kỳ minh triết của Đức Phật đã bị phàm phu đời sau diễn dịch theo cái nhãn quan thiển cận của họ, và họ áp đặt lên những diễn dịch đó hai chữ ‘Phật ngôn’.”
Phật không có nói như vậy. Mình giải thích cái ý của mình rồi mình gắn chữ “Phật ngôn” lên đó, có phải là mình nói oan cho Ngài không? Ngài có tầm thường như vậy không? Ngài có nông cạn, thiển cận như vậy không? Mà mình cứ tùy tiện. Một phần mình nghĩ thính chúng lại dốt, cho nên mình tha hồ mình nói sao thì nói.
Tôi nhớ Việt Nam có cái này vướng. Mình nói hay, nói dở cái gì đi nữa thì họ cũng cúng dường. Nói hay, nói dở cái gì thì họ cũng xây chùa. Nói hay, nói dở cái gì đi nữa, cứ thuyết trên pháp đài là được gọi là pháp sư. Nói hay, nói dở cái gì đi nữa, có một lớp học là được gọi là giảng sư.
Nhiều khi mình chỉ nên đi giảng, chỉ dạy cho người ta cách đọc kinh mà thôi. Hoặc là giảng Pháp Cú thôi. Pháp Cú là có câu chuyện, cứ đem chuyện ra mà kể. Kể xong rồi mình tán hươu, tán vượn chút xíu. Vậy đó là coi như có một lớp học Pháp Cú.
Mà tôi còn có một chuyện rất là lạ nữa. Kinh điển mình rất là nhiều, mà mặc kệ chuyện gì, mình cứ đem Pháp Cú ra mà coi nó giống như lá cờ của Nam Tông. Rất là lạ chứ.
Cho nên ở Jacksonville, một thành phố bên Mỹ, có ông đó tìm cách nói cho tôi vui.
Sao? Rất là lạ chứ.
Cho nên, ở bên Jacksonville của thành phố, ở bên Mỹ, có cái ông đó. Ổng tìm cách, ổng nói cho tôi vui. Mà cái cách của ổng đó, tôi nghe rồi, chỉ muốn ổng chết sớm thôi.
Ổng nói thế này: “Con đọc kinh Nam Tông chứ. Tại vì thầy nói con Bắc Tông chứ, con học đọc kinh Nam Tông.” Thầy biết là, coi như cái giáo lý Đức Phật, Phật pháp thì nếu còn đọc kiểu đó, coi như còn độc, kiểu độc chết hoặc lùi không biết bao nhiêu lành. Ông chẳng nói vậy cho tôi vui. Nhưng mà tôi nghe, tôi càng tham hạnh.
Bởi vì hôm nay, cái quyển đó đâu có đủ để gọi là đại diện, là tiêu biểu cho giáo lý Duyên khởi, giáo lý Tứ đế đâu. Ông chỉ biết cái phần của đó. Sau này tôi mới phát hiện ra là, thì ra ông chui vào trong mấy cái lớp, mấy cái rung. Ông chỉ nghe để coi cái tình đó thôi.
Mà mình đánh giá, mình nhận xét về Phật pháp thông qua hai cuốn đó thì tôi không nói tôi chê nhé, nhưng mà hơi nghèo. Cái gia tài của ông bố mình để lại gồm có 84.000 kho tàng, trong đó còn hàng hà sa số những nhà kho chứa đầy châu báu. Tự nhiên mình hốt ra có một nắm thôi thì: “Ổn quá, ổn quá! Có 84.000 nhà kho đầy châu báu, mà bây giờ mình hốt ra phần mắm, mình hốt ra phần bột thô, bột thúng thôi.” Rồi mà mình cứ đi đâu cũng la làng: “Đây là cái của ông để lại.”
Trách thì không có trách, nhưng mà nó chưa có tới, nó chưa có tới.
Cho nên, cái lý do ra đời của cái văn này chỉ là một chuyện rất là đơn giản, rất là nhỏ thôi. Nó mong sao sẽ là một cái tiếng giải ý cho những vị mà sẽ giảng kinh tạng sau này, hoặc là đang giảng kinh tạng bây giờ. Tôi không biết là ở đâu và là vị nào, tôi không biết. Nhưng mà tôi rất mong là cái lớp học này nó chỉ là một cái que nhỏ, nó là một tiếng động nhỏ để nhắc nhở thiên hạ rằng: hãy giải thích kinh tạng theo chú giải đi; rồi giải thích Luật tạng, giải thích A-tỳ-đàm tạng theo chú giải đi. Chứ còn mình suy diễn, mình diễn dịch theo cái ý của mình thì lâu ngày nó không còn gì hết.
Trong kinh nói, Đức Phật kể dạy rằng, mấy vị vua chúa xưa đó có một cái địa phương tên là Āṇaka. Địa phương đó có một cái trống bằng da, tốt lắm. Nói chung là mỗi lần có chuyện gì cần hỏi bà con dân chúng thì người ta đánh cái trống đó lên. Lâu ngày thì cái trống nó có cái tên, là cái trống Āṇaka.
Giống như mình có cái trống đồng Ngọc Lũ, trống đồng Đông Sơn vậy đó. Dĩ nhiên, cái tên, cái lý do đặt tên này có khác nhau, nhưng điểm giống nhau là cái trống nó cũng có cái tên.
