Kinh Trường Bộ · Dīgha Nikāya

Đại kinh Bát-niết-bàn

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Trường Bộ

Kinh Trung Bộ · Bài 16

Đại kinh Bát-niết-bàn#

(Kinh Ðại Bát-niết-bàn - Mahàparinibbàna sutta)

Trường Bộ Kinh

Digha Nikaya

16. Đại kinh

Bát-niết-bàn

(Kinh Ðại Bát-niết-bàn - Mahàparinibbàna sutta)

Tụng phẩm I

1. N hư vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương

Xá), trên núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, Ajàtasattu Vedehiputta

(A-xà-thế, con bà Vi-đề-hi), vua nước Magadha (Ma-kiệt-đà), muốn

chinh phục dân Vajjì (Bạc-kỳ). Vua tự nói: "Ta quyết chinh phạt dân

Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh; ta quyết làm cỏ dân

Vajjì; ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì; ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại

vong".

2. Rồi Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha, nói với

Bà-la-môn Vassakara (Vũ-xá), đại thần nước Magadha:

- Này Bà-la-môn, hãy đi đến Thế Tôn, và nhân

danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Ngài, vấn an Ngài có thiểu bệnh,

thiểu não, khinh an, khỏe mạnh, lạc trú: "Bạch Thế Tôn, Ajàtasattu

Vedehiputta, vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, vấn an Ngài

có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, lạc trú". Và khanh bạch

tiếp: "Bạch Thế Tôn, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha muốn

chinh phục dân Vajjì, vua tự nói: "Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này,

dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh; ta quyết làm cỏ dân Vajjì; ta sẽ

tiêu diệt dân Vajjì; ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong". Thế

Tôn trả lời khanh thế nào, hãy ghi nhớ kỹ và nói lại ta biết. Các

bậc Thế Tôn không bao giờ nói lời hư vọng.

- Ðại vương, xin vâng!

3. Bà-la-môn Vassakara, đại thần nước Magadha vâng theo

lời dạy của Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cho thắng những cỗ xe

thù thắng, tự mình cỡi lên một chiếc, cùng với các cỗ xe ấy đi ra

khỏi Ràjagaha (Vương Xá), đến tại núi Linh Thứu, đi xe đến chỗ

còn dùng xe được, rồi xuống xe đi bộ đến chỗ Thế Tôn, khi

đến liền nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn

rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Vassakara, đại

thần nước Magadha, bạch Thế Tôn:

- Tôn giả Gotama, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha

cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Gotama, vấn an ngài có thiểu bệnh,

thiểu não, khinh an, khỏe mạnh, lạc trú. Tôn giả Gotama, Ajàtasattu

Vedehiputta, vua nước Magadha muốn chinh phục dân xứ Vajjì. Vua tự nói: "Ta

quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh,

ta quyết làm cỏ dân Vajjì, ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì, ta sẽ làm cho

dân Vajjì bị hoại vọng".

4. Lúc bấy giờ, Tôn giả Ananda đứng quạt sau lưng

Thế Tôn. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

- Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì thường hay tụ

họp và tụ họp đông đảo với nhau không?

- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì thường

hay tụ họp và tụ họp đông đảo.

- Này Ananda, khi nào dân Vajjì thường hay tụ họp

và tụ họp đông đảo với nhau, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được

cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì tụ

họp trong niệm đoàn kết giải tán trong niệm đoàn kết, và

làm việc trong niệm đoàn kết không?

- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tụ họp

trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm

việc trong niệm đoàn kết.

- Này Ananda, khi nào nghe dân Vajjì tụ họp trong

niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc

trong niệm đoàn kết, này Ananda dân Vajjì sẽ được cường thịnh,

không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì không ban hành những

luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được

ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thời

xưa không?

- Bạch Thế Tôn, con nghe dân Vajjì không ban hành

những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã

được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban

hành thuở xưa.

- Này Ananda khi nào dân Vajjì, không ban hành những

luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được

ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thuở

xưa thời, này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng

dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này

không?

- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tôn sùng,

kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo

lời dạy của những vị này.

- Này Ananda, khi nào dân Vajjì tôn sùng, kính

trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời

dạy của những vị này, thời dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy

giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì không có bắt cóc và cưỡng ép

những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình không?

- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì không có bắt

cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình.

- Này Ananda, khi nào Vajjì không có bắt cóc và cưỡng

ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình thời, này Ananda,

dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có

nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự

miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các

cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp không?

- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tôn sùng,

kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành

và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã

làm từ trước đúng với quy pháp.

- Này Ananda, khi nào dân Vajjì tôn sùng, kính

trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và

ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm

từ trước đúng với quy pháp, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường

thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì bảo hộ, che

chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị

A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến

được sống an lạc không?

- Bạch Thế Tôn, con nghe dân Vajjì bảo hộ, che chở,

ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán

chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được

sống an lạc.

- Này Ananda, khi nào dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ

đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán chưa

đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán chưa đến sẽ đến

trong xứ và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc, thời này

Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

5. Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Vassakara, đại

thần nước Magadha:

- Này Bà-la-môn, một thời Ta sống ở Vesàli tại tự

miếu Sàrandada, Ta dạy cho dân Vajjì bảy pháp bất thối này. Này

Bà-la-môn, khi nào bảy pháp bất thối được duy trì giữa dân Vajjì, khi nào

dân Vajjì được giảng dạy bảy pháp bất thối này, thời Bà-la-môn, dân Vajjì

sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Khi được nói vậy, Bà-la-môn Vassakara, đại thần nước

Magadha bạch Thế Tôn:

- Tôn giả Gotama, nếu dân Vajjì chỉ hội đủ một

pháp bất thối này, thời dân Vajjì nhất định được cường thịnh, không bị

suy giảm, huống nữa là đủ cả bảy pháp bất thối. Tôn giả Gotama, Ajàtasattu

Vedehiputta, vua nước Magadha không thể đánh bại dân Vajjì ở chiến

trận trừ phi dùng ngoại giao hay kế ly gián. Tôn giả Gotama, nay chúng con

phải đi, chúng con có nhiều việc và có nhiều bổn phận.

- Này Bà-la-môn, Người hãy làm những gì Người nghĩ

là hợp thời.

Bà-la-môn Vassakara, vị đại thần nước Magadha hoan

hỷ, tán thán lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy và từ

biệt.

6. Khi Bà-la-môn Vassakara đi chưa bao lâu, Thế Tôn

nói với Tôn giả Ananda:

- Này Ananda, hãy đi và tập họp tại giảng đường

tất cả những vị Tỷ-kheo sống gần Ràjagaha (Vương Xá).

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng theo lời dạy Thế Tôn, đi tập

họp tất cả những vị Tỷ-kheo sống gần Vương Xá rồi đi đến

Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, đứng một bên và bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Tăng đã tu họp.

Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời.

Rồi Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi

đến giảng đường, ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn và nói với các

vị Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối.

Hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Những vị Tỷ-kheo ấy trả lời Thế Tôn. Thế

Tôn giảng như sau:

- Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo thường

hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này các Tỷ-kheo,

chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tụ

họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và

làm việc Tăng sự trong niệm đoàn kết, thời này các Tỷ-kheo,

chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ban

hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ

đã được ban hành, sống đúng với những học giới được ban hành, thời

này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy

giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tôn sùng,

kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc Tỷ-kheo thượng tọa

những vị này là những vị giàu kinh nghiệm, niên cao lạp trưởng, bậc cha

của chúng Tăng, bậc thầy của chúng Tăng và nghe theo lời dạy của những vị

này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không

bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không bị

chi phối bởi tham ái, tham ái này tác thành một đời sống khác, thời này các

Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo thích

sống những chỗ nhàn tịnh, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ

được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tự thân

an trú chánh niệm, khiến các bạn đồng tu thiện chí chưa đến

muốn đến ở, và các bạn đồng tu thiện chí đã đến ở, được

sống an lạc, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường

thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này

được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy

bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được

cường thịnh, không bị suy giảm.

7. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối

khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Những vị Tỷ-kheo đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn

nói:

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa

thích làm thế sự, không hoan hỷ làm thế sự, không đam mê làm

thế sự, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường

thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa

thích phiếm luận, không hoan hỷ phiếm luận, không đam mê phiếm

luận, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh,

không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa

thích ngủ nghỉ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường

thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa

thích quần tụ, không hoan hỷ quần tụ, không đam mê quần tụ, thời này

các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không có

ác dục vọng, không bị chi phối bởi ác dục vọng, thời này các

Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không bạn

bè ác dục vọng, không thân tín ác dục vọng, không cộng hành với ác

dục vọng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường

thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không

dừng ở nửa chừng, giữa sự đạt đáo những quả vị thấp kém và những quả vị

thù thắng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh,

không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này

được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy

bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được

cường thịnh, không bị suy giảm.

8. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối

khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế

Tôn nói:

- Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo có tín

tâm, có tàm, có quý, có nghe nhiều, có tinh tấn, có chánh niệm,

có trí tuệ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường

thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này

được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy

bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được

cường thịnh, không bị suy giảm.

9. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối

khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Chư Tỷ-kheo đáp ứng. Thế Tôn nói:

- Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tu tập

niệm giác chi, tu tập trạch pháp giác chi, tu tập tinh tấn giác chi, tu tập

khinh an giác chi, tu tập định giác chi, tu tập xả giác chi, thời này các

Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này

được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy

bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được

cường thịnh, không bị suy giảm.

10. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối

khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.

- Xin vâng bạch Thế Tôn!

Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế

Tôn nói:

- Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tu tập

vô thường tưởng, tu tập vô ngã tưởng, tu tập bất tịnh tưởng, tu tập nguy

hiểm tưởng, tu tập xả ly tưởng, tu tập vô tham tưởng, tu tập diệt

tưởng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh,

không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này

được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy

bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được

cường thịnh, không bị suy giảm.

11. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng sáu pháp bất thối,

hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế

Tôn nói:

- Này các, Tỷ-kheo khi nào các vị Tỷ-kheo đối

với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người, gìn giữ thân

nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không

bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo đối

với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người gìn giữ khẩu

nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không

bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo đối

với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người, gìn giữ ý

nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không

bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo phân

phối không thiên vị, chung thọ hưởng với các bạn giới đức đồng tu,

mọi lợi dưỡng chơn chánh, hợp pháp, cho đến những vật thọ lãnh

trong bình bát khất thực, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được

cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo sống

với các bạn đồng tu, tại chỗ đông người và vắng người, trong sự

thọ trì những giới luật đúng với Sa-môn hạnh, những giới luật không bị

gẫy vụn, không bị sứt mẻ, không bị tỳ vết, không bị uế trược,

những giới luật đưa đến giải thoát, được người có trí tán thán,

không bị ô nhiễm bởi mục đích sai lạc, những giới luật hướng đến

định tâm, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh,

không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo sống

với các bạn đồng tu, tại chỗ đông người và vắng người, trong sự

thọ trì những tri kiến đúng với Sa-môn hạnh, những thánh tri kiến

đưa đến giải thoát, hướng đến sự diệt tận khổ đau cho những ai

thực hành theo, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được

cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu pháp bất thối này

được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy

sáu pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được

cường thịnh, không bị suy giảm.

12. Trong thời gian Thế Tôn ở Vương Xá tại núi Linh

Thứu, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo: "Ðây là Giới,

đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả

vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn,

lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn

các món lậu hoặc tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh

lậu".

13. Thế Tôn ở Vương Xá cho đến khi Ngài xem là

vừa đủ, rồi Ngài gọi tôn giả Ananda:

- Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Ambalatthikà.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda đáp ứng Thế Tôn. Rồi Thế Tôn

cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Ambalatthikà.

14. Tại Ambalatthikà, Thế Tôn thân trú tại nhà nghỉ

mát của vua. Trong thời gian Thế Tôn ở Ambalatthikà, tại nhà nghỉ mát của

vua, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo.

- Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh

cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu

với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ

sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu,

hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

15. Thế Tôn ở Ambalatthikà cho đến khi Ngài xem

là vừa đủ, rồi Ngài bảo tôn giả Ananda:

- Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Nalandà.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn

cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Nalandà. Tại đây, Thế Tôn ở

Pavarikambavana (Ba-ba-lợi Âm-bà-lâm).

16. Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) đến tại

chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và xuống một bên. Tôn giả Sàriputta bạch

Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến

nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không

thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt

hơn Thế Tôn về phương diện chánh giác.

- Này Sàriputta, lời nói của Ngươi thật là đại ngôn,

thật là gan dạ. Ngươi thật đã rống tiếng rống con sư tử: "Con tin

tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai

cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có

thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện chánh

giác". Này Sàriputta, có phải Ngươi đã biết tất cả những Thế

Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, Ngươi đã biết tâm những

Vị này nói với tâm của Ngươi: "Những Thế Tôn này ở quá khứ có

giới đức như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ như vậy, có

hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy"?

- Bạch Thế Tôn, không!

- Này Sàriputta, có phải Ngươi đã biết tất cả

những Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở tương lai, Ngươi đã

biết tâm những vị này với tâm của Ngươi: "Những Thế Tôn này ở

tương lai có giới đức như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ

như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy"?

- Bạch Thế Tôn, không!

- Này Sàriputta, có phải Ngươi biết Ta là bậc

Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở hiện tại, Ngươi đã biết tâm Ta với tâm

của Ngươi. "Thế Tôn có giới đức như vậy, có thiền định như

vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như

vậy"?

- Bạch Thế Tôn, không!

- Này Sàriputta, như vậy Ngươi không có tha tâm thông

đối với các vị Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, tương lai và

hiện tại. Như vậy, này Sàriputta, vì sao Ngươi lại thốt ra những lời

đại ngôn, lời nói gan dạ, rống lên tiếng rống con sư tử: "Bạch

Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá

khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một

Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về

phương diện chánh giác"?

17. - Bạch Thế Tôn, con không có tha tâm thông đối

với các vị Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, tương lai và hiện

tại. Nhưng con biết truyền thống về chánh pháp. Bạch Thế Tôn,

như vị vua có một thành trì tại Biên cảnh, thành này có hào lũy kiên cố,

có thành quách tháp canh kiên cố và chỉ có một cửa ra vào. Tại đây có một

người gác cửa thông minh, biệt tài và nhiều kinh nghiệm, không cho

vào các người lạ mặt, chỉ cho vào những người quen mặt. Người này trong khi

đi tuần trên con đường chạy vòng quanh thành trì ấy có thể không thấy

các chỗ nối hay khe hở của tường, cho đến chỗ một con mèo có

thể lọt ra được, nhưng người ấy chỉ cần biết rằng các sinh vật

to lớn vào hay ra thành trì này tất cả đều đi vào hay đi ra bởi cửa

này. Bạch Thế Tôn, cũng vậy con biết truyền thống về chánh

pháp. Bạch Thế Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong quá

khứ, tất cả vị Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những

nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã an trú tâm vào Bốn

Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng

Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác

trong tương lai, tất cả Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái,

những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã an trú tâm vào Bốn

Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng

Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hiện tại đã diệt trừ

Năm Triền Cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yết ớt, đã

an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã

chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác.

18. Trong thời gian Thế Tôn ở tại Nalandà, rừng

Pavarikamba, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo.

- Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh

cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu

với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ

sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu,

hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

19. Thế Tôn ở Nalandà cho đến khi Ngài xem là

vừa đủ, rồi gọi tôn giả Ananda:

- Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Pàtaligàma.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn

cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Pàtaligàma.

20. Lúc bấy giờ, các cư sĩ ở Pàtaligàma được nghe

Thế Tôn đã đến làng Pàtaligàma. Các cư sĩ ở Pàtaligàma đi

đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống

một bên, các cư sĩ ở Pàtaligàma bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn,

mong Thế Tôn hãy đến ở tại nhà nghỉ mát của chúng con". Thế

Tôn im lặng nhận lời.

21. Các cư sĩ ở Pàtaligàma được biết Thế Tôn

đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu

hướng về Ngài và từ biệt. Các cư sĩ này đi đến nghỉ mát, rải

cát khắp tất cả sàn nhà, sắp đặt chỗ ngồi, đặt ghè nước, chuẩn bị

dầu đèn rồi đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên, các

cư sĩ ở Pàtaligàma bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, tất cả nhà nghỉ mát đã được

rải cát, các chỗ ngồi đã được sắp đặt, ghè nước đã đặt sẵn, dầu

đèn đã được chuẩn bị. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ

là phải thời.

22. Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát, cùng với đại

chúng Tỷ-kheo đi đến nhà nghỉ mát, sau khi đến liền rửa chân

bước vào nhà, ngồi xuống, lưng dựa vào bức tường ở giữa, mặt hướng về

phía Ðông. Chúng Tỷ-kheo sau khi rửa chân, bước vào nhà ngồi xuống, lưng

dựa vào bức tường phía Ðông, hướng mặt phía Tây, đối diện Thế

Tôn.

23. Thế Tôn nói với các cư sĩ ở Pataligama:

- Này các Gia chủ, có năm sự nguy hiểm cho những ai

phạm giới, sống trái giới luật. Thế nào là năm?

Ở đây, này các Gia chủ, người phạm giới, sống

trái giới luật sẽ bị tiêu hao tiền của rất nhiều vì sống phóng dật.

Ðó là điều nguy hiểm thứ nhất cho những ai phạm giới, sống trái giới

luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái

giới luật bị tiếng dữ đồn xa. Ðó là điều nguy hiểm thứ hai cho

những ai phạm giới, sống trái giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái

giới luật khi vào hội chúng nào, hoặc Sát Ðế Lỵ, hoặc Bà-la-môn,

hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với tâm thần sợ hãi, bối rối.

Ðó là điều nguy hiểm thứ ba cho những ai phạm giới, sống trái giới

luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái

giới luật sẽ chết với tâm hồn rối loạn. Ðó là điều nguy hiểm

thứ tư cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái

giới luật sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị sanh vào khổ cảnh, ác thú,

đọa xứ, địa ngục. Ðó là điều nguy hiểm thứ năm cho những ai

phạm giới, sống trái giới luật.

Này các gia chủ, đó là năm điều nguy hiểm cho

những ai phạm giới, sống trái giới luật.

