Kinh Trường Bộ · Dīgha Nikāya

Kinh Ambattha (A-ma-trú)

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Trường Bộ

Kinh Trung Bộ · Bài 3

Kinh Ambattha (A-ma-trú)#

(Ambattha sutta)

Trường Bộ Kinh

Digha Nikaya

3. Kinh Ambattha (A-ma-trú)

(Ambattha sutta)

Tụng phẩm thứ nhất

1. N hư vầy tôi nghe. Một thời

Thế Tôn đang du hành tại nước Kosala (Câu-tát-la), cùng với Ðại chúng

Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị và đến tại một làng Bà-la-môn ở Kosala

tên là Icchànankala. Tại đây, Thế Tôn ở tại Icchànankala trong khu rừng

tên là Icchànankala.

Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasàdi ở tại Ukkattha, một

chỗ dân cư đông đúc, cây cỏ, ao nước, ngũ cốc phong phú, vốn là đất

đai của vua, sau vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) cấp cho để hưởng một phần lợi

tức.

2. Bà-la-môn Pokkharasàdi nghe đồn: Sa-môn Gotama là

Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích ca, nay đang du hành tại nước Kosala,

cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, đã đến Icchànankala,

ở tại Icchànankala trong khu rừng tên là Icchànankala. Những tiếng đồn tốt

đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama: "Ngài là bậc

Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ,

Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư,

Phật, Thế Tôn. Ngài đã tự chứng ngộ thế giới này với Thiên giới, Ma

giới, Phạm thiên giới, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài

Người, tự chứng ngộ rồi hiển thị cho mọi loài được biết, Ngài

thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy

đủ, trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh. Nếu được

yết kiến một vị A-la-hán như vậy thì rất quý".

3. Lúc bấy giờ, thanh niên Ambattha (A-ma-trú) là đệ

tử của Bà-la-môn Pokkharasàdi, một vị đọc tụng Thánh điển, chấp trì

chú thuật, tinh thông ba tập Vệ đà với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và

thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm

hiểu Thuận thế luận và Ðại nhân tướng. Vị này độc đáo về ba

minh và được công nhận như vậy khiến các thân giáo sư phải nói:

"Ðiều gì ta biết, ngươi cũng biết; điều gì ngươi

biết, ta cũng biết".

4. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Pokkharasàdi nói với thanh

niên Ambattha: "Này Ambattha thân yêu, Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia

từ dòng họ Thích ca, nay đang du hành tại nước Kosala, cùng với đại

chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, đã đến tại Icchànankala trú tại

Icchànankala. Những tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi

về Sa-môn Gotama: "Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng

Giác, ... Phật, Thế Tôn. Ngài đã chứng ngộ thế giới này với Thiên giới,

Ma giới, Phạm thiên giới, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài

Người, tự chứng ngộ rồi hiển thị cho mọi loài được biết. Ngài

thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy

đủ, trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh. Nếu được

yết kiến một vị A-la-hán như vậy thì rất quý". Này Ambattha

thân yêu, hãy đi đến gặp Sa-môn Gotama, và tìm hiểu lời đồn về

Tôn giả Gotama là như vậy hay không phải như vậy. Nhờ vậy, chúng ta sẽ

được biết về Tôn giả Gotama".

5. - Làm thế nào con được biết về Tôn giả

Gotama, được biết lời đồn về Tôn giả Gotama như vậy là đúng hay

không, có phải Tôn giả Gotama là như vậy, hay không phải như vậy?

- Ambattha thân yêu, theo truyền thống của chúng ta

về ba mươi hai tướng của vị đại nhân, những ai có ba mươi hai tướng

ấy sẽ chọn trong hai con đường, không có đường nào khác. Nếu là

tại gia, sẽ thành vị Chuyển luân Thánh vương chinh phục mọi quốc độ,

đầy đủ bảy châu báu. Bảy món báu này là xe báu, voi báu, ngựa báu, ma ni

báu, ngọc nữ báu, cư sĩ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Và vị này

có hơn một ngàn con trai, là những vị anh hùng, oai phong lẫm liệt,

chiến thắng ngoại quân. Vị này sống, thống lãnh quả đất cùng tận cho

đến đại dương, và trị vì với chánh pháp, không dùng gậy, không dùng

dao. Nếu vị này xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị này

sẽ chứng quả A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quét sạch mê lầm ở đời. Này

Ambattha thân yêu, ta đã cho con chú thuật. Con đã nhận những chú thuật ấy.

6. - Thưa vâng.

Thanh niên Ambattha vâng theo lời của Bà-la-môn

Pokkharasàdi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Bà-la-môn Pokkharasàdi,

hướng thân về phía hữu, cỡi xe ngựa cái và cùng một số đông thanh niên

khác đi đến khu rừng Icchànankala. Ði xe đến chỗ không còn đi được

xe, Ambattha liền xuống xe đi bộ và đến tại tịnh xá.

7. Lúc bấy giờ một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh

hành ngoài trời. Thanh niên Ambattha liền đến các Tỷ-kheo ấy và

hỏi: "Các Hiền giả, nay Tôn gả Gotama ở tại chỗ nào? Chúng tôi

đến đây để yết kiến Tôn giả Gotama".

8. Các Tỷ-kheo liền nghĩ: "Thanh niên Ambattha

này thuộc một gia đình có danh tiếng, là đệ tử của Bà-la-môn

Pokkharasàdi, một vị cũng có danh tiếng. Một cuộc đối thoại như vậy giữa

Thế Tôn và con một quý tộc như vậy, không có khó khăn gì". Những

Tỷ-kheo ấy nói với thanh niên Ambattha: "Này Ambattha, tịnh xá đóng

cửa kia là chỗ ở của Ngài. Hãy đến đó một cách yên lặng, không

vượt qua hành lang, đằng hắng và gõ vào thanh cửa, Thế Tôn sẽ mở cửa

cho ông".

9. Thanh niên Ambattha liền đi đến tịnh xá đóng

cửa ấy một cách yên lặng, không vượt quá hành lang, đằng hắng và gõ vào

thanh cửa. Thế Tôn mở cửa và thanh niên Ambattha bước vào. Các thanh niên

khác cũng bước theo, nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế

Tôn và ngồi xuống một bên, còn thanh niên Ambattha thời đi qua đi lại, thốt

ra những lời hỏi thăm nhát gừng trong khi Thế Tôn đang ngồi, hay đứng lại

thốt ra những lời hỏi thăm nhát gừng trong khi Thế Tôn đang ngồi.