Rồi cái trống đó bằng da, cho nên về lâu dài thì cũng có lúc nó bị mòn, bị hư, bị lủng. Cho nên người ta mới dùng da để vá nó lại. Lúc đầu vá một lỗ, hai lỗ; sau cùng vá tám lỗ, mười lăm lỗ, mười bảy lỗ, hai mươi lỗ. Mà vá nhiều bao nhiêu đi nữa thì cái trống nó vẫn mang cái tên là trống Āṇaka.
Và đến giờ dạy này, cả Tỳ-kheo khắp nơi, một ngày kia thì cái hình dáng, cái chất lượng của cái trống cũ hoàn toàn không còn nữa, nhưng mà người ta vẫn cứ gọi đó là cái trống Āṇaka.
Cũng vậy này, Phật tử, sẽ có một ngày, sẽ có một thời, cái giáo pháp của Như Lai bị hiểu sai, bị diễn giải, bị diễn dịch sai lạc, bị xuyên tạc toàn bộ mà người ta không biết. Và người ta vẫn cứ gọi đó là lời dạy của Đức Phật, lời dạy của Như Lai. Đó là một điều rất là đáng tiếc.
Sẽ có một ngày mà chúng ta vào chùa, chúng ta sẽ thấy toàn là cúng bái, xin xăm, thờ phụng, tạo tượng, cầu thiên phước. Nam mô bắt đầu.
Một ngày mà chúng ta vào chùa, chúng ta sẽ thấy toàn là cúng bái, xin xăm, thờ phụng, tạo lập, cầu thiên phước, nam mô... Bên ngoài đều nói rằng phủ tấm bảng to đùng đó là chùa, chùa gì đó, đạo tràng gì đó.
Mà có một cái chuyện rất là lạ lùng, rất là khó hiểu và rất đáng tiếc. Đó là toàn bộ Phật pháp, Phật giáo hôm nay được đặt trên cái nền tảng của Tam Tạng, người ta chú ý nhất. Đó là một điều rất là đáng buồn.
Trong khi đó, thật sự, thật sự, cho tôi nói cái câu này dễ ghét một chút. Tôi chỉ ví dụ thôi nha, tôi chỉ ví dụ thôi. Tôi không có ý gì.
Nếu mà đúng là cái chùa của tôi và Phật tử đúng là những người đệ tử của tôi, học trò của tôi, thì tôi nghĩ rằng, thứ nhất, trong chùa tôi, tôi sẽ dành cho Phật tử Đại Tạng một cái vị trí quan trọng cực kỳ. Và thay vì làm tháp thờ xá lợi, tôi sẽ làm cái tháp thờ Kinh Tạng.
Vì sao? Là vì xá lợi, tôi không có tin. Tôi không tin xá lợi. Không phải là vì tôi không tin Phật, không phải là vì tôi không tin Phật, gọi là tôi không có niềm tin về xá lợi, đúng không? Là vì tôi quá quý Đức Phật đi, tôi quý Ngài đến mức mà tôi nghĩ rằng, Ngài nhiều lắm thì Ngài để lại khoảng năm ký xá lợi thôi, rất là nhiều lắm.
Mà hỏi chứ, trong hằng hà sa số hữu tình, có biết bao nhiêu người có thần thông, có đức độ, mà họ muốn thờ xá lợi của Đức Phật? Họ xứng đáng hơn mình nhiều. Chư Thiên, Phạm Thiên trong hằng hà sa số vũ trụ, họ muốn đến.
Cái lá y mà Ngài mặc, người ta còn đem đi thờ. Cái nắm tóc mà Ngài bỏ đi trong lúc Ngài xuất gia mà đi tu, người ta còn đem về thờ. Thì có nghĩa là một chút xá lợi, chút xương của Ngài khi đã thành Phật, còn quý kể vào nữa. Mà mình tu hành đàng hoàng thì Chư Thiên hẳn còn cho mình thờ. Chứ mình tu hành cái kiểu cẩu thả, cái kiểu mà tào lao, thì đời nào Chư Thiên để cho mình?
Thì tôi không ích tin là hôm nay trên hành tinh này mà còn có xá lợi của Phật. Nếu có, đó là hiếm ghê lắm. Cái chỗ đó phải có cao tăng thạc đức tu hành kinh hoàng lắm.
Cho tôi thưa với các vị một chuyện, tại vì rất là phiền nha, mà tôi vẫn phải nói. Tôi, Tuệ Khanh, không tin xá lợi ở chỗ đó. Tôi nghĩ là có, là có ở đâu chứ trên hành tinh này. Mình tu với những cớ chớn mà làm gì Chư Thiên để cho mình?
Tôi nghĩ cái quan trọng hơn đó chính là cái Kinh Tạng. Mà hỏi một chỗ Kinh Tạng, Phật tử, Kinh Tạng có chùa, có chùa không? Mà nếu có thì Phật tử họ cũng chẳng biết cái trong đó là cái gì. Cái đó ra mềm dần quá. Chứ cái chỗ đáng mà quỳ lạy, đáng thắp hương, đáng dâng hoa, dâng tài chính, chính là cái Kinh Tạng. Thì đó là cái gốc của Phật giáo.
