Trưởng Lão Tăng Kệ · Theragāthā

THAG-001 · Chương I.a - Một Kệ

Theragāthā I.a · Bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu. Reader này gom dòng nguồn thành đoạn đọc tự nhiên, nhưng vẫn giữ dữ liệu nguồn để đối chiếu.

Mã kinhthag-001
Số MN1
NguồnBudsas.net
Đối chiếubudsas.net

Chương I - Một Kệ#

Phẩm
Một
Ðảnh Lễ Ðức Thế Tôn Bậc A-La-Hán
Chánh Ðẳng Giác

(I) Subhùti (Thera. 1)#

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh
ở Sàvatthi , trong gia đình vị Cố vấn Sumana , em trai Ông Anàthapindika
(Cấp Cô Ðộc), được đặt tên là Subhùti . Trong ngày ông Cấp Cô
Ðộc dâng cúng vườn Kỳ Viên cho đức Phật, ngài có chứng kiến. Sau khi
nghe pháp, ngài khởi lòng tin và xuất gia. Thọ Ðại giới xong, ngài thâm
hiểu hai loại giới luật. Ðược Thế Tôn cho một đề tài để
thiền quán, ngài đi vào rừng để hành thiền. Sau khi triển khai
thiền quán, ngài chứng quả A-la-hán. Rồi ngài bắt đầu thuyết pháp,
không phân biệt giới hạn, được trở thành vị Tỷ-kheo đệ nhất
về hạnh Từ vô lượng. Khi Ngài đi khất thực, ngài vẫn hành thiền, và
khi xuất thiền, ngài mới nhận đồ ăn, và như vậy đem lại công đức lớn
cho thí chủ và ngài trở thành vị xứng đáng được bố thí đệ nhất. Do
vậy, Thế Tôn có nói: 'Này các Tỷ-kheo, Subhùti được xem là vị
Tỷ-kheo đệ nhất về hạnh từ bi vô lượng, xứng đáng được cúng
dường'.
Bậc Ðại đệ tử này, trong khi đi khất
thực đi đến Vương Xá, vua Bimbisàra (Bình-sa) nghe ngài đến,
liền đến kính chào và xin dựng một chỗ ở cho ngài, nhưng rồi vua
quên, ngài không nhận được chỗ ở, nên hành thiền ngoài trời. Vì
thái độ nghiêm túc của ngài, trời không mưa và do vậy nạn hạn hán đe
dọa dân chúng, quần chúng tụ họp than phiền ồn ào trước hoàng
cung. Vua tìm hiểu nguyên nhân vì sao trời không mưa và nghĩ rằng có lẽ
vì ngài Subhùti hành thiền ngoài trời. Vua cho làm các am thất bằng
lá cho ngài, và khi ngài vào ngồi thiền trong am thất ấy, trời bắt đầu
mưa từng hột một chớ không mưa ào ào. Ngài muốn quần chúng khỏi sợ hạn
hán, tuyên bố rằng, không có sự sợ hãi gì đe dọa ngài, từ phía ngoài
hay từ phía trong, với những bài kệ như sau:
1. Am thất ta khéo lợp,
An lạc, ngăn chận gió,
Thần mưa, hãy mưa đi,
Mưa như ý Ngươi muốn!
Tâm ta khéo định tĩnh,
Giải thoát, sống tinh cần,
Thần mưa, hãy mưa đi!
Thần mưa, hãy mưa đi!

(II) Mahàkotthita (Thera.#

1)
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài
được sanh ở Sàvatthi , trong một gia đình Bà-la-môn rất giàu có và
được đặt tên là Kotthita (Câu-hy-la). Khi đến tuổi trưởng thành,
ngài học ba tập Veda và thành tựu các đức tánh của vị Bà-la-môn,
ngài nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp, khởi lòng tin và xuất gia. Thực
hiện thiền quán từ khi mới xuất gia, ngài chứng quả A-la-hán, với
hiểu biết về nghĩa và về pháp, ngài thường hỏi bậc Ðạo Sư
và các vị Ðại Trưởng lão về hai vấn đề ấy và trở thành rất lão
luyện thuần thục. Rồi bậc Ðạo Sư, sau khi xác nhận các quả chứng ngài
đã được trong kinh Vedalla , xác nhận ngài là bậc thiền quán
đệ nhất.
Sau một thời gian, ý thức được sự an
lạc giải thoát, ngài nói lên bài kệ này:
2. Tịch tịnh và chỉ tức,
Tụng đọc lời trí tuệ,
Tâm tư không tháo động,
Ác pháp được vứt bỏ,
Giống như những lá cây,
Bị gió thổi phiêu bạt.

(III) Kankha-revata (Thera.#

2)
Trong thời đức Phật hiện tại ngài sanh
vào trong một gia đình giàu có ở Sàvatthi. Khi ngài đứng vào vòng
ngoài của những người đứng nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp, ngài khởi lòng
tin và xuất gia. Ngài chứng quả A-la-hán nhờ hành thiền, ngài trở thành
lão luyện trong thiền định và bậc Ðạo Sư tuyên bố ngài là hành
thiền đệ nhất.
Sự nghiệp đã thành tựu, ngài nghĩ
đến sự nghi ngờ lấn chiếm tâm tư, và nay nghi ngờ đã được đoạn
tận, ngài tán thán sức mạnh và trí tuệ của bậc Ðạo Sư, nhờ vậy nay
tâm tư ngài được định tĩnh và kiên trì. Ngài nói:
3. Hãy thấy trí tuệ này
Của những bậc Như Lai,
Như lửa cháy nửa đêm,
Cho ánh sáng, cho mắt,
Họ nhiếp phục nghi ngờ
Cho những ai đi đến.

(IV) Punna Mamtàniputta#

(Thera. 2)
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh
vào một gia tộc Bà-la-môn, trong làng Bà-la-môn Donavatthu , không xa Kapilavatthi
(Ca-tỳ-la-vệ). Ngài là con trai của người chị của Trưởng lão Kondanna
và được đặt tên là Punna . Sau khi làm tròn bổn phận của một người
Sa-di, ngài tinh tấn nỗ lực cho đến khi chứng được quả cao nhất. Rồi
ngài đi với người cậu ngài đến sống gần bậc Ðạo Sư, từ bỏ miền
phụ cận Kapilavatthu , chuyên tâm tu hành, không bao lâu ngài chứng quả
A-la-hán.
Ngài Punna có đến năm trăm đồ
chúng cùng ở trong gia tộc ngài, và tất cả đều xuất gia. Vì ngài giỏi
về mười căn bản của thuyết giảng, ngài dạy cho các đệ tử của
ngài lão luyện về mười căn bản này cho đến khi các vị này chứng
quả A-la-hán. Các đệ tử ngài yêu cầu ngài đưa họ đến yết
kiến bậc Ðạo Sư, nhưng ngài nghĩ không nên đi với số đồ chúng như
vậy, liền bảo họ đi trước còn ngài đi sau. Các vị ấy là đồng
hương với đức Phật, đã đi bộ sáu mươi do tuần đến Vương Xá,
đến tại ngôi tịnh xá Trúc Lâm và đảnh lễ bậc Ðạo Sư. Ðức Phật hỏi
ai đồng hương với Ngài có thể giảng được về đời sống giản dị,
và các vị này giới thiệu ngài Punna . Khi bậc Ðạo Sư đi từ Vương
Xá đến Sàvatthi , ngài Punna cũng đi đến Sàvatthi ,
tại đây ngài được dạy về Chánh pháp. Rồi ngài đi vào rừng Andha để
suy tư về Chánh pháp. Tôn giả Sariputta cũng đi theo vào rừng và
đàm đạo Chánh pháp với Punna . Bậc Ðạo Sư tuyên bố Punna là
bậc thuyết pháp đệ nhất.
Một hôm, suy tư trên sự giải thoát chứng
đạt, ngài suy tư như sau: 'Ðối với ta và nhiều vị khác đã thoát khỏi
đau khổ, thật là giúp đỡ lớn nếu thân cận với bạn lành'. Với sự hoan
hỷ phấn khởi, ngài nói lên bài kệ này:
4. Hãy thân cận người hiền,
Bậc hiền minh thấy nghĩa,
Nghĩa lớn và thâm sâu,
Khó thấy, tế, tế nhị,
Bậc trí chứng đạt được,
Không phóng dật, chủ tâm.