24. Này các Gia chủ có năm sự lợi ích cho những ai giữ

giới, sống theo giới luật. Thế nào là năm?

Ở đây, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo

giới luật sẽ có tiền của dồi dào rất nhiều vì sống không phóng dật.

Ðó là sự lợi ích thứ nhất cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo

giới luật được tiếng tốt đồn xa. Ðó là sự lợi ích thứ hai cho những

ai giữ giới, sống theo giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo

giới luật khi đi vào hội chúng nào, hoặc Sát Ðế Lỵ, hoặc Bà-la-môn,

hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với tâm thần không sợ hãi,

không bối rối. Ðó là sự lợi ích thứ ba cho những ai giữ giới, sống theo

giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo

giới luật sẽ chết với tâm hồn không rối loạn. Ðó là sự lợi ích thứ

tư cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo

giới luật sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh vào thiện thú, thiên

giới. Ðó là sự lợi ích thứ năm cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.

25. Thế Tôn giảng pháp cho những cư sĩ ở

Pàtaligàma cho đến khuya, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm

hoan hỷ rồi bảo các cư sĩ ấy:

- Này các Gia chủ, đêm đã khuya, nay các Ngươi hãy

làm những gì các Ngươi nghĩ là phải thời.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Các người cư sĩ của Pàtaligàma vâng lời Thế Tôn,

từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về

Ngài từ tạ ra về. Thế Tôn, sau khi các cư sĩ ở Pàtaligàma đi không

bao lâu, liền trở vào phòng riêng.

26. Lúc bấy giờ Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần

xứ Magadha đang dựng thành trì để ngăn chặn dân Vajjì. Một số rất lớn

các thiên thần tụ họp hàng ngàn tại các trú địa ở Pàtaligàma. Chỗ

nào có thiên thần có đại oai lực tụ họp, các vị này khiến tâm các

vua chúa, các đại thần có đại oai lực, hướng đến sự xây dựng các trú

xá. Tại chỗ nào các thiên thần bậc trung tụ họp, các vị này

khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc trung hướng đến sự xây

dựng các trú xá. Tại chỗ nào các thiên thần bậc hạ đẳng tụ họp,

các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc hạ đẳng hướng

đến sự xây dựng các trú xá.

27. Thế Tôn với thiên nhãn, thanh tịnh, siêu nhân

thấy hàng ngàn các thiên thần tụ họp tại các trú địa ở Pàtaligàma,

Thế Tôn thức dậy khi đêm chưa tàn và nói với tôn giả Ananda:

- Này Ananda, ai đang xây dựng thành trì ở Pataligama?

- Sunidha và Vassakara, bạch Thế Tôn, hai vị đại

thần xứ Magadha, đang xây dựng thành trì ở Pataligama để ngăn chận dân

Vajjì.

28. Này Ananda, thật giống như đã hỏi ý kiến

các vị thiên thần ở cõi trời Ba mươi ba, các đại thần ở Magadha, Sunidha và

Vassakara đang xây thành trì ở Pataligama để ngăn chận dân Vajjì. Này

Ananda ở đây với thiên nhãn, thanh tịnh, siêu nhân Ta thấy hàng ngàn thiên

thần tụ họp tại các trú địa ở Pataligama. Chỗ nào có thiên thần có

đại oai lực tụ họp, các vị ấy khiến tâm các vua chúa, các đại thần

có đại oai lực, hướng đến sự xây dựng các trú xá. Chỗ nào các

thiên thần bậc trung tụ họp, các vị ấy khiến tâm các vua chúa, các

đại thần bậc trung hướng đến sự xây dựng các trú xá. Chỗ nào các

thiên thần bậc hạ đẳng tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa,

các đại thần bậc hạ đẳng hướng đến sự xây dựng các trú xá. Này

Ananda, chỗ nào các vị Ariyans an trú, chỗ nào các nhà thương mãi qua

lại, chỗ ấy sẽ thiết lập một thành thị bậc nhất tên gọi là

Pàtaliputta, một trung tâm thương mãi. Nhưng này Ananda, Pàtaliputta sẽ bị ba

hiểm nạn về lửa, về nước hay chia rẽ bất hòa.

29. Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần nước Magadha,

đến tại chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong liền nói những lời

chào đón hỏi thăm xã giao rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, vị đại

thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakara bạch Thế Tôn: "Mong Thế Tôn

nhận lời mời dùng cơm tại nhà chúng con hôm nay cùng với đại chúng

Tỷ-kheo". Thế Tôn im lặng nhận lời.

30. Hai vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakara sau

khi biết Thế Tôn đã nhận lời liền đi về nhà ở, cho soạn tại

nhà của mình các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, rồi cử

người đến tin Thế Tôn: "Tôn giả Gotama, giờ đã đến, cơm

đã sẵn sàng".

Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, mang theo y bát cùng

với đại chúng Tỷ-kheo đi đến trú sở của hai vị đại thần xứ

Magadha, Sunidha và Vassakara, sau khi đi đến liền ngồi trên chỗ đã

soạn sẵn. Rồi hai vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakara tự tay mời chúng

Tỷ-kheo với Thế Tôn là thượng thủ, các món ăn thượng vị, loại cứng

và loại mềm. Sau khi Thế Tôn dùng cơm xong và cất tay khỏi bình bát,

Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần xứ Magadha liền lấy chiếc ghế

thấp khác và ngồi xuống một bên.

31. Sau khi Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần

xứ

Magadha đã ngồi xuống một bên, Thế Tôn đọc bài kệ cảm tạ:

Tại chỗ nào người sáng suốt lấy làm chỗ

trú xứ.

Hãy nuôi dưỡng người giữ giới và người phạm hạnh.

Và san sẽ công đức với Chư Thiên trú tại chỗ

ấy.

Ðược tôn kính, chúng sẽ tôn kính lại.

Ðược trọng vọng, chúng sẽ trọng vọng lại.

Chúng sẽ mến thương người ấy như người mẹ

thương mến con.

Và những ai được thiên thần thân mến luôn luôn được thấy may mắn.

Sau khi Thế Tôn tán thán Sunidha và Vassakara, hai vị

đại thần xứ Magadha với bài kệ này, Ngài từ chỗ ngồi đứng dậy và

ra về.

32. Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần xứ Magadha đi

sau lưng Thế Tôn và nói:

- "Hôm nay Sa-môn Gotama đi ra cửa nào cửa ấy sẽ

được đặt tên là Gotama; Sa-môn Gotama lội qua sông từ bến nào, bến

ấy sẽ được đặt tên là Gotama. Và cửa Sa-môn Gotama đi ra được đặt tên

là cửa Gotama".

33. Rồi Thế Tôn đi đến sông Gangà (sông Hằng).

Lúc bây giờ, sông Gangà tràn ngập nước đến bờ đến nỗi con quạ

có thể uống được. Có người đang đi tìm thuyền, có người đang đi

tìm phao, có người cột bè để qua bờ bên kia. Thế Tôn mau lẹ như

người lực sĩ duỗi cánh tay được co lại hay co cánh tay đã duỗi ra,

biến mất từ bờ bên này và hiện ra trên bờ bên kia với chúng

Tỷ-kheo.

34. Thế Tôn thấy những người kia, người đang đi

tìm thuyền, người đang đi tìm phao, người đang đi cột bè để qua bờ

bên kia. Thế Tôn hiểu được ý nghĩa của cảnh này, lúc ấy bèn

ứng khẩu lời cảm khái:

"Những ai làm cầu vượt biển trùng dương,

bỏ lại đất sũng đầm ao, trong khi người phàm phu đang cột bè.

Những người ấy thật là những vị trí tuệ được giải thoát"

Tụng phẩm II

1. R ồi Thế Tôn gọi tôn giả Ananda: "Này Ananda, chúng ta

hãy đi đến Kotigàma"

- "Xin vâng, bạch Thế Tôn". Tôn giả Ananda

đáp ứng Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi

đến Kotigàma. Tại đây, Thế Tôn ở tại Kotigàma.

2. Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không

thông hiểu Bốn Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu

năm, Ta và các Ngươi. Bốn Thánh đế ấy là gì?

Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không

thông hiểu Khổ Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu

năm, Ta và các Ngươi.

Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không

thông hiểu Khổ Tập Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi

lâu năm, Ta và các Ngươi.

Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không

thông hiểu Khổ Diệt Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân

hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.

Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không

thông hiểu Khổ Diệt Ðạo Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển

luân hồi lâu năm,

Ta và các Ngươi. Này các Tỷ-kheo khi Khổ Thánh

đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Tập Thánh đế

này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Thánh đế này

được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Ðạo Thánh đế

này được giác ngộ, được thông hiểu, thời hữu ái được diệt trừ,

sự dắt dẫn đến một đời sống được đoạn tuyệt, nay không còn hậu

hữu nữa.

3. Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ lại

nói thêm:

- Chính vì không thấy như thật Bốn Thánh đế nên

có sự luân chuyển lâu ngày trong nhiều đời. Khi những sự thực này

được nhận thức, nguyên nhân của một đời sống khác được trừ diệt, khi

khổ căn được đoạn trừ, sẽ không còn một đời sống khác nữa.

4. Trong thời gian Thế Tôn ở Kotigama, pháp thoại này

được giảng cho chúng Tỷ-kheo:

- Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh

cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu

với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ

sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu,

hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

5. Thế Tôn, sau khi ở Kotigama cho đến khi Ngài

xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ananda:

- Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Nadika.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn

cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến. Nadika, tại ngôi nhà gạch

(Ginjakàvasatha).

6. Rồi Tôn giả Ananda đến chỗ Thế Tôn,

đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Salada mệnh chung tại

Nadika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào?

Tỷ-kheo ni Nandà mệnh chung tại Nadika đã được sanh ở cõi nào, hậu

thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Sudatta mệnh

chung tại Nàdika đã được sanh cõi nào, hậu thế trạng thái như thế

nào? Bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ Sujàtà mệnh chung tại Nàdika đã được

sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư

sĩ Kakudha mệnh chung tại Nàdika đã được sanh cõi nào, hậu thế trạng

thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Kàlinga... Bạch Thế Tôn,

cư sĩ Nikata... Bạch Thế Tôn, cư sĩ Katissabha... Bạch Thế Tôn, cư sĩ

Tuttha... Bạch Thế Tôn, cư sĩ Santuttha... Bạch Thế Tôn, cư sĩ Bhadda...

Bạch Thế Tôn, cư sĩ Subhadda đã mệnh chung tại Nadika đã được sanh

ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào?

7. Này Ananda, Tỷ-kheo Sàtha diệt tận các lậu

hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay hiện

tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này Ananda, Tỷ-kheo ni

Nandà đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới) và từ đó

nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ananda, cư sĩ Sudatta,

diệt trừ ba kiết sử làm giảm thiểu tham, sân, si, chứng quả Nhứt

lai sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Này Ananda,

nữ cư sĩ Sujata diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhứt định

không còn đọa vào ác đạo, đạt đến Chánh giác. Này Ananda, cư sĩ

Kakudha đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới), và từ đó

nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ananda, cư sĩ

Kalinga... Này Ananda, cư sĩ Nikata... Này Ananda, cư sĩ Katissabha... Này Ananda,

cư sĩ Tuttha... Này Ananda, cư sĩ Santuttha... Này Ananda, cư sĩ Bhadada... Này

Ananda, cư sĩ Subhadda đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh

(thiên giới), và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa.

Này Ananda, hơn năm mươi cư sĩ mệnh chung tại Nàdita, đoạn trừ năm hạ

phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới) và từ đó nhập Niết Bàn không

còn trở lại đời này nữa. Này Ananda, hơn chín mươi chín nam nữ cư sĩ

mệnh chung tại Nàdika, diệt trừ ba kiết sử, làm giảm thiểu tham,

sân si, chứng quả Nhứt lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt

tận khổ đau. Này Ananda, hơn năm trăm cư sĩ, mệnh chung tại Nadika,

diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhứt định không còn đọa

vào ác đạo, đạt đến Chánh giác.

8. Này Ananda, thật không có gì lạ, vấn đề con

người phải mệnh chung. Nhưng mỗi lần có người mệnh chung lại

đến hỏi Như Lai về vấn đề này thời Ananda, như vậy làm phiền

nhiễu Như Lai. Này Ananda, vì vậy ta sẽ giảng Pháp kính (Gương chánh pháp)

để Thánh đệ tử, sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn, sẽ

tự tuyên bố về mình như sau: "Ðối với ta, sẽ không còn địa ngục,

sẽ không còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã

chứng quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh

giác".

9. Này Ananda, Pháp kính ấy là gì mà Thánh đệ tử,

sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn, có thể tự tuyên bố về mình

như sau: "Ðối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái sanh cõi

bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhứt

định không đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh giác". Này Ananda, vị Thánh

đệ tử có chánh tín đối với đức Phật: "Thế Tôn là bậc

A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải,

Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế

Tôn". Vị ấy có chánh tín đối với chánh pháp: "Chánh pháp được

Thế Tôn khéo giảng dạy, thiết thực, vượt ngoài thời gian chi phối,

đến để mà thấy, có khả năng giải thoát, được kẻ trí tự mình

thâm hiểu". Vị ấy có chánh tín đối với chúng Tăng: "Chúng Tăng

đệ tử Thế Tôn chân chánh tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn

chân trực tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân trí tu hành, chúng

Tăng đệ tử Thế Tôn chân tịnh tu hành, tức là bốn đôi tám vị.

Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn đáng được nghênh đón, đáng được cúng

dường, đáng được chiêm ngưỡng, đáng được chấp tay, là phước điền

vô thượng ở trên đời. Vị ấy có đầy đủ giới hạnh, được bậc Thánh mến chuộng,

giới hạnh được viên mãn không mảy mún, được vẹn toàn không sứt mẻ, không tỳ

vết, không ô nhiễm, những giới hạnh đưa đến giải thoát, được

người trí tán thán, không bị ảnh hưởng bởi đời sau, hướng dẫn đến

thiền định".

Này Ananda, chính Pháp kính này mà Thánh đệ tử sau

khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn, có thể tự tuyên bố về mình như

sau: "Ðối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái sanh cõi

bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhứt

định không đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh giác".

10. Khi Thế Tôn ở Nàdika, pháp thoại này được

giảng cho chúng Tỷ-kheo:

- Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh

cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu

với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ

sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu,

hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

11. Rồi Thế Tôn, sau khi ở Nàdika cho đến khi

Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ananda:

- Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Vesàli.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn

cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Vasali. Ở đây, Thế Tôn

trú tại vườn Ambapàli.

12. Thế Tôn bảo các vị Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, các Ngươi phải sống an trú

chánh niệm, tỉnh giác. Ðó là lời dạy của Ta cho các Ngươi.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo an trú

chánh niệm? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với thân, quán thân, tinh

tấn, tỉnh giác, chánh niệm nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi ở trên

đời, đối với các cảm thọ... đối với tâm... đối với các pháp, quán

pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu

bi ở trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là chánh niệm.

13. Này các Tỷ-kheo thế nào là Tỷ-kheo tỉnh

giác? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ Kheo tỉnh giác khi đi tới, đi lui,

tỉnh giác khi ngó tới, ngó lui; tỉnh giác khi co tay, duỗi tay, tỉnh giác

khi mang áo sanghati (tăng-già-lê) mang bát, mang y, tỉnh giác khi ăn, khi uống,

khi nhai, khi nếm, tỉnh giác khi đại tiện, tiểu tiện; tỉnh giác

khi đi; khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi thức, khi nói, khi im lặng. Này các

Tỷ-kheo, như vậy Tỷ-kheo sống tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo,

Tỷ-kheo phải sống an trú chánh niệm, tỉnh giác. Ðó là lời dạy của Ta

cho các Ngươi.

14. Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapàli được nghe:

"Thế Tôn đã đến Vesàli và ở tại vườn xoài của ta". Dâm

nữ Ambapàli liền cho thắng các cỗ xe thù thắng, tự leo lên một

chiếc, cùng với các cỗ xe thù thắng xuất phát ra khỏi Vesàli và đi

đến vườn xoài. Nàng cỡi xe cho đến chỗ còn có thể cỡi xe

được, rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ Thế Tôn, khi đến

liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên, Thế Tôn thuyết pháp cho

dâm nữ Ambapàli đang ngồi một bên, giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn

khởi, khiến tâm hoan hỷ.

Dâm nữ Ambapàli sau khi được Thế Tôn giảng dạy,

khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, liền bạch

Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn ngày mai nhận lời

mời dùng cơm của chúng con với chúng Tỷ-kheo.

Thế Tôn im lặng nhận lời. Dâm nữ Ambapali được

biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài,

thân bên phải hướng về đức Phật và từ biệt.

15. Các người Licchavi ở Vesàli được nghe:

"Thế Tôn đến Vesàli hiện ở vườn Ambapàli", liền cho

thắng các cỗ xe thù thắng leo lên xe rồi xuất phát ra khỏi Vesàli với

những cỗ xe ấy. Có những vị Licchavi toàn xanh, màu sắc xanh, mặc vải màu

xanh, mang đồ trang sức màu xanh. Có những vị Licchavi toàn vàng, màu sắc

vàng, mặc vải màu vàng, mang đồ trang sức màu vàng. Có những vị Licchavi

toàn đỏ, màu sắc đỏ, mặc vải màu đỏ, mang đồ trang sức màu đỏ. Có

những vị Licchavi toàn trắng, màu sắc trắng, mặc vải màu trắng, mang đồ trang

sức màu trắng.

16. Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapàli đánh xe va chạm với

các thanh niên Licchavi, trục xe chạm với trục xe, bánh xe chạm với bánh xe,

gọng xe chạm với gọng xe. Các Licchavi nói với dâm nữ Ambapàli:

- Này Ambapàli, tại sao nàng lại đánh xe va chạm với

các thanh niên Licchavi, trục xe chạm với trục xe, bánh xe chạm với bánh xe,

gọng xe chạm với gọng xe?

- Này quý Công tử của tôi, tôi vừa mới mời

Thế Tôn cùng chúng Tỷ-kheo ngày mai đến dùng cơm.

- Này Ambapàli, hãy nhường cho chúng ta bữa cơm ấy

đổi lấy một trăm ngàn.