Điều thứ hai, nếu là học trò, là đệ tử của tôi, thì cái chuyện đầu tiên là tôi phải... Trong chùa đáng lẽ thờ Tam Tạng, dạy Tam Tạng, mà Phật tử, đệ tử mình cũng phải hướng dẫn họ đọc hết á.
Phải nói như vậy. Trong chùa, đáng lẽ như thế nào thì phải dạy tâm tánh, mà Phật tử, đệ tử mình cũng phải hướng dẫn họ đàng hoàng hết. Bởi vì họ chỉ là Phật tử khi họ biết dung hóa trong tâm tạng. Còn không thì họ thành cái thứ tào lao như thứ gì đó.
Có một chuyện vô cùng, vô cùng quan trọng, đó là càng hiểu nhiều Phật pháp thì công đức lúc mình bố thí, trì giới sẽ lớn hơn.
Trong Kinh tạng có nói là thiện hợp trí và thiện ly trí. Đây là các tâm thiện mà có trí đi kèm. Đừng có tưởng cái tâm thiện hợp trí của tôi, của ông A và của ông B giống nhau. Không phải. Tâm đại thiện hợp trí của ông A khác của ông B, là vì cái biết của ông A nhiều hơn hoặc ít hơn ông B. Điều đó bắt buộc phải hiểu như vậy.
Bà con nào có lòng nghi ngờ, tôi xin cực kỳ đại giá quang lâm về núi Dinh để gặp ngài Hộ Pháp hỏi: “Có phải như vậy không?” Giáo viên nói như vậy đó. Họ nói rằng tâm đại thiện hợp trí của ông A và ông B không giống nhau, là bởi vì trí của ông A không giống trí của ông B.
Mình càng biết nhiều về Đức Phật thì khi mình lạy Phật, lòng kính Phật cũng càng nhiều hơn. Còn mình mù mờ về Đức Phật thì mình lạy Phật giống như mình lạy một ông thần vậy đó.
Mà khó một chỗ là Phật tử không được nhắc về chỗ này. Cứ cắm đầu cắm cổ làm từ thiện, cứ móc túi móc tiền ra mà cũng không đi học. Càng dốt Phật pháp chừng nào thì cái tâm hợp trí của mình nó càng nhỏ, càng bé, càng ít tác dụng như thế.
Mắc cái duyên gì mà vô chùa sợ Tam tạng, sợ kinh điển, sợ kinh kệ, hay sao mà không dám học? Lạ luôn như vậy. Đi nói xấu tâm nguyên thì dám nói, mà đi học đạo thì sợ bị la. Vì sao? Là bởi vì người Việt Nam mình sang nhất thế giới. Mình từ cõi trên xuống mà, coi thường thời gian, coi thường cơ hội gặp chánh pháp. Bởi vì mình là người cõi trên, có nghĩa là mình không gặp Phật này thì mình gặp Phật khác. Mình là con nhà giàu mà.
Chứ còn đúng là người Miến Điện, họ xuất thân là con nhà nghèo, cho nên cái gì họ cũng quý hết. Cơ hội học Phật pháp họ quý, cơ hội trau dồi thiện pháp họ quý, cơ hội hành thiền họ quý lắm.
Còn mình thì ở trên cõi cao mà xuống, mình coi nó không ra gì hết. Chỉ có con nhà nghèo, nó gặp cái gì nó cũng lĩnh hội vào tới. Chứ con nhà giàu, nó gặp gì cũng coi thường, nó chối chác, nó đâu còn quý gì đâu.
Cho nên, làm gì làm, tôi vẫn tự hào về người Việt Nam, bởi vì tôi là một bộ phận của chín mươi triệu người xuất thân từ cõi cao xuống. Coi thường thời gian, coi trăm năm chỉ là chuyện nhỏ, muốn xài sao thì xài. Cho nên tôi nhắc lại.
Nãy giờ tôi không nghe lạc đề, tôi chỉ tô đậm cái bài kinh học tôi đang giảng thôi. Ý thức được thời gian, làm ơn làm cái gì đó cho nó đáng.
Cái cơ hội làm người đó, ngày trước tôi đọc kinh rằng cái cơ hội mà một con rùa mù, trăm năm mới chọc đầu lên biển một lần, mà chui đúng với cái lỗ ván đó, là một cái cơ hội rất là hạn hữu. Xác suất của nó rất là thấp.
Giữa cái lỗ ván đó là một cơ hội rất là hạn hữu, xác suất nó rất là thấp, possibility của nó rất là thấp. Nhưng mà Đức Phật Ngài dạy rằng cái cơ hội làm người còn khó hơn chuyện một con rùa thỉnh thoảng đưa cái đầu lên biển mà có thể lọt vô cái lỗ của một khúc gỗ.
Ngày xưa tôi nói, chắc cái này trong kinh dọa tôi, mình sợ thôi. Nhưng mà bây giờ tôi già rồi, râu tóc bạc, tôi tin nó có. Bởi vì trong một ngày, mình sống bằng cái lòng, bằng cái tâm của con người, nó không có nhiều. Sống toàn bằng cái tâm thú thì nó nhiều lắm.