(V) Dabba (Thera. 2)#

Ngài sanh ra trong gia đình của dân tộc Mallà
ở Anupiyà . Khi mới bảy tuổi, ngài được thấy bậc Ðạo Sư khi
Thế Tôn viếng thăm xứ sở và nhà của ngài.
Ngài bị ảnh hưởng đến nỗi ngài xin
phép bà nội cho được xuất gia với bậc Ðạo Sư, mẹ ngài đã mất khi sanh
ngài. Bà nội ngài đưa ngài đến yết kiến đức Phật và đức Phật
giao cho một Tỷ-kheo làm lễ xuất gia cho ngài. Ngài với nghiệp nhân quá
khứ với ước vọng tương lai đang chín muồi, nên chứng được bốn quả
liên tiếp chính trong khi ngài được cạo tóc.
Khi bậc Ðạo Sư từ giã xứ Mallà
để đi về Vương Xá, Dabba thiền quán một mình, và muốn
dùng thân để phục vụ giáo hội và nhận công việc phân phối chỗ
ngủ, tổ chức các buổi ăn. Bậc Ðạo Sư chấp nhận công việc làm này, xác
nhận sự thành công của ngài, khả năng thần thông của ngài, với ngón tay
chói sáng của mình soi sáng cho các đồng Phạm hạnh về chỗ ngủ. Các
sự việc này được nói đến trong Luật tạng.
Khi bị các Tỷ-kheo theo phe với Mettiya
và Bhummajika vu khống, làm hại và ngài được giáo hội che chở và
biện minh, Tôn giả Dabba ý thức được lòng từ của mình đối
với các vị khác, liền nói lên bài kệ như sau:
5. Ai thật khó nhiếp phục,
Nay đã được nhiếp phục,
Dabba tự biết đủ,
Nghi ngờ được vượt qua,
Thắng trận, không sợ hãi,
Dabba trú tịch tịnh.

(VI) Sìla- Vaniya (Thera.#

2)
Ðây là bài kệ của Trưởng lão Sambhùta ,
ngài được sanh ở Ràjagaha (Vương Xá), con trai một Bà-la-môn có danh
tiếng, tên là Sambhùta . Với ba người bạn Bhùmija , Jeyyasena và
Abhiràdana . Ngài nghe Thế Tôn thuyết pháp và ngài xuất gia. Khi
đang tu tập thiền quán thân bất tịnh, ngài ở luôn luôn tại Sitavana (rừng
mát) và được gọi là Sitavaniya (vị ở rừng mát).
Khi thấy các Tỷ-kheo đang đi đến
yết kiến đức Phât, ngài nói: 'Thưa các Hiền giả, các Hiền
giả hãy đảnh lễ bậc Ðạo Sư thay mặt tôi và thưa với bậc Ðạo Sư như sau:
6. Có Tỷ-kheo đi đến
Rừng Sitavana,
Sống một mình, độc cư,
Biết đủ, tâm nhập định,
Thắng trận, không kinh hoàng,
Kiên trì hộ thân niệm'.

(VII) Bhalliya (Thera. 2)#

Với người anh là Tapussa , trong thời
đức Phật hiện tại, ngài sanh ở thành Pokkharavatì , con một người
đánh xe cho đoàn lữ hành. Khi đoàn lữ hành đi ngang một khu rừng có bóng
mát một đoạn đường bùn lầy ngăn đoàn lữ hành lại. Một vị thần cây, là
người bà con hiện ra và nói: 'Thế Tôn vừa mới thành đạo và đang
ngồi thiền bảy ngày dưới gốc cây. Hãy cúng dường đồ ăn. Như vậy, các
người được hạnh phúc và lợi ích'. Cả lữ đoàn hoan hỷ, không chờ nấu
cơm, đem bánh gạo và mật đến cúng dường Thế Tôn.
Khi Thế Tôn chuyển pháp luân ở Benares ,
Thế Tôn đi đến Vương Xá. Ở đây, Tapussa và Bhalliya hầu
hạ Ngài và nghe pháp, Tapussa trở thành một cư sĩ, còn Bhalliya thời
xuất gia và thành tựu được sáu thắng trí.
Một ngày kia, Ác ma hiện ra dưới hình
thức cực kỳ kinh hoàng, nhưng Bhalliya đã vượt qua mọi sợ hãi, nên
nói lên bài kệ như sau, khiến Ác ma phải thất vọng:
7. Ai đuổi đi thần chết,
Với đạo binh của nó,
Những dòng nước lớn mạnh,
Trói cây lau yếu ớt,
Thắng trận, không sợ hãi,
Nhiếp phục, trú tịch tịnh.

(VIII) Vìra (Thera. 2)#

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài
được sanh ở Sàvatthi (Xá-vệ) trong gia đình vị bộ trưởng vua Pasenadi
(Ba-tư-nặc), và được gọi là Vìra. Ngài rất giỏi về
thể thao và võ nghệ, và trở thành một chiến sĩ. Sau khi lập gia
đình với sự bằng lòng của mẹ cha, ngài có một đứa con trai. Thấy sự khổ
lụy, tiếp tục tái sanh, ngài xuất gia và nhiệt tâm tinh cần, ngài
chứng được sáu thắng trí. Khi đã thành vị A-la-hán và sống thọ hưởng
an lạc giải thoát, vợ của ngài muốn cám dỗ ngài trở về với gia đình
bằng nhiều hình thức. Nhưng Tôn giả nói rằng: 'Người đàn bà này muốn
cám dỗ ta, không khác gì người muốn xô ngã núi Sineru với cánh
một con ruồi'. Và ngài thuyết lên bài kệ này để nói rằng sự cám
dỗ của vợ cũ của ngài thật là vô ích:
8. Ai thật khó nhiếp phục
Nay đã được nhiếp phục,
Vìra tự thỏa mãn,
Nghi ngờ được vượt qua,
Thắng trận, không kinh hoàng,
Vìra trú tịch tịnh.
Người đàn bà nghe ngài nói rất lấy làm
xúc động và nghĩ rằng: 'Chồng ta đã thành đạt thù thắng như vậy. Vậy
đời sống gia đình có gì là tốt đẹp cho ta'. Rồi đi đến tịnh xá các
Tỷ-kheo-ni xin được xuất gia và chứng được ba minh.
IX. Pilinda-Vaccha (Thera.
2)
Ngài sanh ở Sàvatthi , là con một
Bà-la-môn, trước khi Thế Tôn thành đạo và được đặt tên là Pilinda.
Vaccha là tên của dòng họ. Ngài trở thành một ẩn sĩ và được một
bùa phép tên là Tiểu Gandhàra (có thể đi trên hư không và tha
tâm thông) và nhờ vậy được nổi danh. Khi đức Phật thành đạo, bùa phép
này không còn hiệu lực. Khi ngài nghe được bùa phép Ðại Gandhàra
làm bùa phép tiểu Gandhàra mất hiệu lực, ngài kết luận
Sa-môn Gotama biết được bùa phép Ðại Gandhàra và ngài
đến hầu hạ đức Phật để học cho được bùa phép ấy, đức Phật
dạy: 'Phải xuất gia', ngài tưởng rằng xuất gia là điều kiện để
chứng được bùa phép nên vâng lời theo. Ðức Phật dạy ngài Chánh pháp và
phương pháp thiền quán, chẳng bao lâu ngài chứng quả A-la-hán. Nhờ sự
hướng dẫn của Pilinda trong một đời trước, được sanh làm chư Thiên,
vị này hầu hạ ngài sớm chiều để tỏ lòng biết ơn. Do vậy, ngài
được xem là vị Tỷ-kheo được chư Thiên ái kính, và được đức Phật
xác nhận cho địa vị ấy.
Một hôm, Tôn giả Pilinda ngồi giữa
hội chúng Tỷ-kheo, suy tư đến sự thành tựu của mình, tuyên bố cho
chúng biết bùa phép ấy đã đưa ngài đến gặp Thế Tôn và nói
lên bài kệ này:
9. Lời khuyên đến, tốt lành!
Lời không tốt, không đến!
Lời khuyên đến với ta,
Không thuộc về tà ác!
Giữa các pháp phân biệt,
Ta đến pháp tối thượng.

(X) Punnamàsa (Thera. 3)#

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài
được sanh làm con của Samiddhi , một Bà-la-môn ở Sàvatthi , ngài
xuất gia được khi sanh được đứa con trai, thọ giới dưới sự hướng dẫn
của đức Phật, và lấy bốn sự thật làm đề tài để thiền quán và
ngài chứng được quả A-la-hán. Vợ cũ của ngài tìm cách cám dỗ ngài,
trang điểm rất đẹp mắt đến thăm ngài, và đem theo đứa con trai.
Nhưng ngài hoàn toàn giải thoát, không còn vướng bận gì và nói lên bài
kệ này:
10. Ta sống không mong chờ,
Ðời này hay đời sau,
Vị đã đạt trí tuệ,
An tịnh, tự chế ngự,
Không dính nhiễm các pháp,
Biết sanh diệt của đời.
Vợ của ngài nghĩ rằng: 'Vị Trưởng lão này
không để ý gì đến ta và con ta nữa, ta không thể cám dỗ
ngài' nên nàng bỏ đi.