- Dầu quý Công tử có cho tôi cả thành Vesàli cùng

với các đất phụ thuộc, tôi cũng không nhường bữa cơm quan trọng này.

Các vị Licchavi này tức tối búng ngón tay và nói:

- Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này đả thắng!

Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này phỗng tay trên. Và các vị Licchavi này

cùng đi đến vườn Ambapàli.

17. Thế Tôn từ xa thấy các vị Licchavi liền nói với

các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo nếu có vị Tỷ-kheo nào chưa

thấy các chư Thiên ở cõi Tam thập tam thiên, hãy ngó chúng Licchavi, hãy nhìn

chúng Licchavi. Này các Tỷ-kheo chúng Licchavi cũng giống như chúng Tam thập

tam thiên".

18. Các vị Licchavi ấy cỡi xe cho đến chỗ còn

có thể cỡi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ Thế

Tôn, khi đến, liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Thế Tôn

thuyết pháp cho những vị Licchavi đang ngồi một bên, giảng dạy, khích

lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.

Các vị Licchavi sau khi được Thế Tôn giảng dạy,

khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ liền bạch

Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn ngày mai nhận lời

mời dùng cơm của chúng con với chúng Tỷ-kheo.

- Này các Licchavi, ngày mai Ta đã nhận lời mời dùng

cơm của dâm nữ Ambapàli rồi.

Các vị Licchavi này tức tối búng ngón tay và nói:

"Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này đả thắng! Chúng ta bị cô

thiếu nữ xoài này phỗng tay trên... "

Rồi những vị Licchavi này, hoan hỷ tán thán lời dạy

Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên hữu hướng

về đức Phật và từ biệt.

19. Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapali, đêm vừa tàn canh,

liền cho sửa soạn tại vườn của mình các món ăn thượng vị loại cứng và

loại mềm và cho báo tin Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, giờ đã

đến, cơm đã sẵn sàng". Thế Tôn buổi sáng đắp y, đem theo y

bát, cùng với chúng Tỷ-kheo đến tại túc xá của dâm nữ Ambapàli, sau

khi đến liền ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Rồi dâm nữ Ambapàli tự

tay thân hành mời chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị thượng thủ, dùng các

món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm.

Khi Thế Tôn dùng xong, tay đã rời bát, dâm nữ

Ambapàli lấy một ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống

một bên, dâm nữ Ambapàli bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, con xin

cúng dường ngôi vườn này cho chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị thượng

thủ".

Thế Tôn nhận lãnh khu vườn. Thế Tôn thuyết

pháp cho dâm nữ Ambapàli, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan

hỷ, rồi đứng dậy ra về.

20. Trong thời gian Thế Tôn ở Vesàli, pháp thoại này

được giảng cho chúng Tỷ-kheo:

- Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh

cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu

với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ

sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu,

hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

21. Rồi Thế Tôn, sau khi ở Vesàli cho đến khi

Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ananda:

- Này Ananda, chúng ta hãy đi đến làng Baluvà.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn

cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến làng Baluvà. Và Thế Tôn trú

tại làng này.

22. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ Kheo hãy an cư trong mùa mưa xung quanh

Vesàli tại chỗ có bạn bè quen thuộc và thân tín. Còn Ta sẽ an cư ở

đây, tại làng Baluvà.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Những Tỷ Kheo này vâng đáp Thế Tôn và tìm

chỗ an cư mùa mưa xung quanh Vesàli tại chỗ có bạn bè quyến thuộc

và thân tín. Còn Thế Tôn an cư tại làng Baluvà.

23. Trong khi Thế Tôn an cư trong mùa mưa, một cơn

bệnh trầm trọng khởi lên, rất đau đớn, gần như muốn chết. Nhưng

Thế Tôn giữ tâm chánh niệm, tỉnh giác, chịu đựng cơn đau ấy, không

một chút ta thán. Thế Tôn tự nghĩ: "Thật không hợp lẽ nếu Ta

diệt độ mà không có một lời với các đệ tử hầu cận Ta, không từ

biệt chúng Tỷ-kheo. Vậy Ta hãy lấy sức tinh tấn, nhiếp phục cơn

bệnh này, duy trì mạng căn và tiếp tục sống". Và Thế Tôn với

sức tinh tấn, nhiếp phục bệnh ấy duy trì mạng căn.

24. Rồi Thế Tôn lành bệnh. Sau khi lành bệnh

không bao lâu, đức Phật rời khỏi tịnh xá và ngồi trên ghế đã soạn

sẵn, trong bóng mát của ngôi tịnh xá. Lúc bấy giờ tôn giả Ananda đến

tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi

xuống một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn khỏe

mạnh. Bạch Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn kham nhẫn, bạch Thế

Tôn, thấy Thế Tôn bệnh hoạn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau

sậy, mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng, dầu cho, bạch Thế Tôn,

con được một chút an ủi rằng, Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu

Ngài chưa có lời di giáo lại cho chúng Tỷ-kheo.

25. Này Ananda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở

Ta! Này Ananda, Ta đã giảng Chánh pháp, không có phân biệt trong ngoài

(mật giáo và không phải mật giáo), vì này Ananda, đối với các Pháp, Như Lai

không bao giờ là vị Ðạo sư còn nắm tay (còn giữ lại một ít mật giáo chưa

giảng dạy). Này Ananda, những ai nghĩ rằng: "Như Lai là vị cầm đầu chúng

Tỷ-kheo"; hay "chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Như

Lai" thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo.

Này Ananda, Như Lai không nghĩ rằng: "Ta là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo;

hay "chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta" thời này Ananda, làm

sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo? Này Ananda, Ta nay đã

già, đã thành bậc trưởng thượng, đã đến tuổi lâm chung, đã đến

tám mươi tuổi. Này Ananda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được

là nhờ dây thắng chằng chịt, cũng vậy thân Như Lai được duy trì sự sống

giống như chính nhờ chống đỡ dây chằng. Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai

không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm

thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy thân Như Lai

được thoải mái.

26. Vậy nên, này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn

cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì

khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương

tựa, chớ nương tựa một gì khác. Này Ananda, thế nào là vị Tỷ-kheo

hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình,

không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh

pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác?

Này Ananda, ở đời, vị Tỷ-kheo, đối với thân quán

thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu

bi trên đời; đối với các cảm thọ... đối với tâm... đối với các pháp,

quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái,

ưu bi trên đời. Này Ananda, như vậy vị Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn

cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác,

dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa,

không nương tựa một gì khác.

Này Ananda, những ai sau khi Ta diệt độ, tự mình là

ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa

một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ

nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những vị ấy, này Ananda,

là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha

thiết học hỏi.

Tụng phẩm III

1. R ồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, đem theo y bát, vào

Vesàli để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesàli, ăn xong và trên đường

khất thực trở về Ngài nói với tôn giả Ananda:

- Này Ananda, hãy lấy tọa cụ. Ta muốn đi đến

điện thờ Càpàla, để nghỉ trưa.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, lấy tọa cụ

và đi theo sau lưng Thế Tôn.

2. Thế Tôn đi đến điện thờ Càpàla, khi

đến Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Tôn giả Ananda đảnh lễ Thế

Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang ngồi một

bên:

- Này Ananda, khả ái thay Vesàli, khả ái thay điện

thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ

Sàttambaka, khả ái thay điện thờ Bahuputta, khả ái thay điện thờ

Sàrandada, khả ái thay điện thờ Càpàla.

3. Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập

nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu

luyện, thiện xảo, thời nếu muốn người ấy có thể sống đến

một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần

túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền

vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn Như Lai có

thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại.

4. Nhưng Tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự

gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn; tôn

giả không thỉnh cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở

lại cho đến trọn kiếp. Thiện Thệ hãy ở lại cho đến

trọn kiếp vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì

lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài

Trời và loài Người". Vì tâm tôn giả bị Ma vương ám ảnh.

5. Lần thứ hai Thế Tôn... lần thứ ba Thế Tôn

nói với tôn giả Ananda:

- Này Ananda, khả ái thay Vesàli, khả ái thay điện

thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ

Sattambaka, khả ái thay điện thờ Bahuputta, khả ái thay điện thờ

Sàrandada, khả ái thay điện thờ Capala!" Này Ananda, những ai đã tu

bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật

bền vững, điêu luyện, thiện xảo, thời nếu người ấy muốn, có

thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay

Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật

chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda,

nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp

còn lại.

Nhưng tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi

ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn, Tôn giả

không thỉnh cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại

cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến

trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì

lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài

Trời và loài Người". Vì tâm của tôn giả bị Ác ma ám ảnh.

6. Rồi Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

- Này Ananda hãy đi và làm những gì Ngươi nghĩ là

phải thời.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, từ chỗ ngồi

đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên hữu hướng về Thế Tôn và đi ra.

7. Tôn giả Ananda đi ra chưa bao lâu, Ác ma liền

đến chỗ Thế Tôn, khi đến xong liền đứng một bên. Sau khi

đứng một bên, Ác ma nói với Thế Tôn.

- Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ,

Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời

Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói:

"Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa

trở thành những vị đệ tử chân chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn

sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống

chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có

thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tích, và

giải thích rõ ràng Chánh pháp, khi có tà đạo khởi lên chưa có thể chất

vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh

pháp thần diệu".

8. Bạch Thế Tôn, nay những Tỷ-kheo của Thế

Tôn, đã trở thành những vị đệ tử chân chánh, sáng suốt, có kỷ

luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh,

sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, đã có thể tuyên

bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ

ràng Chánh pháp, khi có tà đạo khởi lên đã có thể chất vấn và hàng

phục một cách khéo léo, đã có thể truyền bá Chánh pháp thần

diệu. Như vậy, nay Thế Tôn, hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy

diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt

độ!

Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói:

"Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta

chưa trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật...

khi nào những nam cư sĩ của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chơn

chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn duy trì Chánh pháp, thành

tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi

học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày,

xác định, khai minh, phân tách, và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có

tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo,

chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu". Bạch Thế

Tôn, nay những nam cư sĩ của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn

chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, đầy

đủ Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi

học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác

định, khai minh, phân tích và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo

khởi lên, đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, và có

thể truyền bá Chánh pháp thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy

diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã

đến thời Thế Tôn diệt độ.

Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói:

"Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những nữ cư sĩ của Ta chưa

trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn

sàng, đa văn, duy trì, Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống

chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có

thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách, và

giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, chưa có thể

chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá

chánh pháp một cách thần diệu". Bạch Thế Tôn, nay những nữ cư sĩ

của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có

kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và

tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo

lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh,

phân tách, và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên,

đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, có thể

truyền bá Chánh pháp một cách thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy

diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã

đến thời Thế Tôn diệt độ.

Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói:

"Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào phạm hạnh Ta giảng dạy chưa

thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được

khéo giảng dạy cho loài người". Bạch Thế Tôn, nay phạm hạnh Thế

Tôn giảng dạy đã được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá,

biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài người. Như vậy, nay

Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế

Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.

9. Khi được nói vậy, Thế Tôn nói với Ác ma:

"Này Ác ma hãy yên tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba

tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ".

10. Và tại điện thờ Capala, Thế Tôn chánh

niệm, tỉnh giác, từ bỏ thọ, hành (không duy trì mạng sống lâu hơn

nữa). Khi Thế Tôn từ bỏ, không duy trì mạng sống thêm nữa, thời đại

địa chấn động, ghê rợn, tóc lông dựng ngược, sấm trời vang dậy. Thế

Tôn nhận hiểu ý nghĩa của sự kiện ấy, liền thốt câu kệ

cảm khái như sau:

Mạng sống có hạn hay vô hạn,

Tu sĩ từ bỏ, không kéo dài.

Nội tâm chuyên nhất trú thiền định.

Như tháo áo giáp đang mang mặc.

11. Lúc bấy giờ, tôn giả Ananda suy nghĩ: "Thật là

kỳ diệu! Thật là hy hữu! Ðại địa chấn động, đại địa rung động như

vậy, ghê rợn, tóc lông dựng ngược và sấm trời vang dậy. Do nhân gì, do

duyên gì, đại địa chấn động như vậy?".

12. Rồi tôn giả Ananda đến tại chỗ Thế Tôn,

đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ananda

bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu! Bạch Thế

Tôn thật là hy hữu! Ðại địa chấn động, đại địa rung động như vậy, ghê

rợn, tóc lông dựng ngược và sấm trời vang dậy. Bạch Thế Tôn, do nhân

gì, do duyên gì, đại địa chấn động như vậy?

13. - Này Ananda, có tám nhân, có tám duyên khiến

đại địa chấn động. Thế nào là tám? Này Ananda, đại địa này thiết

lập trên nước, nước ở trên gió và gió ở tại hư không. Này Ananda,

đến thời đại phong khởi lên, gió lớn khi thổi làm nổi sóng nước, và

khi nước nổi sóng thì quả đất rung động. Ðó là nhân thứ nhất, duyên thứ

nhất, đại địa chấn động.

14. Lại nữa này Ananda, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn có

thần thông, tâm được chế ngự, hay hàng chư Thiên có đại thần thông,

có đại uy lực; những vị này quán địa tánh có hạn, quán thủy tánh vô

lượng, vị ấy có thể khiến quả đất này rung động, chuyển động

mạnh. Ðó là nhân thứ hai, duyên thứ hai khiến đại địa chấn động.

15. Lại nữa, này Ananda, khi vị Bồ-tát ở cõi Tusita

(Ðâu suất) từ bỏ thân, chánh niệm, tỉnh giác, nhập vào mẫu thai, khi ấy

quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ

ba, duyên thứ ba khiến đại địa chấn động.

16. Lại nữa, này Ananda, khi vị Bồ-tát, chánh niệm,

tỉnh giác, ra khỏi mẫu thai, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động,

chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ tư, duyên thứ tư khiến đại địa chấn

động.

17. Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chứng ngộ vô

thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, khi ấy quả đất rung động, chuyển động,

chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ năm, duyên thứ năm khiến đại địa

chấn động.

18. Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chuyển bánh xe

Pháp, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó

là nhân thứ sau, duyên thứ sau, khiến đại địa chấn động.

19. Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai, chánh niệm,

tỉnh giác, từ bỏ, không duy trì mạng sống, khi ấy quả đất này rung động,

chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ bảy, duyên thứ bảy,

khiến đại địa chấn động.

20. Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai nhập vô dư y

Niết Bàn, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động

mạnh. Ðó là nhân thứ tám duyên thứ tám, khiến đại địa chấn động.

Này Ananda, do tám nhân này, tám duyên này, khiến đại địa chấn động.

21. Này Ananda, có tám chúng. Thế nào là tám? Chúng

Sát-đế-Lỵ, chúng Bà-la-môn, chúng Cư sĩ, chúng Sa-môn, chúng Bốn

Thiên vương, chúng Tam thập tam thiên, chúng Ma, chúng Phạm thiên.

22. Này Ananda, Ta nhớ lại Ta đã đến chúng Sát

-đế-lỵ hơn một trăm lần. Tại đây trước khi Ta ngồi, trước khi Ta

nói chuyện, và trước khi cuộc đối thoại bắt đầu, dung sắc của chúng

Sát-đế-lỵ như thế nào, dung sắc của Ta cũng như vậy; giọng

nói chúng như thế nào, giọng nói của Ta cũng như vậy. Và với bài

pháp thoại, Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan

hỷ. Khi Ta đang nói, chúng không biết: "Kẻ nói ấy là ai, là chư

Thiên chăng, là Người chăng?" Sau khi Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho

phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ với bài pháp thoại, Ta biến mất. Khi

Ta biến mất, chúng không biết: "Kẻ biến mất ấy là ai, là chư

Thiên chăng, là Ngươi chăng?".

23. Này Ananda. Ta nhớ lại Ta đã đến chúng

Bà-la-môn hơn một trăm lần... chúng Cư sĩ... chúng Sa-môn... chúng Bốn Thiên

vương... chúng Tam thập tam thiên... chúng Ma... chúng Phạm thiên hơn trăm

lần, tại đây trước khi Ta ngồi, trước khi Ta nói chuyện và trước khi

cuộc đối thoại bắt đầu dung sắc của chúng Phạm thiên như thế nào, dung

sắc của Ta cũng vậy; giọng nói của chúng như thế nào, giọng nói

của Ta cũng vậy. Và với bài pháp thoại, Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho

phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Khi Ta đang nói, chúng không biết:

"Kẻ nói ấy là ai, là chư Thiên chăng, là Người chăng?" Sau khi Ta

giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, Ta

biến mất. Khi Ta biến mất, chúng không biết: "Kẻ biến mất

đó là ai, là chư Thiên chăng, là Người chăng?" Này Ananda, như vậy là

tám chúng.

24. Này Ananda, có tám thắng xứ. Thế nào là tám?

25. Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại

sắc, có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp

thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ nhất.

26. Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại

sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng

chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ hai.

27. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các

loại ngoại sắc có hạn lượng đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi

nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ ba.

28. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các

loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi

nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ tư.

29. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các

loại ngoại sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh - như

bông gai màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh - như lụa

Ba-la-nại, cả hai mặt láng trơn, màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh

sáng xanh. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại

ngoại sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Vị ấy nhận

thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó

là thắng xứ thứ năm.

30. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các

loại ngoại sắc màu vàng, sắc màu vàng, tướng màu vàng, hình sắc vàng, ánh

sáng vàng - như bông Kanikàra màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh

sáng vàng - như lụa sa Balanại, cả hai mặt láng trơn màu vàng, tướng sắc

vàng hình sắc vàng - như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy

các loại ngoại sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng,

vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta

thấy", đó là thắng xứ thứ sáu.

31. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các

loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh

sáng đỏ - như bông bandhujìvaka màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình

sắc đỏ, ánh sáng đỏ - như lụa sa Balanại, cả hai mặt láng trơn màu đỏ,

sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy vị này

quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, tướng sắc

đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ, vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi

nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ bảy.

32. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các

loại ngoại sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng -

như sao mai Osadhi màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng

- như lụa sa Balanại, cả hai mặt láng trơn màu trắng, tướng sắc trắng, hình

sắc trắng, ánh sáng trắng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm,

thấy các loại ngoại sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh

sáng trắng, vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta

biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ tám. Này Ananda như vậy là tám

thắng xứ.