Tâm thú là làm sao? Đói ăn, khát uống, đực cái tìm nhau. Và cái thứ tư, đó chính là ai đụng tới mình thì mình phản ứng, tự vệ. Cho nên con thú cũng y chang như vậy: đói ăn, khát uống, giao phối, rồi tự vệ. Ai mà đụng tới nó thì nó phản ứng.
Thì mình y chang như vậy. Dù mình có bằng bác sĩ, tiến sĩ, luật sư, cái gì đi nữa, thì mình cũng vẫn có một cách sống đó thôi. Nếu mình sống như cái gì thì khi chết, mình sẽ về với cái cảnh giới đó. Mình sống như Phạm Dục Thiên, mình sẽ về với Phạm Dục Thiên. Mình sống như Dục Thiên, mình sẽ về với cõi Dục Thiên. Mình sống như nhân loại, mình sẽ về với cõi nhân loại. Mình sống như loài đọa xứ thì mình sẽ về với cõi đọa xứ, đại khái như vậy.
Các vị, tôi nhắc lại, các vị có nghi ngờ tôi thì các vị về núi Vinh, hỏi sư tổ của các vị có đúng như vậy không. Tức là mình sống mạnh với cái tâm của loại nào thì mai mốt mình sẽ về, mình cộng trú với loại đó.
Cho nên cái gì quan trọng nhất là cái kết nối, cái gần gũi. Và cái điều mà làm ơn quý vị làm ơn nhớ là chúng ta có một trăm đồng, mình chia thành năm tờ, mỗi tờ hai mươi đồng. Mình có một trăm đồng, mình đổi ra năm tờ hai mươi đồng, rồi mình đánh số từ số một đến số năm, thì cái giá trị của tờ số một y chang như cái giá trị của tờ số năm, có đúng không?
Tôi nhắc lại, chúng ta có một trăm đồng, chúng ta đổi ra năm tờ hai mươi đồng và đánh dấu số một, số hai, số ba, số bốn, số năm, thì cái giá trị của tờ hai mươi đồng mình đánh dấu là số một y hệt như cái tờ hai mươi đồng mình đánh dấu số năm. Các bạn có nghe kịp không?
Mình có một trăm đồng thì mình đổi ra năm tờ, mỗi tờ có giá trị giống nhau. Tuy nhiên, trong một trăm năm của kiếp người thì nó không có như vậy. Làm ơn nhớ dùm nha, một trăm năm của kiếp người, mình không thể chia ra năm phần rồi nói năm phần nó giống nhau.
Vì sao? Vì hai mươi năm đầu đời mình có biết cái gì đâu. Hai mươi năm đầu đời mình có biết cái gì đâu. Năm hai mươi tuổi mình bắt đầu chớm trưởng thành thôi. Rồi tiếp sau đó là từ năm hai mươi cho đến bốn mươi, giai đoạn đó mình suy nghĩ ngon lắm. Bốn mươi tới sáu mươi, suy nghĩ cũng ngon lắm. Nhưng mà từ sáu mươi cho đến tám mươi, các vị tưởng tượng hai mươi năm đó nó ra làm sao?
Như vậy thì làm ơn nhớ lại: một trăm đô la đổi ra năm tờ hai mươi thì giá trị các tờ giống hệt nhau. Một trăm đô la đổi ra năm tờ hai mươi, giá trị của các tờ hoàn toàn giống nhau.
Ra 5 tờ 20 thì cái giá trị của các tờ giống hệt nhau. 100 đô la đó, ra 5 tờ 20, giá trị của các tờ hoàn toàn giống nhau. Nhưng 100 năm kiếp người được mình chia ra thành 5 phần thì mỗi phần như vậy, giá trị không giống nhau.
20 năm đầu đời coi như là vất đi, không có xài được. Rồi mình chỉ xài được từ 20 cho đến 40, 40 cho đến 60, chỉ được có 40 năm đó thôi. Bởi vì từ 60 cho đến 80 là bắt đầu bệnh hoạn tràn về. Nghe, nó tràn về. Có nghĩa là cao máu, dư mỡ, dư đường, gan, thận, mật rồi bầu tử, tiểu tiện, cái gì đó là lúc đó nó xảy ra, từ 60 đến 80.
Rồi từ 80 đến 100, tôi không cần nói. Các bạn biết chuyện gì rồi. Từ 80 đến 100 là giai đoạn, nói ra nó hơi thảm, giai đoạn là đang chờ vất đi. Đang chờ vất đi.
Cho nên phải nhớ cái so sánh đó mới thấy cái bài kinh này là bài kinh đáng để mà lưu trọng.
Thì ông Phạm Thiên, ông nói là sống ít quá, phải ráng mà tu thì nếu trời sống lâu hơn. Đức Phật mới giải thích, Ngài mới nói ra là sợ chết mà tu thiền, nó về cõi trên thì mai mốt sống hết cái tuổi thọ, nó cũng lăn xuống chết nữa, lăn xuống cũng trở về cái cõi yếu nữa. Cho nên Ngài cũng dựa vào cái bài kệ của Phạm Thiên, Ngài mới sửa lại một câu.