10. Lúc bấy giờ Thế Tôn nói với thanh niên Ambattha:

- Có phải, đối với các bậc Bà-la-môn trưởng lão,

đứng tuổi, các bậc giáo sư và tổ sư, ngươi cũng nói chuyện như vậy,

như ngươi đã đi qua lại thốt ra những lời hỏi thăm nhát gừng trong khi Ta

đang ngồi, hay đứng lại thốt ra những lời hỏi thăm nhát gừng trong khi Ta

đang ngồi?

- Không phải vậy, này Gotama. Phải đi mà nói chuyện

với một vị Bà-la-môn, này Gotama, nếu vị ấy đang đi. Phải đứng mà nói

chuyện với một vị Bà-la-môn, này Gotama, nếu vị ấy đang đứng. Phải

ngồi mà nói chuyện với một vị Bà-la-môn, này Gotama, nếu vị ấy đang

ngồi. Phải nằm mà nói chuyện với một vị Bà-la-môn, này Gotama, nếu

vị ấy đang nằm. Chỉ với những vị Sa-môn hèn hạ, trọc đầu, đê

tiện, đen đủi, sanh từ nơi chân của bà con ta, thì ta mới nói chuyện

như vậy, như với ngươi, Gotama".

11. - Này Ambattha, hình như ngươi đến đây với

một ý định gì? Ngươi hãy khéo tác ý đến mục đích đã đưa

ngươi đến đây. Thanh niên Ambattha này thật vô giáo dục, dầu nó tự cho

là có giáo dục. Như vậy là vô giáo dục, có gì khác nữa!

12. Thanh niên Ambattha bị Thế Tôn gọi là vô

giáo dục như vậy, liền phẫn nộ, tức tối, muốn nhục mạ Thế Tôn, phỉ

báng Thế Tôn, công kích Thế Tôn, và nghĩ: "Sa-môn Gotama có ác

ý đối với ta", liền nói với Thế Tôn:

- Này Gotama, thô bạo là dòng họ Thích ca; này

Gotama, ác độc là dòng họ Thích ca; này Gotama, khinh suất là dòng họ

Thích ca; này Gotama hung dữ là dòng họ Thích ca. Là đê tiện, thuộc

thành phần đê tiện, dòng họ Thích ca không kính nhường Bà-la-môn,

không lễ bái Bà-la-môn, không cúng dường Bà-la-môn, không tôn trọng

Bà-la-môn . Này Gotama, như vậy thật không phải lẽ, thật không đúng pháp, khi

dòng họ Thích ca này, những hạng đê tiện, thuộc thành phần đê

tiện lại không kính nhường Bà-la-môn, không cung kính Bà-la-môn, không

lễ bái Bà-la-môn, không cúng dường Bà-la-môn, không tôn trọng Bà-la-môn

.

Như vậy, thanh niên Ambattha lần đầu tiên đã buộc tội

dòng họ Thích ca là đê tiện. .

13. - Này Ambattha, dòng họ Thích ca đã làm gì phật

lòng ngươi?

- Này Gotama, một thời ta đi đến Kapilavatthu

(Ca-tỳ-la-vệ) có việc phải làm cho thầy ta là Bà-la-môn Pokkharasàdi,

và đến tại công hội trường của dòng họ Thích. Lúc bấy giờ một số

đông dòng họ Thích ca và thanh niên Thích ca đang ngồi trên ghế cao

tại công hội trường. Chúng cười với nhau, dùng ngón tay thọc cù nôn với

nhau, ta nghĩ chắc chắn ta là mục tiêu cho chúng đùa giỡn với nhau, lại không

ai mời ta ngồi. Này Gotama, như vậy thật không phải lẽ, thật không đúng

pháp, khi chúng Thích ca này là những hạng đê tiện, thuộc thành phần đê

tiện lại không kính nhường Bà-la-môn, không cung kính Bà-la-môn, không

lễ bái Bà-la-môn, không cúng dường Bà-la-môn, không tôn trọng Bà-la-môn

.

Như vậy thanh niên Ambattha lần thứ hai đã buộc tội

dòng họ Thích ca là đê tiện.

14. - Này Ambattha, cũng như con chim cáy, con chim cáy con

có thể tự hát thỏa thích trong tổ của nó. Này Ambattha, Kapilavatthu thuộc

dòng họ Thích ca. Thật không xứng để cho Ambattha phải phật lòng vì

một vấn đề nhỏ mọn này.

15. - Này Gotama, có bốn giai cấp: Sát đế lỵ,

Bà-la-môn, Phệ-xá và Thủ-đà-la. Này Gotama, trong bốn giai cấp này, ba

giai cấp Sát-đế-lỵ, Phệ-xá và Thủ-đà-la là để hầu hạ hạng

Bà-la-môn . Này Gotama, như vậy thật không phải lẽ, thật không đúng pháp khi

chúng Thích-ca này là những hạng đê tiện, thuộc thành phần đê tiện,

lại không kính nhường Bà-la-môn, không cung kính Bà-la-môn, không lễ bái

Bà-la-môn, không tôn trọng Bà-la-môn .

Như vậy, thanh niên Ambattha lần thứ ba đã buộc tội

dòng họ Thích ca là đê tiện.

16. Lúc bấy giờ Thế Tôn nghĩ: "Thanh niên

Ambattha này đã phỉ báng dòng họ Thích-ca đê tiện một cách quá

đáng. Nay ta phải hỏi dòng họ của nó". Rồi Thế Tôn hỏi thanh

niên Ambattha:

- Dòng họ ngươi là gì?

- Này Gotama, dòng họ ta là Kanhàyana.

- Này Ambattha, nếu theo phụ mẫu hệ của ngươi

về quá khứ, thời dòng họ Thích ca là thầy của ngươi. Và ngươi là

con của một nữ tỳ của dòng họ Thích ca. Này thanh niên Ambattha, tổ tiên

của Thích ca là vua Okkàka. Thuở xưa, này Ambattha, vua Okkàka muốn trao vương

vị cho hoàng tử con bà hoàng hậu chính mà vua thương yêu, bèn đuổi ra khỏi

nước những người con đầu của mình là Okkàmukha, Karandu, Hatthiniya, Sinipura.

Bị tẩn xuất khỏi nước, những hoàng tử này đến sống tại một khu rừng

lớn bên một hồ nước, trên sườn núi Hy-mã-lạp sơn. Vì sợ huyết thống

của mình bị lẫn lộn với huyết thống khác, các vị hoàng tử này ăn nằm

với những người chị của mình.