33. Này Ananda, tám giải thoát. Thế nào là tám?

Tự mình có sắc, thấy các sắc; đó là sự giải thoát

thứ nhất.

Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc;

đó là sự giải thoát thứ hai.

Quán tưởng (sắc là) tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy;

đó là sự giải thoát thứ ba.

Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các

tưởng hữu đối, không tác ý đến những tưởng khác biệt, với suy

tư "hư không là vô biên", chứng và trú Không vô biên xứ; đó là

sự giải thoát thứ tư.

Vượt khỏi hoàn toàn Không vô biên xứ, với suy tư

"thức là vô biên", chứng và trú Thức vô biên xứ; đó là giải

thoát thứ năm.

Vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư

"không có vật gì", chứng và trú Vô sở hữu xứ; đó là sự giải

thoát thứ sáu.

Vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi

tưởng phi phi tưởng xứ; đó là sự giải thoát thứ bảy.

Vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng

và trú Diệt thọ tưởng; đó là sự giải thoát thứ tám.

Này Ananda, như vậy là tám giải thoát.

34. Này Ananda, một thời Ta ở tại Uruvelà, trên bờ sông

Neranjara, dưới gốc cây Ajapàlanigrodha khi Ta mới thành đạo. Này Ananda, lúc

bấy giờ Ác ma đến tại chỗ Ta ở, khi đến xong liền đứng một

bên. Này Ananda, sau khi đứng một bên, Ác ma nói với Ta: "Bạch Thế

Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ.

Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ".

35. Này Ananda, khi được nói vậy, Ta nói với Ác ma:

- "Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào

những Tỷ-kheo của ta chưa thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt,

có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp

và Tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo

lý chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh,

phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa

có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá

Chánh pháp thần diệu.

Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những

Tỷ-kheo ni của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt,

có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp

và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo

lý chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh,

phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa

có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể

truyền bá Chánh pháp thần diệu.

Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những nam

cư sĩ của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có

kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu chánh pháp và

tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo chánh pháp, sau khi học hỏi giáo

lý chưa có thể tuyên bố diễn giảng trình bày, xác định, khai minh,

phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa

có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể

truyền bá Chánh pháp thần diệu.

Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những nữ

cư sĩ của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có

kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu chánh pháp và

tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo chánh pháp, sau khi học hỏi giáo

lý chưa có thể tuyên bố diễn giảng trình bày, xác định, khai minh,

phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa

có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể

truyền bá Chánh pháp thần diệu.

Này Ác ma, Ta không diệt độ khi nào phạm hạnh mà

Ta giảng dạy chưa được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá,

biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người.

36. Này Ananda, hôm nay tại điện thờ Càpàla, Ác ma

đến Ta, sau khi đến liền đứng một bên. Này Ananda, Ác ma đứng

một bên nói với Ta như sau:

"Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt

độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến

thời Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã

nói: "Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của Ta

chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn

sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống

chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có

thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và

giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể

chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá

Chánh pháp thần diệu". Bạch Thế Tôn, nay những Tỷ-kheo của

Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ

luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy

pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý

đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân

tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp, khi có tà đạo khởi lên, đã có

thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, đã có thể truyền

bá Chánh pháp một cách thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt

độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến

thời Thế Tôn diệt độ.

Bạch Thế Tôn đây là lời Thế Thôn đã nói:

"Này Ác ma, ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta...

; khi nào những cư sĩ của Ta... ; khi nào phạm hạnh Ta giảng dạy chưa được

thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn nghĩa là được

khéo giảng dạy cho loài Người". Bạch Thế Tôn, nay phạm hạnh Thế

Tôn giảng dạy đã được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá,

biến mãn nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người. Như vậy, nay

Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế

Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ".

37. Khi được nói vậy, Ta nói với Ác ma:

"Này Ác ma, hãy an tâm, không bao lâu Như Lai sẽ

diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay Như Lai sẽ diệt độ".

Này Ananda, hôm nay tại điện thờ Càpàla, Như Lai

chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ thọ, hành (không duy trì mạng sống lâu

hơn nữa).

38. Khi được nói vậy, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn

kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương

tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho loài Trời và loài Người.

- Thôi đi, này Ananda, đừng có thỉnh cầu Như Lai nữa.

Này Ananda, nay thỉnh cầu Như Lai không còn kịp thời.

39. Lần thứ hai, tôn giả Ananda... Lần thứ ba, tôn giả

Ananda bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến

trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp,

vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng

cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.

- Này Ananda, Ngươi có tin sự giác ngộ Thế Tôn

không?

- Bạch Thế Tôn, con có tin!

- Vậy, này Ananda, sao Ngươi lại làm phiền Như Lai

đến ba lần.

40. - Bạch Thế Tôn, chính con được tận mặt, đích

thân nghe Thế Tôn dạy như sau: "Này Ananda, những ai đã tu bốn thần

túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền

vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, người ấy có thể

sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai

đã tu bốn thần túc... Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần

kiếp còn lại".

- Này Ananda, Ngươi có tin tưởng không?

- Bạch Thế Tôn, con có tin tưởng!

- Này Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy

là khuyết điểm của Ngươi, đã không nhận hiểu sự gợi ý quá

rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu

Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến

trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp,

vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng

cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài

Người". Này Ananda, nếu Ngươi thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác

bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời.

Này Ananda như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của

Ngươi.

41. Này Ananda, một thời Ta ở tại Vương Xá, núi Linh

Thứu (Gijjha Kuta). Tại đấy Ta nói với ngươi: "Này Ananda, khả ái thay

thành Vương Xá! Khả ái thay núi Linh Thứu! Này Ananda, những ai đã tu bốn

thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật

bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có

thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay

Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật

chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda,

nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp

còn lại". Dầu vậy, này Ananda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi

ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn. Ngươi

không thỉnh cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại

cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến

trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì

lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài

Trời và loài Người". Này Ananda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai, Như

Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai

có thể nhận lời. Này Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là

khuyết điểm của Ngươi".

42. Này Ananda, một thời Ta ở thành Vương Xá, tại

Nigrodhàràma... Ta cũng ở thành Vương Xá tại Corapapàta... Ta cũng ở thành

Vương Xá, hang Sattapanni trên núi Vebhàra... Ta cũng ở thành Vương Xá, tại

hang đá Kàla, trên núi Isigili... Ta cũng ở thành Vương Xá, tại khu rừng Sita

trong hang đá Sappasondika... Ta cũng ở thành Vương Xá, tại Tapodàràma... Ta

cũng ở thành Vương Xá, Trúc Lâm, hồ Kalandaka... Ta cũng ở thành Vương Xá,

tại rừng Jìvakambavana... Ta cũng ở thành Vương Xá tại Maddakucchi ở Lộc

Uyển.

43. Này Ananda, tại đấy Ta nói: "Này Ananda, khả ái

thay thành Vương Xá, khả ái thay núi Linh Thứu, khả ái thay Nigrodhàràma, khả

ái thay Corapapàta, khả ái thay hang Sattapanni trên núi Vebhara, khả ái thay hang

đá Kàla trên núi Isigili, khả ái thay hang đá Sappasondika trong rừng Sìta,

khả ái thay suối nước nóng Tapodàràma, khả ái thay hồ con sóc ở tại Trúc

Lâm, khả ái thay rừng Jìvakambavana, khả ái thay vườn Nai ở tại

Maddakucchi"!

44. "Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu

tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững,

điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có thể sống

đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu

bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật

bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn, Như Lai

có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại". Dầu

vậy, này Ananda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng,

sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn. Ngươi không thỉnh cầu

Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến

trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp,

vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng

cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài

Người". Này Ananda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai, Như Lai có thể

bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận

lời. Này Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết

điểm của Ngươi".

45. Này Ananda, một thời Ta ở Vesàli tại điện thờ

Udena. Tại đấy, này Ananda, Ta cũng nói. "Này Ananda, khả ái thay Vesàli,

khả ái thay điện thờ Udena. Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu

tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững,

điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có thể sống

đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu

bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật

bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, Như Lai có

thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại". Dầu vậy,

này Ananda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự

hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu Như Lai:

"Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp,

Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho

chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì

lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người". Này

Ananda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần

cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda,

như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi.

46. Này Ananda, một thời Ta ở thành Vesàli tại điện

thờ Gotamaka... ta cũng ở thành Vesàli tại điện thờ Sattambaka... Ta cũng ở

thành Vesàli tại điện thờ Bahuputta... Ta cũng ở thành Vesàli tại

điện thờ Sàrandada...

47. Này Ananda, hôm nay tại điện thờ Càpàla, Ta nói

với ngươi: "Này Ananda, khả ái thay Vesàli, khả ái thay điện thờ

Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ Sattamba,

khả ái thay điện thờ Buhuputta, khả ái thay điện thờ Sàrandada, khả

ái thay đền Càpàla. Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập

nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu

luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, người ấy có thể sống

đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, Như Lai đã tu bốn

thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật

bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn, Như Lai

có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại". Dầu

vậy, này Ananda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng,

sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu Thế

Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn

kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi

ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho

đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài

Người". Này Ananda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai; Như Lai có thể

bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận

lời. Này Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết

điểm của Ngươi.

48. Này Ananda, phải chăng ngay từ ban đầu Ta đã từng

tuyên bố rằng mọi vật ưu ái, thân hình đều phải bị thay đổi, trở

về hư không, biến dịch? Này Ananda, làm sao có thể được như vầy:

Những gì sanh khởi, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong khỏi

có sự biến diệt? Thật không có sự trạng ấy. Này Ananda, những gì Như

Lai đã từ bỏ, dứt khoát, xả ly, phóng xả, khước từ, chính là thọ,

hành. Như Lai đã nói và nói một cách dứt khoát: "Không lâu, Như Lai sẽ

diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ". Nói

rằng Như Lai vì muốn sống mà phản lại lời tuyên bố trên thời thật không có

sự trạng ấy.

Này Ananda, chúng ta hãy đi đến giảng đường

Kùtagàra tại rừng Ðại Lâm.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.

49. Rồi Thế Tôn cùng tôn giả Ananda đi đến

giảng đường Kùtagàra vườn Ðại Lâm, khi đi đến, Thế Tôn nói với

tôn giả Ananda:

- Này Ananda, hãy đi mời tất cả Tỷ-kheo sống ở gần

Vesàli tụ họp tại giảng đường này.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, đi mời tất cả vị

Tỷ-kheo sống ở gần Vesàli tụ họp tại giảng đường, rồi đi đến

chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Sau khi đứng một bên,

tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, chúng Tỷ-kheo đã tụ họp.

Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời.

50. Thế Tôn liền đi đến giảng đường và

ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với các vị

Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, nay những pháp do Ta chứng ngộ và

giảng dạy cho các Ngươi, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập

và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh

phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời,

vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người. Này các

Tỷ-kheo, thế nào là các pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy, các Ngươi

phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để cho phạm

hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho

chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an

lạc cho loài Trời và loài Người? Chính là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần,

Bốn Thần túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ-đề phần, Tám Thánh đạo phần.

Này các Tỷ-kheo, chính những pháp này do Ta chứng ngộ và giảng dạy, mà

các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng

để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh,

vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho

loài Trời và loài Người.

51. Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các

Ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát,

không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai

sẽ diệt độ.

Ðó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện

Thệ lại nói thêm:

Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,

Từ biệt các Ngươi, Ta đi một mình.

Tự mình làm sở y cho chính mình,

Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,

Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.

Ai tinh tấn trong pháp và luật này

Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau.

Tụng phẩm IV

1. R ồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, đem theo y bát, vào

Vesàli để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesàli, ăn xong và trên đường

khất thực trở về, Thế Tôn nhìn Vesàli với cái nhìn của con voi chúa

rồi nói với tôn giả Ananda:

- Này Ananda, lần này là lần cuối cùng, Như Lai nhìn

Vesàli. Này Ananda, chúng ta hãy đi đến làng Bhandagàma.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn

cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Bhandagàma. Tại đây, Thế Tôn

ở tại Bhandagàma.

2. Rồi Thế Tôn nói với Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không

chứng đạt bốn Pháp mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong

biển sanh tử. Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, chính vì không

giác ngộ, không chứng đạt Thánh Giới mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi

lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ,

không chứng đạt Thánh Ðịnh mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn

trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không

chứng đạt Thánh Tuệ mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong

biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng

đạt Thánh giải thoát mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong

biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, khi Thánh Giới được giác ngộ, được

chứng đạt; khi Thánh Ðịnh được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh

Tuệ được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Giải thoát được giác

ngộ, được chứng đạt, thời tham ái một đời sống tương lai được trừ

diệt, những gì đưa đến một đời sống mới được dứt sạch, nay không

còn một đời sống nào nữa.

3. Ðó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy,

Thiện Thệ lại nói thêm:

Giới, Ðịnh, Tuệ và Giải thoát vô thượng

Gotama danh xưng đã chứng ngộ.

Ðấng Giác Ngộ giảng pháp chúng Tỷ-kheo.

Ðạo Sư diệt khổ, pháp nhãn, tịnh lạc.

4. Trong thời gian Thế Tôn ở tại Bhandagàma, pháp

thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo:

- Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh

cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu

với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ

sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu,

hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

5. Rồi Thế Tôn, sau khi ở Bhandagàma cho đến khi

Ngài xem là vừa đủ, liền nói với tôn giả Ananda:

- Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Hatthigam...

Ambagama... Jambugama..., hãy đi đến Bhoganagara.

6. - Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn

cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Bhoganagara.

7. Tại đây, Thế Tôn ở Bhoganagara tại đền

Ananda, Ngài nói với các Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bốn Ðại giáo pháp,

hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Các Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, Thế Tôn

giảng như sau:

8. - Này các Tỷ-kheo, có thể có Tỷ-kheo nói:

"Này Hiền giả, tôi tự thân nghe từ miệng Thế Tôn, tự thân

lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị

Ðạo Sư". Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên

hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi

mỗi chữ, mỗi mỗi câu, cần phải được học hỏi kỹ lưỡng và

đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh,

đối chiếu với Luật, nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương

ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: "Chắc chắn những

lời này không phải là lời Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo

sai lầm". Và này các Tỷ kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh

với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh,

tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: "Chắc chắn

những lời này phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ

giáo chơn chánh". Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ

nhất, các Ngươi hãy thọ trì.

9. Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói:

"Tại trú xứ kia, có Tăng chúng ở với các vị Thượng tọa, với các

Thủ chúng. Tôi tự thân nghe từ miệng Tăng chúng, tự thân lãnh thọ,

như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo

Sư". Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy

báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi

mỗi chữ, mỗi mỗi câu, phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so

sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng không phù hợp với

Kinh, không tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận:

"Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn, và Tỷ-kheo

ấy đã thọ giáo sai lầm". Và này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ

bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu

chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể

kết luận: "Chắc chắn những lời này phải là lời dạy của Thế Tôn,

và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh". Này các Tỷ-kheo, như

vậy là Ðại giáo pháp thứ hai, các Ngươi hãy thọ trì.

10. Này các Tỷ-kheo, có thể có vị Tỷ-kheo

nói: "Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo Thượng tọa ở, những vị

này là bậc đa văn, gìn giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp

yếu. Tôi tự thân nghe từ miệng những vị Thượng tọa ấy, tự thân

lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị

Ðạo Sư". Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên

hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi

mỗi chữ, mỗi mỗi câu, phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so

sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối

chiếu với Luật, và nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với

Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này không phải là

lời Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm". Và, này các Tỷ-kheo, các Ngươi

hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng

phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: "Chắc

chắn những lời ấy phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn

chánh". Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ ba, các Ngươi hãy thọ

trì.

11. Này các Tỷ-kheo, có thể có Tỷ-kheo nói:

"Tại trú xứ kia, có một vị Thượng tọa, vị này là bậc đa văn, gìn

giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp yếu. Tôi tự thân nghe

từ Thượng tọa, tự thân lãnh thọ; như vậy là Pháp, như vậy là Luật,

như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư". Này các Tỷ-kheo, các Ngươi

không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không

tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, cần phải

được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đối chiếu với

Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, và nếu chúng

không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các ngươi có

thể kết luận: "Chắc chắn những lời này không phải là lời của

Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm". Và này các

Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối

chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật,

thời các ngươi có thể kết luận: "Chắc chắn những lời ấy phải

là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn

chánh". Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ tư, các

Ngươi hãy thọ trì.

Này các Tỷ-kheo, bốn Ðại giáo pháp này, các

Ngươi hãy thọ trì.

12. Trong khi Thế Tôn ở tại Bhoganagara, pháp thoại

này được giảng cho chúng Tỷ-kheo:

- Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh

cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu

với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ

sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu,

hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

13. Rồi Thế Tôn, sau khi ở tại Bhoganagara cho

đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ananda:

- Này Ananda, chúng ta sẽ đi đến Pàvà.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Và Thế Tôn

cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Pàvà, tại vườn xoài của Cunda,

một người thợ sắt.

14. Thợ sắt Cunda nghe: "Nay Thế Tôn đã đến

Pàvà và hiện đang ở trong vườn xoài của ta". Rồi thợ sắt Cunda

đến tại chỗ Thế Tôn, khi đến xong liền đảnh lễ Ngài và

ngồi xuống một bên. Và Thế Tôn thuyết pháp cho thợ sắt Cunda đang

ngồi một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.

15. Và thợ sắt Cunda, sau khi được Thế Tôn

thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ,

liền bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời

mời của con ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo". Thế Tôn

im lặng nhận lời.

16. Thợ sắt Cunda, sau khi biết Thế Tôn đã nhận

lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu hướng

về Ngài và từ biệt.

17. Và thợ sắt Cunda, sau khi đêm đã mãn, liền cho

sửa soạn tại nhà các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm và

nhiều thứ Sùkara-maddave (một loại mộc nhĩ), và báo tin cho Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng".