Phẩm Hai#

(XI) Cùlagavaccha#

(Thera. 3)
Ngài sanh là vị Bà-la-môn ở Kosambi ,
nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp, ngài xuất gia. Lúc bấy giờ các Tỷ-kheo
ở Kosambi tranh cãi nhau, Cùlagavachha không theo phe phái nào, trung
thành với lời dạy của bậc Ðạo Sư, phát triển trí tuệ và chứng quả
A-la-hán. Thấy sự tranh cãi các Tỷ-kheo là nguyên nhân của sự thối thất,
ngài hoan hỷ với thái độ không phe phái của mình và nói lên bài kệ:
11. Tỷ-kheo nhiều hân hoan,
Trong pháp Phật tuyên bố,
Ðạt được đạo tịch tịnh,
Hành dừng lại an lạc.

(XII) Mahàgavaccha (Thera.#

3)
Ngài sinh ra trong thời đức Phật tại
thế, làm con của Sammiddhi , một Bà-la-môn ở làng Nàlaka, Magadha .
Ngài xuất gia vì Sàriputta đã xuất gia, và ngài biết Sàriputta rất
sáng suốt. Sau khi chứng quả A-la-hán, và thọ hưởng lạc giải thoát, ngài
nói lên bài kệ để khích lệ các đồng Phạm hạnh tinh cần tu tập:
12. Trí tuệ lực, giới hạnh,
Ðịnh, thiền lạc, chánh niệm,
Chỉ ăn những món ăn
Ðem lại quả tốt đẹp,
Ở đây, tham viễn ly,
Chờ đợi giờ mạng chung.

(XIII) Vanvaccha (Thera. 3)#

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh
ở Kapilavatthu . Ngài sanh ra trong rừng, khi mẹ ngài đi vào rừng viếng
cảnh, và sanh tại đấy. Ngài trở thành một trong những đứa trẻ chơi cát với
đức Phật trong tương lai. Vì ngài thích rừng núi, ngài được biết với
tên là Vanavaccha . Về sau, khi ngài xuất gia, ngài sống trong rừng tinh
tấn tu hành và chứng quả A-la-hán. Ðể tán thán hạnh ở rừng, ngài nói
lên bài kệ này, đáp lời vị đồng Phạm hạnh đã hỏi ngài: 'Ngài thích
thú gì ở rừng núi?' Ngài đáp: 'Thích thú thay, các ngôi rừng các ngọn
núi!
3. Ðẹp sắc, mây xanh biếc,
Nước mát lạnh, chảy trong,
Kẻ chăn bò Inda,
Che kín cả ngôi rừng,
Những ngôi núi đá ấy,
Làm hân hoan tâm ta' .

(XIV) Sìvaka (Thera. 3)#

(Một Sa-di phục vụ cho Vanavaccha ).
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh
làm con người chị của Vanavaccha . Khi mẹ ngài được tin Vanavaccha
xuất gia, thọ Ðại giới, đã sống trong rừng. Mẹ ngài nói với ngài: 'Này Sìvaka ,
con hãy xuất gia dưới sự chỉ dẫn của Vanavaccha và phục vụ cho ngài,
vì nay ngài đã già!'. Ngài nghe theo lời mẹ xuất gia sống ở trong rừng phục
vụ săn sóc Vanavaccha . Một hôm, khi đi đến gần làng, ngài bị đau
nặng; khi thuốc không chữa được, ngài không về và Trưởng lão Vanavaccha
đi tìm và thấy ngài bị đau. Sau khi cho ngài uống thuốc và săn sóc ngài,
khi bình minh mới bắt đầu, vị Trưởng lão nói với ngài: 'Này Sìvaka ,
từ khi ta xuất gia, ta không sống ở trong làng. Vậy chúng ta hãy đi vào rừng'.
Sìvaka trả lời: 'Dầu thân con ở trong làng, nhưng tâm con bao giờ cũng
hướng về rừng núi. Vậy nay con tuy nằm ở đây, con sẵn sàng đi vào
rừng'. Vị Trưởng lão cầm tay ngài, dắt ngài đi vào rừng, khích lệ ngài.
Ngài nhờ sự khích lệ này, tự mình sách tấn và chứng quả A-la-hán.
Rồi ngài nói lên bài kệ của mình hợp
chung lời vị Trưởng lão và lời mình, nói lên sự ưa thích sống viễn ly và
quả chứng của mình, sự vâng lời thầy của mình và chứng đắc chánh trí:
14. Thầy ta nói với ta,
'Hãy đi, Sìvaka!'
Thân ta sống ở làng,
Nhưng tâm hướng về rừng,
Dầu còn nằm ta đi,
Người biết, không trói buộc.

(XV) Kunda Dhàna (Thera. 3)#

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh
ở Sàvatthi , con một Bà-la-môn và được gọi là Dhàna . Thuộc
lòng ba tập Vệ-đà, sau khi đã lớn tuổi, ngài nghe đức Phật thuyết
pháp và xuất gia. Khi vua Pasenadi nước Kosala để ý
đến ngài, cúng dường ngài các đồ dùng cần thiết nên ngài khỏi
phải đi khất thực. Khi nàng Subhaddà mời bậc Ðạo Sư và chúng
Tỷ-kheo dùng cơm, lúc ấy Kunda Dhàna mới chứng tỏ quả chứng và sức
mạnh của mình như đã được ghi chép trong tập sớ Anguttara Nikàya .
Ngài nói lên các bài kệ này cho các vị Tỷ-kheo:
15. Năm pháp Thầy cắt đứt,
Năm pháp Thầy từ bỏ,
Và năm pháp thượng nhân,
Thầy cố gắng tu tập,
Tỷ-kheo vượt năm ái,
Ðược gọi là 'vượt bộc lưu'.

(XVI) Belatthasìsa (Thera.#

3)
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh
ở Sàvatthi trong một gia đình Bà-la-môn. Trước khi đức Phật thành
đạo, ngài đã xuất gia theo giáo đoàn của Kassapa ở Uruvelà và
thờ lửa. Khi Kassapa được đức Phật giáo hóa, ngài là một trong ngàn
người đệ tử của Kassapa chứng được quả A-la-hán, khi nghe đức
Phật giảng kinh Adittápariyàyàsutta (Kinh Lửa Cháy).
Sau ngài trở thành vị giáo thọ của Tôn
giả Ananda . Một hôm, nghĩ đến sự an lạc thuần tịnh của quả chứng,
và sự tu hành ban sơ của mình, ngài nói lên bài kệ diễn tả sự hân hoan
của ngài:
16. Như vật hiền giống tốt
Với sừng, kéo cái cày,
Ði đứng không mệt nhọc,
Cũng vậy, ta ngày đêm,
Ði đứng không mệt nhọc,
Ðược lạc không thế vật .

(XVII) Dàsaka (Thera. 4)#

Do nghiệp của mình, ngài sanh vào thời
dức Phật hiện tại, con của một người nô lệ của Anàthapindika ,
và được giao việc gác cửa vào tịnh xá Jetavana . Ðược nghe đức
tánh và nguyện vọng của ngài, ông Anàthapindika giải thoát cho
ngài khỏi vòng nô lệ và ngài nói ngài sẽ sung sướng nếu được xuất
gia. Do vậy, ngài được xuất gia ngay. Nhưng khi được xuất gia, ngài trở
thành biếng nhác, thụ động, tiêu cực, không chịu cố gắng để thoát
khỏi sanh tử, và ngủ quá nhiều sau các bữa ăn. Khi đến thời
thuyết pháp, ngài lựa một chỗ ngoài vòng Tăng chúng, tìm một góc và
ngồi ngáy. Thế Tôn nghĩ đến việc làm trước của ngài, nên nói
lên bài kệ này để khích lệ ngài:
17. Ai hôn trầm, ăn nhiều,
Nằm ngủ, lăn qua lại,
Như heo lớn, ăn no,
Kẻ ngu tiếp thai sanh .
Khi nghe vậy, Dasaka trở thành dao động
hốt hoảng và phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Rồi ngài
suy nghĩ: 'Bài kệ của Thế Tôn đã khích lệ ta nhiều' và ngài
nói lại bài kệ này. Như vậy, dầu cho bài kệ chống đối ăn nhiều,
bài kệ trở thành lời tuyên bố về chánh trí của ngài.