Ông ấy nói thế này: “Ai đem tâm quán tưởng sự hãi tử vong này, hãy làm các công đức.” Phạm Thiên nói là “hãy làm các công đức”. Thì trong chú giải mới giải thích, “làm các công đức” ở đây có nghĩa là huân tập các tầng thiền định để về Phạm Thiên.
Đức Phật lại nói khác: “Ai đem tâm quán tưởng sự hãi tử vong này, hãy bỏ mọi thế lợi.”
“Thế lợi” là lokāmisa. Lokāmisa, chữ “ka” này có dấu trường âm nha. Chữ “ka” trong lokāmisa có dấu trường âm.
Cái chữ này đó, trong trường hợp này, nếu mà mình không có đọc chú giải hết, mình dùng cái kiến thức, dùng cái kiến thức hằng việc của mình, thì mình dạng đã lắm. “Thế lợi” đây tức là danh lợi, vật chất của thế gian, đúng không? Là những lợi vật của thế gian rồi bắt đầu mình mới đem nó diễn giải thành danh lợi. Cái đó nó không có trật, nhưng mà nó không có đủ.
Cái chữ này nó chỉ cho cái gì? Nó chỉ cho cái ba hành.
Làm ơn ai copy vô trên cái chỗ ba hành xuống dùm tôi đi.
Phi phúc hành đó là các ác nghiệp mà dẫn đến đọa xứ. Còn phúc hành đó là thiện nghiệp mà được làm bằng tâm đại thiện và thiện sắc giới. Còn bất động hành thì là các nghiệp vô sắc.
Cho nên chính vì thế, ở đây phải định nghĩa là ba hành.
À, cho nên hồi nãy đó là lý do tại sao tôi thấy tự nhiên, tự nhiên cái chỗ làm tôi nổi hứng nên tôi xách cái ba hành ra, tôi dạy cho chỗ đó. Là bởi vì tôi phải đi một cái vòng để cuối cùng tôi có thể đưa nó về trở lại. Đằng kia tôi không thể giải thích nữa, tại vì tôi đã giải thích rồi. Tôi đã giải thích rồi. Tức là tôi đã giải thích ba hành là cái gì rồi.
Mà ba hành này ở đâu nó ra? Là nó từ bốn cái vô minh. Bốn cái vô minh ở đây là vô minh trong khổ, trong tập, trong diệt và trong đạo.
Bây giờ tôi xin lớp hỗ trợ tinh thần tôi một chút được không? Bây giờ lớp cho tôi một câu: thế nào là vô minh? Thế nào là vô minh trong khổ đế, được không? Các bạn viết cho tôi cái câu đó, các bạn trả lại tôi cái câu đó được không? Vô minh trong khổ đế là gì?
Dễ sợ thiệt chứ. Mình ngồi mình nói bể cái cổ rồi, cuối cùng thì không có ai mà nói cho mình biết cái vô minh trong khổ đế là cái gì. Mà may là mình nói bằng miệng, mình viết ra bằng chữ.
Ông có ai nói cho mình biết cái vô minh trong khổ đế là cái gì không? May là mình nói bằng miệng, mình viết ra bằng chữ. Tại sao những người này có thể sống được ở trên bờ này, mình nghĩ là lạ chứ. Người Việt Nam mà nói sang như vậy. Rồi, cảm ơn. Không biết mọi người nghĩ là khổ. Rồi, cái vô minh trong tập đế là sao?
Do vô minh này, nó dẫn đến tam hành. Cho nên khi Đức Phật dạy: “Ai đem tâm quán tưởng sự hoại tử vong này, hãy bỏ mọi thế lời, tâm hướng cầu tịch tịnh”. Tịch tịnh ở đây là chỉ cho Niết-bàn. Tịch tịnh ở đây là Niết-bàn.
Cái quan trọng nhất của người Phật tử là gì? Là phải biết có bốn thứ chân lý này. Cái quan trọng nhất của người Phật tử là phải biết bốn đế. Bởi vì Bắc Tông không phải chửi, Nam Tông nói là Tiểu thừa, chỉ biết bốn đế. Mà thật ra, bốn đế là toàn bộ vấn đề của vũ trụ, là toàn bộ vấn đề của sinh tử, là toàn bộ vấn đề của phàm và thánh. Nghe? Toàn bộ vấn đề của phàm và thánh.
Cái vấn đề là chúng ta không biết bốn đế là cái gì. Chúng ta tưởng bốn đế là một bài học giáo lý nhỏ xíu, chỉ dành cho mấy thằng dốt, mấy thằng tiêu nha bại trúng, Tiểu thừa hạ căn độn trí. Nghe? Chứ nếu mà chúng ta hiểu được chữ, hiểu được bốn đế một cách sâu sắc, rộng rãi, thì bốn đế là toàn bộ vấn đề.
Làm ơn nhớ lại dùm là bài kinh Chuyển Pháp Luân nha. Bài kinh Chuyển Pháp Luân nội dung nói gì? Có ai biết không? Nếu có ai biết thì mời cho tôi xin mấy chữ được không? Có ai biết bài kinh Chuyển Pháp Luân không? Tôi mà là quý vị đó, hết là tôi đã đi vô Google rồi để tìm. Tôi đã đi tìm bài kinh Chuyển Pháp Luân, coi đằng đó nói cái gì.