18. Và Thế Tôn buổi sáng đắp y, mang theo y bát,

cùng với chúng Tỷ-kheo đến nhà thợ sắt Cunda, khi đến xong

liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi. Thế Tôn nói với

thợ sắt Cunda:

- Này Cunda, loại mộc nhĩ đã soạn sẵn, hãy dọn cho

ta. Còn các món ăn khác đã soạn sẵn, loại cứng và loại mềm, hãy

dọn cho chúng Tỷ-kheo.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Thợ sắt Cunda vâng lời Thế Tôn, dọn cho Thế

Tôn các món mộc nhĩ đã soạn sẵn, và dọn cho chúng Tỷ-kheo các món

ăn khác, loại cứng và loại mềm.

19. Rồi Thế Tôn nói với thợ sắt Cunda:

- Này Cunda, món ăn mộc nhĩ còn lại. Ngươi hãy đem

chôn vào một lỗ. Này Cunda, Ta không thấy một ai ở cõi Trời, cõi Người,

ở Ma giới, ở Phạm thiên giới, không một người nào trong chúng Sa-môn và

chúng Bà-la-môn, giữa những Thiên, Nhân, ăn món mộc nhĩ này mà có thể

tiêu hóa được, trừ Như Lai.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Thợ sắt Cunda vâng theo Thế Tôn, đem chôn món ăn

mộc nhĩ còn lại vào một lỗ, đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ

Ngài và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho thợ sắt Cunda

đang ngồi xuống một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan

hỷ rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

20. Sau khi dùng cơm của thợ sắt Cunda, Thế Tôn bị

nhiễm bệnh nặng, bệnh lỵ huyết, đau đớn gần như đến

chết, và Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại, chịu đựng cơn

bệnh.

Rồi Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

- Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Kusinàra.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.

Tôi nghe: Sau khi dùng cơm tại nhà thợ sắt Cunda.

Cơn bệnh khốc liệt bỗng khởi lên, gần như chết đến nơi.

Sau khi cùng món ăn loại mộc nhĩ.

Kịch bệnh khởi lên nơi bậc Ðạo Sư.

Ðiều phục bệnh hoạn, Thế Tôn dạy rằng:

"Ta đi đến thành Kusinàra".

21. Rồi Thế Tôn bước xuống đường, đến một

gốc cây và nói với Tôn giả Ananda:

- Này Ananda, hãy xếp tư áo Sanghàti. Ta cảm thấy

mệt mỏi và muốn ngồi nghỉ, này Ananda.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn và xếp tư áo

Sanghàti lại.

22. Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và nói

với Tôn giả Ananda:

- Này Ananda, hãy đem nước cho Ta. Này Ananda, Ta nay

đang khát và muốn uống nước.

Khi được nói vậy, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ

xe chạy qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và

vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh,

dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có

thể uống nước và làm dịu mát chân tay.

23. Lần thứ hai, Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

- Này Ananda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ananda, Ta

nay đang khát và muốn uống nước.

Lần thứ hai tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ

xe chạy qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và

vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh,

dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có

thể uống nước và làm dịu mát chân tay.

24. Lần thứ ba, Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

- Này Ananda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ananda, Ta

nay đang khát và muốn uống nước.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, lấy bát và đi

đến con sông nhỏ. Con sông đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục,

khi tôn giả Ananda đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng, không

vẩn đục.

25. Tôn giả Ananda tự nghĩ: "Thật kỳ diệu thay,

thật hy hữu thay thần túc và uy lực của Như Lai. Con sông nhỏ đang chảy nông

cạn, khuấy động và vẩn đục này, khi ta đến, liền trở thành trong

trẻo, sáng lặng và không vẩn đục". Sau khi dùng bát lấy nước, tôn giả

Ananda đến chỗ Thế Tôn và bạch với Ngài:

- Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu! Bạch Thế

Tôn thật là hy hữu. Bạch Thế Tôn, con sông nhỏ đang chảy nông cạn, khuấy

động và vẩn đục này, khi con đến, liền trở thành trong trẻo, sáng

lặng và không vẩn đục. Xin thỉnh Thế Tôn dùng nước. Xin thỉnh Thiện

Thệ dùng nước!

Và Thế Tôn uống nước.

26. Lúc bấy giờ, Pukkusa, dòng họ Mallà, đệ tử

của ngài Alàra Kàlàma đang đi trên con đường từ Kusinàra đến Pàvà.

Pukkusa, dòng họ Mallà thấy Thế Tôn ngồi dưới

gốc cây, liền đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống

một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Pukkusa, dòng họ Mallà, bạch Thế

Tôn:

- Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế

Tôn thật là hy hữu, trạng thái trầm tĩnh của một vị xuất gia!

27. Bạch Thế Tôn, thuở xưa, ngài Alàra Kàlàma đang

đi trên đường. Rồi ngài bước xuống đường và ngồi xuống một gốc cây,

không xa con đường để nghỉ trưa. Bạch Thế Tôn, lúc ấy có khoảng

năm trăm cỗ xe đi ngang qua gần ngài Alàra Kàlàma. Bạch Thế Tôn, có

một người đi theo sau lưng đoàn xe ấy, đễn chỗ ngài Alàra Kàlàma và

nói với ngài: "Tôn giả có thấy khoảng năm trăm cỗ xe vừa đi qua

không?" - "Này Hiền giả, ta không thấy". - "Tôn giả có

nghe tiếng không?" - "Này Hiền giả, ta không nghe

tiếng". - "Có phải Tôn giả đang ngủ không?" - "Này

Hiền giả, không phải ta đang ngủ". - "Vậy có phải Tôn giả đang

thức tỉnh?" - "Này Hiền giả, ta đang thức tỉnh". - "Tôn

giả đang thức tỉnh nhưng không thấy khoảng năm trăm cỗ xe vừa đi ngang

qua gần một bên, cũng không nghe thấy tiếng. Bạch Tôn giả, cái áo của

Tôn giả cũng bị lấm bụi". - "Này Hiền giả, phải, áo ta bị lấm

bụi".

Bạch Thế Tôn, người ấy liền tự nghĩ:

"Thật là kỳ diệu, thật là hy hữu sự trầm tĩnh của vị xuất gia. Trong

khi giác tỉnh, còn thức nhưng không thấy năm trăm cỗ xe vừa đi ngang qua

gần một bên, cũng không nghe tiếng". Sau khi tỏ sự thâm tín đối với

ngài Alàra Kàlàma, vị ấy từ biệt.

28. - Này Pukkusa, nhà ngươi nghĩ thế nào? Cái gì

khó làm hơn, cái gì khó thực hiện hơn? Một người trong khi giác tỉnh,

còn thức mà không thấy năm trăm cỗ xe vừa đi ngang qua gần một bên, cũng

không nghe tiếng. Hay một người đang giác tỉnh, còn thức, trong khi trời

đang mưa, mưa tầm tã ào ào, trong khi điện quang chớp lòa, sấm sét vang

động, mà không thấy, cũng không nghe tiếng?

29. - Bạch Thế Tôn, nói gì đến năm trăm cỗ

xe này, cho đến hoặc sáu trăm, hoặc bảy trăm, hoặc tám trăm, hoặc chín

trăm, hoặc một ngàn, cho đến trăm ngàn cỗ xe, cũng không thể so

sánh được. Thật khó làm hơn, khó thực hiện hơn, một người đang giác

tỉnh, còn thức, trong khi trời đang mưa, mưa tầm tã ào ào, trong khi điện

quang chớp lòa, sấm sét vang động, mà không thấy cũng không nghe tiếng.

30. - Này Pukkusa, một thời, Ta ở Atumà, tại nhà đập

lúa. Lúc bấy giờ trời mưa, mưa tầm tã ào ào, điện quang chớp lòa, sấm

sét vang động, có hai anh em nông phu, và bốn con bò đực bị sét đánh

chết. Này Pukkusa, một số đông người từ Atumà đi ra đến tại chỗ

hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị sét đánh chết...

31. Này Pukkusa, lúc bấy giờ Ta từ nhà đập lúa đi ra

và đi qua đi lại ngoài trời, trước cửa nhà đập lúa, Này Pukkusa, có một

người từ nơi đám đông ấy đi ra, đến chờ Ta, đảnh lễ và đứng một

bên. Và Ta nói với người ấy đang đứng một bên:

32: - "Này Hiền giả, vì sao có số đông người

tụ họp như vậy?" - Bạch Thế Tôn vừa rồi trời đang mưa, mưa tầm tã ào ào, điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu,

và bốn con bò đực bị sét đánh chết. Do vậy mà có số đông người ấy

tụ họp tại đây. Bạch Thế Tôn, lúc ấy Ngài ở tại chỗ nào?"

- "Này Hiền giả, lúc ấy Ta ở tại đây". "Bạch Thế Tôn,

Ngài không thấy gì cả sao?" - "Này Hiền giả, Ta không thấy

gì". - "Bạch Thế Tôn, Ngài không nghe tiếng gì cả sao?" -

"Này Hiền giả, Ta không nghe tiếng gì?" - "Bạch Thế

Tôn, có phải Ngài đang ngủ, phải không?" - "Này Hiền giả, không

phải ta đang ngủ". - "Bạch Thế Tôn, có phải Ngài đang tỉnh thức

phải không?" - "Này Hiền giả, phải". - "Bạch Thế Tôn,

Ngài đang tỉnh thức, nhưng trong khi trời mưa, mưa tầm tã ào ào, điện

quang chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu và bốn con bò đực

bị sét đánh chết, nhưng Ngài không thấy, cũng không nghe gì". - Này

Hiền giả, phải như vậy".

33. Này Pukkusa, người ấy liền tự nghĩ: "Thật

là kỳ diệu, thật là hy hữu sự trầm lặng của vị xuất gia, khi thức tỉnh,

dầu có mưa tầm tã ào ào, điện quang chói lòa, sấm sét vang động, có

hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị sét đánh chết mà không thấy

gì, không nghe gì hết". Sau khi nói lên lòng tin tưởng ở nơi Ta,

người ấy đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về phía Ta và từ biệt.

34. Khi được nói vậy, Pukkusa, dòng họ Mallà bạch

Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, sự tin tưởng của con đối với ngài

Alàra, Kàlàma, nay con đem rải rắc trước luồng gió lớn, nay con đem thả trôi

vào dòng nước cuốn. Kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Hy hữu thay bạch

Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng,

đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy

sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương

tiện trình bày. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và

quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho

đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

35. Rồi Pukkusa, dòng họ Mallà nói với một người

khác: "Này bạn, hãy đem đến một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và

sẵn sàng để mặc". - "Tôn giả, xin vâng". Người ấy vâng lời

Pukkusa, dòng họ Mallà và đem đến một cặp áo màu kim sắc, vàng chói

và sẵn sàng để mặc.

Rồi Pukkusa, dòng họ Mallà đem dâng một cặp áo màu

kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc ấy cho Thế Tôn và nói:

- Bạch Thế Tôn, cặp áo màu kim sắc, vàng chói và

sẵn sàng để mặc. Mong Thế Tôn vì thương xót con mà thâu nhận cho.

- Này Pukkusa, hãy đắp cho Ta một áo và đắp cho Ananda

một áo.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Pukkusa, dòng họ Mallà vâng lời Thế Tôn, đắp

một áo cho Ngài và đắp một áo cho tôn giả Ananda.

36. Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho Pukkusa, người

dòng họ Mallà, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.

Và Pukkusa, người dòng họ Mallà, sau khi được Thế Tôn thuyết

pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, liền từ

chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về

Thế Tôn và từ biệt.

37. Khi Pukkusa, dòng họ Mallà đi chưa được bao

lâu, tôn giả Ananda đem cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để

mặc này đặt trên thân Thế Tôn, và khi cặp áo này được đặt trên thân

Thế Tôn, màu sắc sáng chói của áo như bị lu mờ đi. Và Tôn giả Ananda

bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế

Tôn thật là hy hữu, sự thanh tịnh và sáng chói màu da của Như Lai! Bạch

Thế Tôn, khi con đặt trên thân Thế Tôn, cặp áo màu kim sắc vàng chói

và sẵn sàng để mặc này, màu sắc sáng chói của áo như bị lu mờ đi.

- Thật vậy, này Ananda. Này Ananda, có hai trường hợp,

màu da của Như Lai hết sức thanh tịnh và sáng chói. Thế nào là hai?

Này Ananda, trong đêm Như Lai chứng vô thượng Chánh Ðẳng Giác và trong đêm

Như Lai sắp diệt độ, nhập Niết-bàn giới, không còn dư y sanh tử nữa.

Này Ananda, đó là hai trường hợp, màu da của Như Lai hết sức thanh tịnh

và sáng chói.

38. Này Ananda, hôm nay khi canh cuối cùng đã mãn, tại

Upavattana ở Kusinàrà, trong rừng Sàla của dòng họ Mallà, giữa hai cây

sàla song thọ, Như Lai sẽ diệt độ. Này Ananda, chúng ta hãy đi

đến sông Kakutthà.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn:

Cặp áo kim sắc này.

Pukkusa mang đến.

Ðắp áo kim sắc này,

Da Ðạo Sư sáng chói.

39. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi

đến con sông Kakutthà, xuống sông tắm và uống nước rồi lội qua bờ bên

kia, đi đến rừng xoài và tại đây, nói với đại đức Cundaka:

- Này Cundaka, hãy xếp áo Sanghàti làm bốn cho Ta.

Này Cundaka, Ta nay mệt mỏi, muốn nằm nghỉ.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Ðại đức Cundaka vâng lời Thế Tôn và xếp áo

Sanghàti làm bốn.

40. Rồi Thế Tôn nằm xuống phía hông bên mặt như

dáng điệu con sư tử, hai chân để trên nhau, chánh niệm, tỉnh

giác, suy tư, với ý niệm ngồi dậy lại khi phải thời. Và đại đức

Cundaka ngồi phía trước Thế Tôn.

41.

Ðức Phật tự đi đến

Con sông Kakutthà.

Con sông chảy trong sáng.

Mát lạnh và thanh tịnh.

Vị Ðạo Sư mỏi mệt

Ði dần xuống mé sông.

Như Lai đấng Vô Thượng

Ngự trị ở trên đời

Tắm xong, uống nước xong,

Lội qua bên kia sông.

Bậc Ðạo Sư đi trước,

Giữa Tăng chúng Tỷ-kheo,

Vừa đi vừa diễn giảng.

Chánh pháp thật vi diệu.

Rồi bậc Ðại Sĩ đến,

Tại khu vực rừng xoài.

Cho gọi vị Tỷ-kheo,

Tên họ Cundaka:

"Hãy gấp tư áo lại,

Trải áo cho ta nằm.

Nghe dạy, Cundaka

Lập tức vâng lời dạy,

Gấp tư và trải áo,

Một cách thật mau lẹ.

Bậc Ðạo Sư nằm xuống

Thân mình thật mệt mỏi.

Tại đây Cundaka,

Ngồi ngay phía trước mặt.

42. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

- Này Ananda, rất có thể có người làm cho thợ sắt

Cunda hối hận: "Này Hiền giả Cunda, thật không lợi ích gì cho Ngươi,

thật là tai hại cho Ngươi, vì Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ Ngươi cúng

dường, và nhập diệt". Này Ananda, cần phải làm tiêu tan sự hối hận

ấy của thợ sắt Cunda: "Này Hiền giả, thật là công đức cho bạn, vì

được Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ bạn cúng dường, và nhập diệt.

Này Hiền giả Cunda, tôi tự thân nghe, tự thân lãnh thọ lời nói này

của Thế Tôn: "Có hai sự cúng dường ăn uống đồng một quả báo,

đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn

uống khác? Thế nào là hai? Một là bữa ăn trước khi Như Lai chứng vô

thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, hai là bữa ăn trước khi Như Lai diệt độ

Niết-bàn giới, không còn di hưởng sanh tử. Hai bữa ăn này đồng một quả

báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng

dường ăn uống khác. Nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng

tuổi thọ; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng sắc đẹp;

nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng an lạc; nhờ hành động

này, đại đức Cunda sẽ được hưởng danh tiếng; nhờ hành động này, đại

đức Cunda sẽ được hưởng cõi trời, nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ

được hưởng uy quyền".

Này Ananda, cần phải làm cho thợ sắt Cunda tiêu tan hối

hận.

43. Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu ý nghĩa này,

liền thốt lời cảm khái như sau:

Công đức người bố thí,

Luôn luôn được tăng trưởng,

Trừ được tâm hận thù.

Không chất chứa, chế ngự,

Kẻ chí thiện từ bỏ.

Mọi ác hạnh bất thiện,

Diệt trừ tham, sân, si.

Tâm giải thoát thanh tịnh.

Tụng phẩm V

1. R ồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

- Này Ananda, chúng ta hãy đi qua bờ bên kia sông

Hirannavati, đến ở Kusinàrà - Upavatama - rừng Sàlà của dòng họ

Màllà.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.

Rồi Thế Tôn, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi

đến bên kia sông Hirannavati, tại Kusinàrà Upavattana, rừng Sàlà của dòng

họ Mallà, khi đi đến nơi liền nói với Tôn giả Ananda:

- Này Ananda, hãy trải chỗ nằm, đầu hướng về

phía Bắc giữa hai cây sàlà song thọ: này Ananda, Ta nay mệt mỏi, muốn

nằm nghỉ.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, trải chỗ nằm,

đầu hướng về phía Bắc giữa hai cây sàlà song thọ. Và Thế Tôn

nằm xuống, về phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, hai chân

để lên nhau chánh niệm và giác tỉnh.

2. Lúc bấy giờ, cây sàlà song thọ trổ hoa trái

mùa, tràn đầy cành lá. Những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung vãi

trên thân Như Lai để cúng dường Ngài. Những thiên hoa Mandàrava từ trên

hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để

cúng dường Ngài. Bột trời chiên đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên,

gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài, nhạc trời

trên hư không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên ca trên hư không

vang lên để cúng dường Như Lai.

3. Rồi Như Lai nói với tôn giả Ananda:

-- Này Ananada, các cây sàlà song thọ tự nhiên trổ

hoa trái mùa tràn đầy cành lá, những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung

vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Những thiên hoa Mandàrava từ trên

hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để

cúng dường. Bột trời chiên đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo

khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Nhạc trời trên hư

không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên ca trên hư không vang lên

để cúng dường Như Lai.