- Này Ambattha, một hôm vua Okkàka nói với vị đại thần

tùy tùng: "Này các khanh, các hoàng tử hiện nay ở đâu?" -

"Bạch Ðại vương, có một khu rừng lớn, bên một hồ nước trên sườn núi

Hy-mã-lạp-sơn. Nay các hoàng tử ở tại chỗ ấy. Các hoàng tử, vì sợ

huyết thống của mình lẫn lộn huyết thống khác nên ăn nằm với những

người chị của mình".

- Này Ambattha, vua Okkàka liền cảm hứng thốt lời

tụng hân hoan: "Các hoàng tử thật là những Sakya (cứng như lõi cây sồi),

các hoàng tử thật là những Sakya xuất chúng". Này Ambattha, từ đó trở

đi, các hoàng tử được gọi là Sakya và vua Okkàka là vua tổ của dòng

họ Thích-ca. Này Ambattha, vua ấy có một nữ tỳ tên là Disà. Nữ tỳ này

sinh hạ một người con da đen. Vừa mới sinh, Kanha liền nói: "Này mẹ,

hãy rửa cho con; này mẹ hãy tắm cho con; này mẹ hãy gội sạch đồ bất tịnh

này. Và con sẽ giúp ích cho mẹ". Này Ambattha, vì người ta gọi những

ác quỷ là ác quỷ nên người ta cũng gọi Kanhà là ác quỷ.

Chúng nói như thế này: "Ðứa trẻ này, vừa mới sanh đã nói. Một

Kanha vừa mới sanh". Này Ambattha, từ đó trở đi chữ Kanhàyanà được

biết đến. Và Kanha là tổ phụ của dòng họ Kanhàyana. Này Ambattha,

nếu theo phụ mẫu hệ của ngươi về quá khứ, thời dòng họ

Thích-ca là thầy của ngươi, và ngươi là con một nữ tỳ của dòng họ

Thích ca.

17. Khi Thế Tôn nói vậy, những thanh niên nói với

Thế Tôn:

- Này Gotama, chớ có phỉ báng quá đáng thanh niên

Ambattha là con một nữ tỳ. Này Gotama, thanh niên Ambattha sinh vào quý tộc,

thanh niên Ambattha thuộc con nhà danh giá, thanh niên Ambattha là bậc đa văn,

thanh niên Ambattha là nhà hùng biện giỏi, thanh niên Ambattha là nhà bác

học, thanh niên Ambattha có thể biện luận với Tôn giả Gotama về

vấn đề này.

18. Thế Tôn liền nói với những thanh niên ấy.

- Nếu những thanh niên các ngươi nghĩ: "Thanh

niên Ambattha không được sanh vào quý tộc, thanh niên Ambattha không thuộc

con nhà danh giá, thanh niên Ambattha không phải là bậc đa văn, thanh niên

Ambattha không phải là nhà hùng biện giỏi, thanh niên Ambattha không phải

là nhà bác học, thanh niên Ambattha không thể biện luận với Tôn

giả Gotama về vấn đề này", thời thanh niên Ambattha hãy đứng ra

một bên và để các thanh niên biện luận với Ta về vấn đề

này. Nếu các ngươi nghĩ: "Thanh niên Ambattha được sanh vào quý

tộc, thanh niên Ambattha thuộc con nhà danh giá, thanh niên Ambattha là bậc đa

văn, thanh niên Ambattha là nhà hùng biện giỏi, thanh niên Ambattha là nhà

bác học, thanh niên Ambattha có thể biện luận với Gotama về vấn

đề này", thời các ngươi hãy đứng ra một bên và để thanh niên

Ambattha biện luận với ta về vấn đề này.

19. - Này Gotama, thanh niên Ambattha được sanh vào

quý tộc, thanh niên Ambattha thuộc con nhà danh giá, thanh niên Ambattha là

bậc đa văn, thanh niên Ambattha là nhà hùng biện giỏi, thanh niên Ambattha

là nhà bác học, thanh niên Ambattha có thể biện luận với Tôn giả

Gotama về vấn đề này. Chúng tôi sẽ đứng im lặng. Thanh niên Ambattha

sẽ cùng với Gotama biện luận về vấn đề này.

20. Thế Tôn liền nói với thanh niên Ambattha:

- Này Ambattha, câu hỏi hợp lý này được đem ra

hỏi ngươi dầu không muốn, ngươi cũng phải trả lời. Nếu ngươi không

trả lời, hoặc trả lời tránh qua một vấn đề khác, hoặc giữ im lặng, hoặc

bỏ đi, thời ngay tại chỗ, đầu ngươi sẽ bị bể ra làm bảy mảnh. Này

Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có nghe các Bà-la-môn, trưởng lão,

tôn túc, giáo sư và tổ sư nói đến nguồn gốc của dòng họ Kanhàyanà

không? Ai là tổ phụ của dòng họ Kanhàyanà?

Nghe nói vậy thanh niên Ambattha giữ im lặng. Lần thứ hai

Thế Tôn nói với thanh niên Ambattha:

- Này Ambattha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có

nghe các nguồn gốc của dòng họ Kanhàyanà không? Ai là tổ phụ của dòng

họ Kanhàyanà?

Lần thứ hai thanh niên Ambattha giữ im lặng. Thế Tôn

lại nói với thanh niên Ambattha:

- Ambattha, nay ngươi phải trả lời, nay không phải thời

ngươi giữ im lặng nữa. Này Ambattha ai được Thế Tôn hỏi đến lần

thứ ba một câu hỏi hợp lý mà không trả lời, thời đầu của người ấy sẽ

bị bể ra làm bảy mảnh tại chỗ.

21. Lúc bấy giờ, thần Dạ xoa Vajirapàni đang cầm một

chùy sắt to lớn, cháy đỏ, sáng chói đứng trên đầu của thanh niên Ambattha

với ý định: "Nếu Thế Tôn hỏi đến lần thứ ba, một câu

hỏi hợp lý mà thanh niên Ambattha không trả lời, thời ta sẽ đánh bể

đầu nó ra làm bảy mảnh". Chỉ có Thế Tôn và thanh niên Ambattha mới

thấy thần Dạ xoa Vajirapàni. Thanh niên Ambattha thấy vị thần ấy liền sợ

hãi, hoảng hốt, lông dựng ngược, chỉ tìm sự che chở nơi Thế Tôn, chỉ

tìm sự hỗ trợ nơi Thế Tôn, liền cúi rạp mình xuống và bạch Thế

Tôn:

- Tôn giả Gotama đã nói gì? Mong Tôn giả Gotama nói

lại cho.

- Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có nghe các

vị Bà-la-môn, trưởng lão, tôn túc, giáo sư và tổ sư nói đến nguồn

gốc của dòng họ Kanhàyanà không? Ai là tổ phụ của dòng họ

Kanhàyanà?

- Tôn giả Gotama, con đã có nghe, đúng như Tôn giả

Gotama đã nói. Chính từ đó nguồn gốc của dòng họ Kanhàyanà. Vị ấy là

tổ phụ của dòng họ Kanhàyanà.

22. Khi nghe nói vậy, các thanh niên liền la hét lớn:

- Người ta nói thanh niên Ambattha là tiện sanh,

người ta nói thanh niên Ambattha là con dòng không phải quý phái; người ta

nói thanh niên Ambattha là con một nữ tỳ của dòng họ Thích-ca; người ta

nói dòng họ Thích-ca là chủ của thanh niên Ambattha. Chúng tôi không nghĩ

rằng Sa-môn Gotama mà lời nói bao giờ cũng chân thực, lại không phải là

người có thể tin được.

23. Lúc bấy giờ Thế Tôn nghĩ rằng: "Các thanh

niên đã phỉ báng quá đáng thanh niên Ambattha là con một nữ tỳ rồi. Nay Ta

hãy giải tỏa cho Ambattha". Rồi Thế Tôn nói với các thanh niên:

- Các thanh niên, các ngươi chớ có phỉ báng quá đáng

thanh niên Ambattha là con một nữ tỳ. Kanha ấy trở thành một tu sĩ vĩ đại.

Vị này đi về miền Nam, học các chú thuật Phạm thiên, rồi về

yết kiến vua Okkàka và yêu cầu gả công chúa Khuddarùpi cho mình. Vua

Okkàka vừa giận, vừa tức, mắng rằng: "Ngươi là ai, con đứa nữ tỳ của

ta mà dám xin con gái Khuddarùpi của ta", và vua liền lắp tên vào cung.

Nhưng vua không thể bắn tên đi, cũng không thể cất mũi tên xuống. Khi

bấy giờ, các thanh niên thị giả, các đại thần và tùy tùng đến thưa

với ẩn sĩ Kanhà: - "Ðại đức, hãy để cho vua an toàn! Ðại đức,

hãy để cho vua được an toàn!" - "Nhà vua sẽ được an toàn, và

nếu nhà vua bắn mũi tên xuống đất, thời toàn thể quốc độ nhà vua

sẽ bị hạn, khô héo!" - "Ðại đức hãy để cho vua được an toàn!

Hãy để cho quốc độ được an toàn!" - "Nhà vua sẽ được an

toàn, quốc độ sẽ được an toàn! Nhưng nếu nhà vua bắn tên lên trời,

thời toàn thể quốc độ sẽ không mưa trong bảy năm!" - "Ðại

đức, hãy để cho nhà vua được an toàn, hãy để cho quốc độ được

an toàn! Và hãy để cho trời mưa!" - "Nhà vua sẽ được an toàn,

quốc độ sẽ được an toàn và trời sẽ mưa. Nhưng vua hãy nhắm cây cung

đến phía thái tử. Một sợi lông của thái tử cũng sẽ được an

toàn!".

Khi bấy giờ, các thị giả trẻ tuổi, các đại thần nói

với Okkàka: "Okkàka hãy nhắm cây cung đến phía thái tử. Một sợi

lông của thái tử sẽ được an toàn".

Vua Okkàka nhắm cây cung đến phía thái tử và một

sợi lông của thái tử cũng được an toàn. Vua Okkàka hoảng sợ, khiếp đảm

sự trừng phạt, thuận cho con gái Khuddàrùpi. Này các thanh niên, chớ có phỉ

báng thanh niên Ambattha một cách quá đáng là con của một nữ tỳ. Kanha là

một vị ẩn sĩ vĩ đại.

24. Khi bấy giờ, Như Lai nói với thanh niên Ambattha:

- Ambattha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Một thanh niên

Sát-đế-lỵ cưới một thiếu nữ Bà-la-môn . Do sự sum họp ấy,

một người con trai được sinh. Một người sanh từ một thanh niên

Sát-đế-lỵ và một thiếu nữ Bà-la-môn có thể thọ lãnh

chỗ ngồi hay nước giữa những người Bà-la-môn không?

- Tôn giả Gotama, có thể thọ lãnh.

- Và những người Bà-la-môn có mời người ấy dự

tiệc cúng cho người chết hay dùng món đồ ăn cúng dường, hay đồ ăn

cúng cho thiên thần hay đồ ăn gửi đến như một tặng phẩm không?

- Tôn giả Gotama, có mời.

- Và những người Bà-la-môn có dạy các chú thuật hay

không?

- Tôn giả Gotama, có dạy.

- Có đóng cửa giữa người ấy với những người đàn

bà của chúng hay mở cửa?

- Tôn giả Gotama, mở cửa.

- Và những người Sát-đế-lỵ có quán đảnh cho

người ấy để thành một Sát-đế-lỵ không?

- Tôn giả Gotama, thưa không.

- Tại sao không?

- Vì nó không được sinh (là Sát đế lỵ) từ

mẫu hệ.

25. - Ambattha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ở đây

một thanh niên Bà-la-môn cưới một thiếu nữ Sát-đế-lỵ. Do sự sum

họp này, một người con trai được sanh. Một người sanh từ một thanh niên

Bà-la-môn và một thiếu nữ Sát-đế-lỵ có thể thọ lãnh

chỗ ngồi hay nước giữa những Bà-la-môn hay không?

- Tôn giả Gotama, có thể thọ lãnh.

- Và những người Bà-la-môn có mời người ấy dự

tiệc cúng cho người chết hay dùng các món ăn cúng dường, hay đồ ăn

cúng theo thiên thần hay đồ ăn gửi đến như một tặng phẩm không?

- Tôn giả Gotama, có mời.

- Và những người Bà-la-môn có dạy người ấy các chú

thuật không?

- Tôn giả Gotama, có dạy.

- Có đóng cửa giữa người ấy với những người đàn

bà của chúng, hay mở cửa?

- Tôn giả Gotama, chúng mở cửa.

- Và những người Sát-đế-lỵ có làm lễ quán

đỉnh cho người ấy để thành một Sát-đế-lỵ không?

- Tôn giả Gotama, thưa không.

- Tại sao vậy?

- Tôn giả Gotama, vì không được sinh (là Sát đế

lỵ) từ phụ hệ.