Bốn đế chỉ bốn chân lý. Các bạn hãy thử tưởng tượng đi. Nếu mà bốn chân lý là một vấn đề nhỏ, một vấn đề tào lao, một vấn đề tầm thường, thì một việc chấn động, chấn động đến mức như vậy, làm sao mà đem bốn cái này biến thành cái đề tài để mà Chuyển Pháp Luân?
Khi Ngài giảng bài kinh Chuyển Pháp Luân, hàng ngàn vũ trụ bị rung động, bị chấn động. Chỉ chấn động chứ không phải bình thường. Cho nên làm ơn nhớ kỹ lại là cái hiểu của tụi mình về bốn đế có vấn đề, chắc chắn là có vấn đề.
Tôi mong rằng sau lớp học này, bà con làm ơn nhớ kỹ rằng mình học Phật, dầu là Nam Tông hay toàn tông, làm ơn nhớ kỹ, hãy nhớ lấy một khái niệm rất là căn bản của bốn đế. Còn mình ậm ờ là kẹt lắm.
Tôi còn nhớ một chuyện. Học xong về Sài Gòn, tôi có gặp mấy cô cư sĩ nữ. Cái chuyện này giống như chuyện ngoài lề, dữ tào lao, nhưng mà tôi không nói là tôi ngủ không được. Nghe, tôi nói với họ rằng thật ra chúng ta còn rất là nhiều chuyện phải làm trong việc học hiểu Phật pháp.
Ví dụ, tôi hỏi một cô Phật tử, tôi quên mất cái tên này tại vì cô tào lao quá, không nhớ, tôi cũng mắc ốc, tôi cũng làm hết. Tôi hỏi cô này: “Giữ giới là làm sao? Giữ giới là làm sao?”
Cô nói: “Không mà, không mà, không mà”, mà đại khái ý của cô là giữ giới có nghĩa là không phạm giới.
Tôi quỳ xuống, tôi van xin, tôi cầu khẩn, tôi mong lạy bà con, đừng bao giờ hiểu giữ giới là như vậy. Là chết rồi.
Các bạn hiểu không? Giữ giới có nghĩa là không phạm giới là chết rồi. Một đứa bé còn bú, nằm ở trong nôi, nó làm sao mà phạm giới? Như vậy thì mình nói là nó đang giữ giới được không? Không!
Một ông sư mà trần mình nằm ngủ triền miên, khò khò, thì làm sao mà phạm giới đây?
Vậy là nó đang giữ giới được không? Không! Một ông sư mà trùm mền nằm ngủ triền miên, khỏi lo lửa, thì làm sao mà phạm giới đây? Như vậy thì ông sư mà mê ngủ được là ông sư giữ giới trong sạch hay sao? Không!
Giữ giới có nghĩa là gặp hoàn cảnh thử thách hoặc cám dỗ, lẽ ra phải phạm nhưng mình không phạm. Thì đó mới gọi là giữ giới.
Còn mình không nhớ rằng mình là tỳ-kheo, mình không nhớ rằng mình là sa-di, mình không nhớ mình là tu nữ giữ bát giới, mình không nhớ mình là người Phật tử giữ năm giới. Tự nhiên mình đang đi chơi, mình chạy xe tăng tăng ngoài đường, cái gì cũng không bắt, thì làm sao gọi là người giữ giới? Chắc chắn là không thể nào gọi như vậy được.
Có nghĩa là giới chỉ được kể là giới khi nào mình có lòng tác ý mà thôi. Các bạn hãy nhớ một khái niệm khác này: Giữ giới là gặp hoàn cảnh thử thách, cám dỗ, lẽ ra phải phạm nhưng mình không phạm. Cái đó mới là giữ giới.
Chứ còn nếu mà chỉ đơn giản không phạm mà gọi là giữ giới thì dễ ẹc. Buổi sáng mình vô trường, xong rồi về nhà mình uống thuốc ngủ, ngủ một mạch tới chiều tối, rồi nói là mình giữ giới trong sạch. Nó sạch như pha lê luôn. Thí dụ như vậy, không phải. Cái đó mới là giữ giới.
Mà giữ giới có nghĩa là mình sống bình thường. Mình đi dự nghe pháp, vẫn xem kinh, vẫn kinh hành, vẫn tọa thiền. Nhưng thí dụ như mình nghe một tiếng nhạc ở đâu vọng tới, mà ngay chính cái bài nhạc mình thích, mình vẫn tránh nghe.
Hoặc là buổi chiều mình đói lắm, nghe cái mùi chiên xào. Bây giờ mình có thể ăn mà người ta không biết, nhưng mà mình vẫn không ăn. Đó, cái đó mới là giữ giới.
Hoặc thí dụ như bây giờ, một chuyện nhẹ hơn. Mình là cư sĩ, có chuyện phải đi ra phố, mình có thói quen đeo lên cổ tay một cái gì đó, hoặc đeo lên cổ tay một cái lắc. Nhưng chẳng hạn bữa nay mình bát quan trai, mình không có đeo. Mỗi khi mình đi ra đường, người ta vẫn đeo trang sức, nó phải lấp lánh xanh đỏ, nhưng mà bữa nay không được, bữa nay thì không. Cái đó mới là giữ giới.