(XVIII) Singàlar-Pitar#

(Thera. 5)
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh
trong gia đình giàu có ở Sàvatthi , lập gia đình và đặt tên con là Singàlaka
và tự mình được gọi là Singàla-pitar (cha của Singàla ).
Về sau ngài từ bỏ gia đình và xuất gia. Thế Tôn biết được căn
cơ xu hướng của ngài, dạy ngài đề tài thiền quán là bộ xương
người. Dùng đề tài này để thiền quán, ngài sống giữa các dòng
họ Thích-ca ở Sumsumàragira , tại khu rừng Bhesaskalà . Trong rừng
ấy, một thần rừng biết được ngài sẽ chứng được Thánh quả nên nói
lên bài kệ này:
18. Hãy nhìn trong khu rừng,
Rừng Bhesakala!
Một Tỷ-kheo đang sống,
Thừa tự lời Phật dạy,
Ngang thân địa đại này,
Tỏa khắp tưởng bộ xương.
Ta nghĩ Tỷ-kheo ấy,
Mau đoạn tận dục tham.
Nghe bài kệ này, vị Trưởng lão nghĩ
rằng: 'Vị thần rừng này muốn ta cố gắng tu tập', nên ngài phát triển
thiền quán và chứng quả A-la-hán. Về sau, ngài nhớ lại bài kệ của
thần rừng này và nói lên lại bài kệ ấy như là lời tuyên bố về
chánh trí của ngài.

(XIX) Kula (Thera. 4)#

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh
trong một gia đình Bà-la-môn, xuất gia và vì tâm tư chưa được thăng bằng,
ngài không chú tâm được trên một đề tài nhất định. Một ngày kia đi
khất thực, ngài thấy người dẫn nước bằng cách đào cách kinh dẫn nước.
Trong thành phố, ngài thấy người làm cung tên uốn nắn cung tên bằng nheo một
con mắt như thế nào, và khi trở về với bình bát đầy đồ ăn, ngài
thấy những người làm xe sửa soạn trục xe, bánh xe và vành xe như thế
nào. Bước vào tịnh xá, dùng cơm xong, khi đang nghỉ trưa, ngài nghĩ đến
ba phương pháp nhiếp phục này, và lấy chúng làm khích lệ và dùng
chúng để tự mình tu tập, không bao lâu ngài chứng quả A-la-hán. Liên
hệ những bài học này với sự tu tập tâm của mình, ngài nói lên lời
chánh trí với bài kệ như sau:
19. Người trị thủy dẫn nước,
Kẻ làm nên nắn tên,
Người thợ mộc uốn gỗ,
Bậc tự điều, điều thân.

(XX) Ajita (Thera. 4)#

Khi bậc Ðạo Sư còn sống, ngài được sanh
ở Sàvatthi con của một Bà-la-môn làm nghề đánh giá hàng hóa cho
vua Kosala . Ngài trở thành một ẩn sĩ tu theo Bàvari , một vị
Bà-la-môn có học thức ở vườn Kapittha trên bờ sông Godhàvarì .
Bàvarì bảo ngài cùng với Tissa và Metteya đi đến bậc
Ðạo Sư. Ajita được đức Phật cảm hóa, và xuất gia. Lựa một đề
tài để thiền quán, ngài phát triển thiền quán và chứng quả
A-la-hán. Ngài nói lên sự thắng trận của ngài với bài kệ này:
20. Ta không có sợ chết,
Không ưa thích sanh mạng,
Ta sẽ bỏ thân này,
Tỉnh giác và chánh niệm.

Phẩm Ba#

(XXI) Nigrodha (Thera. 4)#

Trong lời đức Phật tại thế, ngài sanh
trong một gia đình Bà-la-môn có danh tiếng ở Sàvatthi . Khi tinh xá Jetavana
được dâng cúng đức Phật, trông thấy tướng tốt uy nghiêm của đức
Phật, ngài được cảm hóa và xuất gia. Khi phát triển thiền quán, ngài
có thể đạt được sáu thắng trí, suy tư đến sự an lạc quả chứng,
sự lợi ích của giáo pháp giúp thoát khỏi tái sanh, ngài nói lên bài kệ
này để tuyên bố chánh trí của ngài:
21. Ðối với ta, sợ hãi
Không làm ta sợ hãi,
Thâm hiểu đạo bất tử,
Bậc Ðạo Sư chúng ta
Không tìm được chân đứng,
Ở đâu, sự sợ hãi,
Chỗ ấy vị Tỷ-kheo
Dẫn bước trên đường ấy.

(XXII) Cittaka (Thera. 4)#

Ngài sanh ở Ràjagaha , con một gia đình
Bà-la-môn giàu có. Khi bậc Ðạo Sư ở vườn Trúc Lâm, Cittaka đến
nghe đức Phật thuyết pháp, khởi lòng tin và xuất gia. Lựa giới luật làm
đề tài tu tập, ngài vào một khu rừng và tu tập thiền định, với
thiền quán khai triển, ngài chứng quả A-la-hán. Rồi ngài đi đến
đảnh lễ đức Phật, được các vị đồng Phạm hạnh hỏi ngài có tinh tấn tu
hành khi ở trong rừng không, ngài trả lời có và với bài kệ này, ngài
nói lên chánh trí của ngài.
22. Chim công, màu xanh biếc,
Cổ đẹp, có màu tươi,
Ðang gọi nhau trong rừng,
Rừng Kà-ram-vi-yà,
Với gió mát tiếng trong,
Chúng gọi và thức dậy,
Vị hành thiền đang ngủ .

(XXIII) Gosàla (Thera. 5)#

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh
trong một gia đình Magadha giàu có, ngài có quen với Sonakutikanna .
Khi được biết Sonakutikanna xuất gia, ngài bị dao động và suy nghĩ:
'Vị ấy có tài sản lớn mà còn xuất gia, sao ta lại không làm theo?'. Rồi ngài
xuất gia, dùng giới luật làm đề tài thiền quán và tìm một chỗ
thích hợp, ngài lựa một cao nguyên không xa làng sanh quán. Mẹ ngài ngày nào
cũng bố thí cúng dường. Một hôm cúng cho ngài cháo, cơm nấu với mật và
đường, ngài nhận đồ cúng dường, ngồi ăn dưới bóng một ngọn đồi có
tre mọc dày. Với tay và bát rửa sạch, được ăn một bữa ăn thích hợp,
ngài phát tâm thiền quán và chú tâm vào vấn đề sanh diệt các
pháp, đạt được thiền định cao nhất, chứng quả A-la-hán, với hiểu
biết về nghĩa, về pháp. Ngài muốn đi lên ngọn đồi để
hưởng an lạc thiền vị, ngài nói lên kinh nghiệm của ngài với bài
kệ:
23. Ta ăn tại khóm trúc,
Với cháo cơm và mật,
Ta chấp nhận toàn diện,
Lời dạy bậc đáng kính,
Tánh sanh diệt các uẩn,
Ta sẽ lên ngọn núi,
Tăng trưởng hạnh viễn ly.

(XXIV) Sugandha (Thera. 5)#

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh
trong một gia đình giàu có ở Sàvatthi . Vì lời phát nguyện trong quá
khứ, khi ngài sanh ra, hương thơm tỏa khắp nhà, do vậy được đặt tên là Sugandha
(hương thơm). Khi đến tuổi trưởng thành, ngài được khuyến khích
xuất gia, khi nghe Trưởng lão Mahà Sela thuyết pháp; sau bảy ngày,
ngài chứng quả A-la-hán. Nói lên chánh trí của mình, ngài thuyết bài
kệ này:
24. Xuất gia, mùa mưa qua,
Thấy pháp tánh các pháp,
Ba minh chứng đạt được,
Làm xong lời Phật dạy.