26. - Này Ambattha, nếu so sánh đàn bà với đàn bà,

đàn ông với đàn ông, thì giai cấp Sát đế lỵ là ưu, Bà-la-môn là

liệt. Này Ambattha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ở đây, giả sử do một

nguyên nhân gì những người Bà-la-môn cạo đầu một người Bà-la-môn, đánh

người ấy với một bị tro, tẩn xuất ngươi ấy ra khỏi nước hay thành phố.

Người ấy có được thọ lãnh chỗ ngồi và nước giữa những người

Bà-la-môn không?

- Tôn giả, không được.

- Và những người Bà-la-môn, có mời người ấy dự

tiệc cúng cho người chết hay dùng các món ăn cúng dường, hay đồ ăn

cúng cho thiên thần hay đồ ăn gửi đến như một tặng phẩm không?

- Tôn giả Gotama, không có mời.

- Và những người Bà-la-môn có dạy người ấy các chú

thuật không?

- Tôn giả Gotama, không dạy.

- Có đóng cửa giữa người ấy với những người đàn

bà của chúng, hay mở cửa?

- Tôn giả Gotama, đóng cửa.

27. - Ambattha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ở đây

giả sử do một nguyên nhân gì, những người Sát đế lỵ cạo đầu một

người Sát đế lỵ, đánh người ấy với một bị tro, tẩn xuất người

ấy ra khỏi nước hay thành phố, người ấy có được thọ lãnh chỗ ngồi

và nước uống giữa những người Bà-la-môn không?

- Tôn giả Gotama, được thọ lãnh.

- Và những người Bà-la-môn có mời người ấy dự

tiệc cúng cho người chết, hay dùng những món ăn cúng dường, hoặc đồ

ăn cúng cho thiên thần, hay đồ ăn gửi đến như những tặng phẩm không?

- Tôn giả Gotama, có mời.

- Và những người Bà-la-môn có dạy người ấy các chú

thuật không?

- Tôn giả Gotama, có dạy:

- Có đóng cửa giữa người ấy với những người đàn

bà của chúng, hay mở cửa?

- Tôn giả Gotama, mở cửa.

- Này Ambattha, đến như vậy là sự đọa lạc tột

cùng của người Sát-đế-lỵ, đã bị những người Sát-đế-lỵ

cạo đầu, đánh người ấy với một bị tro, tẩn xuất người ấy ra khỏi nước

hay thành phố, như vậy, này Ambattha, khi người Sát-đế-lỵ bị đọa

lạc tột cùng, các Sát đế lỵ vẫn giữ phần ưu thắng và các

Bà-la-môn vẫn ở địa vị hạ liệt.

28. - Này Ambattha, bài kệ này do Phạm thiên Sanam

Kumàra thuyết:

"Ðối với chúng sanh tin tưởng ở giai cấp,

Sát-đế-lỵ chiếm địa vị tối thắng ở nhân gian.

Những vị nào giới hạnh và trí tuệ đầy đủ, vị này chiếm địa vị

tối thắng giữa Người và chư Thiên".

Tụng phẩm thứ hai

1. - Tôn giả Gotama, nghĩa chữ Giới hạnh trong bài

kệ ấy là gì? Nghĩa chữ Tuệ trong bài kệ ấy là gì?

- Này Ambattha, một vị đã thành tựu vô thượng trí

đức không có luận nghị đến sự thọ sanh, không có luận nghị đến

giai cấp hay không có luận nghị đến ngã mạn với lời nói: "Ngươi

bằng ta hay ngươi không bằng ta". Chỗ nào nói đến cưới hỏi hay

rước dâu đi, hay cả hai, chỗ đó mới có luận nghị đến sự thọ

sanh, luận nghị đến giai cấp hay luận nghị đến ngã mạn với lời nói:

"Ngươi bằng ta hay không bằng ta".

Này Ambattha, những ai còn chấp trước lý thuyết

thọ sanh, còn chấp trước lý thuyết giai cấp, còn chấp trước

lý thuyết kiêu mạn, hoặc còn chấp trước cưới hỏi rước dâu, những

người ấy còn rất xa sự thành tựu vô thượng trí đức. Này Ambattha, không

chấp trước lý thuyết thọ sanh, không chấp trước lý thuyết

giai cấp, không chấp trước lý thuyết kiêu mạn, không chấp trước

cưới hỏi, đưa dâu, người ấy tức chứng ngộ vô thượng trí đức.

2. - Tôn giả Gotama, thế nào là Giới đức trong bài

kệ ấy? Thế nào là Trí tuệ trong bài kệ ấy?

- Ở đây, này Ambattha, Như Lai xuất hiện, là

bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc:

... (xin xem kinh "Sa-môn

quả" - kinh số 2, từ đoạn số 40 đến số 98 , tới câu: "Không

có đời sống nào khác nữa" chỉ khác danh từ xưng hô và câu kết

từng đoạn. Như đoạn này, câu kết là "Như vậy, này Ambattha, là vị

Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh".)

Này Ambattha, như vậy gọi là Tỷ-kheo thành tựu

trí tuệ, thành tựu giới đức, thành tựu giới đức và trí tuệ. Này

Ambattha, không có sự thành tựu trí đức nào khác siêu việt hơn, cao

thượng hơn sự thành tựu trí đức này.

3. Này Ambattha, có bốn nguyên nhân đưa đến thất

bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này. Thế nào là bốn? Này

Ambattha, ở đấy có Sa-môn hay Bà-la-môn chưa thấu đạt sự thành tựu vô

thượng trí đức này, lại mang dụng cụ của nhà đạo sĩ, đi vào rừng sâu và

nguyện: "Ta chỉ ăn trái cây rụng mà sống". Nhất định người này

chỉ xứng đáng là thị giả của vị đã thành tựu trí đức. Này Ambattha, đó

là nguyên nhân thứ nhất đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng

trí đức này.

Lại nữa, này Ambattha ở đây có vị Sa-môn hay

Bà-la-môn chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, và chưa

thấu đạt pháp ăn trái cây rụng để sống, lại mang theo cuốc và giỏ đi

vào rừng sâu và nguyện: "Ta chỉ ăn củ, rễ và trái cây để

sống". Nhất định người này chỉ xứng đáng là thị giả của vị đã

thành tựu trí đức. Này Ambattha, đó là nguyên nhân thứ hai đưa đến

thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.