Nhưng, này Ananda, như vậy không phải kính trọng,

tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường hay lễ kính Như Lai. Này Ananda, nếu có

Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh pháp

và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp, hành trì đúng Chánh pháp,

thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với

sự cúng dường tối thượng. Do vậy, này Ananda, hãy thành tựu Chánh pháp và

Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp và hành trì đúng Chánh pháp. Này

Ananda, các Người phải học tập như vậy.

4. Lúc bấy giờ, tôn giả Upavàna đứng trước mặt

Thế Tôn và quạt Ngài. Thế Tôn liền quở trách tôn giả Upavàna:

"Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta."

Tôn giả Ananda, liền tự suy nghĩ: "Ðại đức

Upavàna này là thị giả sống gần và hầu cận Thế Tôn đã lâu ngày. Nay

Thế Tôn trong giờ phút cuối cùng lại quở trách đại đức Upavàna:

"Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta". Do

nhơn gì, do duyên gì, Thế Tôn quở trách đại đức Upavàna: "Này

Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt ta"?.

5. Rồi tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

-- Ðại đức Upavàna này là thị giả, sống gần và hầu

cận Thế Tôn đã lâu ngày. Nay Thế Tôn trong giờ phút cuối cùng lại

quở trách đại đức Upavàna: "Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có

đứng trước mặt Ta." Do nhơn gì, do duyên gì, Thế Tôn quở trách đại

đức Upavàna: "Này Tỷ-kheo hãy đứng một bên, chớ có đứng trước

mặt Ta"?

-- Này Ananda, rất đông các vị Thiên thần ở mười

phương thế giới tụ hội để chiêm ngưỡng Như Lai. Này Ananda, cho

đến mười hai do tuần xung quanh Kusinàrà, Upavattana, rừng Sàlà thuộc dòng

họ Mallà, không có một chỗ nào, nhỏ cho đến đầu một sợi tóc có

thể chích được mà không đầy những Thiên thần có uy lực tụ họp.

Này Ananda, các vị Thiên Thần đang than phiền: "Chúng ta từ rất xa

đến chiêm ngưỡng Như Lai. Thật rất là hy hữu, các Như Lai, bậc A-la-hán,

Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, và tối hôm nay, trong canh cuối cùng,

Như Lai sẽ nhập diệt. Và nay Tỷ-kheo có oai lực này lại đứng ngang

trước Thế Tôn, khiến chúng ta không thể chiêm ngưỡng Như Lai trong

giờ phút cuối cùng". Này Ananda, các chư Thiên than phiền như vậy.

6. -- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đang nghĩ đến

hạng chư Thiên nào?

- Này Ananda, có hạng chư Thiên ở trên hư không nhưng

có tâm tư thế tục, những vị này khóc than, với đầu bù tóc rối, khóc

than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua

lại: "Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt

quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm".

Này Ananda, có hạng Thiên thần ở trên đất với tâm tư

thế tục, những vị này khóc than với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh

tay duỗi cao, khóc than thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại:

"Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện

Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá

sớm".

Có chư Thiên đã diệt trừ ái dục, những vị này

bình thản, tỉnh giác chịu đựng, với tâm suy tư: "Các hành là vô

thường, làm sao sự kiện có thể khác được?"

7. -- Bạch Thế Tôn, thuở trước các Tỷ-kheo sau

khi thọ an cư, từ các địa phương đến chiêm ngưỡng Như Lai, chúng

con được sự lợi ích tiếp kiến, hầu cận những Tỷ-kheo tu hành

điêu luyện. Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn nhập diệt, chúng con

sẽ không được sự lợi ích tiếp kiến, hầu cận những Tỷ-kheo tu

hành điêu luyện.

8. - Này Ananda, có bốn Thánh tích kẻ thiện tín cần

phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Thế nào là bốn?

"Ðây là chỗ Như Lai đản sanh". Này Ananda,

đó là thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.

"Ðây là chỗ Như Lai chứng ngộ vô thượng

Chánh Ðẳng Giác", này Ananda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần

phải chiêm ngưỡng và tôn kính.

"Ðây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô

thượng", này Ananda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm

ngưỡng và tôn kính.

"Ðây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư

y Niết-bàn", này Ananda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải

chiêm ngưỡng và tôn kính.

Này Ananda, đó là bốn Thánh tích, kẻ thiện tín cư

sĩ cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Này Ananda, các thiện tín

Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ sẽ đến với niềm suy

tư: "Ðây là chỗ Như Lai đản sanh", "Ðây là chỗ Như Lai

chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác", "Ðây là chỗ Như

Lai chuyển Pháp luân vô thượng", "Ðây là chỗ Như Lai

diệt độ, nhập Vô dư y Niết-bàn".

Này Ananda, những ai, trong khi chiêm bái những Thánh

tích mà từ trần với tâm thâm tín hoan hỷ, thời những vị ấy, sau khi thân

hoại mạng chung sẽ được sanh cõi thiện thú, cảnh giới chư Thiên.

9. -- Bạch Thế Tôn, chúng con phải cư xử với phái

nữ như thế nào?

-- Này Ananda, chớ có thấy chúng.

-- Bạch Thế Tôn, nếu phải thấy chúng, thời phải

như thế nào?

-- Này Ananda, chớ có nói chuyện với chúng.

-- Bạch Thế Tôn, nếu phải nói chuyện với

chúng, thời phải như thế nào?

-- Này Ananda, phải an trú chánh niệm.

10. -- Bạch Thế Tôn, chúng con phải xử sự thân

xá-lợi Như Lai như thế nào?

-- Này Ananda, các Ngươi đừng có lo lắng vấn đề

cung kính thân xá-lợi của Như Lai. Này Ananda, các Người hãy nỗ lực, hãy

tinh tấn hướng về tự độ, sống không phóng dật, cần mẫn, chuyên hướng

về tự độ. Này Ananda, có những học giả Sát-đế-lỵ, những

học giả Bà-la-môn, những học giả gia chủ thâm tín Như Lai, những vị

này sẽ lo cho sự cung kính cúng dường thân xá-lợi của Như Lai.

11. -- Bạch Thế Tôn, cần phải xử sự thân Như Lai

như thế nào?

-- Này Ananda, xử sự thân Chuyển luân Thánh Vương

như thế nào, hãy xử sự thân xá-lợi Như Lai như vậy.

-- Bạch Thế Tôn, người ta xử sự thân chuyển

luân Thánh vương như thế nào?

-- Này Ananda, thân của Chuyển luân Thánh vương

được vấn tròn với vải mới. Sau khi vấn vải mới xong, lại được vấn thêm

với vải gai bện. Sau khi vấn vải gai bện, lại vấn thêm với vải mới,

và tiếp tục như vậy cho đến năm trăm lớp cả hai loại vải. Rồi thân

được đặt vào trong một hòm dầu bằng sắt, hòm sắt này được một hòm sắt

khác đậy kín. Xong một giàn hỏa gồm mọi loại hương được xây dựng

lên, thân của vị Chuyển luân Thánh vương được đem thiêu trên giàn hỏa

này và tại ngã tư đường, tháp của vị Chuyển luân Thánh vương được

xây dựng lên. Này Ananda, đó là pháp táng thân vị Chuyển luân Thánh

vương.

Này Ananda, pháp táng thân vị Chuyển luân Thánh

vương như thế nào, pháp táng thân Thế Tôn cũng như vậy. Tháp của

Như Lai phải được dựng lên tại ngã tư đường. Và những ai đem tại chỗ

ấy vòng hoa, hương, hay hương bột nhiều màu, đảnh lễ tháp, hay khởi tâm

hoan hỷ (khi đứng trước mặt tháp), thời những người ấy sẽ được lợi

ích, hạnh phúc lâu dài.

12. Này Ananda, bốn hạng người sau này đáng được xây

tháp. Thế nào là bốn? Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xứng đáng

xây tháp. Ðộc Giác Phật xứng đáng xây tháp. Ðệ tử Thanh Văn của Như

Lai xứng đáng xây tháp. Chuyển luân Thánh vương xứng đáng xây tháp.

Này Ananda, vì lý do gì, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh

Biến Tri xứng đáng xây tháp? Này Ananda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ

khi nghĩ đến: "Ðây là tháp của Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh

Biến Tri. " Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng

sẽ sanh lên thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ananda, vì lý do này,

Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xứng đáng xây tháp.

Này Ananda, vì lý do gì, bậc Ðộc Giác Phật xứng

đáng xây tháp? Này Ananda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ

đến: "Ðây là tháp của Thế Tôn Ðộc Giác Phật". " Do

tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ được sanh

thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ananda, vì lý do này, bậc Ðộc

Giác Phật xứng đáng xây tháp.

Này Ananda, vì lý do gì, đệ tử Thanh Văn của

Như Lai xứng đáng xây tháp? Này Ananda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi

nghĩ đến: "Ðây là tháp đệ tử Thanh Văn của Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri." Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng

chung, chúng sẽ được sanh thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ananda, vì

lý do này, đệ tử Thanh Văn của Như Lai xứng đáng xây tháp .

Này Ananda, vì lý do gì, Chuyển luân Thánh

vương xứng đáng xây tháp? Này Ananda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi

nghĩ đến: "Ðây là tháp của vị Pháp vương trị vì đúng pháp."

Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ được sanh

thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ananda, vì lý do này, Chuyển

luân Thánh vương xứng đáng xây tháp.

Này Ananda, đó là bốn hạng người xứng đáng xây

tháp.

13. Rồi tôn giả Ananda đi vào trong tịnh xá, dựa trên

cột cửa và đứng khóc: "Ta nay vẫn còn là kẻ hữu học, còn phải tự

lo tu tập. Nay bậc Ðạo Sư của ta sắp diệt độ, còn ai thương tưởng ta

nữa!"

Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

-- Này các Tỷ-kheo, Ananda ở tại đâu?

-- Bạch Thế Tôn, tôn giả Ananda đi vào trong tịnh

xá, dựa trên cột cửa và đứng khóc: "Ta nay vẫn còn là kẻ hữu học,

còn phải tự lo tu tập. Nay bậc Ðạo Sư của ta sắp diệt độ, còn ai

thương tưởng ta nữa!"

Thế Tôn liền nói với một Tỷ-kheo:

-- Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, nói với

Ananda: "Này Hiền giả Ananda, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả."

-- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Vị Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đi đến

chỗ tôn giả Ananda, sau khi đến, liền nói với tôn giả: "Này

Hiền giả Ananda, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả." - "Thưa

vâng, Hiền giả. " Tôn giả Ananda vâng lời vị Tỷ-kheo ấy, đi

đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.

14. Thế Tôn nói với tôn giả Ananda đang ngồi một

bên:

-- Thôi vừa rồi, Ananda, chớ có buồn rầu, chớ có khóc

than. Này Ananda, Ta đã tuyên bố trước với ngươi rằng mọi vật ái

luyến, tốt đẹp đều phải sanh biệt, tử biệt và dị biệt.

Này Ananda làm sao được có sự kiện này: "Các pháp sanh, trú, hữu vi,

biến hoại đừng có bị tiêu diệt?" Không thể có sự kiện

như vậy được. Này Ananda, đã lâu ngày, ngươi đối với Như Lai, với thân

nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng với

khẩu nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô

lượng với ý nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không

hai, vô lượng. Này Ananda, ngươi là người tác thành công đức. Hãy cố gắng

tinh tấn lên, ngươi sẽ chứng bậc Vô lậu, không bao lâu đâu.

15. Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

-- Này các Tỷ-kheo, những vị A-la-hán, Chánh Ðẳng

Giác trong thời quá khứ, những bậc Thế Tôn này đều có những thị giả

tối thắng như Ananda của Ta. Này Tỷ-kheo, những vị A-la-hán, Chánh Ðẳng

Giác thời vị lai, những bậc Thế Tôn này cũng sẽ có những vị thị giả

tối thắng như Ananda của Ta vậy.

Này các Tỷ-kheo, Ananda là người có trí và

hiểu rõ: "Nay đúng thời để các Tỷ-kheo yết kiến

Thế Tôn, nay đúng thời để các Tỷ-kheo ni, nay đúng thời để

các nam cư sĩ, nay đúng thời để các nữ cư sĩ, nay đúng thời để

các vua chúa, để các đại thần, để các ngoại đạo sư, để các

đệ tử các ngoại đạo sư yết kiến Thế Tôn!"

16. Này các Tỷ-kheo, Ananda có bốn đức tánh kỳ

cựu, hy hữu. Thế nào là bốn?

Này các Tỷ-kheo, nếu có chúng Tỷ-kheo

đến yết kiến Ananda, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì được

yết kiến Ananda, và nếu Ananda thuyết pháp chúng ấy sẽ được

hoan hỷ vì bài thuyết pháp, và nếu Ananda làm thinh thời, này các

Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo ấy sẽ thất vọng.

Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo ni..., chúng

nam cư sĩ... chúng nữ cư sĩ đến yết kiến Ananda, chúng ấy sẽ

được hoan hỷ, vì được yết kiến Ananda, và nếu Ananda

thuyết pháp, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài thuyết pháp và

nếu Ananda làm thinh thời này các Tỷ-kheo, chúng nữ cư sĩ ấy sẽ thất

vọng.

Này các Tỷ-kheo, vị Chuyển luân Thánh vương có

bốn đức tánh kỳ diệu, hy hữu.

Này các Tỷ-kheo, nếu có chúng

Sát-đế-lỵ... chúng Bà-la-môn... chúng gia chủ... chúng Sa-môn đến

yết kiến vị Chuyển luân Thánh vương, chúng sẽ được hoan hỷ

vì được yết kiến vị Chuyển luân Thánh vương và nếu vị

Chuyển luân Thánh vương nói chuyện, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì

bài nói chuyện, và nếu vị Chuyển luân Thánh vương làm thinh thời

chúng Sa-môn ấy sẽ thất vọng.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ananda có bốn đức tánh

kỳ diệu, hy hữu. Nếu có chúng Tỷ-kheo... chúng Tỷ-kheo ni...

chúng nam cư sĩ... chúng nữ cư sĩ đến yết kiến Ananda, chúng ấy

sẽ được hoan hỷ vì được yết kiến Ananda, và nếu Ananda

thuyết pháp chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài thuyết pháp, và

nếu Ananda làm thinh, thời này các Tỷ-kheo chúng nữ cư sĩ ấy sẽ thất

vọng.

Này các Tỷ-kheo, Ananda có bốn đức tánh kỳ

diệu, hy hữu như vậy.

17. Khi được nói vậy, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có diệt độ

tại đô thị nhỏ bé này, tại đô thị hoang vu này, tại đô thị phụ thuộc

này. Bạch Thế Tôn, có những đô thị khác to lớn hơn như Campà

(Chiêm-bà), Ràjagaha (Vương Xá), Sàvatthi (Xá-vệ), Sàketa (Sa-kỳ), Kosambi

(Kiều-thương-di), Bàrànasi (Ba-la-nại). Thế Tôn hãy diệt độ tại

chỗ ấy. Tại chỗ ấy, có đại chúng Sát-đế-lỵ, có đại chúng

Bà-la-môn, có đại chúng gia chủ rất tin tưởng Như Lai, các vị này sẽ cúng

dường thân xá-lợi Như Lai.

-- Này Ananda, chớ có nói như vậy, này Ananda, chớ có

nói đô thị này nhỏ bé, đô thị này hoang vu, đô thị này phụ thuộc.

18. Này Ananda, thuở xưa có vị vua tên là Mahasudassana

(Ðại Thiện Kiến). Vị này là Chuyển luân vương, trị vì như pháp, là

vị pháp vương, thống lãnh bốn thiên hạ, chinh phục hộ trì quốc dân, đầy

đủ bảy báu. Này Ananda, đô thị Kusinàrà này là kinh đô của vua

Mahasudassana, tên là Kusàvatì (Câu-xá-bà-đề), phía Ðông và phía Tây

rộng đến mười hai do tuần, phía Bắc và phía Nam rộng đến bảy do

tuần.

Này Ananda, kinh đô Kusàvatì này rất phồn thịnh, phú

cường, dân cư đông đúc, dân chúng sung mãn, thực phẩm phong phú. Này

Ananda, cũng như kinh đô Alakamanda của chư thiên rất phồn thịnh, phú cường

dân cư đông đúc, Thiên chúng sung mãn, thực phẩm phong phú, cũng vậy này

Ananda, kinh đô Kusàvatì này cũng rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông

đúc, nhân chúng sung mãn.

Này Ananda, kinh đô Kusàvatì này, ngày đêm vang dậy

chín loại tiếng, tức là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe,

tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiếng tỳ bà, tiếng hát,

tiếng xập xỏa, tiếng chuông và tiếng thứ mười là lời kêu

gọi: "Hãy uống đi, hãy ăn đi".

19. Này Ananda, hãy đi vào Kusinàrà và nói với dân

Mallà Kusinàrà: "Này các Vàsetthà, đêm nay, vào canh cuối cùng, Như Lai

sẽ diệt độ".

- Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Này Vàsetthà,

các Ngươi hãy đến. Về sau chớ có hối hận: "Như Lai đã diệt

độ tại làng vườn chúng ta mà chúng ta không được chiêm ngưỡng Như

Lai".

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, đắp y, đem theo y

bát và cùng một vị khác làm bạn đồng hành đi vào Kusinàrà.

20. Lúc bấy giờ, dân Mallà ở Kusinàrà đang tụ họp

tại giảng đường vì một vài công sự. Tôn giả Ananda đến tại giảng

đường của dân Mallà ở Kusinàrà. Sau khi đến, tôn giả liền nói vói

dân Mallà ở Kusinàrà:

- Này Vàsetthà, đêm nay, vào canh cuối cùng Như Lai sẽ

diệt độ, Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Này Vàsetthà, các

Ngươi hãy đến. Về sau chớ có hối hận: "Như Lai đã diệt độ

tại làng vườn chúng ta mà chúng ta không được chiêm ngưỡng Như Lai".

21. Dân Mallà cùng với con trai, con gái và vợ, khi nghe

tôn giả Ananda nói như vậy, liền đau đớn, sầu muộn, tâm tư khổ não. Kẻ

thì khóc than với đầu bù tóc rối, kẻ thì khóc than với cánh tay duỗi

cao, kẻ thì khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: "Thế

Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn

biến mất ở trên đời quá sớm".

Và dân Mallà cùng với con trai, con gái và vợ đau

đớn, sầu muộn, tâm tư khổ não, đi đến Upavattana, khu rừng Sàlà của

dòng họ Mallà và đến chỗ tôn giả Ananda.