(XXV) Nandiya (Thera. 5)#

Ngài được sanh ở Kapilavatthu , trong
nhà một vương tộc Thích-ca, và cha mẹ ngài nói: 'Con ta sanh đem lại hoan
hỷ trong nhà' và đặt tên ngài là Nandiya . Lớn lên, ngài xuất gia,
khi Anuruddha và các bạn đều xuất gia. Nhờ chú tâm học tập và
lời phát nguyện quá khứ, ngài chứng quả A-la-hán. Rồi ngài sống với
Trưởng lão Anuruddha và các bạn tại rừng Trúc phía Ðông. Tại đấy, Ác-ma
muốn làm ngài sợ hãi, hiện ra trong hình thù rất dễ sợ, nhưng ngài đuổi
Ác--ma đi với những lời như sau: 'Này Ác-ma, Ngươi làm gì với những người
đã vượt qua cảnh giới của ngươi. Do vậy, Ngươi chỉ gặp thất bại và bất
hạnh'.
25. Với ai, tâm thường hằng,
Hướng mạnh về Chánh pháp,
Pháp phát sanh hào quang,
Pháp đạt đến Thánh quả,
Vị Tỷ-kheo như vậy,
Nếu Nhà ngươi muốn chống,
Hỡi này kẻ Quỷ đen!
Ngươi đi đến đau khổ.

(XXVI) Abhaya (Thera. 5)#

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh
là con vua Bimbisàra (Bình-sa). Giáo chủ Nàtaputta dạy ngài một
mưu chước để đánh bại Sa-môn Gotama trong cuộc tranh luận, nhưng
trong câu trả lời của Sa-môn Gotama, ngài thấy sự thất bại của giáo
chủ phái Ni-kiền Tử và sự sáng suốt của Sa-môn Gotama . Do vậy, sau
khi vua từ trần, Abhaya xuất gia. Nhờ giảng kinh Ví dụ cái lỗ trong
cây gỏ, ngài chứng quả Dự lưu. Rồi với sự cố gắng tinh cần, ngài chứng quả
A-la-hán. Do vậy, phấn khởi trước thành quả đạt được, ngài nói lên chánh
trí của ngài:
26. Nghe được lời khéo giảng,
Bậc bà con mặt trời,
Ta đâm thủng tinh vi,
Như tên chẻ ngọn tóc.

(XXVII) Lomasakangìya#

(Thera. 5)
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh
ở Kapilavatthu , trong một gia đình họ Thích-ca. Ngài rất yếu
đuối và thân ngài có lông mịn nên được gọi là Lomasakangiya .
Khi Anuruddha và một số hoàng tử trẻ Sakya
xuất gia, ngài không theo. Rồi Candana , một người bạn cũ thời
trước, hỏi về 'Nhứt dạ hiền giả - Bhaddekaratta' , ngài trả lời
không được và đến hỏi đức Phật. Ðức Phật khuyên ngài xuất gia và
về xin phép cha mẹ. Khi mẹ ngài sợ ngài yếu đuối, ngài trả lời với
bài kệ như sau:
27. Cỏ dabba, kusa,
Các loài cỏ đâm ngực,
Loài cỏ tên munja,
Cỏ tên pabbaja.
Từ nơi ngực của ta,
Ta sẽ đẩy chúng lui,
Ta sẽ làm tăng trưởng,
Hạnh cô độc viễn ly.
Nghe xong, mẹ ngài bằng lòng để ngài
xuất gia, và được phép bậc Ðạo Sư cho xuất gia. Sau thời gian học tập,
ngài muốn đi vào rừng để thiền quán. Các Tỷ-kheo ngăn lại, nói
ngài yếu đuối làm sao sống trong rừng núi được. Ngài lập lại bài
kệ này và đi vào rừng tu thiền, chứng sáu thắng trí. Khi ngài chứng
quả A-la-hán, ngài tuyên bố chánh trí của ngài với bài kệ nói trên.

(XXVIII) Con Trai Của Jambugàmika#

(Thera. 5)
Ngài sanh ở Campà , con một cư sĩ tên Jambugàmika ,
và được gọi với tên cha. Khi học tập hạnh Sa-di, ngài ở Sàketa,
tại rừng Anjana , cha ngài sợ ngài không bền chí xuất gia, nên gửi
ngài bài kệ để tìm hiểu ngài:
28. Con có được thỏa mãn,
Với y phục mang mặc?
Con có được hoan hỷ,
Với trang sức điểm tô?
Và mùi hương thơm này,
Do giới con tỏa ra,
Chớ không do người khác
Tạo mùi thơm như vậy!
Khi ngài đọc bài kệ này, ngài nghĩ
rằng phụ thân ngài nghi ngờ ngài còn đang bị thế tục chi phối, và ngài
cũng chưa thoát khỏi địa vị phàm phu. Do vậy, ngài cảm thấy xúc động,
liền phát tâm tinh tấn tu hành và không bao lâu chứng được sáu thắng
trí. Với bài kệ của người cha làm đề tài thiền quán, cuối cùng
ngài chứng quả A-la-hán. Và vừa để nói lên chánh trí, vừa tán thán
người cha, ngài nói lên bài kệ.

(XXIX) Hàrita (Thera. 5)#

Sanh ra trong thời đức Phật hiện tại ở Sàvatthi ,
con một Bà-la-môn giàu có. Cha mẹ cưới cho ngài một người vợ trẻ đẹp hoàn
toàn xứng đôi vừa lứa, và ngài sống sung sướng bên người vợ của ngài.
Một hôm, ngài đang ngắm nhìn sắc đẹp của vợ mình, do nghiệp nhân đời
trước, ngài được nhắc lại là sắc đẹp ấy cũng vô thường. Vài ngày sau,
vợ ngài bị con rắn đen cắn và bị chết. Bị đau khổ bởi cái chết
này, ngài đi yết kiến đức Phật, được nghe pháp và xuất gia. Nhưng
khi ngài tu về giới, ngài không giữ được tâm cho chánh trực. Khi đi khất
thực, ngài thấy một người làm tên, dùng dụng cụ làm cho cây tên được ngay
thẳng, ngài suy nghĩ: 'Những người này còn làm cho một cây tên ngay thẳng'.
Ngài quay về, ngồi nghỉ trưa, phát triển thiền quán. Và ngài thấy
đức Phật hiện ra trước mặt ngài, ngồi trên hư không, và dạy ngài với
bài kệ này:
29. Thầy hay làm tự ngã,
Ðược thấm nhuần hướng thượng,
Như người thợ cung tên
Làm cây tên ngay thẳng,
Hãy làm tâm ngay thẳng,
Hỡi này Ha-ri-ta!
Hãy chặt đứt vô minh.
Nghe Thế Tôn dạy, ngài phát triển
thiền quán, và không bao lâu trở thành vị A-la-hán. Ngài liền nói lên
bài kệ này như lời tuyên bố chánh trí của ngài.

(XXX) Ittiya (Thera. 5)#

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh
ở Sàvatthi con trai một Bà-la-môn, và xuất gia để tìm đời sống
bất tử, trở thành một du sĩ ngoại đạo. Một ngày kia, trong khi bộ hành ngài
gặp Thế Tôn đang thuyết pháp và ngài xin xuất gia. Vì giới hạnh ngài
không thanh tịnh, nên ngài không đạt được Thánh quả. Thấy các Tỷ-kheo
khác nói lên chánh trí của mình, ngài xin Thế Tôn một bài học tóm
tắt. Ðức Phật trả lời ngài phải làm cho thanh tịnh nếp sống căn bản và
đức Phật dạy ngài về nếp sống căn bản một cách tóm tắt, Ittiya
học tập bài học này, phát triển thiền quán, nhưng rồi bị
bệnh. Trong sự cố gắng tối hậu, ngài chứng được quả A-la-hán. Vì ngài
chứng được Thánh quả trước những trở ngại lớn như vậy, ngài nói lên
chánh trí của ngài liên hệ đến cơn bệnh của ngài:
30. Trong khi ta lâm bệnh,
Niệm khởi lên nơi ta,
Trong khi ta lâm bệnh,
Không phải thời phóng dật.

Phẩm Bốn#

(XXXI) Gahvaratìrya#

(Thera. 6)
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh
ở Sàvatthi trong một gia đình Bà-la-môn và được gọi là Aggidatta.
Khi lớn lên ngài thấy đức Phật hiện hóa thần thông song hành, khởi lòng
tin và xuất gia. Lấy một đề tài để hành trì, ngài đi vào rừng Ratìra
và được biết với tên là Gahvaratìriya , phát triển thiền
quán, không bao lâu ngài chứng quả A-la-hán. Rồi ngài đi đến đảnh lễ
đức Phật ở Sàvatthi , các bà con ngài nghe tin ngài đến, liền
cúng dường ngài rất nhiều. Khi ngài muốn trở lui lại khu rừng, các bà con
ngăn lại, nói rằng núi nhiều muỗi và ruồi lằng rất khó sống. Ngài
trả lời đời sống rừng núi thích hợp với ngài và ngài nói lên chánh trí
của ngài với bài kệ:
31. Trong núi rừng rộng lớn,
Bị muỗi lằng đốt cắn,
Như voi đầu chiến trận,
Tại đấy sống chánh niệm.