Lại nữa, này Ambattha, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn

chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu đạt pháp

ăn trái cây để sống và chưa thấu đạt pháp ăn củ, rễ và trái cây

để sống, lại nhen lửa tại cuối làng hay sống thờ lửa ấy. Nhất định

người này chỉ xứng đáng là thị giả của vị đã thành tựu trí đức. Này

Ambattha đó là nguyên nhân thứ ba đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô

thượng trí đức này.

Lại nữa Ambattha, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn chưa

thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu đạt được pháp

ăn trái cây rụng để sống, chưa thấu đạt pháp ăn củ, rễ và trái cây

để sống, chưa thấu đạt pháp tôn thờ lửa, lại xây dựng một ngôi nhà

có bốn cửa tại ngã tư đường, sống và nguyện: "Từ bốn phương

nếu có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào lại, thì ta sẽ cúng dường, tùy theo

khả năng, tùy theo sức lực của ta". Nhất định người này chỉ xứng đáng

là thị giả của vị đã thành tựu trí đức. Này Ambattha, đó là nguyên nhân

thứ tư đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.

Này Ambattha đó là bốn nguyên nhân đưa đến thất

bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.

4. Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi và thầy

ngươi có được xem là đã thành tựu vô thượng trí đức này không? - Bạch

không, Tôn giả Gotama. Con và thầy con là gì, Tôn giả Gotama, để có

thể so sánh với sự thành tựu vô thượng trí đức. Tôn giả Gotama, con và

thầy con còn rất xa sự thành tựu vô thượng trí đức.

- Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Tuy ngươi và

thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, nhà ngươi

có đem theo dụng cụ của nhà đạo sĩ, đi vào rừng sâu và nguyện: "Ta

và thầy ta chỉ ăn trái cây rụng mà sống?"

- Bạch không, Tôn giả Gotama.

- Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Tuy ngươi và

thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu

đạt pháp ăn trái cây rụng để sống, ngươi có mang theo cuốc và giỏ đi

vào rừng sâu và nguyện: "Ta và thầy ta chỉ ăn rễ và trái cây

để sống không?"

- Bạch không, Tôn giả Gotama.

- Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Tuy ngươi và

thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu

đạt pháp ăn trái cây rụng để sống, chưa thấu đạt pháp ăn củ, rễ và

trái cây để sống, ngươi có nhen lửa tại cuối làng hay cuối xóm và sống

thờ lửa ấy với thầy ngươi không?"

- Bạch không, Tôn giả Gotama.

- Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Tuy ngươi và

thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu

đạt pháp ăn trái cây rụng để sống, chưa thấu đạt pháp ăn củ, rễ và

trái cây để sống và chưa thấu đạt sự thờ lửa, ngươi và thầy ngươi

có xây dựng một ngôi nhà có bốn cửa tại ngã tư đường với lời nguyện:

"Từ bốn phương, nếu có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào lại - thì ta sẽ

cúng dường tùy theo khả năng, tùy theo sức lực của ta không?"

- Bạch không, Tôn giả Gotama.

- Này Ambattha, như vậy ngươi và thầy ngươi còn

khiếm khuyết sự thành tựu vô thượng trí đức này, còn khiếm

khuyết bốn nguyên nhân đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng

trí đức này, Ambattha, thế mà những lời này lại do thầy của ngươi,

Bà-la-môn Pokkharasàdi thốt ra: "Những hạng Sa-môn giả hiệu, đầu

trọc, đê tiện, đen đủi, sanh từ nơi chân bà con ta là ai mà có

thể đàm luận với những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vệ đà". Một

vị tự mình chưa thành tựu được những pháp đưa đến sự thất bại (cho

những pháp cao thượng hơn). Này Ambattha, ngươi xem, thầy của ngươi,

Bà-la-môn Pokkharasàdi đã lỗi lầm như thế nào?

6. Này Ambattha, Bà-la-môn Pokkharasàdi hưởng thọ sự

cung cấp của vua Pasenadi nước Kosala. Vua Pasenadi nước Kosala cũng không cho

phép thầy ngươi diện kiến. Nếu vua hội nghị với thầy ngươi thời

chỉ nói thầy ngươi ngang qua một tấm màn. Này Ambattha, tại sao vua Pasenadi

nước Kosala lại không cho phép thầy ngươi diện kiến, người mà vua

cung cấp thực phẩm thuần tịnh chân chánh. Này Ambattha, ngươi xem thầy của

ngươi, Bà-la-môn Pokkharasàdi đã lỗi lầm như thế nào?

7. Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Như vua Pasenadi

nước Kosala hoặc ngồi trên cổ voi, hoặc ngồi trên lưng ngựa, hoặc đứng trên

lưng ngựa, hoặc đứng trên tấm thảm xe cùng các vị đại thần hay vương tử,

luận bàn quốc sự. Nếu vua rời khỏi chỗ ấy hay đứng qua bên, một

người Thủ đà hay đầy tớ của một người Thủ đà đến. Người này cũng

đứng tại chỗ ấy, cũng luận bàn quốc sự và nói: "Vua Pasenadi nước

Kosala đã nói như vậy". Dầu người ấy nói như lời nói của vua, luận

bàn như lời luận bàn của vua, người ấy có thể là vua hay là bị phó

vương không?

- Không thể được, Tôn giả Gotama.

8. - Này Ambattha, nhà ngươi cũng vậy. Thuở xưa, những

vị ẩn sĩ giữa các Bà-la-môn, những tác giả các chú thuật, những nhà tụng

tán các chú thuật, đã hát, đã nói lên, đã sưu tầm, những Thánh cú mà

nay những Bà-la-môn hiện tại cũng hát lên, nói lên, đọc lên giống

như các vị trước đã làm. Những vị ẩn sĩ ấy tên là Atthaka (A sá ca),

Vàmaka (Bà-ma), Vàmadeva (Bà-ma -đề-bà), Vessàmitta (Tì-bà-thẩm-sá),

Yamataggi (Gia-bà -đề-bà), Angirasa (Ương-kỳ-la), Bhàradvàja (Bạt-la-đà

thẩm-xà), Vàsettha (Bà-ma-sá) Kassapa (Ca-diếp), Bhagu (Bà-cửu). Dầu ngươi

có thể nói: "Ta, một đệ tử, học thuộc lòng những chú thuật của các vị ấy", chỉ

với điều kiện này, ngươi có thể được xem là một vị ẩn sĩ hay đã chứng địa vị

của một ẩn sĩ không?

- Việc này không thể có được.

9. Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có được

nghe những vị Bà-la-môn, trưởng lão, tôn túc, những vị giáo sư và tổ sư

nói đến không? Thuở xưa những vị ẩn sĩ, giữa các Bà-la-môn, những tác

giả của chú thuật, những nhà tụng tán các chú thuật đã hát, đã nói lên,

đã sưu tầm những Thánh cú mà nay những Bà-la-môn, cũng hát lên, nói lên,

đọc lên giống như các vị trước đã làm. Những vị ẩn sĩ ấy tên là

Atthaka, Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmitta, Yamataggi, Angirasa, Bhàradvàja, Vàsettha,

Kassapa, Bhagu. Những vị ấy có khéo tắm, khéo chải chuốt, tóc và râu khéo

sửa soạn, trang điểm với vòng hoa và ngọc, mặc toàn đồ trắng, tận

hưởng và tham đắm năm món dục lạc, như người và thầy của ngươi hiện nay

không?

- Không có vậy. Tôn giả Gotama.

10. - Các vị ẩn sĩ ấy có dùng cơm nấu từ gạo trắng

thượng hạng mà các hạt đen được gạn bỏ ra, dùng các món canh, các món

đồ ăn nhiều loại không, như ngươi và thầy ngươi hiện nay không?

- Không có vậy, Tôn giả Gotama.

- Hay các vị ấy được những thiếu nữ có đường eo

và thắt lưng có tua hầu hạ như ngươi và thầy ngươi hiện nay không?

- Không có vậy, Tôn giả Gotama.

- Hay những vị ấy đi trên những xe do những con ngựa

cái có bờm, đuôi được bện và dùng những cây roi và gậy dài như

ngươi và thầy ngươi hiện nay không?

- Không có vậy, Tôn giả Gotama.

- Hay những vị ấy sống được che chở trong những thành

lũy có những chiến hào bao bọc, có những cửa thành hạ xuống, có

những chiến sĩ mang gươm dài hộ vệ như ngươi và thầy ngươi

hiện nay không?

- Không có vậy, Tôn giả Gotama.

- Như vậy, này Ambattha, ngươi và thầy ngươi không

phải là một ẩn sĩ, không giống đời sống của nhà ẩn sĩ. Này Ambattha,

nếu có gì nghi ngờ, có gì phân vân về Ta, hãy hỏi Ta và Ta sẽ trả

lời.

11. Lúc bấy giờ, Thế Tôn ra khỏi tịnh xá và bắt

đầu đi kinh hành. Thanh niên Ambattha đi theo sau Thế Tôn đang đi kinh hành

và tìm đếm ba mươi hai tướng tốt của vị đại nhân, nghi hoặc sanh, do

dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, tức là tướng mã âm

tàng và tướng lưỡi rộng dài.

12. Khi bấy giờ, Thế Tôn nghĩ rằng: "Thanh niên

Ambattha này thấy ở nơi ta gần đủ ba mươi hai tướng tốt của vị đại nhân

trừ hai tướng. Ðối với hai tướng tốt của vị đại nhân, nghi hoặc sanh, do

dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, tức là tướng mã âm

tàng và tướng lưỡi rộng dài".

Thế Tôn liền dùng thần thông khiến thanh

niên Ambattha thấy tướng mã âm tàng của Thế Tôn. Và Thế Tôn le

lưỡi, rờ đến, liếm đến hai lỗ tai, rờ đến, liếm

đến hai lỗ mũi, và dùng lưỡi che khắp cả vầng trán. Lúc bấy giờ,

thanh niên Ambattha liền nghĩ rằng: "Sa-môn Gotama đầy đủ ba mươi hai

tướng tốt của vị đại nhân, không phải không đầy đủ". Và nói với

Thế Tôn: "Tôn giả Gotama, nay chúng tôi xin đi, chúng tôi rất bận, có

nhiều việc cần phải làm".

- Này Ambattha, hãy làm những gì ngươi nghĩ là phải

thời.

Rồi thanh niên Ambattha leo lên xe do ngựa cái kéo và ra

đi.

13. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Pokkharasàdi ra khỏi Ukkattha

với một đại chúng Bà-la-môn, ngồi tại hoa viên của mình và chờ đợi thanh

niên Ambattha. Khi thanh niên Ambattha đi đến hoa viên, đi xe cho đến

chỗ còn đi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ Bà-la-môn

Pokkharasàdi đang ngồi. Ðến xong, thanh niên Ambattha đảnh lễ Bà-la-môn

Pokkharasàdi và ngồi xuống một bên. Sau khi thanh niên Ambattha ngồi xuống một

bên, Bà-la-môn Pokkharasàdi nói:

14. - Này Ambattha thân mến, ngươi đã thấy Sa-môn

Gotama chưa?

- Chúng con thấy Tôn giả Gotama rồi.

- Này Ambattha thân mến, có phải Tôn giả Gotama

đúng với tin đồn đã truyền đi, chớ không phải khác?

- Tôn giả Gotama đúng với tin đồn đã truyền đi,

chớ không phải khác. Tôn giả Gotama là như vậy, chớ không phải khác. Tôn

giả Gotama đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của vị đại nhân, chớ không phải

thiếu.

- Này Ambattha thân mến, con có cùng với Tôn giả

Gotama đàm luận không?

- Con có đàm luận với Tôn giả Gotama.

- Này Ambattha thân mến, cuộc đàm luận ấy như

thế nào?

Thanh niên Ambattha liền thuật cho Bà-la-môn

Pokkharasàdi rõ tất cả cuộc hội đàm với Tôn giả Gotama.

15. Nghe nói như vậy, Bà-la-môn Pokkharasàdi nói với

thanh niên Ambattha:

- Ngươi thật là nhà học giả đốn mạt của chúng

ta! Ngươi thật là nhà đa văn đốn mạt của chúng ta! Ngươi thật là nhà tinh

thông ba quyển Vệ đà đốn mạt của chúng ta. Người ta nói những ai có

sự cư xử như vậy, khi thân hoại mạng chung, sẽ phải sanh vào cõi ác,

đọa xứ, địa ngục. Này Ambattha, ngươi càng công kích Tôn giả Gotama bao

nhiêu, lại càng bị Tôn giả Gotama lật tẩy chúng ta bấy nhiêu. Ngươi thật là

nhà học giả đốn mạt của chúng ta! Ngươi thật là nhà đa văn đốn mạt

của chúng ta! Ngươi thật là nhà tinh thông ba quyển Vệ đà đốn mạt

của chúng ta! Người ta nói, những ai có sự cư xử như vậy, khi thân hoại

mạng chung, sẽ phải sanh vào cõi ác, đọa xứ, địa ngục.