22. Tôn giả Ananda tự nghĩ: "Nếu ta để dân

Mallà ở Kusinàrà đảnh lễ Thế Tôn từng người một, thời đêm sẽ tàn

trước khi Thế Tôn được tất cả dân Mallà đảnh lễ. Vậy ta hãy để

dân Mallà ở Kusinàrà đảnh lễ theo từng gia tộc".

- Bạch Thế Tôn, gia tộc Mallà này với vợ con, đồ

chúng, bạn bè đến cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.

Và tôn giả Ananda, theo phương tiện này trong canh

một, khiến dân Mallà ở Kusinàrà đảnh lễ Thế Tôn.

23. Lúc bấy giờ, du sĩ ngoại đạo Subhadda ở tại

Kusinàrà. Du sĩ ngoại đạo Subhadda được nghe: "Tối nay canh cuối cùng,

Sa-môn Gotama sẽ diệt độ".

Và du sĩ ngoại đạo Subhadda suy nghĩ: "Ta nghe các

du sĩ ngoại đạo niên cao lạp lớn, sư trưởng và đệ tử nói rằng:

"Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất hiện ra đời thật là hy

hữu. Và đêm nay, vào canh cuối cùng Sa-môn Gotama sẽ diệt độ". Nay

có nghi vấn này khởi lên trong tâm ta. Ta tin Sa-môn Gotama có thể

thuyết pháp và giải được nghi vấn cho ta".

24. Rồi du sĩ ngoại đạo Subhadda đi đến Upavattana,

khu rừng Sàla của dân Mallà, đến tại chỗ tôn giả Ananda và thưa với

tôn giả:

- Hiền giả Ananda, tôi nghe các du sĩ ngoại đạo,

niên cao lạp lớn, sư trưởng và đệ tử nói rằng: "Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất hiện ra đời thật là hy hữu, và đêm nay,

vào canh cuối cùng, Sa-môn Gotama sẽ diệt độ". Nay có nghi vấn này

khởi lên trong tâm tôi. Tôi tin Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp giải

được nghi vấn cho tôi. Hiền giả Ananda, hãy cho phép tôi được yết

kiến Sa-môn Gotama.

Khi được nói vậy, tôn giả Ananda nói với du sĩ ngoại

đạo Subhadda:

- Thôi đi Hiền giả Subhadda, chớ có phiền nhiễu

Như Lai. Thế Tôn đang mệt.

Lần thứ hai, du sĩ ngoại đạo Subhadda ... Lần thứ ba, du

sĩ ngoại đạo Subhadda nói với tôn giả Ananda:

- Hiền giả Ananda, tôi nghe các du sĩ ngoại đạo,

niên cao lạp lớn, sư trưởng và đệ tử nói rằng: "Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất hiện ra đời thật là hy hữu, và đêm nay,

vào canh cuối cùng, Sa-môn Gotama sẽ diệt độ". Nay có nghi vấn này

khởi lên trong tâm tôi. Tôi tin Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp giải

được nghi vấn cho tôi. Hiền giả Ananda, hãy cho phép tôi được yết

kiến Sa-môn Gotama.

Lần thứ ba, tôn giả Ananda nói với du sĩ ngoại đạo

Subhadda:

- Thôi đi Hiền giả Subhadda, chớ có phiền nhiễu

Như Lai. Thế Tôn đang mệt.

25. Thế Tôn nghe được câu chuyện của tôn giả

Ananda với du sĩ ngoại đạo Subhadda, Ngài liền nói với tôn giả Ananda:

- Thôi Ananda, chớ có ngăn trở Subhadda, Ananda, hãy

để cho Subhadda được phép yết kiến Như Lai. Những gì Subhadda hỏi

Ta là hỏi để hiểu biết chớ không phải để phiền nhiễu Ta.

Và những gì Ta trả lời các câu hỏi, Subhadda sẽ hiểu ý nghĩa một

cách mau lẹ.

Tôn giả Ananda liền nói với du sĩ ngoại đạo

Subhadda:

- Này Hiền giả Subhadda, hãy vào. Thế Tôn đã

cho phép Hiền giả.

26. Rồi du sĩ ngoại đạo Subhadda đến chỗ

Thế Tôn, nói lên những lời chúc tụng hỏi thăm xã giao, rồi ngồi xuống

một bên. Sau khi ngồi một bên, du sĩ ngoại đạo Subhadda bạch Thế Tôn:

- Tôn giả Gotama, có những Sa-môn, Bà-la-môn là những

vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có

danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, như các ngài

Pàrana Kassapa, Makkhali Gosàla, Ajita Kesakambalì, Pakadha Kaccàyana, Sanjaya

Belatthiputta, Nigantha Nàthaputta, tất cả những vị này có phải là giác ngộ

như các vị đã tự cho như vậy, hay tất cả chưa giác ngộ, hay một số đã

giác ngộ và một số chưa giác ngộ?

- Thôi Subhadda, hãy để vấn đề này yên một

bên: "Tất cả những vị này có phải là đã giác ngộ như các vị đã tự

cho như vậy, hay tất cả chưa giác ngộ, hay một số đã giác ngộ và một số

chưa giác ngộ". Này Subhadda, Ta sẽ thuyết pháp cho Ngươi. Hãy nghe và

suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn!

Du sĩ ngoại đạo Subhadda vâng lời Thế Tôn. Thế

Tôn nói như sau:

27. - Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát

Thánh đạo, thời ở đây không có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng không

có đệ nhị Sa-môn, cũng không có đệ tam Sa-môn, cũng không có

đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda trong pháp luật nào có Bát Thánh đạo, thời ở

đây có đệ nhất Sa-môn, cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ

tam Sa-môn, ở đấy cũng có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda, chính trong pháp

luật này có Bát Thánh Ðạo, thời này Subhadda, ở đây có đệ nhất

Sa-môn, ở đây cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, cũng

có đệ tứ Sa-môn. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có

những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những vị Tỷ-kheo này sống chơn chánh,

thời đời này không vắng những vị A-la-hán.

Này Subhadda, năm hai mươi chín,

Ta xuất gia hướng tìm chân thiện đạo.

Trải năm mươi năm với thêm một năm

Từ khi xuất gia, này Subhadda,

Ta là du sĩ tu Trí, tu Ðức.

Ngoài lãnh vực này, không có Sa-môn đệ nhất

cũng không có Sa-môn đệ nhị, cũng không có Sa-môn đệ tam, cũng

không có Sa-môn đệ tứ. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không

có những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những Tỷ-kheo sống chơn chánh, thì

đời này không vắng những vị A-la-hán.

28. Khi được nói vậy, du sĩ ngoại đạo Subhadda bạch

Thế Tôn:

- Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu

thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã

xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng,

đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy

sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương

tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy

y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong con được xuất gia với Thế Tôn. Con

xin thọ đại giới.

- Này Subhadda, ai trước kia là ngoại đạo, nay muốn

xuất gia muốn thọ đại giới trong Pháp, Luật này phải sống bốn tháng

biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt trú, các vị Tỷ-kheo nếu

đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị

Tỷ-kheo. Nhưng Ta nhận thấy cá tánh con người sai biệt nhau.

29. - Bạch Thế Tôn, nếu những người xưa kia là

ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này

phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt trú, các vị

Tỷ-kheo nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới, thời con

sẽ xin sống biệt trú bốn năm, sau khi sống biệt trú bốn năm, nếu

các vị Tỷ-kheo đồng ý, hãy cho con xuất gia, cho con thọ đại giới

để thành vị Tỷ-kheo.

Và Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

- Này Ananada, hãy xuất gia cho Subhadda.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.

30. Du sĩ ngoại đạo Subhadda nói với tôn giả Ananda:

- Thật là lợi ích, thưa Tôn giả Ananda, thật là

thiện lợi, thưa Tôn giả Ananda, được thọ lễ quán đảnh làm đệ

tử trước mặt bậc Ðạo Sư!

Và du sĩ ngoại đạo Subhadda được xuất gia, được

thọ đại giới với Thế Tôn. Thọ đại giới không bao lâu, đại đức

Subhadda ở một mình, an tịnh, không phóng dật, tinh tấn, sống nhiệt tâm,

cần mẫn. Và không bao lâu, vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu

các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng

đến. Ðó là vô thượng phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự giác chứng

và an trú. Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, sau

đời này sẽ không có đời sống khác nữa.

Và đại đức Subhadda trở thành một A-la-hán nữa. Ðại

đức là vị đệ tử cuối cùng được Thế Tôn tế độ.

Tụng phẩm VI

1. L úc bấy giờ, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

- Này Ananda, nếu trong các ngươi có người nghĩ

rằng: "Lời nói của bậc Ðạo sư không còn nữa. Chúng ta không có Ðạo

sư (giáo chủ)". Này Ananda, chớ có những tư tưởng như vậy. Này Ananda,

Pháp và Luật, Ta đã giảng dạy và trình bày, sau khi Ta diệt độ, chính

Pháp và Luật ấy sẽ là Ðạo Sư của các Ngươi.

2. Này Ananda, nay các vị Tỷ-kheo xưng hô với nhau

là Hiền giả. Sau khi Ta diệt độ, chớ có xưng hô như vậy. Này Ananda,

vị Tỷ-kheo niên lão hãy gọi vị Tỷ-kheo niên thiếu, hoặc bằng

tên, hoặc bằng họ, hoặc bằng tiếng Hiền giả. Vị Tỷ-kheo niên

thiếu, hãy gọi vị Tỷ-kheo niên lão là Thượng tọa (Bhante) hay

Ðại đức.

3. Này Ananda, nếu chúng Tăng muốn, sau khi Ta

diệt độ có thể hủy bỏ những học giới nhỏ nhặt chi tiết.

4. Này Ananda, sau khi Ta diệt độ, hãy hành tội Phạm

đàn (Brahmadanda) đối với Tỷ-kheo Channa.

- Bạch Thế Tôn, thế nào là Phạm đàn?

- Này Ananda, Tỷ-kheo Channa muốn nói gì thì nói.

Chúng Tỷ-kheo sẽ không nói, sẽ không giảng dạy, sẽ không giáo giới

Tỷ-kheo Channa.

5. Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nào nghi

ngờ hay phân vân gì về đức Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương

pháp, thời này các Tỷ-kheo các Người hãy hỏi đi. Sau chớ có hối

tiếc: "Bậc Ðạo Sư có mặt trước chúng ta mà chúng ta không tận mặt

hỏi Thế Tôn".

Khi được nói vậy, các Tỷ-kheo ấy im lặng. Một lần

thứ hai, Thế Tôn.... Một lần thứ ba, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, nếu có một Tỷ-kheo có nghi

ngờ hay phân vân gì về đức Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp, thời

này các Tỷ-kheo, các ngươi hãy hỏi đi. Sau chớ có hối

tiếc: "Bậc Ðạo Sư có mặt trước chúng ta mà chúng ta không tận mặt

hỏi Thế Tôn".

Lần thứ ba, các Tỷ-kheo ấy giữ im lặng.

Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, nếu có vị nào vì lòng kính

trọng bậc Ðạo Sư mà không hỏi, thời này các Tỷ-kheo, giữa bạn đồng

tu, hãy hỏi nhau.

Khi được nói vậy, những vị Tỷ-kheo ấy giữ im

lặng.

6. Rồi tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, thật kỳ diệu thay, bạch Thế

Tôn, thật hy hữu thay! Bạch Thế Tôn, con tin rằng trong chúng Tỷ-kheo

này, không có một Tỷ-kheo nào có nghi ngờ hay phân vân gì đối với Phật,

Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp.

- Này Ananda, ngươi có tín nhiệm nên nói vậy.

Nhưng ở đây, này Ananda, Như Lai biết rằng trong chúng Tỷ-kheo này,

không có một Tỷ-kheo nào có nghi ngờ hay phân vân gì đối với Phật,

Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp. Này Ananda, trong năm trăm Tỷ-kheo

này, Tỷ-kheo thấp nhất đã chứng được quả Dự lưu, không còn đọa

lạc, chắc chắn hướng đến Chánh giác.

7. Và Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, nay Ta khuyên dạy các ngươi:

"Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật".

Ðó là lời cuối cùng Như Lai.

8. Rồi Thế Tôn nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ

thiền, Ngài nhập Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập Tam

thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài

nhập định Không vô biên xứ. Xuất Không vô biên xứ, Ngài nhập định Thức

vô biên xứ. Xuất Thức vô biên xứ, Ngài nhập định Vô sở hữu xứ. Xuất Vô

Sở hữu xứ, Ngài nhập định Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Xuất Phi tưởng phi

phi tưởng xứ, Ngài nhập Diệt thọ tưởng định.

Khi ấy tôn giả Ananda nói với tôn giả Anuruddha:

- Thưa Tôn giả, Thế Tôn đã diệt độ.

- Này Hiền giả Ananda, Thế Tôn chưa diệt

độ. Ngài mới nhập Diệt thọ tưởng định.

9. Rồi xuất Diệt thọ tưởng định, Ngài nhập Phi

tưởng phi phi tưởng xứ định. Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Vô

sở hữu xứ định. Xuất Vô sở hữu xứ, Ngài nhập Thức vô biên xứ định. Xuất

thức Vô biên xứ, Ngài nhập Hư không vô biên xứ định. Xuất Hư không vô

biên xứ, Ngài nhập định Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Tam

thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Nhị thiền. Xuất Nhị

thiền, Ngài nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền, Ngài nhập định

Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Tam thiền. Xuất Tam

thiền, Ngài nhập định Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài lập tức

diệt độ.

10. Khi Thế Tôn diệt độ, cùng với sự diệt

độ, đại địa chấn động khủng khiếp, râu tóc dựng ngược, sấm trời vang

động.

Khi Thế Tôn diệt độ, Phạm thiên Sahampati, cùng

lúc Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:

Chúng sanh ở trên đời,

Từ bỏ thân ngũ uẩn

Bậc đạo sư cũng vậy,

Ðấng Tuyệt luân trên đời.

Bậc Ðại hùng Giác ngộ

Như Lai đã diệt độ.

Khi Thế Tôn diệt độ, Thiên chủ Sakka, cùng lúc

Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:

Các hành là vô thường,

Có sanh phải có diệt

Ðã sanh, chúng phải diệt,

Nhiếp chúng là an lạc.

Khi Thế Tôn diệt độ, tôn giả Anuruddha, cùng

lúc Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:

Không phải thở ra vào

Chính tâm trú chánh định

Không tham ái tịch tịnh

Tu sĩ hướng diệt độ

Chính tâm tịnh bất động

Nhẫn chịu mọi cảm thọ

Như đèn sáng bị tắt

Tâm giải thoát hoàn toàn.

Khi Thế Tôn diệt độ, tôn giả Ananda, cùng lúc

Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:

Thật kinh khủng bàng hoàng,

Thật râu tóc dựng ngược,

Khi Bậc Toàn thiện năng,

Bậc Giác ngộ nhập diệt.

Khi Thế Tôn diệt độ, những Tỷ-kheo chưa

giải thoát tham ái, có vị thì khóc than với cánh tay duỗi cao, có vị thì

khóc than, thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: "Thế Tôn nhập

diệt quá sớm, Thiện Thệt nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến

mất ở trên đời quá sớm". Còn những Tỷ-kheo đã diệt trừ tham

ái, những vị này an trú chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại, suy tư: "Các

hành là vô thường, làm sao tránh khỏi sự kiện ấy?"

11. Lúc bấy giờ, tôn giả Anuruddha nói với các

Tỷ-kheo:

- Thôi các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc

than. Này các Hiền giả, phải chăng Thế Tôn đã tuyên bố ngay từ ban

đầu rằng mọi vật ưu ái thân tình đều phải sanh biệt, tử

biệt và dị biệt. Này các Hiền giả, làm sao có thể được như

vầy: "Những gì sanh, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong

khỏi có sự biến dịch? Thật không có sự trạng ấy". Này các Hiền

giả, chính chư Thiên đang trách đó.

- Thưa Tôn giả Anuruddha, Tôn giả đang nghĩ đến

hạng chư Thiên nào?

- Hiền giả Ananda, có hạng chư Thiên ở trên hư

không nhưng có tâm tư thế tục, những vị này khóc than với đầu bù tóc

rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân bổ nhoài dưới đất,

lăn lộn qua lại: "Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ

nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm".

Hiền giả Ananda, có hạng chư Thiên ở trên đất với

tâm tư thế tục, những vị này khóc than với đầu bù tóc rối, khóc than

với cánh tay duỗi cao, khóc than thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua

lại: "Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt

quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm". Còn những chư

Thiên diệt trừ ái dục, những vị này chánh niệm tỉnh giác, chịu đựng

với tâm suy tư: "Các hành là vô thường, làm sao có thể khác

được?"

12. Tôn giả Anuruddha và tôn giả Ananda luận bàn về

Chánh pháp suốt cả đêm còn lại. Rồi tôn giả Anuruddha nói với tôn giả

Ananda:

- Hiền giả Ananda, hãy vào thành Kusinàrà: "Này

Vàsetthà, Thế Tôn đã diệt độ, hãy làm những gì các ngươi nghĩ

phải làm".

- Tôn giả, xin vâng!

Tôn giả Ananda vâng lời tôn giả Anuruddha, buổi sáng

đắp y, đem theo y bát cùng một thị giả, vào thành Kusinàrà.

Lúc bấy giờ, dân Mallà ở Kusinàrà đang tụ họp

tại giảng đường vì một vài công vụ. Tôn giả Ananda đến tại giảng

đường của dân Mallà ở Kusinàrà, sau khi đến liền nói với dân Mallà

ở Kusinàrà: "Này Vàsetthà, Thế Tôn đã diệt độ, hãy làm những

gì các ngươi nghĩ phải làm".

Dân Mallà cùng với con trai, con gái và vợ, khi nghe tôn

giả Ananda nói như vậy liền đau đớn sầu muộn, tâm tư khổ não, kẻ thì

khóc than với đầu bù tóc rối, kẻ thì khóc than với cánh tay duỗi cao, kẻ

thì khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: "Thế Tôn

nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn

biến mất ở trên đời quá sớm".