(XXXII) Suppiya (Thera. 6)#

Trong thời đức Phật tại thế, do
nghiệp quá khứ, ngài được sanh trong gia đình người giữ nghĩa địa ở Sàvatthi .
Ðược bạn Sopàka thuyết pháp cảm hóa, ngài xuất gia và chứng
được quả vị cao nhất, và trong bài kệ, ngài nói lên chánh trí của ngài
khi đang phấn đấu để chứng quả A-la-hán.
32. Bị già, được không già,
Bị nung nấu, được tịnh,
Mong rằng ta sẽ được
Tịch tịnh thật tối thượng,
An ổn thật vô thượng,
Thoát khỏi các khổ ách.

(XXXIII) Soopaka , Một#

Tỷ-Kheo Trẻ Con (Thera. 6)
Ngài sanh trong thời đức Phật hiện tại
ở Sàvatthi , từ một người đàn bà rất nghèo khổ. Khi bà mẹ đau đẻ,
bà bất tỉnh và người ta tưởng bà đã chết nên đem thân bà đi thiêu.
Một phi nhân không cho lửa đốt cháy, làm mưa làm gió và những người thiêu
thân bỏ đi. Ðứa con trẻ được sanh mạnh khỏe, còn người mẹ bị chết.
Vị phi nhân hóa làm người, bế đứa con và bỏ trong nhà người giữ nghĩa
địa, nuôi đứa con trong một thời gian với đồ ăn thích hợp. Sau đó, người
giữ nghĩa địa nhận làm con nuôi, và Sopàka lớn lên với Suppiya ,
con trai nhỏ của người giữ cửa. Vì ngài sanh ở nghĩa địa, nên đặt tên là Sopàka.
Khi ngài bảy tuổi, Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh, vào buổi sáng, nhìn
xem những ai có thiện căn tốt lành, thấy Sopàka và đi đến
nghĩa địa. Sopàka được nghiệp duyên đời trước, đi đến
Thế Tôn với tâm tư hoan hỷ và đảnh lễ Thế Tôn, Thế Tôn
thuyết pháp và Sopàka xin xuất gia. Sau khi được phép người cha
nuôi, Sopàka xuất gia và được dạy tình thương huynh đệ làm
đề tài tu hành. Sopàka lấy đề tài này và sống ở nghĩa địa
và chứng được cảnh giới thiền tương đương. Lấy cảnh giới thiền
làm đề tài căn bản, ngài triển khai thiền quán và chứng được
quả A-la-hán. Sau khi chứng quả, ngài làm bài kệ, trong ấy ngài nêu cho
các Tỷ-kheo rõ đề tài tình thương anh em, không có phân biệt
người thân kẻ sơ. Với tất cả, tình thương phải là một, bao trùm mọi
cảnh giới, mọi chúng sanh mọi thời gian:
33. Như người mẹ tốt lành
Thương người con độc nhất,
Cũng vậy đối chúng sanh,
Ðủ mọi loài, mọi chỗ,
Hãy có lòng tốt đẹp,
Thương mến và từ ái.

(XXXIV) Posiya (Thera. 6)#

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh
làm con một triệu phú ở Sàvatthi , là em trai của Trưởng lão Sangàmaji .
Khi lớn lên, ngài lập gia đình. Khi sanh được đứa con trai, do nghiệp
duyên đời trước, ngài cảm thấy lo lắng trước vấn đề sống chết,
nên ngài xuất gia, sống một mình trong rừng và tu tập đề tài bốn sự
thật. Sau một thời gian, ngài chứng quả A-la-hán.
Rồi ngài đi đến Sàvatthi để
đảnh lễ Thế Tôn và về thăm lại nhà cũ, người vợ cũ cúng dường
ngài và muốn cám dỗ ngài sống lại đời sống cũ, ngài biết được
dụng ý của vợ ngài nên cáo lui và về lại trong rừng, các bạn đồng
tu hỏi vì sao ngài về sớm như vậy, ngài kể lại câu chuyện đã
xảy ra và nói lên bài kệ:
34. Không gần là tốt đẹp,
Kẻ trí thường biết vậy,
Từ làng đi đến rừng,
Từ rừng, ta vào nhà,
Từ đấy, đứng dậy đi,
Không đoái hoài Bô-syà.

(XXXV) Sàmannakàni (Thera.#

6)
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh
làm con một du sĩ và xuất gia theo đức Phật. Khi thấy đức Phật hóa hiện
thần thông song hành; và nhờ thiền, ngài chứng quả A-la-hán.
Lúc bấy giờ, một du sĩ tên Kàtiyàna ,
ngài quen khi còn là cư sĩ, du sĩ này mất hết sự ủng hộ của giới cư sĩ
từ khi đức Phật được mọi người qui ngưỡng, và trở thành khốn cùng. Kàtiyàna
đến ngài và yêu cầu ngài ủng hộ để được hạnh phúc đời này đời
sau, ngài đáp: 'Hạnh phúc không liên hệ đến đời và chỉ những
người hiểu biết quá trình tu chứng mới hưởng sự an lạc thuần nhất
này'. Và ngài nói lên bài kệ để chứng minh sự thành đạt của ngài:
35. Kẻ tìm lạc, được lạc,
Nếu sở hành đúng đắn,
Lại thêm được kính trọng,
Danh vọng được tăng trưởng.
Ai tu tập chánh trực,
Con đường Thánh tám ngành,
Ðây là đường lộ trình,
Ðạt đến cảnh bất tử.

(XXXVI) Con Của Kunmà#

(Thera. 6)
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài
được sanh ở xứ Anvanti thành Velukanda , và được đặt tên là Nanda .
Nhưng vì mẹ tên Kumà nên ngài được gọi là con của Kumà .
Khi nghe Tôn giả Sàriputta thuyết pháp, ngài xuất gia và tu tập trên
sườn đồi. Nhưng chỉ sau khi nghe đức Phật thuyết pháp và sửa lại
phương pháp tu tập, ngài mới chứng quả A-la-hán. Khi đã trở thành A-la-hán,
ngài thấy các Tỷ-kheo khác quá lo cho thân thể, nên ngài dùng bài
kệ để hướng dẫn họ theo Chánh pháp:
36. Lành thay, điều được nghe!
Lành thay, hạnh phúc sống!
Lành thay, thường an trú!
Ðời sống kẻ không nhà.
Tìm hỏi nghĩa Chánh pháp,
Làm các hạnh cung kính,
Ðấy là hạnh Sa-môn,
Của bậc Vô sở hữu.

(XXXVII) Bạn Của Con Kumà#

(Thera. 6)
Ngài được sanh trong thời đức Phật
hiện tại, tại thành Velukanda , trong một gia đình giàu có tên Sudanta .
Có người nói ngài tên là Vasulokì . Ngài trở thành bạn thân với con
của Kumà . Khi con của Kumà xuất gia, ngài nghĩ đạo của con Kumà
không thể là đạo tầm thường nên đến nghe bậc Ðạo Sư thuyết
pháp. Nghe xong, ngài cảm thấy nhiều xúc động và xuất gia. Ngài cùng an
trú với con của Kumà trên sườn đồi để tu hành.
Trong lúc ấy, nhiều Tỷ-kheo bộ hành
nhiều địa phương, đều an trú tại chỗ hai vị này và tạo nên
cảnh ồn ào. Sudanta, tâm thiền định bị chi phối, lấy sự kiện
này làm đề tài để tinh tấn tu hành và nói lên bài kệ này:
37. Bộ hành nhiều xứ sở,
Với hạnh không suy tưởng,
Thiêu đốt phần thiền định,
Ði khắp xứ làm gì?
Do vậy, ngăn vọng động,
Không vọng hướng, hãy thiền.