Bà-la-môn Pokkharasàdi tức giận, bực bội, dùng chân

đá thanh niên Ambattha bổ lộn nhào rồi lập tức muốn đi gặp đến Thế

Tôn.

16. Khi ấy, những người Bà-la-môn này thưa với

Bà-la-môn Pokkharasàdi: "Hôm nay thì giờ đã quá trễ để đi thăm

Sa-môn Gotama. Ngày mai Tôn giả Pokkharasàdi hãy đi thăm Sa-môn Gotama".

Tuy vậy, Bà-la-môn Pokkharasàdi vẫn cho làm các món ăn

thượng vị, loại cứng loại mềm tại nhà riêng, chở trên các xe, và dưới

ánh sáng của những ngọn đuốc từ Ukkattha đi ra và đi đến khóm rừng

Icchànankala. Vị này đi xe cho đến chỗ còn đi xe được rồi xuống xe

đi bộ đến Thế Tôn. Khi đi đến, liền nói với Thế Tôn

những lời hỏi thăm xã giao, rồi ngồi xuống một bên. Khi ngồi xuống một bên,

Bà-la-môn Pokkharasàdi nói với Thế Tôn:

17. - Tôn giả Gotama, đệ tử của chúng tôi, thanh

niên Ambattha có đến đây không?

- Này Bà-la-môn, đệ tử ngươi, thanh niên Ambattha

có đến đây.

- Tôn giả Gotama, Ngài có cùng với thanh niên Ambattha

đàm luận không?

- Này Bà-la-môn, ta có đàm luận với thanh niên

Ambattha.

- Tôn giả Gotama, cuộc đàm luận của Ngài với thanh

niên Ambattha như thế nào?

Cuộc đàm luận với thanh niên Ambattha như thế nào,

Thế Tôn kể lại tất cả cho Bà-la-môn Pokkharasàdi.

Nghe nói vậy, Bà-la-môn nói với Thế Tôn:

- Tôn giả Gotama, thanh niên Ambattha thật là ngu si! Tôn

giả Gotama, hãy tha thứ cho thanh niên Ambattha!

- Này Bà-la-môn, cầu cho thanh niên Ambattha được hạnh

phúc.

18. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasàdi tìm đếm ba

mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân trên thân Thế Tôn. Bà-la-môn thấy

gần đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân trên thân Thế Tôn, trừ

hai tướng. Ðối với hai tướng tốt của bậc đại nhân, nghi hoặc sanh, do dự

sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, hai tướng là tướng mã âm

tàng và tướng lưỡi rộng dài.

19. Lúc bấy giờ Thế Tôn nghĩ: rằng: "Bà-la-môn

Pokkharasàdi thấy gần đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân ở nơi Ta,

trừ hai tướng. Ðối với hai tướng tốt của bậc đại nhân, nghi hoặc sanh, do

dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, tức là tướng mã âm

tàng và tướng lưỡi rộng dài". Thế Tôn liền dùng thần thông

khiến Bà-la-môn Pokkharasàdi thấy tướng mã âm tàng của Thế Tôn. Và

Thế Tôn le lưỡi, rờ đến, liếm đến hai lỗ tai, rờ

đến, liếm đến hai lỗ mũi, và dùng lưỡi che khắp cả vầng

trán.

Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasàdi nghĩ rằng: "Sa

môn Gotama có đầy ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân, không phải

không đầy đủ", liền nói với Thế Tôn: "Hôm nay xin mời Tôn

giả Gotama cùng chúng Tỷ-kheo đến dùng cơm với con. Thế Tôn nhận

lời với sự im lặng.

20. Khi Bà-la-môn Pokkharasàdi được biết Thế

Tôn đã nhận lời liền báo thì giờ cho Thế Tôn: Tôn giả Gotama, cơm

đã sẵn sàng. Khi ấy Thế Tôn buổi sáng đắp y, đem theo y bát, và cùng

với chúng Tỷ-kheo đi đến cư xá của Bà-la-môn Pokkharasàdi. Khi đi

đến, liền ngồi trên chỗ soạn sẵn. Bà-la-môn Pokkharasàdi tự tay

làm cho Thế Tôn thỏa mãn với những món ăn thượng vị, loại cứng và loại

mềm, còn các thanh niên Bà-la-môn thì tiếp đại chúng Tỷ-kheo. Lúc

bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasàdi, sau khi biết Thế Tôn dùng cơm đã

xong, đã rửa tay và bát, liền lấy một ghế ngồi thấp khác và ngồi

xuống một bên.

21. Thế Tôn liền thứ lớp giảng pháp cho

Bà-la-môn Pokkharasàdi đang ngồi một bên nghe, thuyết về bố thí,

thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy

hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục lạc và sự lợi ích của xuất

ly. Khi Thế Tôn biết tâm của Bà-la-môn Pokkharasàdi đã sẵn sàng, đã

nhu thuận, không còn chướng ngại, được phấn khởi, được tín thành,

liền thuyết pháp mà chư Phật đã chứng ngộ, tức là khổ, tập,

diệt, đạo. Cũng như tấm vải thuần bạch, được gột rửa các vết đen,

sẽ rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy, chính chỗ ngồi này, pháp nhãn xa

trần ly cấu khởi lên trong tâm Bà-la-môn Pokkharasàdi: "Phàm pháp gì

được tập khởi lên đều bị tiêu diệt".

22. Khi ấy Bà-la-môn Pokkharasàdi, thấy pháp, chứng

pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận,

chứng được tự tín, không y cứ nơi người đối với đạo pháp của đức Bổn

sư. Bà-la-môn Pokkharasàdi liền bạch Phật:

- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu

thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi

bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn

sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng

vậy, chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện

trình bày, giải thích. Tôn giả Gotama, con, con của con, vợ của con, tùy tùng

của con, bạn hữu của con, xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y chúng

Tỷ kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho

đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng. Như Tôn giả Gotama đến

thăm các gia đình cư sĩ khác ở Ukkattha, mong Tôn giả Gotama cũng đến

thăm các gia đình Pokkharasàdi. Tại đây, các thanh nam hay thanh nữ Bà-la-môn

sẽ đảnh lễ Thế Tôn Gotama, hoặc đứng dậy, hoặc mời chỗ ngồi, hoặc

mời nước, hoặc khiến tâm hoan hỷ. Như vậy chúng sẽ hưởng hạnh phúc,

lợi ích trong một thời gian lâu dài.

- Này Bà-la-môn lời ngươi nói thật là chí thiện.

Hòa thượng Thích Minh

Châu dịch Việt