13. Rồi dân Mallà ở Kusinàrà ra lệnh cho những

người làm: "Các người hãy gom góp hương, tràng hoa và tất cả nhạc khí

ở Kusinàrà".

Rồi dân Kusinàrà đem theo hương, tràng hoa, tất cả

nhạc khí và năm trăm cuộn vải đi đến Upavattana, tại rừng Sàlà của

dòng họ Mallà, đến tại chỗ thân xá lợi của Thế Tôn, rồi

chúng ở lại cả ngày tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá

lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương, làm

những bảo cái bằng vải và tràng hoa Mandala.

Rồi dân Mallà ở Kusinàrà suy nghĩ: "Hôm nay,

nếu thiêu thân xá lợi Thế Tôn thời quá sớm. Ngày mai, chúng ta sẽ

làm lễ thiêu thân xá lợi của Thế Tôn". Rồi dân Mallà ở Kusinàrà,

cả ngày thứ hai, tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi

Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương, làm những

bảo cái bằng vải và tràng hoa Mandala, ngày thứ ba cũng như vậy, ngày thứ tư

cũng như vậy, ngày thứ năm cũng như vậy. Ngày thứ sáu cũng như vậy.

14. Ðến ngày thứ bảy, dân Mallà ở Kusinàrà suy

nghĩ: "Chúng ta đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân

xá lợi Thế Tôn với các điệu múa hát, nhạc, tràng hoa, hương, nay

chúng ta hãy chở thân xác xá lợi Thế Tôn ra ngoài thành về phía Nam

và làm lễ thiêu thân tại chỗ ấy".

Lúc bấy giờ tám vị tộc trưởng Mallà gội đầu, mặc

áo mới với ý định khiêng nổi thân xá lợi Như Lai nhưng khiêng không

nổi được. Các vị Mallà ở Kusinàrà bạch Tôn giả Anuruddha:

- Bạch Tôn giả, do nhân gì, do duyên gì tám vị tộc

trưởng Mallà này gội đầu, mặc áo mới với ý định khiêng nổi thân xá

lợi Như Lai, nhưng không khiêng nổi được?

- Này Vàsetthà, vì ý định của các Ngươi khác,

ý định của chư Thiên khác.

15. - Bạch Tôn giả, ý định của chư Thiên là gì?

- Này các Vàsetthà, ý định của các Ngươi như

sau:

"Chúng ta đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ,

cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng

hoa, hương. Nay chúng ta hãy chở thân xá lợi Thế Tôn ra ngoài thành

về phía Nam và làm lễ thiêu thân tại chỗ ấy".

Này các Vàsetthà, ý định của chư Thiên như sau:

"Chúng ta đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi

Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương của

Chư thiên, nay chúng ta hãy khiêng thân xá lợi Thế Tôn về hướng Bắc

phía Bắc của thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Bắc, hãy khiêng qua Trung tâm

của thành, rồi hướng về phía Ðông, khiêng đến phía Ðông của

thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Ðông, hãy khiêng đến phía Ðông của

thành, tại đền của dân Mallà tên là Makuta-bandhana và chúng ta sẽ thiêu

thân Thế Tôn tại chỗ ấy".

- Bạch Tôn giả, ý định của chư Thiên thế nào,

ý định của chúng con cũng vậy.

16. Lúc ấy, khắp cả Kusinàrà cho đến đống bụi,

đống rác, được rải la liệt lên đến đầu gối toàn hoa Mandaràva.

Rồi chư Thiên và các dân Mallà ở Kusinàrà, sau khi đã tôn trọng, cung

kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa,

hát, nhạc, tràng hoa, hương của chư Thiên và loài Người, liền khiêng

thân xá lợi Thế Tôn về phía Bắc của Thành. Sau khi khiêng qua cửa

phía Bắc, liền khiêng qua Trung tâm của thành, rồi hướng về phía

Ðông, khiêng đến phía Ðông của thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Ðông,

liền khiêng đến phía Ðông của thành, tại đền của dân Mallà tên

là Makuta-bandhana và đặt thân xá lợi của Thế Tôn tại chỗ ấy.

17. Rồi dân Mallà bạch tôn giả Ananda:

- Bạch Tôn giả Ananda, chúng con nay phải xử sự như

thế nào đối với thân xá lợi Như Lai?

- Này các Vàsetthà, xử sự thân Chuyển luân Thánh

vương như thế nào, hãy xử sự thân xá lợi Như Lai như vậy.

- Bạch Tôn giả Ananda, xử sự thân Chuyển luân Thánh

vương phải như thế nào?

- Này các Vàsetthà, thân Chuyển luân Thánh vương

được vấn tròn với vải mới. Sau khi vấn vải mới, lại được vấn thêm với

vải gai bện. Sau khi vấn với vải gai bện, lại vấn thêm với vải mới và

tiếp tục như vậy cho đến năm trăm lớp cả hai loại vải. Rồi thân

được đặt trong một hòm dầu bằng sắt, hòm sắt này được một hòm sắt khác

đậy kín. Xong một giàn hỏa gồm mọi loại hương được xây dựng lên,

thân vị Chuyển luân Thánh vương được đem thiêu trên giàn hỏa này, và

tại ngã tư đường, tháp vị Chuyển luân Thánh vương này được xây dựng

lên. Này các Vàsetthà, đó là pháp táng thân của vị Chuyển luân Thánh

vương.

Này các Vàsetthà, pháp táng thân của vị Chuyển

luân Thánh vương như thế nào, pháp táng thân của Thế Tôn cũng như

vậy. Tháp của Như Lai phải được dựng lên tại ngã tư đường. Và những ai

đem đến tại chỗ ấy vòng hoa, hương, hay hương bột nhiều màu,

đảnh lễ tháp hay khởi tâm hoan hỷ (khi đứng trước mặt tháp) , thời

những người ấy sẽ được lợi ích, hạnh phúc lâu dài.

18. Và các người Mallà ở Kusinàrà sai những người

làm công:

- Hãy đem lại tất cả vải gai bện của Mallà .

Rồi những người Mallà ở Kusinàrà vấn tròn thân

Thế Tôn với vải mới. Sau khi vấn vải mới xong, lại vấn thêm với vải gai

bện. Sau khi vấn với vải gai bện lại vấn thêm với vải mới và tiếp

tục như vậy cho đến năm trăm lớp cả hai loại vải. Rồi đặt thân Như Lai

vào trong một hòm dầu bằng sắt, đậy hòm sắt này vào một hòm sắt khác,

dựng lên một giàn hỏa gồm mọi loại hương và đặt thân Thế Tôn trên

giàn hỏa.

19. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahà Kassapa đang đi giữa

đường từ Pàvà đến Kusinàrà với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm

vị. Rồi Tôn giả Mahà Kassapa bước xuống đường và đến ngồi tại một

gốc cây.

Lúc bấy giờ có một tà mạng ngoại đạo lấy một hoa

Mandàrava ở Kusinàrà và đang đi trên một con đường đến Pàvà.

Tôn giả Mahà Kassapa thấy tà mạng ngoại đạo đi từ

đàng xa đến. Thấy vậy, tôn giả liền hỏi tà mạng ngoại đạo ấy:

- Này Hiền giả, Hiền giả có biết bậc Ðạo

sư chúng tôi không?

- Này Hiền giả, tôi có biết. Sa-môn Gotama đã

diệt độ cách hôm nay một tuần. Từ chỗ ấy, tôi được hoa Mandàrava

này.

Lúc ấy những Tỷ-kheo chưa giải thoát tham ái, có

vị thì khóc than với cánh tay duỗi cao, có vị thì khóc than, thân nằm

nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: "Thế Tôn nhập diệt quá sớm,

Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời

quá sớm". Còn những Tỷ-kheo đã diệt trừ tham ái, những vị này

an trú chánh niệm, tỉnh giác, nhẫn nại suy tư: "Các hành là vô

thường, làm sao tránh khỏi sự kiện ấy?"

20. Lúc bấy giờ, Subhadda được xuất gia khi đã lớn

tuổi đang ngồi trong hội chúng này. Subhadda được xuất gia khi đã lớn tuổi

nói với những Tỷ-kheo ấy:

- Thôi các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc

than. Chúng ta đã được thoát khỏi hoàn toàn vị Ðại Sa-môn ấy, chúng ta

đã bị phiền nhiễu quấy rầy với những lời: "Làm như thế này

không hợp với các Ngươi. Làm như thế này hợp với các Ngươi". Nay

những gì chúng ta muốn, chúng ta làm, những gì chúng ta không muốn, chúng ta

không làm.

Tôn giả Mahà Kassapa mới nói với các vị Tỷ-kheo:

- Thôi các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc

than. Này các Hiền giả, phải chăng Thế Tôn đã tuyên bố ngay từ ban

đầu rằng mọi vật ưu ái thân tình đều phải bị sanh biệt, tử

biệt và dị biệt. Này các Hiền giả, làm sao có thể được như

vầy: Những gì sanh, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong khỏi

có sự biến dịch? Thật không có sự trạng ấy.

21. Lúc bấy giờ bốn vị tộc trưởng Mallà gội đầu,

mặc áo mới với ý định châm lửa thiêu giàn hỏa Thế Tôn nhưng châm

lửa không cháy.

Các vị Mallà ở Kusinàrà bạch tôn giả Anuruddha:

- Bạch Tôn giả, do nhân gì, do duyên gì, bốn vị tộc

trưởng Mallà này gội đầu, mặc áo mới với ý định châm lửa thiêu giàn

hỏa Thế Tôn, nhưng châm lửa không cháy?

- Này các Vàsetthà, ý định của chư Thiên khác.

- Bạch Tôn giả, ý định của chư Thiên như thế

nào?

- Này các Vàsetthà, ý định của chư Thiên như sau:

"Tôn giả Mahà Kassapa nay đang đi giữa đường giữa Pàvà và Kusinàrà

cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Giàn hỏa Thế Tôn chỉ

được đốt cháy khi tôn giả Mahà Kassapa cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn".

- Bạch Tôn giả, ý định chư Thiên như thế nào,

hãy làm y như vậy.

22. Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đến tại đền Makuta

Bandhana của những vị Mallà tại giàn hỏa Thế Tôn, khi đến xong

liền choàng áo phía một bên vai, chấp tay, đi nhiễu phía tay phải xung

quanh giàn hỏa ba lần, cởi mở chân ra và cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.

Năm trăm vị Tỷ-kheo ấy choàng áo phía một bên vai,

chấp tay, đi nhiễu qua phía tay phải xung quanh giàn hỏa ba lần và cúi đầu

đảnh lễ chân Thế Tôn.

Và khi tôn giả Mahà Kassapa và năm trăm vị Tỷ-kheo

đảnh lễ xong, thời giàn hỏa Thế Tôn tự bắt lửa cháy.

23. Khi thân Thế Tôn đã cháy, từ da ngoài cho

đến da mỏng, thịt, dây gân hay nước giữa các khớp xương, thảy đều

cháy sạch không có tro, không có than, chỉ có xương xá lợi còn lại.

Như sanh tô hay dầu bị cháy, tất cả đều cháy sạch

không có tro, không có than, cũng vậy khi thân Thế Tôn cháy, từ da ngoài

cho đến da mỏng, thịt, dây gân hay nước giữa khớp xương, tất cả

đều cháy sạch không có tro, không có than, chỉ có xương xá lợi còn

lại. Và năm trăm tầng lớp vải gai bện, cả hai lớp trong nhất và lớp

ngoài nhất đều bị cháy thiêu.

Khi thân Thế Tôn bị thiêu cháy xong, một dòng nước

từ hư không chảy xuống tưới tắt giàn hỏa Thế Tôn, và một dòng nước

từ kho nước (hay từ cây sàlà) phun lên tưới tắt giàn hỏa Thế Tôn, và

các người Mallà ở Kusinàrà dùng nước với mọi loại hương tưới tắt

giàn hỏa Thế Tôn.

Rồi các người Mallà xứ Kusinàrà đặt xá lợi Thế

Tôn trong giảng đường, dùng cây thương làm hàng rào, dùng cây cung làm bức

thành xung quanh và trong bảy ngày tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường

với các điệu múa, hát, nhạc, vòng hoa, hương.

24. Vua nước Magadha tên là Ajàtasattu Vedehiputta nghe tin

Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà. Vua liền gởi một sứ giả

đến các người Mallà ở Kusinàrà: "Thế Tôn là người

Sát-đế-lỵ, ta cũng là người Sát-đế-lỵ. Ta cũng xứng đáng

được một phần xá lợi Thế Tôn, ta cũng dựng tháp và tổ chức nghi lễ

đối với xá lợi Thế Tôn".

Những người Licchavì ở Vesàli nghe tin Thế Tôn đã

diệt độ ở Kusinàrà liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở

Kusinàrà: "Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là

người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được phần xá lợi

Thế Tôn. Chúng tôi cũng dựng tháp và tổ chức nghi lễ đối với xá-lợi

Thế Tôn".

Các người Sakyà ở Kapilavatthu nghe tin Thế Tôn đã

diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà

ở Kusinàrà: "Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng

là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá

lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ với

xá-lợi Thế Tôn".

Những người Buli ở Allakappa nghe tin Thế Tôn đã

diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà

ở Kusinàrà: "Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng

là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần

xá-lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ

đối với xá lợi Thế Tôn".

Những người Koli ở Rãmagãma nghe tin Thế Tôn đã

diệt độ ở Kusinàrà , liền gởi một sứ giả đến các người Mallà

ở Kusinàrà: "Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng

là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá

lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối

với xá lợi Thế Tôn."

Bà-la-môn Vethadìpaka nghe tin Thế Tôn đã diệt

độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở

Kusinàrà: "Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, tôi là người

Bà-la-môn. Tôi cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn. Tôi cũng

sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn".

Các người Mallà ở Pàvà nghe tin Thế Tôn đã

diệt độ liền gửi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà:

"Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người

Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá-lợi Thế

Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá-lợi

Thế Tôn".

25. Khi được nói vậy, các người Mallà ở Kusinàrà

liền tuyên bố giữa đại chúng:

- Thế Tôn đã diệt độ tại làng vườn của

chúng tôi, chúng tôi sẽ không cho phần xá lợi nào của Thế Tôn.

Khi nghe vậy, Bà-la-môn Dona nói với chúng:

Tôn giả, hãy nghe lời tôi nói!

Phật dạy chúng ta phải kham nhẫn.

Thật không tốt nếu có tranh giành.

Khi chia xá lợi bậc Thượng nhân.

Chúng ta hãy đoàn kết nhất tâm,

Hoan hỷ chia xá lợi tám phần.

Chúng ta hãy dựng tháp mọi phương,

Ðại chúng mười phương tin Pháp nhãn...

- Này Tôn giả Bà-la-môn, Ngài hãy phân chia xá lợi ra

tám phần đồng đều.

- Xin vâng, các Tôn giả.

Bà-la-môn Dona vâng lời hội chúng ấy, phân chia xá-lợi

Thế Tôn thành tám phần đồng đều rồi thưa hội chúng:

- Các Tôn giả, hãy cho tôi cái bình dùng để đong

chia xá-lợi này. Tôi sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ cho cái bình.

Và hội chúng ấy tặng Bà-la-môn Dona cái bình.

26. Và người Moriyà ở Pipphalivana nghe tin Thế Tôn

đã diệt độ liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở

Kusinàrà: "Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là

người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được hưởng một phần

xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ

đối với xá-lợi Thế Tôn". - "Nay không còn phần xá-lợi Thế

Tôn nào. Xá-lợi Thế Tôn đã được phân chia, hãy lấy tro còn lại".

Rồi các vị nầy lấy than tro còn lại.

27. Và vua nước Magadha tên là Ajàtasattu, con bà Videhi

xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Vương Xá và tổ chức lễ cúng

dường.

Những người Licchavi ở Vesàli cũng xây dựng tháp trên

xá-lợi Thế Tôn tại Vesàli và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Sakya ở Kapilavatthu cũng xây dựng trên

xá-lợi Thế Tôn tại Kapilavatthu và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Buli ở Allakappa cũng xây dựng tháp trên

xá lợi Thế Tôn tại Allakappa và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Koli ở Ràmagama cũng xây dựng tháp trên

xá-lợi Thế Tôn tại Ràmagama và tổ chức lễ cúng dường.

Bà-la-môn Vethadìpaka cũng xây dựng tháp trên xá-lợi

Thế Tôn tại Vethadìpa và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Mallà ở Pàvà cũng xây dựng tháp trên

xá-lợi Thế Tôn tại Pàvà và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Màllà ở Kusinàrà cũng xây dựng tháp

trên xá-lợi Thế Tôn tại Kusinàrà và tổ chức lễ cúng dường.

Bà-la-môn Dona cũng xây dựng tháp trên bình (dùng

để đong chia xá-lợi) và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Moriyà ở Pipphalivana cũng xây dựng tháp

trên những than tro và tổ chức lễ cúng dường.

Như vậy có tám tháp xá-lợi, tháp thứ chín trên bình

(dùng để đong chia xá-lợi) và tháp thứ mười trên tro (xá-lợi).

Ðó là truyền thống thời xưa như vậy.

28.

Ðấng Pháp Nhãn Vô Thượng

Xá-lợi phân tám phần.

Bảy phần được cúng dường.

Tại Jambudìpa.

Một phần Long vương cúng.

Tại Ràmagàma.

Một răng Phật được cúng,

Tại cõi Tam Thiên giới,

Một tại Gandhàra,

Một tại Kalinga.

Một răng, vua Long vương.

Tự mình riêng cúng dường.

Quả đất được chói sáng,

Với hào quang xá-lợi,

Với lễ vật cúng dường.

Hạng thượng phẩm, thượng đẳng.

Xá-lợi đấng Pháp Nhãn.

Như vậy được cúng dường,

Bởi những bậc tôn trọng

Cúng kính lễ cúng dường,

Bởi những bậc tôn trọng

Cúng kính lễ cúng dường.

Bởi Thiên, Long, Nhơn chủ,

Bởi bậc Tối thượng nhơn.

Các người hãy chắp tay,

Cung kính lễ cúng dường.

Khó thay sự chiêm ngưỡng.

Tôn nhan bậc Như Lai.

Trải nhiều nhiều trăm kiếp,

May lắm được một lần.

Hòa thượng Thích Minh

Châu dịch Việt