Đảm bảo là tôi biết có nhiều người không có thói quen đeo đồng hồ, chứ đừng nói là đeo đồ trang sức. Những người đó, tôi không gọi là những người giữ giới không trang điểm. Đối với tôi, cái đó là giữ giới, tại vì trước khi họ bắt đầu giữ giới, họ đã không ưa cái đó rồi.
Rồi có những người, cơ thể sinh lý của họ không uống rượu được. Họ uống vô là mửa, uống vô là nổi mề đay, uống vô là bị dị ứng, uống vô là bị cái này cái kia, tùm lum tà la hết. Trong trường hợp đó, tôi xác nhận rằng không phải là giữ giới.
Mà giữ giới là trong trường hợp lẽ ra mình đã làm điều đó rồi, nhưng vì tài, vì quý, vì đức tin mà mình không làm. Đó mới được gọi là giữ giới.
Còn nếu các bạn nói không uống rượu là tại vì bệnh, thì các bạn lên hỏi nhà hộ pháp có đúng vậy không? Một người vì bệnh, vì sợ chết mà không uống rượu, thì cái đó có phải giữ giới không? À ha?
Cho nên, cái chuyện nhẹ nhàng nhất là mình là tu nữ, mình là cư sĩ, mà ngay cái chuyện giữ giới mình cũng không hiểu là chết rồi.
Rồi một chuyện nữa, tôi đề nghị các vị giải thích cho tôi thế nào là… Tôi hỏi các vị có biết Bát Chánh Đạo không? Các vị nói biết. Tôi mới đề nghị các vị giải thích cho tôi nghe thế nào là chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng.
Các vị nói biết. Tôi mới đề nghị các vị đó giải thích cho tôi nghe thế nào là chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng.
Tôi nói điều này, có lẽ các vị không thể nào tin nổi. Các vị nghĩ rằng tôi bôi bác lòng hướng đạo của tôi. Các vị có tin có chuyện như vậy không?
Bốn vị ni cô của chùa Pháp Phước Sơn đi trong một chiếc xe, chắc khoảng gần hai mươi cô. Họ nói rồi họ xuống, họ thăm viếng vậy đó. Rồi sáng họ ghé qua bên giảng đường, họ lễ Phật. Rồi họ nghe có mình nói đó thì họ ghé.
Mà tôi tưởng tượng bốn cô tu nữ được xem là xông xáo, năng động, tích cực nhất, xung phong trả lời khi tôi hỏi. Còn mấy cô kia thì chỉ ngáp lên ngáp xuống. Tu nữ cạo trọc lóc, mặc cái đồ màu trắng.
Trong gần bốn mươi cô, được xem là sáng sủa nhất, cô trả lời. Tôi hỏi: “Chánh nghiệp là gì?”
Có một cô nói thế này: “Chánh nghiệp là nghề nghiệp chân chánh.”
Các vị, các cô có chịu nổi không? Tu nữ cái đầu cạo trọc lóc, bóng lưỡng, rồi trả lời: “Chánh nghiệp tức là nghề nghiệp chân chánh.”
Trên đời này có tồn tại những cái trí tuệ siêu cấp như vậy không? Chánh nghiệp là nghề nghiệp chân chánh.
Cuối cùng trời nắng nóng, mà tôi nghe hồi đó lời tôi còn nóng hơn nữa. Tôi lo lo, tự nhủ phải dễ thương một chút, để lại ấn tượng. Mà tôi nói gì cũng nói.
Cuối cùng, tôi mới lựa một cô cũng gần tháp, xa chùa, rồi tôi nói: “Cô có học giáo pháp không?”
Cô nói: “Dạ có.”
Tôi nói: “Nãy giờ tôi thấy cô yên lặng, mà tôi thấy cái mặt cô có vẻ lấp lánh trí tuệ đó. Cô trả lời tôi đi, chứ cái đám này là không dạy được rồi.”
Cô nói: “Dạ, chánh ngữ là nói lời chân chánh.”
Cái bà ngồi bên dưới cười một cái. Không phải “nói lời chân chánh”, mà là “lời nói chân chánh”, đúng không? Đầu cạo trọc lóc, bóng lưỡng, rồi trả lời trật kinh.
Mà hai người hùa lại với nhau để giải thích chánh ngữ. Chánh ngữ là gì? Mọi người nói “chánh ngữ là nói lời chân chánh”, mọi người nói là “lời nói chân chánh”.
Rồi chánh mạng là gì? Suy nghĩ cả buổi trời để tìm chữ. Người Việt Nam mà suy nghĩ cả buổi trời để tìm chữ. Cuối cùng đó là “nghề nghiệp chân chánh”, coi như khá hơn bà kia rồi. Còn bà kia, chánh nghiệp là “nghề nghiệp chân chánh”, rồi tới lúc chánh nghiệp, họ nói là “hành động chân chánh”.
Tôi xin hỏi bà con, ba định nghĩa đó có đúng không? Tôi chọn cái câu cuối cùng. Tôi chọn cái câu cuối cùng để mà tôi kể. Còn mấy câu tôi kể kia, tôi nghĩ là mình chắc không nên gặp nữa rồi đó.