(XXXVIII) Gavampati (Thera.#

6)
Ngài được sanh trong thời đức Phật
hiện tại, ngài là một trong bốn người bạn của Yasa (Da-xá). Khi
họ nghe Yasa xuất gia, tất cả đều xuất gia và chứng quả
A-la-hán. Rồi ngài sống ở rừng Anjana tại Sàkela , và hưởng lạc
giải thoát. Khi bấy giờ, Thế Tôn đến với một số đông Tỷ-kheo
tại Anjana . Chỗ ngủ không đầy đủ và một số Tỷ-kheo ngủ xung
quanh tinh xá, trên bãi cát sông Sarabhà . Nửa đêm, nước sông dâng lên
và các Tỷ-kheo trẻ la lớn. Thế Tôn nghe vậy, bảo Gavampati can
thiệp, ngăn sông không cho dâng cao, khiến các Tỷ-kheo yên tâm. Vị
Trưởng lão với thần túc thông của mình, làm theo lời Phật dạy, dừng dòng
sông lại từ xa, khiến dòng sông dựng đứng lại như ngọn núi, do vậy
ngài được mọi người biết là có thần thông. Một ngày kia, Thế
Tôn đang thuyết pháp giữa một số đông người, thấy Gavampati vì
lòng từ bi nghĩ đến đời, đức Phật tán thán các hạnh của Gavampati
với bài kệ:
38. Ai với thần túc thông,
Dựng đứng Sarabhu,
Chính Gavampati,
Không ỷ lại, không động,
Vượt qua mọi trói buộc,
Chư Thiên đều đảnh lễ,
Bậc Ðại sĩ Mâu-ni
Ðã vượt qua sanh hữu.

(XXXIX) Tissa (Thera. 6)#

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài
được sanh ở Kapilavatthu , con người dì của đức Phật và được đặt
tên là Tissa . Ngài xuất gia theo đức Phật, sống tại một lâm trại và
tự phụ với địa vị của mình, tánh hay nóng nảy bất thường, vì vậy ngài
không làm bổn phận của mình được hăng hái.
Rồi bậc Ðạo Sư, với thiên nhãn thấy ngài
đang ngủ há miệng liền hiện đến trước ngài, thức ngài dậy
với bài kệ:
39. Như bị kiếm chém xuống,
Như bị lửa cháy đầu,
Vị Tỷ-kheo xuất gia,
Chánh niệm, đoạn tham dục.

(XL) Vaddhamàna (Thera. 7)#

Ngài sanh ở Vesàli, trong gia đình một
vị vua Licchavì , ngài trở thành một thiếu niên có tín tâm và phục
vụ Tăng chúng. Về sau, khi đã xuất gia, ngài trở thành biếng nhác và
được Như Lai khích lệ với bài kệ:
40. Như bị kiếm chém xuống,
Như bị lửa cháy đầu,
Vị Tỷ-kheo xuất gia,
Chánh niệm, đoạn tham hữu.

Phẩm Năm#

(XLI) Sirivaddka (Thera.#

7)
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh
ở Ràjagaha (Vương Xá), trong nhà một Bà-la-môn giàu có. Khi vua Bimbisàra
gặp bậc Ðạo Sư, do nghiệp duyên đời trước, ngài xuất gia, đi đến
một ngọn núi gần Vebhàra và Pandava , và trú tại chỗ ấy,
chuyên hành tu tập.
Một hôm, một cơn giông tố lớn nổi lên và
sét đánh vào hang, nhưng nhờ gió lớn của các đám mây, làm nhẹ bớt sức
nóng đang đè nặng trên ngài, nhờ vậy với một nhiệt độ thích hợp, ngài
có thể thiền định, thiền quán và cuối cùng chứng quả A-la-hán.
Với bài kệ nói lên chánh trí của mình, ngài thốt lên những lời như sau:
41. Giữa đồi Vebhara,
Giữa đồi Pandava,
Sét đánh vào cửa hang,
Ðứa con bậc Vô tỷ,
Như vậy, vẫn ngồi thiền.

(XLII) Khadira - Vaniya#

(Thera. 7)
Trong thời đức Phật tại thế, ngài sanh
ở nước Magadha (Ma-kiệt-đà) tại làng Nàlaka , con của nữ
Bà-la-môn Rùpasàrì . Khi ngài lớn lên, mẹ ngài muốn ngài lập gia
đình, nhưng khi nghe Sàriputta xuất gia, ngài bắt chước Sàriputta ,
đến các Tỷ-kheo xin được thọ giới, tự xưng là em trai của Sàriputta.
Khi ngài chứng quả A-la-hán tại rừng cây xương rồng, ngài đi đến Sàvatthi
(Xá-vệ) để đảnh lễ Thế Tôn, và ở lại một vài ngày tại tịnh
xá Jetavana (Kỳ Viên).
Rồi Thế Tôn, ngồi giữa đại chúng
Tỷ-kheo, xác nhận ngài là Tỷ-kheo ở rừng đệ nhất.
Một thời khác, ngài đi đến làng sanh
quán, đem ba người cháu trai là con trai của ba người chị Càlà, Upacàlà,
Sisùpacàlà , cũng tên là Càlà, Upacàlà và Sisùpacàlà cho
chúng xuất gia. Một hôm ngài bị ốm và Sàriputta đi đến thăm, Revata
muốn dạy cho ba người cháu chớ có phóng dật, nên khi thấy Sàriputta
từ xa đến, bèn nói lên bài kệ:
42. Hỡi này cháu Càlà,
Này Upacàlà,
Sisùpacàlà,
Hãy sống, trú chánh niệm,
Vị đang đến các con,
Như vị bắn chẻ tóc.

(XLIII) Sumangala (Thera. 7)#

Ngài sanh ở tại một làng nhỏ, gần Sàvatthi ,
trong một gia đình nghèo khó. Lớn lên, ngài tự nuôi sống giữa đồng ruộng,
với cái liềm, cái cuốc và cái cày. Một hôm vua Pasenadi cúng dường
đức Phật với chư Tăng và ngài đi đến. đem theo sữa và bơ cùng với
các người làm công khác. Khi thấy các Tăng, Ni được cung kính cúng dường,
ngài nghĩ các Tăng, Ni này sống trong các nhà cửa được che kín và mặc các
y phục tốt đẹp và ngài xin xuất gia để hưởng những tiện nghi này.
Một Trưởng lão Tăng vì lòng từ chấp nhận ngài được xuất gia, cho ngài một
đề tài tu hành và bảo ngài đi vào rừng để tu tập. Nhưng trong hạnh
độc cư, ngài cảm thấy buồn bã chán nản và đi về lại làng của mình.
Khi về, ngài thấy các dân quê cày bừa với áo quần nhớp nhúa, đầy bụi
bặm và bị nóng bức. Thấy vậy, ngài trở lại tu tập, đi đến dưới gốc
cây, tu tập thiền định, sống cô độc, phát triển thiền quán. Cuối
cùng, ngài chứng được quả A-la-hán. Ðể nói lên sự giải thoát khỏi
nỗi khổ cuộc đời, ngài thốt lên bài kệ này:
43. Khéo thoát! Ôi khéo thoát!
Thật sự ta khéo thoát,
Thoát ba sự cong queo,
Ta thoát cong với liềm,
Ta thoát cột với cày,
Ta thoát cực với cuốc,
Nếu có đây, có đây,
Thật đủ chán, đủ chán,
Hỡi Sumangala!
Hỡi Sumangala!
Hãy thiền, hãy thiền định!
Hỡi Sumangala!
Hãy sống không phóng dật.

(XLIV) Sànu (Thera. 7)#

Trong thời đức Phật tại thế, ngài sanh
ở Sàvatthi (Xá-vệ) trong gia đình một cư sĩ, sau khi người cha đã
từ bỏ gia đình. Bà mẹ, đặt tên ngài là Sànu , khi ngài lên bảy tuổi,
được đưa đến ở với các Tỷ-kheo, nghĩ rằng như vậy con mình được
sống hạnh phúc. Rồi Sànu trở thành một vị học hành giỏi, một vị
pháp sư, thiền sư với lòng từ bi, được chư Thiên và loài Người ái
kính. Trong đời trước, mẹ ngài là một nữ Dạ-xoa. Sau một thời gian, ngài
mất sự sáng suốt, sống sầu khổ và muốn đi lang thang đây đó. Bà mẹ Dạ-xoa
của ngài thấy vậy liền báo động với bà mẹ hiện tại và bảo bà
khích lệ con bà phải tinh tấn, và đọc lại lời nói của các Yakkhà (Dạ-xoa):
Chớ có làm điều ác,
Công khai hay bí mật,
Nếu người làm điều ác,
Sẽ làm hay đang làm,
Người không thoát khổ đau,
Dầu có đứng lên chạy .
Nói như vậy xong, người mẹ Dạ-xoa biến
mất, nhưng người mẹ hiện tại, nghe vậy rất lấy làm sầu khổ. Rồi Sa-di Sànu
cầm y và bát đến thăm bà mẹ rất sớm. Thấy mẹ sầu muộn, ngài hỏi và
được bà mẹ trả lời lý do, ngài nói bài kệ:
44. Thưa mẹ, người ta khóc,
Khóc vì người đã chết,
Hay có khóc người sống,
Khi sống, không được thấy,
Thưa mẹ, con đang sống,
Và mẹ đang thấy con,
Vậy vì sao, thưa mẹ,
Mẹ lại khóc cho con?
Bà mẹ trả lời, từ những lời trong kinh:
'Ðây là sự chết, này các Tỷ-kheo trong giới luật của bậc Thánh, tức
là sự từ bỏ học giới và hoàn tục', và nói bài kệ như sau:
Người ta khóc cho con,
Là khóc cho con chết,
Hay khóc cho con sống,
Nhưng không được thấy mặt.
Ai đã bỏ dục vọng,
Lại trở lui đời này,
Này con, người ta khóc,
Là khóc cho người ấy,
Vì người ấy được xem,
Còn sống cũng như chết,
Này con, được kéo ra,
Khỏi than hầm lửa rực,
Con còn muốn rơi vào,
Ðống than hồng ấy chăng?
Khi ngài nghe vậy, Sa-di Sànu lấy làm
xấu hổ sầu muộn, và tinh tấn phát triển thiền quán, không bao lâu
ngài chứng quả A-la-hán. Suy nghĩ rằng ngài chiến thắng là nhờ những bài
kệ này, nên lấy những bài kệ ấy thành những bài kệ của ngài.