Nhưng đặc biệt, cái câu cuối cùng, tức là chánh ngữ là nói lời chân chánh hay là lời nói chân chánh, thì các bạn thích, các bạn lấy nha. Rồi chánh nghiệp tức là hành động chân chánh. Chánh mạng là cái sinh kế hay là cái nghề nghiệp. Chánh mạng đó.
Và bây giờ, theo các bạn, cái định nghĩa như vậy có đúng chưa? Có đủ chưa? Hay là các bạn là người nhà của mấy cô tu nữ đó?
Tôi hỏi lại nha. Tôi trả lời xong, tôi đóng rừng đó, tôi đi ra. Chỉ vậy thì có một chuyện thôi, nghe? Chỉ vậy thì có một chuyện thôi.
Cái định nghĩa về Bát Chánh Đạo mà từ hồi đó đến giờ, cái định nghĩa Bát Chánh Đạo mà tâm lý Phật tử Việt Nam phổ biến rồi trao truyền cho nhau, đúng không?
Chánh ngữ là nói lời chân chánh hay là lời nói chân chánh?
Chánh nghiệp là hành động chân chánh: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm.
Chánh mạng là sinh kế hay là nghề nghiệp mưu sinh?
Hành động chân chánh: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm. Chánh mạng là sinh kế hay là nghề nghiệp sinh nhai? Chánh mạng không có mắc vào các tà mạng thì gọi là chánh mạng, đúng không? Để bao nhiêu đời cứ đem ra mà giải thích y chang như vậy đó.
Nếu các vị nói rằng như vậy là đúng rồi thì tôi cũng đồng ý, đúng. Nhưng mà các vị hỏi đủ không thì tôi nói không. Là vì sao? Tôi có một chứng minh rất là khoa học.
Ở đây, ai có học A-tì-đàm thì biết Bát Chánh Đạo có mặt đầy đủ trong một sát-na thánh đạo, khi mình từ phàm sang thánh. Từ phàm sang thánh thì diễn biến tâm lý lúc đó phải xuất hiện một cái tâm thánh đạo, ví dụ như tâm sơ đạo đi. Sơ quả, nhị quả, tam quả, tứ quả; sơ đạo, nhị đạo, tam đạo, tứ đạo, đúng rồi.
Người học vi pháp phải biết rằng ngay trong cái tâm sơ đạo nó có đủ. Nó có đủ quá trình đạo. Mà nếu mình định nghĩa chánh ngữ là lời nói chân chánh, chánh nghiệp là hành động chân chánh, chánh mạng là nghề nghiệp chân chánh, thì tôi xin hỏi: trong một sát-na tâm, ba cái ông này mình nhét vô chỗ nào?
Trong một sát-na tâm, theo Abhidharma, mình chỉ búng tay một cái là vô số sát-na tâm sinh diệt. Thì như vậy, một sát-na nó nhỏ cỡ nào, nó nhanh cỡ nào, nó ngắn cỡ nào? Mà mình nói chánh ngữ là lời nói chân chánh, chánh nghiệp là hành động chân chánh, và chánh mạng là sinh kế chân chánh, thì xin hỏi, nếu định nghĩa như vậy đó, ba cái ông này mình nhét làm sao cho nó lọt trong một sát-na?
Trong một sát-na, tôi nhắc lại, một giây đồng hồ có vô số sát-na tâm, mà tâm thánh đạo nó chỉ có một sát-na thôi. Thì làm gì có chỗ để mà nhét ba cái định nghĩa này vô trong đó?
Làm ơn nghĩ là nó có vấn đề ở chỗ đó. Tôi chỉ nghĩ thôi nhé.
Hiện giờ tôi đang uống một loại thuốc từ cái bông artichoke. Các bạn nghe kịp không? Hiện giờ tôi uống mỗi ngày đó. Thuốc viên thì tôi uống thuốc viên H3S, mà bên cạnh đó tôi cũng đi chợ mua cái bông artichoke. Cái bông nó hình cũng ngộ ngộ, đẹp đẹp, nên bây giờ tôi nấu nước uống, bởi vì nó rất là tốt cho mùa hè với gan. Nó giúp cho gan rất là nhiều, bài thải độc tốt.
Nhưng mà các bạn thử tưởng tượng đi: khi mà tôi cầm cái hộp thuốc H3S này lên, tôi thấy nó để là artichoke, nhưng mà tôi phải biết rằng cái artichoke này nó không giống như cái artichoke mà tôi đang nấu ở trong nồi. Nó vừa giống mà nó vừa khác. Không biết các bạn có hiểu cái chuyện vừa giống và vừa khác không?
Cái viên thuốc nhỏ xíu mà tôi bỏ vào hộp, tôi biết đó cũng là artichoke. Mà cái bông artichoke tôi bỏ lên nồi nấu đó cũng là artichoke. Nhưng mà các bạn tưởng tượng, cái bông nó to cỡ nào mà cái viên thuốc nó nhỏ cỡ nào.
Nghe? Không biết các bạn có hiểu cái gì đó không? Đừng cứ kéo nguyên cái định nghĩa trên mạng luôn vậy.
Đây đúng rồi. Bây giờ phải đi rồi. Chúc mọi người có một ngày vui. Ngày mai gặp lại. Bye.