(XLV) Ramnìyavihàrim#

(Thera. 7)
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh
ở Ràjagaha (Vương Xá), con một công dân có tên tuổi và sống đời
sống tuổi trẻ trác táng. Một hôm, ngài thấy các quân lính nhà vua bắt một
người thông dâm, ngài sanh tâm dao động, nghe lời Phật dạy và xuất gia. Là
Tỷ-kheo, ngài vẫn còn những ái dục về thân, ngài sắp đặt phòng ngài
thật đầy đủ bàn ghế, đầy đủ đồ ăn, đồ uống, đồ nằm và sống như
vậy. Do vậy, ngài được tên là Ramanìyavihìrim (người sống trong lạc
dục). Nhưng đời sống cũ của ngài làm ngài khó sống đời sống Tỷ-kheo,
ngài cảm thấy không xứng đáng để nhận đồ cúng dường, ngài bỏ đi, bộ
hành lang thang đó đây. Trên đường đi, khi ngồi nghỉ dưới gốc cây, ngài thấy
các xe bò đi ngang qua, một con bò vì mệt mỏi nên vấp ngã, người đánh
xe cởi dây cho con bò, cho nó rơm và nước, và làm cho nó đỡ mệt, xong
lại cột con bò vào xe và bắt nó kéo xe đi. Ngài suy nghĩ: 'Con bò này đã
vấp ngã nhưng đã đứng dậy và kéo đi gánh nặng của mình. Vậy ta phải tinh
tấn, sau khi rơi vào rừng nhục dục, cần phải đứng dậy và làm tròn bổn phận
của người tu hành'. Rồi ngài trở về, kể lại câu chuyện cho
Trưởng lão Upàli và được Upàli chấp nhận cho sám hối các
lỗi lầm, và giúp ngài trở lại nếp sống chơn chánh. Không bao lâu,
ngài chứng quả A-la-hán.Về sau, hưởng thọ an lạc giải thoát, ngài nói
lên sai lầm của ngài, và sự trở lui lại nếp sống chơn chánh trong bài
kệ này:
45. Như con thú hiền thiện,
Giống tốt, huấn luyện khéo,
Sau khi đã vấp ngã,
Lại đứng lên, an trú,
Ta đầy đủ chánh kiến,
Ðệ tử bậc Chánh giác.

(XLVI) Samiddhi (Thera. 7)#

Ngài sanh ra trong đời đức Phật hiện
tại, ở Rajagaha (Vương Xá) con một gia đình quí tộc. Từ khi sanh ngài,
tài sản của gia đình được tăng trưởng, ngài lại đẹp trai, có giới hạnh
và được đặt tên là Samiddhi (thịnh vượng), ngài chứng kiến sức
mạnh của bậc Ðạo Sư khi gặp vua Bình Sa ( Bimbisàra ), khởi lên lòng tin,
xuất gia, tinh tấn tu thiền. Khi đức Phật sống ở vườn Tapoda, Samiddhi
đang cảm thấy an lạc được sống hạnh Tỷ-kheo, thời Ác-ma hiện ra quấy
phá, phát ra tiếng động như quả đất nổ tung. Ngài thưa với đức Phật
và đức Phật khuyên nên bình tĩnh, vẫn kiên trì tu tập và đừng nghĩ
đến vấn đề ấy nữa. Ngài vâng theo và không bao lâu ngài chứng quả
A-la-hán. Ác-ma không biết sự kiện ấy, Ác-ma lại tạo nên một
tiếng động kinh khủng, nhưng ngài không có sợ hãi, ngài nói lên chánh
trí của ngài với bài kệ như sau:
46. Ta với lòng tín ngưỡng,
Bỏ gia đình, xuất gia,
Niệm tuệ ta tăng trưởng,
Tâm tư ta thiền định,
Dầu ngươi tạo sắc gì,
Không làm ta sợ hãi.

(XLVII) Ujiaya (Thera. 8)#

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh
ở Rajagaha (Vương Xá), con một Bà-la-môn theo truyền thống. Lớn lên
và giỏi về ba tập Vệ-đà, ngài thấy không có cốt tủy, với nghiệp
lành chín muồi, ngài đi đến rừng Trúc nghe Thế Tôn giảng và xuất
gia, thiền tư về giới hạnh trong rừng, không bao lâu ngài chứng quả
A-la-hán. Rồi ngài đi đến Thế Tôn đảnh lễ ngài, ngồi xuống một
bên, tán thán Thế Tôn, ngài nói lên bài kệ đề cập đến
chánh trí của ngài:
47. Ðảnh lễ Phật, anh hùng,
Ngài giải thoát mọi chỗ,
Trong nếp sống của ngài,
Gồm cả phần giáo điển,
Con sống không lậu hoặc,
Không còn bị trói buộc .

(XLVIII) Sanjaya (Thera. 8)#

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh
ở Ràjagaha (Vương Xá), con một Bà-la-môn giàu có. Khi lớn lên, ngài
theo gương Brahmàya, Pokkhanrasàti và các vị Bà-la-môn danh tiếng
khác, các vị này khởi lòng tin bậc Ðạo Sư và chứng được Sơ quả. Về
sau, ngài xuất gia và chứng được sáu thắng trí. Nói lên chánh trí, ngài
dùng bài kệ này:
48. Từ khi ta xuất gia,
Bỏ nhà, sống không nhà,
Ta không có tư duy,
Những tư tưởng phàm phu,
Những tư niệm phi thành,
Liên hệ đến sân hận.

(XLIX) Ràmaneyyaka (Thera.#

8)
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh
ở Sàvatthi (Xá-vệ) con một gia đình giàu có. Tâm ngài rất xúc
động khi Jetavana (Kỳ Viên) được dâng cúng đức Phật và ngài xuất
gia. Sống trong rừng, ngài thiền quán về giới hạnh, vì quả chứng và
hạnh dễ thương của ngài, ngài được gọi là Ràmaneyyaka (hạnh khả
ái, dễ thương).
Một hôm, Ác-ma muốn phá hoại ngài, đã
phát ra một tiếng động rất lớn, ngài dùng bài kệ nói lên sự không
xúc động của mình.
49. Dầu tiếng người hò hét,
Tiếng náo động chim muông,
Tâm ta không dao động,
Ta ưa thích độc cư.
Bài kệ này trở thành lời tuyên bố
chánh trí của ngài.

(L) Vimala (Thera. 8)#

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh
ở Ràjagaha (Vương Xá), từ một gia đình giàu có. Do hạnh nguyện
đời trước, ngài có một thân thể thật trong sạch như giọt sương
trên lá sen, bởi vậy, được tên là Vimala . Khi lớn lên ngài khởi tín
tâm khi gặp được dức Phật ở Ràjagaha , rồi ngài xuất gia, tìm một
đề tài học tập, đến ở trong một hang núi ở Kosala.
Một hôm trời chuyển giông, mưa rơi
xuống, làm nhẹ bớt sức nóng, ngài có thể định tâm, chứng được quả
A-la-hán. Sung sướng với quả chứng của mình, ngài thốt lên bài kệ này:
50. Ðất, nước mưa ướt thấm,
Gió thổi mát không gian,
Trên trời, chớp vạch đường,
Tư tưởng ta lắng dịu,
Tâm ta thật định tĩnh.
Bài kệ này trở thành lời tuyên bố chánh trí của ngài .
(Xin xem tiếp Phần b )